Các công nghệ liên quan đến GIS GIS liên quan mật thiết với một số hệ thống thông tin khác, nhưng khả năng thao tác và phân tích các dữ liệu địa lý chỉ có công nghệ GIS là thực hiện đượ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
ĐỖ THỊ THẢO
PHÂN VÙNG BẢO TỒN THEO MỨC ĐỘ NHẠY CẢM TẠI VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ BẰNG
CÔNG NGHỆ GIS VÀ VIỄN THÁM
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta có khoảng 94 khu bảo tồn thiên nhiên, trong đó có 11 vườn quốc gia Các khu này đã đem lại giá trị lớn về kinh tế, môi trường và là nơi lưu trữ nguồn gen động thực vật quý hiếm Những giá trị này chịu ảnh hưởng rất lớn
từ vùng nằm sát ranh giới (vùng đệm) với các khu bảo tồn Vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên là vùng nhạy cảm Bảo vệ vùng đệm là vấn đề có tầm quan trọng trên cả hai khía cạnh: bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm
về lợi ích sống còn và trách nhiệm, bổn phận của cộng đồng dân cư sống trong vùng vì sự phát triển bền vững Ở nước ta, vấn đề này đã có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong quản lý vùng đệm nhưng vẫn là vấn đề có nhiều thách thức: ý thức cộng đồng, thể chế chính sách, tình trạng gia tăng dân số
Vào đầu thế kỷ 21, chúng ta đã nhận thấy tài nguyên sinh học là có giới hạn và chúng ta đang khai thác vượt quá những giới hạn này, do đó đang làm giảm tính đa dạng sinh học Mỗi năm, dân số loài người ngày càng tăng hơn
so với trước đây, các loài đang bị diệt vong với tốc độ nhanh nhất trong lịch
sử Các hoạt động của con người ngày càng làm suy giảm khả năng chu cấp cho sự sống của Trái đất, sự tăng dân số và nhu cầu tiêu dùng lại đòi hỏi ngày càng nhiều tài nguyên thiên nhiên Những tác động có tính hủy diệt cùng lúc gây ra bởi một số lượng lớn những người nghèo và một số ít người giàu có nhu cầu tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên đang dần phá vỡ sự cân bằng vốn đã
và đang tồn tại giữa nhu cầu tiêu thụ tài nguyên của con người và khả năng đáp ứng của Trái đất
Quần thể Vườn quốc gia Ba Bể rộng 10.048 ha, khu vực lõi Vườn có hồ nước rộng khoảng 500 ha, ba nhánh sông từ các ngọn núi chảy vào hồ tạo nên một vùng sơn thủy hùng vĩ, nơi đây được coi là nơi trú ngụ an toàn của cá loài
Trang 3cá tôm, chim, thú Công tác bảo tồn đa dạng sinh học đã được thực hiện tương đối tốt ở vùng lõi, tuy nhiên việc thực hiện bảo tồn ở vùng đệm vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn do vùng đệm có diện tích rộng mà nguồn nhân lực và tài chính còn nhiều hạn chế Nhiệm vụ đặt ra là phải có chiến lược, kế hoạch thực hiện các chương trình, dự án bảo tồn đa dạng sinh học đem lại hiệu quả cao nhất dựa trên nguồn lực sẵn có Để được như vậy, phải xác định thứ tự ưu tiên cho các vùng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học căn cứ vào mức độ nhạy cảm của từng vùng Các phương pháp thủ công cũng đã được áp dụng trong việc phân vùng ưu tiên bảo tồn nhưng đòi hỏi chi phí về thời gian, tài chính và nguồn nhân lực lớn mà hiệu quả đem lại chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn Yêu cầu đặt ra là phải áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ của nhân loại để đem lại hiệu quả cao hơn
Ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, các ứng dụng GIS (Geographic Infomation System) được liên tục phát triển trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ tài nguyên môi trường Xu hướng hiện nay trong quản lý tài nguyên và môi trường là sử dụng tối đa khả năng cho phép của GIS
Công nghệ viễn thám, một trong những thành tựu khoa học vũ trụ, đã đạt đến trình độ cao và trở thành kỹ thuật phổ biến được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội ở nhiều nước trên thế giới Nhu cầu ứng dụng công nghệ viễn thám trong lĩnh vực điều tra nghiên cứu, khai thác, sử dụng, quản lý tài nguyên và môi trường ngày càng gia tăng nhanh
Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà
trường, Khoa Sau đại học và sự giúp đỡ của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Thế Hùng
và các thầy cô giáo, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Phân vùng bảo tồn theo
mức độ nhạy cảm tại vùng đệm Vườn quốc gia Ba Bể bằng công nghệ GIS và viễn thám”
Trang 42 Mục đích, mục tiêu của đề tài
- Ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS xây dựng bản đồ phân vùng bảo tồn theo mức độ nhạy cảm tại vùng đệm Vườn quốc gia Ba Bể thuộc hai xã Khang Ninh và Cao Thượng của huyện Ba Bể
- Khoanh vùng bảo tồn đa dạng sinh học theo các mức độ nhạy cảm
- Đề xuất phương hướng bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng đệm Vườn quốc gia Ba Bể thuộc hai xã Khang Ninh và Cao Thượng của huyện Ba Bể
- Xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu bản đồ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng đệm Vườn quốc gia Ba Bể
3 Ý nghĩa của đề tài
*/ Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Đây là cơ hội cho học viên vận dụng những kiến thức đã học và những hiểu biết của mình vào thực tiễn, đồng thời cũng có cơ hội nâng cao sự hiểu biết
về việc bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên
- Nâng cao kỹ năng sử dụng và tích hợp các phần mềm tin học ứng dụng
*/ Ý nghĩa trong thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu có thể giúp cho các nhà hoạch định chính sách đưa
ra các quyết định đúng đắn trong việc thực hiện các chương trình, dự án bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng đệm Vườn quốc gia Ba Bể
- Quy trình thực hiện có thể áp dụng để phân vùng bảo tồn cho toàn vùng đệm Vườn quốc gia Ba Bể và các Vườn quốc gia, Vườn di sản, khu danh thắng, khu bảo tồn khác
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Các khái niệm có liên quan
1.1.1 Vùng đệm và đa dạng sinh học
1.1.1.1 Khái niệm vùng đệm
Một trong các sản phẩm thực tiễn của tư tưởng chung về bảo tồn và phát triển bền vững là các khái niệm vùng đệm Vùng đệm không nằm trong khu bảo tồn, không chịu sự quản lý của ban quản lý khu bảo tồn Vùng đệm thường được coi là vùng đất nằm ngay sát và thường bao quanh những vùng
có giá trị bảo tồn như vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, các khu dự trữ cho các mục đích đặc biệt
Vùng đệm là vùng được xác định rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việc bảo vệ các khu bảo tồn và cho chính vùng đệm, mang lại lợi ích cho nhân dân sống xung quanh khu bảo tồn, để bảo vệ và phát triển một cách bền vững Vùng đệm chịu sự quản lý của chính quyền địa phương và các đơn vị kinh tế khác nằm trong vùng đệm Nhìn chung, vùng đệm phải được quy hoạch theo ranh giới của các xã nằm ngay bên ngoài khu bảo tồn
Các chức năng chính của vùng đệm là: Góp phần vào việc bảo vệ khu bảo tồn, nâng cao giá trị bảo tồn của chính bản thân vùng đệm, tạo điều kiện mang lại cho những người dân xung quanh những lợi ích từ khu bảo tồn (Lê Trọng Cúc, 2002) [4]
1.1.1.2 Những khó khăn trong quản lý vùng đệm
Vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên là vùng nhạy cảm Bảo vệ vùng đệm là vấn đề có tầm quan trọng trên cả hai khía cạnh: Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm lợi ích sống còn và trách nhiệm, bổn phận của cộng
Trang 6đồng dân cư sống trong vùng vì sự phát triển bền vững Điều khó khăn nhất gặp phải trong việc quản lý vùng đệm của vườn quốc gia và khu bảo tồn nước
ta hiện nay là:
Hầu hết vùng đệm đều có đông dân cư sinh sống Vùng đệm thuộc quyền quản lý của chính quyền địa phương (xã, huyện, tỉnh) nhưng thường chính quyền địa phương ít quan tâm đến khu bảo tồn vì họ không hiểu rõ tầm quan trọng của khu bảo tồn đối với địa phương và coi việc bảo vệ các khu rừng đặc dụng là việc của ban quản lý các khu rừng đó
Nhân dân địa phương, đa số là nghèo, dân số tăng nhanh, dân trí thấp, trong một số trường hợp họ cho rằng việc thành lập khu bảo tồn không đem lại lợi ích gì cho họ, mà chỉ bị thiệt vì họ không được tự do khai thác một phần tài nguyên thiên nhiên như trước
Hầu hết ban quản lý các khu bảo tồn chưa có giải pháp hữu hiệu để lôi kéo người dân vùng đệm tham gia công tác bảo tồn, chẳng những thế mà trong nhiều trường hợp vùng đệm là nơi chứa chấp bọn phá rừng, là tụ điểm thu gom động vật hoang dã trái phép
Tập quán canh tác của người dân sống trong vùng đệm ở một số nơi quá lạc hậu, vẫn tồn tại phương thức đốt nương làm rẫy, chọc lỗ tra hạt vì vậy năng suất mùa màng rất thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo cao (Nguyễn Bá Thụ, 2008) [11]
1.1.1.3 Các vấn đề cần giải quyết đối với vùng đệm
Các cơ quan quản lý môi trường cấp trung ương cần phải soạn thảo trình Chính phủ ban hành càng sớm càng tốt quy chế quản lý vùng đệm các khu bảo tồn nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản như: Khái niệm vùng đệm, phạm vi vùng đệm các khu bảo tồn và chính sách đầu tư cho vùng đệm
Dự án đầu tư vùng đệm phải được xây dựng đồng thời và được phê duyệt cùng với vùng lõi, để tránh tình trạng khi được phê duyệt dự án vùng
Trang 7lõi các chủ đầu tư chỉ quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng như nhà cửa, đường sá mà bỏ quên vấn đề vùng đệm (Nguyễn Bá Thụ, 2008) [11]
Những vấn đề chính trong việc lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động phát triển trong vùng đệm:
Các hoạt động phải được thiết kế, xây dựng để nâng cao điều kiện kinh
tế - xã hội của cư dân sống trong vùng đệm, nhằm giảm sự phụ thuộc của họ vào các nguồn tài nguyên trong khu bảo tồn
Các hoạt động được xác định phải có sự tham khảo ý kiến của các cộng đồng địa phương và phải được thiết kế nhằm đáp ứng các nhu cầu của họ, bao trùm một loạt các khả năng như cải thiện vườn nhà, cải thiện các hệ thống canh tác, phát triển các ngành nghề thủ công, giới thiệu các hoạt động du lịch sinh thái, v.v
Trọng tâm chính của các hoạt động phải nhằm vào những cá nhân và các nhóm người sử dụng nhiều các nguồn tài nguyên thiên nhiên lấy từ khu bảo tồn Cách tiếp cận phải linh hoạt vì nhu cầu của người dân thay đổi theo thời gian và khả năng tham gia của họ sẽ tăng lên khi lòng tin của họ tăng lên Bất kỳ hoạt động nào, chẳng hạn như du lịch sinh thái phải được lập kế hoạch sao cho có thể làm tăng đến tối đa lợi nhuận cho cộng đồng và các cấp chính quyền địa phương (kể cả thu phí, thuế và dịch vụ trực tiếp)
Các hoạt động phải đi kèm với các chương trình giáo dục và tập huấn cho các cộng đồng và các cán bộ địa phương nhạy cảm về tầm quan trọng của bảo tồn trong công cuộc phát triển đất nước Ban quản lý vườn quốc gia có thể là cơ quan chính, chỉ đạo những hoạt động này và phải có những ưu tiên trong việc tuyển dụng người địa phương vào công tác quản lý vườn (Lê Trọng Cúc, 2002) [4]
1.1.1.4 Khái niệm đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học (Biodiversity) là sự giàu có, phong phú và đa dạng về nguyên liệu di truyền, về loài và các hệ sinh thái Vì vậy, đa dạng sinh học bao gồm đa dạng ở mức độ trong loài là sự đa dạng, phong phú các gen trong
Trang 8quần thể gọi là đa dạng di truyền hay đa dạng gen; đa dạng ở mức độ loài là
sự phong phú các loài gọi là đa dạng loài; và sự phong phú về các hệ sinh thái
gọi là đa dạng sinh thái (Lê Trọng Cúc, 2002) [4]
1.1.1.5 Giá trị của đa dạng sinh học
- Duy trì các dịch vụ sinh thái quan trọng
- Cung cấp cơ sở cho sức khỏe con người
- Là nguồn cho năng suất và tính bền vững nông nghiệp
- Cơ sở cho sự ổn định kinh tế và sự giàu có
- Giúp cho sự ổn định các hệ thống chính trị, xã hội
- Làm giàu chất lượng cuộc sống của chúng ta
GIS cho phép tạo lập bản đồ, phối hợp thông tin, khái quát các viễn cảnh, giải quyết các vấn đề phức tạp và phát triển các giải pháp hiệu quả mà trước đây không thực hiện được Nhờ khả năng xử lý các tập hợp dữ liệu lớn
từ các cơ sở dữ liệu phức tạp nên GIS thích hợp với các nhiệm vụ quản lý tài nguyên và môi trường Các mô hình phức tạp cũng dễ dàng cập nhật thông tin nhờ sử dụng GIS
Lập bản đồ và phân tích địa lý không phải là kỹ thuật mới, nhưng GIS thực thi các công việc này tốt hơn và nhanh hơn các phương pháp thủ công cũ
Trang 9Trước công nghệ GIS, chỉ có một số ít người có những kỹ năng cần thiết để sử dụng thông tin địa lý giúp ích cho việc giải quyết những vấn đề và đưa ra các quyết định GIS được sử dụng để cung cấp thông tin nhanh hơn và hiệu quả hơn cho các nhà hoạch định chính sách (Đàm Xuân Vận, 2008) [13]
1.1.2.2 Các thành phần của GIS
GIS được kết hợp bởi 5 thành phần chính:
- Phần cứng: là hệ thống máy tính trên đó có một hệ GIS hoạt động Ngày nay, phần mềm GIS có khả năng chạy trên rất nhiều dạng phần cứng,
từ máy chủ trung tâm đến các máy trạm hoạt động độc lập hoặc liên kết mạng
- Phần mềm: Phần mềm GIS cung cấp các chức năng và các công cụ cần thiết
để lưu trữ, phân tích và hiển thị thông tin địa lý Các thành phần chính trong phần mềm GIS là:
+ Công cụ nhập và thao tác trên các thông tin địa lý
+ Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS - Database Management System) + Công cụ hỗ trợ hỏi đáp, phân tích và hiển thị địa lý
+ Giao diện đồ họa người máy để truy cập các công cụ dễ dàng
- Dữ liệu: Có thể coi là thành phần quan trọng nhất trong một hệ GIS Các dữ liệu địa lý và dữ liệu thuộc tính liên quan có thể được người sử dụng
tự tập hợp hoặc được mua từ nhà cung cấp dữ liệu thương mại Hệ GIS sẽ kết hợp dữ liệu không gian với các nguồn dữ liệu khác, thậm chí có thể sử dụng DBMS để tổ chức lưu trữ và quản lý dữ liệu
- Con người: Yếu tố con người trong công nghệ GIS không những chỉ là những người có nhiệm vụ tập hợp dữ liệu một cách đầy đủ và chính xác, mà còn là những người có khả năng ứng dụng các kết quả từ GIS để đưa ra những quyết định đúng đắn cho những ứng dụng cụ thể Con người ở đây vừa có thể
là yếu tố tham gia vào ứng dụng công nghệ, như các chuyên gia về bản đồ, đội ngũ nhân viên kỹ thuật tin học, các chuyên gia trong các lĩnh vực ứng
Trang 10dụng GIS mà còn cả những con người là mục đích của ứng dụng công nghệ GIS Công nghệ GIS sẽ bị hạn chế nếu không có con người tham gia quản lý
hệ thống và phát triển những ứng dụng GIS trong thực tế
- Các chương trình đào tạo: Các trung tâm ứng dụng GIS cần phải mở các lớp đào tạo sử dụng GIS và cơ sở dữ liệu của GIS Đặc biệt là với các hệ thống GIS trực tuyến, việc giới thiệu và đào tạo đội ngũ sử dụng một cách hiệu quả GIS thậm chí có tính chất quyết định cho hiệu quả của công nghệ này (Đàm Xuân Vận, 2008) [14]
1.1.2.3 Cách làm việc của GIS
GIS lưu giữ thông tin về thế giới thực dưới dạng tập hợp các lớp chuyên
đề có thể liên kết với nhau nhờ các đặc điểm địa lý
- Tham khảo địa lý: Mã hóa địa lý là quá trình tự động thường được dùng để tạo ra các tham khảo địa lý hiện (vị trí bội) từ các tham khảo địa lý ẩn (là những mô tả như địa chỉ) Các tham khảo địa lý cho phép định vị đối tượng (như khu vực rừng hay địa điểm thương mại) và sự kiện (như động đất) trên bề mặt quả đất phục vụ mục đích phân tích
- Mô hình Vector và Raster: Hệ thống thông tin địa lý làm việc với hai dạng dữ liệu địa lý khác nhau về cơ bản mô hình vector và mô hình raster Trong mô hình vector, thông tin về điểm, đường và vùng được mã hóa và lưu dưới dạng tập hợp các tọa độ x, y Vị trí của đối tượng điểm có thể được biểu diễn bởi một tọa độ x, y Đối tượng dạng đường (như đường giao thông, sông suối,…) có thể được lưu dưới dạng tập hợp các tọa độ điểm Đối tượng dạng vùng được lưu như một vòng khép kín của các điểm tọa độ Mô hình vector rất hữu ích đối với việc mô tả các đối tượng riêng biệt, nhưng kém hiệu quả hơn trong miêu tả các đối tượng có sự chuyển đổi liên tục Mô hình raster được phát triển cho mô phỏng các đối tượng liên tục Một ảnh raster là một tập hợp các ô lưới Cả mô hình vector và raster đều được dùng để lưu trữ dữ
Trang 11liệu địa lý với những ưu điểm, nhược điểm riêng Các hệ GIS hiện đại đều có khả năng quản lý cả hai mô hình này (Đàm Xuân Vận, 2008) [14]
1.1.2.4 Các nhiệm vụ của GIS
Mục đích chung của hệ thống thông tin địa lý GIS là thực hiện các nhiệm
1.1.2.5 Dữ liệu cho GIS
Nhìn chung, có một số loại dữ liệu bản đồ phổ biến cần thiết sau:
- Bản đồ nền: bao gồm các bản đồ đường phố, đường quốc lộ; đường ranh giới hành chính, ranh giới vùng dân cư; sông, hồ; mốc biên giới; tên địa danh và bản đồ raster
- Bản đồ và dữ liệu thương mại: bao gồm dữ liệu liên quan đến dân số /nhân khẩu, người tiêu thụ, dịch vụ thương mại, bảo hiểm sức khỏe, bất động sản, truyền thông, quảng cáo, cơ sở kinh doanh, vận tải, tình trạng tội phạm
- Bản đồ và dữ liệu môi trường: bao gồm các dữ liệu liên quan đến môi trường, thời tiết, sự cố môi trường, ảnh vệ tinh và các nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Bản đồ tham khảo chung: bản đồ thế giới và quốc gia, các dữ liệu nền cho cơ sở dữ liệu riêng (Đàm Xuân Vận, 2008) [14]
1.1.2.6 Các công nghệ liên quan đến GIS
GIS liên quan mật thiết với một số hệ thống thông tin khác, nhưng khả năng thao tác và phân tích các dữ liệu địa lý chỉ có công nghệ GIS là thực hiện được Mặc dù không có quy tắc chính tắc về cách phân loại các hệ thống thông tin, nhưng những giới thiệu dưới đây sẽ giúp phân biệt GIS với các
Trang 12công nghệ Desktop Mapping, trợ giúp thiết kế nhờ máy tính (Computer Aided Design - CAD), viễn thám (Remote sensing), hệ quản trị cơ sở dữ liệu (DBMS - Database Management System) và hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning Systems - GPS) (Đàm Xuân Vận, 2008) [14]
1.1.3 Tổng quan về viễn thám
1.1.3.1 Viễn thám là gì?
Viễn thám (Remote Sensing - RS) là sự thu thập và phân tích thông tin
về một đối tượng mà không cần có sự tiếp xúc trực tiếp đến đối tượng Viễn thám là phương pháp sử dụng bức xạ điện từ như một phương tiện để điều tra
và đo đạc những đặc tính của đối tượng
Công nghệ viễn thám, một trong những thành tựu khoa học vũ trụ đã đạt đến trình độ cao và đã trở thành kỹ thuật phổ biến được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội ở nhiều nước trên thế giới Những kết quả thu được từ công nghệ viễn thám giúp các nhà khoa học và các nhà hoạch định chính sách có được các phương án lựa chọn có tính chiến lược về sử dụng và quản lý tài nguyên và môi trường Vì vậy, viễn thám được sử dụng như là một công nghệ đi đầu rất có ưu thế hiện nay
+ Sự tương tác với đối tượng
+ Thu nhận năng lượng bằng bộ cảm
+ Sự truyền tải, thu nhận và xử lý
+ Giải đoán và phân tích ảnh
+ Ứng dụng
Trang 131.1.3.3 Ưu điểm của công nghệ viễn thám
Viễn thám là khoa học thu nhận, xử lý và suy giải các hình ảnh thu nhận
từ trên không của Trái đất để nhận biết được các thông tin về đối tượng trên
bề mặt đất mà không cần tiếp xúc nó Như vậy, viễn thám là phương pháp thu nhận thông tin khách quan về bề mặt Trái đất và các hiện tượng trong khí quyển nhờ các máy thu sensor được đặt trên máy bay, vệ tinh nhân tạo, tàu vũ trụ hoặc đặt trên các trạm quỹ đạo Công nghệ viễn thám có những ưu việt cơ bản sau:
- Độ phủ trùm không gian của tư liệu bao gồm các thông tin về tài nguyên, môi trường trên diện tích lớn của trái đất gồm cả những khu vực rất khó đến được như rừng nguyên sinh, đầm lầy, hải đảo,
- Có khả năng giám sát sự biến đổi của tài nguyên, môi trường Trái đất
do chu kỳ quan trắc lặp và liên tục trên cùng một đối tượng trên mặt đất của các máy thu viễn thám Khả năng này cho phép công nghệ viễn thám ghi lại được các biến đổi của tài nguyên, môi trường giúp cho công tác giám sát, kiểm kê tài nguyên thiên nhiên và môi trường
1.1.3.4 Các ảnh vệ tinh quan sát Trái đất
Quan sát bề mặt Trái Đất đã đạt được những thành công đáng kể trong vài thập niên qua nhờ vào sự phát triển của một ngành khoa học và công nghệ toàn cầu, đặc biệt là công nghệ viễn thám Hiện nay, có một số vệ tinh chiếm
ưu thế như Quickbird, Worldview, Ikonos, IRS, và GeoEye đều có độ phân giải hình ảnh nhỏ hơn 1m (Hà Văn Thuân, 2009) [12]
Ikonos là một vệ tinh quan sát Trái đất thương mại đưa vào sử dụng năm
1999 Hình ảnh được thu thập bởi vệ tinh này có độ phân giải cao (1m toàn sắc và 4m đa phổ) Với chiều rộng swath là 11x11 km và chu kỳ chụp lặp là 3-5 ngày, vệ tinh này di chuyển gần 7 km /giây và thu thập dữ liệu với tốc độ trên 2000 km2/ phút Ikonos cung cấp một hình ảnh 4 băng tần (màu xanh
Trang 14dương, xanh lá cây, đỏ và hồng ngoại gần) và là một nguồn hình ảnh lý tưởng cho việc học tập không ngừng thay đổi tính năng (Hà Văn Thuân, 2009) [12]
Quickbird, được phóng vào năm 2001, là một vệ tinh cho hình ảnh với
độ phân giải cao thuộc sở hữu của DigitalGlobe Vệ tinh này có thể thu thập
cả hai đơn sắc (đen và trắng) hình ảnh ở độ phân giải 60 cm, và hình ảnh đa phổ ở độ phân giải 2,4 - 2,8 m (tùy thuộc vào vĩ độ) Vệ tinh này có thể cung cấp các hình ảnh độ phân giải cao thứ hai sau Worldview -1 Ngoài ra, Quickbird còn được gọi là một vệ tinh hiệu quả nhờ chu kì chụp lặp ngắn (1,0-3, 5 ngày) và rộng (16.5 x 16.5km) (Hà Văn Thuân, 2009) [12]
Worldview-1 là vệ tinh thế hệ tiếp theo cũng thuộc sở hữu của
DigitalGlobe Vệ tinh này được phóng lên năm 2007, có thể cung cấp hình ảnh với độ phân giải cao nhất hiện nay (0,5 m) Trong khi đó, chu kỳ chụp lặp ngắn hơn (1, 7 ngày) và Worldview -1 có thể chụp 750.000 km2
mỗi ngày (Hà Văn Thuân, 2009) [12]
IRS hay vệ tinh viễn thám ấn Độ, là một chuỗi gồm 14 vệ tinh quan sát
Trái đất được xây dựng và duy trì bởi Tổ chức Nghiên cứu Không gian ấn Độ Tuy nhiên, hiện nay chỉ có 8 vệ tinh còn hoạt động tốt, trong số đó Cartosat -2 được phóng lên quỹ đạo năm 2007 là một vệ tinh viễn thám tiên tiến Sản phẩm của vệ tinh này có chất lượng tương đương nhưng có giá thấp hơn 20 lần so với Ikonos Trong năm 2008, hai vệ tinh nhỏ mới được đưa ra bao gồm Castosat -2A và IMS1 IMS1 mang 2 máy ảnh để thu thập hình ảnh đa phổ và siêu quang phổ cung cấp hình ảnh với 4 dải quang phổ với độ phân giải 37 m, cung cấp các hình ảnh siêu quang phổ với độ phân giải 505,6 m (Hà Văn Thuân, 2009) [12]
Mới đây nhất, sự phát triển của vệ tinh viễn thám đã được đánh dấu bằng
sự ra mắt của GeoEye-1, với tính năng công nghệ tinh vi nhất từng được sử
dụng trong một hệ thống viễn thám thương mại GeoEye -1 có thể thu thập
Trang 1535.000 Km2 mỗi ngày với độ phân giải 41 cm toàn sắc và hình ảnh đa phổ 1,65m (Hà Văn Thuân, 2009) [12]
SPOT-5 được coi là vệ tinh lý tưởng, cung cấp sự cân bằng tốt nhất giữa
các độ phân giải cao (5 - 20 m) và chiều rộng 60 x 120 km SPOT -5 hoạt động từ năm 2002 và điều hành bởi Spot Image, Pháp (Hà Văn Thuân, 2009) [12]
Fomosat-2 của Trung Quốc do Tổ chức Không gian Quốc gia quản lý và
phóng thành công vào năm 2004 Nó có thể thu nhận hình ảnh trong các kênh toàn sắc và đa phổ (5 kênh) với độ phân giải 2 - 8 m với khả năng chụp lặp hàng ngày Fomosat -2 phù hợp với nghiên cứu phân bổ sử dụng đất, tài nguyên thiên nhiên, lâm nghiệp, bảo vệ môi trường và phòng chống thiên tai (Hà Văn Thuân, 2009) [12]
ASTER được xây dựng và ra mắt vào năm 1999 bởi một dự án Chính
phủ Nhật Bản ASTER bao gồm ba hệ thống dụng cụ riêng biệt cho việc đạt được hình ảnh trong 14 kênh, gồm vùng nhìn thấy, cận hồng ngoại, sóng ngắn hồng ngoại, và hồng ngoại nhiệt Dữ liệu của ASTER hứa hẹn sẽ đóng góp lớn cho các lĩnh vực ứng dụng toàn cầu liên quan tới cả thực vật và hệ sinh thái (Hà Văn Thuân, 2009) [12]
CBERS-2 là một vệ tinh được phát triển bởi sự hợp tác giữa Cơ quan Vũ
trụ của Brazil và Học viện Công nghệ Vũ trụ Trung Quốc Nó có thể cung cấp hình ảnh trong một phổ rộng với độ phân giải không gian 2,7-260 m CBERS-2 có ba máy ảnh đa phổ là Wide field imager, High resolution, and Infrared multispectral (Hà Văn Thuân, 2009) [12]
1.1.4 Hiệu quả ứng dụng công nghệ GIS và viễn thám
Việc áp dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực dữ liệu không gian đã tiến những bước dài, từ hỗ trợ lập bản đồ (CAD mapping) sang hệ thống thông tin địa lý (GIS) Cho đến nay cùng với việc tích hợp các khái niệm của công nghệ thông tin như hướng đối tượng, GIS đang có bước chuyển từ cách
Trang 16tiếp cận cơ sở dữ liệu (database aproach) sang hướng tri thức (knowledge aproach) (Mai Thị Ái Tuyết, 2009) [13]
Hệ thống thông tin địa lý là hệ thống quản lý, phân tích và hiển thị tri thức địa lý, tri thức này được thể hiện qua các tập thông tin: Các bản đồ, giao diện trực tuyến với dữ liệu địa lý để tra cứu, trình bày kết quả và sử dụng như là một nền thao tác với thế giới thực; các tập thông tin địa lý dạng file và dạng cơ sở
dữ liệu gồm các yếu tố, mạng lưới, topology, địa hình, thuộc tính; các mô hình
xử lý; các mô hình dữ liệu, GIS cung cấp công cụ mạnh hơn là một cơ sở dữ liệu thông thường bao gồm quy tắc và sự toàn vẹn giống như các hệ thông tin khác; lược đồ, quy tắc và sự toàn vẹn của dữ liệu địa lý đóng vai trò quan trọng; metadata hay tài liệu miêu tả dữ liệu, cho phép người sử dụng tổ chức, tìm hiểu và truy nhập được tới tri thức địa lý (Mai Thị Ái Tuyết, 2009) [13]
Hệ thống thông tin địa lý (GIS) sử dụng cơ sở dữ liệu địa lý (Geodatabase) làm dữ liệu của mình Lập bản đồ và phân tích địa lý không phải là kỹ thuật mới, nhưng GIS thực thi các công việc này tốt hơn và nhanh hơn các phương pháp thủ công cũ GIS cung cấp cả khả năng hỏi đáp đơn giản và các công cụ phân tích tinh vi để cung cấp kịp thời thông tin cho những người quản lý và phân tích Các hệ GIS hiện đại có nhiều công cụ phân tích hiệu quả, trong đó có hai công cụ quan trọng đặc biệt là phân tích liền kề và phân tích chồng xếp Nhóm này tạo nên ứng dụng quan trọng đối với nhiều ứng dụng mang tính phân tích Quá trình chồng xếp sử dụng một số bản đồ để sinh
ra thông tin mới và các đối tượng mới Phân tích chồng xếp khá tốn thời gian
và thuộc vào nhóm các ứng dụng có tính chất sâu, khi hệ thống được khai thác
sử dụng ở mức độ cao hơn là được sử dụng cho từng vùng cụ thể hoặc cả nước với tỷ lệ bản đồ phù hợp Chồng xếp là quá trình tích hợp các lớp thông tin khác nhau Các thao tác phân tích đòi hỏi một hoặc nhiều lớp dữ liệu phải được liên kết vật lý (Mai Thị Ái Tuyết, 2009) [13]
Trang 17Với nhiều thao tác trên dữ liệu địa lý, kết quả cuối cùng được hiển thị tốt nhất dưới dạng bản đồ hoặc biểu đồ Bản đồ khá hiệu quả trong lưu giữ và trao đổi thông tin địa lý GIS cung cấp nhiều công cụ mới để mở rộng tính nghệ thuật và khoa học của ngành bản đồ Bản đồ hiển thị có thể được kết hợp với các bản báo cáo, hình ảnh ba chiều, ảnh chụp và những dữ liệu khác Các
mô hình phức tạp cũng có thể dễ dàng cập nhật thông tin nhờ sử dụng GIS Các lớp dữ liệu GIS được sử dụng để cung cấp thông tin nhanh hơn và hiệu quả hơn cho các nhà hoạch định chính sách
1.2 Giới thiệu các phần mềm sử dụng
1.2.1 Phần mềm giải đoán ảnh ENVI 4.5
Phần mềm ENVI - Environment for Visualizing Images là một phần mềm
xử lý ảnh viễn thám mạnh, với các đặc điểm chính như sau:
- Hiển thị, phân tích ảnh với nhiều kiểu dữ liệu và kích cỡ ảnh khác nhau
- Môi trường giao diện thân thiện
- Cho phép làm việc với từng kênh phổ riêng lẻ hoặc toàn bộ ảnh Khi một file ảnh được mở, mỗi kênh phổ của ảnh đó có thể được thao tác với tất
cả các chức năng hiện có của hệ thống Với nhiều file ảnh được mở, ta có thể
dễ dàng lựa chọn các kênh từ các file ảnh để xử lý cùng nhau
- ENVI có các công cụ chiết tách phổ, sử dụng thư viện phổ, và các chức năng chuyên cho phân tích ảnh phân giải phổ cao (high spectral resolution images)
- Phần mềm ENVI được viết trên ngôn ngữ IDL - Interactive Data Language Đây là ngôn ngữ lập trình cấu trúc, cung cấp khả năng tích hợp giữa xử lý ảnh và khả năng hiển thị với giao diện đồ hoạ dễ sử dụng
1.2.2 Phần mềm ArcGIS
Arcgis Desktop là một sản phẩm của Viện Nghiên cứu hệ thống môi trường (ESRI) Có thể nói đây là một phần mềm về GIS hoàn thiện nhất ArcGIS cho phép người sử dụng thực hiện những chức năng của GIS ở bất cứ
Trang 18nơi nào họ muốn: trên màn hình, máy chủ, trên web, trên các field Phần mềm ArcGIS Desktop bao gồm 3 ứng dụng chính sau:
- ArcMap để xây dựng, hiển thị, xử lý và phân tích các bản đồ
+ Tạo các bản đồ từ các rất nhiều các loại dữ liệu khác nhau
+ Truy vấn dữ liệu không gian để tìm kiếm và hiểu mối liên hệ giữa các đối tượng không gian
+ Tạo các biểu đồ
+ Hiển thị trang in ấn
- ArcCatalog: dùng để lưu trữ, quản lý hoặc tạo mới các dữ liệu địa lý + Tạo mới một cơ sở dữ liệu
+ Explore và tìm kiếm dữ liệu
+ Xác định hệ thống toạ độ cho cơ sở dữ liệu
- ArcToolbox: cung cấp các công cụ để xử lý, xuất - nhập các dữ liệu từ các định dạng khác như MapInfo, MicroStation, AutoCad (Trần Quốc Bình, 2004) [2]
1.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Một số lĩnh vực ứng dụng điển hình của công nghệ GIS và viễn thám trong quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường ở một số nước trên thế giới:
dò hiện đại, người ta có thể định vị và tiến hành xử lý các dữ liệu bề mặt một
Trang 19cách dễ dàng, cách xa vùng nhạy cảm mà vẫn đảm bảo đạt được những yêu cầu chuyên môn có giá trị của vùng dưới mặt đất
Các số liệu thu được từ quan trắc địa chấn được thu thập để tạo nên các bản đồ 3 chiều dưới mặt đất Các chuyên gia có thể sử dụng những ảnh 3 chiều này để đưa ra các quyết định về vị trí có thể của các túi dầu mà không cần tiến hành khoan nhiều lần
* Tài nguyên nước
GIS có thể hỗ trợ đánh giá mực nước ngầm, mô phỏng hệ thống sông hồ
và nhiều ứng dụng liên quan đến quản lý tài nguyên nước khác Ứng dụng GIS trong kiểm soát mức nước ngầm, duy trì mực nước ngầm thích hợp trong các vùng khai khoáng Trường Đại học Kỹ thuật Aachen, Đức đã sử dụng GIS
để kiểm soát mực nước ngầm cho các vùng khai thác than, tạo các bản đồ mực nước ngầm, kết hợp với các dữ liệu khác như thổ nhưỡng, địa hình, quy
mô khai thác mỏ, công nghệ kỹ thuật được sử dụng, cung cấp công cụ đắc lực cho các nhà phân tích; kiểm soát sự phục hồi mực nước ngầm có sự hỗ trợ của công nghệ GIS sẽ trở nên dễ dàng hơn Umlandverband Frankfurt, Đức, đã dùng GIS để xây dựng các lớp bản đồ cho mỗi tính toán về sự phục hồi mực nước ngầm Những lớp này sau đó được kết hợp lại để tạo nên một bản đồ cuối cùng biểu diễn sự phục hồi của mỗi vùng GIS giúp cho các nhà nghiên cứu dễ dàng tính toán và mô phỏng đồng thời tốc độ phục hồi mực nước ngầm của các vùng khác nhau
Tại Mỹ, GIS được dùng để quản lý sự phân bố của các nguồn nước, nhờ
đó các nhà khoa học có thể dễ dàng xác định vị trí các nguồn nước này trong toàn bộ hệ thống
Đánh giá tác động của sóng thần năm 2004 vào rừng ngập mặn bằng cách sử dụng GIS và kỹ thuật viễn thám - một nghiên cứu trường hợp của Phang Nga, Thái Lan: Sử dụng GIS và kỹ thuật viễn thám, biên dịch dữ liệu
từ nhiều nguồn khác nhau và phát hiện những thay đổi bìa đất để xác định
Trang 20mức độ thiệt hại tại các khu vực có và không có rừng ngập mặn Phương pháp mới được đề xuất tích hợp gần GIS phân tích và phát hiện thay đổi với các kỹ thuật viễn thám vùng đệm một cách sáng tạo khoanh định từ bờ biển thành bốn tiểu vùng đồng nhất Những kỹ thuật này có thể cung cấp một cách dễ dàng để so sánh các mô hình thiệt hại trong khu vực với các đặc tính đất khác nhau và khoảng cách khác nhau từ bờ biển Trong nghiên cứu này, cho thấy rằng rừng ngập mặn có thể chịu được sức mạnh của sóng thần tốt hơn nhiều
so với thảm thực vật thường xuyên và các khu vực phía sau rừng ngập mặn cũng được hưởng lợi từ việc bảo vệ (Sirikulchayanon, P., W Sun and T J Oyana, 2008) [20]
* Tài nguyên sinh vật
Kiểm soát các khu bảo tồn: Tổ chức Bảo tồn quốc tế và Chính phủ Malagasy đã sử dụng GIS để kiểm soát sự phân bố của các loài thực vật ở Madagascar Bản đồ này biểu diễn các loài thực vật của miền nam Madagascar bằng các màu khác nhau và biểu diễn các khu bảo tồn bằng nền chéo Với những thông tin này, có thể dễ dàng xác định các vùng cần được bảo vệ hoặc các vùng hiện được bảo vệ có khả năng bị xâm hại
Kiểm soát đa dạng sinh học: Một số tổ chức đã sử dụng GIS để phân tích
sự phân bố và mức độ bảo tồn đối với một số thành phần của đa dạng sinh học GIS giúp các nhà nghiên cứu xác định các loài có khả năng hiện diện trong vùng quản lý hay không (vùng gián đoạn) Những loài này được dùng làm chỉ thị cho đa dạng sinh học hoặc cho sự vắng mặt, đối với một vùng cụ thể
Bảo tồn những loài đang bị đe doạ: Hiện nay ô nhiễm môi trường đang
đe doạ sự tồn tại của nhiều loài sinh vật, trong đó có nhiều loài cá GIS đã hỗ trợ tích cực trong công việc bảo tồn những loài cá đang bị đe doạ Các dữ liệu bao gồm thông tin về độ rộng và độ sâu của dòng chảy, chất lượng và nhiệt độ nước, sự phân bố của các loài cá Các chuyên gia ở Corvallis, Oregon đã sử dụng dữ liệu GIS để phát triển chiến lược bảo tồn loài cá hồi Coho, một loài
Trang 21cá hồi màu hồng bạc được tìm thấy chủ yếu ở vùng cửa sông của Oregon và Washington Công việc bảo tồn được bắt đầu với việc xác định nơi cư trú của các quần thể và giúp cho chúng mở rộng quần thể GIS được sử dụng để hiển thị và phân tích thông tin về điều kiện sống của loài
Tìm kiếm nơi sống phù hợp: Các nhà phân tích đã tạo ra các bảng biểu
và bản đồ chi tiết về hệ thống dòng chảy, từ đó tìm kiếm những nơi thích hợp cho cá hồi Coho Các yếu tố đặc trưng của dòng chảy ảnh hưởng trực tiếp đến
cá hồi Coho đều được đưa đồng thời vào bản đồ
Công cụ phối hợp hoạt động: GIS trở thành công cụ hữu ích để trao đổi phối hợp, tạo các ấn phẩm đồ hoạ để phát hành cũng như để thảo luận và là công cụ chia sẻ các thông tin mới, đưa các dữ liệu lên Internet Các cơ quan quản lý các cấp, các nhà khoa học, những người hoạt động môi trường và những đối tượng khác đều có thể sử dụng và đóng góp thông tin trực tiếp vào
cơ sở dữ liệu của hệ thống
Sử dụng hệ thống thông tin địa lý để xây dựng kế hoạch nuôi trồng thủy
sản: Lựa chọn địa điểm nuôi trồng thủy sản quy hoạch là một nhiệm vụ phức tạp liên quan đến việc xác định các khu vực kinh tế, xã hội và môi trường phù hợp, có sẵn để nuôi trồng thủy sản và thương mại thực hiện Một trường hợp nghiên cứu trong việc lựa chọn trang web cho nuôi tôm trên đất liền trong vùng ven biển của Úc chứng minh rằng GIS có khả năng để hỗ trợ nuôi trồng thủy sản quy hoạch Phân tích được dựa trên một phương pháp tiếp cận liên tiếp hai giai đoạn Giai đoạn đầu tiên loại bỏ phần hiển nhiên không ph ù hợp của khu vực nghiên cứu thông qua chọn lọc trước với độ phân giải thấp, giá rẻ
và dữ liệu một cách dễ dàng có sẵn Giai đoạn thứ hai sau đó tập trung vào và xếp hạng các khu vực còn lại bằng cách sử dụng độ phân giải cao, dữ liệu có thể đắt hơn Cuối cùng, sử dụng GIS để trình bày các kết quả phân tích trong một hình thức dễ dàng tiếp cận (McLeod, Ian, Francis Pantus and Nigel Preston, 2002) [17]
Trang 22* Quản lý tài nguyên rừng
Kiểm kê trạng thái rừng hiện tại: Với GIS có thể kiểm kê trạng thái gỗ, thuỷ hệ, đường giao thông, đường tàu hoả và các hệ sinh thái và sử dụng những thông tin này để đánh giá về mùa vụ, chi phí vận chuyển, hoặc điều kiện sống của các động vật hoang dã đang bị đe doạ
Hỗ trợ phát triển chiến lược quản lý: Với GIS có thể đánh giá các đặc điểm của một khu rừng dựa trên các điều kiện quản lý khác nhau Trên cơ sở các dự báo này, có thể quan sát tương tai của khu rừng dưới dạng bản đồ và
số liệu phân tích, từ đó vạch ra chiến lược quản lý và phát triển các nguồn tài nguyên rừng sao cho đạt được hiệu quả cao
Mô hình hoá hệ sinh thái rừng: GIS có thể được dùng như một thành phần của hệ thống hỗ trợ quyết định trong quản lý lâm nghiệp, chẳng hạn, được dùng để mô hình hoá các thành phần không gian
Sở Bảo vệ môi trường Alberta, Trung tâm đào tạo môi trường Alberta (Canada) đã dùng GIS để mô hình hoá các quần hợp hệ sinh thái, các điều kiện sống, làm cơ sở cho việc dự báo Dùng mô hình GIS như một phần của hệ thống hỗ trợ quyết định cho phép nâng cao chất lượng quản lý tài nguyên rừng
* Quản lý tài nguyên đất
GIS được dùng để mô phỏng và quy hoạch sử dụng tài nguyên đất của một thành phố, một quốc gia hay một vùng ở một số khía cạnh sau:
Quản lý phân vùng các dạng đất: GIS có thể được dùng để lập bản đồ phân loại đất của một vùng Mỗi loại đất được biểu diễn bởi một màu và nền khác nhau theo quy định Những thông tin dưới dạng bản đồ giúp cho các nhà quản lý phân tích dễ dàng những xu hướng biến đổi do các tác động của thiên nhiên hoặc của con người
Quy hoạch sử dụng tài nguyên đất: Công nghệ GIS hỗ trợ rất nhiều trong công việc quy hoạch sử dụng đất Những dữ liệu về hiện trạng sử dụng đất được thu thập từ những quan trắc không gian được xử lý trong hệ GIS, lập
Trang 23bản đồ hiện trạng, kèm đó là những số liệu phân tích Dựa vào đó các nhà quy hoạch có thể dễ dàng quản lý và phát triển các kế hoạch sử dụng đất hợp lý Thành phố Brno, Cộng hoà Czech, đã dùng công nghệ GIS để phát triển quy hoạch tổng thể của thành phố và hiển thị thông tin theo cơ sở dữ liệu GIS địa chính của thành phố
Mlada, Cộng hoà Czech cũng sử dụng GIS để hỗ trợ kế hoạch quy hoạch lại một khu sân bãi quân sự, đánh giá và mô phỏng các loại tài nguyên đất Viện địa lý "Agustin Codazzi" (IGAC) của Colombia đã dùng công nghệ GIS
để hiển thị và kiểm soát hiện trạng sử dụng đất hiện nay và trong tương lai của thành phố Ibague
Phân tích xu hướng xây dựng: Sở Phát triển Nhà và đô thị Adelaide, Australia sử dụng GIS để phân tích xu hướng xây dựng của thành phố, từ đó chỉ ra sự mở rộng của thành phố và ảnh hưởng của nó đối với cơ sở hạ tầng Kiểm soát tài nguyên đất: Các dự án phát triển được đề xuất dọc theo biên giới Mexico và Mỹ được hỗ trợ bởi các thông tin của GIS, chẳng hạn để kiểm kê, lập bản đồ các nguồn tài nguyên, chế độ thuỷ văn, tác động của con người, cơ sở hạ tầng dọc theo biên giới
Phát triển hệ thống thông tin địa lý đánh giá tác động sử dụng đất trong điều kiện ngập nước: Hệ thống thông tin địa lý công nghệ (GIS) được sử dụng
để phát triển các phương pháp tự động để định lượng sự thay đổi không gian của những khu vực có nguy cơ bị lũ lụt Một mô-đun giao diện phát triển trong GIS kết hợp với độ cao nước lũ dự đoán từ một mô phỏng thủy lực và các chức năng mô phỏng để đánh giá các chính sách kiểm soát lũ lụt thay thế Một nghiên cứu trường hợp từ Town Dundas, Ontario, Canada, được sử dụng
để chứng minh những lợi thế có được là do việc áp dụng các mô-đun này Cách tiếp cận được đề xuất sẽ cung cấp chiến lược quản lý tài nguyên nước với cái nhìn sâu sắc được cải thiện dựa vào điều kiện lũ lụt, tăng cường quá
Trang 24trình đánh giá rủi ro và quản lý các hoạt động của con người trong vùng đồng bằng bị ngập lũ (Boyle, S J., I K Tsanis, and Member, 2001) [15].
Sử dụng kỹ thuật viễn thám và GIS để đánh giá việc thay đổi sử dụng
viễn thám và GIS để đánh giá việc sử dụng đất và thực phủ, những yếu tố ảnh hưởng đến độ che phủ đất và xác định các khu vực có nguy cơ tiềm năng bị xói mòn ở lưu vực Nan từ năm 1995 và 2005 Lưu vực sông Nan đã được lựa chọn là khu vực nghiên cứu, vì đầu nguồn này đã được trải qua tình trạng phá rừng và suy thoái đất cao do sự gia tăng ngày càng cao của diện tích đất nông nghiệp và các khu vực đô thị Hơn nữa, địa hình của lưu vực, bao gồm núi, đồi, và các vùng đất dốc, làm cho lưu vực sông Nan trở thành một địa điểm thú vị để kiểm tra các khu vực có nguy cơ tiềm năng của sự xói mòn đất (Chamaporn Paiboonvorachat, 2004) [16]
Việc thay đổi sử dụng đất từ năm 1990 đến 2003 ở vùng miền núi nhiệt đới thuộc khu vực trung tâm Veracruz (Mexico) được phân tích bằng ảnh Landsat TM bằng cách tiếp cận Hệ thống thông tin địa lý và viễn thám Ảnh
vệ tinh cảm biến đã chứng tỏ có thể dùng để tách mô hình quang phổ khác nhau liên quan đến các loại hình sử dụng đất trong không gian cảnh quan phức tạp Sử suy giảm của rừng nhiệt đới và chuyển đổi sang đồng cỏ và đất nông nghiệp là sự thay đổi rõ rệt và quan trọng nhất trong giai đoạn nghiên cứu (Munoz-Villers, L E và J Lopez-Blanco, 2008) [18]
Viễn thám và GIS để lập bản đồ và giám sát độ che phủ đất và thay đổi
sử dụng đất ở vùng ven biển Tây Bắc của Ai Cập: Một phân loại giám sát được tiến hành trên sáu band màu phản chiếu hai ảnh vệ tinh với sự trợ giúp của các dữ liệu thật mặt đất Mặt đất thật cung cấp thông tin thu thập trong sáu chuyến đi thực địa được tiến hành từ năm 1998 đến năm 2002 và bản đồ che phủ năm 1987 đã được sử dụng để đánh giá tính chính xác của các kết quả phân loại Sử dụng dữ liệu phụ trợ, giải thích hình ảnh và kiến thức
Trang 25chuyên môn của khu vực thông qua GIS tiếp tục tinh chế các kết quả phân loại Kỹ thuật phát hiện thay đổi sau phân loại được sử dụng để sản xuất hình ảnh thay đổi thông qua cross-tabulation Thay đổi giữa các lớp che phủ đất khác nhau được đánh giá (Shalaby, Adel and Ryutaro Tateishi, 2007) [19]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Đề tài “Ứng dụng công nghệ GIS trong phân cấp rừng phòng hộ tại huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang” trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của máy tính và công nghệ GIS kết hợp phương pháp chuyên gia theo các quy định, quy trình quy phạm kỹ thuật đã thể hiện tính khách quan, khoa học và rất phù hợp với điều kiện địa phương Phương pháp phân cấp rừng phòng hộ trên
cơ sở ứng dụng công nghệ hiện đại đã đánh giá mức độ quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến xói mòn, so sánh mức độ quan trọng giữa các nhân tố tham gia phân cấp rừng phòng hộ từ đó đưa ra trọng số cho từng nhân tố đó, mang tính khoa học, có khả năng ứng dụng thực tế cao, đặc biệt trong công tác
rà soát quy hoạch ba loại rừng trên toàn quốc (Vũ Tiến Điển và cs, 2006) [6]
Đề tài “Ứng dụng công nghệ GIS thành lập bản đồ nhạy cảm trượt lở đất các tỉnh biên giới Tây Bắc” đã xây dựng được bản đồ nhạy cảm trượt lở đất các tỉnh biên giới Việt Nam, thể hiện một cách tổng quát về mức độ nhạy cảm trượt lở đất, trong đó vai trò của các đới đứt gãy hoạt động rất rõ nét, các vùng nhạy cảm trượt lở mạnh đến rất mạnh thường tập trung dọc theo các đới đứt gãy này Việc kết hợp phương pháp tính xác suất xuất hiện và đưa mức độ chế ngự vào chỉ số đánh giá tổng hợp đã loại bỏ hoàn toàn những khu vực thiếu số liệu để tính xác suất xuất hiện do đi lại khó khăn Kết quả cuối cùng đã phản ánh được chính xác tính thực tế khách quan của đối tượng Từ các kết quả nghiên cứu này cho phép đưa ra các quyết định về quy hoạch lãnh thổ, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên cũng như tìm biện pháp phòng chống và giảm thiểu các sự cố về môi trường, đặc biệt là trượt lở đất (Nguyễn Tứ Dần và cs, 2008) [45]
Trang 26Đề tài “Xây dựng sơ đồ phân vùng tai biến môi trường lãnh thổ Tây Bắc với sự trợ giúp của công nghệ GIS”, nhờ công nghệ hệ thống thông tin địa lý, nhiều bản đồ được tích hợp lại và nhiều thông tin mới được hình thành, các đối tượng không gian mới được tạo ra Các phép chồng chập bản
đồ được thực hiện với dữ liệu không gian dạng raster, nhiều bản đồ được tích hợp cùng một lúc nhờ các thuật toán số học, quan hệ hay logic Kết quả
là sơ đồ phân vùng dự báo trượt lở đất và tai biến môi trường vùng Tây Bắc trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng, phân tích đánh giá các nguyên nhân phát sinh và phát triển tai biến (nội sinh, ngoại sinh, nội ngoại sinh phối hợp và dân sinh), xem xét, so sánh, xác định mức độ ảnh hưởng, liên quan của các yếu tố Sơ đồ phân vùng được thành lập căn cứ vào quy mô, phạm vi diễn biến, có khái quát hóa số liệu, xác định yếu tố trội, sự lặp đi lặp lại có chu trình, các dạng tai biến được thể hiện trên sơ đồ rõ ràng, dễ hiểu, có thể đánh giá thống nhất tương đối (Nguyễn Quang Mỹ và cs, 2007) [9]
Đề tài “Xây dựng bản đồ nhạy cảm của các hệ sinh thái với tác động môi trường nhằm sử dụng hợp lý cảnh quan lãnh thổ cho mục tiêu phát triển bền vững khu vực ven biển thành phố Hải Phòng”, đã đưa ra vấn đề mới là đánh giá tính nhạy cảm môi trường theo quan điểm tiếp cận sinh thái và quan điểm tổng hợp, theo đó, tính nhạy cảm môi trường được nghiên cứu, đánh giá theo đơn vị hệ sinh thái Sử dụng phương pháp phân tích nhân tố và tích hợp thông tin với sự trợ giúp của các phần mềm viễn thám và GIS hiện đại như ENVI, ArcView, ArcGIS nhằm xác định chỉ số nhạy cảm và đưa ra bản đồ nhạy cảm môi trường và mô hình, quy trình nghiên cứu chi tiết trong ứng dụng viễn thám và GIS để nghiên cứu và xây dựng bản đồ nhạy cảm môi trường (Nguyễn Ngọc Thạch và cs, 2007) [10]
Đề tài “Xây dựng quy trình công nghệ phối hợp giữa phần mềm ENVI
và Mapinfo để xây dựng bản đồ chuyên đề lớp phủ mặt đất khu vực Hà Nội cũ”, phân loại đối tượng mặt đất từ ảnh viễn thám kết hợp với điều tra thực
Trang 27điạ cho phép thành lập bản đồ hiện trạng lớp phủ mặt đất với các thông tin trung thực và chính xác, từ đó giúp cho việc quản lý đất đai nói chung cũng như quản lý tài nguyên thiên nhiên nói riêng, quy hoạch và ra quyết định cho mọi lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội, môi trường một cách hợp lý nhất với điều kiện của từng địa phương, khu vực hay phạm vi toàn quốc Hơn nữa, khi phân tích ảnh còn có thể tìm ra được các quy luật và đặc điểm phân bố, ghi nhận hiện trạng và biến động của các lớp phủ mặt đất cũng như có thể tiến hành nghiên cứu về các quan hệ tương hỗ giữa chúng với nhau và giữa các nhóm đối tượng tự nhiên với các nhóm đối tượng nhân sinh (Lương Chi Lan, 2009) [4]
Đề tài “Ứng dụng GIS thành lập bản đồ độ dốc vùng núi huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế” đã sử dụng công nghệ GIS phân chia ra 5 cấp độ dốc sau: độ dốc dưới 10 %, độ đốc 10 - 25%, độ dốc 25 - 40%, độ dốc từ 40 - 55% và trên 55% (Nguyễn Huy Anh, 2008) [1]
Trong quá trình phát triển và ứng dụng GIS ở Việt Nam, giới làm GIS và các địa phương đang gặp những khó khăn từ nhiều phía, có cả những khó khăn do chính họ tạo ra
Khó khăn thứ nhất là vẫn chưa có một định hướng chiến lược, một chương trình tổng thể về phát triển và ứng dụng GIS của quốc gia và các địa phương
Khó khăn thứ hai là đến nay, trong Công nghệ thông tin nói chung và GIS nói riêng, Nhà nước chưa ban hành các loại chuẩn, bao gồm các chuẩn thông tin, dữ liệu, quy trình và không có quy định buộc phải áp dụng chuẩn
Mà thiếu chuẩn thì thông tin, dữ liệu không thể tích hợp, trao đổi và chia sẻ, các bản đồ không thể ghép nối được với nhau Thông tin, dữ liệu nếu không được tích hợp thì sẽ ít giá trị gia tăng, nếu không được trao đổi và chia sẻ cũng có nghĩa là ít người được sử dụng thì vô cùng lãng phí và kém giá trị Vì vậy rất cần có tiếp cận đúng về chia sẻ thông tin Nhận thức của thời đại ngày
Trang 28nay về thông tin là nguồn lực cho phát triển và là tài sản của xã hội, cần được dùng chung, phải được tuyên truyền phổ biến và luật hóa để nó trở thành nhận thức chung của toàn xã hội
Khó khăn thứ ba là trong mục tiêu của chương trình công nghệ thông tin
từ cấp quốc gia đến các ngành, các cấp, các hệ thống thông tin, hệ thống cơ sở
dữ liệu dùng chung, được xây dựng theo chuẩn thống nhất, phù hợp với chuẩn quốc tế nhằm chia sẻ, trao đổi được trong phạm vi quốc gia và quốc tế, tích hợp được vào hệ thống chung toàn quốc chưa được chú trọng Các trang thông tin điện tử của các cơ quan nhà nước ít người truy cập vì người ta tìm thấy ở đó ít thông tin hữu ích, cập nhật Đến nay, vẫn chưa có quy định nào của Nhà nước về xây dựng, cập nhật, nâng cấp, sử dụng và quản lý các cơ sở
dữ liệu tổng hợp và chuyên ngành Luật Công nghệ thông tin có quy định về việc giao cho các Bộ, ngành hoặc các tỉnh /thành phố các nhiệm vụ này Nhưng bao giờ các nhiệm vụ đó phải được thực hiện và hoàn thành thì không được quy định
Khó khăn lớn nhất, khó vượt qua nhất trong việc phát triển và ứng dụng GIS là sự thiếu hợp tác của các tổ chức và cá nhân được giao trách nhiệm nắm giữ các loại thông tin, dữ liệu GIS sẽ ra sao nếu không đủ thông tin, nếu dữ liệu không đáng tin cậy? Các tổ chức làm GIS chưa được tập hợp lại thành một tổ chức đủ mạnh, đủ năng lực làm được những việc có quy mô và tầm ảnh hưởng lớn ít người nghĩ đến việc trao đổi, chia sẻ và tích hợp các dữ liệu
và xây dựng những hệ thống thông tin quốc gia hoặc địa phương
Về bản chất GIS là một hệ thống Hệ thống ở đây được hiểu là tập hợp của nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, làm thành một thể thống nhất, đồng thời còn được hiểu là phương pháp, cách thức phân loại, sắp xếp các yếu
tố đó một cách trật tự, logic Các yếu tố cấu thành GIS là phần cứng, phần mềm, các cơ sở dữ liệu, quy tắc vận hành hệ thống và con người Trong các yếu tố này, các cơ sở dữ liệu có vai trò cực kỳ quan trọng trong hệ thống, làm
Trang 29nên sức mạnh của hệ thống, thông thường chiếm đến ba phần tư thời gian, công sức và tiền bạc của một dự án GIS, nhưng lại chưa thật sự được quan tâm Quy tắc vận hành, bao gồm các quy chuẩn kỹ thuật và quy tắc hành chính là cần thiết cho bất kỳ một hệ thống nào hoạt động trơn tru, hiệu quả, nhưng thật đáng tiếc là hầu hết các dự án GIS hiện nay ở Việt Nam đang bỏ qua thành phần quan trọng này Có thể, khi xây dựng và quyết định đầu tư một dự án GIS chúng ta chưa chú ý đến việc phối hợp các mục tiêu, hướng đến các đối tượng tiềm năng sẽ hưởng thụ thành quả dự án thông qua việc chia sẻ và trao đổi thông tin liên ngành với quốc gia, quốc tế Nếu chú ý đến mục tiêu đó, thì tự nhiên phải quan tâm đến việc khớp nối, liên kết các cơ sở
dữ liệu được xây dựng một cách độc lập bởi một bộ chuẩn đầy đủ
Hy vọng rằng với tinh thần hội nhập, chúng ta cũng sẽ hội nhập cả về cách làm, để GIS của nước ta không còn là những kết quả đơn lẻ, phân tán, không thể tập hợp lại thành hệ thống như chính tên gọi của nó (Mai Thị Ái Tuyết, 2009) [13]
Trang 30Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: toàn bộ các yếu tố tự nhiên trên mặt đất và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội diễn ra trong khu vực vùng đệm Vườn quốc gia Ba Bể thuộc hai xã Khang Ninh và Cao Thượng, huyện Ba
Bể, tỉnh Bắc Kạn
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phân vùng theo mức độ nhạy cảm đối với yếu tố địa hình, thủy văn, lớp phủ thực vật, giao thông, quản lý, khoảng cách tới các khu dân cư, mật độ dân số
và cơ cấu nghề nghiệp tới việc bảo tồn đa dạng sinh học trên bề mặt đất
2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Vùng đệm Vườn quốc gia Ba Bể thuộc xã Khang Ninh và Cao Thượng, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
2.2.2 Thời gian tiến hành
- Thời gian thực hiện đề tài: Từ 08/2011 đến 08/2012
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Điều tra cơ bản
- Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên:
+ Vị trí địa lý, tọa độ
+ Địa hình, địa mạo
+ Khí hậu, thủy văn
+ Tài nguyên sinh vật: thực vật, động vật, tỷ lệ che phủ
- Điều kiện kinh tế - xã hội
Trang 31+ Điều kiện kinh tế: tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân, mức sống của người dân,
+ Điều kiện xã hội: số dân, số hộ, tỷ lệ lao động /tổng số dân, tỷ lệ tăng dân số (tăng tự nhiên, tăng cơ học), mật độ dân số
+ Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội
- Tình hình quản lý
2.3.2 Xây dựng quy trình thành lập bản đồ phân vùng bảo tồn đa dạng sinh học theo mức độ nhạy cảm
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc bảo tồn đa dạng sinh học
- Thu thập các thông tin cần thiết về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
- Phân cấp mức độ ảnh hưởng cho từng yếu tố
- Tổng hợp kết quả phân cấp tổng hợp
2.3.3 Ứng dụng phần mềm ENVI giải đoán ảnh vệ tinh
Sử dụng các công cụ của phần mềm ENVI 4.5 để giải đoán ảnh vệ tinh SPOT 2.5 chụp khu vực nghiên cứu năm 2009 Kết quả giải đoán ảnh vệ tinh
là phân lớp các đối tượng theo các mẫu đã chọn
Trên cơ sở các kết quả giải đoán tự động bằng phần mềm ENVI, kết hợp với phương pháp giải đoán bằng mắt dựa trên kinh nghiệm cùng với kết quả điều tra thực địa có chọn lọc để nâng cao kết quả giải đoán hiện trạng sử dụng đất khu vực nghiên cứu Sản phẩm cuối cùng là bản đồ hiện trạng sử dụng đất khu vực nghiên cứu thuộc xã Cao Thượng và Khang Ninh của huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
2.3.4 Ứng dụng phần mềm ArcGIS xây dựng bản đồ phân vùng bảo tồn theo mức độ nhạy cảm
Dựa trên sản phẩm cuối cùng của quá trình giải đoán ảnh là bản đồ hiện trạng các loại đất, tiến hành phân lớp thành 10 lớp thông tin và xây dựng các bản đồ chuyên đề gồm: địa hình, thủy văn, lớp phủ thực vật, giao thông, quản
lý, khoảng cách tới các khu dân cư, mật độ dân số và cơ cấu nghề nghiệp Sau
Trang 32đó, thực hiện phân cấp cho từng yếu tố đó dựa trên mức độ ảnh hưởng của nó đối với bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực nghiên cứu
Sau khi đã thực hiện phân cấp cho từng yếu tố, tiến hành chồng ghép các lớp thông tin bằng công cụ chồng ghép của phần mềm ArcGIS 9.2 để tạo thành bản đồ phân cấp tổng hợp
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Đối với cơ sở dữ liệu không gian
+ Bản đồ có sẵn: Bản đồ địa hình, bản đồ thủy văn, giao thông, bản đồ hiện trạng sử dụng đất
+ Giải đoán ảnh vệ tinh SPOT độ phân giải 2.5
- Đối với cơ sở dữ liệu thuộc tính
+ Thu thập số liệu, báo cáo về các mặt:
Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên: vị trí địa lý, tọa độ, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn
Điều kiện kinh tế: tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân,
Điều kiện xã hội: số dân, số hộ, tỷ lệ tăng dân số các năm gần đây, lao động, tỷ lệ đói nghèo, dân tộc, phong tục tập quán
Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội: hệ thống giao thông, thủy lợi, trường học, thương mại - dịch vụ, y tế,
Tình hình quản lý tại khu vực nghiên cứu
+ Thu thập các quy định, tài liệu hướng dẫn thực hiện, các công trình nghiên cứu có liên quan
+ Điều tra, khảo sát, đối chiếu thực địa nhằm xác minh độ chính xác của các số liệu, tài liệu đã thu thập được, kiểm tra kết quả giải đoán và chính xác hóa các thông tin về nội dung hiện trạng đã thu được trong quá trình giải đoán ảnh vệ tinh
Trang 332.4.2 Phương pháp xây dựng cơ sở dữ liệu bản đồ
- Giải đoán ảnh vệ tinh SPOT độ phân giải 2.5 chụp năm 2009 tại khu vực Vườn quốc gia Ba Bể bằng phần mềm ENVI 4.5 kết hợp với các số liệu, tài liệu thu thập
- Biên tập các bản đồ chuyên đề bằng phần mềm ArcGIS 9.2
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng phần mềm ArcGIS phân tích, chồng ghép, chia tách thông tin
và phân tích mối quan hệ không gian, từ đó đưa ra lời giải cho bài toán
Trang 34Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều tra cơ bản
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Khu vực nghiên cứu thuộc địa bàn hai xã Khang Ninh và Cao Thượng của huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, nằm trong vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Bể,
có tổng diện tích tự nhiên là 8.358,5 ha, có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp xã Cao Tân, huyện Pắc Nặm và tỉnh Cao Bằng
- Phía Đông Bắc giáp xã Nghiêm Loan, huyện Pắc Nặm
- Phía Đông giáp xã Cao Trĩ và xã Thượng Giáo, huyện Ba Bể
- Phía Nam giáp xã Quảng Khê, huyện Ba Bể
- Phía Tây giáp xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình chủ yếu của khu vực nghiên cứu là núi cao xen lẫn những khối núi
đá vôi hiểm trở, phân lớp dầy, quá trình Caster tạo thành những hình dạng kỳ thú
3.1.1.3 Khí hậu, thủy văn
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 21o
C - 23oC, vào mùa đông thường xuất hiện sương muối, ở khu vực khe núi đôi khi có băng giá Là vùng khuất gió mùa Đông Bắc, nhưng lại đón gió mùa Tây Nam nên mưa nhiều nên lượng mưa trung bình hơn 1600 mm
Hệ thống sông, suối: có một nhánh sông chảy vào hồ Ba Bể và hệ thống suối chằng chịt nằm rải rác, cung cấp nguồn nước tưới dồi dào Do có độ dốc lớn nên tốc độ dòng chảy mạnh
Trang 353.1.1.4 Tài nguyên khoáng sản
Trong vùng có nhiều loại khoáng sản như vàng nguyên sinh và vàng sa khoáng, khoáng sắt và sắt - mangan, đá vôi biến chất thành đá hoa đem lại giá trị kinh tế cao
3.1.2 Tình hình dân số
Theo số liệu thống kê năm 2012, trong phạm vi khu vực nghiên cứu có tổng số dân là 7595 người và số hộ là 1639 hộ Trong đó, hộ thuộc diện nghèo chiếm hơn 51,5% tổng số hộ thuộc khu vực nghiên cứu
(Nguồn: Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế - IUCN)
Theo thống kê năm 2010, trong tổng số hơn 4000 ha đất có rừng, có 41,29% nằm trong khu vực được quản lý tương đối chặt chẽ của Ban quản lý Vườn quốc gia Ba Bể, 47,56% diện tích rừng thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân xã và chỉ có 11,16% diện tích thuộc quyền quản lý của của cộng đồng Diện tích đất do Ủy ban nhân xã quản lý là khá nhiều nhưng vẫn chưa được quản lý tốt, tình trạng người dân vào rừng săn bắn động vật hoang dã, chặt phá rừng vẫn xảy ra
Trang 363.2 Quy trình thành lập bản đồ phân vùng bảo tồn đa dạng sinh học theo mức độ nhạy cảm tại vùng đệm Vườn quốc gia Ba Bể
Sơ đồ 3.1: Quy trình thành lập bản đồ phân vùng bảo tồn đa dạng sinh học
theo mức độ nhạy cảm
Địa
hình
Thực phủ
Quản
lý
Phân cấp mức độ ảnh hưởng của các yêu tố:
Chồng ghép bản đồ
Bản đồ phân vùng bảo tồn đa dạng sinh học theo mức độ nhạy cảm
Bản đồ nền Điều tra, khảo
sát thực địa
Giải đoán
ảnh vệ tinh
Thủy văn
Giao thông
Mật
độ DS
K/c đến khu dân cư
Cơ cấu
LĐ