Các số tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản giải toán có lời văn ứng dụng thiết thực trong đời sống và một số yếu tố hình học đơn giản.Môn toán ở tiểu học bước đầu hình thành
Trang 1về số học Các số tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản giải toán có lời văn ứng dụng thiết thực trong đời sống và một số yếu tố hình học đơn giản.
Môn toán ở tiểu học bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hoá, khái quát hoá, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán, phát triển hợp lý khả năng suy luận và biết diễn đạt đúng bằng lời, bằng viết các suy luận đơn giản góp phần rèn luyện phương pháp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt và sáng tạo
Mục tiêu nói trên được thông qua dạy học các môn học đặc biệt là môn toán Môn này có tầm quan trọng vì toán học với tư cách là một bộ phận khoa học nghiên cứu hệ thống kiến thức cơ bản và sự nhận thức cần thiết trong đời sống sinh hoạt và lao động cần của con người Môn toán là “chìa khoá” mở của các ngành khoa học khác,nó là côngcụ cần thiếtcủa người lao động trong thời đại mới Vì vậy,môn toán là một bộ phận không thể thiếu được trong nhà trường,nó giúp con người phát triển toàn diện, góp phần tình cảm, trách nhiệm, niềm tin và sự phồn vinh của quê hương đât nước
Trong dạy-học toán ở tiểu học, việc giải toán có lời văn chiếm một vị trí quan trong Có thể coi viêc dạy-học và giải toán là “lửa thử vàng” của dạy-học toán Trong giải toán, học sinh phải tư duy một cách tích cực và linh hoạt, huy động tích cực các kiến thức và khả năng đã có vào tình huống khác nhau, trong nhiều trường hợp phải biết phát hiện những dữ kiện hay điều kiện chưa được nêu ra một cách tường minh Và trong chừng mực nào đó biết suy nghĩ năng động sáng tạo Vì vậy có thể coi giải toán có lời văn là một trong những biểu hiện năng động nhất của hoạt động trí tuệ của học sinh
Dạy học giải toán có lời văn ở tiểu học nhằm mục đích chủ yếu sau:
-Giúp học sinh luyện tập củng cố vận dụng các kiến thức và thao tác thực hành
đã học, rèn luyện kĩ năng tính toán bước tập dượt vận dụng kiến thức và rèn luyện kĩ năng thực hành vào thực tiễn
-Giúp học sinh từng bước phát triển năng lực tư duy rèn luyện phương pháp và
kĩ năng suy luận khêu gợi và tập dượt khả năng quan sát, phỏng đoán, tìm tòi
-Rèn luyện cho học sinh những đặc tính và phong cách làm việc của người lao động như: Cẩn thận, chu đáo, cụ thể
1.2 Về mặt thực tiễn:
Ở học sinh lớp 5, kiến thức toán đối với các em không còn là mới lạ, khả
năng nhận thức của các em đã được hình thành và phát triển ở các lớp trước, tư
Trang 2duy đã bắt đầu có chiều hướng bền vững và đa dạng và đang ở giai đoạn phát triển vốn sống vốn hiểu biết thực tế bước đầu đã có những hiểu biết nhất định Tuy nhiên trình độ nhận thức của các em không đồng đều, yêu cầu đặt ra khi giải toán có lời văn cao hơn những lớp trước, các em phải đọc nhiều, viết nhiều bài làm phải trả lời chính xác với phép tính, với các yêu cầu của bài toán đưa ra, nên thường vướng mắc về vấn đề trình bày bài giải: Sai sót do viết không đúng chính tả hoặc viết thiếu, viết từ thừa Một sai sót đáng kể khác là học sinh thường không chú ý phân tích theo các điều kiện của bài toán nên đã lựa chọn sai phép tính.
Với các lí do đó, trong học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 5 nói riêng, việc học toán và giải toán có lời văn rất quan trọng và rất cần thiết Để thực hiện tốt mục tiêu đó, giáo viên cần phải nghiên cứu, tìm biện pháp giảng dạy thích hợp, giúp các em giải bài toán một cách vững vàng Hiểu sâu được bản chất của vấn đề cần tìm, mặt khác giúp các em có phương pháp suy luận toán lôgíc thông qua cách trình bày, lời giải đúng, ngắn gọn, sáng tạo trong cách thực hiện Từ đó giúp các em hứng thú, say mê học toán Từ những căn cứ đó tôi đã chọn đề tài:
Một số biện pháp có hiệu quả trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở tiểu học
“Giải pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5”
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Là học sinh lớp 5 trường Tiểu học Thị trấn Yên Lạc
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Phương pháp giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5 ở trường Tiểu học Thị trấn Yên Lạc
4 Phương pháp nghiên cứu.
4.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Đọc sách, văn bản để thu nhập tư
liệu, thông tin cần thiết cho chương một của đề tài
4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
Trang 3- Điều tra cơ bản (bằng phiếu điều tra) kết hợp với quan sát, đàm thoại, phỏng vấn, trò chuyện để nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 5 ở trường Tiểu học Thị trấn Yên Lạc.
- Thực nghiệm sư phạm để thử nghiệm giải pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn, nhằm nâng cao kết quả của hoạt động dạy và học trong nhà trường Phương pháp này được sử dụng ở chương ba
- Nghiên cứu sản phẩm hoạt động của giáo viên và học sinh (giáo án, sổ sách…) để xác định kết quả công tác dạy - học của giáo viên và học sinh
4.3 Phương pháp nghiên cứu hỗ trợ:
- Thống kê toán học để phân tích số liệu điều tra và thực nghiệm như tính phần trăm, tính trung bình
- Trò chuyện của cô giáo với học sinh
5 Phạm vi, giới hạn nghiên cứu.
Trong đề tài này, chúng tôi xin được giới hạn phạm vi nghiên cứu trong khuôn khổ học sinh lớp 5 ở trường Tiểu học Thị trấn Yên Lạc ,giai đoạn 2010 -2013 nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy bồi dưỡng học sinh giỏi
Phần II Nội dung CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC
1 Cơ sở lý luận:
Giải toán là một thành phần quan trọng trong chương trình giảng dạy môn toán ở bậc tiểu học Nội dung của việc giải toán gắn chặt một cách hữu cơ với nội dung của số học và số học tự nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản
và các yếu tố đại số , hình học có trong chương trình
Vì vậy, việc giải toán có lời văn có một vị trí quan trọng thể hiện ở các điểm sau:
a Các khái niệm và các qui tắc về toán trong sách giáo khoa, nói chung đều được giảng dạy thông qua việc giải toán Việc giải toán giúp học sinh củng cố vận dụng các kiến thức, rèn luyện các kĩ năng tính toán, đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện ra những ưu điểm hoặc thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng và tư duy để giúp các em phát huy và khắc phục
b.Vệc kết hợp học và hành, kết hợp giảng dạy với đời sống được thực hiện thông qua việc cho học sinh giải toán, các bài toán liên hệ với cuộc sống một cách thích hợp giúp học sinh hình thành và rèn luyện những kĩ năng thực hành cần thiết trong đời sống hằng ngày giúp các em biết vận dụng những kĩ năng đó trong cuộc sống.Việc giải toán góp phần quan trong việc xây dựng cho học sinh những cơ sở ban đầu của lòng yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản, thế giới quan duy vật biện chứng: Việc giải toán với những đề tài thích hợp, có thể giới thiệu
Trang 4cho các em những thành tựu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước
ta và các nước bè bạn, trong công cuộc bảo vệ hoà bình của nhân dân thế giới, góp phần giáo dục các em bảo vệ môi trường, phát triển dân số có kế hoạch Việc giải toán có thể giúp các em thấy được nhiều khái niệm toán học
Ví dụ: các số, các phép tính, các đại lượng đều có nguồn gốc trong cuộc sống hiện thực, trong thực tiễn hoạt động của con người, thấy được các mối quan hệ biện chứng giữa các dữ kiện, giữa cái đã cho và cái phải tìm
c.Việc giải toán góp phần quan trọng vào rèn luyện cho học sinh năng lực
tư duy và những đức tính tốt của con người lao động mới Khi giải một bài toán,
tư duy của học sinh phải hoạt động một cách tích cực vì các em cần phân biệt cái gì đã cho và cái gì cần tìm, thiết lập mối quan hệ giữa các giữ kiện của bài toán giữa cái đã cho và cái phải tìm Suy luận, nêu lên những phán đoán, rút ra những kết luận thực hiện phép tính cần thiết để giải quyết các vấn đề đặt ra Hoạt động trí tuệ có trong việc giải toán góp phần giáo dục cho các em ý trí vượt khó khăn, đức tính cẩn thận, chu đáo, làm việc có hiệu quả, có kế hoạch, thói quen xem xét có căn cứ, có thói quen tự kiểm tra kết quả công việc mình làm, có óc độc lập, suy nghĩ sáng tạo, tự tìm ra những lời giải mới hay và ngắn gọn
*Nội dung chương trình toán lớp 5:
1 Ôn tập về số tự nhiên
2 Ôn tập về các phép tính số tự nhiên
3 ÔN tập dấu hiệu chia hết cho 2.3.5.9
4 Phân số ôn tập, bổ sung
5 Ôn tập các phép tính về phân số
6 Số thập phân
7 Các phép tính về số thập phân
8 Hình học-chu vi, diện tích, thể tích của một hình
9 Số đo thời gian-Toán chuyển động đều
2 Cơ sở tâm lý học.
2.1 Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học:
2.1.1 Chú ý của học sinh tiểu học:
a Khái niệm chú ý: Chú ý là một trạng thái tâm lý của học sinh giúp các
em tập trung vào một hay một nhóm đối tượng nào đó để phản ánh các đối tượng này một cách tốt nhất
Ở học sinh tiểu học có hai loại chú ý: chú ý không chủ định và chú ý có chủ định
b Đặc điểm chú ý của học sinh tiểu học:
Cả hai loại chú ý đều được hình thành và phát triển ở học sinh Tiểu học, chú ý không chủ định đã có trước 6 tuổi và tiếp tục phát triển, những gì mới lạ,
Trang 5hấp dẫn dễ dàng gây chú ý không chủ định của học sinh Do có sự chuyển hoá giữa hai loại chú ý này nên khi học sinh chú ý không chủ định, giáo viên đưa ra câu hỏi để hướng học sinh vào nội dung bài học thì chú ý không chủ định chuyển hoá thành chú ý có chủ định Chú ý có chủ định ở giai đoạn này được hình thành và phát triển mạnh Sự hình thành loại chú ý này là đáp ứng nhu cầu hoạt động học, ở giai đoạn đầu cấp chú ý có chủ định được hình thành nhưng chưa ổn định, chưa bền vững Vì vậy để duy trì nó nội dung mỗi tiết học phải trở thành đối tượng hoạt động của học sinh Ở cuối cấp chú ý có chủ định bắt đầu ổn định và bền vững.
Các thuộc tính chú ý được hình thành và phát triển mạnh ở học sinh Tiểu học Ở giai đoạn đầu cấp khối lượng chú ý của học sinh còn hạn chế, học sinh chưa biết tập trung chú ý của mình vào nội dung bài học chưa có khả năng phân phối chú ý giữa các hoạt động diễn ra cùng một lúc Ở giai đoạn 2 của cấp học khối lượng chú ý được tăng lên, học sinh có khả năng phân phối chú ý giữa các hành động, biết định hướng chú ý của mình vào nội dung cơ bản của tài liệu
2.1.2 Trí nhớ của học sinh tiểu học.
a Khái niệm trí nhớ:
Trí nhớ là quá trình tâm lý giúp học sinh ghi lại, giữ lại những tri thức cũng như cách thức tiến hành hoạt động học mà các em tiếp thu được khi cần có thể nhớ lại được, nhận lại được
Có hai loại trí nhớ: trí nhớ có chủ định và trí nhớ không chủ định
Tính trực quan trong hình ảnh trừu tượng giảm dần từ lớp 1 đến lớp 5; ở học sinh đầu cấp tiểu học tính trực quan thể hiện rất rõ trong hình ảnh trừu tượng Đến lớp 4, 5 hình ảnh trừu tượng bắt đầu mang tính khái quát
b Đặc điểm trí nhớ của học sinh tiểu học
Cả hai loại trí nhớ đều được hình thành và phát triển ở học sinh tiểu học Trí nhớ không chủ định tiếp tục phát triển nếu tiết học của giáo viên tổ chức không điều khiển học sinh hành động để giải quyết các nhiệm vụ học thì dễ dàng rơi vào ghi nhớ không chủ định
Do yêu cầu hoạt động học trí nhớ có chủ định hình thành và phát triển Học sinh phải nhớ công thức, quy tắc, định nghĩa, khái niệm để vận dụng giải bài tập hoặc tiếp thu tri thức mới, ghi nhớ này buộc học sinh phải sử dụng cả hai phương pháp của trí nhớ có chủ định là: ghi nhớ máy móc và ghi nhớ ý nghĩa
Trí nhớ trực quan hình ảnh phát triển mạnh hơn trí nhớ từ ngữ trừu tượng nghĩa là tài liệu, bài học có kèm theo tranh ảnh thì học sinh ghi nhớ tốt hơn so với tài liệu bài học không có tranh ảnh
2.1.3 Tưởng tượng của học sinh
a Khái niệm tưởng tượng
Tưởng tượng của học sinh là một quá trình tâm lý nhằm tạo ra các hình ảnh mới dựa vào các hình ảnh đã biết
Ở học sinh Tiểu học có hai loại tưởng tượng: Tưởng tượng tái tạo (hình dung lại) và tưởng tượng sáng tạo (tạo ra biểu tượng mới) để tạo ra hình ảnh mới
Trang 6trong tưởng tượng học sinh sử dụng các thao tác sau: nhấn mạnh chi tiết thành phần của sự vật để tạo ra hình ảnh mới Thay đổi kích thước thành phần, ghép các bộ phận khác nhau của sự vật, liên hợp các yếu tố của sự vật bị biến đổi nằm trong mối quan hệ mới Tập hợp, sáng tạo, khái quát các đặc điểm điển hình đại diện cho một lớp đối tượng sự vật cùng loại
b Đặc điểm tưởng tượng của học sinh tiểu học:
Tính có mục đích, có chủ định của tưởng tượng học sinh tiểu học tăng lên rất nhiều so với trước 6 tuổi Do yêu cầu của hoạt động học, học sinh muốn tiếp thu tri thức mới thì phải tạo cho mình các hình ảnh tưởng tượng
Hình ảnh tưởng tượng còn rời rạc, đơn giản chưa ổn định thể hiện rõ ở những học sinh đầu cấp tiểu học Do những nguyên nhân sau:
+ Học sinh thường dựa vào những chi tiết hấp dẫn, những đặc điểm hấp dẫn, mới lạ bề ngoài của sự vật hiện tượng để tạo ra hình ảnh mới
+ Vốn kinh nghiệm của học sinh còn hạn chế vì tưởng tượng phải dựa vào hình ảnh đã biết
+ Tư duy học sinh đầu cấp tiểu học vẫn là tư duy cụ thể, ở cuối cấp học hình ảnh tưởng tượng hoàn chỉnh hơn về kết cấu, chi tiết, tính lôgic
2.1.4 Tư duy của học sinh tiểu học
a Khái niệm tư duy của học sinh tiểu học:
Tư duy của học sinh Tiểu học là quá trình các em hiểu được, phản ánh được bản chất của đối tượng của các sự vật hiện tượng được xem xét nghiên cứu trong quá trình học tập ở học sinh
Có hai loại tư duy: Tư duy kinh nghiệm (tư duy cụ thể) chủ yếu hướng vào giải quyết các nhiệm vụ cụ thể dựa vào vật thật hoặc là các hình ảnh trực quan Tư duy trìu tượng (tư duy lý luận) hướng vào giải quyết các nhiệm vụ lý luận dựa vào ngôn ngữ, sơ đồ, các ký hiệu quy ước
b Đặc điểm tư duy của học sinh tiểu học:
Do hoạt động học được hình thành ở học sinh Tiểu học qua hai giai đoạn nên tư duy của học sinh cũng được hình thành qua hai giai đoạn
Giai đoạn 1: Đặc điểm tư duy học sinh lớp 1, 2, 3
Tư duy cụ thể vẫn tiếp tục hình thành và phát triển, tư duy trừu tượng bắt đầu được hình thành Tư duy cụ thể được thể hiện rõ ở học sinh lớp 1, 2 nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức mới phải tiến hành các thao tác với vật thực hoặc các hình ảnh trực quan
VD: Khi dạy về phép cộng hoặc phép trừ phải dựa vào việc sử dụng que tính
Tư duy trừu tượng bắt đầu được hình thành bởi vì tri thức các môn học là các tri thức khái quát
VD: Nếu không sử dụng que tính các em phải biết cách cộng hoặc trừ có nhớ hoặc không có nhớ
Tuy nhiên tư duy này phải dựa vào tư duy cụ thể
Trang 7Giai đoạn 2: Đặc điểm học sinh tiểu học lớp 4, 5
Tư duy trìu tượng bắt đầu chiếm ưu thế so với tư duy cụ thể nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức của các môn học bằng cách tiến hành các thao tác tư duy với ngôn ngữ, với các loại ký hiệu quy tắc
VD: Học sinh sử dụng công thức tính diện tích tam giác để tìm công thức tính diện tích hình thang
Các thao tác tư duy đã liên kết với nhau thành 1 chỉnh thể có cấu trúc hoàn chỉnh
Thao tác thuận : a + b = c
Thao tác nghịch: c - b = a, c - a = b
Thao tác đồng nhất : a + 0 = a
Tính kết hợp nhiều thao tác: (a+b) + c = a + (b+c)
Thao tác phân loại không gian, thời gian phát triển mạnh
Đặc điểm khái quát hoá: Học sinh biết dựa vào các dấu hiệu bản chất của đối tượng để khái quát thành khái niệm
Đặc điểm phán đoán suy luận: Học sinh biết chấp nhận giả thiết trung thực Học sinh không chỉ xác lập từ nguyên nhân đến kết quả mà còn xác lập khái niệm từ kết quả đến nguyên nhân
2.2 Đặc điểm nhân cách của học sinh tiểu học
2.2.1 Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học
a Khái niệm nhu cầu nhận thức
Nhu cầu nhận thức là một loại nhu cầu của hoạt động học hướng tới tiếp thu tri thức mới và phương pháp đạt được tri thức đó
Nhu cầu nhận thức bao giờ cũng tồn tại trong đầu học sinh dưới dạng câu hỏi tại sao? Cái đó là cái gì?
b Đặc điểm của nhu cầu nhận thức:
Nhu cầu nhận thức được hình thành và phát triển mạnh ở học sinh Tiểu học
Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học hình thành qua 2 giai đoạn
2.2.2 Năng lực học tập của học sinh
a Khái niệm:
Năng lực học tập của học sinh là tổ hợp các thuộc tính tâm lý của học sinh đáp ứng được yêu cầu của hoạt động học đảm bảo cho hoạt động đó diễn ra có kết quả
Năng lực học tập của học sinh gồm:
+ Biết định hướng nhiệm vụ học, phân tích nhiệm vụ học thành các yếu
tố, mối liên hệ giữa chúng từ đó lập kế hoạch giải quyết
+ Hệ thống kỹ năng, kỹ xảo cơ bản: phẩm chất nhân cách, năng lực quan sát, ghi nhớ, các phẩm chất tư duy: tính độc lập, tính khái quát, linh hoạt
b Đặc điểm năng lực học tập của học sinh tiểu học
Trang 8Nhờ thực hiện hoạt động học mà hình thành ở học sinh những năng lực học tập với cách học và hệ thống kỹ năng học tập cơ bản
Năng lực học tập của học sinh được hình thành qua 3 giai đoạn
+ Giai đoạn hình thành (tiếp thu cách học)
+ Giai đoạn luyện tập (vận dụng tri thức mới, cách học mới)
+ Giai đoạn vận dụng (vận dụng cách học để giải các bài tập trong vốn sống)
Để đánh giá năng lực học tập của học sinh, ta dựa vào các chỉ số sau: + Tốc độ tiến bộ của học sinh trong học tập
+ Chất lượng học tập biểu hiện ở kết quả học tập
+ Xu hướng, năng lực, sự kiên trì
3 Cơ sở thực tiễn.
Toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế Nội dung bài toán được thông qua những câu nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc, có liên quan đến cuộc sống thường sảy ra hàng ngày Cái khó của bài toán có lời văn là phải lược bỏ những yếu tố về lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán, hay nói cách khác là chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán và nêu ra phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số bài toán
a) Đề bài của bài toán có lời văn bao giờ cũng có hai phần:
Phần đã cho hay còn gọi là giả thiết của bài toán
Phần phải tìm hay còn gọi là kết luận của bài toán
Ngoài ra trong đề toán có nêu mối quan hệ giữa phần đã cho và phần phải tìm hay thực chất là các mối quan hệ tương quan phụ thuộc vào giả thiết và kết luận của bài toán
b) Quy trình giải toán có lời văn thường thông qua các bước sau:
- Nghiên cứu kĩ đầu bài: Trước hết cần đọc cẩn thận bài toán, suy nghĩ về
ý nghĩa của bài toán, nội dung bài toán, đặc biệt là chú ý đến câu hỏi của bài toán Chớ vội tính toán khi chưa đọc kĩ đề toán
- Thiết lập mối quan hệ giữa các số đã cho và diễn đat nội dung bài toán bàng ngôn ngữ hoặc tóm tắt điều kiện bài toán, hoặc minh hoạ bằng sơ đồ hình vẽ
- Lập kế hoạch giải toán: Học sinh phải suy nghĩ xem để trả lời câu hỏi của bài toán cần thực hiện phép tính gì? Suy nghĩ xem từ số đã cho và điều kiện của bài toán có thể biết gì? Có thể làm phép tính gì? Phép tính
đó có thể giúp trả lời câu hỏi của bài toán không? Trên các cơ sở đó, suy nghĩ để thiết lập trình tự giải toán
Trang 9- Thực hiện phép tính theo trình tự kế hoạch đã thiết lập để tìm đáp số Mỗi khi thực hiện phép tính cần kiểm tra xem đã tính đúng chưa? Phép tính được thực hiện có dựa trên cơ sở đúng đắn không?
Giải xong bài toán, khi cần thiết, cần thử lại xem đáp số tìm được có trả lời đúng câu hỏi của bài toán, có phù hợp với các điều kiện của bài toán không? Trong một số trường hợp, giáo viên nên khuyến khích học sinh tìm xem có cách giải khác gọn hơn không?
Ví dụ 1: Thùng to có 26 lít dầu, thùng bé có 18 lít dầu Dầu được chứa
vào các chai như nhau, mỗi chai có 0,8 lít Hỏi có tất cả bao nhiêu chai dầu?
Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện bài toán trên bằng cách dùng phương pháp vấn đáp, kết hợp với minh hoạ bằng tóm tắt đề toán
+Phân tích nội dung đề toán: Giáo viên dùng hai câu hỏi: Bài toán cho
biết gì? Bài toán hỏi gì? Để học sinh hiểu nội dung bài:
Thùng to có 26 lít dầu
Thùng bé có 18 lít dầu
Mỗi chai chứa 0,8 lít dầu
Hỏi có tất cả có bao nhiêu chai dầu?
+Tóm tắt bài toán : Theo những câu trả lời của học sinh, giáo viên
hướng dẫn học sinh tóm tắt như sau:
+Thiết lập trình tự giải: Giáo viên đạt câu hỏi “Muốn biết có bao nhiêu
chai dầu, ta phải làm thế nào? ” Học sinh trả lời: “Trước hết ta phải tìm tổng số lít dầu có ở hai thùng, sau đó mới tìm tổng số chai đựng dầu”
Trang 10CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN YÊN LẠC
1 Đặc điểm và tình hình của trường Tiểu học Thị trấn Yên Lạc :
Trường Tiểu học Thị trấn Yên Lạc thành lập từ năm 1922 thuộc Phòng
GD –ĐT Yên Lạc,Huyện Yên Lạc ,tỉnh Vĩnh Phúc Trường đóng trên địa bàn Thị trấn Yên Lạc ,huyện Yên Lạc ,tỉnh Vĩnh Phúc
Trường có 21 lớp (Khối 1 : 5 lớp ; khối 2 : 4 lớp ; khối 3: 5 lớp; khối 4: 4 lớp ; khối 5: 3 lớp ).Với tổng số học sinh là 712 em 100% các lớp học 2 buổi / ngày Chất lượng học sinh giỏi của nhà trường các năm gần đây liên tục được nâng lên
2 Nghiên cứu thực trạng công tác giải toán có lời văn ở trường Tiểu học Thị trấn Yên Lạc.
* Thuận lợi:
Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi hiện nay đã được nhà trường và chính quyền địa phương quan tâm chỉ đạo sát sao đặc biệt là chính quyền địa phương
đã có những phần thưởng có tính khích lệ để động viên giáo viên và học sinh
Bên cạnh đó nhà trường tạo mọi điều kiện cần thiết đảm bảo cho công tác bồi dưỡng đạt hiệu quả như: phòng học, chế độ bồi dưỡng của giáo viên, đồ dùng dạy học và đặc biệt là Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn thường xuyên hội ý, rút kinh nghiệm trong từng giai đoạn bồi dưỡng, Hiệu trưởng trực ti
ếp chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá
Giáo viên bồi dưỡng thường là những giáo viên có năng lực giảng dạy tốt, có uy tín trong học sinh, nhân dân và đồng nghiệp
Đời sống kinh tế của nhân dân được nâng cao, dân trí được phát triển vì vậy nhận thức của phụ huynh học sinh về công tác bồi dưỡng học sinh giỏi
được sáng tỏ Vì vậy việc cho con em tham gia các lớp bồi dưỡng được các phụ huynh hết sức ủng hộ và tạo mọi điều kiện vật chất để con em mình tham gia
Ngay từ các lớp dưới học sinh đã được làm quen với cách giải các dạng toán có lời văn
Nhà trường tổ chức nhiều chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học để giáo viên học tập phương pháp
* Khó khăn:
Về phía phụ huynh học sinh, số lượng phụ huynh có nguyện vọng cho con
em mình đi học bồi dưỡng thêm môn toán còn ít vì cho rằng ở tiểu học kiến thức rất đơn giản
Về phía giáo viên: Kiến thức toán, khả năng tư duy sâu còn hạn chế, kinh nghiệm bồi dưỡng còn ít, không được phân công chuyên trách về vấn đề này
Trang 11Bên cạnh đó có những nguy cơ xem nhẹ, chưa chú trọng đến việc sửa lỗi cho học sinh trong khi trình bày lời giải của những bài toán có lời văn mà chỉ chú ý đến kết quả đúng - sai
Đặc trưng môn học chủ yếu là dựa vào khả năng tìm tòi, sáng tạo và tích lũy kiến thức của cá nhân học sinh
Thời gian dành cho chương trình bồi dưỡng không nhiều chỉ chủ yếu là năm học cuối cấp vì vậy việc nắm khối lượng kiến thức hết sức nặng nề với các
em Bên cạnh đó sự tập trung của các em chưa bền vững, khả năng tập trung chưa cao, nóng vội trong các tình huống cộng với trình độ thấp so với yêu cầu đặt ra của học sinh giỏi tạo ra không ít khó khăn cho công tác bồi dưỡng
Điều kiện kinh tế gia đình của học sinh còn khó khăn, thời gian dành cho việc học tập ở nhà còn ít, việc mua sắm tài liệu tham khảo còn hạn chế dẫn đến chất lượng không cao
Tóm lại: Thực trạng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn toán,
hiện nay tuy có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn Tuy vậy, khó khăn nào cũng có hướng giải quyết, thuận lợi nào đều có thể phát huy những khó khăn đó, đề tài xin đưa ra một số biện pháp giải quyết trong chương 3, phần nội dung
CHƯƠNG III.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢI CÁC BÀI
TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 5
1 Nội dung và các hình thức tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi.
1.1 Nội dung tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi
Dựa vào nội dung chức năng tổ chức trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi gồm các nội dung sau:
Xác định cấu trúc tổ chức hợp lý của đối tượng đó là học sinh giỏi
Xây dựng cấu trúc tổ chức hợp lý : Từ Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, các
tổ chức chuyên môn và giáo viên trực tiếp bồi dưỡng
Tạo ra một mạng lưới các quan hệ tổ chức giữa những người trong hệ quản lý và hệ được quản lý là màng lưới từ Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, các tổ chuyên môn đến giáo viên đứng lớp, giáo viên bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi
Bồi dưỡng giáo viên dạy đội tuyển
Tổ chức bồi dưỡng một cách khoa học nhằm nâng cao hiệu quả học sinh giỏi
1.2 Các hình thức tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi.
Lịch sử phát triển của loài người đã chứng tỏ rằng thế hệ trước muốn truyền lại kiến thức, kinh nghiệm về mọi mặt cho lớp người sau một cách tối ưu thì phải qua các hình thức giáo dục đào tạo thích hợp Vì vậy đối với học sinh
Trang 12giỏi ở bậc tiểu học cần phải có hình thức bồi dưỡng phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của các em, phù hợp với mục tiêu, nội dung, phương pháp ở bậc Tiểu học.
Các hình thức bồi dưỡng học sinh giỏi rất đa dạng phong phú song có thể phân thành ba loại: Bồi dưỡng theo nhóm, bồi dưỡng trong lớp học sinh bình thường và hình thức bồi dưỡng đặc biệt
*Bồi dưỡng theo nhóm:
Người ta phân loại sắp xếp học sinh theo các nhóm đặc biệt có sự tương đồng về năng lực, thành tích, năng khiếu, hứng thú hoặc động cơ Các nhóm học sinh này có sinh hoạt mỗi tuần một hoặc hai buổi
- Ưu điểm:
Hình thức bồi dưỡng này giảm bớt sự khác biệt giữa các cá nhân trong nhóm, cho phép dễ áp dụng thử nghiệm các nội dung học ở mức độ cao hơn Học sinh được phát huy được hết khả năng nhận thức của mình Tạo nhiều cơ hội để kích thích học sinh trao đổi những năng lực, thành tích, hứng thú và phán đoán
Thuận lợi trong việc tìm giáo viên phụ trách
Tính toán nhanh nhẹn, sáng tạo và tư duy linh hoạt của học sinh giỏi có tác dụng kích thích tốt đến chất lượng của học sinh toàn lớp
Học sinh giỏi có nhận thức sâu sắc, sáng tạo hơn học sinh bình thường, nên luôn làm phong phú hơn những tình huống diễn ra trên lớp, tạo không khí học tập và hứng thú dạy học cho thầy và trò
- Nhược điểm:
Giáo viên gặp khó khăn trong việc điều khiển lớp học nhiều trình độ, ở thời điểm này chú ý tới đối tượng học sinh yếu thì học sinh giỏi bị bỏ rơi và ngược lại
Học sinh dễ bằng lòng với kết quả đạt được với những điểm số cao nhưng đánh giá ở mức thấp
* Hình thức bồi dưỡng đặc biệt: