1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận phân tích thuế PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ THU NHẬP CÔNG TY

17 478 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 139,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận phân tích thuế PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ THU NHẬP CÔNG TY Thuế thu nhập công ty là loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của công ty. Thuế thu nhập công ty ở Việt Nam chính là thuế thu nhập doanh nghiệp. Vai trò của Thuế thu nhập doanh nghiệp: Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội Thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước

Trang 1

Khoa Tài chính doanh nghiệp

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ THU NHẬP CÔNG TY

GVHD: PGS TS Nguyễn Ngọc Hùng

Nhóm thuyết trình lớp Ngày 4 K22:

1 Trịnh Quang Công

2 Bùi Thị Thùy Dương

3 Chung Ngọc Nghi

4 Nguyễn Thị Ánh Ngọc

5 Mai Thị Huỳnh Mai

6 Nguyễn Thị Thu Hương

7 Ngô Thị Thanh Nga

8 Phạm Thị Hồng Nga

9 Nguyễn Thị Kim Tuyến

10 Phạm Trần Anh Vũ

11.

Trang 2

Nhận xét của GVHD:

MỤC LỤC I.TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÔNG TY: 4

1 Thuế thu nhập công ty là gì? 4

2 Đánh thuế vào công ty 4

3 Cách tính thuế thu nhập công ty 5

4 Phạm vi ảnh hưởng của thuế công ty 7

II.TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ THU NHẬP CÔNG TY ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ 9

Trang 3

1 Phân tích lý thuyết - trường hợp không có thuế thu nhập công ty 9

2 Tác động của thuế thu nhập công ty đến quyết định đầu tư - trường hợp

không giảm trừ thuế 11

3 Tác động của thuế thu nhập công ty đến quyết địnhđầu tư - trường hợp khấu hao được tính vào chi phí và có giảm trừ thuế đối với đầu tư 13

4 Thuế suất thuế thu nhập công ty thực tế 15

IV.THUẾ ĐỐI VỚI CÔNG TY ĐA QUỐC GIA- TỐI THIỂU HÓA THUẾ TRÊN BÌNH DIỆN TẬP ĐOÀN VÀ VẤN ĐỀ CHUYỂN GIÁ 19 V.CẢI CÁCH THUẾ CÔNG TY: 23 TÀI LIỆU THAM KHẢO: 25

Trang 4

I TỔNG QUAN VỀ THUẾ THU NHẬP CÔNG TY:

1 Thuế thu nhập công ty là gì?

Thuế thu nhập công ty là loại thuế trực thu đánh vào lợi nhuận của công ty Thuế thu nhập công ty ở Việt Nam chính là thuế thu nhập doanh nghiệp

Vai trò của Thuế thu nhập doanh nghiệp:

- Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội

- Thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của ngân sách Nhà nước

- Thuế thu nhập doanh nghiệp còn là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng điều tiết các hoạt động kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ phát triển kinh tế nhất định

2 Đánh thuế vào công ty

Tại sao chính phủ phải đánh thuế vào công ty? Công ty không phải là một thực thể, mà là sự kết hợp nhiều yếu tố sản xuất Đánh thuế vào công ty nghĩa là đánh vào các yếu tố hợp thành công ty Có các lý do phải đánh thuế vào công ty:

- Công ty được xã hội dành cho một số ưu đãi, quan trong nhất là trách nhiệm nợ hữu hạn của các cổ đông Thuế công ty có thể được xem như là một loại phí để điều tiết mức hưởng quyền lợi này Tuy nhiên, thực tế thuế lại được cơ cấu theo cách mà không có cơ sở để cho rằng công ty phải nộp thuế tương ứng với quyền lợi đó

-Đánh thuế vào lợi nhuận thuần: Các công ty có quyền lực thị trường, họ sẽ kiếm được lợi nhuận thuần (chênh lệch dương giữa thu nhập và chi phí kinh doanh) DIAMOND và MIRLEES (1971) cho rằng đánh thuế vào lợi nhuận thuần là cách thức gia tăng nguồn thu tốt hơn so với đánh thuế vào các yếu tố sản xuất Bởi vì đánh thuế vào lợi nhuận thuần không làm bóp méo quyết định của người sản xuất, trong khi đánh thuế vào lao động hoặc vốn có thể gây ra hiệu ứng bóp méo (như thu hẹp cung lao động, giảm tiết kiệm …)

Một công ty lựa chọn giá cả và mức độ sản xuất để tối đa lợi nhuận Giả sử chính phủ thực hiện đánh thuế vào lợi nhuận, trong ngắn hạn sự lựa chọn tối ưu giá cả

và số lượng của công ty sẽ không thay đổi; quyết định tối đa hóa lợi nhuận trước thuế cũng sẽ tối đa hóa lợi nhuận sau thuế: (1-Thuế) x Lợi nhuân Vì vậy, đánh thuế vào lợi nhuận thuần sẽ không gây ra hiệu ứng hành vi (bóp méo)

Tuy nhiên, ở một chừng mực nhất định thuế đánh vào công ty cũng không hoàn toàn đánh vào lợi nhuận thuần Các công ty có chiến lược tối thiểu hóa gánh nặng thuế bằng việc thay đổi các thức sử dụng các yếu tố đầu vào Đánh thuế vào công ty sẽ làm cho các công ty thay thế, không phù hợp với mô hình sản xuất tối ưu Nghĩa là thuế công ty gây ra kém hiệu quả Thứ nữa, thuế đánh vào lợi nhuận thuần nên tập trong vào điều tiết lợi nhuận kinh tế - chênh lệnh giữa thu nhập và chi phí cơ hội sản xuất Thực tế các công ty nộp thuế dựa vào lợi nhuận kế toán – chênh lệch giữa thu nhập và chi phí báo cáo Chí phí báo cáo khác chi phí kinh tế bởi vì nó sử dụng giá cả chứ

Trang 5

không phải là chi phí cơ hội và các công ty có thể thổi phồng thực kế toán của nó Đánh thuế vào công ty là để kiểm soát hành vi của nó

-Thu nhập giữ lại: Cơ sở hợp lý khác để đánh thuế công ty là tương tự đối với tranh luận mà chúng ta bàn luận về thu nhập chuyển nhượng vốn: nếu như công ty không bị đánh thuế trên thu nhập kiếm được nhu các cá nhân bị đánh thuế trên số tiền thanh toán của công ty, thì công ty có thể trách thuế bằng việc không bao giờ chi trả thu nhập của nó Thu nhập kiếm được sẽ tích lũy, không chịu thuế dẫn đến một sự trợ cấp thuế rất lớn đối với thu nhập công ty so với các hình thức tiết kiệm khác Nghĩa là đánh thuế vào thu nhập công ty bảo đảm tính thống nhất với thu nhập cá nhân Giả sử thu nhập củ Anna trong một công ty là 10.000$/năm Theo quy ước chuẩn về việc xác

định thu nhập thì 10.000$ này là thu nhập cho dù có được giữ lại ở công ty hay được

chi trả cho Anna Nếu công ty này trả 10.000$ cho Anna, khoảng thu nhập này bị đánh thuế bởi mức thuế thu nhập cá nhân của anh ta Nếu 10.000$ được giữ lại và nếu không có thuế công ty thì Anna không có nghĩa vụ thuế gì cả Vì vậy, nếu không có thuế thu nhập của công ty, Anna có thể giảm nghĩa vụ thuế của mình bằng cách tích lũy thu nhập tại công ty

3 Cách tính thuế thu nhập công ty

Tính toán thuế thu nhập công ty được thực hiện qua hai bước: tính thu nhập chịu thuế và thuế công ty phải nộp

- Thu nhập chịu thuế = (thu nhập - chi phí)

- Thuế công ty phải nộp = Thuế nhập chịu thuế x thuế suất

Mỗi quốc gia có cấu trúc thuế công ty khác nhau Ở Việt Nam, thuế thu nhập công ty là loại thuế toàn phần, với mức thuế suất 25% đánh vào thu nhập chịu thuế Ở

Mỹ cấu trúc thuế công ty là một loại thuế lũy tiến từng phần, gồm nhiều nhóm Nhóm thuế suất thấp nhất là 15%, cao nhất là 35% (với thu nhập chịu thuế từ 10 triệu đô la trở lên) Hầu hết các công ty chịu thuế suất 35% vì vậy với mục đích của chúng ta, hệ thống được trình bày ở mức thuế suất trần 35%

Thu nhập của công ty bao gồm doanh thu và các khoản thu nhập khác

Chi phí của công ty bao gồm 3 cấu phần cơ bản:

(1) Chi phí bằng tiền phát sinh trong kinh doanh như tiền lương, bảo hiểm

xã hội và các chi phí trung gian: nguyên vật liệu, điện nước, tiền thuê văn phòng…

(2) Trả lãi tiền vay từ các định chế tài chính và các tổ chức trên thị trường Nhìn chung, các khoản chi phí này được khấu trừ vào thu nhập chịu thuế để giảm trừ gánh nặng thuế của công ty

(3) Khấu hao đối với các khoản đầu tư vốn

Luật thuế có những quy định, trong đó chỉ ra tỷ lệ khấu hao hàng năm và thời gian khấu hao (bao nhiêu năm) đối với mỗi loại tài sản - đó là thời gian chịu thuế (tax life) của tài sản

Tính toán các khoản khấu hao

Giả sử rằng một thiết bị máy móc của công ty XYZ là 1000 đôla, khấu hao đường thẳng trong 10 năm Vậy hiện giá tấm chắn thuế từ khấu hao của thiết bị này là bao nhiêu? Với mức thuế suất là 35% Tỷ suất chiết khấu là 10%

Trang 6

Vào cuối năm thứ nhất, XYZ được phép trừ 1/10 giá trị máy (tương đương 100

đô la) khỏi thu nhập chịu thuế Với thuế suất thuế thu nhập công ty 35%, chiết trừ 100

đô la tiền khấu hao sẽ tiết kiệm cho công ty 35 đôla Tuy nhiên, lưu ý công ty XYZ chỉ

có được lợi ích này sau một năm đầu tư thiết bị Giá trị hiện tại của 35 đôla này được tính bằng cách chia 35 đô la cho (1+r), với r là chi phí cơ hội của các khoản vốn đối với doanh nghiệp

Vào cuối năm thứ hai, XYZ lại được phép từ 100 đôla ra khỏi thu nhập chịu thuế và có khoản tiết kiệm 35 đôla trong năm đó Bởi vì khoản tiết kiệm này xảy ra sau

2 năm trong tương lai nên hiện giá của nó là 35 đola / (1+r)2 Tương tự, hiện giá của khoản khấu hao năm thứ 3 là 35 đôla / (1+r)3, của năm thứ 4 là 35 đôla / (1+r)4… Hiện giá của toàn bộ dãy tiền khấu hao là:

35

(1+r )1+

35 (1+r )1+…+

35 (1+r )n Với r =10%, giá trị biểu thức trên bằng 215,10 đôla Nghĩa là, khấu hao làm giảm giá của thiết bị từ 1.000 đôla xuống còn 784,90 đôla (1.000 đôla – 215,10 đôla) Nói cách khác, mức giá thực thấp hơn giá mua bởi vì việc mua sắm này dẫn tới dòng tiền tiết kiệm thuế trong tương lai

Tổng quát hơn, giả sử luật thuế cho công ty khấu hao một tài sản nào đó trong thời gian T năm, tỉ lệ giá trị tài sản được khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế của năm thứ

n là D(n) Tổng các D(n) là 1, nghĩa là luật thuế cho phép toàn bộ giá mua tài sản cuối cùng được khấu trừ hết (Trong ví dụ trước, T là 10 và D(n) là 1/10 mỗi năm Tuy nhiên, có nhiều cách phân bổ khấu hao, theo đó D(n) thay đổi qua các năm) Hãy xem xét việc mua một tài sản trị giá 1 đôla Số tiền được khấu hao ở cuối năm thứ 1 là D(1) đôla, giá trị của khoản khấu hao này đối với công ty sẽ là  x D(1) đôla, với  là thuế suất công ty Tương tự, giá trị khoản khấu hao đối với công ty trong năm thứ 2 là  x D(2) Giá trị hiện tại của tất cả các khoản tiết kiệm thuế nhờ khấu hao tài sản 1 đôla này là:

ϕ=(D 1)

(1+r )1+

(D 2)

(1+r )2+…+

(DT)

(1+r)n Bởi vì ϕ là khoản thuế tiết kiệm cho 1 đôla chi tiêu, như vậy, nếu giá mua tài sản là q thì khấu hao sẽ làm cho mức giá thực sự của tài sản này giảm xuống còn (1 -ϕ)q Ví dụ, giá trị của ϕ = 0,25, điều này có nghĩa là cứ mỗi đôla chi mua tài sản thì có

25 cent tiết kiệm thuế Như vậy, nếu máy trị giá 1.000 đôla (q = 1.000 đôla) thì giá thực chỉ có 75% giá mua hay 750 đôla

Phương trình trên cho thấy rằng số tiền tiết kiệm thuế do khấu hao phụ thuộc chặt chẽ vào giá trị T và hàm D(n) Cụ thể là sẽ có lợi về thuế hơn nếu: một là thời gian khấu hao máy móc càng ngắn – tức là T càng nhỏ; hai là, tỉ lệ khấu hao trong thời gian đầu sử dụng máy càng lớn – giá trị của D(n) càng lớn khi n nhỏ

Các phương pháp cho phép công ty khấu hao tài sản nhanh hơn hao mòn kinh tế

thực sự được gọi là khấu hao nhanh Khả năng tối đa cho phép là công ty được trừ

khỏi thu nhập chịu thuế toàn bộ giá trị tài sản tại thời điểm mua sắm tài sản, được xem như là khấu hao ngay toàn bộ

Trang 7

Ở Mỹ, theo luật hiện hành, mỗi tài sản được khấu hao đều, và ấn định 1 trong 8 mức thuế (tương ứng với thời gian chịu thuế, hay thời gian khấu hao – những giá trị của T) Các mức thời gian khấu hao biến đổi từ 3 cho đến 31,5 năm Hầu hết tài sản thuộc nhóm thiết bị khấu hao trong 5 năm Thông thường thời gian khấu hao ngắn hơn thời gian hữu dụng thực sự của tài sản Điều này chứa đựng những kết quả tiềm tàng đối với hành vi đầu tư của công ty mà chúng ta sẽ thảo luận sau Đối với tỷ lệ khấu hao, về cơ bản hiện có 3 phương pháp xác định như sau:

Phương pháp đường thẳng: Nếu thời gian chịu thuế của tài sản là T năm, mỗi

năm công ty có thể khấu trừ bằng 1/T nhân cho giá trị tài sản Vì vậy, tài sản cố định với 1.000 đôla và thời gian khấu hao trong 5 năm thì mỗi năm được khấu trừ 200 đôla

Phương pháp một rưỡi hay 150%: 1,5 lần tỷ lệ khấu hao theo phương pháp

đường thẳng được khấu trừ trong năm thứ 1, trong mỗi năm tiếp theo cũng sẽ áp dụng

tỷ lệ này cho phần giá trị còn lại chưa khấu hao của năm đó Quay trở lại trường hợp tài sản có trị giá 1.000 đôla với thời gian khấu hao 5 năm thì 1,5 lần tỷ lệ khấu hao theo phương pháp đường thẳng là 30% Như vậy công ty có thể khấu trừ 300 đôla cho năm thứ 1 (30% x 1.000) Trong năm thứ 2, số còn lại chưa được khấu hao là 700 đôla, vậy khoản khấu hao này là 30% x 700 đôla = 210 đôla và cứ tiếp tục như vậy… Doanh nghiệp có thể chuyển sang phương pháp đường thẳng nếu số tiền được khấu trừ theo phương pháp này vượt quá số tiền được theo phương pháp 150% So với phương pháp đường thẳng thì phương pháp này tạo nên số tiền tiết kiệm thuế có giá trị hiện tại cao hơn

Phương pháp số dư giảm dần kép: hai lần tỷ lệ khấu hao theo phương pháp

đường thẳng được khấu trừ trong năm thứ nhất; trong mỗi năm tiếp theo tỷ lệ này được

sử dụng để tính khấu hao trên giá trị tài sản còn lại của tài sản trong năm đó

Ví dụ, tài sản 1.000 đôla, thời gian khấu hao 5 năm, hai lần tỷ lệ khấu hao theo phương pháp đường thẳng là 40% Doanh nghiệp khấu trừ 40% x 1000 đôla = 400 đôla trong năm thứ nhất; 40% x 600 đôla = 240 đôla trong năm thứ 2… Cũng như trường hợp phương pháp 150% doanh nghiệp có thể chuyển trở lại phương pháp đường thẳng khi mà doanh nghiệp có lợi hơn khi làm như thế

4 Phạm vi ảnh hưởng của thuế công ty

Vấn đề xác định ai là người cuối cùng phải chịu gánh năng thuế và phải đo lường được chi phí do thuế không hiệu quả gây ra, các kết quả kinh tế của thuế công ty luôn là một trong những vấn đề gây tranh cãi nhất về tài chính công Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này, sau đây chúng ta sẽ xem xét một vài quan điểm:

a) Thuế công ty đánh vào yếu tố sản xuất của công ty

Trong mô hình cân bằng tổng thể, thuế công ty là thuế trên một phần yếu tố sản xuất Thuế đánh vào vốn công ty sẽ làm cho vốn dịch chuyển ra khỏi khu vực công ty cho đến khi tỷ suất lợi nhuận sau thuế của công ty bằng tỷ suất lợi nhuận sau thuế của toàn bộ nền kinh tế Sự dịch chuyển này tác động đến tất cả các chủ sở hữu vốn chứ không chỉ riêng chủ công ty, bên cạnh đó nó cũng tác động đến mức thu nhập đối với yếu tố lao động Phạm vi tác động cũng như gánh nặng thuế mà yếu tố vốn và lao động phải gánh chịu phụ thuộc vào kỹ thuật được sử dụng trong sản xuất ở mỗi khu vực

Trang 8

(khu vực công ty và khu vực ngoài công ty) cũng như nhu cầu của người tiêu dùng đối với hàng hóa thuộc hai khu vực này cung cấp

Chuyển sang những khía cạnh về tính hiệu quả, vì làm cho vốn tích lũy của doanh nghiệp ít đi, nên thuế công ty đã làm cho vốn dịch chuyển ra khỏi nơi sử dụng hữu ích nhất và tạo nên gánh nặng thuế phụ trội

Mô hình Harberger giả định có cạnh tranh hoàn hảo và hành vi nhằm tối đa hóa lợi nhuận Giả sử theo thời gian thuế đánh vào vốn công ty làm thay đổi tổng lượng vốn sẵn có trong nền kinh tế:

- Thuế làm giảm tổng lượng vốn: giảm lượng sản phẩm biên do lao động giảm -> tỷ lệ tiền lương giảm -> người lao động chịu phần gánh năng thuế lớn hơn

- Thuế làm tăng lượng vốn: tăng lượng sản phẩm biên -> tăng tỷ lệ tiền lương

Kết luận: khi xem xét quan điểm thuế công ty là thuế đánh trên từng phần yếu

tố sản xuất thì ta nhận thấy tính hiệu quả và mức độ tác động của nó cũng không rõ ràng

b) Thuế đánh vào lợi nhuận:

Quan điểm này dựa trên cơ sở thuế được xác định bằng cách trừ các chi phí sản xuất ra khỏi tổng thu nhập của công ty, chỉ còn lại “lợi nhuận” Xây dựng mô hình thuế công ty như là một loại thuế đơn giản đánh trên lợi nhuận là hoàn toàn không hợp

lý vì cơ sở của thuế đánh trên lợi nhuận được tính toán bằng cách trừ ra khỏi thu nhập tất cà giá trị đầu vào phục vụ cho sản xuất , bao gồm cả chi phí cơ hội của các đầu vào

do các chủ sở hữu cung cấp, nhưng như đã đề cập ở trên là không được khấu trừ chi phí cơ hội ra khỏi thu nhập được tính thuế, vì vậy cơ sở tính thuế công ty còn nhiều yếu tố khác không chỉ có lợi nhuận

Tuy nhiên, trong nghiên cứu của Stiglitz (1993) chỉ ra rằng trong điều kiện công

ty được phép khấu trừ tiền lãi trả cho chủ nợ thì thuế công ty là thuế đánh trên lợi nhuận

Xem xét một ví dụ cụ thể:

Giả sử một doanh nghiệp dự định mua máy trị giá 1$, máy này tạo ra sản lượng

có giá trị trước thuế là G$ Để tài trợ cho việc mua sắm này, doanh nghiệp vay 1$ và phải trả lãi vay là r$

- TH1: không có bất kỳ loại thuế nào, doanh nghiệp sẽ mua máy nếu:

G – r > 0 (1)

- TH2: doanh nghiệp bị đánh thuế với mức thuế suất t, thu nhập chịu thuế bằng

tổng doanh thu trừ các khoản lãi vay (G – r), doanh nghiệp sẽ mua máy khi:

(1 – t)(G – r) > 0 (2)

Nhận xét: bất cứ dự án nào vượt qua được tiêu chuẩn sau thuế (2) thì cũng phải

thỏa mãn tiêu chuẩn trước thuế (1) (lấy (2) chia cho (1 – t) ta được (1))

Kết luận: Việc đánh thuế này không làm thay đổi quyết định đầu tư của doanh

nghiệp, các chủ doanh nghiệp sẽ tiếp tục công việc của họ như đã làm trước khi có thuế, đơn giản họ chỉ mất đi một phần lợi nhuận đầu tư do nộp thuế cho chính phủ Như vậy, tác động của thuế công ty nhằm vào các chủ doanh nghiệp và không tạo nên gánh nặng phụ trội

Trang 9

Kết luận này phụ thuộc vào các giả định làm nền tảng, và có nhiều tranh cãi về các giả định này, cụ thể giả định doanh nghiệp cung ứng vốn cho dự án mới bằng cách vay mượn Doanh nghiệp có nhiều hình thức bổ sung vốn khác ngoài vay mượn như phát hành cổ phần hay sử dụng các khoản lợi nhuận giữ lại Hoặc nếu doanh nghiệp không biết chắc chắn thu nhập do dự án mang lại thì việc vay mượn nhiều đôi khi sẽ tạo ra những nguy cơ xấu cho doanh nghiệp

Như vậy, đóng góp chính của phân tích Stiglitz không phải là ở kết luận thuế công ty không tạo ra gánh năng phụ trội, điều ẩn giấu quan trọng bên trong chính là cách thức các công ty huy động vốn cho các dự án đầu tư của họ có ảnh hưởng lớn đến việc thuế công ty tác động như thế nào đến nền kinh tế

II TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ THU NHẬP CÔNG TY ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ

Trong hoạt động quản trị tài chính doanh nghiệp, mục tiêu cuối cùng của mọi doanh nghiệp chính là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp từ đó tối đa hóa tài sản của chủ

sở hữu Ba quyết định quan trọng mà các giám đốc tài chính phải đưa ra để đạt được mục tiêu trên là quyết định đầu tư, quyết định tài trợ và quyết định phân phối Ba quyết định này có mối quan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau đồng thời cũng chịu tác động từ nhiều nhân tố khác, trong đó, thuế là một trong những nhân tố quan trọng đối với cả ba quyết định trên và các giám đốc tài chính luôn phải cân nhắc cẩn thận chính sách thuế khi đưa ra những quyết định quan trọng cuối cùng Trong những điều kiện nhất định, quyết định đầu tư là quyết định quan trọng nhất trong ba quyết định tài chính vì quyết định đầu tư tác động trực tiếp đến giá trị doanh nghiệp, đến khả năng sinh lời của những nguồn tài trợ, đến thu nhập của chủ sở hữu, trực tiếp quyết định đến việc doanh nghiệp có đạt được mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp hay không

Trong phần này, chúng ta sẽ phân tích tác động của thuế thu nhập công ty lên các quyết định đầu tư của công ty, để thấy rõ được tác động này, chúng ta ngầm giả định hai quyết định về cấu trúc vốn và chính sách phân phối đã được công ty xác định trước và cố định, không thay đổi, các yếu tố khác liên quan cũng được cố định

1 Phân tích lý thuyết - trường hợp không có thuế thu nhập công ty

Như phần trước đã phân tích, chính sách thuế ở nhiều quốc gia trên thế giới cho phép công ty được trừ chi phí lãi vay khi tính thu nhập chịu thuế đã đem lại cho công

ty lợi ích tấm chắn thuế khi sử dụng nợ vay, cho nên để thấy rõ tác động của chính sách thuế lên quyết định đầu tư cũng như lợi ích tấm chắn thuế từ việc khấu hao tài sản cố định đem đi đầu tư, trong phần này, chúng ta giả định một mô hìnhđơn giản mà công ty chỉ sử dụng nguồn vốn cổ phần để tài trợ cho hoạt động đầu tư và chính sách chi trả cổ tức của công ty cũng ổn định

Để thấy được tác động của thuế thu nhập công ty đối với quyết định đầu tư, chúng ta bắt đầu từ mô hình đầu tư trong môi trường không có thuế thu nhập công ty Quyết định đầu tư được đưa ra bằng việc công ty thiết lập quy mô đầu tư tại mức mà lợi ích biên và chi phí đầu tư biên bằng nhau Công ty ước tính được thu nhập sẽ nhận

Trang 10

A Chi phí biên / Lợi ích biên

K1

MB1 = FK

MC1 = δ + ρ

Vốn đầu tư (K)

δ + ρ

được từ đầu tư trong kỳ và chỉ thực hiện đầu tư khi mà lợi ích thu được lớn hơn chi phí

bỏ ra

Giả sử rằng cứ mỗi đồng vốn đầu tư thêm vào thiết bị sản xuất thì công ty sẽ thu được thêm trong mỗi kỳ là FK đồng, FKchính là lợi ích biên của hoạt động đầu tư này

Trong mỗi kỳ, thiết bị sản xuất hao mòn và được tính khấu hao theo phương pháp đường thẳng, giá trị khấu hao tương ứng với mỗi đồng vốn đầu tư thêm trong mỗi kỳ là δ đồng

Bên cạnh đó, giả định công ty phát hành cổ phần để tài trợ cho việc đầu tư mua thiết bị này và cứ mỗi đồng vốn huy động được trong mỗi kỳ công ty phải chi trả cổ tức làρ đồng

Theo đó, tổng chi phí biên của hoạt động đầu tư này trong mỗi kỳ là một hằng số và bằng (δ + ρ) đồng.Công ty sẽ ra quyết định đầu tư thêm 1 đồng nếu thu nhập mỗi

kỳ ít nhất là (δ + ρ) đồng Vì vậy, có thể xem (δ + ρ) là thu nhập kỳ vọng của công ty khi đầu tư thêm 1 đồng

Chúng ta có thể phân tích quyết định đầu tư của công tythông qua đồ thị sau:

Hình 1 Quyết định đầu tư trong điều kiện không có thuế

Đường lợi ích biên (Fk) đo lường thu nhập nhận được từ mỗi đồng vốn đầu tư trong mỗi kỳ Theo giả thuyết sản phẩm biên giảm dần, lợi ích biên giảm xuống khi đầu tư càng gia tăng, vì vậy, đường lợi ích biên sẽ có dạng dốc xuống từ trái sang phải

Đường chi phí biên đo lường thu nhập kỳ vọng từ mỗi đồng vốn đầu tư tăng thêm trong mỗi kỳ để ít nhất có thể bù đắp được chi phí đã bỏ ra Vì là chi phí biên trong trường hợp này là hằng số và bằng (δ + ρ) nên đường chi phí biên có dạng nằm ngang, song song với trục hoành

Công ty sẽ đầu tư thêm cho đến khi chi phí biên bằng lợi ích biên (tại điểm A), tương ứng mức đầu tư là K1

Ở mức đầu tư thấp hơn K1 (những điểm nằm bên trái K1), việc đầu tư thêm sẽ tạo ra lợi ích lớn hơn chi phí, do đó công ty sẽ tiếp tục đầu tư

Tại mức đầu tư lớn hơn K1 (những điểm nằm bên phải K1), việc đầu tư thêm sẽ không mang lại hiệu quả do lợi ích tạo ra từ việc đầu tư thêm sẽ nhỏ hơn chi phí

Ngày đăng: 16/11/2014, 21:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Quyết định đầu tư trong điều kiện không có thuế - Tiểu luận phân tích thuế PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ THU NHẬP CÔNG TY
Hình 1. Quyết định đầu tư trong điều kiện không có thuế (Trang 10)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w