Đề tài nghiên cứu này có mục đích cải thiện sinh kế của nông dân trong vùng đệm VQG Tam Đảo bằng cách nâng cao khả năng của nông dân trong việc nhân giống, gây trồng một số loài LSNG thô
Trang 1NGUYỄN HOÀNG HIỂN
NGHIÊN CỨU KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG MỘT SỐ LOÀI CÂY LÂM SẢN NGOÀI GỖ
CÓ GIÁ TRỊ CAO TẠI VÙNG ĐỆM
VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS LÝ VĂN TRỌNG
2 Th.S ĐỖ HOÀNG SƠN
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả
NGUYỄN HOÀNG HIỂN
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên theo chương trình đào tạo Cao học Lâm nghiệp khoá 18, giai đoạn 2010 - 2012
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được
sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như các đồng chí cán bộ đang làm việc tại vườn quốc gia Tam Đảo Nhân dịp này tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ đó
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới TS Lý Văn Trọng và Th.s Đỗ Hoàng Sơn - người hướng dẫn khoa học, đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ, truyền đạt những kiến thức qúy báu và dành những tình cảm tốt đẹp cho tác giả trong suốt thời gian công tác, học tập cũng như trong thời gian thực hiện luận văn
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Định nghĩa về Lâm sản ngoài gỗ 3
1.2 Thực trạng và vai trò LSNG Việt Nam 5
1.2.1 Thực trạng nguồn lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam 5
1.2.2 Vai trò của lâm sản ngoài gỗ 7
1.3 Các nghiên cứu có liên quan đến LSNG 9
1.3.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 9
1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 13
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Mục tiêu 20
2.1.1 Mục tiêu chung 20
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 20
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 20
2.3 Nội dung nghiên cứu 21
2.3.1 Xác định tập đoàn cây LSNG có giá trị kinh tế tại địa bàn nghiên cứu 21
2.3.2 Thực trạng nhân giống, gây trồng cây LSNG có giá trị tại địa bàn nghiên cứu 21
Trang 52.3.3 Thử nghiệm nhân giống một số loài cây LSNG đã được lựa chọn
trong các mô hình thử nghiệm tại địa bàn nghiên cứu 21
2.3.4 Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật tạm thời về quá trình nhân giống và phát triển nhân rộng các mô hình trồng cây LSNG cho nông dân tại vùng đệm VQG Tam Đảo 22
2.4 Phương pháp nghiên cứu 22
2.4.1 Cách tiếp cận nghiên cứu của đề tài 22
2.4.2 Các phương pháp nghiên cứu 22
2.4.3 Nghiên cứu thực nghiệm nghiên cứu nhân giống bằng hom 23
2.4.4 Nghiên cứu thực nghiệm nghiên cứu nhân giống bằng hạt 30
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 35
3.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của huyện Đại Từ 35
3.1.1 Vị trí địa lý 35
3.1.2 Điều kiện địa hình 35
3.1.3 Điều kiện khí hậu thời tiết 36
3.1.4 Về đất đai thổ nhưỡng 37
3.1.5 Về tài nguyên - khoáng sản 37
3.1.6 Tiềm năng du lịch 38
3.1.7 Nguồn nhân lực 38
3.1.8 Tiềm năng kinh tế 38
3.1.9 Văn hoá, xã hội 39
3.2 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của xã Quân Chu 39
3.2.1 Vị trí địa lý 39
3.2.2 Điều kiện địa hình, sông ngòi, thủy văn 40
3.2.3 Điều kiện khí hậu thời tiết 40
3.2.4 Về đất đai thổ nhưỡng 40
3.2.5 Về tài nguyên 40
3.2.6 Một số đặc điểm về đời sống kinh tế - xã hội 41
Trang 63.3 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của xã Mỹ Yên 41
3.3.1 Vị trí địa lý 41
3.3.2 Địa hình 42
3.3.3 Đất đai 42
3.3.4 Nguồn nước 42
3.3.5 Khí hậu 42
3.3.6 Dân cư và nguồn lao động 43
3.3.7 Về nông nghiệp 44
3.3.8 Về lâm nghiệp 44
3.3.9 Về tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ 44
3.3.10 Về cơ sở hạ tầng 45
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
4.1 Kết quả khảo sát thực trạng và xu hướng phát triển các loài cây LSNG chính tại vườn quốc gia Tam Đảo 46
4.1.1 Nhóm cây thuốc 46
4.1.2 Nhóm măng tre 48
4.1.3 Nhóm cây cảnh 50
4.1.4 Nhóm cây lấy gỗ đa mục đích và cây ăn quả 52
4.1.5 Nhóm cho các sản phẩm sợi 53
4.2 Thực trạng phát triển các loài cây LSNG tại vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo 54
4.2.1 Thực trạng gây trồng các loài cây LSNG chủ yếu tại vùng đệm VQG 54
4.2.2 Tình hình khai thác, sử dụng và thị trường tiêu thụ lâm sản ngoài gỗ tại địa bàn nghiên cứu 58
4.3 Kết quả nghiên cứu nhân giống một số loài cây LSNG 64
4.3.1 Kết quả nghiên cứu nhân giống cây Ba kích tím 64
4.3.2 Kết quả nghiên cứu giâm hom Hà thủ ô đỏ 73
Trang 74.3.3 Kết quả nghiên cứu nhân giống cây Đương quy bằng hạt 85
4.3.4 Kết quả nghiên cứu giâm hom cây Thìa canh 90
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 98
1 Kết luận 98
2 Tồn tại 99
3 Khuyến nghị 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Tài liệu tiếng việt 101
Tài liệu tiếng anh 103
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
AFAP Australian Foundation of the Peoples of Asia
and the Pacific
Bộ NN&PTNT Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
FAO Food and Agriculture Organization of the
United Nations LSNG Lâm sản ngoài gỗ
VQG Vườn quốc gia
Trang 9VQG Tam Đảo 57 Bảng 4.4: Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ hom sống của hom Ba Kích ở 10
ngày tuổi và 30 ngày tuổi trong các công thức thí nghiệm 64 Bảng 4.5: Kết quả về tỷ lệ ra rễ của hom Ba kích tím ở 20 ngày tuổi,
30 ngày tuổi và 40 ngày tuổi 67 Bảng 4.6: Tỷ lệ ra rễ của hom Ba Kích sau 2 tháng thí nghiệm 70 Bảng 4.7: Bảng theo dõi tỉ lệ ra rễ của từng mốc thời gian kiểm tra tại
đượt thí nghiệm 1 74 Bảng 4.8: Bảng theo dõi tỷ lệ sống và tỷ lệ ra chồi của hom Hà thủ ô
đỏ đợt thí nghiệm 1 76 Bảng 4.9: Bảng theo dõi diễn biến tỉ lệ ra rễ của từng mốc thời gian
kiểm tra tại đợt thí nghiệm 2 79 Bảng 4.10: Bảng theo dõi diễn biến tỷ lệ sống và tỷ lệ ra chồi của hom
cây Hà thủ ô đỏ đợt thí nghiệm 2 80 Bảng 4.11 Sinh trưởng của cây giống Đương quy 30 ngày tuổi 86 Bảng 4.12: Sinh trưởng của cây giống Đương quy 60 ngày tuổi 87 Bảng 4.13: Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi hom đến hiệu quả
giâm hom cây Thìa canh 90 Bảng 4.14: Kết quả ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng của hom Thìa
cành (150 hom/CT/3 lần lặp lại) 92
Bảng 4.15: Ảnh hưởng của chế phẩm fitomix và NAA 2000ppm đến khả
năng ra rễ Thìa canh (150 hom/CT/3 lần lặp lại) 94
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Biểu đồ biểu diễn tỷ lệ hom sống hom Ba Kích ở 10 ngày tuổi và
30 ngày tuổi 65 Hình 4.2: Biểu đồ kết quả về tỷ lệ ra rễ của hom Ba kích tím ở 20 ngày tuổi,
30 ngày tuổi và 40 ngày tuổi 68 Hình 4.3: Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ ra rễcủa từng mốc thời gian kiểm tra tại
đợt thí nghiệm 1 74 Hình 4.4: Biểu đồ thể hiện mối quan hệ tỷ lệ sống trung bình, tỷ lệ nảy chồi
trung bình, và sự ra rễ của hom hà thủ ô đỏ 77 Hình 4.5: Biểu đồ biểu diễn tỉ lệ ra rễ của từng mốc thời gian kiểm tra tại
đợt thí nghiệm 2 78 Hình 4.4: Biểu đồ thể hiện mối quan hệ tỷ lệ sống trung bình, tỷ lệ nảy chồi
trung bình,và sự ra rễ của hom hà thủ ô đỏ đợt thí nghiêm 2 80 Hình 4.5: Một số chỉ tiêu sinh trưởng của đương quy 30 ngày tuổi 87 Hình 4.6: Một số chỉ tiêu sinh trưởng của đương quy 2 tháng tuổi 88 Hình 4.7: Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tuổi hom đến hiệu quả giâm
hom cây Thìa canh 91 Hình 4.8: Biểu đồ biểu diễn mức ảnh hưởng của giá thể đến sinh trưởng của
hom Thìa canh 93 Hình 4.9: Biểu đồ ảnh hưởng của chất KTST đến khả năng ra rễ Thìa canh 95 Hình 4.10: Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của NAA 2000ppm đến khả
năng ra rễ Thìa canh 95
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là một nhóm gồm nhiều sản phẩm khác nhau
có xuất xứ từ rừng và cung cấp thuốc chữa bệnh, thực phẩm, dầu, nhựa, ta nanh, thuốc nhuộm, song mây, lá cọ, tre và cây hoang dã LSNG có một giá trị kinh tế và xã hội đối với người dân, những người phụ thuộc vào những sản phẩm này cho thu nhập và sinh hoạt hàng ngày và có phần đóng góp đáng kể vào sự đa dạng sinh học của rừng
Đã từ lâu LSNG được thu hái từ tự nhiên, việc thu hái LSNG từ tự nhiên đã trở thành một vấn đề lớn khi có sự suy giảm tổng số lượng diện tích dưới tán rừng kín và sự khai thác quá mức các nguồn LSNG dẫn đến giảm mức độ sẵn có, sự đa dạng sinh học và tính bền vững của những loài cây này
Sự thành công của một số loài LSNG (tre và mây) trên thị trường quốc tế đã tăng sự quan tâm tới tiềm năng đóng góp của chúng đối với nền kinh tế địa phương và quốc gia LSNG có thể được trồng bởi nông dân và thu hái một cách bền vững với tác động thấp lên rừng nơi những khu rừng này tạo nên một nguồn thu nhập và nguồn sản phẩm cho sinh hoạt hàng ngày cho các cộng đồng sinh sống trong và xung quanh rừng
Tại VQG Tam Đảo, dân cư vùng đệm giữ vai trò quan trọng và liên quan mật thiết đến sự suy giảm hay phát triển các hệ sinh thái rừng Trong khu vực VQG Tam Đảo, các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ (LSNG) tạo ra một nguồn sinh kế và thu nhập quan trọng cho người dân địa phương Nguồn LSNG cung cấp cho người dân củi đun, tre, nứa, thực phẩm, dược liệu Các nghiên cứu tại VQG Tam Đảo trước đây đã xác định một số loài LSNG thường được sử dụng và thu hái từ VQG và khu vực vùng đệm xung quanh,
số lượng LSNG được gây trồng rất ít
Trang 12Ngoài các vấn đề về thể chế và quản lý, một trong những giải pháp then chốt cho bảo tồn LSNG hiện nay tại Vườn quốc gia Tam Đảo được xác định là phải giúp người dân và cộng đồng địa phương phát triển các chương trình gây trồng thay vì thu hái chúng Để có thể thực hiện được điều này, cần đẩy mạnh các hoạt động khuyến nông khuyến lâm để giúp cho cộng đồng và người dân địa phương trong vùng đệm có thể gây trồng, phát triển các LSNG phục vụ cuộc sống và nâng cao thu nhập, hạn chế và tiến tới chấm dứt thu hái từ rừng
Đề tài nghiên cứu này có mục đích cải thiện sinh kế của nông dân trong vùng đệm VQG Tam Đảo bằng cách nâng cao khả năng của nông dân trong việc nhân giống, gây trồng một số loài LSNG thông qua cải tiến các kỹ thuật nhân giống Một thử nghiệm nhân giống sẽ được tiến hành ngay tại vùng đệm VQG Tam Đảo, thử nghiệm này sẽ xác định một số kỹ thuật cải tiến để nhân giống thành công và thiết lập một số loài LSNG có giá trị trong cơ cấu cây trồng tại vùng đệm Nông dân tại vùng đệm VQG Tam Đảo sau đó sẽ có thể
sử dụng những kỹ thuật này để nâng cao sự thành công trong việc gây trồng LSNG của họ Những loài LSNG được lựa chọn sẽ phụ thêm vào thu nhập hiện nay của nông dân và sau đó cải thiện sinh kế của họ Để tìm ra được một
số loài cây LSNG có giá trị và có khả năng nhân giống, gây trồng để mang lại thu nhập thường xuyên cho người dân tại khu vùng đệm thì tôi đã tiến hành
đề tài: "Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống một số loài cây lâm sản ngoài gỗ
có giá trị cao tại vùng đệm vườn Quốc gia Tam Đảo"
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Định nghĩa về Lâm sản ngoài gỗ
Đã có nhiều những tên gọi khác nhau về lâm sản ngoài gỗ đang được sử dụng rộng rãi hiện nay như: lâm sản phụ, lâm sản phi gỗ, sản phẩm rừng không phải là gỗ Hầu hết mọi người đều có cùng quan điểm coi các khái niệm trên là đồng nhất, để chỉ các sản phẩm của rừng không phải là gỗ như: động vật rừng, các cây dược liệu, các sản phẩm từ cây rừng không phải là gỗ, các sản phẩm phụ từ khai thác gỗ (cành, lá, gốc, rễ )
Có nhiều tài liệu viết về lâm sản ngoài gỗ, nhưng chỉ ở những phạm vi hẹp của một loài hoặc một nhóm loài nhất định Nhưng chưa có một công trình nào đưa ra được một khái niệm chính xác về lâm sản ngoài gỗ này
+ Khái niệm về Lâm sản ngoài gỗ được đề cập chính thức vào năm
1989 do W.W.F Theo khái niệm này: “Lâm sản ngoài gỗ bao hàm tất cả các
vật liệu sinh học khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục đích của con người Bao gồm các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi” (The Economic value of Non-timber
Forest products in Southeast asia - W.W.F - 1989)
Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về LSNG nhưng thông dụng hơn cả là định nghĩa do Hội đồng Lâm nghiệp Tổ chức Lương
Nông Liên Hiệp quốc (FAO) thông qua năm 1999: “Lâm sản ngoài gỗ (Non
timber forest products- NTFP, hoặc Non wood forest products- NWFP) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng”
Như vậy, lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (cả rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của
Trang 14con người Bao gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa dầu, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, song mây, tre nứa, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi
Phân loại lâm sản ngoài gỗ
Có rất nhiều loại lâm sản ngoài gỗ khác nhau đã được điều tra, phát hiện
và khai thác sử dụng, chính vì vậy việc phân loại chúng là rất cần thiết Trên thế giới tồn tại nhiều cách phân loại LSNG, song chưa có hệ thống phân loại nào thực sự hợp lý Trong cuốn “ Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam” của Dự án
Hỗ trợ chuyên ngành lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam - Pha II đã phân loại LSNG theo 6 nhóm tổng hợp dựa vào công dụng và nguồn gốc của các LSNG, tuy nhiên đây cũng chỉ là cách phân loại mang tính chất tương đối vì công dụng của lâm sản luôn có sự thay đổi, một số sản phẩm có thể phân vào nhiều nhóm khác nhau tuỳ nơi, tuỳ lúc, không cố định và biến đổi theo địa phương Cách phân loại này được giới thiệu như sau:
(1) Sản phẩm cây có sợi: tre nứa, song mây, các loại cây thân lá có sợi… (2) Thực phẩm:
a/ Những sản phẩm có nguồn gốc thực vật như: thân, chồi non, rễ, lá, hoa, quả, hạt, các loại gia vị, hạt có dầu, nấm…có thể dung làm thực phẩm b/ Những sản phẩm có nguồn gốc động vật như: mật ong, thịt thú rừng,
cá, tổ yến, trứng chim, các loài côn trùng ăn được
(3) Dược liệu chất thơm và cây có chất độc
(4) Những sản phẩm chiết suất như: các loại nhựa, tanin, chất màu, dầu béo và tinh dầu…
(5) Động vật và những sản phẩm từ động vật không dùng làm thực phẩm như các loại thú rừng, chim, côn trùng sống, da, sừng, ngà, xương, cánh kiến đỏ…
(6) Những sản phẩm khác như: cây cảnh, lá để gói,v.v…
Trang 151.2 Thực trạng và vai trò LSNG Việt Nam
1.2.1 Thực trạng nguồn lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam
Ước tính, Việt Nam có khoảng 12.000 loài thực vật Nhưng chỉ có khoảng 10.500 loài đã được mô tả, trong đó có khoảng 10% là loài đặc hữu;
800 loài rêu; 600 loài nấm Khoảng 2.300 loài cây có mạch đã được dùng làm lương thực, thực phẩm, làm thức ăn cho gia súc Về cây lấy gỗ gồm có 41 loài cho gỗ quí (nhóm 1), 20 loài cho gỗ bền chắc (nhóm 2), 24 loài cho gỗ đồ mộc và xây dựng (nhóm 3) , loại rừng cho gỗ này chiếm khoảng 6 triệu ha Ngoài ra rừng VN còn có loại rừng tre, trúc chiếm khoảng 1,5 triệu ha gồm khoảng 25 loài đã được gây trồng có giá trị kinh tế cao Hiện nay đã thống kê được hơn 7.000 loài thực vật bậc cao, 800 loài rêu, 600 loài nấm lớn Có 2.300 loài được sử dụng với mục tiêu kinh tế
Hệ động vật cũng rất đa dạng, hiện nay đã phát hiện được 273 loài thú,
773 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư và nhiều loài động vật không xương sống khác Hầu như sự đa dạng sinh học này tập trung chủ yếu ở vùng đồi núi Trước đây, hầu như toàn bộ vùng đồi núi được che phủ bởi một thảm thực vật nhiệt đới giàu có năm 1943 có khoảng 50% diện tích rừng che phủ trong cả nước (Maurand, 1993) hiện nay chỉ còn khoảng 24%
Rừng bị tàn phá nhiều loại động vật mất nơi sinh sống và cư trú Mấy năm gần đây, cộng thêm sự buôn bán động vật phi pháp (qua biên giới) làm cho nhiều loài trở nên rất hiếm và có nguy cơ bị tiêu diệt, cũng như nhiều loài
gỗ quỹ, các loại cây thuốc bị khai thác quá mức (trang 8 - Đa dạng sinh học) Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam rừng nhiệt đới ở địa hình thấp không còn nguyên vẹn nữa vì phần lớn các khu rừng thấp này đã bị biến đổi do các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và định cư, làm cho sự giàu có vốn có về tài nguyên sinh học ở đây đã bị suy thoái nghiêm trọng Cũng vì thế mà các khu rừng nguyên vẹn phần lớn chỉ còn sót lại ở các vùng núi cao, những nơi hiểm trở Đó là những nơi cư trú cuối cùng của các loài đặc hữu và các loài có nguy cơ bị tiêu diệt
Trang 16Nguyên nhân gây nên sự suy giảm tài nguyên rừng, nhất là lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam cũng đúng như hầu hết các nước khác trên thế giới: đó
là sự mâu thuẫn giữa cung và cầu Tài nguyên thiên nhiên thì có hạn mà nhu cầu của nhân dân thì ngày càng tăng, một mặt là để đáp ứng cuộc sống cho số dân tăng thêm một cách nhanh chóng, mặt khác là mức độ tiêu dùng của người dân cũng tăng thêm không ngừng
Việc nối lại thông thương qua biên giới với Trung Quốc đã gây những sức ép mới về khai thác tài nguyên thiên nhiên Giá của nhiều thú hoang đã tăng lên 5 đến 10 lần Trước khi mở cửa biên giới, 1kg mà giá bằng 1kg thịt lợn Bây giờ mà được bán với giá 130.000đ/kg so với giá thịt lợn 20.000 - 30.000đ Ếch giá 70.000 - 80.000đ/kg một bộ da rái cá 600.000 - 700.000đ/bộ, đuôi loài thú có vẩy ăn kiến (kỳ đà) 800.000đ/kg (Đặng Phong, 1995, trang 174) [23] Vì nhu cầu của Trung Quốc về các tài nguyên rừng, đặc biệt là thú rừng và cây thuốc là rất lớn và hầu như không bao giờ được thoả mãn, nên các loài đang bị thu hút với tốc độ không bền vững và triển vọng -bảo vệ tính
đa dạng sinh học về lâu dài là không thuận lợi Về mặt tích cực, các cơ hội để xuất khẩu hoa quả, sản phẩm gỗ và gia súc vùng cao sang Trung Quốc có thể rất lớn Nếu điều kiện chuyên trở được cải thiện và sự kiểm soát hành chính bị nơi lỏng, việc buôn bán qua biên giới có thể trở thành nguồn ảnh hưởng chính đến tài nguyên trong vùng
Trong những năm gần đây việc buôn bán và xuất khẩu các sản phẩm sinh vật, các động vật và thực vật, kể cả các loài được bảo vệ, phát triển rất nhanh chóng Vì thiếu kế hoạch hợp lý, hoặc thiếu sự kiểm tra chặt chẽ trong việc khai thác các tài nguyên rừng mà ở nhiều vùng đã dẫn đến sự suy thoái của rừng nhiệt đới và nhiều hoạt động thực vật rừng như: tê giác, voi, khỉ, vượn, voọc, pơmu, trầm hương, gõ đỏ ngày càng trở nên rất hiếm Nhiều loại động vật thông thường như tê tê, các loài rùa, rắn, kỳ đà, ếch, ba ba đang
Trang 17được xuất khẩu một cách nhộn nhịp sang Thái Lan, Hồng Kông và nhất là Trung Quốc trong thời gian gần đây là mối đe dọa lớn đối với sự tổn thất về tài nguyên rừng Giá trị xuất khẩu các loài nói trên đã thúc đẩy người dân tìm
đủ mọi cách săn bắt chung ở khắp mọi nơi
1.2.2 Vai trò của lâm sản ngoài gỗ
- LSNG là một bộ phận quan trọng của rừng nhiệt đới, quan hệ tới sự duy trì và phát triển hệ sinh thái rừng Phần lớn cây LSNG nằm dưới tán rừng,
có tác dụng giảm tác động của nước mưa xuống mặt đất, ngăn chặn dòng chảy mặt, chống xói mòn cho đất rừng Gây trồng LSNG trong rừng là tăng độ che phủ và nâng cao giá trị phòng hộ của các khu rừng
- Phát triển Lâm sản ngoài gỗ là một phương thức làm tăng giá trị kinh
tế của rừng góp phần khôi phục, nâng cao giá trị của các khu rừng nghèo, động viên người dân địa phương tham gia tích cực hơn vào công cuộc bảo
vệ rừng và đa dạng sinh học, chống lại việc chuyển đổi đất lâm nghiệp sang mục đích sử dụng khác Lâm sản ngoài gỗ có vai trò quan trọng đối với các cộng đồng dân cư và các hộ dân (nhất là dân tộc thiểu số) miền núi trong việc đảm bảo an toàn lương thực, chăm sóc sức khoẻ, nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ đời sống
- Việc khai thác LSNG thường ít ảnh hưởng đến cấu trúc tầng cây gỗ và vai trò bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học của rừng Tuy nhiên, muốn có LSNG để khai thác phải bảo vệ hệ sinh thái rừng, vì vậy, khai thác LSNG đúng kỹ thuật cũng là một biện pháp tích cực bảo vệ rừng
- Trong những năm gần đây, LSNG đã thu hút được sự quan tâm của nhiều người, do nhận thức rõ hơn về LSNG trong sự đóng góp vào kinh tế hộ
và an toàn lương thực, vào nền kinh tế quốc dân, bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học
Trang 18- Các loài lâm sản ngoài gỗ còn có ý nghĩa trong các lĩnh vực đa dạng sinh học, duy trì tính phong phú của hệ sinh thái rừng
Lâm sản ngoài gỗ có nhiều giá trị đối với kinh tế, xã hội và môi trường của đất nước ta:
- Giá trị về mặt kinh tế: Giá trị kinh tế của lâm sản ngoài gỗ được thể hiện thông qua giá trị sử dụng của chúng Lâm sản ngoài gỗ được khai thác sử dụng, chế biến hoặc bán để phục vụ sản xuất hàng hoá, tăng thu nhập cho người dân Bao gồm các lĩnh vực:
• Cung cấp nguyên liệu sản xuất hàng thủ công, mỹ nghệ
• Cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến
• Cung cấp dược liệu
• Cung cấp thực phẩm, thức ăn chăn nuôi
• Cung cấp cây hoa, cây cảnh
- Giá trị về mặt xã hội: Từ lâu đời việc gây trồng, khai thác, thu hái, chế biến và tiêu thụ LSNG đã mang lại công ăn việc làm cho hàng chục triệu người dân ở các cộng đồng dân cư sống trong và ngoài khu vực có rừng Điều
đó đã góp phần giúp cho họ ổn định cuộc sống, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, tạo nên các kênh giao lưu, tiêu thụ lành mạnh thúc đẩy sản xuất, một số LSNG được sử dụng trong các lễ hội truyền thống tạo ra các sản phẩm có ý nghĩa bảo tồn góp phần phát triển đời sống văn hoá, tinh thần, vật chất cho từng cộng đồng Theo Jenne de Beer ( IUCN - 1996) [32] ước tính
có ít nhất 30 triệu người ở Đông Nam Á sống phụ thuộc vào rừng và sử dụng LSNG nhằm đáp ứng nhu cầu về mặt sức khoẻ và dinh dưỡng Ngoài ra còn
có những người nhờ vào các sản phẩm này để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hàng ngày hoặc tạo ra thu nhập như những người thợ thủ công và nghệ nhân
- Giá trị về mặt môi trường, sinh thái: Các loài LSNG tham gia tạo nên cấu trúc rừng cùng với các loài cây gỗ và thực vật, động vật Hệ sinh thái ở
Trang 19đây đa dạng, khép kín và bền vững Duy trì, bảo vệ và khai thác hợp lý (bền vững) tài nguyên LSNG hoặc tổ chức gây trồng LSNG dưới tán rừng góp phần bảo vệ tính đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen các loài động thực vật, tăng khả năng giữ nước phòng hộ của rừng, bảo vệ được hệ sinh thái rừng nói chung Tuy nhiên, lâm sản ngoài gỗ cũng như lâm sản nói chung là đối tượng của sản xuất, cần khai thác sử dụng, nên việc bảo tồn lâm sản ngoài gỗ không thể giống như bảo vệ da dạng sinh học
1.3 Các nghiên cứu có liên quan đến LSNG
1.3.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
* Nghiên cứu về phân loại và bảo tồn LSNG
Công trình “Nghiên cứu về tre trúc” của Munro (1868) được coi là một
trong những nghiên cứu về tre trúc đầu tiên (dẫn theo Đỗ Văn Bản, 2005) [2] Trong công tác này tác giả đã khái quát được một cách tổng quan về họ phụ tre trúc trên thế giới
Khi nghiên cứu về “Các loại tre trúc” Gamble (1896) đã đề cập tương đối chi tiết về phân bố, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre trúc (dẫn theo Đỗ Văn Bản, 2005) [2] có ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Miến Điện, Malaysia và Indonesia
I.T Haig, M.A Hubermen và U Aung Din de F.A.D (1963) [34] với công trình “Rừng tre nứa” đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của tre trúc nứa Ấn Độ, Pakistan liên quan đến thổ nhưỡng, khí hậu và một số biện pháp xử lý lâm học, tái sinh, khai thác
S.Dransfield and E.A Widjaja (1995) [33] đã tiến hành mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, gây trồng, sử dụng cho 75 loài tre trúc thông dụng, có giá trị ở vùng Đông Nam Á
Nhìn chung, các nghiên cứu phân loại hiện nay mới chỉ tập trung chủ yếu vào các loài LSNG có diện tích phân bố với số lượng lớn là Tre trúc, các
Trang 20nghiên cứu về Song mây và một số cây thuốc, cây lấy dầu nhựa,… hầu như chưa được đề cập đến
* Nghiên cứu về chọn giống và nhân giống
Zhou Fangchun (2000) [35] có đề cập đến nhân giống của một số loài tre trúc khác nhau ở Trung Quốc làm cơ sở cho việc gây trồng phát triển tre trúc
Vũ Văn Dũng, Lê Huy Cường (1996) [8] cho biết Malaysia bước đầu
đã nghiên cứu tạo giống mây bằng phương pháp nuôi cây mô, đã tiến hành thí nghiệm trồng song mây dưới tán các loại rừng với các mật độ khác nhau Malaysia và Indonesia đã xây dựng rừng mây giống phục vụ cho gieo trồng trên quy mô lớn
* Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng
Xiao Jianghua (1996) đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh Đây là những nhân
tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng và thân khí sinh (dẫn theo Nguyễn Quang Hưng, 2008)[13]
Zhou Fangchun (2000) [35] đã cho thấy nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm
có ảnh hưởng khá rõ đến quá trình phát sinh, phát triển măng,… của nhiều loài tre trúc khác nhau, đó là những cơ sở để áp dụng các biện pháp thâm canh nhằm thúc đẩy sinh măng trái vụ ở Trung Quốc
Theo J.Dransfield và N.Manokaran, 1998 [30] việc trồng mây nếp đã phát triển trên quy mô lớn ở Trung Quốc, phổ biến là trồng theo phương thức nông lâm kết hợp, trồng xen trong các khu rừng phục hồi và rừng trồng, cây non được trồng 1 hoặc 2 cây/cụm Tại Quảng Đông, mây nếp được trồng thử nghiệm ở sườn đồi, thu hoạch vào năm thứ 7 cho năng suất khoảng 1,2 tấn/ha
Những năm gần đây, một số nhà khoa học đã nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học, kỹ thuật gây trồng, chế biến và tổng kết đánh giá kết quả trồng một số
Trang 21loài LSNG có giá trị ở các nước nhiệt đới như Việt Nam, Trung Quốc, Brazils,… (Peter Zuidema, 2001;… Marinus J.A Werger, 2000; FAO, 2000;…)
Nhìn chung, việc nghiên cứu về phân loại, mô tả hình thái, sinh thái, công dụng, tầm quan trọng cũng như đánh giá các mô hình gây trồng và phát triển LSNG trên thế giới đã có nhiều kết quả Các kết quả đều khẳng định việc gây trồng, phát triển, sử dụng hợp lý và bền vững thì LSNG sẽ có vai trò to lớn trong việc tạo thu nhập cho người dân miền núi, nhiều nơi còn làm nguồn thu nhập chính, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội đồng thời đóng góp rất lớn trong quá trình bảo vệ và phát triển rừng
* Nghiên cứu giá trị kinh tế - xã hội của LSNG
Giá trị kinh tế - xã hội của LSNG thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ cung cấp lương thực,thực phẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu thủ công
mỹ nghệ, dược phẩm, đến giải quyết công ăn việc làm, phát triển ngành nghề, bảo tồn và phát huy kiến thức bản địa, tôn tạo nét đẹp văn hóa, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhiều mặt cho người dân, đặc biệt là những dân nghèo (FAO, 1994; Sharma,1995) [29]
Thông tin về các loài cho LSNG có giá trị kinh tế cao còn rất tản mạn
và ít ỏi, nên chưa phát huy đầy đủ các chức năng có lợi của LSNG Đề LSNG đóng góp quan trọng vào sự phát triển miền núi hơn nữa, cần tập trung nghiên cứu xác định đặc điểm sinh thái học cũng như kỹ thuật gây trồng , chăm sóc, nuôi dưỡng chúng gắn với quản lý rừng bền vững; đồng thời cần xây dựng và truyền bá những mô hình rừng trình diễn về cung cấp LSNG để người dân học tập và làm cơ sở cho chuyển giao công nghệ phát triển LSNG
* Nghiên cứu về thị trường LSNG
Các nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù LSNG có giá trị to lớn, nhưng nhiều người sản xuất LSNG lại thu được hiệu quả rất thấp là do sự hạn chế trong việc
Trang 22tiếp cận thông tin thị trường một cách có tổ chức hoặc thiếu những giải pháp kỹ
thuật phù hợp để nâng cao chất lượ ng sản phẩm theo đòi hỏi của thị trường
Để góp phần giải quyết những vấn đề trên , vào năm 1992, chương trình rừng, cây và con người (FTPP) đã phát triển các bản hưỡng dẫn cho việc tạo ra các hệ thống thông tin thị trường LSNG ở mức địa phương và giới thiệu một số kinh nghiệm về kỹ thuật nuôi trồng , canh tác và phát triển thực vật ngoài gỗ , như phát triển rừng cung cấp dược thảo ở Nepan , rừng cung cấp cây họ dầu , Tanin, cau rừa ở vùng Amazon - Brazil, rừng cung cấp song mây ở Malaixia
* Các nghiên cứu khác
Trong quá trình nghiên cứu về lâm sản vùng nhiệt đới J.H de Beer (1992)[32] chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của FAO, L.S de Padua, N Bunyapraphatsar, R.H.M.J Lemmen (1999) đã cho thấy giá trị to lớn của Thảo quả trong việc tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo cho người dân sinh sống ở vùng cao
Từ những nhận thức về tầm quan trọng của LSNG, nên chúng đã được chú ý phát triển trong các chiến lược phát triển ở nhiều Quốc gia như Trung quốc, Ấn Độ, Pêru, Indonesia,… và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện ở nhiều nước đặc biệt là các nước có nguồn tài nguyên rừng nhiệt đới để làm cơ sở cho việc định hướng phát triển trong tương lai Tuy nhiên, các công trình tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực như phân loại LSNG, đánh giá vai trò, giá trị kinh tế, xã hội và môi trường, công dụng, kỹ thuật gây trồng, thị trường,… như các công trình của Mendelsohn (1989); Heinzman (1990); Falconer (1993)… Đa số các công trình đều khẳng định LSNG có vai trò quan trọng, cung cấp thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng… đồng thời là nguồn thu nhập lớn (khoảng 20 - 30% cơ cấu thu nhập) của các
hộ gia đình miền núi ở các nước này Theo số liệu của FAO, ước tính có khoảng 80% dân số trong các nước đang phát triển sử dụng LSNG nhằm đáp
Trang 23ứng nhu cầu về sức khoẻ và dinh dưỡng Vài triệu hộ gia đình trên toàn thế giới sống nhờ vào các sản phẩm này để đáp ứng các tiêu dùng thiết yếu hàng ngày hay là tạo thu nhập LSNG được những người thợ thủ công và nghệ nhân làng bản sử dụng trên khắp thế giới Hiện nay, có ít nhất 150 loài LSNG đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực thương mại quốc tế (mật ong, nấm, hương liệu, sâm, dầu nhựa, song mây…), ước tính tổng giá trị thương mại quốc tế của LSNG hàng năm khoảng 5 - 11 tỷ USD (Mohammad Iqbal - 1993) International trade in NWFPs: an overview)
Nhìn chung, những nghiên cứu về LSNG trên thế giới đã cho thấy tiềm năng to lớn của LSNG ở các nước nhiệt đới , đã khẳng định được vai trò quan trọng của LSNG trong đời sống kinh tế - xã hội nông thôn miền núi , coi đây
là một trong những nhân tố triển vọng nhất cho bảo tồn và phát triển rừng , góp phần giải quyết mục tiêu quản lý rừng bền vững của các nước nhiệt đới
1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Các tư liệu, tài liệu và các công trình nghiên cứu liên quan đến LSNG hiện nay phần lớn giới thiệu về sự đa dạng, khái niệm, phân loại, vai trò, giá trị sử dụng và kỹ thuật gây trồng cho một số loài cây LSNG chủ yếu, điển hình là một số công trình nghiên cứu phân theo các vấn đề sau đây:
* Nghiên cứu về phân loại và bảo tồn LSNG
Nhận thức được tầm quan trọng của LSNG, ngay từ những năm đầu thế
kỷ XX, Lecomte - một nhà nghiên cứu của Pháp đã đề cập, xác định được nhiều loài LSNG có giá trị trong cuốn “Thực vật chí đại cương Đông Dương” trong đó có ở Việt Nam
Đỗ Tất Lợi (1977) [17] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”
- tái bản lần 3 có sửa đổi bổ sung đã mô tả nhiều loài cây LSNG làm thuốc, trong đó có nhiều bài thuốc hay từ những loài LSNG này
Trang 24Theo Vũ Văn Dũng và Lê Huy Cường (1996) [8] tới nay Việt Nam đã thống kê được 5 chi và 30 loài cây song bao gồm: Chi mây nếp (Calamus) có
19 loài và 1 loài phụ; chi hèo (Daemonrops) có 4 loài; chi phướn (Korthalsia)
có 2 loài; chi mây rúp (Myriapis) có 1 loài; chi song lá bạc (Plectocomia) có 2 loài và chim song voi (Plecomomiopsis) có 1 loài
Vũ Văn Dũng và cộng sự (2002) [7] ,các tác giả đã đưa ra định nghĩa, phân loại LSNG, giới thiệu về một số nhóm LSNG có giá trị ở Việt Nam, tổ chức và quản lý LSNG, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển LSNG,…
Theo Lê Viết Lâm và cộng sự (2005) [16] ở Việt Nam có thể có đến
200 loài tre trúc, bước đầu xác định có 22 chi với 122 loài đã được giảm định tên, trong đó có rất nhiều loài có giá trị sử dụng và kinh tế cao cần được nghiên cứu phát triển Tác giả đã giới thiệu 40 loài tre trúc thông dụng về phân bổ, đặc điểm hình thái, sinh thái và công dụng để làm cơ sở tham khảo cho nghiên cứu và sản xuất
Nguyễn Hoàng Nghĩa (2006) [19] cũng đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái phân bổ và công dụng của 194 loài tre ở Việt Nam và 3 giống: Bát
độ, Điềm trúc và Tạp giao có xuất xứ từ Trung Quốc
Năm 2006, Bộ NN&PTNT đã phê duyệt đề án “Bảo tồn và phát triển LSNG trong giai đoạn 2006 - 2020” [5] Năm 2007, Bộ NN&PTNT tiếp tục phê duyệt Kế hoạch hành động bảo tồn và phát triển LSNG ở Việt Nam [6]
Triệu Văn Hùng cùng các tác giả khác (2007) [12], đã mô tả hình thái, phân bố, công dụng, kỹ thuật gây trồng, thu hoạch, chế biến và bảo quản của
299 loài LSNG Trong đó phân ra thành 6 nhóm: Nhóm cây có sợi (35 loài tre nứa, 2 loài mây và 8 loài khác); Nhóm cây làm thực phẩm (40 loài cây ăn được, 12 loài nấm); Nhóm cây thuốc (76 loài); Nhóm cây cho dầu nhựa (60 loài); Nhóm Tanin, thuốc nhuộm (19 loài); Nhóm cây bóng mát (23 loài cây hoa, 13 loài cây cảnh, 11 loài cây cảnh và cây bóng mát thân gỗ)
Trang 25* Nghiên cứu về chọn giống và nhân giống
Nhân giống Hồi bằng phương pháp giâm hom với thuốc kích thích ra rễ
là IBA (1%), hom lấy từ cây 2 tuổi có tỷ lệ ra rễ khá cao đạt từ 66 - 69%; Phương pháp ghép nêm và ghép áp cho hồi cũng có tỷ lệ sống khá cao, sau 3 tháng đạt hơn 79%, sau 5 tháng còn gần 74% và sau 14 tháng có thể xuất vườn còn gần 46% Tỷ lệ sống của cây ghép hầu như không phụ thuộc vào tuổi cây mẹ cho cành ghép mà phục thuộc rất rõ rệt vào từng dòng cây mẹ cho cành ghép (Nguyễn Huy Sơn, Nguyễn Tuấn Hưng - 2003) [20]
Xử lý bằng IBA (1%) trong thời kỳ đầu hè để giâm hom Quế đạt tỷ lệ
ra rễ cao và sử dụng phương pháp ghép nêm ngọn Quế cho tỷ lệ sống cao nhất
so với ghép mắt và ghép cành (70 - 77%)
Khi nghiên cứu chọn tạo giống Quế có năng suất tinh dầu cao Nguyễn Huy Sơn, Phạm Văn Tuấn (2006) [21] đã chọn được 122 cây trội theo các chỉ tiêu sinh trưởng, 79 cây theo sinh trưởng và hàm lượng tinh dầu, 45 cây theo
cả sinh trưởng, hàm lượng và chất lượng tinh dầu ở Yên Bái, Quảng Nam và Quảng Ngãi Về nhân giống, đề tài cũng đã chỉ ra được tuổi cây lấy hom, giá thể và loại hom có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom, tốt nhất là lấy hom cành hay hom chồi vượt ở cây dưới 7 năm tuổi, giâm hom trong giá thể cát vào đầu vụ hè là tốt nhất Đối với ghép, đề tài cũng đưa ra 3 phương pháp nhưng đạt hiệu quả cao nhất vẫn là ghép nêm ngọn, cành ghép tốt nhất là lấy
ở cây dưới 7 năm tuổi và nên ghép vào vụ thu Các tác giả đã dùng cây ghép
để xây dựng vườn giống kết hợp khảo nghiệm hậu thế đối với loài cây này
* Nghiên cứu về kỹ thuật gây trồng
Nguyễn Ngọc Bình (1964) [3] đã chỉ ra rằng Luồng sinh trưởng tốt nơi đất chua pH(KC1): 4,2 - 5,0 Cũng theo Nguyễn Ngọc Bình (2001) [4] khi nghiên cứu đặc biệt đất trồng rừng Tre Luồng và ảnh hưởng của các phương thức trồng rừng tre Luồng đến đất cho rằng trồng Luồng theo phương thức hỗn giao, thích hợp nhất là hỗn giao với cây họ đậu như Keo để tránh cho đất
bị suy thoái
Trang 26Ngô Quang Đê (1994) [9] cũng đã giới thiệu kỹ thuật gây trồng tre trúc cho 3 loài: Luồng, Mạy sang và Vầu đắng gồm các khâu ươm giống, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, khai thác và sử dụng
Triệu Văn Hùng, Nguyễn Xuân Quát, Hoàng Chương (2002) [11] đã giới thiệu điều kiện gây trồng, nguồn giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến cho một số loài cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị
Nguyễn Tử Kim, Lê Thu Hiền, Lưu Quốc Thành (2004) [15] đã trồng Song mật và Mây nếp dưới tán một số trạng thái rừng phục hồi ở Phú Thọ và Hoà Bình kết quả cho thấy: Mây nếp sau 42 tháng tuổi ở Cầu Hai (Phú Thọ), với phương pháp xử lý thực bì theo lỗ trống, trồng theo cụm (250 cụm/ha), mỗi cụm 3 hố, 1 cây/hố đã cho sinh trưởng về chiều cao và tỷ lệ đẻ nhánh cao nhất (h = 136cm, 65,3% số cây đẻ từ 1 - 3 nhánh) Cũng với phương pháp xử
lý như ở Cầu Hai (Phú Thọ), Mây nếp sau 30 tháng tuổi tại Hoà Bình đã cho sinh trường về chiều cao và tỷ lệ đẻ nhánh cao nhất (h = 201cm, 68,1% số cây
đẻ từ 1 - 3 nhánh)
Đỗ Văn Bản và các cộng sự (2005) [2] đã tuyển chọn 3 loài tre nhập
nội trồng để lấy măng: Điềm trúc (Dendrocalamus latiflorus), Lục trúc
(Bambusa oldhamii) và Tạp giao với 13,5 ha mô hình thực nghiệm tại Phú
Thọ và Thanh Hoá Đề tài đã đưa ra được một số biện pháp thâm canh cho mô hình trồng thuần loài: Mật độ trồng, phân bón, điều chỉnh cây mẹ, đồng thời
đã xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng thâm canh, kỹ thuật khai thác măng và một số biện pháp sơ chế bảo quản măng
Trong một công trình nghiên cứu khác Đỗ Văn Bản (2005) [2] cũng đã thống kê được hiện nay nước ta có 4 loài tre nhập nội lấy măng đang được gây trồng gồm Điềm trúc, Lục trúc, Tạp giao và Mạnh tông Đề tài đã thống
kê được diện tích trồng Điềm trúc tính đến năm 2003 là 2.700 ha Ngoài ra, đề tài còn cung cấp những thông tin về đặc tính sinh thái, hình thái, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và kinh nghiệm gây trồng của nhân dân
Trang 27Nguyễn Huy Sơn, Phạm Văn Tuấn (2006) [21] đã chỉ ra mật độ trồng rừng ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng của Quế, các tác giả cũng đưa ra mật
độ từ 300 cây/ha đến 5000 cây/ha là mật độ thích hợp cho Quế 18 tháng tuổi
Ngoài một số công trình điển hình ở trên, còn rất nhiều công trình của các nhà khoa học khác thuộc các ngành Y tế, môi trường,… đã tham gia nghiên cứu và có kết quả đáng chú ý như công trình của Viện Dược liệu (2005), Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật (2001); Trần Công Khánh (2000); Nguyễn Ngọc Lân (1999); Nguyễn Văn Tập (2001), Trần Văn Ơn (2002), các công trình của các địa phương;… Đặc biệt là các công trình nghiên cứu về kỹ thuật trồng Giổi xanh của Nguyễn Bá Chất (1984), kỹ thuật trồng Hồi của Nguyễn Thị Bích (1998), Kỹ thuật trồng Trám trắng của Phạm Đình Tam (1998),…
* Nghiên cứu về chế biến, bảo quản
Đỗ Tất Lợi (1985) [18] cho rằng tinh dầu Quế được cất từ lá, vỏ Trong
đó, tinh dầu từ vỏ có chất lượng cao nhất Hàm lương tinh dầu trong vỏ Quế thay đổi từ 0,5 đến 5%, trung bình là 1 - 2%; trong lá là 0,5 - 0,6%; trong cành là 0,3 - 0,33% Theo tác giả thì thành phần chủ yếu của tinh dầu Quế là aldehyd cinnamic với hàm lượng từ 65 - 95%
Trần Quốc Tuý và các cộng tác viên (1987) đã thành công trong việc chế biến nhựa cánh kiến đỏ bằng phương pháp nồi hấp và cơ giới hoá công đoạn cô cán cánh kiến đỏ, công trình đã phát huy hiệu quả thực sự trong việc
áp dụng cho sản xuất
Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2001) đã nghiên cứu bảo quản hạt Quế ở
3 tháng nhiệt độ là nhiệt độ phòng, 50
C và 150C Kết quả cho thấy với hạt Quế
có độ ẩm ban đầu từ 30,91 đến 40,23% bảo quản ở nhiệt độ phòng sau 1 tháng
tỷ lệ nảy mầm còn lại từ 87% đến 89,5%, tuy nhiên sau 3 tháng hạt hoàn toàn mất sức nảy mầm Bảo quản ở nhiệt độ 150C thì sau 1 tháng tỷ lệ nảy mầm còn
Trang 2835,5% đến 49,7%, sau 3 tháng tỷ lệ nảy mầm còn 0% Độ ẩm ban đầu có ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm khi bảo quản ở 50C, nếu độ ẩm ban đầu của hạt là 40,23% thì tỷ lệ nảy mầm sau 9 tháng còn 25%, tương tự với độ ẩm hạt là 36,23%, 30,91% có tỷ lệ nảy mầm là 14% và 1,5% Tiếc rằng tài liệu không cho biết tỷ lệ nảy mầm ban đầu là bao nhiều để đánh giá mức độ giảm tỷ lệ nảy mầm trong quá trình bảo quản Như vậy, có thể kết quả là để bảo quản được hạt lâu hơn cần có độ ẩm ban đầu lớn hơn 40% và bảo quản ở nhiệt đội 50C
* Các nghiên cứu khác
Christian Rake và cộng sự (1993) [28] khi nghiên cứu về LSNG tại ba tỉnh Hoà Bình, Sơn La và Lai Châu đã cho rằng LSNG có vai trò rất quan trọng trong đời sống người dân ở 3 tỉnh này Trong đó, tre nứa, sa nhân, trẩu
và song mây là những loài có tiềm năng phát triển Tuy nhiên, hiện nay người dân chủ yếu là khai thác tự nhiên nên nguồn tài nguyên này ngày càng cạn kiệt
Phan Văn Thắng và cộng sự (2000) khi nghiên cứu đánh giá vai trò của LSNG ở tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn cho rằng LSNG ở đây có vai trò rất quan trọng, chúng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình, chiếm trung bình 20 - 30% tổng thu nhập kinh tế của hộ/năm Đặc biệt một số nơi, người dân sống chủ yếu dựa vào LSNG như ở Nguyên Bình - Cao Bằng thu nhập chủ yếu từ cây trúc sào
Theo Nguyễn Tử Ưởng (2001) [26] , Việt Nam có 1.489.068 ha tre trúc chiếm 4,53% diện tích toàn quốc với tổng trữ lượng là 8.400.767.000 cây Rừng tre trúc tự nhiên có 1.415.552ha chiếm 14,99% diện tích rừng tự nhiên Trong đó, rừng thuần loài là 789.221 ha chiếm 8,36% diện tích rừng tự nhiên; Rừng hỗn giao tre gỗ có 626.331ha chiếm 6,63% diện tích rừng tự nhiên Rừng tre trúc đồng có 73.516ha bằng 4,99% diện tích rừng tự nhiên Diện tích
và trữ lượng tre trúc đáng quan tâm nhất là vùng Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Đông Bắc, Đông Nam Bộ và Tây Bắc
Trang 29Dự án LSNG pha II (2006) khi nghiên cứu, tổng kết và đánh giá một số
mô hình nhận thấy rằng các mô hình LSNG đều mang lại hiệu quả kinh tế cao
và đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng của người dân nếu loài được chọn có tiềm năng thì trường, phù hợp đất đai và được chuyển giao kỹ thuật tốt Các loài LSNG có giá trị, đang được gây trồng và phát triển mạnh như mây, thảo quả, sa nhân,… đang có xu hướng mở rộng diện tích ở nhiều vùng sinh thái
Tóm lại: LSNG có vai trò rất quan trọng đối với người dân miền núi sống
ở gần rừng và trong rừng Ở một số địa phương, LSNG là nguồn thu nhập chủ yếu để nâng cao đời sống, góp phần xoá đói giảm nghèo cho người dân Phát triển LSNG dưới tán rừng tự nhiên vừa tăng thêm thu nhập vừa bảo vệ được tầng cây gỗ của rừng, đồng thời bảo vệ được môi trường sống cho loài người Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu còn tản mạn chưa tập trung và chưa hệ thống, chủ yếu tập trung thống kê, phân loại các loài LSNG; một số công trình khác cũng chỉ tập trung nghiên cứu về nhân giống, điều kiện gây trồng, chế biến và bảo quản cho một hay một số loài cụ thể Vì thế chưa thể phát triển các loài LSNG trên quy mô lớn để tạo thành hàng hoá và chưa tạo được thị trường Để thực hiện tốt chương trình phát triển LSNG nói riêng và phát triển tài nguyên rừng nói chung cần thiết phải đánh giá được thực trạng và kỹ thuật gây trồng các loài LSNG hiện nay để làm cơ sở nhân giống xây dựng vườn giống cũng như xây dựng kế hoạch phát triển một cách bền vững Căn cứ vào kết quả các công trình nghiên cứu đã được tổng quan trên đây, cần phải nghiên cứu bổ sung một
số vấn đề và đó cũng là những nội dung nghiên cứu luận văn này gồm:
- Xác định tập đoàn cây LSNG có giá trị kinh tế thông qua điều tra, đánh giá - Các hình thức gây trồng đang được áp dụng với tập đoàn cây LSNG có giá trị nêu trên
- Tiến hành nhân giống các loài trong tập đoàn cây LSNG trên bằng cách xây dựng các mô hình thử nghiệm tại địa điểm nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật phù hợp trong quá trình nhân giống và nhân rộng các mô hình trên
Trang 30Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu
2.1.1 Mục tiêu chung
Đưa ra một số hướng dẫn về quy trình nhân giống một số loài cây LSNG có giá trị góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nghề rừng ở các địa phương vùng đệm VQG Tam Đảo, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và xoá đói giảm nghèo cho người dân nhất là đồng bào dân tộc ít người; tận dụng được nguồn lực và tiềm năng tại chỗ; bảo tồn đa dạng sinh học
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu những kỹ thuật nhân giống đã có tại khu vực nghiên cứu
- Xây dựng được một số quy trình kỹ thuật nhân giống thông qua việc tiến hành các nghiên cứu nhân giống các loài cây LSNG có giá trị được lựa chọn trong các mô hình thử nghiệm tại địa điểm nghiên cứu
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là: Những loài LSNG có giá trị kinh tế ở vùng đệm VQG Tam Đảo (đặc tính sinh vật học, sinh thái học,… khả năng nhân tạo giống)
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
* Giới hạn về nội dung nghiên cứu:
- Đề tài chỉ tập trung vào các kỹ thuật nhân giống đối với các cây
LSNG trên địa bàn nghiên cứu
Trang 31- Đề tài chỉ tập trung sâu vào đối tượng là các loài cây LSNG đã và đang được người dân và cộng đồng vùng đệm vườn quốc gia sử dụng chủ yếu
và có giá trị cao về mặt thị trường
* Về địa bàn nghiên cứu
Do thời gian và kinh phí có hạn nên đề tài chỉ tập trung điều tra nghiên cứu, xây dựng mô hình nhân giống thử nghiệm ở 02 xã Quân Chu và Mỹ Yên của huyện Đại Từ thuộc vùng đệm của Vườn quốc gia Tam Đảo
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Xác định tập đoàn cây LSNG có giá trị kinh tế tại địa bàn nghiên cứu
- Thống kê các loại LSNG hiện có tại khu vực nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng khai thác, sử dụng và tiêu thụ một số loại LSNG
có giá trị tại khu vực nghiên cứu => vai trò của LSNG đối với đời sống của người dân tại vùng đệm VQG Tam Đảo
- Các loại LSNG có giá trị và tiêu chí lựa chọn ưu tiên để nhân giống
2.3.2 Thực trạng nhân giống, gây trồng cây LSNG có giá trị tại địa bàn nghiên cứu
- Xác định rõ được các loài cây LSNG đã có đủ kiến thức để nhân giống và điều kiện sinh thái cho gây trồng (không cần nghiên cứu thêm)
- Xác định được các loài cây LSNG có giá trị chưa có kỹ thuật/kỹ thuật chưa hoàn thiện trong nhân giống và gây trồng để đưa vào trong nghiên cứu nhân giống (những loài có ưu tiên cao)
- Xác định được các loài cây LSNG được coi là quan trọng cho nghiên
cứu trong tương lai (những loài có ưu tiên thấp)
2.3.3 Thử nghiệm nhân giống một số loài cây LSNG đã được lựa chọn trong các mô hình thử nghiệm tại địa bàn nghiên cứu
Trang 322.3.4 Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật tạm thời về quá trình nhân giống và phát triển nhân rộng các mô hình trồng cây LSNG cho nông dân tại vùng đệm VQG Tam Đảo
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Cách tiếp cận nghiên cứu của đề tài
Chưa biết Thử nghiệm
KT nhân giống Quy trình LSNG thuộc
nhóm In-situ
và LSNG ít có giá trị (Ex-situ)
Đã biết KT
Nghiên cứu sau Chưa biết,
chưa rõ KT
2.4.2 Các phương pháp nghiên cứu
2.4.2.1 Kế thừa tài liệu sẵn có về loài cây, diện tích, nơi trồng, năng suất, chất lượng sản phẩm,… từ các nghiên cứu, báo cáo điều tra,…trước
đó tại VQG)
- Tham vấn hiện trường kết hợp với điều tra, thu thập các thông tin về thực trạng gây trồng loài cây LSNG với đối tượng chính là người dân có tác động vào rừng VQG, các thầy lang địa phương, nhưng người có am hiểu về LSNG khác
- Phỏng vấn: Sử dụng các câu hỏi phỏng vấn bán định hướng để thu thập các thông tin về hiện trạng gây trồng đối với đại diện của các cơ quan, ban ngành có liên quan, đặc biệt là các cán bộ VQG Tam Đảo
Trang 33- Xếp hạng: Sử dụng công cụ đánh giá xếp hạng bằng cách so sánh cặp đôi do những người tham gia điều tra để đánh giá xếp hạng, xác định các loài cây ưu tiên gây trồng
- Phân tích kinh tế hộ: Sử dụng công cụ phân tích kinh tế hộ để đánh giá vai trò và thu nhập của người dân từ LSNG trên cơ sở điều tra, phỏng vấn các hộ gia đình
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc : Những hộ đã và đang gây trồng, sử dụng LSNG Các thông tin điều tra chính gồm:
+ Loài cây: Xác định tên địa phương và tên khoa học cho mỗi loài + Nguồn khai thác các sản phẩm của cây LSNG (lấy sợi, cho thực phẩm,…)
+ Mục đích chủ yếu của các hộ dân trong việc thu hái /khai thác các sản phẩm LSNG theo từng nhóm
+ Phương pháp trồng , chăm sóc , thu hái , chế biến và kinh doanh đối với những loài cây này
2.4.3 Nghiên cứu thực nghiệm nghiên cứu nhân giống bằng hom
2.4.3.1 Phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp bố trí thí nghiệm
- Phương pháp kế thừa có chọn lọc số liệu: Kế thừa những tài liệu có sẵn về địa điểm nghiên cứu (vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên hoặc đất đai…), một số đặc điểm về đối tượng nghiên cứu (giá trị kinh tế, đặc tính sinh vật học, sinh thái học….) và những kết quả có liên quan đến đề tài
- Phương pháp lấy mẫu và phân tích mẫu: Rút mẫu ngẫu nhiên để tính toán tỷ lệ ra rễ…
- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu điều tra: Từ số liệu thu thập được qua các mẫu biểu điều tra ngoại nghiệp, tiến hành tổng hợp và phân tích kết quả thí nghiệm bằng các phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp
Trang 34- Chuẩn bị giá thể: Đất tầng B, trấu hun, phân vi sinh
- Một số vật tư, trang thiết bị phục vụ công tác nghiên cứu như: Dao, kéo cắt hom, xô nhựa, thuốc xử lý giá thể (KMNO4) 1%, thuốc xử lý nấm (VIBENC), thuốc kích thích ra rễ NAA 2000ppm, vòi phun sương, cồn 70º để sát trùng vết cắt, keo 502 (bít mạch vết cắt tại hom giâm) tránh thoát hơi nước
- Chuẩn bị các vật liệu làm dàn che như: Tre, nứa, lưới đen, nilon trắng, dây buộc,…
- Đặc biệt là chuẩn bị cây mẹ lấy hom
Trang 35Mỗi công thức thí nghiệm sử dụng 200 hom, thí nghiệm được lặp lại 2 lần, thí nghiệm cần 3 ô đối chứng dùng 3 loại hom khác nhau (ô đối chứng không sử dụng thuốc kích thích, giá thể giâm hom là đất tầng B, đã xử lí diệt nấm bệnh), mỗi ô đối chứng cũng có 200 hom Như vậy toàn bộ thí nghiệm
sử dụng 21 ô thí nghiệm, và 4200 hom giống gồm 1400 hom thân gốc, 1400 hom thân bánh tẻ, 1400 hom ngọn
Sơ đồ bố trí các công thức thí nghiệm
Số lần nhăc lại Công thức thí nghiệm
1
Đối chứng IV
Phân vi sinh
=> Toàn bộ giá thể giâm hom được xử lý bằng thuốc tím KMNO4 0,1% trước khi cắm hom 24h
Trang 36 Chuẩn bị luống xếp bầu
Chuẩn bị mặt bằng đặt luống: San phẳng nền đất tại vị trí dự kiến làm
luống giâm hom, nhặt sạch cỏ dại
Làm luống: Dùng gạch silicát tạo thành hình của luống sao cho chiều cao mặt luống khoảng 20 - 30 cm, chiều ngang 1m, chiều dài 10 - 12 m Sau
đó đổ đầy hỗn hợp giá thể theo các tỉ lệ đã xác định rồi trộn đều và san phẳng
Làm giàn che
Làm giàn che bóng: Giàn che được làm cao hơn đầu người để tiện đi
lại chăm sóc, giàn che được che phủ bằng lưới đen có tác dụng che nắng, giảm cường độ ánh sáng, và giữ ẩm cho đất, bảo vệ hom khỏi tác động của nhiệt độ cao vào những ngày nắng nóng
Làm vòm che: Trên mỗi luống cắm hom làm vòm che uốn theo hình
vòm cung cao 0,7 - 1m, chạy dài và che phủ toàn bộ luống Khung vòm che được làm bằng tre, và phủ bằng nilon trắng để ánh sáng lọt qua dễ dàng đảm bảo cho hom đủ ánh sáng để quang hợp, tổng hợp chất hữu cơ và nảy mầm Giàn che che kín cả luống giâm hom có tác dụng giữ ẩm cho giá thể, hạn chế sự thoát hơi nước của hom giữ cho hom không bị héo trước khi ra rễ Vòm che còn có tác dụng giữ ấm cho hom giâm trong những ngày nhiệt độ xuống thấp
Cắt hom và xử lý hom
Tiêu chuẩn của hom giâm: Hom được chọn là hom lấy từ cây mẹ
khỏe mạnh, bản thân hom không bị sâu bệnh, không bị tổn thương cơ giới,
có chiều dài từ 10 - 20 cm sao cho hom có ít nhất 2 chồi ngủ, có lá tồn tại trên hom
Cắt hom và xử lí hom:
+ Dùng kéo cắt cành sắc hoặc dao cắt hom để cắt hom giâm độ dài hom
là khoảng 15cm, giữ lại 1/3 lá vẫn còn tươi Dùng dao sắc cắt hom để tránh
Trang 37dập nát, đầu hom cắt vát nghiêng một góc 45º giúp tăng diện tích tiếp xúc với thuốc kích thích, tăng diện tích tiếp xúc Hom cắt được để theo một chiều từ gốc tới ngọn để khi cắm thao tác nhanh
+ Dùng cồn 70 độ chấm vào đầu hom, để trong vòng 7 phút
+ Cho thuốc kích thích ra rễ (NAA 2000 ppm) vào chậu (khoảng 2cm), sau đó nhúng hom giâm vào trong vòng 15 phút
+ Sau khoảng 10 phút , thuốc kích thích đã bám vào hom và bắt đầu khô bôi keo hoặc vôi vào tất cả các vết cắt
+ Ngâm toàn bộ hom giâm trong thuốc tím (KMnO4) để xử lý nấm bệnh trong khoảng 15 phút, sau đó mang hong khô Tùy theo loại hom, hom gốc có thể ngâm lâu hơn, hom ngọn nên ngâm ít hơn một chút
Cắm hom: Trước khi cắm hom nên tưới đẫm nước cho luống giâm
giúp bổ sung độ ẩm cho giá thể và thao tác cắm hom được dễ dàng Dùng que nhọn có đường kính rộng hơn đường kính hom để tạo lỗ cắm hom Mật độ: 100 hom/m2 Khoảng cách: Hàng cách hàng 10 cm, hom cách hom 10 cm Độ sâu cắm hom khoảng 8 - 10 cm sao cho ngập ít nhất là 1 chồi ngủ dưới mặt đất
* Chú ý: Để đảm bảo cho hom giâm không bị mất sức nảy mầm chúng
ta nên cắt hom và xử lý hom từng ít một, cắt đến đâu xử lý đến đấy và giâm ngay sau khi xử lý
Chăm sóc và thu thập số liệu
+ Chăm sóc luống bầu giâm: Trong chăm sóc quan trọng nhất là duy trì
độ ẩm thích hợp cho luống giâm hom cũng như cho toàn bộ hom giâm Không được để luống khô, mất nước, song cũng không được để luống giâm quá ướt tạo điều kiện thông thoáng khí tránh hiện tượng hom bị úng, ngạt và bị thối hom Nhiệt độ không khí và nhiệt độ giá thể cũng cần được chú ý Vào những ngày trời rét nên hạn chế mở vòm che nhằm giữ ấm cho hom, ngược lại vào những ngày nắng nóng nhất là vào buổi trưa cần tăng cường che bóng, mở hai đầu vòm
Trang 38che cho không khí lưu thông Đến buổi chiều tối dỡ bớt dàn che và tiến hành phun sương làm mát cho hom Ánh sáng cũng là yếu tố cần quan tâm Luôn đảm bảo cho hom giâm có đủ ánh sáng để quang hợp, nhưng không quá mạnh
+ Giai đoạn 7 - 20 ngày tiếp theo vết cắt của hom đã bắt đầu hình thành
mô sẹo, mầm ngủ bắt đầu phân hóa mạnh, lượng nước tưới vẫn cần duy trì 2 lần trong một ngày, tuy nhiên mỗi lần tưới chỉ 15 - 20 phút Giai đoạn này vẫn cần giàn che và phủ nilon tuy nhiên có thể bỏ nilon ở vòm che ra vào buổi chiều và đậy lại vào buổi sáng hôm sau, để cây dần thích nghi với điều kiện bên ngoài
+ Giai đoạn tiếp theo Từ 20 - 60 ngày tuổi có thể bỏ hoàn toàn vòm che, nhưng vẫn để nguyên lưới đen Bắt đầu từ ngày thứ 20 rễ đã bắt đầu hình thành, tuy nhiên rễ còn non và khả năng hút nước, chất dinh dưỡng chưa mạnh nên vẫn cần duy trì lượng ẩm cần thiết Tuy nhiên có thể tưới trong thời gian ngắn với loại vòi phun hạt to hơn (vòi phun mưa), mỗi ngày 1 lần
+ Giai đoạn tiếp theo: 60 ngày - xuất vườn Giai đoạn này hệ rễ đã phát triển hoàn thiện và khả năng hút nước, chất dinh dưỡng mạnh, có thể bón thêm phân vi sinh để bổ sung dinh dưỡng cho cây Chỉ cần tưới nước duy trì 3
- 5 ngày/ lần
+ Thu thập số liệu: Theo định kì, tiến hành theo dõi và đếm số hom còn
sống, lấy mẫu và đo đếm rễ, tính trị số trung bình về chiều dài rễ (cm), số hom ra rễ/số hom kiểm tra (%), đo chiều dài rễ, số hom nảy chồi (%), số chồi/hom (chồi), số hom sống (%) Tất cả các thao tác được diễn ra lặp lại trên từng ô thí nghiệm
Trang 39Cụ thể như sau:
- Sau 20 ngày kể từ ngày giâm hom: Đếm số hom sống, số hom ra chồi,
nhổ 20 hom giống kiểm tra và mô tả rễ, chụp hình
- Sau 10 ngày tiếp theo (sau 30 ngày kể từ ngày giâm hom ): Đếm số
hom còn sống, số hom ra chồi, số chồi/hom Nhổ 20 hom giống bất kì kiểm
tra và mô tả rễ, chụp hình Quan sát chồi và ghi chép
- Sau 10 ngày tiếp theo (sau 40 ngày kể từ ngày giâm hom ): Đếm số
hom còn sống, số hom ra chồi, số chồi/hom Nhổ 20 hom giống bất kì kiểm
tra và mô tả rễ, chụp hình Quan sát chồi và ghi chép
Chú ý: Khi nhổ hom lên kiểm tra ta tưới sũng nước, dùng dao hoặc bay xúc
cả đất và đặt nhẹ nhàng vào chậu nước hạn chế việc làm đứt rễ Sau khi đó đếm
xong lại trồng lại như cũ
2/ Công tác nội nghiệp
* Xử lý số liệu
Các chỉ tiêu theo dõi được tiến hành 10 ngày 1 lần Bao gồm các chỉ
tiêu sau:
+ Tỷ lệ hom sống (%)= số hom sống* 100%/ số hom thí nghiệm
+ Thời gian ra rễ (ngày): tính từ ngày giâm hom đến ngày số hom trong
* Tổng hợp và phân tích số liệu điều tra
Từ những số liệu thu thập được trong quá trình điều tra ngoại nghiệp,
tôi tiến hành tổng hợp và phân tích và trình bày kết quả thành những nội
dung, bảng biểu, biểu đồ trong báo cáo
Trang 402.4.4 Nghiên cứu thực nghiệm nghiên cứu nhân giống bằng hạt
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ nước xử lý hạt tới tỷ
CT1: 5% phân chuồng hoai + 95% đất tầng A
CT2: 5%phân chuồng hoai + 3% NPK + 92% đất tầng A
CT3: 5% phân chuồng hoai + 5%NPK + 90% đất tầng A
CT4 (ĐC): Không phân (đất tầng A)
Chuẩn bị dụng cụ, vật tư phục vụ nghiên cứu:
- Chuẩn bị quả/hạt cây giống
- Túi bầu, quốc, xẻng, sàng đất, đất đóng bầu, lưới che…
- Dụng cụ tưới, bình phun, khay đựng…
- Văn phòng phẩm: giấy, bút, tài liệu tham khảo, thước do chiều cao
- Vật tư nông nghiệp: phân bón, thuốc diệt nấm…
Bố trí thí nghiệm:
- Lúc tạo cây mầm: tạo thành 4 luống
- Lúc theo dõi tỉ lệ nẩy mầm : 4 ô mỗi ô 300 hạt
- Giai đoạn cây con có 4 công thức:
+ CT1: 5% phân chuồng hoai + 95% đất tầng A
+ CT2: 5%phân chuồng hoai + 3% NPK + 92% đất tầng A
+ CT3: 5% phân chuồng hoai + 5%NPK + 90% đất tầng A
+ CT4 (ĐC): Không phân (đất tầng A)