BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI ------ BÙI THỊ SỬU NGHIÊN CỨU ðẶC ðIỂM GÂY HẠI CỦA SÂU NĂN Orseolia oryzae Wood - Mason TRÊN CÂY LÚA VỤ MÙA NĂM 2011 TẠI HUYỆN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
BÙI THỊ SỬU
NGHIÊN CỨU ðẶC ðIỂM GÂY HẠI CỦA SÂU NĂN
(Orseolia oryzae Wood - Mason) TRÊN CÂY LÚA VỤ MÙA
NĂM 2011 TẠI HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan!
Bản luận văn tốt nghiệp này ñược hoàn thành bằng sự nhận thức chính xác của bản thân
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, chưa ñược sử dụng và công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Bùi Thị Sửu
Trang 3Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh ựạo Viện đào tạo sau ựại học, các thầy cô giáo Bộ môn Côn trùng, Khoa Nông học, Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội ựã giúp ựỡ và tạo mọi ựiều kiện thuận lợi ựể tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng QLKH&QHQT, Ban Chủ nhiệm Khoa Nông - Lâm, Trường đại học Tây Bắc ựã giúp ựỡ và tạo mọi ựiều kiện thuận lợi ựể tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Tôi xin chân thành cảm ơn các ựồng nghiệp Bộ môn Nông nghiệp, các sinh viên thực tập tốt nghiệp Lớp 49 đH Nông học, Khoa Nông Ờ Lâm, Trường đại học Tây Bắc ựã cộng tác, giúp ựỡ tôi trong suốt thời gian học tập
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả luận văn
Bùi Thị Sửu
Trang 42.1.1 ðặc ñiểm hình thái và sinh học của sâu năn Orseolia Oryzae
2.2.2 Kí chủ và triệu chứng gây hại của sâu năn Orseolia Oryzae
2.2.4 Những nghiên cứu về ngưỡng kinh tế của sâu năn Orseolia
Trang 52.2.1 ðặc ñiểm sinh thái và sự gây hại của sâu năn 23
3.1 ðối tượng, thời gian, ñịa ñiểm, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu 28
4.1 Quá trình di chuyển của ấu trùng từ khi mới nở ñến khi ñục vào
4.2 Sự thay ñổi hình thái bên ngoài và giải phẫu bên trong của cây
4.3 Sự thay ñổi kích thước “ống hành” tương ứng với các giai ñoạn
phát dục của sâu năn Orseolia oryzae Wood - Mason 48
4.4 Ảnh hưởng của sâu năn ñến chiều cao cây lúa non 50
4.6 Diễn biến tỷ lệ hại của sâu năn ngoài ñồng ruộng 61
4.7 Ảnh hưởng của sâu năn ñến sự sinh trưởng, phát triển của cây lúa 66
Trang 6DANH MỤC BẢNG
2.1 Tổn thất năng suất ước tính do sâu năn gây ra tại Ấn ðộ
2.2 Danh sách kẻ thù tự nhiên của sâu năn Orseolia oryzae
4.1 Chiều cao “ống hành” tương ứng với từng giai ñoạn phát dục của
4.2 Ảnh hưởng của sâu năn Orseolia oryzae Wood - Mason ñến
4.3 Thời gian phát dục của từng pha sâu năn Orseolia oryzae Wood -
4.6 Tỷ lệ ñực cái của sâu năn Orseolia oryzae Wood - Mason 61
4.7 Diễn biến tỷ lệ dảnh lúa (trên lúa cấy) bị sâu năn gây hại trên các
4.8 Diễn biến tỷ lệ dảnh lúa (trên lúa sạ) bị sâu năn gây hại trên các
4.9 Ảnh hưởng sự gây hại của sâu năn ñến các yếu tố cấu thành
Trang 7DANH MỤC HÌNH
2.1 Ảnh chụp các pha phát triển của sâu năn (Charles T Williams,
2.2 Các giai ñoạn trước trưởng thành của sâu năn Orseolia oryzae
Wood – Mason (Fernando H.E., NaLini Perera,1968) [25] 7
2.3 Các giai ñoạn trong quá trình hình thành ống hành (Fernando
3.1 Gieo mạ trong các khay ñể bẫy nguồn sâu năn ngoài ñồng ruộng
3.2 Dụng cụ ñể thu bắt trưởng thành sâu năn ngay khi chúng vũ hoá 30
3.6 Ống thí nghiệm cho trưởng thành sâu năn ñẻ trứng 32
3.8 Trứng sâu năn ñược chuyển lên vị trí ngã ba (giao nhau của bẹ lá,
3.10 Dụng cụ gieo hạt tạo nguồn cây lúa 15 ngày tuổi trong thí
3.9 Dụng cụ ñể trưởng thành cái ñẻ trứng lên cây lúa 15 ngày tuổi 35
3.10 Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của sâu năn ñến sự sinh
4.1 Quá trình ấu trùng di chuyển ñến ñỉnh sinh trưởng (80x) 40
4.3 Giải phẫu bên trong cây lúa theo chiều dọc (80x) 42
Trang 84.4 Hình thái bên ngoài cây lúa khi ấu trùng sâu năn tuổi 2, tuổi 3 43
4.5 Giải phẫu bên trong cây lúa theo chiều dọc (80x) 44
4.6 Thiết diện theo chiều dọc của “ống hành” sơ khởi (100x) 44
4.7 Hình thái bên ngoài cây lúa bị nhiễm sâu năn giai ñoạn tuổi 3 ñẫy
4.9 Giải phẫu bên trong cây lúa theo chiều dọc (80x) 46
4.10 ðỉnh sinh trưởng của cây lúa khoẻ mạnh (a1, a2) (80x) ðỉnh sinh
trưởng của cây lúa bị sâu năn gây hại (b1, b2) (80x) 47
4.11 Sự thay ñổi chiều cao “ống hành” tương ứng với từng giai ñoạn
phát dục của sâu năn Orseolia oryzae Wood - Mason 49
4.12 Lá ñọt của cây lúa khoẻ mạnh (cây 1,2); Lá ñọt biến dạng hình
thành “ống hành” ở những cây lúa bị nhiễm sâu năn (cây 3, 4, 5,
4.14 Sâu năn ảnh hưởng ñến chiều cao cây lúa (ngoài ñồng ruộng) 53
4.16 Trưởng thành sâu năn Orseolia oryzae Wood – Mason (80x) 56
4.17 Bộ phận sinh dục của trưởng thành sâu năn Orseolia oryzae
4.18 Trứng của sâu năn Orseolia oryzae Wood – Mason (80x) 57
4.19 Ấu trùng tuổi 1 của sâu năn Orseolia oryzae Wood – Mason
4.20 Ấu trùng tuổi 2 của sâu năn Orseolia oryzae Wood – Mason
4.21 Ấu trùng tuổi 3 của sâu năn Orseolia oryzae Wood – Mason
Trang 94.22 Giai ñoạn tiền nhộng của sâu năn Orseolia oryzae Wood –
4.23 Giai ñoạn nhộng của sâu năn Orseolia oryzae Wood – Mason
4.24 Diễn biến tỷ lệ dảnh lúa (trên lúa cấy) bị sâu năn gây hại trên các
4.25 Diễn biến tỷ lệ dảnh lúa (trên lúa sạ) bị sâu năn gây hại trên các
4.26 Diễn biến tỷ lệ dảnh lúa Nếp 87 bị sâu năn gây hại trong vụ mùa
4.27 Diễn biến tỷ lệ dảnh lúa Nhị ưu 63 bị sâu năn gây hại trong vụ
Trang 101 MỞ đẦU
1.1 Tắnh cấp thiết của ựề tài
Lúa là một trong ba loại cây lương thực quan trọng trên thế giới và là cây lương thực chủ yếu ở Việt Nam Cây lúa ựóng góp một phần quan trọng trong nền kinh tế quốc dân phục vụ cho xuất khẩu và ựảm bảo an ninh lương thực cho cả nước (Nguyễn Thiện Giao và CS, 2006) [3] Năng suất và sản lượng lúa trong những năm qua tuy tăng nhờ áp dụng thâm canh và tiến bộ kĩ thuật vào sản xuất, nhưng lại không ổn ựịnh do sự phá hại của sâu bệnh đặc biệt, cùng với việc thâm canh tăng vụ ựã làm cho những loài dich hại thứ yếu trở thành chủ yếu
Trên thế giới, sâu năn là một loài dịch hại lúa ở miền nam, ựông nam châu Á và châu Phi Những thiệt hại nghiêm trọng cho các vụ lúa của sâu năn
(Oseolia oryzae Wood - Mason) ựã ựược báo cáo trước năm 1960 Vấn ựề sâu
năn ựã trở thành rộng lớn sau sự ra ựời và trồng rộng rãi các giống lúa lùn và giống cây trồng cho năng suất cao Hiện nay, chúng là một dịch hại chắnh ở một số nước châu Á như Bangladesh, Trung Quốc, Campuchia, Ấn độ, Indonesia, Lào, Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan, và một số nước châu Phi gồm Benin, Burkina Faso, Cameroon, Chad, Gambia, Ghana, Guinea, Guinea Bissau, Malawi, Mali, Niger, Nigeria, Senegal, Sierra Leone, Sudan, Tanzania, Togo, Uganda
Ở Việt Nam, trước ựây sâu năn gây hại nặng ở vùng Bình Trị Thiên, Quảng Nam, đà Nẵng và một số tỉnh ở miền bắc Năm 1983, sâu năn ựược ghi nhận xuất hiện ở Long An, Tiền Giang, Hậu Giang Năm 1984 sâu năn phát sinh thành dịch ở Gò Công đông, Mỹ Xuyên, Long Phú (Hậu Giang) (Nguyễn Văn Huỳnh, Lê Thị Sen, 2003) [6] Các tỉnh miền Trung như Thanh Hóa, Nghệ An năm 2008 xuất hiện sâu năn hại lúa trên diện rộng, năng suất ước ựạt 10- 15kg/sào, nhiều hộ ựã gặt bỏ diện tắch lúa, mặc dù chưa ựến kỳ
Trang 11thu hoạch ñể trồng vụ ñông Gần ñây, tại ñồng bằng sông Cửu Long, sâu năn xuất hiện và gây hại nặng vào vụ hè thu trong năm; Các tỉnh miền núi phía bắc như ðiện Biên, Sơn La thường bị sâu năn gây hại nặng lúa vụ mùa Nhiều ñịa phương mất trắng diện tích, tiến hành gặt lúa về cho trâu, bò ăn Loài này phát triển mạnh trong ñiều kiện thời tiết tương ñối ẩm, có mưa và trời ít nắng Khi sâu non xâm nhập vào ñỉnh sinh trưởng làm gốc dảnh lúa tròn và to lên Sở dĩ, sâu năn thường gây hại nặng vì người dân chưa nhận biết ñược loài dịch hại này hoặc phát hiện khi cây lúa xuất hiện ống tròn tương tự như lá hành có màu xanh nhạt thì ñã quá muộn Khi bị hại như vậy cây lúa ñã không có khả năng cho bông Trước tình hình ñó, dưới sự hướng dẫn của
GS.TS Nguyễn Văn ðĩnh chúng tôi tiến hành thực hiện ñề tài: “Nghiên cứu
ñặc ñiểm gây hại của sâu năn Orseolia oryzae Wood - Mason trên cây lúa
vụ mùa năm 2011 tại Thuận Châu, Sơn La”
1.2 Mục ñích và yêu cầu
1.2.1 Mục ñích
Nắm ñược sự biến ñổi về hình thái bên ngoài và giải phẫu bên trong cây cây lúa non khi bị sâu năn gây hại ñể làm cơ sở phát hiện cây bị hại ở giai ñoạn sớm góp phần phòng trừ kịp thời, loại thải những cây lúa non ñã bị nhiễm sâu năn và xác ñịnh ñược mức ñộ gây hại của sâu năn gây hại trên lúa
vụ mùa năm 2011 tại Thuận Châu, Sơn La
Ghi chú: Tại ñịa bàn Thuận Châu, Sơn La, người dân áp dụng 2 biện pháp canh tác: lúa cấy và lúa sạ trên lúa mùa Do ñó, chúng tôi sử dụng thuật ngữ
“cây lúa non” ñể chỉ cây lúa ở giai ñoạn từ sau khi gieo ñến 40 ngày sau gieo
1.2.2 Yêu cầu
− Mô tả quá trình di chuyển của ấu trùng từ khi mới nở ñến khi chúng ñục vào ñỉnh sinh trưởng của cây lúa non
Trang 12− Mô tả sự thay ñổi hình thái bên ngoài và giải phẫu bên trong của cây lúa non khi bị nhiễm sâu năn;
− Nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học của sâu năn hại lúa tại nhà lưới trường ðại học Tây Bắc;
− Xác ñịnh mức ñộ gây hại của sâu năn hại lúa vụ mùa 2011 tại Thuận Châu, Sơn La
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của ñề tài cung cấp cho khoa học những dẫn liệu về
quá trình di chuyển của ấu trùng sâu năn Orseolia Oryzae Wood - Mason từ
khi mới nở ñến khi chúng ñục vào ñỉnh sinh trưởng của cây lúa non; sự thay ñổi hình thái bên ngoài và giải phẫu bên trong của cây lúa non khi bị nhiễm
sâu năn và một số ñặc ñiểm sinh học của sâu năn O Oryzae làm cơ sở ñể xây
dựng biện pháp quản lý chúng có hiệu quả, bảo vệ năng suất lúa và môi trường
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu về quá trình di chuyển của ấu
trùng sâu năn Orseolia Oryzae Wood - Mason từ khi mới nở ñến khi chúng
ñục vào ñỉnh sinh trưởng của cây lúa non; sự thay ñổi hình thái bên ngoài, giải phẫu bên trong của cây lúa non khi bị nhiễm sâu năn sẽ là cơ sở ñể phát hiện sớm những cây bị hại ñể có biện pháp xử trí kịp thời Mặt khác kết quả
nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học, diễn biến tỷ lệ hại của sâu năn O
Oryzae sẽ là nguồn cơ sở khoa học ñể dự tính dự báo sự xuất hiện và phát
triển của sâu trên lúa và xây dựng biện pháp phòng chống chúng một cách hợp lý
Trang 132 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Những nghiên cứu sâu năn hại lúa ở nước ngoài
Sâu năn Orseolia Oryzae và Orseolia Oryzivora là các loài dịch hại rất
quan trọng trên lúa ở châu Á và châu Phi Sâu năn (GM) lần ựầu tiên ựược báo cáo như là một loài dịch hại thứ yếu trên lúa ở huyện Monghyr của bang Bihar, Ấn độ, bởi Riley (1881) Sau ựó loài dịch hại này ựược xác ựịnh là
Cecidomyia oryzae Wood - Mason bởi Cotes (1889) Felt (1921) ựổi tên loài
côn trùng này là Pachydiplosis oryzae Sau ựó, Gagne (1973) gọi nó là
Orseolia oryzae Loài côn trùng có liên quan ựược biết ựến tồn tại ở Châu
Phi, loài côn trùng này ựược phát hiện là dịch hại mới trên lúa bởi Harris và
Gagne (1982) và chúng ựược ựặt tên là Orseolia oryzivora (Krishnaiah, 2004
ở một số nước châu Phi gồm Benin, Burkina Faso, Cameroon, Chad, Côte d'Ivoire, Gambia, Ghana, Guinea, Guinea Bissau, Malawi, Mali, Niger, Nigeria, Senegal, Sierra Leone, Sudan, Tanzania, Togo, Uganda và Zambia (Krishnaiah 2004)[32]
Tầm quan trọng kinh tế của sâu năn ựã thu hút sự chú ý của khoa học nông nghiệp và loài côn trùng này trở thành ựối tượng nghiên cứu chuyên sâu trong bốn thập kỷ qua đã có hơn 600 công trình nghiên cứu về sâu năn ựể
Trang 14xác ñịnh 5-6 lĩnh vực nghiên cứu ñược quan tâm thúc ñẩy chủ yếu bởi nhu cầu giảm thiểu thiệt hại năng suất của nông dân (Krishnaiah 2004)[32]
2.1.1 ðặc ñiểm hình thái và sinh học của Sâu năn Orseolia Oryzae Wood – Mason
Vòng ñời của sâu năn Orseolia oryzae Wood – Mason trải qua các pha
phát triển như trứng, ấu trùng tuổi 1, ấu trùng tuổi 2, ấu trùng tuổi 3, nhộng và trưởng thành (Rajamani et al 2004)[42], (Defoer et al 2009) [21], (Charles T Williams 2002) [17]
ðặc ñiểm ñặc trưng của các ấu trùng tuổi 1 là một cặp lỗ thở mở trong ñốt bụng thứ tám và một ñốm màu nâu ở vùng ñầu Trong ấu trùng tuổi 2, ñặc trưng bởi ñốm phân chia thành hai hình dấu phẩy Các ấu trùng tuổi 3 có chín cặp lỗ thở và một thìa xương ức hình vương miện Có thể phân biệt ñực cái ở giai ñoạn trưởng thành Con ñực dài khoảng 3 mm, với một cơ thể màu nâu vàng, trong khi con cái dài 4mm phần bụng màu ñỏ tươi Râu của con ñực có
23 phân ñoạn, trong khi râu của con cái chỉ có 13 phân ñoạn Tỷ lệ ñực - cái thường 01:03 Trong những tháng nhất ñịnh tỷ lệ này là 01:06, trong khi vào mùa ñông tỷ lệ này là 1:0,5 (Rajamani et al, 2004) [42]
Theo Charles T Williams (2002) [17], trưởng thành của sâu năn có màu
ñỏ nâu và kích thước bằng muỗi nhỏ Trứng ñược phân tán trên lá và bẹ lá, có kích thước khoảng 0,5 mm Trứng nở sau 2 – 5 ngày Ấu trùng ăn và phát triển khoảng 10 – 20 ngày Ấu trùng ñẫy sức dài khoảng 5mm Nhộng không
ăn, có màu nâu tối giai ñoạn nhộng khoảng 3 – 5 ngày Trưởng thành ñực và cái giao phối sau vũ hoá một vài giờ Mỗi con cái có thể ñẻ 100 – 400 quả trứng trong ngày hôm sau hoặc ngày thứ hai và chúng chỉ có thể sống khoảng
3 ngày Ở ñiều kịên nhiệt ñộ thường tại vùng Tây Phi, vòng ñời của sâu năn khoảng 3 – 4 tuần
Vòng ñời của sâu năn Orseolia oryzae Wood – Mason khoảng 5 tuần
Trưởng thành cái ñẻ trứng sau vũ hoá 1-2 ngày, giai ñoạn trứng khoảng 2
Trang 15tuần, ấu trùng khoảng 2 tuần, giai ñoạn nhộng kéo dài 1 tuần (Defoer et al,
2009) [21]
Hình 2.1: Ảnh chụp các pha phát triển của sâu năn
(Charles T Williams, 2002) [17]
1: Trưởng thành; 2: Trứng; 3: Ấu trùng; 4: Nhộng Theo Fernando H.E., NaLini Perera (1968) [25], vòng ñời của sâu năn
Orseolia oryzae Wood – Mason trải qua các pha phát triển như trứng, ấu
trùng tuổi 1, ấu trùngtuổi 2, ấu trùng tuổi 3, giai ñoạn tiền nhộng, nhộng và trưởng thành Các giai ñoạn ấu trùng, giai ñoạn tiền nhộng và giai ñoạn nhộng ñược mô tả như sau:
+ Ấu trùng tuổi 1: chiều dài và chiều rộng tối ña tương ứng 0,55 mm
và 0,13 mm Phần ñầu có một ñôi râu và miệng hình nón, lớp biểu bì phần miệng cấu tạo bằng chất kitin Cơ thể hình thoi, 13 ñốt, lớp da trong suốt không màu Giai ñoạn này khoảng 3 – 4 ngày
+ Ấu trùng tuổi 2: chiều dài và chiều rộng tối ña tương ứng 1,5 mm và 0,4 mm ðầu của chúng tương tự như giai ñoạn tuổi 1 Cơ thể 13 ñốt, tròn cả
Trang 16hai ñầu ðốt thứ 13 có 3 cặp gai rất ngắn ở mỗi bên Giai ñoạn này khoảng 3 –
Hình 2.2: Các giai ñoạn trước trưởng thành của sâu năn Orseolia oryzae
Wood – Mason (Fernando H.E., NaLini Perera,1968) [25]
1: Ấu trùng tuổi 1 2: Ấu trùng tuổi 2
3 : Ấu trùng tuổi 3
4 : Nhộng
Trang 17+ Tiền nhộng: tương tự như giai ñoạn cuối của sâu non tuổi 3, nhưng phần ñầu tròn, mở rộng và chứa ñầy chất lỏng mờ và ñốm mắt hình quả thận
ở chiều ngang mặt lưng Giai ñoạn này khoảng 24 h
+ Nhộng: Nhộng ñực dài 3,2 mm và rộng 0.8 mm; nhộng cái dài 3,6
mm và rộng 0,9 mm Chúng chuyển ñộng tự do trong ống hành; khu vực chẩm thuộc phần ñầu có hai cái sừng lớn với rất nhiều gai kitin Giai ñoạn này khoảng 6 – 7 ngày
Các ñặc ñiểm sinh vật học của sâu năn ñã ñược nghiên cứu rộng rãi bởi nhiều người (Panda và Mohanty 1970, Perera và Fernando năm 1970, Hidaka
và cộng sự năm 1974, Kalode et al 1977) Con ñực trưởng thành thường xuất hiện trước ñó trong ngày (18h - 20h) sớm hơn con cái (20h – 24h) Giao phối diễn ra ngay sau khi trưởng thành vũ hóa Một con ñực có thể giao phối với 2
- 4 con cái, con cái chỉ giao phối một lần Một con cái ñã giao phối bắt ñầu ñẻ trứng vào ngày hôm sau Một con cái ñẻ trung bình 125 quả trứng Nếu con cái không ñược giao phối vẫn ñẻ trứng, nhưng trứng không nở Con cái sống khoảng 48-78 h, trong khi con ñực tồn tại cho 23h - 30h (Rajamani et al, 2004
dẫn) [42]
Kết quả nghiên cứu của Omoloye A.A., Odebiyi J.A [37] trên Orseolia
oryzivora Harris and Gagné (Diptera: Cecidomyiidae) cho thấy , trứng ñược
ñẻ thành chuỗi và số lượng rất ña dạng từ 2 – 4 hoặc hơn Ấu trùng tuổi 1 dài 0,53; rộng 0,13; ñặc trưng bởi ñiểm nhỏ màu tối dễ thấy ở ñỉnh ñầu của cơ thể vào ngày thứ 2 và một mảnh màu ñỏ cam từ ñốt thứ 6 ñến ñốt thứ 9 của hai bên cơ thể Ấu trùng tuổi 2 dài 1,54; rộng 0,48 Ấu trùng tuổi 3 dài 2,62; rộng 0,82 Ngày ñầu tiên nhộng có màu trắng sau mất dần màu trắng và dễ vỡ; trở nên rám nắng theo thời gian Có thể phân chia giới tính của nhộng vào ngày thứ 4 của giai ñoạn này thông qua cơ quan sinh sản và kích thước cơ thể Trưởng thành ñực bay vòng quanh tích cực hơn; tuổi thọ tương ñối ngắn hơn con cái (1 – 3 ngày) Trưởng thành cái giao phối một lần, trong ống trứng
Trang 18toàn trứng, trứng sẵn sàng xuất hiện cho sự thụ tinh; tuổi thọ trung bình 2 ngày; Trưởng thành không giao phối có tuổi thọ dài hơn, ñến 6 ngày
Kết quả nghiên cứu của Rajamani et al (2004)[42], cho biết vòng ñời
của sâu năn Orseolia oryzae Wood – Mason thay ñổi theo nhiệt ñộ Dưới
nhiệt ñộ bình thường (24 – 350C) và ñộ ẩm 85 – 90%, vòng ñời của sâu năn khoảng 19 - 23 ngày Trong ñó, giai ñoạn trứng khoảng 3-4 ngày, ấu trùng tuổi 1 khoảng 3 - 4 ngày, ấu trùng tuổi 2 khoảng 3 - 4 ngày, ấu trùng tuổi 3 khoảng 6 - 7 ngày, và giai ñoạn nhộng 4 - 5 ngày Vào mùa ñông (nhiệt ñộ
16 - 320C; ñộ ẩm tương ñối 85 - 90%) vòng ñời sâu năn ñược hoàn thành trong 25 - 34 ngày Thời gian phát dục của từng pha: giai ñoạn trứng khoảng 5 - 6 ngày, ấu trùng tuổi 1 khoảng 7 - 8 ngày, ấu trùng tuổi 2 khoảng 2 - 3 ngày, ấu trùngtuổi 3 khoảng 6-8 ngày, và giai ñoạn nhộng 5 -
8 ngày Dưới nhiệt ñộ 250C, ñộ ẩm tương ñối 85 – 90% chúng hoàn thành vòng ñời trong 23 ngày Trong ñó, giai ñoạn trứng khoảng 3 ngày, ấu trùng tuổi 1 khoảng 3 - 4 ngày, ấu trùng tuổi 2 khoảng 3 - 4 ngày, ấu trùng tuổi 3 khoảng 6 - 7 ngày, và giai ñoạn nhộng 4 - 5 ngày
Jagadeesha et al (2009)[28], ñã tiến hành nghiên cứu ñặc ñiểm sinh học
của sâu năn Orseolia Oryzae Wood-Mason ở miền nam Kanataka, Ấn ðộ
Kết quả cho thấy, dưới ñiều kiện thường ngoài ñồng ruộng, nhiệt ñộ 28 - 300C
và ñộ ẩm tương ñối 90 – 92% ở Mangalore, loài dịch hại này hoàn thành vòng ñời của chúng trong khoảng 20 ± 3.75 ngày Trong ñó, trứng, ấu trùng, nhộng, trưởng thành và tuổi thọ của trưởng thành tương ứng 2.84 ± 0.68, 9.75
± 2.02, 4.75 ± 0.92 và 2.5 ± 0.60 ngày Tuy nhiên, trong ñiều kiện nhiệt ñộ 32 – 340C, ñộ ẩm tương ñối 100% trong phòng thí nghiệm Mangalore, loài côn trùng này hoàn thành vòng ñời của nó trong 15,5 ± 3,0 ngày với trứng, ấu trùng, giai ñoạn nhộng và tuổi thọ của trưởng thành tương ứng 2,25 ± 0,75,
8,37 ± 1,37, 3,25 ± 0,75 và 2,0 ± 0,5 ngày
Trang 19Ở Ấn ðộ, kết quả nghiên cứu của Fernando, NaLini (1968) [25] cho biết giai ñoạn ấu trùng tuổi 1 khoảng 3 – 4 ngày, giai ñoạn ấu trùng tuổi 2 khoảng
3 - 4 ngày, giai ñoạn ấu trùng tuổi 3 khoảng 6 - 7 ngày, giai ñoạn tiền nhộng khoảng 24 h, giai ñoạn nhộng khoảng 6 - 7 ngày
Nghiên cứu về quá trình di chuyển của sâu non sâu năn Pachydiplosis
oryzae Wood - Mason ñến ñỉnh sinh trưởng cây lúa cho thấy, trứng bắt ñầu nở
vào lúc hoàng hôn, khoảng 72 giờ sau khi trứng ñược ñẻ Các ấu trùng tuổi 1
nở trên lá và bẹ lá, sau ñó ñược di chuyển ñến ñỉnh sinh trưởng bằng việc di chuyển vào mô cây, hoặc là bằng cách bất thường, liên tiếp thu hẹp con ñường xoáy ốc giữa các bẹ lá liên tiếp hoặc chuyển ñộng theo ñường thẳng phía dưới bẹ lá của lá mà chúng nở sau ñó theo ñường vòng tròn ở chân các
bẹ lá ñể ñến ñỉnh sinh trưởng Hầu hết ấu trùng di chuyển ñến ñỉnh sinh trưởng của thân chính, chỉ một số ít di chuyển ñến ñỉnh sinh trưởng của các nhánh hình thành từ nách lá Chúng chỉ gây hại các nhánh hình thành từ nách
lá khi có một số lượng lớn trứng nở trên cùng một cây lúa Ấu trùng di chuyển ñến ñỉnh sinh trưởng của cây lúa 2 tuần tuổi trong khoảng thời gian 6
- 12 giờ sau nở ðộ ẩm tương ñối cao, ñủ ñể gây ra sự ngưng tụ trên bề mặt lá
là ñiều kiện cần thiết cho sự chuyển ñộng của ấu trùng Trong ñiều kiện ẩm
ñộ thấp làm bề mặt cơ thể ấu trùng khô, cứng và chết Chưa bao giờ quan sát thấy ấu trùng tuổi 1 ñục vào bẹ lá hoặc mô thuộc mô phân sinh Chúng ăn tại ñỉnh sinh trưởng, trong khoảng cấu trúc ñó và mầm lá sơ khai non nhất, cơ thể chúng nằm thẳng ñứng và ñầu hướng xuống dưới (Fernando, NaLini , 1968) [25]
2.2.2 Kí chủ và triệu chứng gây hại của sâu năn Orseolia Oryzae
Wood-Mason
Một số loài côn trùng thuộc họ Cecidomyiidae có tương tác phức tạp
với cây trồng Chi Orseolia ñược ñại diện ở vùng Nam và ñông Nam Á sử
dụng thực vật thuộc họ hoà thảo Gramineae làm thức ăn có tương tác ñặc biệt
Trang 20này Thức ăn của chúng là các loài cỏ dại phát triển trong và xung quanh cánh
ñồng lúa Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy O oryzae có thể phát
triển, hoàn thành vòng ñời của chúng trên hai loài cỏ Echinochloa crus-galli (Sain 1988) and Leersia hexandra (Natarajan et al 1989) Tương tự như vậy,
cỏ dại Echinochloa crus-galli cũng ñược báo cáo là kí chủ của O oryzae (Rajamani et al) và O oryzivora (Singh et al) Mặt khác, nhiều loài lúa (oryzae) cũng ñược báo cáo là kí chủ của O oryzae (Rajamani et al) và O
oryzivora (Singh et al) Các báo cáo này ñều dựa trên triệu chứng xuất hiện
của các u sưng trên cây và sự xuất hiện của trưởng thành (Bentur, 2004 dẫn)[14]
Các nghiên cứu ñược tiến hành tại tổng cục nghiên cứu lúa (Directorate
of Rice Research), Hyderabad cho thấy 3 loài cỏ dại Paspaladium geminatum,
P Flavidium và Cynodon dactylon có u sưng rõ ràng Trưởng thành vũ hoá từ
các u sưng trên các loài cỏ này ñược Viện Liên bang Côn trùng
(Commonwealth Institute of Entomology) xác ñịnh là Orseolia sp.1 và
Orseolia sp 2 Tuy nhiên, trưởng thành vũ hoá từ Paspaladium geminatum,
Cynodon dactylon khi nhiễm trên lúa thì lại không thấy xuất hiện u sưng
Trong số 24 loài cỏ dại ñược thử nghiệm trong nhà kính chỉ thấy Echinochloa
crus-galli, Leersia hexandra, Ischaemum rugosum và wild rice Oryza nivara
xuất hiện u sưng và có sự tồn tại của sâu năn (Kalode, Sain, 2004)[29]
Theo Rajamani et al (2004) [42] các loài cỏ dại (Leersia hexandra và
Echinochloa crus-Galli) và các giống lúa hoang (Oryza nivara, O barthii, và
O rufipogon) là các cây kí chủ phụ của sâu năn Orseolia oryzae
Wood-Mason
Theo Amudhan et al (1999)[12] sâu năn Orseolia oryzae Wood-Mason
là dịch hại nghiêm trọng trên lúa ở một số quốc gia trồng lúa của Châu Á, trong ñó bao gồm Ấn ðộ Sau khi trứng nở, ấu trùng bò xuống giữa các lớp
bẹ lá ñể tiếp cận với mô phân sinh ñỉnh, nơi mà chúng sử dụng làm thức ăn
Trang 21Quá trình ăn của ấu trùng là nguyên nhân dẫn ñến sự biến ñổi của bẹ lá hình thành một vỏ bọc hình ống gọi là chồi bạc (silver shoot) ðây là triệu chứng khác biệt giữa chồi bị sâu năn gây hại và chồi không bị hại Khi sâu năn hoá nhộng, chồi bạc ñược kéo dài và một lỗ nhỏ ñược khoan cho phép sự xuất hiện của trưởng thành
Nghiên cứu về sự hình thành “ống hành” (gall) và quan sát ñặc ñiểm sinh thái các giai ñoạn chưa trưởng thành cho thấy, sự xuất hiện các hành ñộng của ấu trùng tuổi 1 tại ñỉnh sinh trưởng kích thích sự hình thành
“ống hành” (gall) và ngăn cản sự phát triển tại ñỉnh sinh trưởng Bình thường
lá sơ khởi bao khít chặt ñỉnh sinh trưởng (hình 2.3(5)) Dấu hiệu ñầu tiên của
sự hình thành “ống hành” (gall) là dần dần hình thành khoảng trống giữa cơ
sở ñỉnh sinh trưởng và lá sơ khởi non nhất (hình 2.3.(6)) Khi ấu trùng chuyển sang tuổi 2, một ngọn xuyên tâm ñược hình thành bởi sự tăng nhanh về số lượng tế bào ở trong bề mặt của lá sơ khởi non nhất, ở khu vực ngay sát phía trên cao hơn phần cuối bụng của ấu trùng và thấp hơn phần lưỡi bẹ (hình 2.3.(7,8)) Khu vực tăng nhanh số lượng tế bào này quyết ñịnh ñộ cao của
“ống hành” (gall) Cái ngọn xuyên tâm phát triển hướng vào bên trong và tạo nên hình dáng cái nút bịt kín phần phía dưới, hình thành khoảng trống “ống hành” (gall) sơ khởi, bao gồm toàn bộ mô bẹ lá bao xung quanh ấu trùng tạo thành một ống tròn (hình 2.3 (9)) Ở giai ñoạn này, khoảng trống “ống hành” (gall) cao khoảng 2mm (dưới ñiều kiện ẩm ñộ cao và nhiệt ñộ trung bình
300C) Ấu trùng tuổi 2, ấu trùng tuổi 3 không ngừng ăn cơ sở ñỉnh sinh trưởng Khi gần hoá nhộng, ấu trùng tuổi 3 ngừng ăn, quay tròn và lật ngược trở lại trong khoảng trống của “ống hành” (gall) và ñầu chúng xa dần ñỉnh sinh trưởng Trong giai ñoạn ấu trùng tuổi 3 và ñầu giai ñoạn hoá nhộng, chiều cao của khoảng trống của “ống hành” (gall) tăng khoảng 9 - 13 mm
ðặc biệt ñến cuối giai ñoạn hoá nhộng, khoảng trống của “ống hành” khoảng
190 mm “Ống hành” ñầy ñủ bao gồm một ống dài màu trắng tương ứng với
Trang 22khoảng trống của “ống hành” chấm dứt bởi nút mô trắng, phía trên cái nút này
là phiến lá thu nhỏ và dễ nhận ra bới lưỡi bẹ (hình2.3 (10)) Lá của cây bị hại biểu hiện càng ñiển hình của tình trạng thiếu ñạm, trừ khi chúng ñược trồng trên ñất giàu Nitơ Trước khi hoá nhộng, phần ñỉnh ñầu của ấu trùng tuổi 3 ñẫy sức ñược lấp ñầy bởi một chất dịch trong mờ ðể trưởng thành có thể vũ hoá ra ngoài, nhộng trong khoang trống của ống hành di chuyển lên phía trên Chúng sử dụng gai trên bề mặt cơ thể chúng ñục một lỗ thủng ngay phía dưới cái nút bịt kín (plug) tại vị trí cao nhất của khoang trồng “ống hành” (gall) Thông qua cái lỗ này, phần trước cơ thể của trưởng thành nhô ra trước và trưởng thành chui ra ngoài (Fernando, NaLini, 1968) [25]
Hai tương tác khác biệt ñược lưu ý khi sâu năn cố gắng sử dụng cây lúa làm thức ăn Tương tác tương thích ñược ñề cập trên các giống lúa mà sâu năn dễ dàng tấn công làm cây lúa hình thành “ống hành” (gall) Trong trường hợp này sâu năn có thể hoàn thành vòng ñời của mình và trưởng thành vũ hoá thông qua một cái lỗ nhỏ trên “ống hành” Tương tác không tương thích ñược
ñề cập trên các giống lúa có khả năng kháng lại sự tấn công của sâu năn, “ống hành” (gall) không ñược hình thành Sự hình thành “ống hành” có liên quan ñến một hoá chất không rõ nguồn gốc, gọi là cecidogen, tiết ra từ tuyến nước bọt của côn trùng (Shin-Foon 1980) Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự tham gia của chất ñiều hoà sinh trưởng thực vật trong quá trình hình thành nên “ống hành” của cây lúa (gall) Indole acetic acid (IAA) và tryptophan ở những cây lúa bị sâu năn gây hại ñược xác ñịnh cao hơn so với cây khoẻ mạnh (Balasubramanian and Purushothaman 1971) Trong nước bọt của côn trùng
có chứa IAA, hoạt ñộng như một chất cảm ứng Polyphenol oxidase (PPO) là một thành phần của nước bọt của côn trùng Vai trò phức tạp của các hợp chất phenolic và oxidases phenol là nền tảng ñể phát triển “ống hành” (Ananthakrishnan 1998) Kết quả là sự xuất hiện “ống hành” bởi sự biến ñổi của bẹ lá và phiến lá (Bentur et al 2004 dẫn)[14]
Trang 23Hình 2.3: Các giai ñoạn trong quá trình hình thành ống hành
8: Thiết diện theo chiều ngang của ống hành;
9: Thiết diện theo chiều dọc của ñỉnh sinh trưởng sau sự hợp nhất của ống hành;
10: Thiết diện theo chiều dọc ñỉnh sinh trưởng khi ống hành kéo dài sau khi sâu năn chuyển sang giai ñoạn nhộng
2.2.3 Thiệt hại kinh tế
Trang 24Việc công nhận vấn ựề, mức ựộ, tần số của dịch hại tấn công liên quan ựến thiệt hại năng suất ựược tập trung trong các nghiên cứu năm 1960 và
1970 Các nghiên cứu về giá trị ngưỡng kinh tế và mất năng suất ựã ựược thực hiện Ước tắnh gần ựây, thiệt hại năng suất hàng năm ở châu Á do sâu năn ở mức 550 triệu USD Căn cứ vào dự toán có sẵn cho miền ựông Ấn độ và
miền nam Ấn độ, sâu năn Orseolia oryzae gây ra tổn thất năng suất hàng
năm khoảng 477.000 tấn gạo hoặc 0,8% của tổng sản lượng, lên tới 80 triệu USD đã có nhiều năm dịch hại này gây thiệt hại nặng nề ở các vùng ựặc hữu nhất ựịnh (K.Krishnaiah, 2004)[32]
Bảng 2.1: Tổn thất năng suất ước tắnh do sâu năn gây ra tại Ấn độ
(Krishnaiah, 2004)[32]
Yield loss from GM Region
Area (million ha)
Av Yeild (kg ha)
Total yeild (million t) Kg ha Total
(million t)
Theo Rajamani et al (2004) [42] sâu năn Orseolia oryzae Wood - Mason
là một loài một loài dịch hại lúa quan trọng ở châu Á Chúng gây hại thành dịch và gây thiệt hại năng suất lúa ở bất cứ nơi nào có ựộ ẩm tương ựối cao
và nhiệt ựộ vừa phải Ống hành thường xảy ra trong giai ựoạn ựẻ nhánh và ựôi khi ở giai ựoạn trỗ bông Trong tháng tư và tháng năm, những trận mưa trước gió mùa ở Ấn độ tạo ựiều kiện thắch hợp cho loài dịch này hoạt ựộng trên lúa gieo và các cây kắ chủ khác Việc trồng lúa sớm bị hư hỏng nhiều Côn trùng hoạt ựộng ựỉnh cao giữa tuần cuối cùng của tháng tám và trong tuần ựầu tiên của tháng mười
Người ta ước tắnh rằng, hàng năm sâu năn làm thiệt hại 500 triệu USD (Herdt 1991) Israel et al (1959), qua nghiên cứu ựã tìm thấy mối tương quan
Trang 25giữa sự gây hại của sâu năn/thiệt hại và mất mát năng suất Họ ñưa ra phương trình hồi quy (Y = 4,720.18 - 23.71X, trong ñó Y là sản lượng trong bảng Anh cho mỗi mẫu Anh và X là % thiệt hại ở giai ñoạn phá hoại cao ñiểm) Họ báo cáo rằng cứ tăng 1% trong tỷ lệ nhiễm sâu năn thì năng suất thiệt hại 0,5% (tức là 26,6kg/ha) Israel và Prakasa Rao (1968) báo cáo rằng tỷ lệ mắc sâu năn ngày càng tăng lên, kéo dài giai ñoạn ñẻ nhánh, làm cản trở quá trình làm ñầy hạt thóc, làm giảm trọng lượng 1000 hạt Ở Thái Lan, Hidaka et al (1974) báo cáo rằng cứ thiệt hại 1% ống hành làm giảm 0,92% trong sản lượng ngũ cốc Prem Chand và Acharya (1983), bằng cách sử dụng các phương trình hệ
số hồi quy một phần, cho rằng ở giống lúa Sita, cứ tăng 1% tỷ lệ “ống hành”
sẽ giảm 0,4% số lượng bông lúa Ở giống lúa Javay trồng muộn, tỷ lệ sâu năn gây hại cao, dẫn ñến thiệt hại nặng nề và cứ tăng 1% tỷ lệ “ống hành” dẫn ñến một sự mất mát năng suất 103 kg/ha (Sundararaju 1986) (Krishnaiah, 2004 dẫn)[32]
2.2.4 Những nghiên cứu về ngưỡng kinh tế của sâu năn Orseolia Oryzae
Wood - Mason
Hiểu biết về các mức ngưỡng kinh tế là một ñiều kiện tiên quyết quan trọng cho các biện pháp kiểm soát dịch hại ðiều này ñược tiến hành với các giống ñược trồng phổ biến dựa trên mối quan hệ ñịnh lượng giữa thiệt hại và
mất năng suất, chi phí kiểm soát sâu bệnh và giá trị của sản phẩm
Kulshreshtha và Kalode (1976) cho thấy giá trị ngưỡng kinh tế là dưới 5% chồi bạc tại Cuttack, trong khi ñó hơn 10% ở Warangal, nơi mà sâu bệnh phá hoại mức ñộ vừa phải (Krishnaiah, Mathur, 2004 dẫn)[33]
Hidaka và Widiarta (1984) cho rằng mức ngưỡng kinh tế cho muỗi mật cần ñược xác ñịnh dựa trên tỷ lệ chồi bạc và mật ñộ côn trùng (giai ñoạn của
ấu trùng chưa trưởng thành) Họ xem xét 5% chồi bạc hay 10% chồi nuôi dưỡng ấu trùng chưa trưởng thành là cấp ngưỡng kinh tế ñảm bảo bắt ñầu các biện pháp kiểm soát Venugopal Rao et al (1990) ñề xuất các ngưỡng giá trị
Trang 26kinh tế là 7,6% ñến 9,0% chồi bạc ở Warangal Hussain và Bora (1995) báo cáo rằng mức ñộ tổn thất kinh tế là 4,7% chồi bạc (Krishnaiah, Mathur, 2004 dẫn)[33]
Các nghiên cứu ñược thực hiện tại trạm nghiên cứu nông nghiệp, Kankanady, Mangalore, Karnataka ven biển trong thời gian tháng 7 ñến tháng
10 năm 2005 và 2006 ñể tìm ra các mức ngưỡng kinh tế cho sâu năn Orseolia
oryzae Kết quả chỉ ra rằng 5% chồi bạc có thể ñược coi là mức ngưỡng kinh
tế cho sâu năn Orseolia oryzae vùng ven biển Karnataka (Vijay Kumar et al,
2008)[50]
2.2.5 Biện pháp phòng trừ
Trên thế giới, hầu hết tất cả các biện pháp bảo vệ thực vật ñã ñược áp dụng ñể phòng chống nhện gié như biện pháp sinh học, biện pháp hoá học, biện pháp canh tác kỹ thuật, ñặc biệt là biện pháp sử dụng giống kháng
- Biện pháp sinh học
Biện pháp sinh học là biện pháp quan trọng và có ý nghĩa lớn nhất trong các biện pháp phòng trừ sâu năn Trong biện pháp này, người ta quan tâm nhất là việc nhận dạng và sử dụng kẻ thù tự nhiên của sâu năn, nó ñồng thời ngăn chặn sự gia tăng mật ñộ quần thể sâu năn và bảo vệ môi trường
Kẻ thù tự nhiên là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng ñến biến ñộng mật ñộ của sâu năn và ñã ñược tập trung nghiên cứu (Hidaka năm 1974, 1996 Kobayashi, Barrion et al 1996) Các báo cáo nghiên cứu gần ñây liệt kê có 8 loài - 10 loài kí sinh (Ukwungwu and Joshi 1992, Kobayashi and Kudagamage 1994, Umeh and Joshi 1993) (Krishnaiah, 2004 dẫn)[32]
Theo Ethel Doris et al (1993)[23] kẻ thù tự nhiên của sâu năn ñã ñược
tìm thấy bao gồm kí sinh Platygaster diplosisae Risbec và Aprostocetus (Tetrastichus) pachydiplosisae Schulten and Feijen Tỷ lệ kí sinh cao nhất ñược ghi lại của Platygaster diplosisae Risbec và Aprostocetus (Tetrastichus)
Trang 27pachydiplosisae Schulten and Feijen trên sâu năn Orseolia oryzae tương ứng
72% và 42% Vào cuối mùa, tỷ lệ kí sinh của hai loài trên lên tới 98%
Một số tác giả ñã quan sát và liệt kê danh sách những kẻ thù tự nhiên
chủ yếu của sâu năn (bảng 2.2) ðầu tiên là kí sinh Platygaster spp (trên 90%), tiếp theo là Neanastatus sp Các nghiên cứu tại viện nghiên cứu lúa gạo
Trung ương, Cuttuck thuộc Ấn ðộ cho thấy rằng trong quá trình tăng tỷ lệ nhiễm sâu năn luôn ñi kèm với việc tích luỹ tăng tỷ lệ kí sinh của các loài kí sinh trên sâu năn Tỷ lệ kí sinh cao ñiểm của các loài kí sinh bằng hoặc sau tỷ
lệ nhiễm cao ñiểm của dịch hại chứ không bao giờ trước Các loài kẻ thù tự nhiên bản ñịa chỉ có hiệu lực khi mật ñộ dịch hại thấp và vào cuối mùa (Hidaka et al 1974, Prakasa Rao 1983) (Rajamani et al, 2004 dẫn)[42]
Bảng 2.2 : Danh sách kẻ thù tự nhiên của sâu năn Orseolia oryzae Wood
-Mason ở Ấn ðộ (Rajamani et al, 2004 dẫn)[44]
Dựa trên những thông tin thu ñược từ 7 tỉnh thung lũng thuộc sông
MeKong ở Lào, Barrion et al (1996) báo cáo rằng Orseolia oryzae có 26 loài
kẻ thù tự nhiên Chúng bao gồm sáu loài ký sinh: Eupelmidae và Platygasteridae (mỗi họ hai loài), và Pteromalidae và Eurytomidae (mỗi họ
Trang 28một loài) và 20 loài ăn thịt: 11 loài côn trùng, 8 loài nhện thuộc họ nhện chăng tơ thật (spider), và một loài nhện bắt mồi (mite) Những loài kắ sinh
quan trọng nhất là Platygaster oryzae Cameron (Platygasteridae),
Neanastatus cinctiventris Girault (Eupelmidae), và Propicrocystus mirificus
(Girault) (Pteromalidae) Tỷ lệ ký sinh trên ựồng ruộng là 83% Các loài ăn
thịt tiêu biểu là Ophionea bọ cánh cứng (Carabidae), Drapetis sp (Empidae),
Agriocnemis spp (Coenagrionidae), nhện túi Clubiona japonicola
Boesenberg and Strand (Clubionidae), và nhện có hàm dài Tetragnatha spp
(Tetragnathidae) Barrion et al (1996) kết luận rằng dân mật ựộ của kẻ thù tự nhiên cao (trứng, ấu trùng và ấu trùng, nhộng của loài kắ sinh và loài bắt mồi)
có khả năng ựiều tiết mật ựộ sâu năn trong môi trường tự nhiên ựạt hiệu quả (Inthavong et al, 2004 dẫn)[27]
Theo Kobayashi M, Kudagamage C (1994)[35], một nghiên cứu trên cây lúa nước về các loài kắ sinh Hymenopterous tại Maha thuộc Sri Lanca
từ ựầu năm ựến giữa tháng 9 năm 1990 ựã quan sát ựược 5 loài trong các u
sưng sâu năn Orseolia oryzae Wood - Mason từ các ống hình trụ (ống
hành) trên các chồi thứ cấp: Eurytoma sp (Eurytomidae), Neanastatus
cinctiventris Girault (Eupelmidae), Obtusiclava oryzae Subba Rao
(Pteromalidae), platygaster oryzae (Cameron) (Platygastridae), và P
foresteri (Gahan) Các loài Eurytoma sp có thể ựược tìm thấy ựầu tiên ở
Sri Lanca mặc dù mẫu vật nhộng của Eurytoma sp đã ựược thu thập ở huyện Gampaha vào năm 1989 Neanastatus cinctiventris Girault
(Eupelmidae), Platygaster oryzae (Cameron) (Platygastridae) nhiều nhất
trong các loài này Tỷ lệ % cao nhất của Platygaster oryzae là 68,2% ựược ghi lại khi lấy mẫu ở huyện Mawatura, Nuwara Eliya Loài N Cinctiventris
kắ sinh trên nhộng với tỷ lệ cao nhất ựựoc ghi lại khi lấy mẫu tại Mawanella và Hingula thuộc huyện Kegalla là 52,1%
Trang 29Một nghiên cứu khác tại vùng Sri Lanca từ 14 tháng 6 ñến ngày 5 tháng
7 năm 1989, tiến hành lấy mẫu ống hành do sâu năn gây ra tại 18 ñịa ñiểm thuộc 5 huyện khác nhau trong vùng ẩm ướt khi cây lúa ñang trong giai ñoạn tăng trưởng Các loài ăn thịt và loài kí sinh ñã ñược thu thập và nuôi trong phòng thí nghiệm ñến khi trưởng thành Năm loài kí sinh ñã ñược thu thập:
Platygaster oryzae, P foersteri, Neanastatus cinctiventris, Obtusiclava oryzae [Propicroscytus mirificus] và Eurytoma sp Một loài ăn thịt ñã ñược thu thập Ophionea indica [Ophionia indica] Trong ñó Platygaster oryzae
ñược tìm thấy nhiều nhất trong các mẫu “ống hành” (13,5%), tiếp theo là
Neanastatus cinctiventris (8,7%) (Kobayashi et al, 1990)[34]
- Biện pháp canh tác kĩ thuật
Biện pháp canh tác kĩ thuật có tác dụng lớn trong phòng chống sâu năn
Orseolia oryzae Mật ñộ cây lúa có ảnh hưởng lớn ñến tỷ lệ hại của sâu năn
O oryzae Mật ñộ dày tạo ra một vi khí hậu có ñộ ẩm cao trong ruộng lúa Vi
khí hậu này tạo ñiều kiện thuận lợi cho trứng của sâu năn ñược ấp nở cao, dẫn ñến mật ñộ sâu năn cao Tương tự như vậy việc sử dụng một tỷ lệ hạt giống cao ñể gieo sạ trực tiếp cũng làm tăng mật ñộ cây trồng và tăng tỷ lệ gây hại của sâu năn (Rajamani et al, 2004)[42]
Mức ñộ phân bón cũng ảnh hưởng lớn ñến mật ñộ sâu năn Sử dụng phân ñạm với liều lượng cao làm tăng tỷ lệ chồi bị hại do sâu năn Sử dụng phân ñạm cao cho lúa làm tăng số lượng chồi, cuối cùng dẫn ñến tăng số lượng chồi bị sâu năn gây hại tương ứng ðiều này ñược giải thích do có sự tăng trưởng quá mức của bộ lá, tạo một vi khí hậu thuận lợi cho sự phát triển của sâu hại Ngoài ra còn ảnh hưởng ñến thành phần tế bào và ñộ hấp dẫn của cây trồng ñối với sâu hại (Rajamani et al, 2004)[42]
- Biện pháp sử dụng giống chống chịu
Theo Krishnaiah K (2004)[32], giống kháng trong phòng chống sâu năn ñã trở thành trọng tâm nghiên cứu của các nhà tạo giống lúa và các nhà
Trang 30côn trùng học trong bốn thập kỉ qua Một số nguồn tin về giống kháng ñã ñược xác ñịnh trên ñồng ruộng và trong nhà kính hoặc kết hợp ñể tạo ra các giống tối ưu có khả năng kháng sâu năn ðồng thời các nghiên cứu về di truyền của giống kháng cho kết quả tốt
Các thành phần chính trong giống kháng lại sâu năn là antibiosis (Modder và Alagoda 1972, Hidaka năm 1974, Kalode 1980) Ấu trùng tuổi 1 hoặc là bị chết khi chúng ăn hoặc không thể chuyển sang ấu trùng tuổi 2 Các nghiên cứu về 34 giống lúa kháng cho thấy ấu trùng sống trong tất cả các cây
kí chủ trong 7 ngày sau khi trưởng thành ñẻ trứng, nhưng sự sống còn là con
số không trên hầu hết các giống vào ngày 18 (Sain và Kalode năm 1994).Các giống lúa kháng sâu năn bao gồm Shakti, Leuang 152, Ptb 18, IET7008, IET7009, and Siam 29, Phalguna (Bentur et al, 2004 dẫn)[14]
Theo Tayathum et al (2004)[49], giống lúaMuey Naung 62M (MN 62M), gạo nếp truyền thống là các giống ñầu tiên ñược báo cáo có khả năng kháng sâu năn ở Thái Lan Cải thiện giống kháng khác như RD4 và RD9 cũng ñược khuyến cáo cho các khu vực bị sâu năn gây hại Mặc dù các giống lúa có khả năng kháng sâu năn ở Ấn ðộ, chẳng hạn như Siam 29 và 152 Leuang, cùng với các giống như Ấn ðộ PTB10 và PTB18 nhưng lại nhạy cảm với sâu năn khi ñược trồng ở Thái Lan Những kết quả này chỉ ra rằng biotype sâu năn ở Thái Lan có sự khác biệt biotype sâu năn ở Ấn ðộ và ở một số nước khác
- Biện pháp hoá học
Phương pháp hoá học hình thành cách tiếp cận thực tế ñể quản lý dịch hại tại các vùng trọng ñiểm không có sẵn các giống kháng (Suresh et al 1991, Harinkhere et al 1991, 1993, Lan 1994) Nghiên cứu thử nghiệm và tối ưu hoá liều lượng, thời gian và phương pháp ứng dụng của thuốc trừ sâu trong việc
xác ñịnh chi phí - hiệu lực các công thức thuốc trừ sâu dạng hạt như:
carbofuran, phorate, cartap, isazophos, fipronil v.v ñể phòng trừ sâu năn
Trang 31Công thức phun như chlorpyriphos, monocrotophos, and carbosulfan cũng có hiệu quả nhưng không ñáp ứng mong muốn vì chỉ trưởng thành, trứng tiếp xúc với hoá chất, trong khi các giai ñoạn khác không có tác dụng Hơn nữa, ứng dụng thuốc trừ sâu bằng phương pháp ngâm hạt giống ñã nảy mầm (0,2%) hoặc rễ cây giống (0,02%) trong chlorpyriphos/isofenphos dạng nhũ tương trước khi gieo cấy không chỉ có hiệu quả trong phòng chống sâu năn
mà còn giảm thiểu lượng thuốc trừ sâu (Krishnaiah, 2004)[32]
Theo Samalo et al (1983) [45], hiệu quả phòng trừ sâu năn Orseolia
oryzae Wood – Mason bằng thuốc trừ sâu và ảnh hưởng của chúng ñến loài kí
sinh Platygaster oryzae (Cameron) ñã ñược ñiều tra Thử nghiệm thực ñịa ñã
ñược nghiên cứu tại Chiplima, Ấn ðộ trong mùa mưa năm 1980 và 1981 Nhũng rễ cây bằng dung dịch chlorpyrifos hoặc isofenphos 0,02% hoạt chất trong 12 giờ, tiếp theo là một ứng dụng ethoprophos dạng hạt 1 kg a.i / ha sau
30 ngày xử lý ñã cho kết quả kiểm soát tốt ñối với sâu năn, với một tỷ lệ trung bình chỉ 5,1% chồi bạc, và năng suất lúa vào năm 1980 và 1981 tương ứng là 3.935 và 3.840 kg / ha Granular carbofuran, isofenphos, phorate và quinalphos hầu như là hiệu quả ðiều trị côn trùng nói chung có ảnh hưởng rất ít ñến P oryzae nhưng isofenphos dạng hạt ñã ñược tìm thấy là ñộc hại ñối với loài ký sinh, cho phép 22,8-32,7% kí sinh ở 50 ngày sau xử lý
Theo Shin-Foon C (1980) [47], một thí nghiệm ñánh giá kinh tế của các phương pháp kiểm soạt sâu năn cho thấy ở Javay tất cả các biện pháp kiểm soát ñều cho lợi nhuận kinh tế nhiều hơn so với không tiến hành kiểm soát Thí nghiệm kiểm soát theo lịch trình bằng phorate G cho lợi nhuận 300$/ha so với 86$ khi sử dụng một mình quinalphos Tỷ lệ lợi nhuận-chi phí
ñã chỉ ra rằng nhúng gốc cây lúa giống trong phorate G ở 25 DT cho lợi nhuận tối ña, tỷ lệ lợi nhuận - chi phí là 8.78:1 và chi phí chỉ có $ 39/ha
Trang 322.2 Những nghiên cứu sâu năn hại lúa ở trong nước
2.2.1 đặc ựiểm sinh thái và sự gây hại của sâu năn
Theo Nguyễn Văn Huỳnh, Lê Thị Sen (2003)[6], ở Việt Nam, trước
ựây sâu năn gây hại nặng ở vùng Bình Trị Thiên, Quảng Nam, đà Nẵng và một số tỉnh ở miền bắc Năm 1983, sâu năn ựược ghi nhận xuất hiện ở Long
An, Tiền Giang, Hậu Giang Năm 1984 sâu năn phát sinh thành dịch ở Gò Công đông, Mỹ Xuyên, Long Phú (Hậu Giang) Trưởng thành của sâu năn vũ hóa vào vào ựầu mùa mưa, thường là ban ựêm, có thể bắt cặp ngay và ựẻ trứng vài giờ và ựẻ trứng vài giờ sau ựó và thắch hoạt ựộng vào ban ựêm, ban ngày thường ựậu trong các khóm lúa, gần mặt nước hay cỏ dại ở bờ ruộng Thành trùng ăn các giọt sương ựêm ựể sống và bị thu hút nhiều bởi ánh sáng
ựèn và vào ựèn nhiều lúc trăng tròn Trứng cần ẩm ựộ cao (80 -90% ựể phát
triển và nở trứng vào buổi sáng Ấu trùng nhờ sương ựêm trên lá bò dần xuống giữa bẹ và thân ựọt non hay chồi phụ và ăn ựỉnh sinh trưởng của cây lúa Trong khi chắch hút ựỉnh sinh trưởng của cây lúa, ấu trùng tiết ra nước bọt kắch thắch làm cho bẹ của lá non nhất mọc dài ra thành ống tròn màu xanh lá cây nhạt, còn phiến lá chỉ là một mảnh nhỏ ở ựầu ống Ống này dài khoảng 10 Ờ 30 cm và có ựường kắnh từ 1 - 2mm Trong mỗi một ống chỉ có một ấu trùng Khoảng 7 ngày sau khi bị tấn công, ống lúa sẽ mọc dài ra và tròn giống như cọng hành và rất dễ nhìn thấy vì ống hành có màu xanh lá cây nhạt Lúc ựó ấu trùng bên trong ựã ựủ lớn hoặc ựã làm nhộng Nhộng có thể
di chuyển lên xuống trong ống lúa nhờ các gai ngược trên thân Trời mưa hay râm mát nhộng di chuyển lên phắa trên ống lúa; trời nắng gắt nhộng thường di chuyển xuống phắa dưới Khi xắp vũ hóa, nhộng di chuyển lên phắa trên của ống lúa và ựục một lỗ nhỏ chui ra khỏi ống lúa, một ựầu còn gắn vào ống lúa Muỗi hành thường tấn công cây lúa từ giai ựoạn ựầu ựến nảy chồi tối ựa Chồi
bị hư sẽ kắch thắch cây lúa sinh chồi mới, lúa bị hại sớm sẽ mọc thêm chồi mới, nhưng ựôi khi chúng chỉ là những chồi vô hiệu hay có cho bông thì hạt
Trang 33lép nhiều Muỗi hành thường qua giai ñoạn ngủ nghỉ vào mùa khô, trong chồi ngủ của kí chủ phụ
Theo Nguyễn ðức Khiêm (2006)[7], ở miền bắc nước ta, năm 1921,
1968 ñã có dịch sâu năn Năm 1968, 22 tỉnh thành ở miền bắc ñã bị sâu năn gây hại nặng trên mạ mùa làm thiệt hại hàng ngàn tấn thóc giống Năm 1978 -
1982 sâu năn lien tiếp gây thành dịch nghiêm trọng ở các tỉnh từ Quảng Bình ñến Khánh Hòa Riêng tỉnh Thừa Thiên Huế, theo thống kê của chi cục BVTV tỉnh, trong các năm 1987 – 1995 hàng năm có tới 1800 – 2500 ha bị hại (chiếm khoảng 10 – 20% diện tích lúa ñông xuân) Trong ñó những năm
1987, 1993, 1997 có từ 2000 – 2400 ha bị thiệt hại từ 51 – 100%
Theo Nguyễn Thị Kim Oanh (2008)[9], sâu năn ñược xác ñịnh là dịch hại chủ yếu trong vụ mùa 2007 tại Yên Châu (Sơn La) Ruộng theo quy trình ICM ñã dùng biện pháp túm ngọn mạ và rũ bỏ những dảnh mạ bị nhiễm sâu năn hại trước khi cấy nên số dảnh bị hại thấp hơn so với ruộng cấy theo tập quán của nông dân Ngày 14/8/2007 có số dảnh bị hại cao nhất, trên ruộng áp dụng quy trình ICM ñạt 16,4% trong khi ñó ruộng cấy theo tập quán của nông dân là 25,2%
2.2.2 Triệu chứng gây hại
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2003)[6], triệu chứng ñể nhận
diện cây lúa bị sâu năn gây hại là cây lúa bị lùn, ñâm ra nhiều chồi, phần thân hơi cứng, chiều ngang thân cây lúa nở to dần theo sự tăng trưởng của ấu trùng nằm bên trong, lá lúa xanh thẫm ngắn, dựng ñứng và có nhiều cọng lúa giống như cọng hành lẫn trong bụi lúa
Theo Nguyễn ðức Khiêm (2006)[7], sâu năn gây hại nghiêm trọng cây lúa ở giai ñoạn ñẻ nhánh Ở thời kì mạ, cây mạ bị hại thường có biểu hiện triệu chứng là: lá bé, gân mại hơi cứng, chiều ngang gồ lên, cổ áo và lá ñọt không vươn dà, hơi cứng, màu sắc lá bình thường Chẻ ñôi thân cây mạ, ñiểm sinh trưởng màu thâm ñen Khi sâu lớn, thân cây cứng, chiều ngang phình ra,
Trang 34sắc lá ñậm, lá ñọt cứng, dựng ñứng và ngắn Khi sâu non ñẫy sức, cây mạ tròn mình có màu xanh thẫm Từ lúc này cho ñến khi sâu non vào nhộng “ống hành” bắt ñầu lấp ló hay ñã vươn dài, có màu trắng ngà và phía ngọn có màu xanh Sau khi nhộng vũ hóa “ống hành” vàng héo dần, ngọn thâm khô và cụt
ñi Cây lúa bị hại có màu xanh thẫm, cổ áo sít lại, cứng, lá ngắn và dựng ñứng Lá ñọt tuy bị hại song cây lúa vẫn có thể tiếp tục ñẻ nhánh Về bản chất, ống hành là do chất cecidogen, một chất kích thích hình thành từ tuyến nước bọt của sâu năn tương tác với mô cây trong quá trình gây hại mà thành
2.2.3 ðặc ñiểm sinh học, hình thái của sâu năn
Theo Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen (2003) [6], trưởng thành cái dài từ 3 - 5 mm, sải cánh rộng 8,5 - 9 mm, bụng màu ñỏ; trưởng thành ñực
nhỏ hơn và có màu vàng nâu ðầu rất nhỏ, hầu như mắt kép có màu ñan choán hết Râu màu vàng, dạng chuỗi hạt, ñiểm nối giữa các ñốt râu có 1 ñến
2 hàng gai mọc xung quanh Chân dài màu nâu ñậm Muỗi cái có thể sống từ
2 ñến 5 ngày và ñẻ từ 100 - 200 trứng, trong khi muỗi ñực sống từ 1 ñến 2 ngày Trứng hình bầu dục dài từ o,4 - 0,5 mm ñược ñẻ thành tứng cái riêng lẻ hoặc từ 4 - 5 cái ở mặt dưới lá, gần chân của phiến lá Mới ñẻ trứng màu trắng bóng, sắp nở chuyển sang màu ñỏ tím bóng Thời gian ủ trứng từ 3 - 5 ngày
Ấu trùng mới nở dài khoảng 1 mm, lớn ñủ sức dài khoảng 3 mm, cơ thể màu
hồng nhạt, có từ 3 - 4 tuổi, phát triển trong thời gian từ 13 - 15 ngày Nhộng
dài từ 2 – 3 mm màu hồng nhạt, khi mới hình thành và chuyển sang màu hồng sậm khi sắp vũ hóa, có nhiều gai ngược trên thân mình Thời gian nhộng từ 6
- 8 ngày Vòng ñời muỗi hành từ 26 - 35 ngày
Theo Nguyễn ðức Khiêm (2006) [7] trưởng thành còn gọi là muỗi: con
cái thân dài 3,5 mm, sải cánh rộng 8,5 - 9 mm con ñực thân dài 3 mm,sải cánh rộng 6 - 7mm ðầu bé nhỏ hầu như bị mắt kép màu ñen choán hết Râu
ñầu màu vàng, dạng chuỗi hạt Râu muỗi cái có 15 ñốt, trên mỗi ñốt có 3 hàng lông mọc vòng quanh Râu muỗi ñực có 27 ñốt Trừ 2 ñốt gốc còn lại, mỗi ñốt
Trang 35có từ 1 - 2 dãy lông xếp vòng quanh Ngực giữa nở nang, mặt lưng gồ lên,
giữa lưng có ngấn hình chữ “x” Cánh trong phân bố ñầy lông mịn và có 4 mạch cánh Chân dài, bàn chân có 5 ñốt, ñốt thứ 2 dài nhất Bụng có 10 ñốt,
màu ñỏ da cam Trứng dài 0,4 - 0,54 mm, hình bầu dục dài Bề mặt trơn bóng
Trứng mới ñẻ màu trắng sữa sau chuyển thành màu ñỏ tím Sâu non ñẫy sức dài 4 - 5 mm, màu trắng sữa Dịch cơ thể màu hồng nhạt Mặt bụng ngực trước có một mẩu cứng chẻ ñôi Nhộng dài 4 mm, màu ñỏ da cam, ñỉnh ñầu nhộng có một ñôi gai Chân nhộng cái ngắn kéo dài tới gốc ñốt thứ 5 của
bụng, chân nhộng ñực kéo dài tới cuối bụng Thời gian phát dục của trứng 3 -
5 ngày; sâu non 9 - 15 ngày; nhộng 3 - 5 ngày; vòng ñời 18 - 25 ngày, trung
bình 22,4 ngày
2.2.4 Biện pháp phòng trừ
Theo Nguyễn Văn Huỳnh, Lê Thị Sen (2003)[6], biện pháp canh tác có tác dụng phòng trừ sâu năn bao gồm: Diệt cỏ xung quanh ruộng lúa; diệt lúa rài, lúa chét và gieo cấy sớm; trồng giống lúa nhảy chồi nhiều; không bón nhiều phân N; thăm ruộng thường xuyên từ giai ñoạn mạ ñến lúa cây lúa nhảy chồi tối ña Biện pháp hoá học có thể áp dụng: Nhúng rễ mạ vào dụng dịch thuốc trừ sâu lưu dẫn trong một ñêm trước khi cấy; áp dụng thuốc nước ñể diệt thành trùng hoặc ấu trùng vừa mới nở ra; rải thuốc hạt khi ruộng chủ ñộng nước
Theo Nguyễn ðức Khiêm (2006)[7], những biện pháp hạn chế sâu năn gây hại: tiệu diệt cỏ dại và xử lý kịp thời lúa chét ñể loại bỏ nơi cư trú quan trọng của sâu trong những thời gian thời vụ chuyển tiếp Thời gian xử lý cỏ dại hoặc lúa chét cần làm sau khi thu hoạch lúa và trước khi gieo cây; ñiều chỉnh thời vụ gieo trồng tránh lúa ñẻ nhánh khi có ñợt sâu non rộ; bón phân hợp lý thúc ñẩy lúa ñẻ sớm, ñiều cần ñặc biệt lưu ý bón phân lân, kali kết hợp làm cỏ sục bùn kịp thời ñể tạo ñiều kiện cho cây lúa ñẻ mạnh, trỗ sớm cũng giảm nhẹ ñược tác hại của sâu; tháo nước phơi ruộng mạ; loại bỏ cây mạ bị
Trang 36hại ñã có dạng cọng hành ðối với những ruộng mạ bị sâu năn hại ñã xuất hiện cộng hành, khi nhổ ñi cấy cần nắm phía ngọn các bó mạ rũ sạch các cây
lúa dạng cọng hành Sử dụng giống chống chịu; dùng bẫy ñèn, ñuốc vào 19 -
22 giờ ñể diệt trưởng thành; sử dụng các loại thuốc hoá hoặc Regent 5 SC xử
lý hạt giống, trước khi ngâm ủ 80cc cho 10kg hoặc Regent 0,3 G với lượng 10kg/ha rắc trên ruộng lúa hoặc mạ trước khi muỗi ra rộ 1 tuần
Trang 373 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ðối tượng, thời gian, ñịa ñiểm, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu
− ðối tượng:
Sâu năn hại lúa (Orseolia oryzae Wood - Mason) trong ñiều kiện vụ
mùa năm 2011
− Thời gian và ñịa ñiểm:
+ Thời gian từ tháng 4 năm 2011 ñến tháng 4 năm 2012
+ ðịa ñiểm: Trường ðại học Tây Bắc và các xã thuộc ñịa bàn huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
• Dụng cụ trong nhà lưới: thùng xốp, cuốc; xẻng; nilon, vải mùng chắn côn trùng, cốc gieo mạ
3.2 Nội dung nghiên cứu
− Mô tả quá trình di chuyển của ấu trùng từ khi mới nở ñến khi chúng ñục vào ñỉnh sinh trưởng của cây lúa non;
− Mô tả sự thay ñổi hình thái bên ngoài và giải phẫu bên trong của cây lúa non khi bị nhiễm sâu năn;
− Nghiên cứu một số ñặc ñiểm sinh học của sâu năn hại lúa tại nhà lưới trường ðại học Tây Bắc;
Trang 38− Nghiên cứu ảnh hưởng của sâu năn ñến sự sinh trưởng, phát triển của cây lúa;
− Xác ñịnh tỷ lệ hại của sâu năn hại lúa vụ mùa 2011 trên ñồng ruộng tại Thuận Châu, Sơn La
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nhân nuôi quần thể sâu năn, nhân nuôi nguồn trứng, phương pháp lây nhiễm trứng lên cây lúa ñược thực hiện theo quy trình của (Nalini Perera and Henry E Fernando 1967)[24]
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu trong phòng
* Phương pháp nhân nuôi quần thể sâu năn làm thí nghiệm
− Gieo mạ (Nếp 87) trong các ô thí nghiệm làm thức ăn cho sâu năn như sau:
+ Lấy ñất, phơi khô ñể xử lý ñất, trộn ñều với phân NPK tổng hợp Cho ñất vào trong ô thí nghiệm, ñổ ngập nước ngâm trong 5 ngày
+ Ngâm thóc giống trong nước ấm khoảng 540C (3 sôi, 2 lạnh) 1 ngày ñêm ñể hạt giống hút ñủ nước Hạt ñã hút no nước ñược vớt ra, ñãi sạch, ñem
ủ 1 ngày 1 ñêm sao cho mọc mầm Khi hạt ñã nhú mầm, xen kẽ “ngày ngâm ñêm ủ” ñể phát triển cân ñối mầm và rễ rồi ñem gieo vào các thùng xốp Cứ
15 ngày gieo 1 lần sao cho có cây mạ trong thời gian dài ñể thực hiện thí nghiệm
+ Dùng nilon và vải mùng quây kín các ô gieo mạ
− Thu bắt nhộng sâu năn ngoài ñồng ruộng về tiếp tục nuôi trong các ống thí nghiệm cho ñến khi trưởng thành vũ hóa
− Chuyển trưởng thành vào các khay mạ ñã ñược gieo
− Hàng ngày cung cấp nước ñảm bảo ñủ ñộ ẩm và theo dõi khả năng lây lan, tăng quần thể của sâu năn trong các ô nuôi sâu này
Trang 39Hình 3.1: Gieo mạ trong các khay ñể bẫy nguồn sâu năn ngoài ñồng ruộng ñem về nhân nuôi trong phòng
(Nguồn ảnh: Bùi Thị Sửu 2011)
Hình 3.2: Dụng cụ ñể thu bắt trưởng thành sâu năn ngay khi chúng vũ hoá
(Nguồn ảnh: Bùi Thị Sửu 2011)
Hình 3.3: Khay gieo mạ ñể nhân nuôi nguồn sâu năn
(Nguồn ảnh: Bùi Thị Sửu 2011)
Trang 40Hình 3.4: Khay mạ nhân nuôi nguồn sâu năn
(Nguồn ảnh: Bùi Thị Sửu 2011)
Hình 3.5: Ô thí nghiệm nhân nuôi nguồn sâu năn
(Nguồn ảnh: Bùi Thị Sửu 2011)
* Phương pháp nhân nuôi nguồn trứng sâu năn ñể lây nhiễm vào cây lúa non trong thí nghiệm
− Thả 4 trưởng thành cái có khả năng sinh sản vào mỗi ống nghiệm, sau ñó bịt lại bằng một lớp vải mỏng và bông ñược làm ẩm bằng nước Sử
dụng pipeter bổ sung ñộ ẩm cho lớp vải mỏng và bông giữ ẩm khi cần thiết
− Hàng ngày quan sát và thu trứng ngay khi trưởng thành ñẻ trứng lên các tấm vải mỏng và thành ống nghiệm Các trứng ñẻ cùng ngày ñem ngâm trong nước cất 20giây, sau ñó dùng bút lông nhẹ nhàng chải ñể trứng lắng
xuống ñáy ống nghiệm Tiếp theo ñổ hỗn hợp trứng - nước lên lớp bông Trứng
sẽ rời ra và nằm trên bề mặt bông ðặt lớp bông lên giấy thấm cho bớt nước ðặt lớp bông chứa trứng vào trong ñĩa petri và hàng ngày bổ sung ñộ ẩm