1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đặc điểm ngữ âm và từ vựng tiếng vĩnh thịnh - vĩnh lộc - thanh hóa

117 1,1K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu Luận văn tập trung nghiên cứu các bình diện ngữ âm, từ vựng của tiếng Vĩnh Thịnh với mục đích truy tìm được nguồn gốc của thổ ngữ độc đáo này.. Mục đích của luận vă

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

………

LÊ THỊ LÂM

ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM VÀ TỪ VỰNG

TIẾNG VĨNH THỊNH – VĨNH LỘC – THANH HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

Thái Nguyên – năm 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Văn Hảo

Thái Nguyên – năm 2010

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Mỗi cộng đồng dân cư dù lớn hay nhỏ có một ngôn ngữ chung để có thể giao tiếp được với nhau Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia có vai trò quan trọng đối với người Việt và các dân tộc trên toàn cõi Việt Nam

Tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất và đa dạng Sự thống nhất của tiếng Việt được biểu hiện khá rõ trong việc người Việt ở khắp mọi nơi trên đất nước khi dùng ngôn ngữ Việt đều có thể giao tiếp và hiểu nhau Tính đa dạng của tiếng Việt được thể hiện ở sự khác nhau trên các vùng phương ngữ Vì vậy khi trò chuyện với những người trên các miền khác nhau chúng ta một mặt vẫn hiểu nhau và mặt khác

có thể nhận ra những nét riêng biệt mang tính địa phương Sự khác biệt của tiếng Việt trên các miền đất nước như cách phát âm, sử dụng từ ngữ, lối nói ngữ pháp nói chung được người Việt Nam nhận ra dễ dàng Những nét chung và riêng của ngôn ngữ trên các địa phương khác nhau đã tạo ra tính đa dạng trong sự thống nhất của tiếng Việt

Ngôn ngữ ngoài vai trò chính là phương tiện giao tiếp và công cụ tư duy còn

có vai trò quan trọng khác là thể hiện đặc trưng văn hoá dân tộc Xét trong phạm vi một dân tộc thì ngôn ngữ là nơi lưu giữ nhiều dấu ấn văn hoá mang đặc trưng vùng miền Vì thế tiếng địa phương là “tài sản” văn hoá quan trọng của mỗi vùng miền Nghiên cứu phương ngữ sẽ góp phần bảo tồn những giá trị văn hoá tinh thần đặc sắc Thêm vào đó tiếng địa phương là biểu hiện sinh động của ngôn ngữ toàn dân Hiểu rõ ngôn ngữ từng địa phương sẽ có cái nhìn toàn diện hơn về tiếng Việt

Hiện nay do nhu cầu giao tiếp ngày càng cao, việc chuẩn hoá và thống nhất tiếng Việt là một việc làm cần thiết Tuy nhiên vấn đề này đã và đang đặt ra nhiều khó khăn bởi “quá trình chuẩn hoá và thống nhất ngôn ngữ là một quá trình tranh chấp, gạn lọc giữa các biến thể địa phương về mặt ngữ âm cũng như từ vựng” [11, tr.10] Quá trình thống nhất này đang đặt ra một câu hỏi lớn: liệu phương ngữ có rơi vào quá trình “giải thể” để hoà vào sự thống nhất của tiếng Việt hay không? Từ câu hỏi này lại có nhiều câu hỏi khác đặt ra cho sự tồn tại và phát triển của phương ngữ như: phương ngữ có vai trò gì trong giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc? Như vậy việc

Trang 4

nghiờn cứu tiếng Việt núi chung, phương ngữ núi riờng trong thời điểm hiện nay là một việc làm rất cần thiết đối với quỏ trỡnh xõy dựng ngụn ngữ Việt thành ngụn ngữ thống nhất, chuẩn mực và phỏt triển

Là một thổ ngữ thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá nh-ng thổ ngữ Vĩnh Thịnh có những đặc điểm riêng, khác biệt với tiếng các khu vực khỏc trong huyện và to¯n tỉnh Thanh Hoá Tiếng nói Vĩnh Thịnh “líu lo như chim hót”, đầy sắc thái gợi cảm và gõy sự chỳ ý cho người nghe Một điều đặc biệt d-ờng nh- chỉ thấy ở riêng Vĩnh Thịnh đó là ng-ời dân khi xa quê, chỉ cần gặp một ng-ời cùng quê mình là họ giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, làm cho những ng-ời xung quanh ngơ ngác, ngạc nhiên

và chỳ ý ngay Những đặc điểm khác biệt này góp phần làm nên những đặc tr-ng riêng biệt của vùng đất địa linh nhân kiệt Tuy có nhiều nét đặc biệt nh-ng thổ ngữ Vĩnh Thịnh ch-a đ-ợc chú ý nghiên cứu kĩ nh- các thổ ngữ khác trên n-ớc ta nh- tiếng Sơn Tây (Hà Nội), tiếng Nghi Lộc (Nghệ An), tiếng Hậu Lộc (Thanh Hoá) Vì

vậy chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm ngữ âm và từ vựng tiếng Vĩnh Thịnh - Vĩnh

Lộc - Thanh Hoá làm đối t-ợng nghiên cứu cho luận văn này

2 Lịch sử vấn đề

Ở Việt Nam, vấn đề nghiờn cứu phương ngữ đặt ra từ rất sớm Nhưng phải đến nửa sau thế kỉ XX cỏc phương ngữ tiếng Việt mới được chỳ ý nghiờn cứu Cựng với cỏc phương ngữ khỏc, tiếng Thanh Hoỏ cũng bắt đầu được nghiờn cứu từ đõy

Tiếng địa phương Thanh Hoỏ được cỏc nhà phương ngữ học quan tõm nghiờn cứu ngay cả khi nghiờn cứu chung về phương ngữ tiếng Việt Cỏc cụng trỡnh

đỏng chỳ ý đầu tiờn là Tiếng Việt trờn cỏc miền đất nước và sau được bổ sung sửa chữa và in thành cuốn sỏch Phương ngữ học tiếng Việt (Hoàng Thị Chõu), Tiếng

Việt trờn đường phỏt triển (Nguyễn Kim Thản), Chữ và vần Việt và Ngữ Việt

trờn đất Việt (Nguyễn Bạt Tuỵ) Cỏc tỏc giả trờn đều khẳng định vị trớ của phương

ngữ Thanh Hoỏ trong hệ thống phương ngữ Việt Tỏc giả Nguyễn Bạt Tuỵ chia tiếng Việt thành 5 vựng phương ngữ trong đú tiếng Thanh Hoỏ thuộc về phương ngữ Bắc Trỏi lại Nguyễn Kim Thản lại chia tiếng Việt thành 4 vựng phương ngữ

Và tiếng Thanh Hoỏ bị tỏc giả chia làm đụi: Bắc Thanh Hoỏ thuộc phương ngữ Bắc cũn Nam Thanh Hoỏ thuộc phương ngữ Trung Tỏc giả Hoàng Thị Chõu trong cụng trỡnh nghiờn cứu của mỡnh đó chia tiếng Việt thành 3 vựng phương ngữ Phương

Trang 5

ngữ Trung bao gồm các tỉnh Bắc Trung Bộ từ Thanh Hoá đến đèo Hải Vân Tác giả cũng khẳng định phương ngữ Bắc Trung Bộ trong đó có Thanh Hoá là vùng phương ngữ bảo lưu nhiều yếu tố cổ Trong tác phẩm của mình Hoàng Thị Châu đã chỉ rõ vị trí của tiếng Thanh Hoá là phương ngữ chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung

Bên cạnh những tác phẩm có đề cập đến tiếng địa phương Thanh Hoá như đã

kể đến ở trên có nhiều công trình đã và đang đi sâu vào nghiên cứu tiếng địa phương Thanh Hoá Người dành nhiều thời gian và tâm huyết nghiên cứu vùng phương ngữ xứ Thanh này là người con sinh ra từ mảnh đất Thanh Hoá- tác giả Phạm Văn Hảo Ông đã có luận án tiến sĩ nghiên cứu về đặc điểm ngữ âm tiếng Thanh Hoá năm 1991 Và tác giả cũng có bài viết đăng trên tạp chí ngôn ngữ số

4/1985 bàn về tiếng Thanh Hoá nhan đề: Về một số đặc trưng tiếng Thanh Hoá,

thổ ngữ chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Công trình đầu

tiên đi sâu vào nghiên cứu tiếng Thanh Hoá này đã khẳng định: “Do có những đặc

điểm giống phương ngữ BTB…lại có những đặc điểm giống phương ngữ BB nên tiếng Thanh Hoá mang tính chất một thổ ngữ chuyển tiếp giữa hai vùng phương ngữ trên”[20, tr.56]

Ngoài ra còn phải kể đến các công trình khác nghiên cứu về tiếng Thanh

Hoá như Trương Văn Sinh – Nguyễn Thành Thân: Về vị trí của tiếng địa phương

Thanh Hoá Các tác giả trong bài viết của mình đã đề ra tiêu chí phân chia các

vùng phương ngữ và cũng xác định vị trí cho tiếng địa phương Thanh Hoá Theo các tác giả phương ngữ Thanh Hoá thuộc về phương ngữ Bắc Trung Bộ cùng với tiếng địa phương Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên Cách sắp xếp này theo họ sẽ phản ánh được tính phức tạp của bản thân tiếng địa phương Thanh Hoá, phản ánh được mối quan hệ giữa tiếng địa phương Thanh Hoá với tiếng địa phương Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên, phản ánh được vai trò chuyển tiếp của tiếng Thanh Hoá…Gần đây

có nhiều luận văn quan tâm nghiên cứu tiếng Thanh Hoá như hai luận văn thạc sĩ

Ngữ Văn được hoàn thành tại Đại học Vinh của Nguyễn Thị Sơn: Khảo sát vốn từ

địa phương Thanh Hoá (2004) và Nguyễn Thị Thắm : Khảo sát từ địa phương Thanh Hoá (2009) Hai luận văn cũng đã có những nhận xét bước đầu một cách

khái quát về vùng phương ngữ này và đã rút được nhiều kết luận có giá trị trong đó

Trang 6

có nhận định rằng vốn từ địa phương Thanh Hoá có những nét khác biệt nhất định

so với vốn từ toàn dân và phương ngữ Nghệ Tĩnh

Trường Đại học Hồng Đức là trường đại học đã dành nhiều quan tâm nhất cho vùng phương ngữ “nhà mình” Liên tục có các đề tài cấp trường, cấp bộ nghiên cứu về phương ngữ xứ Thanh Năm 2006 trường chủ trì đề tài nghiên cứu tiếng địa phương Thanh Hoá đến nay vẫn chưa nghiệm thu Đây là đề tài có quy mô rộng lớn thực hiện ở hơn 30 điạ phương khác nhau chia đều cho khắp các vùng trong tỉnh Thực hiện đề tài này không chỉ góp phần khẳng định vai trò của phương ngữ xứ Thanh mà còn phục vụ việc phát triển văn hoá, văn nghệ, du lịch của Thanh Hoá

Vĩnh Thịnh là một xã thuộc huyện Vĩnh Lộc nằm ở phía Tây Bắc, cách thành phố Thanh Hoá 30 km Đây là mảnh đất giàu giá trị lịch sử, giàu truyền thống văn hoá Đặc biệt thổ ngữ Vĩnh Thịnh có đặc điểm khác hẳn với tiếng các xã bên cạnh

và tiếng Thanh Hoá nói chung Tuy có nhiều điểm đặc biệt nhưng thổ ngữ Vĩnh Thịnh chưa được nghiên cứu kĩ, mặc dù đã có một số tác giả đã đề cập đến thổ ngữ

này Ví dụ, nó được điểm qua đặc điểm trong một số tác phẩm như Ngữ âm tiếng

Mường qua các phương ngôn của Nguyễn Văn Tài hay luận án tiến sĩ của tác giả

Phạm Văn Hảo – Ngữ âm tiếng Thanh Hóa Bài viết đầu tiên đi sâu tìm hiểu tiếng địa phương Vĩnh Thịnh là Từ ngữ tiếng Vĩnh Thịnh (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá) của

tác giả Trần Minh năm 2004 Bài viết đã chỉ ra những đặc điểm ngữ âm, từ vựng của vùng thổ ngữ đặc sắc này Công trình có nhiều gợi ý hết sức quý báu đối với chúng tôi khi tiến hành triển khai tìm hiểu tiếng Vĩnh Thịnh để thực hiện luận văn Sau khi trình bày những đặc điểm về tiếng Vĩnh Thịnh tác giả đã đưa ra nhận định của mình về nguồn gốc tiếng Vĩnh Thịnh Qua quá trình điều tra điền dã, tìm hiểu

về lịch sử, văn hoá, xã hội của địa phương tác giả khẳng định từ ngữ tiếng Vĩnh Thịnh thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường Dù trải qua thời gian nhưng dấu ấn Việt Mường vẫn còn tồn tại trong cộng đồng dân cư Vĩnh Thịnh được thể hiện qua ngôn ngữ

Năm 2008, hai tác giả Lê Văn Trường và Nguyễn Văn Lợi có bài viết mới nghiên cứu về tiếng Vĩnh Thịnh Dựa trên tư liệu do cán bộ Phòng Phương ngữ học,

Viện Ngôn ngữ học cung cấp hai tác giả đã viết bài Hệ thống thanh điệu Vĩnh

Thịnh (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá) Sử dụng các chương trình hiện đại như

Trang 7

WINCECIL, ASAP và PRAAT để miêu tả ngữ âm, âm vị học nên bài viết đưa ra những kết luận giàu tính xác thực và thú vị Cuối bài viết hai tác giả khẳng định: “

Về mặt ngữ âm học, hệ thống thanh điệu Vĩnh Thịnh có nhiều nét riêng biệt trong

sự hiện thực hoá ngữ âm các thanh, tạo nên sắc thái riêng về giọng nói của đảo thổ ngữ này” [60, tr365] Công trình đang thực hiện của trường Đại học Hồng Đức do

Lê Thị Lan Anh chủ nhiệm đã chọn Vĩnh Thịnh làm một trong 30 điểm để nghiên cứu tiếng địa phương Thanh Hoá Thành công của đề tài này sẽ góp phần khẳng định thêm vị trí và vai trò của vùng thổ ngữ này

Khi thực hiện luận văn này chúng tôi cũng đã trình bày kết quả ban đầu của

mình về tiếng địa phương Vĩnh Thịnh mang tên Từ ngữ xƣng gọi trong tiếng Vĩnh

Thịnh, Vĩnh Lộc, Thanh Hoá đăng trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 7 năm

2010 Bài viết này ngoài việc nêu đặc điểm ngôn từ Vĩnh Thịnh qua lớp từ xưng gọi chúng tôi cũng bước đầu nhận thấy sự tương đồng và phần nào sự khác biệt giữa tiếng Vĩnh Thịnh và các vùng phương ngữ khác cũng như từ toàn dân Nhưng bài viết này chưa giải quyết được những vấn đề mà nhiều người quan tâm là nguồn gốc tiếng Vĩnh Thịnh

Điểm qua các công trình nghiên cứu về tiếng Vĩnh Thịnh như trên ta thấy dẫu sao thổ ngữ này chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức Trên cơ sở tư liệu

và kết luận của những người đi trước chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu vùng thổ ngữ này để bổ sung và làm rõ hơn đặc điểm của tiếng Vĩnh Thịnh Qua đó góp phần khẳng định bản sắc văn hoá của tiếng Vĩnh Thịnh nói riêng và phương ngữ Thanh Hoá nói chung

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn đặt ra ba mục đích chính sau:

- Nghiên cứu và mô tả để chỉ ra một số đặc điểm ngữ âm thổ ngữ Vĩnh Thịnh

- Thống kê và chỉ ra một số đặc điểm từ vựng thổ ngữ Vĩnh Thịnh

- Khẳng định những giá trị riêng biệt của vùng thổ ngữ này về ngôn ngữ, về lịch sử

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn đặt ra ba nhiệm vụ chính sau:

- Tìm hiểu chung về phương ngữ và về tiếng Thanh Hoá nói chung

Trang 8

- Tìm hiểu mặt ngữ âm thổ ngữ Vĩnh Thịnh

- Tìm hiểu mặt từ vựng thổ ngữ Vĩnh Thịnh

4 Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu các bình diện ngữ âm, từ vựng của tiếng Vĩnh Thịnh với mục đích truy tìm được nguồn gốc của thổ ngữ độc đáo này

4.2 Phạm vi và tư liệu nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu tiếng Vĩnh Thịnh ở tất cả 4 thôn (thôn Sanh, thôn Trung, thôn Đông, thôn Đoài) để đưa ra cái nhìn toàn diện về vùng thổ ngữ này

Tư liệu được chúng tôi thu thập tại các thôn khác nhau trong xã Vĩnh Thịnh qua các cộng tác viên Các cộng tác viên nói trên phần lớn là nông dân thường sống

ở quê nhà và có thể giao tiếp thành thạo bằng tiếng Việt và tiếng địa phương Vĩnh Thịnh

Tư liệu được sử dụng trong luận văn gồm bảng từ vựng hơn 4087 từ Qua thu thập nghe trực tiếp bằng tai và qua ghi âm, chúng tôi thu được hơn 2 nghìn đơn vị mang âm hưởng địa phương Những từ này được ghi lại bằng máy ghi âm có kèm kí

tự ghi âm của cộng tác viên và của tác giả luận văn

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp ngôn ngữ học điền dã

Đây là phương pháp chủ yếu để có thể thực hiện được luận văn Phương pháp này được dùng để thu thập tư liệu ngôn ngữ qua các cộng tác viên, bao gồm các thủ pháp: chuẩn bị bảng hỏi, lựa chọn và đào tạo cộng tác viên, ghi âm, xử lí tư liệu Khâu xử lí tư liệu này chủ yếu là để lựa chọn các từ địa phương Vĩnh Thịnh thoả mãn các điều kiện của từ địa phương

- Phương pháp miêu tả: Gồm thủ pháp so sánh - đối chiếu, phân tích - tổng hợp,

thống kê – phân loại

Mục đích của luận văn là thu thập vốn từ, trên cơ sở đó miêu tả các đặc điểm

về ngữ âm, từ vựng của thổ ngữ Vĩnh Thịnh trong tương quan so sánh với ngôn ngữ toàn dân và các phương ngữ khác Vì vậy thủ pháp so sánh đối chiếu được coi là một trong những thủ pháp quan trọng được chúng tôi vận dụng khi thực hiện luận văn này Khi so sánh các đặc điểm của từ địa phương Vĩnh Thịnh với từ toàn dân và

Trang 9

các phương ngữ khác, chúng tôi dùng thủ pháp phân tích ngữ âm, từ vựng, trong đó thủ pháp phân tích thành tố nghĩa thường xuyên được dùng khi khảo sát những nhóm từ cụ thể Sau khi phân tích chúng tôi tổng hợp lại những đặc điểm chính của tiếng Vĩnh Thịnh Thủ pháp thống kê và phân loại cũng được chúng tôi sử dụng khi đặt ngôn từ Vĩnh Thịnh vào những quan hệ nhiều chiều Nghiên cứu bất cứ một nhóm từ nào đấy không phải là nghiên cứu rời rạc mà phải đặt chúng trong những quan hệ nhất định Vì thế vốn từ Vĩnh Thịnh sẽ dược chúng tôi đặt trong những hệ thống nhất định

- Phương pháp nghiên cứu ngữ âm học

Bao gồm các phương pháp sau:

+ Phương pháp ngữ âm học chủ quan

Phương pháp này được thực hiện bằng sự tri nhận các đặc tính ngữ âm tiếng Vĩnh Thịnh qua thính giác và cảm giác cơ thịt của các khí quan (của người nghiên cứu trong lúc lắng nghe và tái tạo lại), kết hợp với quan sát những cử động bên ngoài các khí quan của các cộng tác viên

+ Phương pháp miêu tả ngữ âm học khách quan

Phương pháp này được dùng khi phân tích và miêu tả để chỉ ra các đặc tính ngữ âm đa đạng của ngữ âm tiếng Vĩnh Thịnh nói riêng và các ngôn ngữ khác nói chung Trên cơ sở đó chúng tôi tổng hợp để tìm ra trong các đặc tính đó đặc tính nào có khả năng khu biệt nghĩa trong các thế đối lập âm vị học

Ngoài ra chúng tôi tiến hành phân tích thực nghiệm trên máy các thanh điệu tiếng Vĩnh Thịnh bằng các chương trình WINCECIL, ASAP và PRAAT

6 Ý nghĩa của đề tài

6.1 Ý nghĩa lí luận

Nghiên cứu tiếng địa phương Vĩnh Thịnh - Vĩnh Lộc - Thanh Hoá sẽ góp phần giải quyết những vấn đề lí luận của phương ngữ học nói riêng, ngôn ngữ học nói chung Cụ thể là:

Nguồn gốc và lịch sử của tiếng Vĩnh Thịnh gắn với các thổ ngữ lớn ở Thanh Hóa và các phương ngữ khác của tiếng Việt

Vị trí vai trò của tiếng Vĩnh Thịnh trong tiến trình phát triển của hệ thống tiếng Thanh Hóa nói riêng, tiếng Việt nói chung

Trang 10

Vai trò của thổ ngữ nói riêng, phương ngữ nói chung đối với mọi mặt của đời sống văn hoá như du lịch, văn hoá, văn nghệ…

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Bên cạnh việc giải quyết các vấn đề về lí luận, luận văn còn mang những ý nghĩa thực tiễn sau đây:

- Góp phần lưu giữ và phát huy giá trị riêng về văn hóa của xã Vĩnh Thịnh

- Góp phần phục vụ công tác học tập và giảng dạy phương ngữ học trong nhà trường kể cả nhà trường ở địa phương

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba

chương:

Chương 1: Một số lí thuyết và thực tế

Chương 2: Đặc điểm ngữ âm tiếng Vĩnh Thịnh

Chương 3: Đặc điểm từ vựng tiếng Vĩnh Thịnh

Trong phần Phụ lục có: 1 Danh sách các cộng tác viên; 2 Một số lược đồ,

hình ảnh về Vĩnh Thịnh

Trang 11

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TẾ

Trong Phương ngữ học tiếng Việt, tác giả Hoàng Thị Châu quan niệm: “Phương

ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” [11, tr.29] Các tác giả Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức

Dân, Nguyễn Quang, Vương Toàn đã khẳng định: “Phương ngữ là hình thức ngôn

ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng biệt được sử dụng ở một phạm

vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ Là một hệ thống kí hiệu và quy tắc kết hợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác được coi là ngôn ngữ (cho toàn quốc), các phương ngữ (có người còn gọi là tiếng địa phương, phương ngôn), khác nhau trước hết là ở cách phát âm, sau đó là ở vốn từ vựng” [43, tr.275]

Phương ngữ còn được gọi là tiếng địa phương Tiếng địa phương là tiếng nói riêng của dân cư ở một vùng nhất định Về căn bản đó là chi nhánh ngôn ngữ của toàn dân Đại bộ phận từ vị, ngữ âm, ngữ pháp nói chung cũng giống như ngôn ngữ dân tộc Cách gọi tiếng địa phương mang tính thông thường dân dã còn cách gọi phương ngữ mang tính khoa học

Phương ngữ được chia ra thành phương ngữ lãnh thổ và phương ngữ xã hội Phương ngữ lãnh thổ là phương ngữ phổ biến ở một vùng lãnh thổ nhất định Nó là

bộ phận của một chỉnh thể ngôn ngữ nào đó Phương ngữ lãnh thổ có những khác biệt trong cơ cấu âm thanh, trong ngữ pháp, trong cấu tạo từ, trong hệ thống từ vựng Những khác biệt này không lớn lắm nên những người thuộc phương ngữ khác vẫn có thể nghe và hiểu được Phương ngữ xã hội thường được hiểu là ngôn ngữ của một nhóm xã hội nhất định Sự khác biệt của ngôn ngữ xã hội với ngôn ngữ

Trang 12

Nói tóm lại, phương ngữ có thể hiểu là biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân trong một phạm vi lãnh thổ nhất định

1.1.1.2 Thổ ngữ

Cùng với phương ngữ, khái niệm thổ ngữ được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm Theo chúng tôi, thổ ngữ là tiếng địa phương thu hẹp trong một làng, một xã, một địa phương nhỏ, dân cư ít Theo đó các từ ngữ trong thổ ngữ chỉ dùng hạn chế phục vụ nhu cầu giao tiếp hàng ngày của một cộng đồng dân cư nào đó Tiếng nói trong thổ ngữ thường rất đặc biệt ngay cả với tiếng các vùng bên cạnh Có thể hiểu, thổ ngữ nằm trong phương ngữ hay nói cách khác, phương ngữ bao gồm trong nó nhiều thổ ngữ khác nhau và các thổ ngữ đó có nhiều nét tương đồng

Có nhiều cách lí giải sự hình thành của thổ ngữ Đó có thể là kết quả của tính

cố kết cộng đồng, sống giao lưu khép kín, ít giao tiếp với xung quanh nên không chịu sự tác động của một ngôn ngữ trung tâm nào Hoặc được giải thích do cơ tầng ngôn ngữ Nghĩa là trước đây những người thuộc thổ ngữ này nói cùng một thứ tiếng nhưng sau đó họ từ bỏ ngôn ngữ cũ để dùng ngôn ngữ mới nhập có mã khác

về bản chất với mã ngôn ngữ cũ Hiện tượng thổ ngữ cũng có thể do các điều kiện

cư trú, địa lí, những yếu tố bên ngoài địa lí quy định

Như vậy thổ ngữ bên cạnh những nét chung với ngôn ngữ toàn dân, những nét chung của phương ngữ khu vực còn mang những nét riêng biệt không thể tìm thấy trong vùng phương ngữ khác Những nét riêng của thổ ngữ sẽ góp phần làm nên sự phong phú đa dạng của tiếng Việt

1.1.2 Ngữ âm và từ vựng – hai cơ sở chính phân định phương ngữ, thổ

ngữ

1.1.2.1 Ngữ âm

- Âm tiết, âm tố, âm vị

+ Âm tiết

Âm tiết có thể được nhìn nhận từ nhiều bình diện khác nhau: bình diện cấu

âm hoặc bình diện cấu trúc, chức năng

Từ bình diện cấu âm, âm tiết được hiểu là một tổ hợp âm tập hợp với nhau quanh một âm có độ vang lớn nhất (Lý thuyết về độ vang của O Jespersen) hay âm tiết là sản phẩm của một đợt căng lên của hệ cơ thuộc bộ máy phát âm, làm xuất

Trang 13

hiện sự tăng áp suất của luồng hơi, rồi chùng xuống (Lý thuyết về độ căng cơ của M.Garammont, P.Fouche, L Sherba)

Từ bình diện cấu trúc và chức năng: Âm tiết là đơn vị của lời nói bao gồm ít nhất một nguyên âm làm hạt nhân và một phụ âm hoặc tổ hợp phụ âm đứng trước hoặc đứng sau hoặc vừa đứng trước vừa đứng sau hạt nhân đó

Về cơ bản có thể hiểu: Âm tiết là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất Dù phát

âm nhanh đến đâu người ta cũng không thể phát ra hai âm cùng lúc Và ngược lại

dù có phát âm chậm đến đâu cũng không thể phát một âm tiết thành hai lần phát âm Như vậy âm tiết có tính chất trọn vẹn nguyên thuỷ

Cấu trúc âm tiết

Mỗi âm tiết có thể bao gồm một hoặc hơn một âm tố và có thể dược chia thành âm đầu, vần và thanh điệu Phần vần gồm hạt nhân âm tiết (thường do nguyên

âm đảm nhiệm) và âm cuối (phụ âm hoặc nguyên âm đảm nhiệm)

Bao trùm lên tổ hợp âm đầu + vần là thanh điệu Thanh điệu là cao độ và sự biến đổi cao độ của giọng nói khi phát âm âm tiết hoặc từ Thanh điệu có giá trị khu biệt nghĩa của từ Có ngôn ngữ có thanh điệu có ngôn ngữ thì không có Số lượng thanh điệu trong mỗi ngôn ngữ không hoàn toàn giống nhau

Các kiểu âm tiết

Căn cứ vào cách kết thúc âm tiết: Có 4 loại:

Âm tiết mở: Là âm tiết vắng mặt âm cuối

Ví dụ: xa, đu, hoè, hoà, đu, đủ…

Âm tiết nửa mở: Là âm tiết được kết thúc bằng bán âm cuối /j, u/

Ví dụ: tai, tay, đau, đao, chau…

.Âm tiết khép: Là âm tiết được kết thúc bằng các phụ âm tắc, vô thanh (p, t, k)

Ví dụ: tát, tắp, tạt tắc, tạch, cắt…

Âm tiết nửa khép: Là âm tiết được kết thúc bằng các phụ âm vang mũi (m, n, )

Ví dụ: tam, tan, tanh, tum, tun, tung

Trang 14

+ Âm tố

Âm tố là đơn vị âm thanh nhỏ nhất

Đây là đơn vị ngữ âm được xác định từ hai bình diện: bình diện cấu âm (được tạo nên ở chỗ nào, bằng cách thức nào) và bình diện thính giác (Tai chúng ta nghe

ra được, nhận thức được nó)

Âm tố xuất hiện trong phát ngôn của mỗi người Cùng một âm tiết nhưng trong những hoàn cảnh khác nhau nghĩa là những từ khác nhau sẽ khác nhau Chính vì vậy âm tố mang tính cụ thể, xác định Thuộc lời nói nên âm tố được thể hiện thông qua giọng cá nhân và mang sắc thái cá nhân rõ rệt Trong mỗi ngôn ngữ số lượng

Về phương thức cấu âm:

Có 3 phương thức chính:

• Phương thức tắc: Là khi phát âm không khí bị cản trở hoàn toàn Không khí từ phổi đi lên, vượt qua chỗ cản trở ở một vị trí nào đó của bộ máy phát âm gây nên tiếng động Phụ âm tắc là phụ âm được tạo nên bằng phương thức tắc

• Phương thức xát: Là phương thức cản trở một phần Luồng không khí từ phổi đi qua cọ xát vào thành khe hẹp tại một vị trí nào đó của bộ máy phát âm gây ra tiếng xát Phụ âm xát là phụ âm được tạo nên bằng phương thức xát

• Phương thức rung: Là phương thức cản trở luồng hơi từ phổi đi lên tại một vị trí nào đó của bộ máy phát âm, luồng hơi thoát ra ngoài bị cản lại, nó lại vượt qua chướng ngại… cứ như thế làm đầu lưỡi rung lên

Trang 15

Về vị trí cấu âm: Được xác định qua dấu hiệu của các cơ quan cấu âm: Âm

môi, âm răng, âm lợi, âm sau lợi, âm ngạc, âm mạc, âm lưỡi con, âm yết hầu và âm thanh hầu

Nguyên âm là những âm được tạo thành khi luồng hơi từ phổi đi lên qua khoang miệng không bị cản trở, thoát ra ngoài một cách tự do Căn cứ vào âm sắc nguyên âm mà ta phân biệt được phẩm chất của nó Âm sắc nguyên âm phụ thuộc vào khả năng cộng hưởng của các khoang cấu âm Xác định nguyên âm tức là xác định âm sắc với 3 tiêu chí:

Tiêu chí thứ nhất: Lưỡi cao hay thấp, miệng mở hay khép: Dựa vào tiêu chí này chia nguyên âm thành 4 nhóm: Nguyên âm thấp (nguyên âm mở), nguyên âm thấp vừa (nguyên âm mở vừa), nguyên âm cao vừa (nguyên âm khép vừa) và nguyên âm cao (nguyên âm khép)

Tiêu chí thứ hai: Lưỡi trước hay sau: Có 3 nhóm nguyên âm: nguyên âm trước, nguyên âm giữa và nguyên âm sau

Tiêu chí thứ ba: Môi tròn hay dẹt: Có nguyên âm tròn môi và nguyên âm

không tròn môi (nguyên âm dẹt)

Ngoài các tiêu chí trên, khi nói về nguyên âm, người ta còn sử dụng các tiêu chí về cấu âm khác như: tiêu chí về độ căng (nguyên âm căng và nguyên âm lợi), tiêu chí về trường độ (nguyên âm ngắn, nguyên âm bình thường và nguyên âm dài), tiêu chí về mũi hoá (nguyên âm mũi và nguyên âm bình thường)

Thực tế các tiêu chí không biểu hiện một cách rõ ràng, rành mạch Vì thế trong ngữ âm học người ta đưa ra một số ngữ âm tiêu biểu, mang những đặc trưng điển hình, định vị trên lược đồ để lấy đó làm căn cứ so sánh, miêu tả ngữ âm cần xác định Lược đồ thường dùng là hình thang nguyên âm quốc tế

Trong các ngôn ngữ còn có các nguyên âm đôi Nguyên âm đôi là những nguyên âm có sự thay đổi về phẩm chất trong quá trình phát âm một âm tiết chứa

nó Mỗi nguyên âm đôi có thể được coi như một chuỗi của hai nguyên âm hoặc một nguyên âm và một âm lướt

Ngoài nguyên âm còn có các âm gọi là bằng thuật ngữ bán nguyên âm Bán nguyên âm là những âm được tạo nên bằng cách cho luồng hơi từ phổi đi lên, chuyển động qua miệng và / hoặc mũi với một tiếng xát cực nhẹ Về mặt cấu âm:

Trang 16

Các bán nguyên âm rất giống nguyên âm Nhưng về mặt chức năng, các bán âm lại hoạt động như một phụ âm Nó không bao giờ đóng vai trò làm hạt nhân, làm đỉnh

âm tiết

+ Âm vị

Âm vị được khái quát từ vô vàn lần phát âm một cách cụ thể Hình thức biểu hiện cụ thể của âm vị ở mỗi lần phát âm được gọi là âm tố Nếu âm tố được xem là đơn vị âm thanh trên phương diện lời nói thì âm vị là đơn vị thuộc hệ thống ngôn ngữ Như vậy âm vị là đơn vị được khái quát từ âm tố Nếu âm tố có tính cụ thể thì

âm vị lại mang tính khái quát trừu tượng và không mang tính cá nhân Nếu âm tố là

vô hạn thì âm vị trong mỗi ngôn ngữ là hữu hạn

- Các thành tố cấu tạo âm tiết

+ Thanh điệu

Thanh điệu là âm vị siêu đoạn tính bao trùm lên toàn bộ âm tiết Thanh điệu

là đơn vị âm thanh tạo nên âm tiết đồng thời có chức năng khu biệt nghĩa

Nếu trong các ngôn ngữ châu Âu, trọng âm là thành phần siêu đoạn nhưng không có giá trị khu biệt ý nghĩa thì thanh điệu trong các ngôn ngữ Đông Nam Á,

cụ thể là tiếng Việt đều có giá trị âm vị học dùng để phân biệt ý nghĩa như các đơn

vị đoạn tính

Để làm được chức năng khu biệt ý nghĩa, một hệ thống thanh điệu phải có ít nhất hơn hai thanh điệu và đối lập nhau về âm vực (trầm - bổng) hay âm điệu (bằng phẳng – không bằng phẳng) Thanh điệu là một đơn vị siêu đoạn nhờ nó mà các đơn vị đoạn tính được tổ chức thành các thể thống nhất lớn hơn cũng như để phân biệt các tín hiệu ngôn ngữ

Các thanh điệu có thể được phân biệt theo các tiêu chí sau:

Âm vực: Là độ cao của thanh điệu Có nhiều cách khác nhau để xác định âm vực như dựa vào độ cao kết thúc thanh điệu hoặc dựa vào độ cao lúc mở đầu hoặc

ấn tượng chủ quan

Đường nét: Là sự biến thiên của độ cao theo thời gian (còn gọi là âm điệu)

Trang 17

Âm vực và đường nét là những yếu tố chính có vai trò khu biệt nghĩa của thanh điệu Tuy nhiên ở một số thanh còn xuất hiện thêm những cấu âm bổ sung có vai trò khu biệt nghĩa như hiện tượng nghẽn thanh hầu, kèm giọng thở

Hiện tượng nghẽn thanh hầu là hiện tượng căng đặc biệt ở thanh hầu Khi phát âm có cảm giác tức ở thanh hầu do luồng không khí bị nghẽn lại, âm thanh đang phát ra bị mất đi, nhường chỗ cho một tiếng “rặn” nhỏ

Hiện tượng kèm giọng thở là hiện tượng xuất hiện khi gốc lưỡi nhích về phía trước một chút tạo nên sự mở rộng khoang yết hầu cùng với tính chất sâu hơn tạo nên âm sắc trầm (hay tối, đục) và cả tiếng thì thào (hay thở, hà hơi)

Trong tiếng Việt thanh điệu là một trong những đặc điểm để phân biệt phương ngữ, thổ ngữ của miền nào, huyện nào, xã nào Mỗi hệ thống phương ngữ, thổ ngữ có một hệ thống thanh điệu riêng Khi giải mã được cái riêng của thanh điệu thì ta sẽ dễ dàng giao tiếp với nhau Với mỗi phương ngữ, hệ thống thanh điệu

sẽ khác nhau ở số lượng và cả chất lượng Theo cách phân chia từ trước tới nay thì trong tiếng Việt có 6 thanh điệu: thanh ngang, thanh huyền, thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã và thanh nặng Tuy nhiên các thanh này thể hiện rất khác nhau ở các địa phương Vì vậy có thể khẳng định thanh điệu là một yếu tố quan trọng để nhận diện phương ngữ, thổ ngữ Theo Nguyễn Tài Cẩn hệ thống thanh điệu thể hiện đầy đủ nhất ở phương ngữ Bắc, các vùng còn lại hầu như chỉ có 5 thanh thường là 2 thanh nhập làm một Ở Nghệ An thang ngã nhập với thanh nặng Ở Thanh Hoá thanh hỏi nhập với thanh ngã Ở Quảng Bình thì không rõ ràng trong phát âm giữa các thanh hỏi, ngã, nặng…Như vậy thanh điệu là yếu tố quan trọng để nhận diện một phương ngữ hay thổ ngữ

Việc nghiên cứu thanh điệu của các phương ngữ tiếng Việt đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như Hoàng Thị Châu, Đoàn Thiện Thuật, Phạm Văn Hảo, Trần Trí Dõi Hầu hết các tác giả khẳng định phương ngữ tiếng Việt có 5 thanh trong đó thanh hỏi và thanh ngã không có sự phân biệt rõ ràng Tuy nhiên xét trong một phạm vi nhỏ thì hệ thống này cũng có những thay đổi nhất định Các huyện giáp miền Bắc và thành phố có xu hướng phát âm gần giống miền Bắc Trẻ em trong độ tuổi đi học phát âm chuẩn hai thanh điệu này Các huyện còn lại hầu như không phát âm đủ 6 thanh Có vùng phát âm được thanh hỏi mất thanh ngã Ngược

Trang 18

lại có vùng lại phát âm được thanh ngã nhưng thanh hỏi thì không thể Người Vĩnh Lộc trong đó có Vĩnh Thịnh phát âm được thanh hỏi, thanh ngã đều được chuyển thành thanh hỏi khi nói

+ Phụ âm đầu

Phụ âm đầu là một trong những thành phần chủ yếu của âm tiết Như tên gọi của nó phụ âm đầu đứng ở vị trí cố định là đầu âm tiết và không thể thiếu được trong âm tiết tiếng Việt

Phụ âm đầu có tính độc lập với nhiều thành phần khác của âm tiết như vần

và thanh điệu

Phụ âm đầu trong tiếng Việt đến nay đến nay vẫn chưa được thống nhất trong số lượng cũng như cách phát âm ở các địa phương khác nhau Nhưng để thống nhất về mặt chính tả chúng ta cũng đã đưa ra một khuôn mẫu chung là lấy tiếng Bắc Bộ làm chuẩn

+ Vần

Các yếu tố cấu tạo nên phần vần là âm đệm, âm chính và âm cuối Trong đó

âm chính và âm cuối là những âm tiết chính cấu tạo nên phần vần

Phụ âm đầu với vần và âm đệm cũng như âm đệm với vần kết hợp với nhau lỏng lẻo không ảnh hưởng qua lại đáng kể Còn âm chính và âm cuối tác động đến nhau chặt chẽ, ảnh hưởng lẫn nhau Vì thế dù cũng đều là âm tiết nhưng khi kết hợp với các âm tiết khác nhau thì vị trí phát âm của nó cũng khác nhau Ví dụ như hai

phụ âm gốc lưỡi /-ŋ, -k/ ở phương ngữ Bắc khi kết hợp với nguyên âm dòng trước thì chúng nhích về phía trước biến thành những phụ âm mặt lưỡi ngạc /-, -c/, còn

khi kết hợp với những nguyên âm dòng sau tròn môi thì chúng trở thành những phụ

âm môi ngạc [-ŋm

, k p ] Chúng chỉ giữ được bản chất của mình khi kết hợp với các

nguyên âm dòng giữa [-ŋm

- Độ nâng của lưỡi

- Sự dịch chuyển về phía trước hay phía sau trong khoang miệng

Trang 19

Từ hai tiêu chí này ta có bảng các nguyên âm tiếng Việt sau:

Độ dịch của lưỡi

Độ nâng của lưỡi

[+ Trước] [+Giữa] [+ Sau]

âm đôi là lai ghép các nguyên âm có sẵn, là các nguyên âm ngắn để phân biệt với các nguyên âm khác về trường độ

Để phân biệt các nguyên âm tiếng Việt có thể sử dụng các đặc điểm:

+ Đơn / đôi: Đơn: i, w, u, e, ɤ, o, ɛ, a, ɔ

Đôi: ie, wɤ, uo

+ Ngắn / dài: Ngắn: ă, , , 

Dài: i, w, u, e, ɤ, o, ɛ, a, ɔ, ie, wɤ, uo

Trang 20

Các nguyên âm trong khi kết hợp với phụ âm đầu cũng thay đổi ít nhiều về vị trí cấu âm Khi kết hợp với phụ âm ở phía trước (âm răng, âm lợi…) thì nguyên âm nhích về phía trước một chút còn khi kết hợp với phụ âm phía sau (âm mạc, âm hầu) thì dịch về phía sau một chút Như vậy âm sắc của âm đầu có thay đổi đôi chút

do ảnh hưởng của âm đầu

Âm cuối: Chỉ thu hẹp lại ở một số phụ âm và có những phụ âm chi kết hợp với nguyên âm này mà không kết hợp với nguyên âm khác Âm cuối j không kết

hợp với nguyên âm dòng trước ngược lại âm cuối w không kết hợp với nguyên âm

dòng sau

Âm cuối bao gồm cả bán âm và phụ âm Âm cuối có thể có mặt hoặc vắng mặt trong âm tiết Đến bây giờ số lượng âm cuối là bao nhiêu vẫn còn gây nhiều tranh luận

Các âm tiết tiếng Việt đối lập bằng những cách kết thúc khác nhau Có âm tiết kết thúc bằng kéo dài và giữ nguyên âm sắc của âm chính Các âm tiết khác kết thúc bằng cách biến đổi âm sắc của âm tiết ở phần cuối do tác động khép lại của bộ máy phát âm

Các âm vị làm âm cuối có các nét khu biệt sau:

Âm cuối zêrô đối lập với các âm vị khác theo tất cả các tiêu chí kể trên Điều đặc biệt là ở mỗi thế đối lập có không thì vế không bao giờ cũng thuộc về nội dung của âm vị zêrô này

1.1.2.2 Từ vựng

Ngôn ngữ nào cũng gồm ba mặt được phân định rang giới rõ ràng, rành mạch nhau là thành phần cấu tạo âm thanh, các phương tiện từ vựng và các phương tiện

Trang 21

ngữ pháp Các phương tiện từ vựng được hệ thống hóa trước hết trong từ điển và được gọi là thành phần cấu tạo từ điển

Đơn vị cơ bản của từ vựng là từ Bên cạnh các từ, trong thành phần từ vựng của mỗi ngôn ngữ còn có rất nhiều các cụm từ Từ và cụm từ cố định thực hiện chức năng gọi tên các sự vật, hiện tượng…

Về mặt phạm vi sử dụng, từ vựng tiếng Việt được chia thành các kiểu loại sau:

- Từ vựng toàn dân

Từ vựng toàn dân là những từ toàn dân hiểu và sử dụng Nó là vốn từ chung cho tất cả những người nói tiếng Việt, thuộc các địa phương khác nhau, các tầng lớp

xã hội khác nhau Đây là lớp từ cơ bản, quan trọng nhất trong mỗi ngôn ngữ

Từ vựng toàn dân biểu thị những sự vật, hiện tượng hay khái niệm quan trọng

trong đời sống Như những từ chỉ tự nhiên: mây, mưa, sấm, chớp…; những từ chỉ đời sống tinh thần như: yêu, thương, hờn, giận…

Vốn từ vựng toàn dân có thể bao gồm các từ có quan hệ với các tiếng Môn –

Khơme như: sông, bắn, lớp, mũi…Hay quan hệ với tiếng Hán như: đầu, gan,

buồng…Và những từ vay mượn từ tiếng Pháp, tiếng Anh cũng nhanh chóng được

Giữa từ vựng toàn dân với từ địa phương có mối quan hệ lẫn nhau Nhiều từ

địa phương là từ cổ của tiếng Việt như: nhác (lười), chốc (đầu), con cấy (con gái),

cấu (gạo)…Có những từ toàn dân dần dần chuyển thành từ địa phương (khau – gầu, nác – nước…) Ngược lại có những từ địa phương lại dần trở thành những từ toàn

Trang 22

+ Tiếng lóng

Tiếng lóng là những từ ngữ được dùng hạn chế về mặt xã hội, tức là những từ ngữ chỉ một tầng lớp nào đó sử dụng mà thôi Mỗi tầng lớp xã hội có chung một hoàn cảnh, một cách sống, có thể tạo ra một số từ ngữ riêng chỉ dùng trong nội bộ tầng lớp mình, những từ ngữ như vậy đều có thể gọi chung là tiếng lóng

Tiếng lóng được tạo ra bằng nhiều cách khác nhau như: Dùng từ ngữ toàn dân

với nghĩa khác (múc – đấm móc, đổ - bằng lòng, cưa – tán gái…) Sử dụng từ không độc lập, nghĩa đã bị lu mờ (nhẩu – nhanh, be – tàu xe…) Biến đổi vỏ ngữ

âm của từ toàn dân (xế - xe, sôi me – sôi máu…) Mượn từ nước ngoài (phe – buôn bán, sôp phơ – tài xế…)…

Tiếng lóng được tạo ra với mục đích giữ bí mật hoặc tạo không khí linh thiêng,

bí ẩn hoặc đơn giản chỉ để thể hiện cá tính của riêng một tầng lớp nào đó

+ Từ ngữ nghề nghiệp

Từ ngữ nghề nghiệp là những từ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó Những từ ngữ này thường được những người cùng ngành nghề đó biết và sử dụng Những người khác thường ít biết và ít

sử dụng những từ ngữ đó

Không có từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân nên từ ngữ nghề nghệp dễ trở thành từ toàn dân khi những khái niệm của một từ nào đó trở thành phổ biến rộng rãi trong toàn xã hội

+ Thuật ngữ

Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và các lĩnh vực chuyên môn của con người

Thuật ngữ có thể được cấu tạo trên cơ sở các từ hoặc các hình vị có ý nghĩa sự vật cụ thể Nội dung của thuật ngữ thường ít nhiều tương ứng với ý nghĩa của các từ tạo nên chúng

Đặc điểm cơ bản của thuật ngữ là tính chính xác, tính hệ thống, và tính quốc tế

1.1.3 Việc nghiên cứu phương ngữ tiếng Việt

Tiếng Việt có thể phân thành nhiều vùng phương ngữ khác nhau nhưng nhìn chung sự phân chia đó không phá vỡ tính thống nhất của ngôn ngữ Ngày nay xu

Trang 23

hướng thống nhất trở thành xu hướng chính Xu hướng này đảm bảo cho mọi người

ở các vùng miền khác nhau có thể giao tiếp với nhau mà không bị cản trở quá nhiều

Xu hướng này cũng hoàn toàn phù hợp với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên sự đa dạng của tiếng Việt không phải là bước rào cản làm tiếng Việt suy yếu Bởi bất cứ hiện tượng nào đều phát triển nhờ mâu thuẫn Đa dạng và thống nhất bề ngoài đối lập nhau nhưng bên trong thúc đẩy nhau cùng phát triển Vì thế có thể khẳng định tiếng Việt thống nhất trong sự đa dạng

Kết quả phân chia các vùng phương ngữ tiếng Việt

Tiếng Việt là ngôn ngữ có một gốc nhưng nhiều trung tâm, có nhiều phương ngữ

Có phương ngữ mạnh và có cả quá trình tiếp xúc ngôn ngữ giữa các phương ngữ như tiếp xúc ngôn ngữ Tày – Thái, Mường - Việt, Chăm - Việt, Khơ me - Việt…

Phương ngữ Việt đã được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu từ đầu thế kỉ XX Có thể kể đến các công trình khoa học đáng chú ý của các học giả nước

ngoài như: Nghiên cứu lịch sử ngữ âm tiếng Việt của H Maspéro (1912), Ngữ

âm tiếng Việt của Cadiere (1911), Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt của M.B

Emeneau (1954), Ngữ âm tiếng Việt của M.Khitarian (1951), Ngôn ngữ dân tộc

và phương ngữ của F.M Berezin (1969), Cơ cấu ngữ âm tiếng Việt của M.V

Gordina (1984)…Các nhà ngôn ngữ học trong nước cũng đã tiến hành nghiên cứu

phương ngữ tiếng Việt và thu được nhiều thành tựu như: Phương ngữ học tiếng

Việt của Hoàng Thị Châu, Sắc thái địa phương của các danh từ thân tộc trong

tiếng Việt của Nguyễn Văn Chiến (1991), Danh từ chỉ quan hệ thân tộc của

Nguyễn Tài Cẩn (1975), Miêu tả và phân vùng ngữ âm phương ngữ Bình Trị

Thiên của Võ Xuân Trang (1992), Phương ngữ Nam Bộ của Trần Thị Ngọc Lang

(1995)…Điểm qua tình hình nghiên cứu phương ngữ tiếng Việt như trên ta thấy vị thế tiếng Việt ngày càng được nâng cao, vấn đề phương ngữ ngày càng được quan tâm nghiên cứu Nhưng hầu như các công trình chỉ tập trung nghiên cứu một cách khá chung mà chưa hoặc ít đi sâu nghiên cứu một vùng phương ngữ cụ thể nào Ngoài phương ngữ Nghệ Tĩnh các vùng phương ngữ khác chưa được nhiều nhà khoa học quan tâm Thanh Hoá là một vùng phương ngữ đặc sắc nhưng cũng bị rơi vào tình trạng trên Ngoài các công trình có nhắc đến vùng phương ngữ Thanh Hoá trong nghiên cứu phương ngữ nói chung còn có không nhiều tác giả dành thời gian

Trang 24

Qua các công trình nghiên cứu đã liệt kê, chúng tôi nhận thấy việc phân vùng phương ngữ tiếng Việt vẫn đang là vấn đề tranh luận Khi bàn về vấn đề này có nhiều ý kiến khác nhau Có tác giả chia tiếng Việt thành 2 vùng phương ngữ (H Maspéro, M.V Gordina ) Có tác giả chia tiếng Việt thành 3 vùng phương ngữ (Hoàng Thị Châu, Võ Xuân Trang) Có tác giả chia tiếng Việt thành 4 vùng phương ngữ (Nguyễn Kim Thản, Phạm Văn Hảo) Có tác giả chia tiếng Việt thành 5 vùng phương ngữ (Huỳnh Công Tín) Lại có tác giả không đồng nhất trong quan điểm như Nguyễn Bạt Tuỵ: Lúc đầu chia làm 3 phương ngữ về sau lại chia làm 5 phương ngữ Còn có ý kiến cho rằng không thể phân chia tiếng Việt thành các vùng phương ngữ bởi vì sự khác biệt giữa chúng là không rõ ràng Như vậy ta thấy tình hình phân vùng phương ngữ tiếng Việt thật phức tạp Ngay cả các tác giả đồng nhất về số lượng các phương ngữ thì ranh giới phân chia của họ cũng không giống nhau Điều này cho ta thấy sự phong phú, đa dạng và phức tạp của phương ngữ tiếng Việt Một trong những kết quả của cách phân chia phức tạp đó là phương ngữ Thanh Hoá lúc thì thuộc phương ngữ Bắc lúc lại thuộc phương ngữ Trung Gần đây nhiều ý kiến cho rằng phương ngữ Thanh Hoá là vùng chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc Bộ và phương ngữ Bắc Trung Bộ Chúng tôi nghiêng về ý kiến này

Cũng như các vùng phương ngữ khác, phương ngữ Thanh Hóa bao gồm trong

nó rất nhiều thổ ngữ Nhưng cũng như phương ngữ Thanh Hoá, từng thổ ngữ thuộc phương ngữ Thanh Hoá vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu Vì vậy việc tiến hành nghiên cứu phương ngữ trên từng địa bàn Thanh Hoá sẽ góp phần tìm chỗ đứng và khẳng định giá trị của vùng phương ngữ còn gây nhiều tranh luận này Cũng vì mục tiêu đó chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu tiếng Vĩnh Thịnh, Vĩnh Lộc, Thanh Hoá Việc nghiên cứu phương ngữ có ích trên nhiều phương diện Nó góp phần khẳng định giá trị văn hoá của mảnh đất địa linh nhân kiệt – Vĩnh Thịnh Đồng thời khẳng định vị trí của của phương ngữ Thanh Hoá trong hệ thống phương ngữ nói chung Nghiên cứu phương ngữ cho ta thấy được sự phong phú, đa dạng và thống nhất của ngôn ngữ một dân tộc Hơn nữa nghiên cứu phương ngữ sẽ là một công cụ

vô cùng đắc lực cho mọi khoa học khảo cứu lịch sử trong đó có dân tộc học, lịch sử văn hoá cũng như lịch sử dân tộc

Trang 25

Đặc điểm ngữ âm, từ vựng các phương ngữ tiếng Việt

Một phương ngữ được xác định bởi tập hợp những đặc trưng ở nhiều mặt: ngữ

âm, từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp trong sự đối lập với các phương ngữ khác Không tính đến những nét dị biệt ở một số vùng địa phương hẹp chúng ta vẫn có thể phân vùng phương ngữ tiếng Việt Theo đó, việc miêu tả các cấp độ ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp cũng chỉ phản ánh được các đặc trưng cơ bản nhất có trong toàn vùng Việc nhìn chung này phản ánh một cái nhìn ở tầm vĩ mô Việc so sánh giữa phương ngữ với nhau và với một tiếng Việt chung được hình dung qua ngôn ngữ viết Để công việc miêu tả được dễ dàng, chúng tôi xin điểm lại những nét đặc trưng cơ bản này Việc miêu tả này được chúng tôi tiến hành trên 3 vùng phương ngữ chính theo cách phân loại của Hoàng Thị Châu: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam

- Phương ngữ Bắc bao gồm các tỉnh phía Bắc

- Phương ngữ Trung bao gồm các tỉnh thuộc Bắc Trung Bộ từ Thanh Hoá

đến đèo Hải Vân

- Phương ngữ Nam bao gồm các tỉnh còn lại trải dài ở cực Nam đất nước

Đặc điểm ngữ âm

- Phương ngữ Bắc

Phương ngữ Bắc trong đó có tiếng Hà Nội được coi là ngôn ngữ chuẩn bởi

nó tập trung hầu như đầy đủ hệ thống thanh điệu và các nguyên âm, phụ âm tiếng Việt Nếu như ở các vùng phương ngữ Trung và Nam có hệ thống thanh điệu không đầy đủ thì ở vùng phương ngữ có trung tâm lớn là thủ đô này có đầy đủ 6 thanh điệu của tiếng Việt Các thanh điệu này đối lập từng đôi về âm vực và âm điệu

Nếu hệ thống thanh điệu ở đây đầy đủ thì ngược lại hệ thống phụ âm đầu lại

thiếu hẳn các phụ âm s, r, gi, tr Điều này vừa là ưu điểm vừa là nhược điểm Phát

âm không phân biệt các phụ âm s / x, r / d/gi, tr/ ch giúp cho giọng nói ở vùng

phương ngữ Bắc này trở nên nhẹ nhàng nhưng cũng vì vậy mà việc phân biệt các phụ âm trên trở nên khó khăn có thể gây hiểu nhầm cho người tiếp nhận hoặc viết sai chính tả

Hệ thống phụ âm cuối trong vùng phương ngữ này lại đầy đủ các âm cuối ghi trong tiếng Việt Có 3 cặp âm cuối ở thế phân bố bổ túc là: [-,-c] đứng sau

Trang 26

nguyên âm dòng trước [-i, -e, -]; [-, k] đứng sau nguyên âm dòng giữa [-, -,

-a, -a, -]; [-, k p ] đứng sau nguyên âm dòng sau tròn môi [-w, -, -o]

Dù là một vùng phương ngữ thống nhất với những đặc điểm đã nêu ở trên nhưng trong nội bộ vùng phương ngữ này lại có thể chia thành 3 vùng nhỏ hơn: Vùng phương ngữ vòng cung biên giới phía Bắc; Phương ngữ Hà Nội và các tỉnh đồng bằng trung du bao quanh Hà Nội và Phương ngữ miền hạ lưu sông Hồng và ven biển

-Phương ngữ Trung

So với hai vùng phương ngữ ở hai đầu đất nước, phương ngữ Trung là vùng phương ngữ “nặng” và khó nghe nhất Đặc điểm này bị chi phối trước hết là ở thanh điệu Thanh điệu trong phương ngữ Trung mất đi 1 thanh so với chuẩn ngôn ngữ tiếng Việt Tuỳ những địa phương khác nhau mà thanh điệu này hay thanh điệu kia được giữ lại Không chỉ khác về số lượng mà chất lượng các thanh điệu trong vùng phương ngữ này cũng khác với phương ngữ Bắc

Nếu hệ thống phụ âm đầu trong phương ngữ Bắc thiếu một số phụ âm thì

trong phương ngữ Trung có đủ 23 phụ âm Có các phụ âm uốn lưỡi s, r, tr Đây là

một trong những nguyên nhân khiến vùng phương ngữ này nghe nặng Nhưng nhờ cách phát âm chuẩn các phụ âm này nên ít gây hiểu nhầm trong giao tiếp và viết chính tả cũng ít nhầm hơn

Hệ thống phụ âm cuối: Đôi phụ âm [-, k] có thể kết hợp được các với các

nguyên âm dòng trước, giữa, sau Gần đây trong các từ chính trị xã hội vẫn có các cặp âm cuối [-, -c] và [-, k]

Vùng phương ngữ Trung bao gồm các vùng phương ngữ nhỏ hơn như sau:

Phương ngữ Thanh Hoá; phương ngữ Nghệ Tĩnh và phương ngữ Bình Trị Thiên

- Phương ngữ Nam

Nếu như hệ thống thanh điệu của phương ngữ Trung chỉ còn 5 thanh thì hệ thống thanh điệu của phương ngữ Nam cũng như vậy Tuy nhiên nếu người miền Trung nhầm lẫn giữa các thanh hỏi và ngã thì người miền Nam lại nhập hai thanh này vào làm một

Hệ thống phụ âm đầu có đầy đủ 23 phụ âm Có các phụ âm uốn lưỡi s, r, tr Phụ âm v được thay thế bởi phụ âm w Phụ âm z được thay thế bởi phụ âm j Âm

Trang 27

đệm [w] đang dần biến mất Có thêm đôi âm cuối [-, - c] Đôi âm cuối [-, k] trở

thành âm vị độc lập

Vùng phương ngữ Nam bao gồm các vùng phương ngữ: Phương ngữ Quảng

Nam - Quảng Ngãi, giải phương ngữ từ Quy Nhơn đến Bình Thuận và phương ngữ Nam Bộ

Đặc điểm từ vựng

Sự khác nhau về từ vựng giữa các phương ngữ có thể do nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân tiếp xúc, vay mượn Những từ khác nhau hoàn toàn do xuất phát từ những nguồn gốc khác nhau là kết quả của sự tiếp xúc ngôn ngữ Trong phương ngữ Nam gần đây có nhiều từ vay mượn tiếng Chăm, tiếng Khơ me Trong phương ngữ Bắc có nhiều từ vay mượn tiếng Thái Có những từ Hán Việt dùng trong Phương ngữ Bắc nhưng không dùng trong phương ngữ Nam Trái lại có trường hợp phương ngữ Bắc giữ nguyên từ thuần Việt, phương ngữ Nam lại vay mượn từ Hán Việt Những từ này phần lớn là danh từ

Sự khác nhau của từ vựng do bản thân của sự phát triển lịch sử ngữ âm của tiếng Việt là kết quả của sự phát triển nội bộ của tiếng Việt, của những quy luật ngữ

âm lịch sử có tính chất đều đặn và nhất loạt Những từ khác nhau này là biểu hiện của quy luật ngữ âm lịch sử Những từ này bao gồm ở tất mọi lĩnh vực và được biểu hiện ở mọi từ loại tiếng Việt Các từ do biến đổi ngữ âm này tạo nên những từ khác

âm bộ phận Có thể là phụ âm đầu, nguyên âm, phụ âm cuối hay thanh điệu

- Những từ khác phụ âm đầu

Những từ này đã được sử dụng làm tư liệu nghiên cứu ngữ âm lịch sử tiếng Việt từ đầu thế kỷ trong công trình nghiên cứu của H.Maspero (1912) Ở phương ngữ Trung ta bắt gặp các hình thức cổ hơn phương ngữ Bắc và phương ngữ Nam

+ Biến thể cổ b, d ở phương ngữ Trung tương ứng với v, z ở phương ngữ Bắc

Ví dụ: bui / vui, bá / vá, ban/ vai, bo / vo, bưa / vừa; đa / da, đưới / dưới, đao / dao,

đốc / dốc…

+ Biến thể cổ ở phương ngữ Trung tương ứng với mới ở phương ngữ Bắc Điều

đó có thể thấy rõ qua các tương ứng sau:

Thứ nhất: f, t‟ ở phương ngữ Trung tương ứng với v, z (d); G (g) ở phương ngữ Bắc như: ăn phúng / ăn vụng, phỡ đất / vỡ đất, phổ tay / vỗ tay…;

Trang 28

nhà thốt / nhà dột, mưa thâm / mưa dầm, thu / dấu…; khải / gãi, khỡ / gỡ, khỏ /

gõ, khót / gọt…

Thứ hai: c, k ở phương ngữ Trung tương ứng với j (gi); G (g) ở phương ngữ Bắc như: chi / gì, chừ / giờ, chờng / giường, rau chên / rau giền…; ca / ga, cấu /

gạo, cỏ cái/ cỏ gấu…

+ Hiện tượng hữu thanh hoá thường xảy ra cùng với việc hạ thấp thanh điệu: thanh không thành thanh huyền, thanh sắc thành thanh nặng, thanh hỏi thành thanh ngã Phụ âm vô thanh đi với thanh cao ở phương ngữ Trung còn phụ âm hữu thanh

đi với phụ âm trầm ở phương ngữ Bắc Ví dụ:

Thanh sắc / thanh nặng như: ăn phúng / ăn vụng, nhà thốt / nhà dột, cấu / gạo… Thanh không / thanh huyền như: ca / gà, chi / gì, mưa thâm / mưa dầm…

Thanh hỏi / thanh ngã như: phở / vỡ, phổ / vỗ, khở / gỡ…

+ Các tổ hợp phụ âm bl, tl, ml đã biến mất và cũng để lại dấu vết ở những từ cặn trong phương ngữ Trung Ví dụ: Loòng cơn / trồng cây, lúa lổ / lúa trổ…; ruồi lặng

/ ruồi nhặng, quả lót / quả nhót, nói lịu / nói nhịu…

+ Những từ có phụ âm đầu khác với ngôn ngữ văn học có thể tìm thấy trong phương ngữ Bắc nhưng không nhiều trường hợp như phương ngữ Trung Ví dụ :

dăn deo / nhăn nheo, duộm / nhuộm, dức đầu / nhức đầu

- Những từ khác nguyên âm

Thể hiện quá trình biến đổi từ nguyên âm đơn sang nguyên âm đôi theo hai khuynh hướng:

Khuynh hướng thứ nhất: Nguyên âm đôi mở dần trong phương ngữ Bắc và

phương ngữ Nam Ví dụ: e / ie, a / ươ, o / uo như: méng / miếng, mẹng / miệng…; lả

/ lửa, nác / nước, mạn / mượn, lái / lưới, náng / nướng…; ló / lúa, nót / nuốt…

Khuynh hướng thứ hai: Nguyên âm đôi khép dần trong các phương ngữ

khác Ví dụ: i / êi, u / ôu như: con chí / con chấy, ni / nầy, mi / mầy…; nu / nâu, bu /

bâu, tru / trâu, trú / trấu, cu / cậu…

Ngoài ra còn có sự đối ứng giữa ngôn ngữ khép hơn ở phương ngữ Trung,

phương ngữ Nam với nguyên âm mở ra ở phương ngữ Bắc Ví dụ: u / ô, ư / â như:

chủi / chổi, túi / tối, mui / môi, thúi / thối, hun / hôn…; chưn / chân, nhứt / nhất, nhựt / nhật…

Trang 29

- Những từ khác phụ âm cuối: Biểu hiện ở một số thổ ngữ Thanh Hoá Ở đây

còn khá nhiều cặp phụ âm –n trong khi đó ở các phương ngữ khác đã biến đổi thành

– j ví như: cằn cấn / cày cấy, kha cắn / gà gáy…cái vắn / cái váy, ban / vai…

Những từ ở các nơi khác là âm tiết mở thì ở Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên

giữ lại phụ âm cuối – n như: chỉn / chỉ, hẻn / ghẻ, nhẹn / nhẹ…

Đây là những từ cặn cổ phản ánh phụ âm cuối – n-l trong tiếng Việt Mường nguyên thuỷ tương ứng với – r trong các ngôn ngữ Nam Á Ví dụ bay trong tiếng Mường là băn, păn hoặc păz và trong ngôn ngữ Tây Nguyên Trướng Sơn đều là

par, pơr, trong tiếng Chăm vào đầu thế kỉ XX là par nhưng hiện nay phát âm là pặn, tiếng Thái là bin

Như vậy các phương ngữ tiếng Việt không chỉ khác nhau ở ngữ âm mà từ vựng cũng là một vấn đề phức tạp Tìm hiểu các đặc điểm về ngữ âm, từ vựng của phương ngữ sẽ cho ta cái nhìn toàn diện hơn về ngôn ngữ các dân tộc Qua đó hiểu hơn về sự đa dạng của tiếng Việt thể hiện trên các miền khác nhau

1.2 Giới thiệu chung về Vĩnh Thịnh

1.2.1 Điều kiện tự nhiên

Vĩnh Thịnh là một xã nằm ở phía đông nam của huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá, có diện tích 22 km2

Trải qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, tên đất tên làng của Vĩnh Thịnh cũng theo đó mà biến đổi Tên cổ nhất của Vĩnh Thịnh còn lưu giữ đến ngày nay trong sổ sách là Phường Ngư Võng Qua quá trình thay đổi cũng như các xã khác trong huyện, Phường Ngư Võng được đổi tên thành Kênh Xuyên, Kênh Thuỷ, Mường Kênh, Bản Thuỷ, Thuỷ Lộc và đến bây giờ là xã Vĩnh Thịnh Những tên gọi khác nhau này gợi sự tò mò cho mọi người đã và đang tìm cách lí giải Vĩnh Thịnh giáp với nhiều vùng đất khác nhau trong huyện và ngoài huyện Phía Bắc giáp Thành Long (Thạch Thành), phía Đông Nam giáp xã Hà Tiến,

Hà Lĩnh (Hà Trung), Tây Nam giáp xã Vĩnh Minh và xã Vĩnh Tân

Địa hình xã Vĩnh Thịnh rất phức tạp Chỉ diện tích 22 km2

nhưng có rừng, có núi, có đồng bằng lại có đồng chiêm trũng Bao bọc Vĩnh Thịnh là núi non Phía Đông Nam có dãy núi Mông Cù phân định ranh giới với xã Hà Tiến, Hà Lĩnh (Hà Trung) và Thành Long (Thạch Thành) Phía Đông Nam có núi Đá Lèn Bền (Vĩnh Minh), núi Cò (Hà Lĩnh) trông như bức bình phong hùng vĩ chắn phía trước xã

Trang 30

Điều đặc biệt của thiên nhiên nơi đây là giữa đông chiêm trũng mọc lên núi Soi tròn trĩnh, núi Cô Sơn và một số núi đá vôi Mùa nước lớn những quả núi này trông như những hòn đảo nổi lên giữa biển cả mênh mông Trên quả núi này trước kia là khu rừng rậm rạp với nhiều loài gỗ quý (lim, sến, táu, trám, bùi…), nhiều loài thú quý hiếm (hổ, beo, hươu, nai, hoãng, lợn, chó, khỉ…) Qua thời gian quả núi đó đã biến thành đồi trọc Hiện nay khu đồi đó đang dần được khôi phục lại Đồng chiêm Vĩnh Thịnh vốn là vựa lúa nuôi sống người dân trong xã Ngoài ra còn có nhiều tôm, cua, tép, ốc, lươn, ếch…Nhiều loài ngon có tiếng như ốc nhồi, cá rô…Cùng với vùng đồng chiêm trũng các cánh đồng của Vĩnh Thịnh có thể thâm canh tăng vụ liên tục Ngoài hai vụ lúa chính còn có vụ đồng với rất nhiều lương thực, thực phẩm

Điều đặc biệt ở Vĩnh Thịnh là mỗi tên đất, tên làng, núi đồi, khe suối, kè đập, làng bản vẫn còn in đậm dấu vết của ngày xưa Mỗi tên đất, gò đồi, tên làng dường như chứa đựng một bí ẩn rất cổ xưa mà ta chưa hiểu biết được như Đồng Lừ, Kẻ Kem, Lỡ Mường, cây đa Quan Công, nhà Đá Chẹt…Đặc biệt khu Đồng Kem vẫn còn dấu vết của móng nhà xây gạch đá, ngói có vết tích vôi vữa và một số đò dùng bằng gốm từ ngày xưa Di tích lịch sử của Vĩnh Thịnh từ xa xưa còn lại đến ngày nay có mộ Bà Chúa Phủ Lăng, đền Thần Hoàng, bia Vân Chỉ…Nổi bật nhất là di tích chùa Hoa Long và đền thờ Trần Khát Chân Chùa Hoa Long là nơi thờ Phật Hoa văn bệ đá thờ ở chùa này có yếu tố Chăm Đền thờ Trần Khát Chân thờ vị tướng đã có công giết vua Chiêm Thành Chế Bồng Nga trong một trận chiến trên sông Hải Triều (sông Luộc) Để tưởng nhớ công lao đánh giặc giữ nước của ông, nhân dân trong vùng đã tôn ông thành Đức Thánh Lưỡng lập đền thờ ở chân núi Đún (xã Vĩnh Thành) Đây là đền thờ chính Và nhân dân Vĩnh Thịnh cũng lập đền thờ để tưởng nhớ công lao ông Những ngôi đền thờ nơi đây được xây dựng trong những thời gian khác nhau bằng một loại nguyên liệu đặc biệt với nghệ thuật kiến trúc độc đáo chạm trổ tinh vi Đền chùa gồm nhiều mái cong liên kết đầy vẻ nghệ thuật cổ kính, đậm nét dân tộc Bên trong đền thờ có nhiều bức tượng, ngựa thờ, kiệu rước, đồ thờ cổ được bày biện trang hoàng, uy nghi, linh thiêng

Như các địa phương khác ở Vĩnh Lộc, Vĩnh Thịnh nằm trong vùng khí hậu đồng bằng có nền nhiệt cao hơn trung bình của cả nước khoảng 0,50C Nhiệt độ giữa các mùa chênh lệch nhau rất nhiều Mùa nóng rất nóng mà mùa lạnh cũng rất

Trang 31

lạnh Lượng mưa trung bình hàng năm đạt khoảng 1500 – 1700 mm nhưng phân bố theo mùa Cũng như các vùng quê khác của xứ Thanh khắc nghiệt, mùa mưa Vĩnh Thịnh kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 với một lượng nước rất lớn có thể gây ra lũ lụt Mùa hè kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau có thể gây ra hạn hán Vĩnh Thịnh nói riêng Thanh Hoá nói chung không được thiên nhiên ưu đãi Độ ẩm không khí khoảng 80% và thay đổi theo mùa Gió mùa Đông Nam thổi vào mùa hè và mùa thu mang theo nhiều hơi nước gây mưa Gió mùa Đông Bắc thổi vào cuối thu đến cuối xuân mang theo không khí lạnh của phương Bắc và hơi nước ở biển gây mưa phùn Những năm có rét đậm rét hại kéo dài gây sương muối, sương giá ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, gia súc gia cầm và sản xuất Xen kẽ trong các đợt gió mùa

từ tháng 5 đến tháng 7 còn có gió Lào khô nóng Vĩnh Thịnh vừa xa sông lại có núi non bao bọc nên rất bất lợi cho tưới tiêu phục vụ sản xuất và tiêu dùng

Hiện nay đường giao thông Vĩnh Thịnh đã phát triển hơn rất nhiềi so với ngày xưa Con đường huyết mạch của xã là đường quốc lộ 217 từ Đò Lèn qua Lào Nhờ con đường hiện đại này mà người dân trong vùng và các xã lân cận có thể vào Nam ra Bắc đến mọi miền đất nước và cả sang nước bạn Lào Con đường thứ hai cũng rất quan trọng được nhà nước đầu tư và nguồn vốn ADB tài trợ, được mở rộng

đổ nhựa từ quốc lộ 217 tới trường học, trụ sở UBND xã vào khu kinh tế mới đi lên Thạch Thành Các hệ thống đường liên thông, ngõ xóm đã được bê tông hoá gần trăm phần trăm tạo điều kiện cho việc đi lại, sản xuất của nhân dân và làng mạc này càng khang trang sạch sẽ

1.2.2 Con người và truyền thống lịch sử

Theo kết quả của khảo cổ học thì địa bàn xã Vĩnh Thịnh là địa bàn cư trú của người dân Việt cổ xuất hiện cách ngày nay khoảng 7000 năm cùng chung niên đại với văn hoá Đa Bút, làng Còng (Vĩnh Hưng) Những chủ nhân của nền văn hoá Hoà Bình, Bắc Sơn rời hang động, mái đá ở vùng cao chuyển xuống vùng thấp dọc triền sông Mã Điểm dừng chân trong quá trình chinh phục vùng đồng bằng giàu sản vật này chính là địa bàn Vĩnh Lộc ngày nay Họ là chủ nhân của nền văn hoá Đa Bút (Vĩnh Tân), Núi Hến (Vĩnh Thịnh), Làng Còng (Vĩnh Hưng) Để phục vụ cho cuộc sống, người dân vùng này đã biết hái lượm, săn bắt Và dần dần đã biết chế tác nhiều công cụ thô sơ để phục vụ sản xuất Cuộc sống trung du đầy nắng và gió và

Trang 32

thỳ dữ, để chống trọi lại, cư dõn nơi đõy đó làm được những ngụi nhà sàn chắc chắn Với tinh thần cần cự, chăm chỉ, sỏng tạo, người dõn nơi đõy cựng với cỏc cư dõn khỏc trong huyện Vĩnh Lộc đó lập nờn nền văn minh lỳa nước bằng những cụng cụ

đồ đồng thụ sơ độc đỏo Cư dõn nơi đõy sống tập trung lại trong một làng (làng Đoài) và dần dần phỏt triển thờm cỏc làng khỏc (làng Trung, làng Xanh, làng Đụng)

Di chỉ khảo cổ học Đa Bỳt, Nỳi Hến, Làng Cũng đó cho thấy cư dõn ở đõy đó phỏt triển nghề Gốm để làm vật dụng hàng ngày Họ cũn đỳc được lưỡi cày bằng đồng

để cày ruộng, rỡu xoố để chặt đốn cõy

Là vựng đất cú nhiều dõn di cư đến nờn hiện nay Vĩnh Thịnh cú hàng chục dũng họ khỏc nhau chung sống Dự cú nhiều dũng họ nhưng Vĩnh Thịnh chỉ cú người Kinh sinh sống Họ luụn luụn đoàn kết, đựm bọc, yờu thương nhau Đặc biệt nơi đõy cú một thứ ngụn ngữ riờng độc đỏo Tiếng nói Vĩnh Thịnh líu lo nh- chim hót, đầy sắc thái gợi cảm, dễ thu hút hồn ng-ời Một điều đặc biệt d-ờng nh- chỉ thấy ở riêng Vĩnh Thịnh đó là ng-ời dân khi xa quê, chỉ cần gặp một ng-ời cùng quê mình là họ giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ, làm cho những ng-ời xung quanh ngơ ngác, ngạc nhiên và đầy thán phục Đó cú nhiều học giả về tỡm hiểu nguồn gốc tiếng núi ở đõy nhưng vẫn chưa đưa ra kết luận cuối cựng

Trải qua hàng ngàn năm xõy dựng và phỏt triển đất nước, con người Vĩnh Thịnh đó hun đỳc nờn truyền thống lao động, cần cự, sỏng tạo, tinh thần vượt khú vươn lờn Trong suốt quỏ trỡnh lao động sản xuất, ngoài cõy lỳa nước truyền thống, nhõn dõn trong xó đó chọn được nhiều giống cõy trồng thớch nghi với điều kiện tự nhiờn của địa phương Cú nhiều sản phẩm cõy trồng đó trở nờn nổi tiếng gắn liền với địa danh của địa phương như cõy thuốc lỏ, khoai xỏ đồng Nhầy, lỳa đồng Bầu…Ngành nghề riờng của Vĩnh Thịnh từ xưa đến nay chưa phỏt triển lắm Xó chưa cú làng nghề, chưa cú nghề truyền thống mà chỉ cú lỏc đỏc một số người biết nghề mộc, thợ xõy, gạch, nung vụi…chủ yếu phục vụ cho nhõn dõn địa phương

Vĩnh Thịnh cú nhiều sản vật nổi tiếng như lỳa, gạo, cam đường, chanh quả,

ốc nhồi, cỏ rụ, mắm tộp…Cỏc sản phẩm này thường được trao đổi buụn bỏn ở chợ làng xó và xó bờn cạnh Vĩnh Thịnh hiện nay cú chợ Hụm cũn gọi là chợ Kờnh xõy dựng ở quốc lộ 217 Nhờ vậy hàng hoỏ ở Vĩnh Thịnh được lưu thụng Chợ họp đụng đỳc từ 12 giờ trưa đến tối Chợ cú nhiều mặt hàng phong phỳ từ Bắc tới Nam

Trang 33

Hiện nay xung quanh chợ đã mọc lên nhiều nhà cao tầng, nhiều cửa hàng, cửa hiệu buôn bán đủ các loại mặt hàng, người qua kẻ lại buôn bán đông đúc Bước đầu đã hình thành dáng dấp một thị tứ trung tâm thương mại của xã

Cùng với một bề dày lịch sử, một điều kiện tự nhiên đa dạng, Vĩnh Thịnh

là một cồng đồng có truyền thống từ lâu đời Những truyền thống văn hoá làng quê vẫn được giữ lại trong nếp sống của người Vĩnh Thịnh dù cuộc sống đã ngày càng hiện đại Giếng nước, cổng làng, lễ hội dân gian…mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc

Như các làng quê khác của quê Thanh, Vĩnh Thịnh có một truyền thống hiếu học lâu đời Ngay từ thời xưa mới chỉ có một làng Phúc Thịnh qua các triều đại lịch

sử đã có 18 ông nghè Thời vua Bảo Đại có ông Nguyễn Cao Tiêu người làng Đông

đã đậu làm quan trong triều Huế Nhiều người đậu cử nhân, tú tài, trở thành ông thừa, ông phán, đốc học Hiện nay Vĩnh Thịnh có hàng trăm kỹ sư, bác sĩ, hàng chục nhà khoa học, tiến sĩ, thạc sĩ và các cán bộ cao cấp khác

Để giữ gìn và phát huy truyền thống hiếu học, Vĩnh Thịnh đã có trường học

từ rất sớm Hiện nay xã đã có ba cấp học: Mầm non, tiểu học và trung học cơ sở Cả

ba khu trường đã được xây dựng thành nhà cao tầng kiên cố, khang trang sạch đẹp

đủ phòng học cho hàng nghìn học sinh học một ca, đủ nơi làm việc sinh hoạt cho hàng trăm cán bộ, giáo viên, công nhân viên chức trong cả ba trường Chất lượng dạy và học hàng năm của trường đều đạt thành tích cao Có nhiều thầy cô giáo và học sinh đạt giỏi các cấp Hàng năm số học sinh đậu tốt nghiệp và đậu vào các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp ngày càng nhiều Đời sống văn hoá của nhân dân trong vùng không ngừng được cải thiện

Dù còn nhiều khó khăn và thử thách do thiên nhiên đầy biến động nhưng nhân dân Vĩnh Thịnh nói riêng và nhân dân Vĩnh Lộc nói chung đã và đang cố gắng góp phần mình xây dựng cho quê hương ngày càng giàu đẹp Con người Vĩnh Thịnh vẫn đang lạc quan sống gìn giữ truyền thống văn hoá dân tộc và bảo lưu những nét đặc trưng của làng quê mình Tiếng Vĩnh Thịnh giàu sắc thái biểu cảm cũng chính là một nét văn hoá đặc sắc góp phần khẳng định những giá trị truyền thống văn hoá lâu đời của vùng đất địa linh nhân kiệt này

Trang 34

1.2.3 Tiếng Vĩnh Thịnh trong cảm thức của người xứ Thanh

Tiếng Vĩnh Thịnh là một thổ ngữ thuộc phương ngữ Thanh Hóa Dù được các nhà ngôn ngữ học nhìn nhận khác nhau nhưng có thể xếp tiếng Thanh Hóa vào phương ngữ Trung Vì vậy tiếng Vĩnh Thịnh vừa mang đặc điểm của ngôn ngữ toàn dân vừa mang đặc điểm của phương ngữ Trung vừa mang đặc điểm của tiếng Thanh Hóa vừa có những nét riêng

Tiếng Thanh Hóa nói riêng, phương ngữ Trung nói chung thường được nhìn nhận là nặng Nhưng tiếng Vĩnh Thịnh lại không như vậy Người Vĩnh Thịnh nói rất nhanh đặc biệt là có xu hướng nói lướt nên người nghe nhận thấy giọng líu lo như chim hót Người các vùng khác trong tỉnh mới nghe thường không thể hiểu Mà có hiểu thì cũng không bắt chước được Có nhiều người còn thắc mắc liệu đây có phải

là người Kinh? Hoặc người Kinh sao không nói tiếng Kinh? Ngay cả người dân trong xã cũng thắc mắc không biết nguồn cội của mình như thế nào Vì thế đã có nhiều lần cán bộ trong xã đề nghị tìm hiểu nguồn gốc xem người làng mình thuộc dân tộc nào?

Dù ngôn ngữ rất đặc biệt, khác lạ và có thể bị nhại lại trêu chọc nhưng người Vĩnh Thịnh không bao giờ cảm thấy ngại ngùng xấu hổ khi nói tiếng nói của mình Trong nhà, trong làng và ngay cả trong học tập, người Vĩnh Thịnh vẫn dùng ngôn ngữ của mình để giao tiếp Khi đi xa, khi gặp gỡ người cùng làng mình là họ lại dùng tiếng nói của mình Dù chỉ có hai người với nhau, ngồi giữa đám đông những người không cùng thổ ngữ họ cũng không thấy ngại ngần khi dùng tiếng Vĩnh Thịnh để giao tiếp Đó là niềm tự hào và ý thức bảo vệ tiếng nói rất mạnh của người Vĩnh Thịnh Ngày nay dù quá trình giao lưu, hội nhập diễn ra mạnh nhưng người Vĩnh Thịnh vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng của mình Nhất là lời ăn, tiếng nói hàng ngày

Trang 35

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM TIẾNG VĨNH THỊNH

2.1 Hệ thống thanh điệu

2.1.1 Số lượng thanh điệu

Để nhận diện các thanh điệu thuộc hệ thống thanh điệu trong tiếng Vĩnh Thịnh, chúng tôi sử dụng phương pháp phân xuất âm vị trong bối cảnh đồng nhất Theo đó chúng ta sẽ tìm được các thanh điệu có thể có của thổ ngữ này

Qua bảng phân xuất trên ta thấy tiếng Vĩnh Thịnh có 5 thanh: thanh 1, thanh

2, thanh 4, thanh 5 và thanh 6 Như vậy số lượng thanh điệu tiếng Vĩnh Thịnh bằng

số lượng thanh điệu phương ngữ Thanh Hoá Thanh 3 trong thổ ngữ Vĩnh Thịnh chỉ được phân biệt trong viết, trong ý nghĩ nhưng trong phát ngôn thì không tồn tại

2.1.2 Miêu tả các thanh điệu

Cũng như tiếng Thanh Hoá, hệ thống thanh điệu Vĩnh Thịnh có 5 thanh Tuy nhiên chất lượng các thanh không giống với thanh điệu tiếng Việt tương ứng Miêu

tả thanh điệu tiếng Vĩnh Thịnh luận văn này dựa vào chương trình thực nghiệm để kiểm tra đo đạc và đưa ra kết luận Các thanh điệu của vùng thổ ngữ đặc sắc này có thể được miêu tả cụ thể như sau:

STT Bối cảnh ngữ âm đồng nhất Thanh vị

phân xuất

1

/tim1/ (tim) /tim5/ (tím)

1 - 5 /u 1 /(trâu) /u 5 /(trấu)

/ ta1 / (ta) / ta5 / (tá)

2

/o6 / (rộng) / o2

/ (rồng)

6 - 2 / fu6/ (phù) / fu2 / (phù)

/t6 /(giật) /n2/(trần)

3

/ ku2/ (cù) / ku4/ (củ)

2 - 4 / b2/ (bồng) / b4/ (bỏng)

/2 /(trẻ) /4

/(giẻ)

Trang 36

Thanh 1: Xuất phát ở cao độ hơi cao, đi lên đến cao độ cao, gần kết thúc âm

tiết lại đi xuống, kết thúc ở cao độ gần như xuất phát Đường nét của thanh là ban đầu lên, sau đó đi xuống Thanh này ứng với thanh ngang của ngôn ngữ toàn dân Tuy nhiên thanh ngang của ngôn ngữ chung tương đối bằng phẳng nhưng thanh 1 của tiếng Vĩnh Thịnh không như vậy Dù không thay đổi quá đột ngột nhưng thanh

này hầu như là đi lên cuối âm tiết lại đi xuống Ví dụ: kn 1 (con), de 1 (đê)…

Bảng 2.2.2.1 Diễn tiến tần số cơ bản Fo thanh 1 tiếng Vĩnh Thịnh

Thanh 2: Xuất phát ở cao độ cao, đi xuống đến cao độ trung bình, gần kết

thúc âm tiết lại đi xuống, kết thúc ở cao độ thấp hơn xuất phát Đường nét của thanh

là ban đầu xuống, sau đó đi lên.Thanh này ứng với thanh huyền của ngôn ngữ toàn dân Và hầu như không khác gì so với thanh huyền ngôn ngữ toàn dân cũng thoai

thoải đi xuống Ví dụ: vi 2 (vòi), ho 2 (hồ)…

Bảng 2.2.2.2 Diễn tiến tần số cơ bản Fo thanh 2 tiếng Vĩnh Thịnh

Trang 37

Thanh 4: Xuất phát ở cao độ cao, đi xuống âm vực thấp nhất rồi lại đi lên

kết thúc ở cao độ cao Đường nét của thanh đi xuống rồi đi lên Thanh này ứng với

thanh hỏi của ngôn ngữ toàn dân Ví dụ: ti4

(tỉnh), d4

(đỏ)…

Bảng 2.2.2.3 Diễn tiến tần số cơ bản Fo thanh 4 tiếng Vĩnh Thịnh

Thanh 5: Xuất phát ở cao độ hơi cao, đi xuống âm vực thấp, kết thúc bằng

tắc họng Đường nét của thanh là đi xuống Thanh này ứng với thanh sắc của ngôn

ngữ toàn dân Ví dụ: nak 5 (nước), m5 (sấm)…

Bảng 2.2.2.4 Diễn tiến tần số cơ bản Fo thanh 5 tiếng Vĩnh Thịnh

Thanh 6: Xuất phát ở cao độ cao, đi xuống, kết thúc ở cao độ trung bình

Đường nét của thanh là đi xuống Thanh này đi xuống thoai thoải không gấp khúc

Trang 38

đột ngột như trong tiếng Việt Nó phát âm gần giống thanh huyền của tiếng Việt Ví

dụ: d6

(động), dăp6 (đập)…

Bảng 2.2.2.5 Diễn tiến tần số cơ bản Fo thanh 6 tiếng Vĩnh Thịnh

Từ các bảng thanh điệu trên chúng tôi thiết lập bảng hệ thống thanh điệu tiếng Vĩnh Thịnh như sau:

Bảng 2.2.2.6 Diễn tiến tần số cơ bản Fo các thanh điệu tiếng Vĩnh Thịnh Như vậy hệ thống thanh điệu Vĩnh Thịnh có nhiều nét riêng biệt trong sự hiện thực hoá ngữ âm các thanh tạo nên sắc thái riêng của thổ ngữ này Các thanh điệu tiếng Vĩnh Thịnh nhìn chung đều cao và như chập vào nhau Chính vì vậy việc phân biệt và nhận ra các thanh điệu của thổ ngữ này rất khó

Theo thống kê của chúng tôi, sự tương ứng thanh điệu ít xảy ra ở những thanh điệu không cùng âm điệu (bằng - trắc) Sự tương ứng này xảy ra lẻ tẻ Thanh

Trang 39

huyền trong thổ ngữ Vĩnh Thịnh tương ứng với thanh nặng trong ngôn ngữ toàn dân

như nhuần - nhuận Thanh sắc trong thổ ngữ Vĩnh Thịnh tương ứng với thanh ngang trong ngôn ngữ toàn dân như nhá - nhai Thanh hỏi trong thổ ngữ Vĩnh Thịnh tương ứng với thanh huyền trong ngôn ngữ toàn dân như mẻo – mèo Sự

tương ứng này xảy ra ở những âm điệu giống nhau Biến âm thanh điệu chủ yếu xảy

ra ở cùng thanh điệu hoặc bằng hoặc trắc, cùng gãy hoặc không gãy

Số từ tương ứng ngữ âm, đối ứng thanh điệu giữa thanh ngang của thổ ngữ Vĩnh Thịnh với thanh huyền thuộc ngôn ngữ toàn dân chiếm số lượng lớn Gồm các

đơn vị như: ngay – ngày, vưng - vừng, đa – đá, vô – vào, eo – đèo, nhông - chồng,

đun – mù, khau - gầu, kha – gà, bưa - vừa…Nhưng số từ tương ứng ngữ âm, đối

ứng thanh điệu giữa thanh huyền của thổ ngữ Vĩnh Thịnh với thanh ngang thuộc ngôn ngữ toàn dân chiếm số lượng ít Chúng tôi chỉ tìm thấy ở đối ứng chò - chân,

trùn – giun Số từ tương ứng ngữ âm, đối ứng thanh điệu giữa thanh ngã và thanh

nặng cũng không nhiều như: đĩa - đọt, rạch – rãnh

Thanh nặng của tiếng Vĩnh Thịnh chỉ có tương ứng ngữ âm, đối ứng thanh

điệu với thanh sắc của ngôn ngữ toàn dân như: ngại – ngái, tạt – tát, nặn - nắn, vặn

- vắt, lạnh - lắng, ngạ - ngứa, nẹn – nén…Ngoài ra chúng tôi không tìm thấy sự

tương ứng ngữ âm, đối ứng thanh điệu của thanh nặng với với các thanh điệu khác

của ngôn ngữ toàn dân Ngược lại sự tương ứng ngữ âm, đối ứng thanh điệu của

thanh sắc với với các thanh điệu khác trong ngôn ngữ toàn dân gần như đầy đủ Có

đối ứng với thanh ngang (nhá - nhai), thanh hỏi (nhắt - nhảy), thanh ngã (rú - rẫy) Đặc biệt là có đối ứng lớn với thanh nặng của ngôn ngữ toàn dân như: cắt - gặt, sắt

- giặt, khót - gọt, cắm - gặm, khối - gội, rắc - sặc…

Sự tương ứng ngữ âm, đối ứng thanh điệu giữa thanh hỏi của thổ ngữ Vĩnh Thịnh với các thanh khác thuộc ngôn ngữ toàn dân cũng tương tự như thanh sắc Vĩnh Thịnh Nghĩa là sự đối ứng này xảy ra tương đối đồng đều ở tất cả các thanh

khác của ngôn ngữ toàn dân Đối ứng với thanh huyền (mẻo - mèo), đối ứng với

thanh nặng (lủn - lặn), đối ứng với thanh sắc (mẻm - mớm), đối ứng với thanh ngã

(cẩu – cũ, ngẩy – nghĩ, rẻn - rễ)

Như vậy sự tương ứng ngữ âm, đối ứng thanh điệu giữa từ địa phương Vĩnh Thịnh với từ toàn dân rất phong phú và đa dạng Nó diễn ra ở tất cả các thanh điệu

Trang 40

của tiếng Vĩnh Thịnh và một thanh điệu thuộc vùng thổ ngữ này có thể đối ứng với với nhiều thanh khác nhau của ngôn ngữ toàn dân Nhưng dường như sự đối ứng này chỉ tập trung chủ yếu vào thanh sắc, thanh nặng, thanh ngang thuộc thổ ngữ Vĩnh Thịnh là chính Đặc điểm này chúng tôi thấy cũng xảy ra ở vùng phương ngữ khác như phương ngữ Nghệ Tĩnh Phải chăng thổ ngữ Vĩnh Thịnh có quan hệ với phương ngữ Nghệ Tĩnh về mặt nguồn gốc Điều này chúng tôi cần có thời gian

nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn mới dám đưa ra kết luận

2.2 Hệ thống phụ âm đầu

2.2.1 Số lượng phụ âm đầu

Để nhận diện phụ âm đầu trong tiếng Vĩnh Thịnh, chúng tôi sử dụng phương pháp phân xuất âm vị trong cảnh đồng nhất Kết quả như sau:

STT Bối cảnh ngữ âm đồng nhất Âm vị

phân xuất

1 / ken

1 / (khen) / men1/ (men)

/k/ - /m/ / kit5/ (khít) / mit5 / (mít)

2

/ do1 / (đo) / po1 / (phô)

/ d / - / p / / don4/ (đổi) / pon4 / (phổi)

/ dan1/ (đan) / pan1/ (phan)

3

/ b2/ (bò) / kɔ2

/ (cò)

/ b/ - / k / / bɤj5/ (chửi) / kɤj5/ (cấy)

/ b4/ (bỏ) / kɔ4/ (cỏ)

4

/ lɛ5/ (lễ) / ŋɛ5

/ (ngé)

/ l / - / ŋ / / lin1/ (liên) / ŋin1

/ (nghiên) / lat6/ (nhạt) / ŋat6/ (ngạt)

5

/ ha2/ (hà) / na2/ (nà)

/ h / - / n / / ht5/ (hót) / nt5/ (nót)

/ (khét) / tam5/ (tám) / χam5

/ (khám)

Ngày đăng: 16/11/2014, 15:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Ái (1981), “Từ những thực tế phương ngữ, nhìn về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ, Nxb Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ những thực tế phương ngữ, nhìn về vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ
Tác giả: Nguyễn Văn Ái
Nhà XB: Nxb Khoa Học Xã Hội
Năm: 1981
2. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
3. Diệp Quang Ban (2006), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1,2, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1,2
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2006
4. Nguyễn Nhã Bản (2001), Bản sắc văn hoá của người nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hoá của người nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2001
5. Lê Biên (1996), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Năm: 1996
6. Hoàng Trọng Canh (2009), Từ địa phương nghệ Tĩnh về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hoá, Nxb Khoa học Xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ địa phương nghệ Tĩnh về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hoá
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2009
7. Nguyễn Tài Cẩn (1995), Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt ( Sơ thảo), Nxb Giáo Dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt ( Sơ thảo)
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1995
8. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng, ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo Dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng, ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1981
9. Đỗ Hữu Châu (1999), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
10. Đỗ Hữu Châu (2007), Đại cương ngôn ngữ học, tập 1,2, Nxb Giáo Dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập 1,2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2007
11. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
12. Nguyễn Thiện Chí (1981), “Từ địa phương và vấn đề chuẩn hoá ngôn ngữ trong nhà trường”, Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ, Nxb Khoa học Xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ địa phương và vấn đề chuẩn hoá ngôn ngữ trong nhà trường”, "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Chí
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1981
13. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1996), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo Dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1996
14. Nguyễn Thiện Giáp (2002), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
15. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình Ngôn Ngữ học. NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ngôn Ngữ học
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2008
16. Lê Bá Hán (2005), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
18. Phạm Văn Hảo (1979), Bàn về một số đặc điểm về việc thu thập và định nghĩa trong “ Tiếng Việt phổ thông”, tập 1, ngôn ngữ số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về một số đặc điểm về việc thu thập và định nghĩa trong “ Tiếng Việt phổ thông”
Tác giả: Phạm Văn Hảo
Năm: 1979
19. Phạm Văn Hảo (1982), Nhân kỷ niệm Nguyễn Đình Chiểu - bàn về vai trò văn hoá – xã hội của tiếng địa phương, Ngôn ngữ số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân kỷ niệm Nguyễn Đình Chiểu - bàn về vai trò văn hoá – xã hội của tiếng địa phương
Tác giả: Phạm Văn Hảo
Năm: 1982
20. Phạm Văn Hảo (1985), Về một số đặc trưng của tiếng Thanh Hoá, thổ ngữ chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc Bộ và Trung Bộ, Ngôn ngữ số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số đặc trưng của tiếng Thanh Hoá, thổ ngữ chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc Bộ và Trung Bộ
Tác giả: Phạm Văn Hảo
Năm: 1985
21. Phạm Văn Hảo (1988), “Về đặc trưng một số đường đồng ngữ trong các phương ngữ tiếng Việt”, Tiếng Việt và các phương ngữ Đông Nam Á, Nxb KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đặc trưng một số đường đồng ngữ trong các phương ngữ tiếng Việt”, "Tiếng Việt và các phương ngữ Đông Nam Á
Tác giả: Phạm Văn Hảo
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1988

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2.2.2.  Diễn tiến tần số cơ bản Fo  thanh 2 tiếng Vĩnh Thịnh - đặc điểm ngữ âm và từ vựng tiếng vĩnh thịnh - vĩnh lộc - thanh hóa
Bảng 2.2.2.2. Diễn tiến tần số cơ bản Fo thanh 2 tiếng Vĩnh Thịnh (Trang 36)
Bảng 2.2.2.1.  Diễn tiến tần số cơ bản Fo  thanh 1 tiếng Vĩnh Thịnh - đặc điểm ngữ âm và từ vựng tiếng vĩnh thịnh - vĩnh lộc - thanh hóa
Bảng 2.2.2.1. Diễn tiến tần số cơ bản Fo thanh 1 tiếng Vĩnh Thịnh (Trang 36)
Bảng 2.2.2.3.  Diễn tiến tần số cơ bản Fo  thanh 4 tiếng Vĩnh Thịnh - đặc điểm ngữ âm và từ vựng tiếng vĩnh thịnh - vĩnh lộc - thanh hóa
Bảng 2.2.2.3. Diễn tiến tần số cơ bản Fo thanh 4 tiếng Vĩnh Thịnh (Trang 37)
Bảng 2.2.2.4.  Diễn tiến tần số cơ bản Fo thanh 5 tiếng Vĩnh Thịnh - đặc điểm ngữ âm và từ vựng tiếng vĩnh thịnh - vĩnh lộc - thanh hóa
Bảng 2.2.2.4. Diễn tiến tần số cơ bản Fo thanh 5 tiếng Vĩnh Thịnh (Trang 37)
Bảng 2.2.2.5.  Diễn tiến tần số cơ bản Fo  thanh 6 tiếng Vĩnh Thịnh - đặc điểm ngữ âm và từ vựng tiếng vĩnh thịnh - vĩnh lộc - thanh hóa
Bảng 2.2.2.5. Diễn tiến tần số cơ bản Fo thanh 6 tiếng Vĩnh Thịnh (Trang 38)
Bảng 2.2.2.6.  Diễn tiến tần số cơ bản Fo các thanh điệu tiếng Vĩnh Thịnh  Như  vậy  hệ  thống  thanh  điệu  Vĩnh  Thịnh  có  nhiều  nét  riêng  biệt  trong  sự  hiện thực hoá ngữ âm các thanh tạo nên sắc thái riêng của thổ ngữ này - đặc điểm ngữ âm và từ vựng tiếng vĩnh thịnh - vĩnh lộc - thanh hóa
Bảng 2.2.2.6. Diễn tiến tần số cơ bản Fo các thanh điệu tiếng Vĩnh Thịnh Như vậy hệ thống thanh điệu Vĩnh Thịnh có nhiều nét riêng biệt trong sự hiện thực hoá ngữ âm các thanh tạo nên sắc thái riêng của thổ ngữ này (Trang 38)
Bảng 2.3.2:  Hệ thống phụ âm đầu tiếng Vĩnh Thịnh. - đặc điểm ngữ âm và từ vựng tiếng vĩnh thịnh - vĩnh lộc - thanh hóa
Bảng 2.3.2 Hệ thống phụ âm đầu tiếng Vĩnh Thịnh (Trang 45)
Bảng 2.3.1.1:  Kết hợp âm chính + âm cuối trong tiếng Vĩnh Thịnh  Thao tác 2: Kết hợp âm đệm + (âm chớnh -  âm cuối) - đặc điểm ngữ âm và từ vựng tiếng vĩnh thịnh - vĩnh lộc - thanh hóa
Bảng 2.3.1.1 Kết hợp âm chính + âm cuối trong tiếng Vĩnh Thịnh Thao tác 2: Kết hợp âm đệm + (âm chớnh - âm cuối) (Trang 49)
Bảng 2.3.1.2: Âm đệm /w/ kết hợp với (âm chính + âm cuối) - đặc điểm ngữ âm và từ vựng tiếng vĩnh thịnh - vĩnh lộc - thanh hóa
Bảng 2.3.1.2 Âm đệm /w/ kết hợp với (âm chính + âm cuối) (Trang 53)
Sơ đồ 2: Các nguyên âm đơn của tiếng Vĩnh Thịnh - đặc điểm ngữ âm và từ vựng tiếng vĩnh thịnh - vĩnh lộc - thanh hóa
Sơ đồ 2 Các nguyên âm đơn của tiếng Vĩnh Thịnh (Trang 57)
Bảng 3.1: Các kiểu loại từ địa phương phân theo cấu tạo - đặc điểm ngữ âm và từ vựng tiếng vĩnh thịnh - vĩnh lộc - thanh hóa
Bảng 3.1 Các kiểu loại từ địa phương phân theo cấu tạo (Trang 68)
Bảng 3.3.2: Từ ngữ chỉ định tiếng Vĩnh Thịnh trong tương quan so sánh với từ ngữ  nghi vấn tiếng Việt - đặc điểm ngữ âm và từ vựng tiếng vĩnh thịnh - vĩnh lộc - thanh hóa
Bảng 3.3.2 Từ ngữ chỉ định tiếng Vĩnh Thịnh trong tương quan so sánh với từ ngữ nghi vấn tiếng Việt (Trang 102)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w