Tiểu luận môn Đầu tư tài chính ĐA DẠNG HÓA VÀ PHÂN BỔ TÀI SẢN RỦI RO “Khi đầu tư chứng khoán, làm sao để có được lợi nhuận nhưng đồng thời giảm vẫn giảm rủi ro xuống một mức có thể chấp nhận được”. Có nhiều cách khác nhau chẳng hạn như đầu tư vào các công ty có chỉ số tài chính tốt, báo cáo thường niên dự báo một tương lai phát triển đầy triển vọng hay đơn giản chỉ là đầu tư vào những công ty có uy tín trên thị trường…
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
“Khi đầu tư chứng khoán, làm sao để có được lợi nhuận nhưng đồng thời giảm vẫn
giảm rủi ro xuống một mức có thể chấp nhận được” Có nhiều cách khác nhau chẳng
hạn như đầu tư vào các công ty có chỉ số tài chính tốt, báo cáo thường niên dự báo mộttương lai phát triển đầy triển vọng hay đơn giản chỉ là đầu tư vào những công ty có uytín trên thị trường…Nhưng tất cả các điều đó không thể đảm bảo được rằng công ty màmình mua cổ phiếu không bị phá sản hay báo cáo tài chính được lập với những mánhkhóe kế toán
Làm thế nào để các nhà đầu tư tránh được vấn đề này?Lời khuyên của Don
Cervantes tránh “bỏ tất cả trứng vào cùng một rổ” đã trở thành một triết lý phổ biến
trong đầu tư mà dường như vẫn còn khá đứng vững qua thử thách của thời gian.Mặc dùvậy, tầm quan trọng của đa dạng hóa không phải luôn luôn được hiểu đúng Đa dạnghóa là quan trọng bởi vì các danh mục với nhiều đối tượng đầu tư thường tạo ra một tỷsuất sinh lợi tổng hợp nhất quán và ổn định hơn so với các danh mục chỉ bao gồm mộtđối tượng đầu tư Khi bạn nắm giữ nhiều cổ phần, ngay cả khi một số cổ phần trong đógiảm giá thì những cổ phần khác vẫn có thể tăng giá (hoặc giữ cùng mức giá)
Vậy hiệp phương sai và tương quan ảnh hưởng như thế nào đến đa dạng hóa trongviệc làm giảm rủi ro của danh mục đầu tư?Làm thế nào để có thể xây dựng được danhmục đầu tư hiệu quả?Để trả lời được những câu hỏi trên, đó là lý do nhóm em chọn đề
tài “Đa dạng hóa và phân bổ tài sản rủi ro”.
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: RỦI RO VÀ TỶ SUẤT SINH LỢI
1.1 Tỷ suất sinh lợi
Một biện pháp quan trọng để đo lường thành công của nhà đầu tư là tỷ lệ tăngtrưởng của quỹ trong giai đoạn đầu tư Tỷ suất sinh lợi nắm giữ trong từng thời kỳ(HPR) của một chứng khoán phụ thuộc vào sự tăng (hoặc giảm) giá của chứng khoántrong giai đoạn đầu tư cũng như tất cả dòng thu nhập từ chứng khoán đó (cổ tức của cổphiếu hoặc lãi nhận được từ các chứng khoán nợ) Tỉ lệ tỷ suất sinh lợi được xác địnhbằng số đô la kiếm được trong giai đoạn đầu tư (sự tăng giá hay cổ tức) cho mỗi đô lađầu tư
Định nghĩa này của HPR giả định rằng cổ tức được trả vào cuối kỳ Đối với cổ tứcđược nhận trước cuối kỳ, định nghĩa này bỏ qua thu nhập của việc tái đầu tư cổ tứcđược nhận
Định nghĩa này của tỷ suất sinh lợi thay đổi cho những loại đầu tư khác.Ví dụ, HPRtrên một trái phiếu sẽ được tính bằng cách sử dụng cùng một công thức, ngoại trừ việcthanh toán lãi suất hoặc coupon của trái phiếu sẽ thay thế cổ tức của cổ phiếu
Ví dụ 1.1: Giả sử bạn đang xem xét đầu tư một số tiền của bạn, hiện tại tất cả được
đầu tư vào trong một tài khoản ngân hàng, trong quỹ đầu tư thị trường chứngkhoán.Giá của một cổ phần trong quỹ hiện nay là $ 100, thời gian đầu tư của bạn làmột năm Bạn mong đợi cổ tức bằng tiền trong năm là 4$, do đó tỷ suất cổ tức mongđợi dự kiến của bạn là 4% HPR của bạn sẽ phụ thuộc vào giá một năm sau kể từ bây
Trang 3đó vốn của bạn tăng được 10 $, vì vậy tỷ suất tỷ suất sinh lợi đầu tư của bạn là $ 10 / $100= 0.10, hay 10% Tổng tỷ lệ tỷ suất sinh lợi nắm giữ trong kỳ là tổng của tỷ suất cổtức cộng với tỷ suất tỷ suất sinh lợi đầu tư 10% + 4% =14%.
HPR= $110−$100+$4 $100 = 0.14 hoặc 14%
1.1.1 Đo lường tỷ suất sinh lợi đầu tư trong nhiều giai đoạn
Tỷ suất sinh lợi nắm giữ trong kỳlà một phương pháp đơn giản và rõ ràng để đolường tỷ suất sinh lợi của một khoản đầu tư trong một thời kỳ, nhưng thường bạn sẽquan tâm tỷ suất sinh lợi trung bình trong thời gian dài Ví dụ, làm sao bạn có thể muốn
đo lường một quỹ tương hỗ đã đạt tỷ suất sinh lợi như thế nào trong 5 năm?
Ta xem xét ví dụ sau, một quỹ đầu tư bắt từ vào đầu năm với số vốn là1.000.000$ Quỹ nhận được thêm đầu tư từ cổ đông mới và hiện có, và cũng nhận đượcyêu cầu rút vốn từ cổ đông hiện hữu.Dòng tiền ròng của nó có thể dương hay âm Giả
sử kết quả hàng quý của nó như được đưa ra trong Bảng 5.1 với các số âm được ghitrong ngoặc đơn
Khi công ty hoạt động tốt (ví dụ, HPR tốt), nó thu hút nguồn vốn mới, nếu không
nó có thể bị rút vốn Ví dụ, trong quý đầu tiên tỷ suất sinh lợi là 10%: vậy lợi nhuận là:0,10 x $ 1.000.000 = $ 100.000, ngoài ra nó có khoản đầu tư mới 100.000 USD, do đótổng tài sản cuối quý là $ 1,2 triệu HPR tốt hơn trong quý thứ hai tạo ra một dòng tiềnvào lớn hơn, và cuối quý II tổng tài sản là 2.000.000 $.Tuy nhiên, HPR trong quý thứ
ba là âm, và dòng tiền vào là âm
Trang 4Ta có một số biện pháp đánh giá hoạt động, mỗi phương pháp đều có ưu điểm vàkhuyết điểm riêng của mình Có những phương pháp như: trung bình cộng (Arithmeticaverage), trung bình nhân (Geometric average), và tỷ suất sinh lợi gia quyền (dollar-weighted return) Những biện pháp này khác nhau đáng kể, vì vậy chúng ta cần phảihiểu sự khác biệt của chúng.
- Trung bình cộng: Trung bình cộng của tỷ suất sinh lợi hàng quý là tổng của
tỷ suất sinh lợi hàng quý chia cho số quý, trong ví dụ trên : (10 + 25 - 20 + 25) / 4 =10%.Vì vậy cách tính này bỏ qua lãi kép, nó không đại diện cho một tỷ suất sinh lợitương đương của mỗi quý trong năm.Trung bình cộng (Arithmetic average) khá hữuích, vì nó là dự báo tốt nhất về hoạt động trong quý sau, sử dụng mẫu đặc biệt của tỷsuất sinh lợi trong quá khứ (việc mẫu đủ lớn hay đủ mang tính đại diện để làm cho dựbáo chính xác hay không, tất nhiên, một câu hỏi khác)
- Trung bình nhân (geometric average): trung bình nhân (geometric average)
của tỷ suất sinh lợi hàng quý bằng tỷ suất sinh lợi mỗi quý với hệ số lũy tiến của tỷ suấtsinh lợi thực tế Chúng ta tính trung bình nhân (geometric average) bằng cách ghép tỷsuất sinh lợi thực của các quý sau đó tìm các tỷ suất sinh lợi tương đương của mỗi qúy.Trong trường hợp này,tỷ suất sinh lợi hàng quý theo trung bình nhân, rG, được xác địnhbởi :
(1+0.10)x(1+0.25)x(1−0.20)x(1+0.25)= ¿ G)2
Do đó rG ¿ [(1+0.10)x(1+0.25)x(1−0.20)x(1+0.25)] 1/4-1= 0.0829,hoặc 8.29%
Tỷ suất sinh lợitheo trung bình nhân cũng được gọi là tỷ suất sinh lợi trung bình theothời gian (time-weighted average return), bởi vì nó bỏ qua lợi tức khác nhau giữa cácquý và không đặt nặng tỷ suất sinh lợi trong quý này cao hơn các quý khác khi đánhgiá hiệu quả hoạt động
- Tỷ suất sinh lợi gia quyền (Dollar-weighted return): Khi chúng ta quan tâm
giá trị thực của nguồn vốn, chúng ta xử lý các luồng tiền quỹ cho nhà đầu tư như một
Trang 5vấn đề ngân sách vốn trong tài chính doanh nghiệp 1 triệu USD ban đầu và tiền mặtthu được coi là dòng tiền liên quan đến đầu tư "dự án", "giá trị thanh toán" cuối cùngcủa dự án là giá trị kết thúc của danh mục đầu tư Trong trường hợp này, do đó, lưuchuyển tiền tệ ròng của nhà đầu tư như sau:
Tỷ suất sinh lợi bình quân gia quyền (dollar-weighted average return) là tỷ
suất sinh lợi nộibộ (IRR) của dự án, đó là 4.17 % IRR là lãi suất mà ở đó giá trị hiệntại của dòng tiền thực hiện trên danh mục đầu tư (bao gồm cả 1 triệu USD mà các danhmục đầu tư có thể được thanh toán vào cuối năm) bằng với chi phí ban đầu của việcthiết lập danh mục đầu tư Do đó, lãi suất thỏa mãn phương trình sau đây:
1.1.2 Cách tính tỷ suất sinh lợi
Tỷ suất sinh lợi trên tài sản có dòng tiền thường xuyên, chẳng hạn như tài sản thếchấp (với các khoản thanh toán hàng tháng) và trái phiếu (với phiếu giảm giá bán niên),thường được tính theo tỷ lệ phần trăm hàng năm, APR, tính theo tỷ suất từng kỳ trongnăm sử dụng một cách tiếp cận đơn giản, bỏ qua lãi kép APR có thể được chuyển sang
tỷ lệ hàng năm hiệu quả (EAR) bằng cách ghi nhớ rằng:
APR= Per-period rate x Periods per year
Vì vậy, để tính EAR nếu trong năm có n kỳ, trước tiên chúng ta phải tính tỷ suấtmỗi kỳ là APR/n, sau đó tính gộp tỷ suất đó cho số kỳ trong một năm
1 + EAR = (1 + Rate per period)n = (1 + APR/n)n
Trang 6Công thức giả định rằng bạn có thể tính được APR từng thời kỳ Vì vậy, sau mộtnăm (sau n kỳ), tỷ suất sinh lợi tích lũy của bạn sẽ là (1 + APR/N)n Lưu ý rằng ta cầnbiết số kỳ nắm giữ khi đưa ra một APR để chuyển nó sang một tỷ suất sinh lợi hiệuquả
EAR khác với APR khi n trở nên lớn hơn (có nghĩa là, khi chúng ta gộp dòng tiềnthường xuyên hơn) Trong giới hạn, chúng ta có thể hình dung lãi kép liên tục khi n trởnên vô cùng lớn trong phương trình 1.1
Với lãi kép liên tục, mối quan hệ giữa APR và EAR trở thành:
EAR = eAPR - 1
Ví dụ 1.2:Giả sử bạn mua một tín phiếu $ 9,900 đáo hạn trong một tháng Tại ngày đáo
hạn của tín phiếu bạn sẽ nhận được số tiền bằng với mệnh giá của tín phiếu là 10.000USD Vì tiền lãi không được trả trong suốt thời kỳ nắm giữ, tỷ suất sinh lợi nắm giữtrong kỳ cho việc đầu tư một tháng này là:
Trang 7Xem xét một danh mục đầu tư trên thị trường chứng khoán, một ví dụ rất đơngiản trong thị trường với ba tình huống có thể xảy ra được minh họa trong bảng 5.2
Phân phối xác suất các khả năng có thể xảy ra trên thị trường cho phép chúng ta
đo lường được lợi ích và rủi ro của dự án đầu tư đó Lợi ích từ việc đầu tư là tỷ suất
sinh lợi kỳ vọng 1của nó
Công thức tính tỷ suất sinh lợi kỳ vọng:
E(r)=∑
S=1
S
Trong đó: E(r): Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng
r(s):HPR trong mỗi tình huống p(s): xác suất của mỗi tình huống
Từ dữ liệu trong bảng 5.2ta tính được ra E(r)=14%.
Dĩ nhiên, vì có rủi ro trong đầu tư nên tỷ suất sinh lợi thực tế có thể nhiều hơnhoặc ít hơn 14% Nếu xuất hiện một sự “bùng nổ tăng trưởng”, tỷ suất sinh lợi sẽ tốthơn, 44%, nhưng nếu là một cuộc suy thoái, tỷ suất sinh lợi sẽ chỉ là -16% Làm thếnào chúng ta có thể định lượng rủi ro trong đầu tư?Do đó, hai chỉ tiêu phương sai và độlệch chuẩn thường được sử dụng để đo lường rủi ro trong hoạt động đầu tư tài chính
- Phương sai 2của tỷ suất sinh lợi: là bình phương độ lệch giữa giá trị kỳ vọng
và giá trị trung bình
1 Giá trị trung bình của phân phối tỷ suất sinh lợi nắm giữ trong kỳ.
2 Giá trị kỳ vọng của độ lệch bình phương giữa các trung bình.
Trang 8Var(r)=σ2 = ∑
S=1
S
p(s)[r(s)− E(r)] 2 (1.4)
- Để đo lường rủi ro cùng giá trị như tỷ suất sinh lợi kỳ vọng (%), chúng ta sử
dụng độ lệch chuẩn 3, được tính bằng căn bậc hai của phương sai:
Một nhược điểm tiềm tàng khi sử dụng phương sai và độ lệch chuẩn để đolường rủi ro là chúng coi các sai lệch âm và sai lệch dương của tỷ suất sinh lợi kỳ vọngnhư đối xứng Trong thực tế, dĩ nhiên, các nhà đầu tư chào đón các bất ngờ tích cực, vàcách đo lường rủi ro tự nhiên sẽ chỉ tập trung vào kết quả xấu Tuy nhiên, nếu phânphối tỷ suất sinh lợi là đối xứng (nghĩa là khả năng xảy ra các bất ngờ tiêu cực tươngđương với xác suất xảy ra các bất ngờ tích cực có cùng độ lớn), vì thế độ lệch chuẩn sẽxấp xỉ đo lường rủi ro chỉ tập trung vào độ lệch tiêu cực Trong trường hợp đặc biệt màphân phối tỷ suất sinh lợi xấp xỉ tiêu chuẩn – được thể hiện bởi đường cong hìnhchuông nổi tiếng – độ lệch chuẩn sẽ hoàn toàn phù hợp để đo lường rủi ro Bằng chứngcho thấy rằng trong các giai đoạn nắm giữ tương đối ngắn, tỷ suất sinh lợi của hầu hếtcác danh mục đầu tư đa dạng được mô tả cùng bởi một phân bố chuẩn
1.2.2 Phần bù rủi ro và tâm lý lo ngại rủi ro
Nếu có thể, bạn nên đầu tư bao nhiêu vào một danh mục cổ phiếu như được mô tảtrong bảng 5.2? Để trả lời câu hỏi này, trước tiên, bạn phải tự hỏi giá trị của tỷ suất
Trang 9sinh lợi kỳ vọng có thể bù đắp cho rủi ro trong việc đầu tư tiền vào cổ phiếu haykhông.
Chúng ta đo “lợi ích” bằng sự khác biệt giữa tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh
mục cổ phiếu vớilãi suất phi rủi ro 4, đó là, lãi suất bạn có thể kiếm được bằng cách bỏtiền vào các tài sản phi rủi ro như tín phiếu kho bạc, các quỹ thị trường tiền tệ, hay
ngân hàng Chúng ta gọi sự khác biệt này là phần bù rủi ro 5
Vậy phần bù rủi ro (Risk premium) là phần lợi nhuận kỳ vọng tăng thêm so vớilợi nhuận phi rủi ro, được tính bằng công thức sau:
E(rp) - rfTrong đó E(rp): tỷ suất sinh lợi kỳ vọng
rf: lãi suất phi rủi ro
Ví dụ, nếu lãi suất phi rủi ro trong ví dụ là 6% mỗi năm, và tỷ suất sinh lợi quỹchỉ số kỳ vọng là 14%, vì thế phần bù rủi ro trên cổ phiếu là 8% mỗi năm
Mức độ mà các nhà đầu tư sẵn sàng bỏ tiền vào chứng khoán mà không phải là
trái phiếu, tín phiếu (các tài sản phi rủi ro khác) phụ thuộc vào tâm lý ngại rủi ro6 Có
vẻ như rõ ràng các nhà đầu tư ngại rủi ro cho rằng, nếu phần bù rủi ro bằng =0, mọingười sẽ không sẵn sàng đầu tư tiền vào chứng khoán
Việc định lượng được mức độ ngại rủi ro của một nhà đầu tư đôi khi rất hữu ích.Các nhà đầu tư ngại rủi ro sẽ đòi hỏi tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao hơn để đầu tư tài sảncủa họ vào các danh mục đầu tư có độ biến động cao hơn, do đó phần bù rủi ro sẽ lớnhơn tâm lý ngại rủi ro của họ Vì vậy, nếu chúng ta định lượng mức độ lo ngại rủi ro
với tham số A, nó có ý nghĩa khẳng định rằng phần bù rủi ro cho đòi hỏi của một nhà đầu tư về một danh mục đầu tư sẽ phụ thuộc vào cả tâm lý ngại rủi ro A lẫn rủi ro của
4 Tỷ lệ tỷ suất sinh lợi chắc chắn có thể kiếm được.
5 Một tỷ suất sinh lợi kỳ vọng vượt quá tỷ suất sinh lợi trên chứng khoán phi rủi ro.
6 Tâm lý không sẵn sàng, miễn cưỡng chấp nhận rủi ro.
Trang 10E(rP) – rf
½
danh mục đầu tư, σ2p
Chúng ta sẽ viết phần bù rủi ro mà một nhà đầu tư đòi hỏi đối với một danh mụcđầu tư bằng một công thức như sau:
Trong đó: E(rp)tỷ suất sinh lợi kỳ vọng,
σ2p phương sai của tỷ suất sinh lợi kỳ vọng
rf: lãi suất phi rủi ro của tín phiếu kho bạc là
A: tâm lý ngại rủi ro của nhà đầu tư
(Phân số 1/2 chỉ là một yếu tố quy mô được chọn vì sự tiện lợi và không có ý nghĩa
thực tế trong phân tích.)
Ví dụ, nếu một nhà đầu tư tin rằng phần bù rủi ro danh mục đầu tư của cô ấy là8%, và độ lệch chuẩn là 20%, từ đó chúng ta có thể tính được tâm lý ngại rủi ro là A =0,08/(0,5 x 0,202) = 4
Phương trình 1.6 và 1.7 chỉ áp dụng cho phương sai của một danh mục đầu tưtổng thể của một nhà đầu tư, không phải cho các tài sản nhỏ nằm trong danh mục đầu
tư đó
1.3 Mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ suất sinh lợi thực
Trong những phần trước, chúng ta xem xét tỷ suất sinh lời được đo bằng đồng đô la
Ví dụ: Tỷ suất sinh lời hàng năm 10%, có nghĩa là giá trị đầu tư của bạn tăng 10% sovới đầu năm Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là, bạn có thể mua hơn 10% hànghóa và dịch vụ với số tiền đó, vì có thể trong năm giá hàng hóa cũng tăng lên Nếu giá
Trang 11đã thay đổi, sự gia tăng sức mua của bạn sẽ không bằng sự gia tăng giá trị đồng tiềncủa bạn (your dollar wealth).
Bất cứ lúc nào, giá cả của một số mặt hàng có thể tăng trong khi giá các mặt hàngkhác có thể giảm; xu hướng chung của giá được đo bằng cách kiểm tra những thay đổitrong chỉ số giá tiêu dùng, hoặc thông qua chỉ số CPI
CPI là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá
hàng tiêu dùng theo thời gian Sở dĩ chỉ là thay đổi tương đối vì chỉ số này chỉ dựa vàomột giỏ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng Đây là chỉ tiêu được sử dụngphổ biến nhất để đo lường mức giá và sự thay đổi của mức giá chính là lạm phát
Tỷ lệ lạm phát là tốc độ tăng mặt bằng giá của nền kinh tế Nó cho thấy mức độ
lạm phát của nền kinh tế.Thông thường, người ta tính tỷ lệ lạm phát dựa vào chỉ số giátiêu dùng hoặc chỉ số giảm phát GDP.Tỷ lệ lạm phát có thể được tính cho một tháng,một quý, nửa năm hay một năm
Để thấy rõ hơn mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ suất sinh lời thực tế Ta giả sử tỷ lệlạm phát (phần trăm thay đổi trong chỉ số CPI, ký hiệu là i) trong năm ngoái lên tới i =6% Điều này sẽ cho bạn biết sức mua của tiền đã giảm 6% một năm.Giá trị của mỗiđồng đô la mất giá 6% một năm về hàng hóa nó có thể mua.Vì vậy, một phần lãi kiếmđược của bạn được bù đắp bởi việc giảm sức mua của đồng đô la bạn sẽ nhận được vàocuối năm nay Với tỷ lệ lãi suất 10%, sau khi thực giảm 6% sức mua của đồng tiền, thìbạn đã được một sự gia tăng ròng trong sức mua khoảng 4% Vì vậy, chúng ta cần phảiphân biệt giữa tỷ lệ tăng lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ tăng đồng tiền của bạn và tỷ lệ lãisuất thực – tỷ lệ tăng sức mua của bạn
Với R: là lãi suất danh nghĩa
r: lãi suất thực (tỷ lệ lãi suất thực tế là tỷ lệ danh nghĩa đã giảm do giảm mấtsức mua do lạm phát)
Trang 12i: tỷ lệ lạm phát
Trong thực tế, mối quan hệ chính xác giữa tỷ lệ lãi suất thực và danh nghĩa đượctính:
1+r=1+R 1+i
Với: 1 + r : các yếu tố tăng trưởng sức mua của bạn
1 + R: yếu tố tăng trưởng đồng tiền của bạn
Mức giá mới đó là 1 + i lần giá trị của nó trong giai đoạn trước
Có thể viết lại công thức như sau:
r= R−i 1+i
Ví dụ: nếu lãi suất trên một đĩa CD một năm là 8%, và bạn mong đợi lạm phát là 5%trong năm tới, sau đó sử dụng công thức gần đúng, bạn mong đợi lãi suất thực được r =8% - 5% =3% Sử dụng công thức chính xác, tốc độ thực sự là
r=0.08−0.051+0.05 =0.0286 hay 2.86 %
Tóm lại, để giải thích tỷ suất sinh lời của các loại tài sản khác nhau được trình bàytrong Bảng 5.3, chúng ta phải nhận ra rằng để tính được tỷ suất sinh lời thực tế của cáctài sản này, chúng ta phải lấy tỷ suất sinh lời danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạm phát được trìnhbày trong cột cuối cùng của bảng Trong thực tế, tỷ suất sinh lời của tín phiếu Mỹthường được coi là không có rủi ro, điều này chỉ đúng đối với tỷ suất sinh lời danhnghĩa của nó.Để suy ra tỷ suất sinh lời thực tế của một tín phiếu kho bạc, bạn phải trừ
đi tỷ lệ lạm phát dự kiến trong thời gian tới.Tỷ lệ lạm phát được công bố từ Cục Thống
kê Lao động từ những dữ kiện đã qua.Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát trong tương lai không
rõ, và người ta phải dựa vào kỳ vọng.Nói cách khác, bởi vì lạm phát trong tương lai làrủi ro, tỷ suất sinh lời thực là rủi ro ngay cả khi lãi suất danh nghĩa là phi rủi ro
Trang 13
Cân bằng lãi suất danh nghĩa
Chúng ta đã thấy rằng lãi suất thực xấp xỉ bằng lãi suất danh nghĩa trừ đi tỷ lệ lạmphát.Bởi vậy nhà đầu tư nên quan tâm đến tỷ suất sinh lời thực-sự gia tăng trong sứcmua sắm của họ, chúng tôi nhận ra rằng khi lạm phát tăng lên, nhà đầu tư sẽ yêu cầumức lãi suất danh nghĩa cao hơn tỷ suất sinh lời trên đầu tư của họ Tỷ lệ cao hơn này
là cần thiết để duy trì tỷ suất sinh lời dự kiến sẽ được cung cấp bởi một khoản đầu tư Irving Fisher (1930) lập luận rằng lãi suất danh nghĩa phải tăng cùng với sự giatăng tỷ lệ lạm phát kỳ vọng Nếu chúng ta sử dụng các ký hiệu E (i) để biểu thị sự kỳvọng hiện tại của tỷ lệ lạm phát sẽ áp dụng trong thời gian tới, sau đó chúng ta có thểđưa ra phương trình Fisher chính thức như:
R = r + E(i)Giả sử lãi suất thực là 2%, và tỷ lệ lạm phát là 4%, do đó lãi suất danh nghĩa làkhoảng 6% Nếu tỷ lệ lạm phát tăng tới 5%, lãi suất danh nghĩa phải tăng lên khoảng7% Sự gia tăng lãi suất danh nghĩa bù đắp sự gia tăng tỷ lệ lạm phát, dẫn đến các nhàđầu tư không thay đổi việc tăng sức mua ở tỷ lệ thực tế 2% Minh chứng cho phươngtrình Fisher là giai đoạn lạm phát cao và lãi suất danh nghĩa cao thường bằngnhau.Hình 5.4 minh họa thực tế này
Trang 141.4 Phân bổ tài sản với danh mục gồm tài sản rủi ro và phi rủi ro
Một danh mục đầu tư bao gồm nhiều tài sản (hay dự án đầu tư hay công cụ tàichính khác nhau) Giả sử nhà đầu tư chỉ nắm giữ một danh mục đầu tư gồm hai tàisản với trọng số (tỷ lệ đầu tư), tỷ suất sinh kỳ vọng và độ lệch chuẩn như sau:
Cách đơn giản nhất để kiểm soát rủi ro của danh mục đầu tư là sử dụng danh mụcđầu tư đầu tư vào trái phiếu kho bạc và các loại chứng khoán tiền tệ ngắn hạn an toàn.Hầu hết các chuyên gia đầu tư xem xét trong phân bổ tài sản thì quan trọng nhất củaxây dựng danh mục đầu tư
Nghiên cứu của John Bogle, được thực hiện khi ông là Chủ tịch của Tập đoànVanguard:Quyết định đầu tư khó nhất là việc phân bổ tài sản của bạn: bạn nên sở hữubao nhiêu chứng khoán? Bạn nên sở hữu bao nhiêu trái phiếu?Bạn nên sở hữu baonhiêu tiền mặt dự trữ?
Do đó, chúng tôi thảo luận về việc đánh đổi giữa rủi ro và tỷ suất sinh lời cho cácnhà đầu tư bằng cách kiểm tra cách phân bổ tài sản cơ bản nhất: bao nhiêu trong danhmục đầu tư là đồng tiền phi rủi ro và bao nhiêu là các loại tài sản rủi ro khác?
Trang 15Chúng tôi sẽ biểu thị danh mục đầu tư của nhà đầu tư có tài sản rủi ro là P và các tàisản phi rủi ro là F Chúng tôi cho rằng để đạt lợi ích trên thì danh mục đầu tư tổng thểcủa nhà đầu tư bao gồm hai phần: một là đầu tư vào cổ phiếu và phần khác là đầu tưvào trái phiếu dài hạn Bây giờ, chúng ta thực hiện tổ hợp danh mục đầu tư rủi ro đưa
ra và chỉ tập trung vào việc phân bổ giữa nó với chứng khoán phi rủi ro Trong chươngtiếp theo, chúng ta chuyển sang phân bổ tài sản và lựa chọn chứng khoán qua tài sảnrủi ro
số 500 Vanguard) và 96.600 USD trong Quỹ đầu tư trái phiếu hạng Fidelity
Quỹ Vanguard (V) là một quỹ đầu tư thụ động tái tạo các danh mục đầu tư S & P
500 Quỹ đầu tư trái phiếu hạng Fidelity đầu tư chủ yếu vào trái phiếu doanh nghiệp với độ an toàn cao và cũng có trái phiếu kho bạc Chúng tôi chọn hai quỹ cho danh mục đầu tư rủi ro vì chi phí thấp, đa dạng hóa danh mục đầu tư tốt Trong khi ở các chương tiếp theo, chúng tôi thảo luận về tối ưu hóa danh mục đầu tư, ở đây chúng tôi chỉ đơn giản là giả định nhà đầu tư xem xét tỷ trọng nhất định của V và IG được tối ưu.
Trang 16Các cổ phiếu trong Vanguard và Fidelity tạo nên danh mục đầu tư rủi ro với 54 %trong V và 46% trong IG
wv = 113.400/210.000 = 0.54 (Vanguard)
wIG= 96.600/210.000 = 0.46 (Fidelity)
Tỷ trọng của danh mục đầu tư rủi ro P trong danh mục đầu tư đầy đủ, bao gồm cảđầu tư rủi ro và đầu tư phi rủi ro, được ký hiệu là y, và do đó tỷ trọng của quỹ thịtrường tiền tệ là 1 - y
y = 210.000/300.000 = 0.7 (tài sản rủi ro, danh mục P)
1 – y = 90.000/300.000 = 0.3 (tài sản phi rủi ro)
Tỷ trọng của các tài sản cá nhân trong danh mục đầu tư đầy đủ (C) là:
có sẵn Tổng số cổ phần trong các tài sản rủi ro sẽ tăng lên 300.000 (1 - 0.56) =132.000 USD (các cổ phiếu ban đầu cộng với sự đóng góp mới vào quỹ thị trường tiềntệ: 90.000 + 42.000 = 132.000 USD)
Điểm mấu chốt là chúng ta bỏ bớt để cân đối các tài sản rủi ro trong danh mụcđầu tư cố định Bởi vì tỷ trọng của Vanguard và Fidelity trong danh mục đầu tư rủi ro
Trang 17là 0,54 và 0,46 tương ứng, chúng tôi bán 0,54 * 42.000 = 22.680 USD của Vanguard
và 0.46 * 42.000 = 19.320 USD của Fidelity Sau khi bán, tương ứng với mỗi quỹtrong danh mục đầu tư rủi ro là không thay đổi
wv ¿113.400−22.680210.000−42.000=0.54(Vangurad )
wIG ¿210.000−42.00096.600−19.320 =0.46(Fidelity)
Phương thức này cho thấy rằng thay vì nghĩ về các cổ phần rủi ro của chúng tôinhư Vanguard và Fidelity một cách riêng biệt, chúng tôi có thể xem lại các cổ phần củachúng tôi như thể chúng đang ở trong một quỹ đơn nhất nắm giữ Vanguard và Fidelitytheo tỷ lệ cố định
Để được đơn giản hóa này, chúng ta có thể chuyển sang các mong muốn của việcgiảm rủi ro bằng cách thay đổi rủi ro / kết hợp tài sản phi rủi ro, đó là, giảm thiểu rủi robằng cách giảm tỷ lệ y Bởi vì chúng ta không làm thay đổi tỷ trọng của các tài sảntrong danh mục đầu tư rủi ro, phân phối xác suất của tỷ suất sinh lợi trên danh mục đầu
tư rủi ro vẫn không thay đổi bởi việc tái phân bổ tài sản Sẽ làm gì để thay đổi phânphối xác suất của tỷ suất sinh lợi trên danh mục đầu tư đầy đủ được tạo thành từ các tàisản rủi ro và phi rủi ro
1.4.2 Tài sản phi rủi ro
Do có quyền đánh thuế và có khả năng kiểm soát mức cung tiền tệ, chỉ có chínhphủ mới có thể phát hành các trái phiếu không có rủi ro vỡ nợ Tuy nhiên, kể cả khikhông có rủi ro vỡ nợ thì trái phiếu vẫn chịu rủi ro lãi suất và rủi ro lạm phát Rủi rolạm phát chỉ có thể được loại bỏ khi trái phiếu được phát hành dưới hình thức trái phiếu
có lãi suất được hiệu chỉnh theo chỉ số giá Tức là lãi suất của trái phiếu bằng một mức
cố định cộng với tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn trước đó.Hơn thế nữa, một trái phiếuchỉ số chỉ hoàn toàn không có rủi ro về lãi suất thực khi có kỳ hạn đúng bằng với thờigian mà nhà đầu tư muốn nắm giữ Nhưng ngay cả trái phiếu chính phủ được hiệu
Trang 18chỉnh theo chỉ số giá vẫn phải chịu rủi ro lãi suất, bởi vì lãi suất thay đổi bất ngờ theothời gian Khi mức lãi suất trong tương lai không chắc chắn, thì mức giá trái phiếutrong tương lai cũng không chắc chắn.
Tuy nhiên, người ta thường coi tín phiếu kho bạc (ví dụ tín phiếu kho bạc kỳ hạn
3 tháng) là tài sản tài chính không có rủi ro Tính chất ngắn hạn của loại phiếu này làmcho giá trị của nó không bị tác động nhiều bởi biến động lãi suất.Trên thực tế, nhà đầu
tư có thể cố định tỷ suất lợi nhuận ngắn hạn bằng cách mua 1 tín phiếu và giữ nó chotới khi đáo hạn.Hơn thế nữa, tính chất không chắc chắn của tỷ lệ lạm phát trong thờigian 182 ngày thường không đáng kể so với tính chất không chắc chắn của các tỷ suấtlợi nhuận khác trên thị trường chứng khoán
Trên thực tế, hầu hết các nhà đầu tư đều coi nhiều công cụ thị trường tiền tệ là tàisản không rủi ro Hầu hết các công cụ thị trường tiền tệ đều gần như không chịu rủi rolãi suất do có kỳ hạn ngắn và tương đối an toàn về khả năng trả nợ (rủi ro tín dụng gầnbằng 0)
Các quỹ đầu tư vào thị trường tiền tệ thường nắm giữ ba loại chứng khoán - tínphiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi ngân hàng và thương phiếu.Tuy nhiên, các công cụnày cũng khác nhau về rủi ro vỡ nợ.Lợi suất cho tới khi đáo hạn của chứng chỉ tiền gửi
và thương phiếu có cùng kỳ hạn thường cao hơn lợi suất của tín phiếu kho bạc
1.4.3 Rủi ro và tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục đầu tư
Tìm kiếm sự kết hợp của rủi ro và tỷ suất sinh lời là một phần " kỹ thuật " của phân
bổ tài sản, nó chỉ thực hiện với các cơ hội có khả năng để đầu tư cho các tính năng củathị trường tài sản, mà trong đó họ có thể đầu tư Trong phần tiếp theo, chúng ta giảiquyết một phần "cá nhân" của vấn đề, sự lựa chọn cá nhân của sự kết hợp rủi ro tỷ suấtsinh lời tốt nhất từ các bộ kết hợp khả thi, do mức độ lo ngại rủi ro của bản thân
Trang 19Kể từ khi chúng tôi giả định các thành phần của danh mục đầu tư rủi ro tối ưu (P) đãđược xác định, mối quan tâm ở đây là với tỷ lệ ngân sách đầu tư (y) được phân bổ chocác danh mục đầu tư rủi ro Tỷ lệ còn lại (1 - y) sẽ được đầu tư vào các tài sản phi rủi
ro (F)
Chúng tôi biểu thị tỷ lệ rủi ro thực tế tỷ suất sinh lời của r p, tỷ lệ dự kiến tỷ suất sinhlời trên P bằng E (r p), và độ lệch chuẩn của nó bởi σ p Tỉ suất tỷ suất sinh lời trên tàisản phi rủi ro được ký hiệu là r f Trong ví dụ bằng số, chúng tôi giả định E(rp) = 15%,
σ p = 22% và r f = 7% Do đó, phần bù rủi ro về tài sản rủi ro là E(rp) – r f = 8%
Hãy bắt đầu với hai trường hợp cực đoan nhất: Nếu bạn đầu tư tất cả vào các tài sảnrủi ro nghĩa là chọn y = 1.0, tỷ suất sinh lời kỳ vọng trên danh mục đầu tư đầy đủ củabạn sẽ là 15% và độ lệch chuẩn sẽ là 22% Sự kết hợp của rủi ro và tỷ suất sinh lờiđược vẽ như điểm P trong hình 5.5 Mặt khác, bạn có thể đặt tất cả tiền vào các tài sảnrủi ro, nghĩa là bạn chọn y = 0 Trong trường hợp này bạn sẽ kiếm được tỷ suất sinh lờikhông rủi ro là 7% (Lựa chọn này được vẽ như điểm F trong hình 5.5)
Bây giờ xem xét lựa chọn ôn hòa hơn Ví dụ: nếu bạn phân bổ một lượng bằngnhau của danh mục đầu tư tổng thể hoặc đầy đủ của bạn, C, vào các tài sản rủi ro và
Trang 20phi rủi ro, nghĩa là, nếu bạn chọn y = 0.5, tỷ suất sinh lời kỳ vọng trên danh mục đầu tưđầy đủ sẽ là mức trung bình của tỷ suất sinh lời kỳ vọng trên danh mục đầu tư F và P.
Do đó,E(rC) = 0.5 x 7% + 0.5 x 15% = 11% Do đó, phần bù rủi ro của danh mục đầu
tư đầy đủ là 11% - 7% = 4%, đó là một nửa bằng bù rủi ro của P Độ lệch chuẩn củadanh mục đầu tư cũng là một nửa của P bằng 11% Khi bạn giảm các phần của danhmục đầu tư đầy đủ phân bổ cho các tài sản rủi ro một nửa, bạn giảm cả rủi ro và bằng
Các điểm mô tả các rủi ro và tỷ suất sinh lời của danh mục đầu tư đầy đủ phân
bổ tài sản khác nhau, có nghĩa là, sự lựa chọn khác nhau của y, tất cả các đồ thị trênđường thẳng nối F và P, như thể hiện trong hình 5.5, với một hệ số chặn của r f và độdốc (tăng/chạy) của
đường phân bổvốn(CAL).Đường phân bổ vốn (CAL)
Trang 21Đường phân bổ vốn CAL gồm có 4 đoạn:
1 F là điểm ở đó nhà đầu tư chỉ nắm giữ tài sản phi rủi ro (x1=0), do vậy, độlệch chuẩn = 0
2 Đoạn từ F tới P là tập hợp của tất cả các danh mục đầu tư vào cả tài sản rủi
ro và phi rủi ro (0 ≤x1 ≤1)
3 Tại điểm P tất cả danh mục đều đầu tư vào tài sản rủi ro (x1=1)
4 Từ P trở lên, phần tài sản rủi ro vượt quá 100% vốn đầu tư của danh mục.Điều này có nghĩa các nhà đầu tư vay mượn với lãi suất phi rủi ro để mua tài sản rủi ro
Độ dốc của đường CAL, như nhìn trên hình vẽ, thể hiện mức gia tăng lợi nhuận
kỳ vọng ứng với mỗi đơn vị rủi ro tăng thêm của danh mục đầu tư, hay nói cách khác,
là thước đo mức lợi nhuận vượt trội bù đắp cho mỗi đơn vị rủi ro tăng thêm Chính vìvậy độ dốc của CAL còn được gọi là hệ số lợi nhuận bù đắp rủi ro (reward tovariability ratio) Chú ý rằng phần bù cho tỷ lệ biến đổi thì giống như danh mục đầu tưrủi ro P và danh mục đầu tư đầy đủ được hình thành bằng cách kết hợp P và các tài sảnrủi ro theo tỷ lệ bằng nhau
Trong thực tế, phần bù cho tỷ lệ biến đổi là như nhau cho tất cả các danh mục đầu
tư đầy đủ mà được thể hiện trên dòng phân bổ vốn.Trong khi kết hợp rủi ro tỷ suất sinhlời khác nhau, tỷ lệ phần bù rủi ro là không đổi
Có những điểm trên đường ở bên phải của danh mục đầu tư P trong các thiết lập
cơ hội đầu tư như thế nào? Nếu nhà đầu tư có thể vay với (rủi ro) tỷ lệ r f = 7%, họ có
Trang 22thể xây dựng danh mục đầu tư đầy đủ mà thể hiện trên CAL ở bên phải của P Chúngchỉ đơn giản là chọn giá trị của y lớn hơn 1.0.
Tất nhiên, các nhà đầu tư phi chính phủ không thể vay với lãi suất phi rủi ro.Nguy cơ vỡ nợ của người vay dẫn đến người cho vay yêu cầu lãi suất cao hơn khi chovay Do đó, chi phí lãi vay đầu tư phi chính phủ sẽ vượt quá lãi suất cho vay của r f =7%
Giả sử lãi suất vay là r B= 9% Sau đó, cho y lớn hơn 1.0 (phạm vi vay), phần bùcho tỷ lệ biến đổi (độ dốc của CAL) sẽ là: [E(rP) – rB]/σ p = 6/22 = 0.27 Ở đây, lãi suấtvay (r B) thay thế lãi suất cho vay (r f), giảm "phần bù" (tử số) trong phần bù cho tỷ lệbiến đổi CAL sẽ là " gấp khúc " tại điểm P như trong hình 5.6 Bên trái của P, với y <
1, chủ đầu tư được vay ở mức 7% và độ dốc của CAL là 0,36 Ở bên phải của P, với y
> 1, chủ đầu tư được vay (với tỷ lệ rủi ro cao hơn) để tài trợ cho các khoản đầu tư thêmtrong các tài sản rủi ro, và độ dốc là 0,27
Trong thực tế, vay để đầu tư vào danh mục đầu tư rủi ro là dễ dàng và đơn giảnnếu bạn có một tài khoản bảo chứng với một nhà môi giới Tất cả bạn phải làm là nóivới người môi giới của bạn, bạn muốn mua " bảo chứng " Mua sắm trong tài khoảnbảo chứng không được vượt quá 50 % giá trị mua hàng Ví dụ, nếu giá trị tài sản củabạn trong tài khoản là 300.000 USD, các nhà môi giới được phép cho vay lên đến300.000 USD để mua cổ phiếu bổ sung Sau đó bạn sẽ có 600.000 USD ở phía bên tàisản của tài khoản và 300.000 USD về bên phía tài khoản nợ, kết quả là y = 2.0
Trang 231.5 Chiến lược thụ động và đường thị trường vốn
Dòng phân bổ vốn cho thấy rủi ro tỷ suất sinh lời có khả năng bằng cách kết hợp cáctài sản phi rủi ro với danh mục đầu tư rủi ro của nhà đầu tư Nhà đầu tư có thể lựa chọncác tài sản bao gồm trong danh mục đầu tư rủi ro bằng cách sử dụng các chiến lược thụđộng hoặc chủ động.Một chiến lược thụ động dựa trên tiền đề rằng chứng khoán đãđược định giá khá hợp lý và nó tránh được chi phí liên quan trong việc thực hiện phântích chứng khoán Một chiến lược như vậy mới nhìn có thể có vẻ đơn giản Tuy nhiên,chúng ta sẽ thấy trong chương 8 rằng sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà quản lý tiềnchuyên nghiệp có thể thực sự buộc giá chứng khoán đến mức mà tại đó phân tíchchứng khoán hơn nữa có thể đẩy những cơ hội tỷ suất sinh lời lên đáng kể Chiến lượcđầu tư thụ động có thể có ý nghĩa đối với nhiều nhà đầu tư
Để tránh các chi phí thu thập thông tin trên bất kỳ chứng khoán hay một nhóm các
cổ phiếu riêng lẻ, chúng tôi có thể làm theo một phương pháp "trung lập" tiếp cận đadạng hóa Một chiến lược tự nhiên là chọn một danh mục đầu tư đa dạng của cổ phiếuphổ thông phản ánh khu vực doanh nghiệp của nền kinh tế rộng lớn Kết quả này trongmột danh mục đầu tư có tỷ trọng theo giá trị, trong đó, ví dụ, đầu tư một tỷ lệ cổ phiếu
Trang 24trong GM mà bằng với tỷ lệ của giá trị thị trường của GM với giá trị thị trường của tất
cả các cổ phiếu niêm yết
Chiến lược như vậy được gọi là chỉ số hóa.Các nhà đầu tư lựa chọn một danh mụcđầu tư với tất cả các cổ phiếu trong chỉ số thị trường rộng lớn như chỉ số của Standard
& Poor 500.Tỷ lệ tỷ suất sinh lời trên danh mục đầu tư sau đó tái tạo lại trên các chỉsố.Chỉ số hóa đã trở thành một chiến lược rất phổ biến cho các nhà đầu tư thụđộng.Chúng ta gọi là đường phân bổ vốn được cung cấp bởi các thương phiếu ngắnhạn và một chỉ số rộng của cổ phiếu phổ thông đường thị trường vốn (CML).Đó là mộtchiến lược thụ động dựa trên cổ phiếu và giấy tờ có giá tạo ra một tập hợp cơ hội đầu
tư được đại diện bởi các CML
1.5.1 Chi phí và lợi ích của đầu tư thụ động
Làm thế nào hợp lý cho một nhà đầu tư để theo đuổi một chiến lược thụ động?Chúng tôi không thể trả lời một câu hỏi như vậy một cách dứt khoát mà không so sánhkết quả chiến lược thụ động để có chi phí và quyền lợi của một chiến lược đầu tư chủđộng.Một số vấn đề là giá trị xem xét, tuy nhiên
Đầu tiên, chiến lược chủ động thay thế đòi hỏi chi phí Cho dù bạn chọn để đầu tư
thời gian quý báu của mình để có được các thông tin cần thiết để tạo ra một danh mụcđầu tư chủ động tối ưu của tài sản rủi ro hoặc cho dù bạn giao phó nhiệm vụ cho mộtngười chuyên nghiệp sẽ tính phí, xây dựng một danh mục đầu tư đang hoạt động là đắthơn xây dựng một thụ động Danh mục đầu tư thụ động chỉ cần hoa hồng nhỏ khi muahàng của U.S Thương phiếu (hoặc không có hoa hồng nếu bạn mua giấy tờ có giá trựctiếp từ chính phủ) và phí quản lý cho một công ty quỹ tương hỗ để cung cấp một quỹchỉ số thị trường cho công chúng Một chỉ số quỹ có chi phí hoạt động thấp nhất của tất
cả các quỹ tương hỗ chứng khoán bởi vì nó đòi hỏi phải nỗ lực tối thiểu
Trang 25Thứ hai, hỗ trợ một chiến lược thụ động là quyền lợi được chỉ dẫn miễn phí
(free-rider benefit) Nếu bạn cho rằng có rất nhiều hoạt động, các nhà đầu tư thông minhngười mà nhanh chóng chào giá lên giá tài sản bị định giá thấp và giảm các tài sản địnhgiá quá cao (bằng cách bán), bạn phải quyết định mà hầu hết các thời điểm của hầu hếtcác tài sản sẽ có giá tốt Do đó, một danh mục đầu tư cũng đa dạng hóa của cổ phiếuphổ thông sẽ được mua một cách hợp lý công bằng, và các chiến lược thụ động có thểkhông kém hơn so với các nhà đầu tư chủ động trung bình
Tóm lại, một chiến lược thụ động liên quan đến đầu tư trong hai danh mục đầu tư
thụ động: ngắn hạn hầu như không có rủi ro tín phiếu (hoặc một quỹ thị trường tiền tệ )
và một quỹ của cổ phiếu phổ thông tương tự một chỉ số thị trường rộng lớn Nhớ lạirằng đường phân bổ vốn đại diện cho một chiến lược như vậy được gọi là đường thịtrường vốn Sử dụng Bảng 5.5, chúng ta thấy rằng việc sử dụng dữ liệu năm 1926 đếnnăm 2001, danh mục đầu tư rủi ro thụ động đã cung cấp một lợi nhuận trung bình vượtquá 8.6% với độ lệch chuẩn 20.7% , kết quả của phần bù tỷ lệ biến đổi là 0.42
Có thể tổng hợp phân biệt hai chiến lược đầu tư như sau:
Chiến lược đầu tư chủ động Chiến lược đầu tư thụ động
Chiến lược: chủ động mua giá thấp,
bán giá cao, thu lợi nhuận
Chiến lược: lấy danh mục đầu tư của chỉ sốnhư: Dow Jones hay S&P 500 làm chuẩnPhương pháp: dựa vào các chỉ số P/E,
kinh tế vĩ mô, xu hướng thị trường
Phương pháp: Không cần phân tích nhiều chỉcấn theo dõi chỉ số INDEX
Đòi hỏi: thời gian, năng lực, tầm nhìn,
chi phí cao cho đội ngũ chuyên gia
phân tích
Tiết kiệm được thời gian và chi phí nhưng lại
lệ thuộc vào tình hình thị trường
1.5.2 Chiến lược đầu tư chủ động và chiến lược đầu tư thụ động
Trang 26- Chiến lược đầu tư chủ động: là việc thường xuyên điều chỉnh danh mục đầu
tư để lựa chọn những cổ phiếu tốt nhất, lọc chỉ số cơ bản tốt hơn trung bình Mục đíccủa nhà đầu tư là đạt mức sinh lời cao hơn mức sinh lời chung của thị trường Danhmục đầu tư được thiết lập bởi mỗi nhà đầu tư khác nhau là khác nhau cả về chủng loại,
tỷ trọng của từng loại chứng khoán được lựa chọn, mức rủi ro, mức sinh lời,…
Danh mục được lập phải đảm bảo đa dạng hóa đầu tư song những ngành nàođược đánh giá có xu hướng phát triển tốt hay đang được định giá thấp thì sẽ chiếm tỷtrọng cao hơn để vừa giảm rủi ro vừa tối đa hóa được mức sinh lời của nhà đầu tư Với
sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, nhà đầu tư có thể sử dụng các phần mềm đã đượclập trình sẵn để sau khi lập dữ liệu cần thiết máy tính sẽ cho ra một tập hợp các danhmục hiệu quả Nhà đầu tư sẽ lựa chọn trong tập này một danh mục được coi là danhmục tối ưu phù hợp với các mục tiêu đầu tư của họ
- Chiến lược đầu tư thụ động là việc đa dạng hoá đầu tư, hoặc mua luôn chỉ số
để đạt mức lợi suất trung bình của thị trường chứng khoán Khác với chiến lược đầu tưchủ động,chiến lược đầu tư thụ động là chiến lược mua và nắm giữ chứng khoáng mộtcách lâu dài theo một chỉ số chuẩn nào đó Nói cách khác, sau khi lựa chọn một chỉ sốtrên thị trường làm chỉ số chuẩn, nhà đầu tư sẽ đa dạng hóa đầu tư theo chỉ số chuẩn đó
mà không cần quan tâm đến các biến động trên thị trường và hi vọng sẽ đạt đượ mứcsinh lợi ngang bằng với mức chỉ số chuẩn mà đã lựa chọn Có hai cách chính để lậpdanh mục chứng khoán theo chiến lược đầu tư thụ động:
Cách 1 : Thiết lập một danh mục giống hoàn toàn cả về chủng loại, tỷ trọng
của từng loại với chỉ số chuẩn đó lựa chọn Đầu tư theo cách này tạo ra danh mụcgiống hệt chỉ số chuẩn và nhà đầu tư hi vọng sẽ đạt được mức sinh lời ngang bằng chỉ
số chuẩn
Cách 2 : (được sử dụng phổ biến hơn): Lựa chọn một số lượng nhất định các
Trang 271.5.3 Ðuờng thị truờng vốn (CML)
- Trên đuờng CML tập trung tất cả các danh mục đầu tư khả thi kết hợp giữadanh mục thị truờng và tài sản phi rủi ro Ðộ dốc của CML, đuợc thể hiện theo côngthức sau:
- Ta có thể thấy độ dốc của đuờng CML thể hiện mức chênh lệch giữa lợi nhuậnthị truờng kỳ vọng so với mức lợi nhuận phi rủi ro và chia cho rủi ro của thị truờng, vìvậy nó được coi là giá của một đơn vị rủi ro Phương trình của đuờng CML đuợc thểhiện như sau :
Hoặc:
Trang 28- Có nghĩa là phần bù rủi ro đối với bất kỳ danh mục đầu tư hiệu quả P nào đều
là tích của giá thị truờng của rủi ro nhân với (một luợng) rủi ro của danh mục đầu tư đó(đo bằng độ lệch chuẩn)
- Ðộ dốc của đuờng CML được xác định bằng mức lợi nhuận bù đắp cho mộtđơn vị rủi ro mà nhà đầu tư yêu cầu, vì vậy độ dốc của đuờng CML sẽ thay đổi phụthuộc vào mức ngại rủi ro của nhà đầu tư, nguời ngại rủi ro cao sẽ đòi mức bù rủi rocao hơn và nguợc lại Việc này sẽ khiến cho hình dạng của tập hợp hiệu quả gồm N tàisản rủi ro cũng thay đổi Ví dụ, giả sử rằng các nhà đầu tư ngại rủi ro cao và yêu cầumức lợi nhuận cao hơn để bù lại việc chịu một mức rủi ro nhất định Ðiều này sẽ đẩytoàn bộ đuờng hiệu quả cao lên phía trên Ðiểm tiếp xúc, hay chính là danh mục thịtruờng, sẽ có hệ số lợi nhuận bù dắp rủi ro cao hơn và cơ cấu danh mục cũng sẽ bị thayđổi Khi đó đuờng CML sẽ có độ dốc lớn hơn (khi mức lãi suất phi rủi ro thay đổi, độdốc này có thể sẽ giảm xuống)
CHƯƠNG 2: DANH MỤC ĐẦU TƯ HIỆU QUẢ
2.1 Đa dạng hóa và rủi ro danh mục
Trong phần này chúng ta xem xét chiến lược đầu tư đa dạng hoá nhằm cắt giảm rủi
ro Phương châm ở đây dựa vào câu phương ngôn “Đừng bỏ tất cả các quả trứng củabạn vào cùng một giỏ” (Don’t put all your eggs in one basket) Đa dạng hóa danh mụcđầu tư nhằm cắt giảm rủi roở đây có nghĩa là kết hợp đầu tư vào nhiều loại chứngkhoán mà các chứng khoán này không có tương quan cùng chiều với nhau một cáchhoàn hảo, nhờ vậy biến động giảm lợi nhuận của chứng khoán này có thể được bù đắpbằng biến động tăng lợi nhuận của chứng khoán kia Ngoài ra, người ta còn đa dạng
Trang 29hóa nhằm cắt giảm rủi ro bằng cách đầu tư vào thị trường chứng khoán quốc tế thay vìchỉ tập trung đầu tư vào thị trường chứng khoán của một quốc gia nào đó.
Cụ thể hơn, giả sử bạn đang xem xét đầu tư vào một đảo quốc, ở đó có hai mùa mưa
và nắng, và có hai công ty hoạt động: một công ty chuyên sản xuất và kinh doanh áo đimưa và một công ty chuyên sản xuất và kinh doanh kem chống nắng Hệ số tương quanlợi nhuậncủa hai công ty này là r1,2 = - 1, vì sáu tháng mùa nắng công ty sản xuất kemchống nắng thu được lợi nhuận cao trong khi công ty sản xuất áo đi mưa không có lợinhuận Ngược lại, sáutháng mùa mưa, công ty sản xuất áo đi mưa thu được lợi nhuậncao trong khi công ty sản xuất kem chống nắng không có lợi nhuận
Là nhà đầu tư khôn ngoan, thay vì dồn toàn bộ vốn đầu tư vào một trong hai công
ty, bạn nên đầu tư vào một danh mục gồm 50% cổ phiếu công ty sản xuất kem chốngnắng và 50% cổ phiếu công ty sản xuất áo đi mưa Như vậy, quanh năm dù mùa mưahay mùa nắng bạn đều có cơ hội kiếm được lợi nhuận từ danh mục đầu tư trên
Như đã nói, sự kết hợp các chứng khoán không có quan hệ tương quan cùng chiềuhoàn hảo sẽ giảm được rủi ro biến động lợi nhuận đầu tư chứng khoán Để thấy rủi rođược giảm như thế nào, chúng ta chia rủi ro của danh mục đầu tư ra làm hai loại:
- Rủi ro hệ thống (systematic risk) – rủi ro biếnđộng lợi nhuận của chứng khoán
hay củadanh mục đầu tư do sự thay đổi lợi nhuận trên thị trường nói chung, gây ra bởicác yếu tố như tình hình nền kinh tế, cải tổ chính sách thuế, thay đổi tình hình nănglượng thế giới… Nó chính là phần rủi ro chung cho tất cả các loại chứng khoán và do
đó không thể giảm được bằng việc đa dạng hoá danh mục đầu tư Loại rủi ro này cònđược gọi là rủi ro thị trường (market risk) và được đo lường bằng hệ số bê-ta Ví dụ giádầu trên thị trường thế giới tăng làm cho chi phí sản xuất gia tăng khiến cho lợi nhuậncủa doanh nghiệp giảm Nếu điều này xảy ra thì hầu hết các doanh nghiệp đều chịu ảnhhưởng nên nếu giá dầu tăng là yếu tố rủi ro thì nó được xem là rủi ro hệ thống
- Rủi ro phi hệ thống (unsystematic risk) – rủi ro xảy rađối với một công ty hay
Trang 30mộtngành kinh doanh nào đó, nó độc lập với các yếu tố như tình hình kinh tế, chính trịhay những yếu tố mang tính chất hệ thống có ảnh hưởng đến toàn bộ các chứng khoán
có trên thị trường Ví dụ ban quản lý công ty A sai lầm khi quyết định đầu tư vào một
dự án không hiệu quả Điều này xảy ra làm cho lợi nhuận của công ty A giảm nhưngkhông ảnh hưởng gì đến các công ty khác Do đó, kỹ năng quản lý của ban quản lýdoanh nghiệp là yếu tố rủi ro phi hệ thống chứ không phải có hệ thống
Rủi ro phi hệ thống chỉ ảnh hưởng đến một công ty hay một ngành nào đó Chẳnghạn một cuộc đình công hay một đối thủ cạnh tranh phát triển sản phẩm mới hay mộtphát minh ra công nghệ tiên tiến của công ty nào đó làm ảnh hưởng đến lợi nhuận củamột công ty hay một ngành chứ không thể ảnh hưởng đến toàn bộ thị trường nói chung.Loại rủi ro phi hệ thống có thể giảm được bằng chiến lược đầu tư đa dạng hoá, tức làđầu tư vào nhiều tài sản hay nhiều cơ hội đầu tư khác nhau nhằm phân tán rủi ro
Hình vẽ dưới đây biểu diễn những nội dung trên Khi chỉ có rủi ro đặc thù của doanhnghiệp(Hình 6.1A), đa dạng hóa có thể giảm rủi ro tới mức thấp nhất vì rõ ràng là nếudanh mục gồm nhiều chứng khoán khác nhau, với các nguồn rủi ro của từng loại độclập với nhau, thì khi kết hợp các loại chứng khoán này lại, sẽ làm rủi ro chung của toàn
danh mục giảm xuống, thỉnh thoảng chúng còn được gọi là nguyên lý bảo hiểm Tuy
nhiên, nếu tồn tại một loại rủi ro tác động lên tất cả các chứng khoán trong danh mụcthì đa dạng hóa không thể làm giảm rủi ro Hình 6.1B thể hiện độ lệch chuẩn của danhmục đầu tư giảm dần khi số lượng chứng khoán tăng lên, nhưng nó không thể giảm về
0 khi có loại rủi ro hệ thống này
Minh họa về sự kết hợp hai loại rủi ro(hệ thống và phi hệ thống) và mối quan hệgiữa rủi ro và số lượng chứng khoán trong danh mục đầu tư, theo đó khi số lượngchứng khoán trong danh mục đầu tư tăng lên thì rủi ro nói chung giảm xuống
Trang 31Tổng rủi ro = Rủi ro hệ thống + Rủi ro phi hệ thống
2.2 Phân bổ tài sản với hai loại tài sản rủi ro
Trong chương trước, chúng ta đã xem xét quyết định phân bổ tài sản đơn giản nhất,
có liên quan đến việc lựa chọn tỷ trọng tài sản phi rủi ro chiếm bao nhiêu trong mộtdanh mục rủi ro Trong phần này, chúng ta sẽ xem xét một danh mục đầu tư phức tạphơn, bao gồm hai loại tài sản rủi ro Một nhà đầu tư dự định bỏ tiền vào hai loại tài sảnrủi ro, câu hỏi đặt ra là nhà đầu tư phải bỏ tiền theo tỷ lệ bao nhiêu vào hai tài sản này
để có được một danh mục đầu tư tối ưu
Giả sử có ba trạng thái cơ bản cho nền kinh tế: suy thoái, phát triển bình thường vàbùng nổ Hiệu suất của cổ phiếu có xu hướng vận động theo hiệu suất của nền kinh tếrộng Vì vậy, giả sử rằng trong thời kỳ suy thoái, lớp cổ phiếu có tỷ suất sinh lợi là -11%, trong thời kỳ bình thường là 13% và trong thời kỳ bùng nổ là 27% Ngược lại,lớp trái phiếu thường tốt hơn khi nền kinh tế suy yếu Điều này xảy ra là do lãi suất sẽgiảm trong thời kỳ suy thoái, điều đó làm cho giá trái phiếu sẽ tăng lên Giả sử một lớptrái phiếu sẽ cung cấp một tỷ suất sinh lợi là 16% trong giai đoạn suy thoái, 6% tronggiai đoạn bình thường, và -4% trong giai đoạn bùng nổ
Trang 32Những giả định và xác suất xảy ra mỗi trạng thái được tóm tắt trong bảng 6.1 Tỷsuất sinh lợi kỳ vọng trên mỗi lớp sẽ tương đương với trung bình có trọng số xác xuấtxảy ra các kết quả theo ba tình huống trên Dòng cuối cùng của bảng 6.1 chỉ ra rằng tỷsuất sinh lợi kỳ vọng của lớp cổ phiếu là 10%, và lớp trái phiếu là 6%.
Rủi ro và tỷ suất sinh lợi của một danh mục đầu tư tạo ra những gì từ lớp cổphiếu và trái phiếu?
Giả sử chúng ta có một danh mục đầu tư với 60% đầu tư vào lớp cổ phiếu và40% vào lớp trái phiếu Vậy tỷ suất sinh lợi của danh mục đầu tư trong thời kỳ suythoái = 0.60 x (-11%) + 0.4 x 16% = - 0.20% (xem ô C5 của bảng 6.3)
Bảng 6.3 chỉ ra tỷ suất sinh lợi của danh mục đầu tư ở mỗi trạng thái kinh tế,cũng như tỷ suất sinh lợi mong đợi, phương sai và độ lệch chuẩn.Chú ý rằng khi tỷ suấtsinh lợi của danh mục đầu tư chỉ là trung bình của tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của hai tàisản, thì độ lệch chuẩn danh mục sẽ ít hơn độ lệch chuẩn của một trong hai loại tài sản
Trang 33Danh mục đầu tư có rủi ro thấp là do mối tương quan âm giữa hiệu suất của hai lớpđầu tư Trong thời kỳ suy thoái, các cổ phiếu sẽ có giá thấp, nhưng điều này sẽ được bùđắp bằng việc thực hiện tốt lớp trái phiếu.Ngược lại, trong thời kỳ bùng nổ, trái phiếu
sẽ thất bại nhưng cổ phiếu sẽ tốt hơn Do đó, danh mục đầu tư của hai tài sản có rủi ro
sẽ ít rủi ro hơn chỉ đầu tư vào tài sản cá nhân (asset individually) Rủi ro của danh mục
sẽ giảm hầu hết khi tỷ suất sinh lợi của hai tài sản đáng tin cậy bù trừ lẫn nhau
Đó là câu hỏi mà các nhà đầu tư nên hỏi, do đó, làm thế nào có thể đo lường xuhướng vận động song song hoặc đối lập nhau của tỷ suất sinh lợi trên hai tài sản.Số liệuthống kê cung cấp cho vấn đề này là phương sai, hiệp phương sai và hệ số tương quan.Nếu chúng ta tính trung bình có trọng số xác suất của các sản phầm trong tất cả cáctrạng thái, chúng ta sẽ có được một thước đo của xu hướng vận động trung bình của tỷsuất sinh lợi của các tài sản thay đổi song song Vì đây là một thước đo dùng để đolường mức độ tác động qua lại lẫn nhau của các tỷ suất sinh lợi có xu hướng, do đóđược gọi là hiệp phương sai Hiệp phương sai của lớp cổ phiếu và lớp trái phiếu đãđược tính toán trong dòng kế cuối trong bảng 6.4 Hiệp phương sai có giá trị âm chothấy rằng hai loại tài sản có xu hướng vận động theo chiều hướng đối nghịch nhau, đó
là, khi một tài sản đang tốt, thì một tài sản khác có xu hướng kém đi
Thật không may, rất khó để giải thích được tầm quan trọng của hiệp phương sai Ví
dụ, nếu hiệp phương sai của -114 sẽ chỉ ra rằng có mối tương quan âm giữa tỷ suất sinhlợi trên lớp cổ phiếu và trái phiếu là mạnh hay là yếu.Điều này rất khó nói.Một số liệu
Trang 34= -0.99
σstockx σbond
-11414.92 X 7.75
thống kê dễ dàng hơn để giải thích là hệ số tương quan, nó chỉ đơn giản được tính bằngcách lấy hiệp phương sai chia cho độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của sảnphẩm trên mỗi lớp.Chúng tôi biểu diễn hệ số tương quan bằng chữ cái Hy Lạp, ρ
Hệ số tương quan có thể dao động từ -1 đến +1 Giá trị -1 chỉ ra mối tương quan
âm hoàn hảo, đó là, tỷ suất sinh lợi của hai tài sản có xu hướng vận động theo chiềuhướng ngược nhau Giá trị 1 chỉ ra mối tương quan thuận.Mối tương quan là 0 chỉ rarằng không có mối quan hệ tương quan giữa hai tài sản Hệ số tương quan là -0.99khẳng định xu hướng áp đảo của tỷ suất sinh lợi trên lớp cổ phiếu và trái phiếu sẽ thayđổi theo chiều hướng trái ngược nhau trong phân tích này
Chúng ta bây giờ đã thấy được vai trò của rủi ro và tỷ suất sinh lợi trong danhmục đầu tư của hai tài sản rủi ro
Và sau đây là ba quy tắc quy trọng đối với một danh mục đầu tư bao gồm hai tài sảnrủi ro
Giả sư, wB là tỷ trọng đầu tư vào lớp trái phiếu, và phần còn lại 1- wB, wS là tỷtrọng đầu tư vào lớp cổ phiếu
Quy tắc 1: Tỷ suất sinh lợi của danh mục đầu tư là trung bình có trọng số của tỷ suất sinh lợi từng loại chứng khoán thành phần, với trọng số là tỷ trọng từng loại chứng khoán trong danh mục.
Quy tắc 2: Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục đầu tư là trung bình có trọng
số của tỷ suất sinh lợi kỳ vọng từng loại chứng khoán trong danh mục, với trọng số là
tỷ trọng từng loại chứng khoán trong danh mục Trong những biểu tượng này, kỳ vọng
Trang 35của phương trình 6.1 là:
E(rP) = wB E(rB)+ wS E(rS) (6.2)
Quy tắc 3: Phương sai tỷ suất sinh lợi của danh mục đầu tư gồm hai tài sản rủi
ro là:
σp2 = (wB σB)2+ (wS σS)2 + 2(wB σB)+ (wS σS) ρBS (6.3)
Với ρ BS là hệ số tương quan giữa tỷ suất sinh lợi của lớp cổ phiếu và lớp trái phiếu.
Phương sai danh mục đầu tư là tổng của phương sai của các chứng khoán thànhphần bao gồm cả thuật ngữ là hệ số tương quan tỷ suất sinh lợi của các chứng khoánthành phần.Nếu tương quan giữa các chứng khoán thành phần là nhỏ hoặc âm, sau đó
sẽ có xu hướng thay đổi lớn hơn trong tỷ suất sinh lợi của hai tài sản để bù bắp chonhau Điều này sẽ làm giảm rủi ro của danh mục đầu tư Phương trình 6.3 chỉ ra rằngphương sai của danh mục đầu tư là thấp hơn khi hệ số tương quan thấp
2.2.1 Sự đánh đổi giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi của danh mục đầu tư bao gồm hai tài sản rủi ro
Giả sử bây giờ độ lệch chuẩn của trái phiếu là 12% và của cổ phiếu là 25%, vàkhông có sự tương quan lẫn nhau giữa tỷ suất sinh lợi của lớp trái phiếu và tỷ suất sinhlợi của lớp cổ phiếu Hiệp phương sai bằng 0 có nghĩa là tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu
và trái phiếu có xu hướng vận động độc lập với nhau
Lúc đầu, chúng tôi xem xét danh mục đầu tư với 100% trái phiếu, và bây giờchúng tôi xem xét một sự thay đổi: đầu tư 50% vào trái phiếu và 50% vào cổ phiếu.Chúng ta có thể tính toán được phương sai của danh danh mục đầu tư từ phương trình6.3
Dữ liệu đầu vào:
E(rB) = 6%; E(rS) = 10%; σB = 12%; σS = 25%; ρBS = 0; wB = 0.5; wS = 0.5
Phương sai của danh mục: