Lý thuyết nhân chủng học với các khái niệm mấu chốt như tổ chức toán học, mối quan hệ thể chế, mối quan hệ cá nhân đối với một đối tượng tri thức để phân tích mối quan hệ thể chế với hai
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
_
Trần Thị Ngọc Diệp
DẠY HỌC MỞ ĐẦU VỀ CHỨNG MINH TRONG
HÌNH HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ - MỘT TIỂU ĐỒ ÁN DIDACTIC VỀ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học môn Toán
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LÊ VĂN TIẾN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2009
Trang 2Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Văn Tiến, người đã tận tình chỉ bảo tôi về mặt nghiên cứu khoa học và hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn: PGS.TS Lê Thị Hoài Châu, TS.Trần Lương Công Khanh và TS Lê Thái Bảo Thiên Trung và các quí thầy cô đã tham gia giảng dạy cho lớp cao học chuyên ngành didactic toán khóa 17; PGS Claude Comiti, PGS Annie Bessot, GS Alain Birebent đã có những ý kiến đóng góp định hướng cho đề tài
Xin chân thành cảm ơn: Ban Giám Hiệu và các đồng nghiệp trong tổ Toán trường THPT chuyên Trần Đại Nghĩa (TPHCM) đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đặc biệt là chồng tôi đã luôn bên cạnh, ủng hộ và động viên tôi trong suốt thời gian qua
Trần Thị Ngọc Diệp
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thống kê cách tiếp cận các khái niệm ở bậc tiểu học 9
Bảng 1.2 Thống kê các cách đưa vào tính chất, quy tắc 18
Bảng 1.3 Thống kê số lượng bài tập thuộc kiểu nhiệm vụ T1 21
Bảng 1.4 Thống kê số lượng bài tập thuộc kiểu nhiệm vụ T2 25
Bảng 1.5 Thống kê số lượng bài tập thuộc kiểu nhiệm vụ T3 29
Bảng 1.6 Thống kê số lượng bài tập thuộc kiểu nhiệm vụ T4 32
Bảng 1.7 Thống kê số lượng bài tập thuộc kiểu nhiệm vụ T5 38
Bảng 1.8 Thống kê các cách tiếp cận khái niệm ở bậc THCS 45
Bảng 1.9 Thống kê số lượng bài tập thuộc kiểu nhiệm vụ T2 53
Bảng 1.10 Thống kê số lượng bài tập thuộc kiểu nhiệm vụ T4 57
Bảng 1.11 Thống kê số lượng bài tập thuộc kiểu nhiệm vụ T5 60
Bảng 1.12 Thống kê số lượng bài tập chứng minh 64
Bảng 1.13 Thống kê số lượng bài tập sử dụng kĩ thuật quan sát-thực nghiệm và kĩ thuật suy luận 64
Bảng 1.14 Đặc trưng của HHGN và HHSD 72
Bảng 2.1 Biến tình huống 79
Bảng 2.2 Thống kê các câu trả lời nhận được trong bài toán 1a 87
Bảng 2.3 Thống kê các câu trả lời nhận được trong bài toán 1b 89
Bảng 2.4 Thống kê các câu trả lời nhận được trong bài toán 2 95
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Những ghi nhận ban đầu và câu hỏi xuất phát
Hình học là một phân môn quan trọng trong chương trình Toán phổ thông
HS bắt đầu làm quen với Hình học ngay từ lớp 1 và được học xuyên suốt đến hết lớp 12
Đã có nhiều nghiên cứu về dạy học Hình học ở phổ thông, nhất là những nghiên cứu theo trường phái Didactic toán của Pháp Ở Việt Nam, chúng tôi đặc biệt quan tâm tới hai nghiên cứu trong phạm vi luận văn thạc sĩ Didactic toán, đó là nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hương (2002) và của Trần Thị Tuyết Dung (2002) với các lí do sau đây:
Dù đã giảng dạy toán ở bậc THCS và THPT, nhưng đây là lần đầu tiên tôi
nghe nói đến các khái niệm «HHGN» và «HHSD», được đề cập trong hai luận văn này
Vậy, HHGN là gì? HHSD là gì? Chỉ có một mô tả khá ngắn gọn và sơ sài từ hai luận văn này, đó là: HHGN là Hình học có được từ quan sát và thực nghiệm; HHSD là Hình học có được từ suy luận và chứng minh
Điều này không làm thỏa mãn trí tò mò và nhu cầu hiểu biết hơn của chúng tôi!
Nghiên cứu của Trần Thị Thanh Hương cho thấy trong chương trình và SGK
bậc THCS những năm 1990 không có sự nối khớp nào giữa hai loại Hình học nêu trên Chương trình đào tạo GV ở các trường CĐSP cũng không tính đến mối quan
hệ và sự nối khớp giữa chúng
Còn nghiên cứu của Trần Thị Tuyết Dung lại chỉ ra rằng: chương trình và SGK mới (2001) đã tính đến hoạt động chuyển tiếp giữa hai Hình học thông qua sự nối khớp thực nghiệm và suy luận Nhưng sự nối khợp này có vị trí rất mờ nhạt Điều này dẫn tới hậu quả là GV phải dùng đến yếu tố quyền lực cá nhân để thuyết phục HS chấp nhận «miễn cưỡng» việc dùng suy luận để khẳng định một mệnh đề (điều mà trước đây các em có quyền làm từ quan sát thực nghiệm, ghi nhận)
Trang 6Như vậy, dạy học mở đầu về chứng minh ở trường THCS không thể không tính đến HHGN đã tồn tại ở bậc tiểu học và có thể đang tồn tại ở cả bậc THCS, cũng như mối quan hệ, sự ngắt quãng giữa chúng
Nhưng, làm thế nào để GV ý thức được mối quan hệ nhân – quả giữa hai cấp
độ Hình học này? Câu hỏi này vẫn chưa được các tác giả của hai luận văn trên giải đáp
Thoạt tiên, những ghi nhận trên gợi cho chúng tôi nhu cầu nghiên cứu thiết
kế một tiểu đồ án didactic đào tạo GV ở các trường CĐSP về dạy học mở đầu chứng minh ở trường THCS, chính xác hơn là ở thời điểm từ bỏ HHGN để bước sang HHSD Để thực hiện tham vọng này, cần thiết phải tiến hành các nghiên cứu sau:
1 Làm rõ đặc trưng của HHGN và HHSD: Thế nào là HHGN? Thế nào là
HHSD? Có những khác biệt cơ bản nào giữa hai Hình học này? Nói cách khác, đâu
là những đặc trưng chuyên biệt của mỗi loại Hình học? Mối quan hệ giữa chúng như thế nào?
2 Nghiên cứu kĩ hơn quan hệ nhân – quả giữa hai Hình học, đặc biệt là trên
đối tượng HS
3 Nghiên cứu quan niệm của giảng viên và sinh viên các trường CĐSP về
chứng minh và dạy học mở đầu về chứng minh, đặc biệt là về HHGN và HHSD
4 Thiết kế và triển khai một tiểu đố án didactic đào tạo GV về dạy học mở
đầu chứng minh
Tuy nhiên, sau một thời gian làm việc, do hạn chế về thời gian và áp lực công việc ở Trường – nơi mà chúng tôi đang công tác, chúng tôi nhận ra rằng nội dung nghiên cứu quá lớn, vượt ra ngoài điều kiện thực tế và khả năng hiện tại của chúng tôi Điều này dẫn chúng tôi tới việc giới hạn mục tiêu và nội dung nghiên cứu luận văn của mình trong phạm vi các mục 1, 2 nêu trên
Trang 72 Phạm vi lý thuyết tham chiếu và trình bày lại câu hỏi nghiên cứu
Chúng tôi đặt nghiên cứu của mình trong phạm vi lý thuyết của Didactic toán Cụ thể, chúng tôi sẽ sử dụng các khái niệm của Lý thuyết nhân chủng học, Lý thuyết tình huống và Hợp đồng didactic
Lý thuyết nhân chủng học với các khái niệm mấu chốt như tổ chức toán học, mối quan hệ thể chế, mối quan hệ cá nhân đối với một đối tượng tri thức để phân tích mối quan hệ thể chế với hai loại Hình học, từ đó tìm ra đặc trưng cơ bản của từng loại
Lý thuyết tình huống với các khái niệm tình huống dạy học, biến didactic, đồ
án didactic để thiết kế tình huống dạy học, phân tích a priori và a posteriori tình huống Ngoài ra, khái niệm Hợp đồng didactic được sử dụng để giải thích các ứng
xử của HS trong tình huống thực nghiệm
Trong phạm vi lí thuyết này và từ các câu hỏi khởi đầu nêu trên, chúng tôi trình bày hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận văn như sau:
Q1 HHGN và HHSD có đặc trưng chuyên biệt nào trong thể chế dạy học
Hình học ở Tiểu học và THCS? Cụ thể hơn, mối quan hệ thể chế với các đối tượng chủ yếu của HHGN và HHSD có những đặc trưng gì? Mối quan hệ giữa chúng như ra sao? Đặc biệt, suy luận và chứng minh có đặc trưng chuyên biệt gì trong mỗi loại Hình học này?
Q2 Thể chế dạy học Hình học ở trường phổ thông đã thực hiện bước
chuyển từ HHGN sang HHSD như thế nào? Thể chế đào tạo GV ở trường CĐSP tính đến bước chuyển này ra sao?
Q3 Mối quan hệ thể chế ảnh hưởng đến mối quan hệ cá nhân HS như thế
nào?
3 Mục đích và phương pháp nghiên cứu
Mục đích của luận văn này là tìm câu trả lời cho các câu hỏi đã đặt ra ở mục
2 Từ đó, chúng tôi xác định phương pháp và nội dung nghiên cứu như sau:
Trang 8- Thiết lập lược đồ cho việc phân tích quan hệ thể chế
- Phân tích chương trình, SGK, SGV bậc Tiểu học và THCS để tìm ra đặc trưng của HHGN và HHSD và mối quan hệ giữa chúng
- Tổng hợp một số kết quả nghiên cứu về dạy học chứng minh ở trường CĐSP để làm rõ quan hệ của thể chế đào tạo GV với một số đối tượng của HHGN
và HHSD
- Triển khai một thực nghiệm kiểm chứng ảnh hưởng của mối quan hệ thể chế lên mối quan hệ cá nhân HS trong phạm vi của dạy học suy luận và chứng minh
4 Tổ chức của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, 2 chương và phần kết luận
Trong phần mở đầu, chúng tôi trình bày lý do chọn đề tài, câu hỏi xuất phát, phạm vi lý thuyết tham chiếu, mục đích và phương pháp nghiên cứu, giới thiệu cấu trúc của luận văn
Trong chương I, chúng tôi trình bày đặc trưng HHGN và HHSD, mối quan
hệ giữa chúng trong thể chế dạy học Hình học ở bậc Tiểu học và THCS và trong thể chế đào tạo GV ở trường CĐSP, đồng thời phân tích đặc trưng của suy luận và chứng minh trong mỗi loại Hình học
Trong chương II, chúng tôi xây dựng và triển khai thực nghiệm nhằm kiểm chứng tính thỏa đáng của giả thuyết nghiên cứu và tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi mới rút ra từ kết quả nghiên cứu trong chương I
Trong phần kết luận, chúng tôi tóm tắt những kết quả đạt được, chỉ ra những lợi ích của đề tài, đồng thời mở rộng hướng nghiên cứu cho luận văn
Trang 9Chương 1: HÌNH HỌC GHI NHẬN VÀ HÌNH HỌC SUY DIỄN
TRONG THỂ CHẾ DẠY HỌC HÌNH HỌC
Ở BẬC TIỂU HỌC VÀ THCS
1.1 Mục tiêu của chương
Mục tiêu của chương này là tổng hợp và phân tích các tài liệu nhằm làm rõ các đặc trưng chủ yếu của HHGN và HHSD Đồng thời tìm ra đặc trưng của suy luận và chứng minh trong hai loại Hình học này
Để đạt được mục tiêu này, chúng tôi chọn phân tích chương trình, SGK, SGV Toán bậc tiểu học và THCS hiện hành và tổng hợp tài liệu [19], [36], [33], [32], [20] nhằm tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi sau đây:
Q1 HHGN và HHSD có đặc trưng chuyên biệt nào trong thể chế dạy học
Hình học ở Tiểu học và THCS? Cụ thể hơn, mối quan hệ thể chế với các đối tượng chủ yếu của HHGN và HHSD có những đặc trưng gì? Mối quan hệ giữa chúng như ra sao? Đặc biệt, suy luận và chứng minh có đặc trưng chuyên biệt gì trong mỗi loại Hình học này?
Q2 Thể chế dạy học Hình học ở trường phổ thông đã thực hiện bước
chuyển từ HHGN sang HHSD như thế nào? Thể chế đào tạo GV ở trường CĐSP tính đến bước chuyển này ra sao?
1.2 Lược đồ phân tích
* Để làm rõ các đặc trưng của HHGN và HHSD, chúng tôi tiến hành phân tích chương trình, SGK, SGV Toán bậc tiểu học và THCS nhằm tìm ra:
- Cách đưa vào các khái niệm
- Cách đưa vào các tính chất, qui tắc, định lí (ở THCS) thuộc phạm vi Hình học
- Đặc trưng của các tổ chức toán học (nhất là kĩ thuật giải)
* Để làm rõ đặc trưng của suy luận và chứng minh trong hai loại Hình học này, chúng tôi tiến hành phân tích:
Trang 10- Cách hợp thức một khẳng định (làm sao đưa ra một khẳng định) Điều này liên quan tới việc đưa vào một tính chất
- Suy luận xuất hiện khi nào và có những đặc trưng gì?
- Chứng minh xuất hiện khi nào và có những đặc trưng gì?
Nghiên cứu việc khẳng định một mệnh đề, chúng tôi dựa vào phân loại các kiểm chứng của Nicolas Balacheff như sau:
- Kiểm chứng kiểu «Chủ nghĩa kinh nghiệm ngây thơ»: khẳng định chân lí
của một phán đoán bằng cách kiểm tra một vài trường hợp cụ thể và không đặt ra vấn đề hợp thức hóa
- Kiểm chứng kiểu «Thí nghiệm quyết đoán»: là qui trình hợp thức hóa một
phán đoán bằng cách đoán nhận một trường hợp được cho là ít riêng biệt nhất Cách làm này về cơ bản vẫn thuộc kinh nghiệm, nhưng khác với chủ nghĩa kinh nghiệm ngây thơ ở chỗ vấn đề khái quát hóa đã thực sự được đặt ra
- Kiểm chứng kiểu «Thí dụ đại diện và thực nghiệm thầm trong óc»: trình
bày rõ ràng những lý lẽ về tính hợp thức của một phán đoán, bằng cách thực hiện những thao tác trên một đối tượng đặc biệt, nhưng lại được chủ thể xem là không
có tính đặc biệt và riêng rẽ, mà đại diện cho cả một lớp cá thể
- Kiểm chứng kiểu «Tính toán trên các thông báo»: không dựa vào kinh
nghiệm, mà đó là những cách xây dựng của trí tuệ dựa trên những khái niệm, định nghĩa, tính chất tường minh
Trong các loại kiểm chứng trên, ở kiểu thứ tư suy luận và chứng minh mới xuất hiện
1.3 Đặc trưng của HHGN và HHSD trong thể chế dạy học Hình học ở bậc tiểu học và THCS
1.3.1 Đặc trưng của HHGN
Tài liệu [32], [20] đã chỉ ra rằng HHGN xuất hiện ở bậc tiểu học Do đó, để tìm đặc trưng của Hình học này, chúng tôi tiến hành phân tích chương trình, SGK, SGV Toán bậc tiểu học
Trang 111.3.1.1 Khái niệm
Theo [33, tr.6], «Hình học bậc tiểu học hình thành cho HS những biểu tượng
về một số hình đơn giản và các đại lượng thông dụng»
Qua phân tích chương trình, SGK, SGV ở bậc tiểu học, chúng tôi nhận thấy
để tiếp cận một khái niệm ở bậc tiểu học có 3 cách sau đây:
Cách tiếp cận thứ nhất: tổng thể thông qua hình vẽ Cách tiếp cận này
được sử dụng chủ yếu ở lớp 1, 2, «dựa trên trực giác HS nhận biết hình một cách
tổng thể» [33, tr.10] HS được làm quen các khái niệm thông qua các hình vẽ, mô
hình, hình ảnh thực tế mà không theo tính chất về các yếu tố cạnh và góc, đồng thời gán cho khái niệm một cái tên
Chẳng hạn: Để giới thiệu hình tam
giác, [21, tr.9] đưa ra một loạt hình tam
giác với độ lớn, màu sắc, hình dạng (tam
giác thường, vuông, đều), vị trí (nghiêng,
thẳng) khác nhau, cùng với những hình
ảnh thực tế có dạng hình tam giác (biển
báo giao thông, thước êke, lá cờ) Từ đó,
HS hình thành biểu tượng hình tam giác
Ngoài ra, SGK còn đưa ra một số hình
ghép từ những hình tam giác (ngôi nhà,
con thuyền, chong chóng, cây thông, con
cá) giúp HS củng cố biểu tượng hình tam
giác, đồng thời «bước đầu nhận ra hình
tam giác từ các vật thật» [22, tr.24]
Cách tiếp cận thứ hai: hình vẽ kèm theo đặc điểm về các yếu tố cạnh và
góc Cách tiếp cận này được sử dụng hầu hết là ở lớp 3, «HS nhận biết các yếu tố
của một hình (góc, cạnh, đỉnh) và đặc điểm của hình thông qua các yếu tố này» [26,
tr.5] Như vậy, khái niệm đã có một bước tiến triển cao hơn: không giới thiệu một
cách tổng thể mà theo các yếu tố cạnh và góc
Trang 12Chẳng hạn: HS làm quen hình chữ nhật từ lớp 2 ([23, tr.23]) theo cách tiếp cận thứ nhất (giống như hình tam giác) nhằm hình thành biểu tượng về hình chữ nhật Đến lớp 3, [25, tr.84] lại đưa ra hình chữ nhật nhưng theo cách tiếp cận thứ
hai Lúc này, mục tiêu không còn là «nhận dạng hình chữ nhật (qua hình dạng tổng
thể, chưa đi vào đặc điểm các yếu tố của hình)» [24, tr.59], mà là «bước đầu có khái niệm về hình chữ nhật (theo yếu tố cạnh và góc), từ đó biết cách nhận dạng hình chữ nhật (theo yếu tố cạnh và góc)» [26], tr.152]
Tại thời điểm gặp gỡ
này, các yếu tố cạnh và góc
của hình chữ nhật được giới
thiệu thông qua một hình chữ
nhật cụ thể ABCD vẽ trên giấy
kẻ ô vuông Từ việc quan sát
hình trên giấy kẻ ô vuông,
cùng với việc «lấy êke kiểm
tra xem 4 góc có vuông
không» và «lấy thước đo chiều
dài 4 cạnh», HS phát hiện ra
đặc điểm của hình chữ nhật
[23, tr.23]
[25, tr.152]
Cách tiếp cận thứ ba: hỗn hợp hai cách trên, nghĩa là vừa giới thiệu tổng
thể thông qua hình vẽ, vừa nêu đặc điểm về các yếu tố cạnh và góc Cách tiếp cận này xuất hiện ở lớp 4 và 5, tại thời điểm gặp gỡ lần đầu tiên của khái niệm
Trang 13hành» Sau đó mới «nhận biết một số đặc điểm của hình bình hành» từ việc quan sát
hình vẽ trên giấy kẻ ô vuông và «đo độ dài các cạnh đối diện» [28, tr.182] Như
vậy, khái niệm hình bình hành đã được tiếp cận theo cách hỗn hợp
Đối với các khái niệm «hình khối» (hình không gian), [31, tr.82] đã viết:
«Thông qua việc quan sát «hình ảnh» các vật thật trong thực tế để hình thành khái niệm «ban đầu» của hình khối» Chẳng hạn:
Từ hình ảnh bao diêm, viên gạch, khái quát thành
hình hộp chữ nhật
Từ hình ảnh con súc sắc, khái quát thành hình lập phương
Sau khi đã có biểu tượng các hình này, HS được hình thành khái niệm thông qua việc nhận biết đặc điểm các yếu tố về đỉnh, cạnh, mặt (mặt đáy, mặt bên) của các hình đó (chẳng hạn: hình hộp chữ nhật có 8 đỉnh, 12 cạnh, 2 mặt đáy và 4 mặt bên; hình lập phương có 8 đỉnh, 12 cạnh, 6 mặt bằng nhau) Ngoài ra, HS còn được giới thiệu về «hình khai triển» của các hình đó, chẳng hạn:
Hình khai triển của hình hộp chữ nhật: Hình khai triển của hình lập phương
Bảng 1.1 Bảng thống kê cách tiếp cận các khái niệm ở bậc tiểu học
Cách tiếp cận STT Khái niệm
thứ nhất thứ hai Thứ ba
Trang 14 Sự tiến triển của các cách tiếp cận
Qua bảng thống kê trên, chúng tôi nhận thấy các cách tiếp cận khái niệm tiến triển theo cấp lớp Cách tiếp cận thứ nhất được sử dụng ở lớp 1 và 2, vì đây là các khái niệm đơn giản, quen thuộc, dễ nhận dạng trong cuộc sống hàng ngày Lên lớp
3, các khái niệm được tiếp cận theo cách thứ hai nhằm bổ sung thêm các yếu tố về cạnh và góc của khái niệm Ở lớp 4 và 5, các khái niệm mới được đưa vào, HS chưa từng có biểu tượng về nó nên tiếp cận theo cách thứ ba
Các khái niệm hình vuông, hình tam giác, hình chữ nhật xuất hiện 2 lần, hình tròn xuất hiện 3 lần ở bậc tiểu học Tại thời điểm gặp gỡ đầu tiên (lớp 1, lớp 2), các khái niệm này được tiếp cận bằng cách thứ nhất (tổng thể thông qua hình vẽ) Đến thời điểm gặp gỡ thứ hai (lớp 3, lớp 5), cách tiếp cận các khái niệm này đã được tiến triển lên một bước là giới thiệu hình vẽ kèm theo các yếu tố về cạnh và góc Theo chúng tôi, đây là cách trình bày hợp lý, phù hợp với HS vì các khái niệm hình vuông, hình tam giác, hình chữ nhật, hình tròn là các hình khá quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày và rất dễ nhận dạng (nhìn hình là có thể nhận dạng được ngay) Do đó, ở các lớp 1 và 2, thể chế mong muốn HS tiếp cận các khái niệm này
Trang 15một cách tổng thể thông qua hình vẽ Lên các lớp trên (lớp 3, lớp 5), HS được tạo điều kiện gặp lại các khái niệm này nhằm tìm hiểu thêm về các yếu tố cạnh và góc Các khái niệm còn lại HS chỉ được gặp gỡ một lần (lớp 4 hoặc lớp 5), hầu hết được tiếp cận theo cách thứ ba Vì là lần gặp gỡ đầu tiên nên các khái niệm này cần được tiếp cận một cách tổng thể thông qua hình vẽ, đồng thời phải có mô tả các yếu tố về cạnh và góc mới có thể nhận dạng một cách chính xác được Chẳng hạn: Nếu không mô tả các yếu tố về cạnh và góc, HS khó có thể phân biệt hình bình hành và hình thoi
Về cách tiếp cận khái niệm ở tiểu học, [33, tr.9] viết: «Ở bậc tiểu học, SGK
không nêu định nghĩa chính xác các khái niệm hình học như ở bậc THCS mà thường chỉ dừng lại ở mức độ mô tả một số đặc điểm quan trọng Chẳng hạn: Khái niệm hình chữ nhật không được định nghĩa như ở lớp 8: «Hình chữ nhật là hình bình hành có các góc bằng nhau», mà chỉ mô tả: «Hình chữ nhật có hai cạnh dài bằng nhau, hai cạnh ngắn bằng nhau và có bốn góc vuông» Đây không được coi
là định nghĩa chính xác của hình chữ nhật vì đặc điểm (tứ giác) «có 4 góc vuông»
đã hiển nhiên «hai cạnh dài bằng nhau, hai cạnh ngắn bằng nhau», do đó đặc điểm này nêu ra là thừa Ngoài ra, cách mô tả này không bao quát hết tập hợp tất cả cách hình chữ nhật, vì đối với hình chữ nhật đặc biệt là hình vuông thì ta không phân biệt được cạnh dài, cạnh ngắn»
Về «mối quan hệ» giữa các hình hình học (Chẳng hạn: Hình vuông có là hình chữ nhật đặc biệt không? Hình lập phương có phải là hình hộp chữ nhật đặc
biệt không? ) [31, tr.95] viết: «Đây là vấn đề còn gây nhiều «tranh cãi» trong dạy
học Toán ở Tiểu học, vì nó gặp phải mâu thuẫn giữa yêu cầu chính xác, khoa học khi cần hiểu đúng về các khái niệm về hình hình học với yêu cầu có tính sư phạm về mức độ nhận thức của HS tiểu học đối với việc lĩnh hội các kiến thức đó Hướng
«giải quyết» là HS chỉ cần nhận dạng các hình hình học ở những dấu hiệu, đặc điểm bản chất nhất và tường minh để phân biệt hình này với hình khác theo đúng tên gọi của nó»
Trang 16Nhận xét
Đặc trưng chủ yếu của cách tiếp cận khái niệm trong HHGN là khái niệm không được định nghĩa mà chỉ được gán thẳng cái tên kèm theo hình vẽ, đặc điểm Các đặc điểm này có thể thừa và không bao quát hết các trường hợp đặc biệt của hình Ngoài ra, tất cả các khái niệm đều được đưa ra thông qua hình vẽ Thuật ngữ
«định nghĩa» chưa được sử dụng Điều đó cho thấy HHGN không được xây dựng chặt chẽ, hệ thống
Với các đại lượng thông dụng, HS cũng hình thành các biểu tượng chủ yếu dựa trên mô hình trực quan, thông qua việc so sánh hoặc qua các ví dụ cụ thể
Độ dài đoạn thẳng [21, tr.96]
Thông qua hai hình vẽ bên
trái (hai cây thước, hai đoạn
thẳng), «HS có biểu tượng về «dài
hơn – ngắn hơn», từ đó có biểu
tượng về độ dài đoạn thẳng thông
Chu vi của một hình được giới
thiệu thông qua hai ví dụ cụ thể: Tính
tổng độ dài các cạnh một hình tam
giác và một hình tứ giác, rồi gán cho
kết quả vừa tìm được cái tên «chu vi»
Từ đó khái quát lên «Tổng độ
dài các cạnh của hình tam giác (hình
Trang 17tứ giác) là chu vi của hình đó» [23, tr.30] Đây được xem như là định nghĩa khái
niệm chu vi của hình tam giác (hình tứ giác), nhưng cũng như khái niệm các hình
ở trên, thuật ngữ «định nghĩa» không xuất hiện
Cách tiếp cận hoàn toàn
tương tự khái niệm diện tích
một hình Khái niệm thể tích
một hình không được định
nghĩa, mà ẩn đằng sau hoạt
động so sánh thể tích các hình
Trang 18Nhận xét
Trong HHGN, tất cả khái niệm đại lượng đều được tiếp cận bằng trực giác,
¾ khái niệm không được định nghĩa mà ẩn đằng sau các hoạt động so sánh, chỉ có duy nhất khái niệm được «chu vi» định nghĩa nhờ khái quát lên từ hai ví dụ minh hoạ (nhưng cũng không dùng thuật ngữ «định nghĩa») Như vậy, HHGN chỉ giúp
HS làm quen và có biểu tượng về các đại lượng này
1.3.1.2 Tính chất, qui tắc
Các tính chất hình học đều được đưa ra dựa trên quan sát và đo đạc một
hình cụ thể, sau đó khái quát lên mà không chứng minh Theo phân loại của Nicolas
Balacheff, đây là kiểu kiểm chứng «Thí nghiệm quyết đoán»
Chẳng hạn: Tính chất «hình chữ nhật có 4 góc vuông, có 2
cạnh dài bằng nhau và 2 cạnh ngắn bằng nhau» ([25, tr.84])
được rút ra nhờ quan sát và đo đạc
Biểu tượng hình chữ nhật đã được hình thành ở lớp 2, lên lớp 3 tính chất hình chữ nhật được phát hiện khi quan sát và đo đạc hình chữ nhật ABCD được vẽ
trên giấy kẻ ô vuông: «Lấy êke kiểm tra 4 góc đỉnh A, B, C, D đều là góc vuông»,
«Lấy thước đo chiều dài 4 cạnh để thấy: 2 cạnh dài có độ dài bằng nhau: AB = CD,
2 cạnh ngắn có độ dài bằng nhau: AD = BC», «Từ đó kết luận: hình chữ nhật có 4 góc vuông, có 2 cạnh dài bằng nhau và 2 cạnh ngắn bằng nhau» [26, tr.152]
Tính chất «hình thang có
một cặp cạnh đối diện song
song» ([29, tr.91]) được nhận ra
nhờ quan sát
Sau khi cho HS hình thành biểu tượng hình thang qua hình vẽ cái thang,
«yêu cầu HS quan sát mô hình lắp ghép và hình vẽ hình thang ABCD trong SGK để
tự phát hiện đặc điểm của hình thang: Hình thang ABCD có hai cạnh AB và DC song song với nhau» Từ đó khái quát lên thành tính chất hình thang «HS tự nêu nhận xét: Hình thang có 2 cạnh đối diện song song với nhau» [30, tr.169]
Trang 19 Các quy tắc tính chu vi một hình được thiết lập bằng cách giới thiệu một
hình với số đo cụ thể, sau đó nêu thành quy tắc tổng quát mà không chứng minh
- Chẳng hạn: Quy tắc tính
chu vi hình chữ nhật được thiết
lập thông qua nhiệm vụ: Tính
chu vi hình chữ nhật ABCD có
chiều dài 4cm, chiều rộng 3cm
Đầu tiên, chu vi hình chữ nhật được tính dựa vào định nghĩa chu vi tứ giác:
hình tròn được thiết lập thông
qua nhiệm vụ: Tính chu vi
hình tròn có bán kính 2cm
Hình tròn không có cạnh nên
không thể tính chu vi như
những hình khác Do đó, trước
tiên [29, tr.97] phải giải thích
chu vi hình tròn thông qua một
thực nghiệm cho hình tròn có
bán kính 2cm lăn một vòng
trên thước «Độ dài của một đường tròn gọi là chu vi của hình tròn đó» Từ đó, tìm
được chu vi của hình tròn bán kính 2cm (đường kính 4cm) trong khoảng 12,5cm
đến 12,6cm Ngoài ra, «Trong toán học, người ta có thể tính chu vi hình tròn có
đường kính 4cm bằng cách nhân đường kính 4cm với số 3,14:
43,14 = 12,56 (cm)»
Từ đó, SGK nêu quy tắc chung: «Muốn tính chu vi của hình tròn, ta lấy đường kính
nhân với số 3,14
Trang 20C = d3,14 (C hu vi hình tròn, d là đường kính hình tròn)
Hoặc:
là c Muốn tính chu vi của hình tròn, ta lấy 2 lần bán kính nhân với số 3,14
C = r23,14 (C là chu vi hình tròn, r là bán kính hình tròn)»
ành quy tắc tổn
Các quy tắc tín ện tích một hình được thiết lập bằng năm cách:
Cách thứ nhất: giới thiệu một hình với số đo cụ thể, sau đó nêu th
g quát mà không chứng minh Cách này chỉ được sử dụng ở lớp 3, dùng để tính diện tích hình chữ nhật và hình vuông thông qua số ô vuông
ứ ng quy tắc Cách này được sử dụng duy nhất một lần ở
[29, tr.99]) khi tính diện tích hình tròn: «Muốn tính diện tích của hình tròn, ta
lấy bán kính nhân với bán kính rồi nhân với số 3,14
S = rr3,14 (S là diện tích hình
Trang 21nhất, thông qua nhiệm vụ tính thể tích hình hộp chữ nhật có chiều dài 20cm, chiều rộng 16cm và chiều cao 10cm ([29, tr.120])
tắc tính diện tích hình vuông, [26, tr.24] lưu ý «Chưa sử dụng coi hình vuông là
hình chữ nhật đặc biệt để đưa quy tắc tính diện tích hình vuông» Cách này chỉ xuất
hiện duy nhất 1 lần ở lớp 5, «nhận biết hình lập phương là hình hộp chữ nhật đặc
biệt để rút ra được quy tắc tính diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của hình lập phương từ quy tắc tính diện tích xung quanh và diện tích toàn phần của hình hộp chữ nhật» [30, tr.189]:
«Các mặt của hình lập ph
uanh của hình lập phương bằng diện tích một mặt nhân với 4 Diện tích toàn phần của hình lập phương bằng diện tích một mặt nhân với 6» [29, tr.111]
Quy tắc tính thể tích một hình
Ở bậc tiểu học, SGK chỉ giới thi
p phương và được thiết lập tương tự các quy tắc tính diện tích Cụ thể:
Quy tắc tính thể tích hình hộp chữ nhật được thiết lập theo cách thứ
Trang 22Quy tắc tính thể tích hình lập phương được thiết lập theo cách thứ năm: «HS
tự tìm ra được cách tính và công thức tính thể tích của hình lập phương như là một trường hợp đặc biệt của hình chữ nhật» [30, tr.198]
Bảng 1.2 Bảng thống kê các cách đưa vào tính chất, quy tắc
sát và đo đạc hình cụ thể
ắt ghép
và quan sát
Suy luận
Công nhận Tính chất 4 / 10 6 / 10
5 / 24 6 / 24 6 / 24 4 / 24 2 / 24 1 / 24 Tổng
nhận thấy có một số chức toán học chính như sau:
t
HGN, tí chất v quy tắ c đưa và ầu hết l dựa trên
huộc, rồi sa
ại của Nicolas Balacheff, các tính chất và quy tắc này được kiểm chứng theo
kiểu «Thí nghiệm quyết đoán» và «Thí dụ đại diện và thực nghiệm thầm trong óc» Thể chế mong muốn HS tiếp cận theo cách này là vì «muốn giữ tính ổn định,
kế thừa những nội dung đã học, giúp HS dễ dàng tiếp thu» [31, tr.86]
Cũng như khi đưa vào một khái niệm, thuật ngữ «định nghĩa» không xuất hiện, thì khi đưa vào một tính chất, quy tắc, cũng không có một đề mục nào Điều này cho thấy HHGN không được xây dựng chặt chẽ, hệ thống
Trang 23T1 xuất hiện tương đối ít (12 lần) nhưng xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 5 Để giải quyết T1, có những kỹ thuật sau:
ọi được tên, nhưng chưa cần biết tính c
ng nghệ θ1.1: biểu tượng tổng thể của hình mà HS
[23, tr.85], bài tập 1 SGV hướng dẫn mục tiêu bài này là «củng
ài, GV cho yêu cầu
giác; b)
cố về nhận dạng và nêu tên gọi các hình»
[24, tr.145], «Khi chữa b
HS trả lời, chẳng hạn: a) Hình tam Hình tứ giác; c) Hình tứ giác; d) Hình vuông; e) Hình chữ nhật; f) Hình vuông (đây là hình vuông đặt lệch đi)» [24, tr.146]
Do đó, chúng tôi dự đoán bài tập này chỉ yêu cầu HS gọi đúng tên hình mà không cần
giải thích gì thêm
Kỹ thuật 1.2 được sử dụng ở l
để nhận dạng hCông nghệ 1.2: khái niệm hình
Ví dụ:
ớp 3, 4, 5 (7 lần) Ở các lớp này, HS phải sử ình
[26, tr.152]
Trang 24[27, tr.102], bài tập 1 [28] không trình bày cách HS nhận
dạng hình bình hành Tuy nhiên, dựa vào khái niệm hình bình hành kèm theo các tính chất của nó, chúng tôi dự đoán HS sẽ nhận dạng trước hết bằng trực giác, sau đó dùng thước thẳng có vạch chia để kiểm tra các cặp cạnh đối diện bằng nhau
Lưu ý: Qua hai ví dụ trên, chúng tôi nh
nhận dạng hình trước hết bằng quan sát, nh
để kiểm tra lại Điều này thể hiện việc nhậ
được thể chế công nhận, muốn khẳng định ph
lớp 3, các hình được vẽ trên giấy kẻ ô vuông và HS c để kiểm tra các tính ch
ận thấy đối với kỹ thuật 1.2, việc ưng sau đó HS phải dùng thước và êke
n dạng hình bằng quan sát không còn
ải kiểm chứng bằng dụng cụ đo Riêng
ó thể quan sát
ất của hình Tuy nhiên, khi giải quyết các nhiệm vụ này, thể chế vẫn yêu cầu
HS phải dùng dụng cụ để kiểm tra lại Sở dĩ như vậy, theo chúng tôi, là để rèn luyện cho HS thói quen nhận dạng hình bằng dụng cụ (các bài tập ở lớp 4, 5 các hình đều
vẽ trên giấy trắng không kẻ ô vuông), đồng thời luyện tập kỹ năng sử dụng dụng cụ
đo (lớp 3 vừa học về êke)
Kỹ thuật 1.3 được sử dụng duy nhất 1 lần ở lớp 5, ngoài việc nắm các tính chất của hình, HS còn phải có khả năng tưởng tượng không gian
Công nghệ θ1.2: khái niệm hình kèm theo các tính chất của nó
Ví dụ: [29, tr.112], bài tập 2 Dựa vào hướng dẫn của [30, tr.190]:
«Củng cố biểu tượng về hình lập phương
vào biểu tượng hình khai triển của hình lập phương ([29, tr.108]) để trả lời là
Trang 25gấp được, các hình còn lại có thể HS sẽ gấp thử trong óc hoặc cắt giấy và gấp
thật xem có được hay không
hiệm vụ thuộc T1 luôn có hình vẽ đi kèm, chủ yếu xuất hiện ở lớp 3, 4, 5
ợp tất cả các kỹ thuật đều dựa trên quan sát, đo đạc, gấp giấy Từ
đó dẫn chúng tôi đến kết luận đối với kiểu nhiệm vụ T1, thể chế chỉ yêu cầu HS giải
quyết dựa trên quan sát và các hoạt động thực nghiệm mà chưa cần suy luận chứng
minh
Tổ chức toán học OM2:
Kiểu nhiệm vụ T2: «Tính giá trị đại lượng», bao gồm các kiểu nhiệm vụ
khác nhau sau đây:
T2.1: Tính độ dài đoạn thẳng
T2.2: Tính chu vi của một hình
Trang 26T2.3: Tính diện tích của một hình
1 là kiểu nhiệm vụ con của T2.2, T2.3, T2.4
ất hiện xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 5, được iải quyết
V [21, tr.120], bài tập 4 Để giải quyết bài tập này, HS dùng
đo và viết số đo
đoạn
h hợp»
thước có vạch chia đểtừng đoạn thẳng
«GV hướng dẫn HS tự đo độ dài thẳng và viết số đo vào chỗ thíc
[22, tr.144]
nhiệm vụ tính độ dài đoạn thẳng khi chỉ bi
Công nghệ 2.2: quy tắc, công thứ ện tích, thể tích của một hình
cùng c
cần tính chu vi hình chữ nhật (vì chu vi hình vuông bằng
ậ
Trang 2760m, chiều rộng 40m
Tính độ dài cạnh hình
vuông»
(60 + 40) 2 = 200 (m) Cạnh hình vuông là:
200: 4 = 50 (m) Đáp số: 50m»
2.3 Đếm số ô vuông iện tích của một hình
2.4 Tìm độ dài các ng các quy tắc, công thức tính chu vi,
Kỹ thuật 2.3 chỉ được sử dụng ở lớp3 (2 lần), nhằm giúp HS củng cố biểu tượng diện
2.5 Thiết lập công thức tính chu vi, diện tích, thể tích của một hình bằng chữ, rồi thế số trong các trường hợp cụ thể
ưng diện tích bằng nhau)»
như sau:
«Yêu cầu HS đếm s diện tích các hình A, B, C, D (trong SGK)
Diện tích hình Diện tích hình B là 10cm 2 ; Diện
Diện tích hình D là 8cm 2 (Có thể thấy hình A và D tuy có hình dạng khác nhau nh
Trang 28Kỹ thuật 2.4 chiếm ưu thế (xuất hiện dài các cạnh có thể tìm theo kỹ thuật 2.1, 2.2 (ki g cũng có thể độ dài các cạnh được cho sẵn
Công nghệ 2.4: biểu tượng, kh
tính chu vi, diện tích, thể tích
Ví dụ:
159 lần) từ lớp 2 đến lớp 5 Độ
ểu nhiệm vụ con T2.1), nhưn
ái niệm của các hình và quy tắc, công thức
Kiểu nhiệm vụ như trên (cho sẵn độ dài các cạnh, không kèm theo hình vẽ) xuất hi
nh Nhưng bắt đầu từ lớp 3 và nhiều nhất là lớp 5, kỹ riển mới khi các
thuật 2.4 phải thêm một b ó thành những hình đã có
Trang 29Qua đó, thể chế mong
bước chuyển chu
m
ẩn bị cho HS tổng quát (xây dựng quy tắc v g cho mọi trường hợp cụ thể), không như
cho từng bài) Đến lớp 5, các qu đ c o công thức, do đó
kỹ thuật này không còn dụng
Ví dụ:
uốn củng cố biểu tượng và các quy tắc tính, làm tiếp cận HHSD Ở đây, HS làm việc trên một hình
à áp dụn mỗi bài riêng biệt, theo hình vẽ hoặ
y tắc tính ượ phát biểu kèm the
nhưng theo quy tắc tính chu vi tam giác đã được học, chúng tôi dự đoán
HS dễ dàng giải quyết bài tập này
Bảng 1.4 Bảng thống kê số lượng bài tập thuộc kiểu nhiệm vụ T2
Nhận xét
2.1 là kiểu nhiệm vụ quan trọng, cho phép giải quyế rất nhiều kiểu nhiệm
v tạp hơn sau này (Tính giá trị đại lượng chu vi, diệ h, thể tích a một hình và so sánh giữ ác hình ) thuật để gi quyết T2.1 ợc tiến triển từ 2.1 (lớp 1, 2, 3) lên 2.2 (lớp 3, 4, 5) cho thấy ngoài việc củng cố kỹ năng sử dụng dụng
Trang 30c hể chế còn c đầu yê ầu HS suy luận (tuy không nhiều), làm bước
c chuẩn bị cho HS tiếp c HHSD ở cấ THCS
T2.3, T xuất hiện xuyên suốt từ p 2 đến lớ ới mức độ u cầu
ủa các hình quen thuộc đến việc phải thiết lập công thức tính trong trường hợp
ng q h những hình không có quy tắc tính Sự xuất hiện chiếm ưu thế (84,57
dần: từ vi p dụng y tắc để h chu vi, di h, thể tc
tổ uát hoặc tín
%) của kỹ thuật 2.4 cho thấy đối với kiểu nhiệm vụ T2, thể chế mong muốn củng cố biểu tượng và quy tắc, công thức tính chu vi, diện tích, thể tích của các hình
Tổ chức toán học OM3:
Kiểu nhiệm vụ T3: «Tạo ra một hình hình học»
T3 xuất hiện chiếm ưu thế, xuyên suốt từ chương trình tiểu học, bao gồm các kiểu nhiệm vụ khác nhau sau đây:
T3.1 Vẽ theo mẫu
T3.2 Vẽ thêm từ một số yếu tố cho trước
T3.3 Vẽ theo số đo cho trước (độ dài và góc vuông)
T3.4 Gấp giấy
Kiểu nhiệm vụ T3.1 xuất hiện từ lớp 2 đến lớp 5 (chủ yếu là lớp 2)
Kỹ thuật 3.1: quan sát và vẽ lại theo mẫu
«HS tự chấm các điểm vào vở theo mẫu
ước nối 4 điểm nên cho HS nhận dạng hình mới vẽ được (hình vuông đặt
trong SGK rồi dùng bút và th
để có hình như SGK GV lệch)»
Trang 31Như vậy, qua việc vẽ hình, HS được củng
cố thêm về biểu tượng hình vuông
Như vậy, dựa vào hình vuông bên trong, HS
có thể phát hiện ra tính chất: Ha chéo của hình vuô
và bằng nhau; dựa vào 2 hình vuông lồng nhau, HS có thể phát hiện tính chất: Các trung điểm của các cạnh một hìn
là các đỉnh của một hình vuông khác
Kiểu nhiệm vụ T3.2 xuất hiện x
trước ở đây có thể là một vài điểm, m
hoàn chỉnh
Kỹ thuật 3.2: quan sát, đo đạc
dụng kỹ thuật 3.2 giúp HS củng cố b
các dụng cụ để vẽ Tuy nhiên, 3.2 k
mới vẽ, phải nắm tính chất của các hìn
Công nghệ 3.2: biểu tượng, kh
Phân tích hệ thống bài tập, ch
HS nối những điểm cho trước để được hình (số lượng điểm vừa đủ) Từ lớp 2 trở đi,
uyên suốt từ lớp 1 đến lớp 5 Các yếu tố cho
ột vài cạnh, và yêu cầu HS vẽ để được hình
và sử dụng dụng cụ để vẽ Cũng như 3.1, sử iểu tượng về các hình và thực hành sử dụng
hó hơn ở chỗ HS phải tự hình dung hình rồi
h để vẽ chính xác
ái niệm, tính chất của các hình
úng tôi nhận thấy mức độ yêu cầu tăng dần
ng kỹ thuật 3.2 Ở lớp 1, thể chế chỉ yêu
Trang 32số lượng điểm cho trước nhiều hơn số lượng điểm cần dùng, hoặc phải tự xác định những điểm còn lại để nối
Ví dụ: [29, tr.92], bài tập 3 [30, tr.169] không nêu rõ cách làm
hực hiện thao tác vẽ trên
a vào biểu
ngang
của HS mà chỉ trình bày «Thông qua
việc vẽ hình nhằm rèn luyện kỹ năng nhận dạng hình thang Mức độ: Chi yêu cầu HS t
giấy kẻ ô vuông» Dự
tượng hình thang đã được học cùng với giấy vẽ là giấy kẻ ô vuông, chúng tôi dự đoán HS sẽ dễ dàng vẽ được hình thang với 2 cạnh đáy nằm
Kiểu nhiệm vụ T3.3 xuất hiện xuyên su
Kỹ thuật 3.3: Tìm số đo (độ dài và g
hình, rồi dùng dụng cụ để vẽ
Công nghệ 3.3: biểu tượng, khái niệ
chu vi, diện tích, thể tích của các hình
Cũng như T3.2, đối với kiểu nhiệm v
cũng tăng dần theo cấp lớp, do đó có sự tiến
1, 2 thể chế chỉ yêu cầu HS vẽ đoạn thẳng b
vuông bằng êke và vẽ đường tròn biết trước t
2 kỹ năng trên để vẽ hình chữ nhật (biết trư
vuông (biết trước độ dài cạnh) Lên lớp 5, m êu cầu cao nhất, các hình thể
qua mối liên hệ giữa cá
Trang 33Nhận xét được:
12 = 62 = 26 = 121 = 112 Vậy có thể vẽ hình chữ nhật MNPQ
có chiều dài 6cm, chiều rộng 2cm hoặc có chiều dài 12cm, chiều rộng 1cm Lúc này, hình chữ nhật MNPQ
có diện tích bằng diện tích của hình chữ nhật ABCD nhưng có các kích thước khác với các kích thước của hình chữ nhật ABCD»
Kiểu nhiệm vụ T3.4 xuất hiện rất ít (4 l , 5
Kỹ thuật 3.4: gấp giấy từng bước theo
không gian (hình mẫu là hình không gian 3
iấy)
Ví dụ:
ần) ở các lớp 3, 4 mẫu cho trước
S, đồng thời rèn luyện trí tưởn tượ chiều, được vẽ trên mặt phẳng là tờ g
[25, tr.43], bài tập 2 Các bước gấp đã được thể hiện trên
hình vẽ, [26, tr.83] chỉ lưu ý thêm về
bài tập này: «Có tính chất thực hành
Các em có thể lấy góc vuông này thay êke để kiểm tra, nhận biết góc vuông (trong trường hợp không có hoặc quên êke ở nhà)».
Bảng 1.5 Bảng thống kê số lượng bài tập thuộc kiểu nhiệm vụ T3
Trang 34Lớp 4 1 8 6 1
16 31 24 4 Tổng cộng
Theo bảng thố ên, mỗi kỹ t đều xuất x ện xuyên su c lớp
tỏ không có sự ti n triển giữa kỹ thuật, mà chỉ có ến triển trong từng kỹ
o mức độ yêu c ủa thể chế tă ần Ngoài ra ôi nhận t y kiểu
vụ T3 xuất hiện 75 lần, và 94,66% số hình hình h được tạo ra t iệc vẽ
ước thẳng, êke, c đo độ, compa Điều đó cho t y HH ở bậc tiể ọc rất
ng đến việc rèn luyện kỹ năng sử ụng dụng cụ đ vẽ hình Đây là bước
ải qu các kiểu nhiệ phức tạp hơ ậc THCS
nhiệm vụ khác nhau sau đây:
T4.1 So sánh độ dài hai đoạn thẳng
T4.2 So sánh chu vi hai hình
T4.3 So sánh diện tích hai hình
T4.4 So sánh thể tích hai hình
Để giải quyết T4 có một kỹ thuật chung là 4.1: Tính giá trị từng đại lượng
(kiểu nhiệm vụ T2) rồi so sánh
Công nghệ 4.1: Các tính chất, quy tắc và công thức tính chu vi, diện tích
«Yêu cầu HS tính chu vi mỗi hình chữ nhật
à MNPQ (theo kích thước đã biết)
i so sánh số đo chu vi của hai hình đó,
, bài tập 3
«So sánh chu vi hai hình ch
[26, tr.157] đã hướng dẫn giải như sau:
rồ
Trang 35chẳng hạn:
u vi hình chữ nhật ABCD là:
Ch
2 = 188 (m) (63 + 31)
Chu vi hình chữ nhật MNPQ là:
(54 + 40)2 = 188(m) Vậy chu vi hai hình chữ nhật bằng nhau»
1, diện tích của mộ Công nghệ 4.2: biểu tượng về
«Câu nào đúng, câu nào sai?
Diện tích hình tam giác
ABC lớn hơn diện tích hình tứ
Để giải quy t kiểu nhiệm vụ T4.3 và T4.4 còn có thêm kỹ thuật ế 4.3: Đếm
t (11 ô vuông) nhiều nên diện tích hình P
Trang 36Riêng đối với kiểu nhiệm vụ T4.3, chúng tôi còn tìm thấy kỹ thuật 4.4: Cắt
HS rất ít khi sử dụng kỹ thuật này
, tính chất của hình và biểu tượng diện tích
«GV yêu cầu HS quan sát hình vuông
và hình chữ nhật (hình dạng và kích thước) để phát hiện mối quan hệ diện
n
- Tính diện tích hai hình rồi so sánh
iều dài để
có ộng 5cm rồi
tích giữa 2 hình theo các hướ g:
được 2 hình chữ nhật bằng nhau chiểu dài 10cm, chiều r
ghép lại thành hình vuông; hoặc cắt đôi hình vuông thành 2 hình chữ nhật bằng nhau rồi ghép lại thành hình chữ nhật)»
Trang 37Lớp 5 1 1 11 1 1 2
8/10 2/10 5/5 18/26 1/26 4/26 3/26 1/3 2/3 Tổng
ộng 80% 20% 100% 69,23% 3,85% 15,38% 11,54% 33,33% 66,67%c
ỹ th t 1 áp đảo o thấy là k thuật mà thể ế mon ốn Tuy
n ỹ th đượ iến tri heo c p lớp Chẳng h n đến l 5, so h
ác hìn hông kích hước, H phả nh diệ ích từ hình cạn
ng ch và so nh hai biểu thức chữ Như vậy, thể chế đòi hỏi HS phải n
Vậy diện tích toàn phần của hình M gấp 9 lần diện tích toàn phần của hình N»
Trong HHGN, T4 xuất hiện nhằm củng
diện tích, thể tích của các hình Tổng kết kỹ th
cố biểu tượng và quy tắc tính chu vi, uật giải đều dựa trên đo đạc, tính toán
Trang 38trên các số đo cụ thể, quan sát, đếm, cắt ghé /44 bài phải tính toán bằng chữ (hình không cho kích thướ
p hình, chỉ có duy nhất 1c)
Tổ chức toán học OM5:
Kiểu nhiệm vụ T5: «Khẳng định tính
Phân tích chương trình, SGK tiểu học,
học chủ yếu là những khái niệm mới, ít đề cậ chất của các hình (từ lớp 3,
«Kéo dài hai cạnh AB và DC của hình chữ nhật ABCD, ta
Trang 39đưa vào tính chất hình chữ nhật:
«Lấy êke để kiểm tra 4 góc là góc vuông Lấy thước đo độ dài 4 cạnh để thấy: 2 cạnh dài
là AB CD , 2 cạnh ngắn
AD BC
Từ đó kết luận: Hình chữ nhật
có 4 góc vuông, có 2 cạnh dài bằng nhau, 2 cạnh ngắn bằng nhau»
Kỹ thuật 5.2 được sử dụng 5 lần từ lớp 3
khẳng định chủ yếu là tính chất các đường chéo củ
định cũng chỉ được nhận xét thông qua yêu cầu bài ứ kh
«Hãy vẽ hình vuông ABCD có
cạnh 5cm, rồi kiểm tra xem hai
đường chéo AC và BD:
[28, tr.106] hướ
«Trước hết, H 5cm (theo cách rong SGK) Sau đó:
- Dùng êke để kiểm tra thấy hai đường chéo
ng dẫn:
S vẽ hình vuông ABCD cạnh
vẽ như t
Trang 40a Có vuông góc với nhau hay
không;
b Có bằng nhau hay không»
AC và BD vuông góc với nhau
- Dùng thước đo để kiểm tra thấy hai đường chéo AC và BD bằng nhau»
Kỹ thuật 5.3 được sử dụng 4 lần ở các lớp 4, 5 Thông qua việc cắt ghép
thiết lập được quy tắc tính diện những hình mới thành hình quen thuộc (đã học), HS
giấy, HS củng tính chất của hình
mục 1.3.1.2) lần ở lớp 4 Thông qua việc gấp
«Gấp tờ giấy hình thoi (theo hình vẽ) để kiểm tra các đặc
điểm sau của hình thoi:
Kỹ thuật 5.5 được sử dụng 2 lần ở lớp 3 Thông qua
biểu tượng, khái niệm và các tính ch
theo giác tạo thành do nối các tru
[26, tr.155] đã lưu ý khi giải qu
thời gian, GV có thể
hình vuông cũng là một hình vuông (kiểm tra lại bằng êke để có 4 góc vuông và đo độ dài thấy 4 cạnh bằng nhau)»
yết bài tập này:
cho HS biết hình tứ
g điểm các cạnh c mẫu»