TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TÍNH THANH KHOẢN CỦA CỔ PHIẾU VÀ CẤU TRÚC VỐN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Tài chính doanh nghiệp hiện đại là môn học trang bị cho người học những quan điểm, nhận thức, phương pháp và công cụ cần thiết để đưa ra các quyết định quản trị tài chính doanh nghiệp đúng phương pháp và có chất lượng. Vì vậy, môn học này được đưa vào giảng dạy và là môn học bắt buộc trong giai đoạn chuyên ngành của chương trình cao học.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH PHÒNG QUẢN LÝ ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 9/2013
GVHD: TS Nguyễn Thị Uyên Uyên LỚP : CH Ngày 4 - TCDN K22 Nhóm:
Trang 2Tài chính doanh nghiệp hiện đại là môn học trang bị cho người học những quan điểm, nhận thức, phương pháp và công cụ cần thiết để đưa ra các quyết định quản trị tài chính doanh nghiệp đúng phương pháp và có chất lượng Vì vậy, môn học này được đưa vào giảng dạy và là môn học bắt buộc trong giai đoạn chuyên ngành của chương trình cao học
Lời đầu tiên nhóm – ngày CH22 xin cảm ơn Ban Giám hiệu trường ĐH Kinh
tế TP HCM đã tạo điều kiện tốt nhất cho học viên có môi trường học tập và trau dồi thêm kiến thức môn học này
Các thành viên của Nhóm cũng xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Uyên Uyên, với tất cả sự nhiệt tình, yêu nghề đã truyền đạt những kiến thức bổ ích và kinh nghiệm quý báu cho lớp Ngày– CH22 cũng như hướng dẫn tận tình và cung cấp giáo trình, tài liệu tham khảo cho nhóm hoàn thành đề tài này
Và cuối cùng, trong quá trình tìm hiểu về đề tài, mỗi thành viên trong nhóm đã
cố gắng hết sức nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những hạn chế, nhóm mong nhận được ý kiến đóng góp của Cô và các bạn
Trân trọng!
Trang 3STT Thành viên Công việc
- Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
- Phân tích hồi quy biến MT và trình bày kết quả
- Thu thập dữ liệu các công ty theo phân công
- Trình bày lại phương pháp thu thập dữ liệu
- Mô tả thống kê các biến
- Thu thập dữ liệu các công ty theo phân công
- Trình bày tổng quan mô hình thực nghiệm và
mô tả các biến bài nghiên cứu
- Phân tích hồi quy biến ILLIQ và trình bày kết quả
- Thu thập dữ liệu các công ty theo phân công
Trang 4PHẦN 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phương pháp nghiên cứu 3
1.4 Bố cục bài nghiên cứu 3
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu 4
PHẦN 2: CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TÍNH THANH KHOẢN CỔ PHIẾU TỚI CẤU TRÚC VỐN 5
PHẦN 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 9
3.1 Mô hình thực nghiệm 9
3.2 Mô tả các biến 9
3.3 Giả thuyết nghiên cứu 13
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 16
4.1 Mô tả thống kê các biến nghiên cứu 16
4.2 Các kết quả nghiên cứu 17
4.2.1 Kết quả nghiên cứu mô hình 1 với biến độc lập là Tỉ lệ kém thanh khoản Amihud (2012) 17
4.2.1.1 Ma trận hệ số tương quan 17
4.2.1.2 Kết quả hồi quy mô hình 1 18
4.2.2 Kết quả nghiên cứu mô hình 2 với biến độc lập là Doanh số giao dịch điều chỉnh (MT) 20
4.2.2.1 Ma trận hệ số tương quan 20
4.2.2.2 Kết quả hồi quy mô hình 2 21
4.2.3 Kết quả nghiên cứu mô hình 2 với biến độc lập là Tỉ lệ thanh khoản (MLR) 24
4.2.3.1 Ma trận hệ số tương quan 24
4.2.2.2 Kết quả hồi quy mô hình 3 26
PHẦN 5: KẾT LUẬN 28
5.1 Kết luận 28
5.2 Hạn chế của mô hình 30
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5Từ viết tắt Tên đầy đủ
Trang 6Bảng 1: Thống kê mô tả của các biến số 16
Bảng 2: Biến độclập ILLIQUID – Correlations 17
Bảng 3: Biến độc lập ILLIQUID - ANOVAb 18
Bảng 4: Biến độc lập ILLIQUID - Coefficientsa 19
Bảng 5: Biến độc lập MT – Correlations 20
Bảng 6 : Biến độc lập MT - Model summary 21
Bảng 7: Biến độc lập MT - Coefficientsa 22
Bảng 8: Biến độc lập MLR - Correlations 25
Bảng 9: Biến độc lập MLR - Kết quả kiểm định 26
Bảng 10: Biến độc lập MLR - Coefficients 26
Trang 7Lớp: CH Ngày 4 – K22 Page 1
PHẦN 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Hoạch định cấu trúc vốn là một trong những vấn đề quan trọng mà các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp đặc biệt quan tâm Việc lựa chọn một cấu trúc vốn vừa tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân vừa tối đa hóa giá trị doanh nghiệp đã trở thành một vấn đề mang ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của quá trình toàn cầu hóa
Thực tế thời gian hậu khủng hoảng tài chính thế giới, nền kinh tế Việt Nam đã
và đang gặp rất nhiều khó khăn với hàng loạt phi vụ thâu tóm, sáp nhập giữa các ngân hàng, tình trạng tín dụng tăng trưởng âm, rất nhiều doanh nghiệp đứng trước nguy cơ mất khả năng thanh khoản, đứng trước nguy cơ phá sản …Một trong những nguyên nhân của tình hình trên xuất phát từ chính năng lực của các doanh nghiệp còn yếu kém
so với những yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nổi bật trong đó là hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp Nguyên nhân của hiện tượng này tập trung vào những quyết định không hợp lý, không đảm bảo mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, trong đó quyết đinh nguồn vốn là đáng quan tâm nhất
Hơn nữa, thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường mới nổi, còn non trẻ, chứa nhiều biến động được thể hiện rất rõ qua tình hình chỉ số VN-Index Cụ thể là khi thị trường chứng khoán Việt Nam mới thành lập được 6 tháng thì chỉ số VN-Index
đã đạt mức 570 điểm, nhưng sau đó lại nhanh chóng rớt xuống mức thấp nhất là 130 điểm vào năm 2003 Tính đến thời điểm cuối tháng 3/2007, chỉ số VN-Index đạt mức cao kỷ lục 1.170,67 điểm vào phiên ngày 12/03/2007 và sau đó giảm dần và chỉ còn 370,45 điểm (ngày 11/6/08) Biến động vào những tháng đầu năm 2008 của thị trường chứng khoán Việt Nam không khỏi làm cho nhiều nhà đầu tư bị bất ngờ khi chỉ số VN-Index giảm rất nhanh, liên tục phá những ngưỡng hỗ trợ và tạo đáy mới Chính điều này đã làm suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư dẫn đến tính thanh khoản cổ phiếu giảm mạnh Các nhà quản trị càng cẩn trọng hơn trong việc cân đối chi phí giữa việc phát hành cổ phần hay nợ vay để tài trợ cho hoạt động của doanh nghiệp bởi vì tính thanh khoản cổ phiếu là một nhân tố quyết định ảnh hưởng đến khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Vì vậy, tính thanh khoản
Trang 8đã được nghiên cứu thực nghiệm như tỉ lệ lợi nhuận, quy mô công ty, thuế, khấu hao, tài sản cố định hữu hình thì tính thanh khoản của cổ phiếu vẫn chưa được đề cập nhiều trong các nghiên cứu về cấu trúc vốn
Xuất phát từ lý do trên, nhóm chọn đề tài nghiên cứu “ Tính thanh khoản của cổ phiếu và cấu trúc vốn của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán của Thành Phố Hồ Chí Minh”cho bài tập nhóm với mong muốn cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm để dự báo được xu hướng tác động của của tính thanh khoản lên việc ra quyết định lựa chọn cấu trúc vốn tối ưu phù hợp với từng giai đoạn phát triển cũng như đặc thù của lĩnh vực ngành mà doah nghiệp đang hoạt động
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Để phân tích ảnh hưởng của thanh khoản cổ phiếu đến cấu trúc vốn doanh nghiệp thì tính thanh khoản của cổ phiếu trong bài nghiên cứu sẽ được thể hiện lần lượt bằng 3 chỉ tiêu: tỉ lệ kém thanh khoản Amihud (2002) (ILLIQ); doanh số giao dịch điều chỉnh (MT); Tỉ lệ thanh khoản điều chỉnh (MLR) Việc xác định tầm quan trọng của thanh khoản cổ phiếu lên cấu trúc vốn doanh nghiệp có ý nghĩa to lớn đối với không chỉ nhà quản trị tài chính doanh nghiệp mà còn rất hữu ích cho các nhà đầu
tư Dựa trên mức độ quan trọng này, họ sẽ có những phân tích, đánh giá cần thiết trong các quyết định chiến lược của mình Vì vậy, đề tài nghiên cứu sẽ có mục tiêu sau đây:
- Đánh giá mức độ tác động của thanh khoản cổ phiếu lên quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp lần lượt theo 3 chi tiêu
- Hệ thống hóa được các lý thuyết và thực nghiệm về sự tác động của thanh khoản cổ phiếu tới quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp, từ đó có cơ sở nghiên cứu và so sánh với kết luận đã được các nhà nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới nêu
ở trên
Trang 9Lớp: CH Ngày 4 – K22 Page 3
- Đưa ra đề xuất cho các quản trị cũng như nhà đầu tư định hướng chiến lược của họ
Câu hỏi chính của nghiên cứu này là :
1 Mối quan hệ giữa thanh khoản và cấu trúc vốn trong các công ty phi tài chính được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh là gì ?
2 Tác động thanh khoản đến quyết định cấu trúc vốn trong các công ty phi tài chính được niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh như thế nào ?
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ vấn đề và mục tiêu nghiên cứu, đề tài sẽ định hướng chọn lọc những lý thuyết tài chính có liên quan để khảo sát Đây là đề tài nghiên cứu ứng dụng trên cơ sở các lý thuyết về cấu trúc vốn được nghiên cứu và thực nghiệm ở các thị trường trên thế giới Từ đây mô hình nghiên cứu cho đề tài được xây dựng cùng với các giả thuyết nghiên cứu làm cơ sở cho các phân tích sau này Kế đến các kết quả hồi quy sẽ được kiểm định để đánh giá ý nghĩa cũng như khả năng ứng dụng vào thực tiễn của mô hình
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và áp dụng phương pháp phân tích hồi quy OLS Dữ liệu sử dụng cho đề tài là số liệu thứ cấp của 133 công ty phi tài chính niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ 2009 đến 2012 Trên cơ sở dữ liệu này, các biến trong mô hình sẽ được làm sạch và tính toán thông qua công cụ hỗ trợ Microsofl Office Excel Phần mềm phân tích dữ liệu SPSS được sử dụng để xây dựng mô hình nghiên cứu Các ứng dụng của phần mềm trong nghiên cứu này là phân tích tương quan và hồi quy bội Tầm quan trọng của mô hình đã được đánh giá bằng cách sử dụng hệ số tương quan, kiểm định F,
và kiểm định Durbin-Watson
1.4 Bố cục bài nghiên cứu
Với các mục tiêu đã được trình bày ở trên, nội dung của bài nghiên cứu sẽ bao gồm 5 chương Trong đó, chương 1 giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm
lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu; phương pháp, nội dung, ý nghĩa cũng như hạn chế của nghiên cứu Kế đến, chương 2 sẽ khảo sát cơ sở lý thuyết có liên quan đến vấn
đề nghiên cứu bao gồm cả nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài Tiếp theo, chương
3 sẽ trình bày, thiết kế mô hình nghiên cứu dựa trên các lý thuyết đã được khảo sát ở
Trang 10Lớp: CH Ngày 4 – K22 Page 4
chương trước và thực tế trên sàn giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh Sau
đó, chương 4 sẽ phân tích dữ liệu và trình bày kết quả nghiên cứu Cuối cùng, chương
5 sẽ dựa vào mô hình để rút ra các kết luận và đề xuất
1.5 Ý nghĩa nghiên cứu
Việc thực hiện nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa quan trọng về mặt khoa học cũng như thực tiễn
Về mặt khoa học, đề tài góp phần tham gia vào việc hoàn thiện mô hình xác định tác động của tính thanh khoản tới quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp Việt Nam vốn có rất ít nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực này Bên cạnh đó, đây cũng là một nghiên cứu với mục tiêu kiểm nghiệm lại những kết quả nghiên cứu trước đây cũng như mở ra những thách thức mới cho những nghiên cứu sau này mà đề tài chưa làm được
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu là một tham khảo mang tính khoa học, nghiêm túc cho các nhà đầu tư và nhà quản trị trong việc ra quyết định chiến lược đầu
tư cho mình
Trang 11Lớp: CH Ngày 4 – K22 Page 5
PHẦN 2 CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TÍNH THANH
KHOẢN CỔ PHIẾU TỚI CẤU TRÚC VỐN
Lý thuyết truyền thống về cấu trúc vốn đã chỉ ra một số yếu tố quyết định tới sự lựa chọn cấu trúc vốn như quy mô, cơ hội tăng trưởng, khả năng sinh lợi Chỉ đến thời gian gần đây, tính thanh khoản của cổ phiếu mới nhận được sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu như là một yếu tố tiềm năng có ảnh hưởng tới quyết định cấu trúc vốn Tính thanh khoản của cổ phiếu liên quan đến sự dễ dàng mà một doanh nghiệp có thể huy động vốn từ bên ngoài thông qua chào bán cổ phiếu, cổ phiếu kém thanh khoản có
xu hướng có chi phí phát hành cao hơn và do đó chi phí cao hơn vốn chủ sở hữu (Weston, Butler, và Grullon, 2005; Hennessy và Whited, 2005) Các doanh nghiệp có
cổ phiếu thanh khoản tốt hơn có cơ hội cao hơn để phát hành cổ phiếu Do đó, việc lựa chọn cấu trúc vốn dường như chịu sự ảnh hưởng của tính thanh khoản của cổ phiếu
Frieder và Martell (2006) nghiên cứu ảnh hưởng lẫn nhau của tính thanh khoản
cổ phiếu và cấu trúc vốn của công ty niêm yết trên NYSE trong giai đoạn 1988 - 1998 Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng 1% gia tăng trong sự khác nhau giữa giá bán và giá mua cổ phiếu dẫn đến gia tăng 3% trong đòn bẩy tài chính Ngoài ra, kết quả kiểm định giả thuyết cũng cho thấy bất kỳ sự suy giảm nào về tính thanh khoản cổ phiếu cũng làm tăng mức độ đòn bẩy tài chính Vấn đề này là phù hợp với thực tế rằng trong trường hợp tài trợ bằng phát hành cổ phiếu tiêu tốn nhiều chi phí hơn, nhà đầu tư của công ty sẽ lựa chọn tài trợ bằng vay nợ
Lesmond và các cộng sự (2008) đã nghiên cứu cấu trúc vốn và tính thanh khoản của cổ phiếu với 226 công ty phi tài chính trong giai đoạn 1980 – 2006 Bộ dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính và chỉ số Dow Jones Phát hiện của họ đã chỉ ra rằng càng tăng sử dụng nợ sẽ dẫn đến giảm tính thanh khoản của cổ phiếu
Hai nghiên cứu của Lipson và Mortal (2009) sử dụng chuỗi thời gian 20 năm (1986 – 2006) và Frieder and Martell (2006) sử dụng chuỗi thời gian 10 năm (1988 – 1998) đối với các công ty trên thị trường chứng khoán New York đã chỉ ra rằng cấu trúc vốn chịu sự tác động của tính thanh khoản Cụ thể, các công ty có cổ phiếu thanh khoản hơn thì sử dụng ít đòn bẩy hơn
Trang 12Lớp: CH Ngày 4 – K22 Page 6
Nai- kang (2009) sử dụng mẫu dữ liệu là các công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán Thẩm Quyến và Thượng Hải từ 2000 - 2008 để nghiên cứu về mối quan hệ tác động hai chiều giữa thanh khoản và cấu trúc vốn Kết quả cũng cho thấy tính thanh khoản của cổ phiếu có tác động tiêu cực mạnh mẽ đến đòn bẩy Ngoài
ra, kết quả cho thấy ngoài tính thanh khoản cổ phiếu, tài sản hữu hình, tấm chắn thuế phi nợ, tỉ lệ giữ lại lợi nhuận và cơ hội tăng trưởng là yếu tố quyết định quan trọng của đòn bẩy
Năm 2011, Prasit Udomsiriku, Seksak Jumreornvong, Pornsit Jiraporn lần đầu tiên nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính thanh khoản của cổ phiếu và quyết định cấu trúc vốn tại thị trường ngoài nước Mỹ với nghiên cứu được thực hiện tại Thái Lan, nơi
mà quyền sở hữu doanh nghiệp tập trung hơn, thị trường vốn ít phức tạp và các khoản vay ngân hàng chiếm ưu thế Các tác giả sử dụng 3 chỉ số tỉ lệ kém thanh khoản Amihud (2002), Doanh số giao dịch điều chỉnh (Modified turnover), tỉ lệ thanh khoản điều chỉnh (Modified liquydity ratio) đại diện cho tính thanh khoản cổ phiếu Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có mối tương quan nghịch giữa thanh khoản của cổ phiếu với việc sử dụng đòn bẩy
Cũng sử dụng 3 chỉ tiêu phản ánh tỉ lệ thanh khoản cổ phiếu nêu trên, năm
2012, Fayez Salim Haddad thực hiện nghiên cứu tại Jordan, sử dụng dữ liệu của 38 doanh nghiệp trong giai đoạn từ 2000 đến 2009 để kiểm tra mối quan hệ giữa thanh khoản cổ phiếu và cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Amman của Jordan và cho ra kết quả nghiên cứu trái ngược với các nghiên cứu nêu trên, và cho thấy rằng quyền sở hữu tập trung, phụ thuộc vào vay ngân hàng, và thị trường vốn ít phức tạp ở Jordan chiếm ưu thế, và thanh khoản của cổ phiếu không có ảnh hưởng tới quyết định cấu trúc vốn
Cùng lúc này, Arabzadeh và Maghaminejad (2011) tiến hành nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính thanh khoản của cổ phiếu và cấu trúc vốn được thực nghiệm với các công ty có cổ phiếu niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran trong giai đoạn 5 năm (2001 – 2005) Theo kết quả, có một mối quan hệ ngược chiều giữa đòn bẩy tài chính
và tính thanh khoản của cổ phiếu Hơn nữa, kết quả nghiên cứu còn cho thấy tồn tại một mối quan hệ thuận chiều đáng kể giữa tỉ lệ lợi nhuận và đòn bẩy tài chính, đồng thời tồn tại một mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô công ty, tỉ lệ khấu hao với đòn bẩy tài chính
Trang 13Lớp: CH Ngày 4 – K22 Page 7
Nghiên cứu của Natasa Sarlija và Martina Harc (2012) với 1058 công ty có quy
mô vừa và nhỏ (theo luật kế toán) tại Croatian cũng cho kết quả rằng có mối tương quan giữa tỉ lệ thanh khoản và tỉ lệ đòn bẩy, cũng như tương quan giữa tỉ lệ thanh khoản và cơ cấu tài sản hiện hành Và mối tương quan giữa tỉ số thanh khoản và đòn bẩy ngắn hạn có tác động mạnh hơn giữa tỉ số thanh khoản và đòn bẩy dài hạn Kết quả cũng chỉ ra rằng các công ty có tài sản thanh khoản cao sẽ ít sử dụng đòn bẩy Việc tăng lượng tiền mặt trong cơ cấu tài sản hiện hành dẫn đến việc giảm đòn bẩy trong ngắn hạn và dài hạn
Gần đây nhất, tháng 2, năm 2013, Bahman Khalaj, Salman Farsian and Seyed Mohammadreza Karbalaee công bố kết quả của nghiên cứu tương tự với dữ liệu của top 100 doanh nghiệp hàng đầu niêm yết trên thị trường chứng khoán Malaysia Tác giả sử dụng lần lượt 3 chỉ tiêu kém thanh khoản Amihud (2002) (ILLIQ); doanh số giao dịch điều chỉnh (MT); Tỉ lệ thanh khoản điều chỉnh (MLR) đại diện cho tính thanh khoản, và phân tích ảnh hưởng của thanh khoản cổ phiếu đến đòn bẩy thị trường của doanh nghiệp trong mối quan hệ tác động của các yếu tố như: quy mô doanh nghiệp (lấy logarit tự nhiên) (Size); tỉ lệ lợi nhuận (Prof), tỉ lệ tài sản hữu hình (Tang)
và tỉ lệ phi nợ không có tấm chắn thuế (NDTS) Kết quả cho thấy, có mối tương quan chặt chẽ giữa giữa tỉ lệ kém thanh khoản Amihud 2002 và tỉ lệ thanh khoản điều chỉnh (Modified liquydity ratio) với đòn bẩy, nhưng không tìm thấy mối liên hệ nào giữa doanh số giao dịch điều chỉnh với đòn bẩy
Tuy nhiên, cũng có một số nghiên cứu cho kết quả đối lập với các kết quả nêu trên Chẳng hạn, nghiên cứu Salavatian và Resaian (2007) xem xét mối quan hệ giữa chênh lệch giá mua và giá bán cổ phiếu - đại diện cho tính thanh khoản cổ phiếu, và cấu trúc vốn trong công ty có cổ phiếu niêm yết tại thị trường chứng khoán Tehran của Iran Để đáp ứng mục tiêu này, 60 công ty được lựa chọn trong dữ liệu thống kê dân số và một khoảng thời gian dài 4 năm Kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng không
có mức ý nghĩa giữa mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và tính thanh khoản cổ phiếu với mức độ tin cậy 95%
Tương tự, cùng sử dụng 3 chỉ tiêu phản ánh tỉ lệ thanh khoản cổ phiếu như Bahman Khalaj, năm 2012, Fayez Salim Haddad thực hiện nghiên cứu tại Jordan, sử dụng dữ liệu của 38 doanh nghiệp trong giai đoạn từ 2000 đến 2009 để kiểm tra mối quan hệ giữa thanh khoản cổ phiếu và cấu trúc vốn của các doanh nghiệp trên thị
Trang 14Lớp: CH Ngày 4 – K22 Page 8
trường chứng khoán Amman của Jordan và cũng cho thấy rằng quyền sở hữu tập trung phụ thuộc vào vay ngân hàng, và thị trường vốn ít phức tạp ở Jordan vẫn chiếm ưu thế, đồng thời tính thanh khoản của cổ phiếu không có ảnh hưởng tới quyết định cấu trúc vốn
Trang 15Lớp: CH Ngày 4 – K22 Page 9
PHẦN 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mô hình thực nghiệm
Tham khảo bài nghiên cứu của Bahman Khalaj, Salman Farsian and Seyed Mohammadreza Karbalaee (2013) tại Malaysia, trong bài nghiên cứu này, chúng tôi cũng sử dụng lần lượt 3 chỉ tiêu kém thanh khoản Amihud (2002) (ILLIQ); Doanh số giao dịch điều chỉnh (MT); Tỉ lệ thanh khoản điều chỉnh (MLR) để phân tích ảnh hưởng của thanh khoản cổ phiếu đến đòn bẩy thị trường của doanh nghiệp trong mối quan hệ tác động của các yếu tố như: quy mô doanh nghiệp lấy theo logarit tự nhiên (Size); tỉ lệ lợi nhuận (Prof), tỉ lệ tài sản cố định hữu hình (Tang) và tấm chắn thuế phi
nợ (NDTS) Như vậy, mô hình thực nghiệm được xây dựng gồm 3 mô hình, tương ứng với 3 chỉ tiêu của tỉ lệ thanh khoản như sau:
(1): ML= α (t) + β 1 ILLIQ(t) + β 2 SIZE(t) + β 3 PROF(t) + β 4 TANG(t) + β 5 NDTS(t) +ε(t) (2): ML= α (t) + β 1 MT(t) + β 2 SIZE(t) + β 3 PROF(t) + β 4 TANG(t) + β 5 NDTS(t) + ε(t) (3): ML= α (t) + β 1 MLR(t) + β 2 SIZE(t) + β 3 PROF(t) + β 4 TANG(t) + β 5 NDTS(t) + ε(t) 3.2 Mô tả các biến
ML (Market leverage)
ML là đòn bẩy thị trường (market leverage) Theo Udomsirikul (2011), đòn bẩy gồm có đòn bẩy sổ sách (book leverage) và đòn bẩy thị trường (market leverage) Đòn bẩy theo sổ sách được tính toán dựa trên giá trị vốn cổ phần theo sổ sách Đòn bẩy thị trường được tính toán dựa trên giá trị thị trường của vốn cổ phần, tức là dựa trên giá trị thị trường của cổ phiếu của doanh nghiệp
Giá trị nợ ở đây được tính là tổng nợ phải trả của doanh nghiệp tính trung bình giữa thời điểm đầu năm và cuối năm nghiên cứu Giá trị thị trường của vốn cổ phần là giá trị vốn hóa tính trung bình của giá trị được công bố tại thời điểm 01/1 và 31/12 của năm nghiên cứu
Trong mô hình xem xét, ML là biến phụ thuộc, chịu ảnh hưởng của biến độc lập tính thanh khoản, và các biến kiểm soát khác SIZE, PROF, TANG, NDTS
ILLIQ (Illiquidity)
Trang 16Lớp: CH Ngày 4 – K22 Page 10
Thanh khoản là một khái niệm trừu tượng Nó không quan sát được trực tiếp, hay đúng hơn là có một số khía cạnh khó có thể nắm bắt bằng một phép đo lường đơn thuần (Amihud và Mendelson (1991)) Tính kém thanh khoản phản ánh ảnh hưởng của
“dòng lệnh” (order flow) đến giá cả – nó có thể hiểu như một khoản chiết khấu mà người bán chấp nhận hay là một khoản phí mà người mua phải trả khi thực hiện một lệnh trên thị trường mà nguyên nhân của nó là các chi phí cho sự lựa chọn bất lợi và chi phí lưu kho (Amihud và Mendelson, 1980; Glosten và Milgrom, 1985)
Chỉ tiêu kém thanh khoản Amihud (2002) (ILLIQ) ILLIQ được hiểu là tỉ lệ bình quân tính theo ngày của giá trị tuyệt đối của thu nhập cổ phiếu so với khối lượng giao dịch tính bằng tiền của cổ phiếu trong 1 ngày Tỉ lệ này cho thấy phần trăm thay đổi giá trên 1 đơn vị khối lượng giao dịch tính bằng tiền Nó cho thấy một đơn vị giao dịch (tính bằng tiền) hàng ngày gây ra ảnh hưởng làm thay đổi giá cả bao nhiêu Trong nghiên cứu này, chúng tôi nhân tỉ lệ này lên 10^6 để dễ thể hiện do giá trị của nó rất nhỏ
Công thức tính ILLIQ trung bình năm y của cổ phiếu i của Amihud (2002) được tính như sau:
Diy: số ngày có dữ liệu của cổ phiếu i trong năm y Trong nghiên cứu này, chúng tôi lấy Diy là tổng số ngày mà số lượng cổ phiếu i được giao dịch lớn hơn 0
Riyd: Thu nhập của cổ phiếu i vào ngày d của năm y Riyd = chênh lệch giữa giá đóng cửa – giá mở cửa của cổ phiếu i vào ngày d của năm y
Voldiyd: Khối lượng giao dịch tính bằng tiền của cổ phiếu i vào ngày d của năm
y (= ∑pidxqid)
MT (Modified turnover)
MT là chỉ tiêu doanh số giao dịch điều chỉnh Chỉ tiêu này được hiểu là tỉ lệ giữa số lượng cổ phiếu giao dịch so với số lượng cổ phiếu đang lưu hành được điều chỉnh bằng cách xem xét đến yếu tố biến động thu nhập của cổ phiếu Các nghiên cứu trước đây cho thấy có mối quan hệ giữa sự biến động của Ebit qua các năm đến doanh
số giao dịch của cổ phiếu (Bartov and Bodnar (1996)) Khi nhà đầu tư xem xét về hiệu quả của cổ phiếu, họ có thể cân nhắc đến phần trăm thay đổi EBIT qua các năm do
Trang 17Lớp: CH Ngày 4 – K22 Page 11
EBIT tạo ra EPS Chính vì vậy, doanh số giao dịch sẽ chịu ảnh hưởng một phần bởi sự biến động EBIT Do đó, tỉ lệ doanh số giao dịch điều chỉnh dưới tác động của sự biến động EBIT sẽ là chỉ tiêu phản ánh tính thanh khoản cổ phiếu tốt hơn (so với tỉ lệ doanh
số giao dịch thông thường) (Udomsirikul 2011) Doanh số giao dịch điều chỉnh MT được cho là có tương quan nghịch với đòn bẩy thị trường (ML)
VOLi,t: số lượng cổ phiếu được giao dịch hàng tháng
Ni,t: Số lượng cổ phiếu đang lưu hành hàng tháng
Volatility được tính bằng giá trị tuyệt đối của thay đổi hàng năm Ebit (%) – Trung bình thay đổi EBIT trong giai đoạn mẫu (%)
MLR (Modified liquidity ratio)
Tỉ lệ thanh khoản LR (liquydity ratio) đầu tiên được sử dụng là biến đại diện cho tính thanh khoản trong một số nghiên cứu như nghiên cứu của Amihud et al (1997) và Berkman và Eleswarapu (1998) Tỉ lệ thanh khoản điều chỉnh là tỉ lệ thanh khoản LR được điều chỉnh dưới tác động của yếu tố biến động thu nhập Volatility Tỉ
lệ thanh khoản điều chỉnh (MLR) được hiểu là tỉ lệ giữa tổng khối lượng giao dịch hàng ngày chia cho giá trị tuyệt đối thu nhập của cổ phiếu và biến động Ebit qua các năm Kluger và Stephan (1997) chỉ ra rằng, tỉ lệ thanh khoản nắm bắt được quan điểm cho rằng thị trường với các đặc tính là sâu, rộng và có khả năng phục hồi là thị trường thanh khoản hơn, và do đó có thể hấp thụ được một số lượng lớn giao dịch mà không thay đổi giá nhiều Nói cách khác, cổ phiếu thanh khoản hơn có thể hấp thụ giao dịch nhiều hơn mà không cần sự thay đổi lớn về giá cả Một tỉ lệ thanh khoản cao hơn hàm
ý thanh khoản thị trường lớn hơn hoặc sâu hơn
SIZE
Quy mô của doanh nghiệp (SIZE) được sử dụng là một biến kiểm soát Biến này được tính toán bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản của doanh nghiệp
SIZE = Ln (Tổng tài sản)
Trang 18từ tấm chắn thuế Chính vì vậy, quy mô của doanh nghiệp được cho là có quan hệ thuận với đòn bẩy.
PROF
Tỉ lệ lợi nhuận (PROF) được sử dụng là một biến kiểm soát Biến này được tính toán bằng cách chia lợi nhuận trước lãi vay và thuế cho tổng tài sản
Lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng, các giám đốc tài chính tài trợ cho các dự
án đầu tư bằng nguồn từ lợi nhuận giữ lại đầu tiên do có tồn tại thông tin bất cân xứng giữa các nhà quản lý và các nhà đầu tư bên ngoài Tương tự như vậy, các doanh nghiệp có khả năng sinh lợi cao có thể tích lũy vốn chủ sở hữu để tránh phải tăng vốn thông qua các chứng khoán rủi ro Đồng thời, các công ty này cũng không muốn tăng vốn nguồn từ bên ngoài để tránh pha loãng vốn cổ phần Do đó, biến PROF được kỳ vọng là có quan hệ nghịch với đòn bẩy
Trang 19Lớp: CH Ngày 4 – K22 Page 13
những doanh nghiệp không có đủ tài sản đảm bảo, các trái chủ có thể yêu cầu mức lãi suất cho vay cao hơn Điều này làm cho việc tài trợ bằng nợ sẽ có chi phí cao hơn tài trợ bằng vốn cổ phần Chính vì vậy, biến TANG được cho là có quan hệ thuận với đòn bẩy
NDTS
NDTS là tỉ lệ tấm chắn thuế phi nợ Được tính bằng khấu hao / tổng tài sản với giá trị khấu hao được tính là tổng giá trị trích khấu hao trong năm nghiên cứu
Theo lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, nếu tỉ lệ khấu hao là cao, lợi thế thuế của
nợ giảm Nói cách khác, có một mối quan hệ ngược chiều giữa tỉ lệ khấu hao và đòn bẩy
Các nghiên cứu thực nghiệm: Ross (1985); Titman và Wessels (1988); Cheplinsky và Niehaus (1993); Wald (1999) đều kết luận rằng các công ty có tỉ lệ khấu hao cao sẽ sử dụng nợ nhiều hơn
3.3 Giả thuyết nghiên cứu
tương quan thuận với đòn bẩy thị trường Nghĩa là khi cổ phiếu càng kém thanh khoản, thì doanh nghiệp có xu hướng sử dụng nợ nhiều hơn trong quyết định cấu trúc vốn
Giả thuyết 2: Chỉ số doanh số giao dịch điều chỉnh có ảnh hưởng và có mối tương quan nghịch với đòn bẩy thị trường
quan nghịch với đòn bẩy thị trường
Giả thuyết 2 và 3 nghĩa là khi cổ phiếu càng có tính thanh khoản, thì doanh nghiệp có xu hướng sử dụng vốn cổ phần nhiều hơn trong quyết định cấu trúc vốn 3.4 Chọn mẫu
Dữ liệu được lấy trong giai đoạn 4 năm, từ năm 2009 đến 2012 Để đảm bảo các doanh nghiệp được chọn có đủ dữ liệu trong giai đoạn phân tích, chúng tôi lựa chọn mẫu gồm các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (sàn HOSE) có thời gian niêm yết lần đầu từ năm 2008 trở về trước Cũng giống như các nghiên cứu trước đó, chúng tôi loại bỏ các tổ chức tài chính, tín dụng ra khỏi
Trang 203.5 Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu
Các dữ liệu liên quan để tính toán các chỉ số thanh khoản cổ phiếu như: khối lượng giao dịch, số lượng chứng khoán giao dịch, thu nhập cổ phiếu… được chúng tôi thu thập từ số liệu giao dịch chứng khoán hàng ngày công bố trên Website http://www.hsx.vn/hsx của Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và website của các doanh nghiệp chứng khoán (Vietstock)
Các dữ liệu liên quan đến các biến SIZE, PROF, TANG là dữ liệu tài chính năm, được lấy từ các báo cáo tài chính đã được kiểm toán của các doanh nghiệp niêm yết được công bố trên Website http://www.hsx.vn/hsx của Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Phần mềm SPSS 18.0 được sử dụng để phân tích dữ liệu Dữ liệu được đưa vào phân tích tương quan và hồi quy bội nhằm kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu, kiểm định các giả thuyết để xác định rõ ràng mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố tác động đến việc quyết định cấu trúc vốn của doanh nghiệp
Phân tích tương quan:
Trước khi tiến hành kiểm định mô hình nghiên cứu bằng phân tích hồi quy tuyến tính bội, mối tương quan giữa các biến của mô hình cần phải được xem xét Hệ
số tương quan giữa đòn bẩy thị trường (ML) và các biến ILLIQID; MT, MLR, SIZE, PROF, TANG để đánh giá có hay không mối quan hệ giữa MLR với các biến kiểm soát nêu trên
Phân tích ma trận tương quan sử dụng hệ số Pearson Correlation để lượng hóa mức độ chặt chẽ của mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc, và giữa các biến độc lập với nhau Hệ số này luôn trong khoảng từ -1 đến 1, lấy giá trị tuyệt đối, nếu lớn hơn 0,6 thì có kết luận mối quan hệ là chặt chẽ và càng gần 1 thì mối quan
hệ càng chặt, nếu nhỏ hơn 0,3 thì cho biết mối quan hệ càng lỏng lẻo Ngoài ra các kiểm tra về hiện tượng đa cộng tuyến được thực hiện thông qua kiểm định Durbin
Trang 21Lớp: CH Ngày 4 – K22 Page 15
Watson, hệ số chấp nhận mô hình (Tolorance) và hệ số phóng đại phương sai (VIF) trước khi thực hiện phân tích hồi quy
Phân tích hồi quy:
Phân tích hồi quy sẽ xác định phương trình hồi quy tuyến tính, với các hệ số Beta tìm được để khẳng định mối quan hệ nhân quả giữa biến phụ thuộc (ML) và các biến độc lập (ILLIQ, MT, MLR, SIZE, TANG) để xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến đòn bẩy thị trường Phân tích sử dụng phép hồi quy tuyến tính bội của SPSS với phương pháp phân tích từng lần
Chúng tôi lần lượt đưa vào phân tích hồi quy 3 mô hình thực nghiệm được nêu
ra ở trên Trong mỗi mô hình, chúng tôi sẽ phân tích bằng cách lần lượt từng biến độc lập trong mô hình Ví dụ, với mô hình (1), đầu tiên chúng tôi đưa vào mô hình phân tích gồm 1 biến phụ thuộc ML và 1 biến độc lập ILLIQID; sau đó, chúng tôi tiếp tục thêm vào lần lượt từng biến SIZE, TANG, PROF trong mỗi lần chạy phân tích để kiểm tra tính vững của mô hình
Việc kiểm định mô hình hồi quy được thực hiện theo phương pháp bình phương
bé nhất OLS (Ordinal Least Square) Hệ số xác định R2, kiểm định Fđược dùng để đánh giá mức độ phù hợp của mô hình Kiểm định Durbin Watson và tính toán hệ số chấp nhận mô hình (Tolerance) và hệ số phóng đại phương sai (VIF) được thực hiện
để kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến
Trang 22Lớp: CH Ngày 4 – K22 Page 16
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Mô tả thống kê các biến nghiên cứu
Đầu tiên, đề tài đề cập đến việc nhận định sơ bộ một số thông số cơ bản của các biến
số qua bảng sau:
Bảng 1: Thống kê mô tả của các biến số
Nguồn: Tính toán từ chương trình SPSS
Bảng thống kê mô tả trình bày giá trị trung bình, độ lệch chuẩn của các biến số trong nghiên cứu, bên cạnh đó, nó cũng cho thấy giá trị tối thiểu cũng như giá trị tối đa của các biến
số này
Từ kết quả của bảng 1, rút ra được một số nhận xét như sau:
- Tỉ lệ đòn bẩy thị trường (ML) bình quân của các doanh nghiệp là 0,49326 trong đó, doanh nghiệp có tỉ lệ đòn bẩy thị trường cao nhất là 0,9550 và thấp nhất ở mức 0,0002
- Chỉ tiêu kém thanh khoản bình quân là 2.593E+1 trong đó, doanh nghiệp có chỉ tiêu kém thanh khoản cao nhất là 6.30E+03 và thấp nhất ở mức 0.0001
- Doanh số giao dịch điều chỉnh bình quân là 0.997311, cao nhất là 68.1055, thấp nhất
Trang 23Lớp: CH Ngày 4 – K22 Page 17
Tỉ lệ tấm chắn thuế phi nợ bình quân là 026620, cao nhất là 0.3627, thấp nhất là
-0.0013
4.2 Các kết quả nghiên cứu
Các kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày theo từng biến độc lập trong các mô hình nghiên cứu đã nêu ở trên
4.2.1 Kết quả nghiên cứu mô hình 1 với biến độc lập là Tỉ lệ kém thanh khoản Amihud (2012)
4.2.1.1 Ma trận hệ số tương quan
Trước khi xây dựng mô hình hồi quy, chúng tôi tiến hành xem xét mối tương quan tuyến tính giữa tất cả các biến được đưa vào mô hình Kết quả ma trận hệ số tương quan như sau:
Bảng 2: Biến độc lập ILLIQUID - Correlations
** Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed)
* Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed)
Nguồn: Tính từ chương trình SPSS
Kết quả cho thấy biến kiểm soát SIZE, PROF có tương quan với biến phụ thuộc
ML ở mức ý nghĩa 1% Trong đó biến tỉ lệ lợi nhuận PROF có tương quan khá chặt
Trang 24Lớp: CH Ngày 4 – K22 Page 18
chẽ với mức độ sử dụng đòng bẩy (ML) Nhưng biến độc lập ILLQUID có tương quan thuận không đáng kể và không có ý nghĩa thống kê với biến phụ thuộc Các biến kiểm soát TANG, NDTS có mối quan hệ không đáng kể với đòn bẩy thị trường
Theo bảng kết quả trên, tương quan giữa biến độc lập ILLIQUID với các biến kiểm soát đều nhỏ hơn 0,7 Điều này cho thấy tất cả các biến đều có thể tham gia trong một mô hình hồi quy
4.2.1.2 Kết quả hồi quy mô hình 1
Sau khi kiểm tra tính tương quan giữa các biến trong mô hình, chúng tôi tiếp tục phân tích hồi quy với biến phụ thuộc ML, biến độc lập ILLIQUID và các biến kiểm soát SIZE, PROF, TANG, NDTS
Trước hết chúng tôi thực hiện đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy thông qua việc xác định hệ số R2 Kết quả cho thấy R2 tuy không cao, nhưng có thể chấp nhận (0,322)
Sau đó, độ phù hợp của mô hình được kiểm định thông qua kiểm định F Ý tưởng của kiểm định này về mối quan hệ tuyến tính giữa biến phụ thuộc với các biến độc lập, biến kiểm soát, xem xét biến phụ thuộc có liên hệ tuyến tính với toàn bộ tập hợp các biến độc lập hay không Giá trị F= 49,989 cho thấy, tập hợp các biến trong mô hình giải thích khá tốt cho sự thay đổi của biến phụ thuộc ML Giá trị sig= 000a cho thấy mô hình hồi quy có ý nghĩa ở mức 1%
Bảng dưới đây cho biết các hệ số hồi quy của các biến trong mô hình Ta thấy
hệ số của ILLIQUID khá nhỏ, điều này cho thấy tính kém thanh khoản của cổ phiếu ít
có ảnh hưởng tới quyết định cấu trúc vốn Trong khi đó, biến PROF có quan hệ chặt chẽ với quyết định cấu trúc vốn, hệ số hồi quy riêng phần của PROF (B= -1,443) cho thấy khi tỉ lệ lợi nhuận càng cao, thì giá trị đòn bẩy (ML) càng nhỏ, tức là cấu trúc vốn
Trang 25Lớp: CH Ngày 4 – K22 Page 19
thiên về tài trợ bằng vốn cổ phần Điều này cũng phù hợp với lý thuyết trật tự phân hạng về cấu trúc vốn đó là các doanh nghiệp ưu tiên sử dụng vốn nội bộ từ lợi nhuận giữ lại trong cấu trúc vốn, đồng thời có kết quả tương tự với các nghiên cứu thực nghiệm trước đây như nghiên cứu của Kester (1986) tại Mỹ và Nhật, Chang (1987), Titmam và Wessels (1988); Wiwattannakantang (1999), Huang S và Song F (2002), Chen (2002) Bahman Khalaj, Salman Farsian and Seyed Mohammadreza Karbalaee (2013)
Quy mô doanh nghiệp (SIZE) có mối tương quan thuận với đòn bẩy thị trường, nghĩa là các doanh nghiệp có quy mô lớn có mức độ sử dụng đòn bẩy cao hơn Kết quả này cũng phù hợp với các lý thuyết và nghiên cứu trước đây, các doanh nghiệp lớn, có khả năng tiếp cận thị trường vốn tốt hơn nên khả năng vay nợ dễ dàng hơn, các doanh nghiệp này cũng dễ tiếp cận với nguồn tài trợ nợ với chi phí thấp hơn các doanh nghiệp quy mô nhỏ Do vậy, các doanh nghiệp lớn có xu hướng sử dụng đòn bẩy cao hơn Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu thực nghiệm của Fama và Jensen (1983); Warner (1977), Mash(1982), Huang và Song (2002), Frank và Goyal (2002), Panno, Ojah và Manrique (2003); và Chen (2004); Psillaki và Daskalakis (2009), Bahman Khalaj, Salman Farsian and Seyed Mohammadreza Karbalaee (2013)
Các biến TANG, tấm chắn thuế phi nợ (NDTS) không có ảnh hưởng có ý nghĩa trong mô hình
Coefficients
Standardized Coefficients
Collinearity Statistics
Nguồn: Tính toán từ chương trình SPSS
Mô hình hồi quy được xây dựng:
Trang 26Lớp: CH Ngày 4 – K22 Page 20
Kiểm định Durbin Watson cho kết quả 1.875 thể hiện các biến trong mô hình không có đa cộng tuyến Hệ số độ phù hợp của mô hình (Tolerance) và hệ số phóng đại phương sai VIF khá nhỏ, cũng cho thấy không có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến kiểm soát, biến độc lập
4.2.2 Kết quả nghiên cứu mô hình 2 với biến độc lập là Doanh số giao dịch điều chỉnh (MT)
4.2.2.1 Ma trận hệ số tương quan
Trước tiên, để kiểm tra khả năng có thể xuất hiện đa cộng tuyến giữa các biến bằng cách thiết lập ma trận hệ số tương quan của các biến, được trình bày trong bảng sau đây:
** Correlation is significant at the 0.01 level (2-tailed)
* Correlation is significant at the 0.05 level (2-tailed)
Nguồn: Tính toán từ chương trình SPSS
Dựa vào các số liệu của bảng trên, đề tài nhận thấy hệ số tương quan giữa các cặp biến không có trường hợp nào vượt quá 0,8 Qua đây có thể kết luận, độ lớn của