Lúc này giá trị của vật không chỉ biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của một vật mà còn biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của nhiều hàng hoá khác Ví dụ: 1 con gà = 10 kg thóc / 1 cái
Trang 1PHÂN TÍCH CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆ VÀ LẠM PHÁT
Ý NGHĨA NGHIÊN CỨUNhóm 3 – Lớp ISB01
- Trần Kim Dự
- Võ Hồng Mai
- Nguyễn Thị Kim Oanh
- Ngô Thùy Trang
- Nguyễn Hồng Sơn
Trang 2Mục lục
Trang 3Nguồn gốc và bản chất tiền tệ
I Nguồn gốc xuất hiện:
Theo Mác, tiền tệ xuất hiện sau một quá trình phát triển lâu dài của trao đổi và các hình thái giátrị Quá trình phát triển của các hình thái giá trị để đi đến hình thái giá trị diễn ra như sau:
Hình thái trao đổi đơn giản hay ngẫu nhiên:
1 tấm bò = 2 cái rìuHình thái giá trị tương đối vật ngang giá chungGiá trị của bò được biểu hiện ở rìu, còn rìu là cái được dùng làm phương tiện để biểu hiện giá trịcủa bò Hàng hoá (bò) mà giá trị của nó được biểu hiện ở một hàng hoá khác (rìu) thì gọi là hìnhthái giá trị tương đối Còn hàng hoá rìu mà giá trị sử dụng của nó biểu hiện giá trị của hàng hoákhác (bò) gọi là hình thái vật ngang giá chung
Hình thái giá trị toàn bộ hay mở rộng xuất hiện sau lần phân công lao động lần thứ nhất
- bộ lạc du mục tách rời khỏi toàn bộ lạc đòi hỏi có sự trao đổi bằng nhiều hàng hoá khác nhưngvẫn trực tiếp Lúc này giá trị của vật không chỉ biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của một vật
mà còn biểu hiện thông qua giá trị sử dụng của nhiều hàng hoá khác
Ví dụ: 1 con gà = 10 kg thóc / 1 cái rìu/1 m vải / 0,1 chỉ vàng (chưa cố định)
Hình thái giá trị chung khi sự phân công lao động lần thứ 2, thủ công nghiệp tách rời
khỏi nông nghiệp Sản xuất hàng hóa phát triển thì hình thức trao đổi trực tiếp bộc lộ nhữngnhược điểm của nó , đòi hỏi phải có một loại hàng hoá đặc biệt giữ vai trò vật ngang giá chungcủa quá trình trao đổi
Ví dụ: 10 kg thóc
2 con gà = 1 m vải (vật ngang giá nhưng chưa cố định)
0,1 chỉ vàng
Hình thái tiền tệ khi vật ngang giá chung cố định ở một thứ hàng hoá, đó là kim loại
(kẽm, đồng, sắt, bạc, vàng.) chỉ đến lúc này thì hình thái tiền tệ mới được xác lập và vàng với tưcách là vật ngang giá chung và đã trở thành tiền tệ, gọi là kim tệ Vì vậy, vàng – tiền tệ được coi
Trang 4 Vàng – tiền tệ được coi là một hàng hoá đặc biệt.
Khái niệm:
Khái niệm cũ: Tiền tệ là một hàng hóa đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung để đogiá trị của các hàng hóa khác.Tiền có thể thoã mãn được một số nhu cầu của người sở hữu nótương ứng với số lượng giá trị mà người đó tích luỹ được
Khái niệm mới: Tiền là tất cả những phương tiện có thể làm trung gian trao đổi đượcnhiều người thừa nhận
Tiền là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong thanh toán để đối lấy hàng hoá, dịch vụhoặc trả các khoản nợ
- Giá trị: đo lường hao phí lao động kết
tinh trong hàng hoá thông qua giá cả
- Giá trị sử dụng: nhằm thoả mãn một
nhu cầu nào đó của con người
- Giá trị: là thước đo đo lường giá trịcủa những hàng hoá khác
- Giá trị sử dụng: nhằm thoả mãn tất cảcác nhu cầu của con người khi sở hữumột khối lượng tiền tệ nhất định
Trang 5Chức năng của tiền tệ
Khái niệm 1: Các nhà kinh tế học cho rằng tiền tệ có 3 chức năng gồm: phương tiện trao đổi,đơn vị tính toán, dự trữ giá trị
Khái niệm 2: Theo Mác khi vàng đựơc sử dụng làm tiền tệ thì tiền tệ gồm có 5 chức năng:thước đo giá trị, phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán, phương tiện cất trữ, phươngtiện cất trữ và tiền tệ thế giới
i Thước đo giá trị:
Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hóa Khi thực hiện chức năng này thì:
Giá trị của tiền được coi là chuẩn mực (1 bên là tiền, 1 bên là hàng) Điểm chú ý ở đây làtiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng Để đo lường giá trị hang hóa không cầnthiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó trong ý tưởng
Tiền là thước đo hao phí lao động xã hội kết tinh trong một hàng hoá nào đó, đây là tỉ lệnhất định giữa giá trị vàng và giá trị của hàng hóa trong thực tế Giá trị hàng hóa được biểu hiệnbằng tiền gọi là giá cả hàng hóa Nói cách khác, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giátrị hàng hóa
VD: 1 m vải gồm có đối tượng lao động (bỏ ra 1 giờ hay 2 hoặc người khác 3 giờ) và công cụlao động (máy dệt, kim khâu, kéo )
Các điều kiện để thực hiện các chức năng này:
Tiền phải có đầy đủ giá giá trị (giá trị danh nghĩa và giá trị nội tại mà Nhà nước thừanhận nó là tiền)
Tiền có tiêu chuẩn giá cả (là một hàm lượng vàng được luật Nhà nước ấn định cho tiềnđơn vị và tên gọi của nó.)
Vì vậy trên thế giới mỗi quốc gia có 1 thước đo giá trị riêng và nó dựa trên cơ sở:
Năng suất lao động
Trình độ phát triển của nền kinh tế
ii Phương tiện lưu thông
- Với chức năng phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá Nó vậnđộng đồng thời và ngược chiều với sự vận động của hàng hóa Như vậy, lưu thông hàng hóa làhình thức trao đổi hàng hóa lấy tiền làm môi giới
- Khi thực hiện chức năng phương tiện lưu thông, tiền phải đáp ứng các điều kiện sau:
Trang 6 Phải sử dụng tiền mặt, đang có giá trị lưu hành với kích thước, hình dáng, và tiêuchuẩn về giá cả nhất định, được pháp luật nhà nước thừa nhận Nguyên nhân là vìtiền mặt được coi như “bằng chứng” cho sự chuyển quyền sở hữu khi mua và bán.
Có thể sử dụng tiền đầy đủ giá trị như tiền vàng hoặc tiền dấu hiệu như tiền giấy
Lưu thông chỉ chấp nhận một số lượng tiền nhất định theo quy luật lưu thông tiền tệ
- Hình thái trao đổi này trở thành phương tiện và động lực thúc đẩy nền kinh tế tăngtrưởng nhanh chóng, buôn bán trở nên dễ dàng, sản xuất thuận lợi Khi mức dộ tiền tệ hóa ngàycàng cao thì hoạt động giao lưu kinh tế càng được diễn ra thuận lợi, trôi chảy
- Công thức của lưu thông hàng hoá là H - T – H
H-T: Hành vi bán: chuyển hóa giá trị hàng hóa thành tiền
T-H: Hành vi mua:
- Hai giai đoạn trên được thực hiện độc lập với nhau: kết thúc giai đoạn bán mới thực hiệngiai đoạn mua Ở đây có sự tách rời giữa hành vi mua và hành vi bán cả về không gian và thờigian (mua chỗ này và bán chỗ khác; mua lúc này và bán lúc khác) Chính sự tách rời này có thểdẫn đến hiện tượng mất cân bằng cung – cầu về một số loại hàng hóa theo thời gian và khônggian; là mầm mống cho khủng hoảng kinh tế
- Để thực hiện chức năng lưu thông, lúc đầu người ta dùng vàng thoi hoặc bạc nén nhưngkhó khăn khi chia nhỏ, nên dần dần được thay bằng tiền đúc Tuy nhiên, viêc lưu thông tiền đúclàm cho tiền đúc bị hao mòn dần và không còn đầy đủ giá trị ban đầu (giá trị thực) Tuy nhiên,
nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đủ giá trị (giá trị danh nghĩa)
- Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời với giá trị danh nghĩa của nó Tuy nhiên, vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ mang chức năng trung gian và chỉ đóng vai trò trong chốc lát nêngiá trị thực của tiền không nhất thiết phải bằng giá trị danh nghĩa của nó
- Thực tiễn đó dẫn đến sự ra đời của tiền giấy vì bản thân tiền giấy không có giá trị (giá trịthực) mà chỉ là dấu hiệu của giá trị (giá trị danh nghĩa) và được công nhận trong phạm vi quốcgia Nhưng vì tiền giấy bản thân không có giá trị mà chỉ là kí hiệu của tiền vàng nên nên Nhànước không thể in bao nhiêu tiền giấy cũng được mà phải tuân theo quy luật lưu thông tiền giấy:
“Việc phát hành tiền giấy phải được giới hạn trong số lượng vàng hay bạc do tiền giấy đó tượngtrưng, lẽ ra phải lưu thông thực sự” Khi khối lượng tiền giấy phát hành và lưu thông vượt quákhối lượng tiền cần lưu thông thì giá trị tiền tệ sẽ bị giảm xuống, lạm phát sẽ xuất hiện
- Muốn tiền thực hiện tốt chức năng phương tiện lưu thông đòi hỏi:
Hệ thống tiền tệ của một quốc gia phải có sức mua ổn định
Trang 7 Số lượng tiền tệ phải đủ liều lượng đáp ứng nhu cầu trao đổi trong mọi hoạt độngkinh tế
Hệ thống tiền tệ phải có đủ các loại tiền, đáp ứng kịp thời, nhanh chóng nhu cầu giaodịch của dân chúng
iii Phương tiện cất trữ
- Dự trữ giá trị là là tích luỹ một lượng giá trị nào đó bằng những phương tiện chuyển tàigiá trị được xã hội thừa nhận, với mục đích để chuyển hoá thành hàng hóa hoặc dịch vụ trongtương lai
- Tiền thực hiện chức năng cất trữ khi tiền rút khỏi lưu thông và tạm thời tồn tại dưới dạnggiá trị lưu trữ Vì tiền là đại diện dưới hình thức giá trị cho của cải trong xã hội, nên cất trữ tiền
là một hình thức cất trữ của cải
- Mục đích của dự trữ hay cất trữ tiền là khi không có nhu cầu hay điều kiện để chi tiêutiền; cất giữ sức mua, dự phòng cho các rủi ro, tình huống trong tương lai; tiết kiệm; hoặc là đểlại của cải
- Các phương tiện chuyển tải giá trị phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Giá trị dự trữ phải được thể hiện bằng những phương tiện hiện thực (số lượng cũthể, cân, đo, đong, đếm được) chứ không phải bằng một lượng tiền “tươngđương”
Giá trị dự trữ bằng những phương tiện được xã hội thừa nhận
- Giá trị dự trữ mang tính chất thời gian (sử dụng các loại dấu hiệu giá trị khi dự trữ trongtương lai gần; sử dụng tiền vàng hay ngoại tệ tự do chuyển đổi vững giá khi dự trữ trong tươnglai xa)
- Dự trữ giá trị mang mục đích dự trữ không ấn định thời gian sử dụng thì được gọi là cấttrữ Chức năng này đòi hỏi tiền tệ phải đủ giá trị vì dụ như tiền vàng, bạc, tiền tệ rút khỏi lưuthông và chỉ tung vào lưu thông khi cần thiết Tiền cất trữ được đưa vào lưu thông khi sản xuấttăng, lượng hàng hóa nhiều Một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ khi sản xuấtgiảm, lượng hàng hóa ít
- Khi tiền tệ chưa xuất hiện, người ta thường thực hiện cất trữ của cải dưới hình thái hiệnvật Tuy nhiên, hình thái này không tiện lợi vì nó đòi hỏi phải có chỗ rộng rãi, phải tốn nhiều chiphí bảo quản, dễ hư hỏng, khó lưu thông và it sinh lời
Trang 8- Khi tiền tệ xuất hiện, người ta dần dần thay thế cất trữ của cải dưới dạng tiền tệ Hìnhthái này có nhiều ưu điểm, điểm nổi bật là dễ lưu thông và thanh khoản Tuy nhiên, cất trữ dướihình thái tiền tệ có nhược điểm là có thể dễ mất giá khi nền kinh tế có lạm phát.
- Ngoài ra, việc cất trữ giá trị có thể thực hiện bằng các phương tiện khác ngoài tiền như
cổ phiếu, trái phiếu, đất đai, nhà cửa … Một số loại tài sản như vậy đem lại mức lãi suất cao hơncho người giữ hoặc giảm thiểu rủi ro biến động giá so với tiền mặt Tuy nhiên người ta vẫn giữtiền với mục đích dự trữ giá trị bởi vì tiền có thể chuyển đổi một cách nhanh chóng ra các tài sảnkhác, còn các tài sản khác nhiều khi đòi hỏi một chi phí giao dịch cao khi người ta muốn chuyểnđổi nó sang tiền
- Việc thực hiện chức năng phương tiện dự trữ giá trị của tiền tốt đến đâu tuỳ thuộc vào sự
ổn định của mức giá chung, do giá trị của tiền được xác định theo khối lượng hàng hoá mà nó cóthể đổi được Khi mức giá tăng lên, giá trị của tiền sẽ giảm đi và ngược lại Sự mất giá nhanh
chóng của tiền sẽ làm cho người ta ít muốn giữ nó, điều này thường xảy ra khi lạm phát cao Do
vậy, để tiền tệ thực hiện được chức năng phương tiện cất trữ đòi hỏi hệ thống tiền tệ quốc giaphải đảm bảo được sức mua
iv Phương tiện thanh toán
Quá trình lưu thông hàng hóa phát triển, ngoài quan hệ hàng hóa-tiền tệ, còn phát sinhnhững nhu cầu vay mượn, thuế khóa, nộp địa tô…bằng tiền Trong những trường hợp này, tiền
tệ chấp nhận chức năng thanh toán
Thanh toán bằng tiền mặt là phương thức thanh toán đơn giản và tiện dụng nhất được sửdụng để mua bán hàng hoá một cách dễ dàng Tuy nhiên, nó chỉ phù hợp với nền kinh tế có quy
mô sản xuất nhỏ, sản xuất chưa phát triển, việc trao đổi thanh toán hàng hoá diễn ra với sốlượng nhỏ, trong phạm vi hẹp Vì vậy, khi nền kinh tế ngày một phát triển với tốc độ cao cả vềchất lượng và số lượng thì việc thanh toán bằng tiền mặt không còn đủ khả năng đáp ứng đượcnhững nhu cầu thanh toán của toàn bộ nền kinh tế Việc thanh toán bằng tiền mặt đã bộc lộ một
số hạn chế nhất định Trước hết là việc thanh toán bằng tiền mặt có độ an toàn không cao Vớikhối lượng hàng hóa, dịch vụ giao dịch lớn thì việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt sẽ không
an toàn, thuận tiện cho cả người chi trả và người thụ hưởng Thứ hai là Ngân hàng Nhà nướcphải bỏ ra chi phí rất lớn để in ấn vận chuyển và bảo quản tiền mặt Ngoài ra, một hạn chế quantrọng của việc thanh toán bằng tiền mặt nữa là thanh toán bằng tiền mặt làm giảm khả năng tạotiền của NHTM
Trang 9 Khi trình độ trao đổi hàng hoá phát triển đến một mức nào đó tất yếu sẽ nảy sinh việcmua bán chịu Trong hình thức giao dịch này, trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị đểđịnh giá cả hàng hoá Nhưng là vì mua bán chịu nên đến kì hạn tiền mới được đưa vào lưu thông
để làm phương tiện thanh toán Sự phát triển của quan hệ mua bán này một mặt tạo khả năng trả
nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt Trong quá trình phát triển,ngày càng xuất hiện nhiều hơn các hình thức thanh toán mới không cần tiền mặt (tiền vàng, bạc,
…) như: kí sổ, séc, chuyển khoản, thẻ điện từ,… Một số phương thức thanh toán không dùngtiền mặt chưa thuận tiện
Thẻ thanh toán giao dịch qua máy ATM
Tuy số lượng thẻ, máy ATM, máy POS do các ngân hàng thương mại (NHTM) pháthành, lắp đặt ngày càng nhưng tác dụng giảm khối lượng tiền mặt vào lưu thông còn rất khiêmtốn Theo thống kê, khoảng 80% giao dịch qua ATM là để rút tiền mặt
Theo người dân phản ánh, việc thanh toán tiền mua hàng, trả phí dịch vụ qua máy POScòn rất hạn chế vì không có đủ máy quét cho nhiều loại thẻ của nhiều ngân hàng Để trả tiềnmua hàng, khách hàng phải rút tiền mặt từ máy ATM lắp đặt tại các cửa hàng, siêu thị
Séc:
Ở nước ta, thanh toán bằng séc đã ra đời từ những năm 1960 nhưng đến nay, phươngtiện thanh toán này ngày càng giảm Mặc dù thanh toán bằng séc có nhiều thuận lợi và nhanhchóng trong giao dịch mua bán, người mua hàng ký séc đưa cho người bán và người bán chỉ cầncầm séc và CMND ra ngân hàng là có thể nhận được tiền hoặc chuyển vào tài khoản nhưng hiệnnay, tỷ lệ thanh toán bằng séc mới chiếm khoảng 2% trong tổng thanh toán phi tiền mặt
Nguyên nhân thanh toán bằng séc bị hạn chế là do chưa có quy định bắt buộc về hạnmức phải thanh toán bằng séc mà hiện chỉ “động viên” dùng séc và một nguyên nhân khác là sự
lo ngại của người bán hàng sợ tài khoản của người mua không còn tiền, séc giả, dễ dẫn đến rủi
ro Việc thanh toán séc cũng gặp không ít phiền phức nếu khách mua và khách bán không có tàikhoản ở cùng một ngân hàng, buộc các NHTM phải thông qua hệ thống thanh toán bù trừ củaNHNN nhưng hiện tại, NHNN chưa có Trung tâm thanh toán bù trừ séc
v Chức năng tiền tệ thể giới
Tiền tệ thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền tệ thực hiện bốn chức năng thước đogiá trị, phương tiện trao đổi, phương tiện thanh toán, phương tiện tích lũy ở phạm vi ngoài quốcgia, nói cách khác là đồng tiền của một nước thực hiện chức năng tiền tệ thế giới khi tiền củaquốc gia đó được nhiều nước trên thế giới tin dùng và sử dụng như chính đồng tiền của nước họ
Trang 10- Một số đơn vị tiền tệ được giao dịch nhiều nhất trên thế giới:
1 USD ( Đô la Mỹ )
Đồng đô la Mỹ là đơn vị đồng tiền thống trị nhất hiện nay, bất chấp suy giảm và bất
ổn của mình trong thời gian qua Trong thực tế, tất cả các loại tiền tệ được đo bằngcách sử dụng đồng đô la Mỹ như là tiêu chuẩn Khoảng 90 % các giao dịch trên toànthế giới liên quan đến đồng đô la Mỹ
Hiện nay đồng đô Mỹ vẫn là hình thức dự trữ hàng đầu trên thế giới
3 Yen Nhật
Đồng yên Nhật Bản có vị trí thứ ba trong số các loại tiền tệ được giao dịch nhiềunhất Khoảng 20 % của các giao dịch hàng ngày trên thị trường ngoại hối liên quanđến việc đồng yên Nhật Bản
Đồng Yên là viết tắt của "vòng tròn" trong tiếng Nhật
Đồng yên đã chính thức được thông qua bởi chính phủ Minh Trị của Nhật Bản trongđạo luật ký ngày 10/5/1871
Trang 11II Phân chia theo khái niệm kinh tế học:
1 Chức năng phương tiện trao đổi
Là một phương tiện trao đổi, tiền tệ được sử dụng như một vật môi giới trung gian trong việc trao đổi các hàng hoá, dịch vụ Đây là chức năng đầu tiên của tiền tệ, nó phản ánh lý do tại sao tiền tệ lại xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá
Trong nền kinh tế trao đổi trực tiếp, người ta phải tiến hành đồng thời hai dịch vụ bán và mua với một người khác Điều đó là đơn giản trong trường hợp chỉ có ít người tham gia trao đổi, nhưng trong điều kiện nền kinh tế phát triển, các chi phí để tìm kiếm như vậy quá cao Vì vậy người ta cần sử dụng tiền làm môi giới trong quá trình này, tức là người ta trước hết sẽ đổi hàng hoá của mình lấy tiền sau đó dùng tiền mua thứ hàng hoá mình cần Rõ ràng việc thực hiện lần lượt các giao dịch bán và mua với hai người sẽ dễ dàng hơn nhiều so với việc thưc hiện đồng thời hai giao dịch đối với cùng một người
Để thực hiện chức năng phương tiện trao đổi tiền phải có những tiêu chuẩn nhất định:
- Được chấp nhận rộng rãi: nó phải được con người chấp nhận rộng rãi trong lưu thông, bởi
vì chỉ khi mọi người cùng chấp nhận nó thì người có hàng hoá mới đồng ý đổi hàng hóa của mình lấy tiền;
- Dễ nhận biết: con người phải nhận biết nó dễ dàng;
- Có thể chia nhỏ được: để tạo thuận lợi cho việc đổi chác giữa các hàng hoá có giá trị khác nhau;
- Dễ vận chuyển: tiền tệ phải đủ gọn nhẹ để dễ dàng trong việc trao đổi hàng hoá ở khoảng cách xa;
- Không bị hư hỏng một cách nhanh chóng;
- Được tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng: để số lượng của nó đủ dùng trong trao đổi;
- Có tính đồng nhất: các đồng tiền có cùng mệnh giá phải có sức mua ngang nhau
2 Chức năng đơn vị đánh giá
Chức năng thứ hai của tiền là một đơn vị đánh giá, tức là tiền tệ được sử dụng làm đơn vị để
đo giá trị của các hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế Qua việc thực hiện chức năng này, giá trị của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện ra bằng tiền, như việc đo khối kượng bằng kg, đo độ dài bằng m…nhờ đó mà việc trao đổi hàng hoá được diễn ra thuận lợi hơn
Nếu giá trị hàng hoá không có đơn vị đo chung là tiền, mỗi hàng hoá sẽ được định giá bằng tất cả các hàng hoá còn lại, và như vậy số lượng giá các mặt hàng trong nền kinh tế ngày nay sẽ nhiều đến mức người ta không còn thời gian cho việc tiêu dùng hàng hoá, do phần lớn thời gian
Trang 12đã dàng cho việc đọc giá hàng hoá Khi giá của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện bằng tiền, không những thuận tiện cho người bán hàng hóa mà việc đọc bảng giá cũng đơn giản hơn rất nhiều với chi phí thời gian ít hơn sử dụng cho các giao dịch
Là một đơn vị đánh giá, nó tạo cơ sở thuận lợi cho việc sử dụng tiền làm phương tiện trao đổi, nhưng cũng chính trong quá trình trao đổi sử dụng tiền làm trung gian, các tỉ lệ trao đổi được hình thành theo tập quán - tức là ngay từ khi mới ra đời, việc sử dụng tiền làm phương tiện trao đổi đã dẫn tới việc dùng tiền làm đơn vị đánh giá Đầu tiên những phương tiện được
sử dụng làm tiền để biểu hiện giá trị hàng hoá cũng có giá trị như các hàng hoá khác Cơ sở cho việc tiền biểu hiện giá trị các hàng hoá khác chính là tiền cũng có giá trị sử dụng như các hàng hoá khác (Theo phân tích của Marx về sự phát triển của các hình thái biểu hiện giá trị hàng hoá: giá trị hàng hoá được biểu hiện ở giá trị sử dụng của hàng hoá đóng vai trò vật ngang giá, vật ngang giá chung) Vì vậy trong thời đại ngày nay, mặc dù các phương tiện được
sử dụng là tiền không còn có giá trị như các hàng hoá khác nhưng nó được mọi người chấp nhận trong lưu thông (có giá trị sử dụng đặc biệt), do đó vẫn được sử dụng để đánh giá giá trị các hàng hoá Trong bất kể nền kinh tế tiền tệ nào việc sử dụng tiền làm đơn vị đo lường giá trị đều mang tính chất trừu tượng, vừa có tính pháp lý, vừa có tính quy ước
3 Chức năng phương tiện dự trữ giá trị
Là một phương tiện dự trữ giá trị, tiền tệ là nơi cất giữ sức mua qua thời gian Khi người ta nhận được thu nhập mà chưa muốn tiêu nó hoặc chưa có điều kiện để chi tiêu ngay, tiền là một phương tiện để cho việc cất giữ sức mua trong những trường hợp này hoặc có thể người ta giữ tiền chỉ đơn thuần là việc để lại của cải
Việc cất giữ như vậy có thể thực hiện bằng nhiều phương tiện ngoài tiền như: Cổ phiếu, trái phiếu, đất đai, nhà cửa…, một số loại tài sản như vậy đem lại một mức lãi cao hơn cho người giữ hoặc có thể chống đỡ lại sự tăng cao về giá so với việc giữ tiền mặt Tuy nhiên người ta vẫn giữ tiền với mục đích dự trữ giá trị bởi vì tiền có thể chuyển đổi một cách nhanh chóng ra các tài sản khác, còn các tài sản khác nhiều khi đòi hỏi một chi phí giao dịch cao khi người ta muốn chuyển đổi nó sang tiền Những điều đó cho thấy, tiền là một phương tiện dự trữ giá trị bên cạnh các loại tài sản khác
Việc thực hiện chức năng phương tiện dự trữ giá trị của tiền tốt đến đâu tuỳ thuộc vào sự ổn định của mức giá chung, do giá trị của tiền được xác định theo khối lượng hàng hoá mà nó có thể đổi được Khi mức giá tăng lên, giá trị của tiền sẽ giảm đi và ngược lại Sự mất giá nhanh
Trang 13chóng của tiền sẽ làm cho người ta ít muốn giữ nó, điều này thường xảy ra khi lạm phát cao Vì vậy để tiền thực hiện tốt chức năng này, đòi hỏi sức mua của tiền phải ổn định
III Ý nghĩa nghiên cứu
Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay, để tăng khả năngcạnh tranh bình đẳng trong môi trường tự do hóa thương mại đời hỏi toàn bộ quá trình sản xuất
và tái sản xuất phải gắn chặt với thị trường Trong quá trình phát triển của nền sản xuất hànghóa thông qua trao đổi mua bán (bằng tiền) thì việc phát hành tiền phải tuân thủ quy luật lưuthông tiền tệ
Ngoài ra trong cách điều hành chính sách tiền tệ thời kỳ đổi mới đến nay ở nước ta nảysinh và tồn tại 1 vấn đề luôn luôn nhức nhối đó là lạm phát Nghiên cứu bản chất và chức năngcủa tiền tệ giúp ta hiểu về lạm phát cũng như tìm ra phương thức kiềm chế và chống lạm phát ởViệt Nam, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, đưa nền kinh tế quay trở lại guồng tăng trưởng