Việc chấm điểm loại này đòi hỏi nhiều thờigian chấm bài, kết quả thì không có ngay, thiếu khách quan, khóngăn chặn các hiện tượng tiêu cực và do đó trong một số trường hợpkhông xác định
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Đất nước ta đang bước vào thời kì hội nhập, công nghiệp hoá,
hiện đại hoá Trước những điều kiện và thách thức trong giai đoạnmới của đất nước, ngành Giáo dục và đào tạo cần phải có những đổimới thực sự để có thể thực hiện được nhiệm vụ của mình trong tiếntrình đi lên của xã hội
Chính vì vậy mà trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước
ta đã chủ trương tiến hành đổi mới nền giáo dục một cách toàn diện
về mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục, phương pháp (PP) dạyhọc và PP kiểm tra đánh giá kết quả học tập (KTĐGKQHT) của họcsinh (HS)
Muốn đổi PP dạy học, trước hết phải đổi mới PP KTĐGKQHTcủa HS Kiểm tra đánh giá (KTĐG) là một hoạt động thường xuyên,
có một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình dạy học Nó là mộtkhâu không thể tách rời của quá trình dạy học Bởi lẽ việc KTĐG có
hệ thống và thường xuyên sẽ cung cấp kịp thời những thông tin cầnthiết giúp HS tự điều chỉnh hoạt động học, đồng thời giúp giáo viên(GV) có những thông tin phản hồi để điều chỉnh và hoàn thiện quátrình dạy học
Các PP KTĐGKQHT rất đa dạng Mỗi PP có những ưu vànhược điểm nhất định, không có một PP nào là hoàn mĩ đối với mọimục tiêu giáo dục Thực tiễn cho thấy, dạy học không nên chỉ ápdụng một hình thức thi, kiểm tra cho một môn học, mà cần thiết phảitiến hành kết hợp các hình thức thi, kiểm tra một cách tối ưu mới cóthể đạt được yêu cầu của việc đánh giá kết quả dạy học Các bài thi,kiểm tra viết được chia làm hai loại: Trắc nghiệm tự luận (TNTL) vàloại trắc nghiệm khách quan (TNKQ)
1
Trang 2Đối với loại TNTL, đây là loại mang tính truyền thống, được sửdụng một cách phổ biến trong một thời gian dài từ trước tới nay Ưuđiểm của loại này là nó cho HS cơ hội phân tích và tổng hợp dữ kiệntheo lời lẽ riêng của mình, nó có thể dùng để kiểm tra khả năng tưduy ở trình độ cao Song loại bài TNTL cũng thường mắc phải nhữnghạn chế rất dễ nhận ra là chỉ cho phép khảo sát một số ít kiến thứctrong thời gian nhất định Việc chấm điểm loại này đòi hỏi nhiều thờigian chấm bài, kết quả thì không có ngay, thiếu khách quan, khóngăn chặn các hiện tượng tiêu cực và do đó trong một số trường hợpkhông xác định được thực chất trình độ của HS.
Trong khi đó, TNKQ có thể dùng KTĐG kiến thức trên mộtvùng rộng, một cách nhanh chóng, khách quan, chính xác, cho phép
xử lý kết quả theo nhiều chiều với từng HS cũng như tổng thể cả lớphọc hoặc một trường học, giúp cho GV kịp thời điều chỉnh và hoànthiện PP dạy để nâng cao hiệu quả dạy học
Ở Việt Nam đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu việc
áp dụng PP TN để KTĐGKQHT của HS như luận văn thạc sĩ “Sosánh việc áp dụng trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quantrong việc đánh giá kết quả học tập môn Vật lí ở trường phổ thôngtrung học” của tác giả Trương Hữu Đẳng (1999) Hay “Tìm hiểuphương thức kết hợp giữa phương pháp trắc nghiệm khách quan vàphương pháp trắc nghiệm tự luận trong việc đánh giá kết quả học tậpmôn Vật lí phổ thông trung học” của tác giả Nguyễn Tăng Sang
(1999) Luận án tiến sĩ của Trần Thị Tuyết Oanh (2000) “Xây dựng,
sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan và câu tự luận ngắn trongđánh giá kết quả học tập môn giáo dục học” Các công trình nghiêncứu trên đều mang nét chung là sử dụng kết hợp CHTNKQ và câuhỏi TNTL để đánh giá kết quả học tập của HS đối với một môn học
Trang 3Một số công trình nghiên cứu: “Cơ sở lí luận của việc đánh giáchất lượng học tập của học sinh phổ thông” của Lê Đức Phúc, HoàngĐức Nhuận (1995); “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập”của Dương Thiệu Tống (1995); “Phương pháp trắc nghiệm kiểm tra
và đánh giá thành quả học tập” của Nguyễn Phụng Hoàng, Võ NgọcLan (1996); đã trình bày cơ sở lí luận của TN, nguyên lí cơ bản về
đo lường và KTĐG trong GD, các PP xây dựng, soạn thảo và phântích các câu TN
Những năm gần đây có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu cáchsoạn thảo hệ thống CHTNKQNLC nhằm kiểm tra chất lượng kiếnthức của HS trong học tập một chương nào đó của môn Vật lí như:
“Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọnnhằm kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức chương Dao động vàsóng điện từ của học sinh lớp 12 THPT” của Bùi Quang Lương(2009) Hay “Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quannhiều lựa chọn nhằm kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức chươngHạt nhân nguyên tử của học sinh lớp 12 - THPT” Ban khoa học tựnhiên của Trần Văn Nam (2009) Nhìn chung trong các đề tài này,các tác giả chưa chú trọng đến việc phải xác định rõ, trong hệ thốngcâu hỏi soạn thảo các mức độ nhận thức như nhận biết, thông hiểu vàvận dụng phải ứng với bao nhiêu % số câu hỏi, để đảm bảo phù hợpvới nội dung của một bài TNKQNLC Đối với cấp THPT thì nhậnbiết 20%, thông hiểu 40%, vận dụng 40% [12, tr 05] Cụ thể, có đềtài khi soạn thảo tác giả để tới 38% số câu hỏi cho mức độ nhận biết,
có đề tài thì số câu hỏi ở mức độ vận dụng lại chiếm tới 50% trongtổng số các câu hỏi, cách phân bố còn chưa hợp lí đối với các mức độnhận thức của một đề bài kiểm tra TN Hơn nữa với đối tượng HS
3
Trang 4thuộc một tỉnh miền núi còn chưa có tác giả nào đề cập tới Nhữngnăm gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ trương sử dụng PPTNKQ vào một số kì thi quốc gia quan trọng, và sử dụng một phầntrong KTĐG HS ở các bậc học Trên thị trường đã xuất hiện rất nhiềuloại sách cung cấp các câu hỏi trắc nghiệm (CHTN) cho các mônhọc, trong đó có môn Vật lí Nhưng phần lớn các loại sách khôngđảm bảo chất lượng Nguyên nhân là do trong cộng đồng giáo dục ởnước ta chưa có nhiều người hiểu biết và nghiên cứu sâu về PPTNKQ.
Xong việc biên soạn một hệ thống CHTNKQ cho một bộ môn làmột công việc không đơn giản, đòi hỏi sự quan tâm của nhiều người,đặc biệt là các nhà giáo, phải qua nhiều thử nghiệm
Xuất phát từ nhận thức, suy nghĩ ở trên và qua thực tiễn dạy họcmôn Vật lí ở trường trung học phổ thông (THPT), chúng tôi lựa chọn
đề tài: Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn sử dụng trong kiểm tra đánh giá chất lượng kiến thức chương “Hạt nhân nguyên tử” của học sinh lớp 12
trung học phổ thông.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu xây dựng một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm kháchquan nhiều lựa chọn (CHTNKQNLC) cho dạy học chương “Hạt nhânnguyên tử” ở lớp 12 THPT Ban cơ bản, nhằm đáp ứng được yêu cầucủa việc KTĐG mức độ nắm vững kiến thức của HS
3 Giả thuyết khoa học
Nếu có một hệ thống câu hỏi được soạn thảo một cách khoa họctheo PP TNKQNLC phù hợp với mục tiêu dạy học và nội dung kiếnthức chương “Hạt nhân nguyên tử” của lớp 12 THPT thì có thể đánhgiá chính xác, khách quan mức độ nắm vững kiến thức của HS ở
Trang 5chương này, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Vật lí ở trườngTHPT.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động KTĐGKQHT của HS trong dạy học vật lí ở trườngTHPT
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về KTĐGKQHTcủa HS ở trườngTHPT
5.2 Nghiên cứu cơ sở lý luận và kỹ thuật xây dựngCHTNKQNLC
5.3 Điều tra thực trạng hoạt động KTĐGKQHT chương “Hạtnhân nguyên tử” ở một số trường THPT thuộc tỉnh Tuyên Quang.5.4 Vận dụng cơ sở lý luận để xây dựng hệ thốngCHTNKQNLC chương “Hạt nhân nguyên tử” lớp 12 THPT
5.5 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hệ thống câu hỏi đã soạnthảo trong việc KTĐGKQHT của HS nhằm nâng cao chất lượng dạyhọc môn Vật lí THPT
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Các PP nghiên cứu lý luận
6.2 Các PP nghiên cứu thực tiễn
6.3 PP thống kê toán học
5
Trang 68 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và 30 TLTK, đề tài gồm3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm tra đánh giá kết
quả học tập của học sinh trong dạy học ở trường phổ thông.
Chương 2: Soạn thảo hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan
nhiều lựa chọn chương “Hạt nhân nguyên tử” lớp 12 THPT.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
Trang 71.1 Cơ sở của việc KTĐG trong quá trình dạy học
Luận văn đã trình bày tóm tắt khái niệm mục đích chức năng của
KTĐGKQHT của HS, nguyên tắc cần quán triệt trong KTĐG
1.2 Mục tiêu dạy học
Luận văn đã trình bày tóm tắt tầm quan trọng của việc xác địnhmục tiêu dạy học, cách phát biểu mục tiêu và phân biệt ba mục tiêunhận thức: Nhận biết, hiểu và vận dụng
1.3 Phương pháp và kỹ thuật TNKQNLC
TNKQNLC là loại TN được ưa chuộng nhất Một câu hỏi nhiều lựachọn gồm 2 phần: Phần gốc và phần lựa chọn; phần gốc là một câu hỏihoặc một câu bỏ lửng; phần lựa chọn thường là 04 lựa chọn luận văn đãtrình bày những ưu và nhược điểm của TNKQNLC và đã đưa ra các giaiđoạn soạn thảo TNKQNLC: Mục đích của bài TN, phân tích nội dung củamôn học, thiết lập dàn bài TN, xác định số câu hỏi trong bài Đồng thờitrong đề tài này đã trình bày một số nguyên tắc soạn thảo những câuTNKQNLC
1.4 Cách trình bày và cách chấm điểm một bài TNKQNLC
Có hai cách thông dụng: -Cách 1: Dùng máy chiếu, ta có thể viết bài TN trên phim ảnh rồichiếu lên màn ảnh từng phần hay từng câu Mỗi câu mỗi phần ấy
7
Trang 8được chiếu lên màn ảnh trong khoảng thời gian nhất định đủ cho HSbình thường có thể trả lời được.
- Cách 2: Thông dụng hơn là in bài TN ra nhiều bản tương ứngvới số người dự thi Trong PP này có 2 cách trả lời khác nhau:+ Bài có dành phần trả lời của HS ngay trên đề thi, thẳng ở phíabên phải hay ở phía bên trái
+ Bài HS phải trả lời bằng phiếu riêng theo mẫu
1.5 Phân tích câu hỏi
Để phân tích một CHTN ta dựa vào hai chỉ số thống kê là độkhó (p) và độ phân biệt (D)
Ngoài ra cần phân tích sự phân bố số người lựa chọn câu trả lờicho mỗi câu hỏi, phân tích xem phương án nhiễu có hiệu nghiệmkhông
1.6 Phân tích đánh giá bài trắc nghiệm thông qua các chỉ số thống kê
Để đánh giá một bài TN, người ta dựa vào các tính chất cơ bản là
độ giá trị và độ tin cậy qua các chỉ số: Độ khó, độ lệch chuẩn độ tincậy
1.7 Hoạt động kiểm tra đánh giá thành quả học tập vật lí ở một
số trường THPT thuộc tỉnh Tuyên Quang
Để thực hiện được đề tài của mình, chúng tôi đẫ điều tra thực tếhoạt động kiểm tra đánh giá ở ba trường THPT Nguyễn Văn Huyên,Tân Trào và Ỷ La thuộc tỉnh Tuyên Quang
-Điều tra GV:
+Dùng phiếu điều tra (phụ lục 3)
+Trao đổi và dự các giờ BT của một số GV ở ba trường nói trên -Điều tra HS: Trò chuyện, tìm hiểu đối với các em HS khối 12 ở
ba trường ấy về những khố khăn chủ yếu của các em gặp phải tronghọc tập chương “Hạt nhân nguyên tử”
Trang 9* Các sai lầm phổ biến và những khó khăn chủ yếu của học sinh
trong học tập chương “Hạt nhân nguyên tử”
- Thường mắc sai lầm khi tính toán năng lượng liên kết, năng lượngcủa phản ứng hạt nhân ra các đơn vị khác nhau như MeV, eV, J
- Thường nhầm lẫn giữa khối lượng, số hạt nhân chất phóng xạ cònlại với khối lượng, số hạt nhân của chất phóng xạ đã bị phân rã Tỉ sốkhối lượng chất phóng xạ còn lai so với khối lượng chất phóng xạ bịphân rã , tỉ số giữa số hạt còn lại so với số hạt ban đầu
- Khi tính khối lượng của hạt nhân con sinh ra trong hiện tượngphóng xạ thường mắc sai lầm là áp dụng định luật bảo toàn khốilượng để tính
- Khi tính khối lượng hoặc số hạt nhân chất phóng xạ theo các côngthức của định luật phóng xạ thường HS không đổi thời gian t và chu
9
Trang 10KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, chúng tôi đã hệ thống lại cơ sở lý luận vềKTĐG nói chung cũng như cơ sở lý luận và kỹ thuật xây dựng cácCHTNKQNLC đó là:
- Mục đích, chức năng của việc KTĐG (Vì chúng quyết định nộidung và hình thức của bài TN)
- Cách phát biểu mục tiêu dạy học và phân loại mục tiêu dạyhọc (Vì để viết được một bài TN tốt cần định rõ được mục tiêu dạyhọc và viết các câu TN gắn chặt với các mục tiêu này)
- Nội dung các PP KTĐG, trong đó đặc biệt chú trọng tới cơ sở
lý luận và kỹ thuật xây dựng CHTNKQNLC
Tất cả những điều trình bày ở trên được vận dụng để xây dựngCHTNKQNLC nhằm KTĐG chất lượng kiến thức chương “Hạt nhânnguyên tử” của HS lớp 12 THPT
Chương này đề cập tới những khái niệm, định luật sau:
1 Khái niệm về độ hụt khối, NL liên kết, NL liên kết riêng củahạt nhân nguyên tử Khái niệm về hiện tượng phóng xạ, độ phóng xạ,phản ứng hạt nhân, phản ứng phân hạch và phản ứng nhiệt hạch
2 Định luật phóng xạ, định luật bảo toàn số khối, định luật bảotoàn động lượng và định luật bảo toàn năng lượng toàn phần củaphản ứng hạt nhân
Những nội dung trên được trình bày trong sách giáo khoa theocấu trúc sau:
Trang 122.2 Nội dung về kiến thức, kĩ năng học sinh cần đạt được sau khi học
* Nội dung chương “Hạt nhõn nguyờn tử” SGK 12 THPT đềcập tới ba vấn đề chớnh:
1 Cấu tạo hạt nhõn nguyờn tử
2 Hiện tượng phúng xạ
3 Phản ứng hạt nhõn
Cỏc kĩ năng cơ bản học sinh cần rốn luyện
- Đổi đơn vị của năng lượng từ MeV sang eV hoặc đơn vị Jun
- Vận dụng cỏc kiến thức toỏn học như lũy thừa, logarit…
- Phỏn đoỏn, giải một số dạng BT cơ bản núi trờn của chương
- Biểu diễn vộc tơ động lượng của cỏc hạt trong phản ứng
2.3 Soạn thảo hệ thống cõu hỏi trắc nghiệm khỏch quan nhiều lựa chọn cho chương “Hạt nhõn nguyờn tử” Lớp 12 THPT
Trong hệ thống cõu hỏi theo PP TNKQNLC chương “Hạt nhõnnguyờn tử”, mỗi cõu hỏi cú bốn lựa chọn trong đú cú một lựa chọnđỳng Cỏc phương ỏn nhiễu được xõy dựng dựa trờn sự phõn tớch cỏcsai lầm phổ biến của HS trong học tập chương này
Luận văn chỉ quan tõm đến ba trỡnh độ tri thức: Nhận biết, thụnghiểu và vận dụng
Trang 132.3.2 Bảng phân bố số câu hỏi theo mục tiêu giảng dạy
%Cấu tạo hạt
nhân nguyên
tử
5(Câu 1,23,4,5)
7(Câu 6,7,8,910,11,12)
3(Câu 13,14,15)
Hiện Tượng
phóng xạ
5(câu 16,1718,19,20)
7(Câu 21,22,2324,25,26,27)
7(Câu 28,29,3031,31,33,34)
Phản ứng hạt
nhân
5(Câu 3536,37,38,39)
5(Câu 40,4142,43,44)
6(Câu 45,46,4748,49,50)
Dưới đây chúng tôi trích dẫn một trong tổng số 50 câu đã soạn:
Câu 28 Một khối chất phóng xạ có chu kì bán rã là (T), có khối
lượng mo sau 4 ngày đêm thì 3/4 lượng chất đó bị phân rã Sau 8 ngày
đêm thì lượng chất phóng xạ đó còn lại là:
Trang 14Mục đích: Kiểm tra HS cách xác định khối lượng chất phóng xạ
còn sau khoảng thời gian (t), khi không biết chu kì (T)
24 = 8 thì sẽ chọn sẽ chọn B Nếu HS nhầm là xác định khối lượngchất phóng xạ bị phân rã thì sẽ chọn D
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trên cơ sở nghiên cứu nội dung kiến thức chương “Hạt nhân
nguyên tử” thuộc chương trình Vật lí 12 THPT, chúng tôi xác địnhmục tiêu về trình độ nhận thức ứng với từng kiến thức mà HS cần đạtđược, kết hợp với việc vận dụng cơ sở lý luận về KTĐG để soạn 50câu hỏi loại TNKQNLC thuộc 03 nhóm kiến thức (Cấu tạo hạt nhânnguyên tử; hiện tượng phóng xạ; phản ứng hạt nhân) ở ba trình độnhận thức (nhận biết, hiểu, vận dụng) nhằm KTĐGKQHT của HS.Mỗi câu hỏi đều đảm bảo cấu trúc của một câu TNKQNLC, mỗicâu đều có bốn phương án lựa chọn Ở mỗi câu đều có đáp án chophương án đúng và sự phân tích các phương án nhiễu dựa trên nhữngsai lần thường mắc phải của HS
Có thể áp dụng cách làm trên trong việc việc soạn thảo
CHTNKQNLC cho các phần kiến thức khác trong chương trình Vật
lí THPT nhằm không ngừng nâng cao chất lượng KTĐG qua đó nângcao chất lượng dạy học Vật lí Chúng tôi hy vọng rằng kết quả thực
Trang 15nghiệm sẽ cho chúng tôi những bài học bổ ích trong công tác giảngdạy và nghiên cứu sau này.
CHƯƠNG 3
THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm
1- Đánh giá độ tin cậy của bộ câu hỏi đã soạn và sự phù hợp củachúng với đối tượng, từ đó điều chỉnh, bổ sung hệ thống câu hỏi.2- Dùng câu hỏi đã soạn thảo để KTĐGKQHT của HS theo mụctiêu đã đề ra
3.2 Đối tượng thực nghiệm
Là HS lớp 12 ngay sau khi học xong chương “Hạt nhân nguyêntử” trong sách giáo khoa Vật lí 12 THPT Ban cơ bản ở các trườngTHPT Nguyễn Văn Huyên, Tân Trào và Ỷ La thuộc tỉnh TuyênQuang
3.3 Phương pháp thực nghiệm
Để thực hiện hai mục đích ở trên, các câu TN đã được làm thựcnghiệm sư phạm nhiều lần trên HS ở các trường THPT khác nhau,trong đó có hai đợt thực nghiệm chính
* Đợt 1: Thử nghiệm trên 145 HS lớp 12 ngay sau khi vừa học
xong chương “Hạt nhân nguyên tử” sách giáo khoa Vật lý 12 THPT,
HS làm hai bài kiểm tra:
Bài số 1: Kiểm tra các kiến thức về cấu tạo hạt nhân nguyên tử
và hiện tượng phóng xạ gồm 30 CHTNKQNLC, thời gian làm bài 50phút
Bài số 2: Kiểm tra các kiến thức về phóng xạ và phản ứng hạt
nhân gồm 25 câu hỏi, thời gian làm bài 45 phút
15