1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân vật Từ Hải và nhân vật Lục Vân Tiên nhìn theo quan điểm giới

102 1,9K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 618,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhân vật Từ Hải trong Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng là một nam nhi anh hùng nhưng lại không tuân theo những quy tắc ứng xử như các nhân vật anh hùng theo quan điểm của Nho giáo.. Tuy n

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THỊ MAI HIỀN

NHÂN VẬT TỪ HẢI VÀ NHÂN VẬT LỤC VÂN TIÊN

NHÌN THEO QUAN ĐIỂM GIỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

PHẠM THỊ MAI HIỀN

NHÂN VẬT TỪ HẢI VÀ NHÂN VẬT LỤC VÂN TIÊN

NHÌN THEO QUAN ĐIỂM GIỚI

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS - TS TRẦN NHO THÌN

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012

Tác giả luận văn

Phạm Thị Mai Hiền

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Trần Nho Thìn - người

đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa sau đại học - Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên đã giảng dạy và giúp đã chúng tôi hoàn thành khóa học

Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn BGH, các phòng ban Trường phổ thông Vùng cao Việt Bắc - TP Thái Nguyên đã tạo điểu kiện giúp tôi về mọi mặt trong suốt thời gian học tập và hoàn thành bản luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã động viên, khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012

Tác giả luận văn

Phạm Thị Mai Hiền

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 9

Chương 1: LÝ LUẬN GIỚI VÀ VIỆC PHÂN TÍCH CÁC NHÂN VẬT NAM NHI – ANH HÙNG TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI 9

1.1 Những khái niệm về giới (gender) và giới tính (sex) 9

1.2 Các kiểu nhân vật nam trong văn học trung đại Việt Nam 14

1.2.1 Các nhân vật văn học từ thế kỷ X đến thế kỷ XV 16

1.2.2 Các nhân vật văn học từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII 24

1.2.3 Các nhân vật văn học từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX 27

1.2.4 Các nhân vật văn học cuối thế kỷ XIX: 33

1.1 Tiểu kết 39

Chương 2: NHÂN VẬT TỪ HẢI TRONG TRUYỆN KIỀU CỦA NGUYỄN DU 41

2.1 Thân thế và thời đại Nguyễn Du 41

2.2 Nhân vật Từ Hải trong Truyện Kiều của Nguyễn Du 44

2.2.1 Chân dung nhân vật Từ Hải 44

2.2.2 Thái độ ứng xử với phụ nữ 49

2.2.3 Hành động của người anh hùng Từ Hải 52

2.2.4 Những lời bình về nhân vật Từ Hải và các nhân vật nam 57

2.3 Tiểu kết 64

Trang 6

Chương 3: NHÂN VẬT LỤC VÂN TIÊN TRONG TRUYỆN LỤC

VÂN TIÊN CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU 65

3.1 Thân thế và thời đại Nguyễn Đình Chiểu 65

3.2 Nhân vật Lục Vân Tiên trong truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu 68

3.2.1 Lí tưởng nhân nghĩa của người anh hùng Lục Vân Tiên 68

3.2.2 Mối tình Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga 75

3.2.3 Quan niệm đối lập nhân vật chính diện - phản diện 82

3.3 Tiểu kết 89

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Từ Hải và Lục Vân Tiên-hai nhân vật nam giới Chúng tôi chọn hai nhân vật nam giới của văn học trung đại để khảo sát có một số lý do sau Văn hóa truyền thống phương Đông trong đó có văn hóa Việt Nam nếu xét từ góc độ văn hóa giới, là văn học nam quyền Trong quan hệ xã hội giữa nam và nữ, nam giới thống trị Từ xa xưa,

sự thống trị của nam giới néo chắc vào vô thức của chúng ta đến mức ta không nhận thấy nó nữa và phù hợp với những trông đợi của chúng ta đến mức khó mà xét lại nó Sự thống trị của nam giới không chỉ tồn tại trong xã

hội mà nó còn ngự trị trong đời sống văn học nghệ thuật

Văn học trung đại Việt Nam trong cái nhìn lịch sử, nhất là từ khi

hệ thống văn tự được xác lập, phái nam gần như giữ vai trò thống trị tuyệt đối

Họ áp đặt các chuẩn mực của họ về cái đẹp, về hành vi, về đức hạnh cho người phụ nữ, bất công bất lợi cho người phụ nữ và có lợi cho nam giới Đó là kiểu văn hóa nam quyền Nghiên cứu các nhân vật nữ trong không gian văn hóa nam quyền

đã được một số lv thạc sĩ gần đây tìm hiểu Nhưng văn hóa truyền thống phương Đông cũng còn là văn hóa thanh giáo (puritanism), tuyên truyền con người khắc

kỷ, và chủ nghĩa khắc kỷ này chi phối cả hai giới nam và nữ Không gian văn hóa Thanh giáo với nhiều cấm kỵ về thân xác của xã hội Nho giáo hóa có ảnh hưởng lớn đến việc xây dựng hình tượng nhân vật nam giới của văn học trung đại Vấn

đề này ít được quan tâm ở Việt Nam Đó là lý do đầu tiên hướng chúng tôi chọn

Trang 8

nghĩa của văn học Thăng Long Nguyễn Đình Chiểu lại là tác giả trưởng thành trong không khí phục hồi Nho giáo của triều Nguyễn ở Đàng Trong Hai nhà nho sống ở hai thời điểm gần nhau( cuối thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX) nhưng lại có nhưng quan điểm trái ngược nhau khi xậy dựng nhân vật nam nhi anh hùng Nhân

vật Từ Hải trong Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng là một nam nhi anh hùng

nhưng lại không tuân theo những quy tắc ứng xử như các nhân vật anh hùng theo quan điểm của Nho giáo Từ Hải có những nét phi thường nhưng cũng có những yếu tố của con người phàm bình với mọi cung bậc cảm xúc không bị kiểm soát bởi chủ nghĩa dân bản Đây là một điểm mới trong quan niệm về người anh hùng

của Nguyễn Du Nhân vật Lục Vân Tiên trong truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn

Đình Chiểu ra đời trong một thời điểm lịch sử đầy biến động ở vùng đất Nam Bộ Chính vì thế hình tượng người nam nhi anh hùng có phần chịu ảnh hưởng giáo lí Nho giáo mang đậm tính khắc kỉ

Nghiên cứu đề tài " Nhân vật Từ Hải và nhân vật Lục Vân Tiên nhìn theo quan điểm giới", chúng tôi chọn cách tiếp cận nhân vật dưới góc nhìn văn hoá để

có thể khai thác nhân vật toàn diện hơn ở mọi khía cạnh Chúng tôi hi vọng kết quả nghiên cứu của mình sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc học tập và giảng dạy văn thơ trung đại trong nhà trường

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hai tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du và truyện Lục Vân Tiên

của Nguyễn Đình Chiểu từ lâu đã thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

văn học Tuy nhiên, khi nói về nhân vật Từ Hải trong Truyện Kiều và nhân vật Lục Vân Tiên trong truyện Lục Vân Tiên, các nhà nho, các nhà nghiên cứu

văn học mới chỉ dừng lại ở việc bình phẩm các nhân vật hoặc nhấn mạnh giá trị phản ánh hiện thực xã hội phong kiến; về quan niệm con người, chú trọng phân tích nhân vật theo nghĩa không phải là một cá nhân mà là một phần tử của một giai cấp, một tầng lớp, lý luận điển hình hóa xem xét nhân vật theo nghĩa điển hình giai cấp Cho đến thời điểm hiện tại, hầu như chưa có hay ít

Trang 9

có công trình nghiên cứu nhân vật Từ Hải và Lục Vân Tiên theo lý thuyết về

giới Học giả Vũ Đình Trác với luận án tiến sĩ Triết lý nhân bản trong Truyện

Kiều bảo vệ tại Nhật Bản năm 1984 có đề cập đến tư tưởng nhân bản của Nguyễn Du qua vấn đề giới như: cuộc đối thoại đầu tiên ở vườn Thuý,

"nguyên tác đã để Thuý Kiều trở thành chủ động, nói năng huyên thuyên và tống tình Kim Trọng một cách khiêu khích Nguyễn Du trái lại, trả Thuý Kiều

về với bản tính thanh cao của giai nhân tài trí, để cho Kim Trọng trở thành chủ động, theo quan niệm Dương chinh phục Âm" Hoặc "những cảnh báo oán của Thúy Kiều trong truyện Hán văn có vẻ nhuốm màu bạo dâm (sadism) biểu lộ hết ác tâm của kẻ báo thù và đường lối dã man của xã hội loài người Dưới ngòi bút Nguyễn Du, những cảnh đó cần phải có tối thiểu, để trọn ý nghĩa nhân quả và tâm lý thường tình của con người, nhưng ông muốn tránh mọi cử chỉ và hành động vô nhân đạo" Trần Đình Hượu và Trần Ngọc Vương có nêu vấn đề về loại hình " nhà nho tài tử" với hai nét thị tài, đa tình:

"Tài tử cũng là nho sĩ ( ) ( ) nhưng lí tưởng làm người của họ ( ) không ở

chỗ tu thân, hành đạo, trí quân trạch dân mà là thoả mãn tính cách thị

tài và đa tình (…) Họ không quan tâm nhiều đến nghĩa quân thần, ( )đến

trách nhiệm với xã hội và còn đi xa hơn nữa đối lập tình với tính, tài với

đức, tự coi là những cá nhân chứ không còn là thần tử ( ) Ước mong tự do

và hạnh phúc chỉ mới đặt ra trong một phạm vi hẹp là tình yêu ( ) Tài tử là những nhà nho chưa thể gọi là “bội đạo”, “li kinh” nhưng rõ ràng đã xa rời

quĩ đạo chính thống, tức là những nhà nho tu thân hành đạo hay ẩn dật theo lẽ

xuất xử”[64] Thực chất đây cũng là cách nhìn ít nhiều mang tính chất của

giới tính ( nhà nho là đàn ông thì đa tình, đa dục và đề cao tài), song tiếc là không đề cập đến nhân vật Từ Hải

Tại hải ngoại, nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc cũng có tiếp cận thú

vị từ góc nhìn giới đối với nhân vật Lục Vân Tiên khi viết bài " Đọc chơi

Trang 10

vài bài ca dao" đã giải thích vì sao cái tục lại được dân Nam Bộ áp dụng để

"xuyên tạc" nhân vật Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu Theo ông, câu

ca dao tục tĩu, nhảm nhí:

Vân Tiên ngồi dưới gốc môn, Chờ cho trăng lặn bóp Nguyệt Nga

không dành cho nhân vật "máu dê" như Bùi Kiệm hay một nhân vật nào đó

trong Truyện Kiều như Thúc Sinh, Từ Hải, Mã Giám Sinh lại chọn ngay

chính Lục Vân Tiên, một nhân vật được xem là nghiêm trang, nghiêm túc, thậm chí nghiêm khắc, có thể xem như một khuôn mẫu về đạo đức, để bắt làm cái chuyện phàm phu tục tử ấy là bởi vì có lí do của nó Câu ca dao trên là

"một cách phản ứng chống lại thái độ đạo đức khắt khe, có phần giả tạo của

đạo", các nhân vật Lục Vân Tiên đã trở thành biểu tượng luân lý do đó mất cả

tự nhiên! Truyện Lục Vân Tiên được truyền bá sâu rộng trong giới bình dân,

cứ "nói thơ" đạo nghĩa hoài cũng sẽ có lúc có người làm "thơ" hay đặt vè phê phán lại Lục Vân Tiên và tác giả của nó, một phản ứng tâm lý bình thường chê giới có học, nhà nho vốn đại diện cho uy quyền Nguyễn Hưng Quốc đã

có lý khi cho rằng qua hai câu ca dao đó, người bình dân muốn Vân Tiên gần

phê bình văn học nhìn theo quan điểm giới của Nguyễn Hưng Quốc

Tóm lại, còn rất ít người nghiên cứu nhân vật nam giới ở hai tác phẩm này theo lý thuyết giới Điều này khiến các nhân vật nam đôi khi bị nhìn nhận thiên lệch về vấn đề giai cấp hoặc đạo đức mà mờ nhạt về đặc điểm giới Chính vì thế mà luận văn hy vọng góp phần nhỏ xới lên hướng nghiên cứu

giới của nhân vật Từ Hải trong Truyện Kiều và nhân vật Lục Vân Tiên trong truyện Lục Vân Tiên, góp phần giúp người đọc thấy thêm những phương diện

khác của nhân vật trong hai tác phẩm này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 11

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong luận văn này là nhân vật Từ

Hải trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và nhân vật Lục Vân Tiên trong truyện Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu

4 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu nhân vật nam trong Truyện Kiều và truyện Lục Vân Tiên trên cơ sở xem xét việc tác giả miêu tả, đánh giá, lý giải các phương diện giới tính nam của nhân vật Qua đó làm nổi bật sự chi phối của quan điểm giới trong thời trung đại như một vấn đề văn hóa ảnh hưởng đến nghệ thuật xây dựng hình tượng người anh hùng lí tưởng và người anh hùng đã bị thế tục hoá

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài như:

khái niệm giới; điểm qua các kiểu nhân vật nam trong văn học trung đại Việt nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XX

- Phân tích, cắt nghĩa hai kiểu nhân vật nam trong Truyện Kiều và truyện Lục Vân Tiên từ góc nhìn giới Từ đó có sự so sánh hai nhân vật để

thấy sự giống và khác nhau trong biểu hiện nam tính cũng như quan niệm của hai tác giả về việc xây dựng những hình mẫu nam nhi lí tưởng trong xã hội phong kiến

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp văn hóa học:

Chúng tôi vận dụng phương pháp tiếp cận văn hoá học để giải mã hình tượng người nam nhi anh hùng, tìm ra nền tảng văn hóa lịch sử của chúng Trong xã hội phong kiến, giá trịđạo đức được coi là thước đo chuẩn mực người đàn ông chính là những giáo lí Nho gia Nho giáo chủ trương xây dựng con người xã hội theo lí tưởng thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, con người nội thánh ngoại vương, tu kỉ trị nhân Quan điểm văn hoá này đã chi phối đến cách xây dựng hình tượng người nam nhi anh hùng trong các tác phẩm văn học trong đó có nhân vật Từ

Trang 12

Hải trong Truyện Kiều và nhân vật Lục Vân Tiên trong truyện Lục Vân Tiên của

Chúng tôi lựa chọn phương pháp so sánh để thấy được các mối liên hệ

đa dạng, đa chiều cũng như nét chung, nét riêng độc đáo của nhân vật Từ Hải

và nhân vật Lục Vân Tiên

- Phương pháp hệ thống:

Chúng tôi sử dụng phương pháp hệ thống nhằm mục đích giúp cho việc tìm

hiểu nhân vật Từ Hải trong Truyện Kiều và nhân vật Lục Vân Tiên trong truyện Lục

Vân Tiên có được cái nhìn sâu sắc, đầy đủ hơn

7 Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được triển

khai trong ba chương:

Chương I: Lý thuyết giới và các kiểu nhân vật nam trong tiến trình văn

học trung đại Việt Nam

Chúng tôi dành chương I làm cơ sở đi vào lý luận về Giới

Xã hội phương Đông truyền thống là xã hội nam quyền Trong quan hệ giới giữa hai phái nam-nữ, người đàn ông thống trị, các chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ của phụ nữ do nam giới đặt ra, thường có biểu hiện bất công đối với người phụ nữ (trinh tiết, tam tòng tứ đức…)

Nhưng mẫu hình lý tưởng về nam giới cũng lại mang tính khắc kỷ đậm nét Những nhân vật nam giới được văn học nhà nho ca ngợi thường là các

Trang 13

anh hùng, nam nhi quân tử, kẻ sĩ khắc kỷ, coi thường sắc đẹp, khô khan Những nhân vật nam bị phê phán thường là những kẻ phóng đãng, dâm loạn

Sự phân tuyến chính diện-phản diện nhiều khi rạch ròi, không có trung gian Khái niệm Thân và Tâm của văn hóa truyền thống phương Đông đã chi phối sâu sắc cách xử lý này Người xưa dường như có quan niệm rằng sắc đẹp phụ

nữ và những dục tính thân thể có ảnh hưởng xấu, tiêu cực đến việc tu dưỡng đạo đức, thực hiện lý tưởng của người thánh nhân, quân tử, trượng phu (những người đàn ông) Vì thế nên họ có tư tưởng cảnh giác hay kỳ thị cao độ đối với nữ sắc Tuy nhiên, trong văn học, cũng có những trường hợp đột phá các chuẩn mực đạo đức thẩm mỹ nho giáo chính thống như Truyện Kiều của

Nguyễn Du mà ta sẽ nghiên cứu

Chúng tôi chọn nhân vật Từ Hải trong Truyện Kiều và nhân vật Lục Vân Tiên trong Truyện Lục Vân Tiên: đây là nhân vật của hai tác phẩm thuộc hai giai đoạn văn học khác nhau, một tác phẩm (Truyện Kiều ) vay mượn cốt truyện tiểu thuyết tài tử giai nhân (Kim Vân Kiều truyện), một tác phẩm (Lục

chủ tình, mang tư tưởng nữ quyền; còn Nguyễn Đình Chiểu sống ở Nam Bộ, một vùng đất mới khẩn hoang, cư dân từ mọi miền hội tụ rất cần có đạo nghĩa trong ứng xử, ông lại tiêu biểu cho giai đoạn nhà Nguyễn phục hồi Nho giáo, giai đoạn văn học mà nhà Nguyễn ưu tiên cho tuồng, đề cao con người phận

sự, chức năng trong luân thường mà coi nhẹ con người trần thế, cá nhân So sánh để xem hai tác giả khác nhau xử lý như thế nào với nhân vật nam giới,

sự khác nhau, giống nhau, góp phần hình dung bức tranh văn học sử

Chương II: Nhân vật Từ Hải trong Truyện Kiều của Nguyễn Du

Chọn nhân vật Từ Hải làm đối tượng khảo sát, chúng tôi có ý tìm hiểu những đột phá của Nguyễn Du trong quan niệm đạo đức thẩm mỹ

Trang 14

Những biểu hiện nam giới của Từ Hải: thân thể kỳ vĩ, cường tráng, sức

dư muôn người, có lòng trọng nghĩa khinh tài Đây là nét truyền thống của nhân vật anh hùng hảo hán, giang hồ nghĩa hiệp, nhưng có nét mới, cách tân,

biết trân trọng sắc đẹp phụ nữ, có tình yêu lãng mạn Thiếp danh đưa đến lầu

hồng, Đôi bên cùng liếc đôi lòng cùng ưa Từ Hải là nam nhi, anh hùng

(Nguyễn Du nhiều lần gọi Từ Hải là anh hùng) Nhưng Từ Hải không khắc

kỷ, cũng lãng mạn, đi tìm hình bóng giai nhân, đến với Kiều như việc đi tìm

người tri kỷ, có tình yêu, có hạnh phúc ân ái "trai anh hùng, gái thuyền quyên

/ đẹp nguyền sánh phượng phỉ duyên cưỡi rồng" Điều này có từ Kim Vân Kiều Truyện nhưng đã được Nguyễn Du sáng tạo, tô đậm

Đây là đặc điểm chung cho các nhân vật nam chính diện ở Truyện Kiều Truyện Kiều còn có nhân vật Thúc Sinh với biểu hiện nam tính thiên về sắc tình nhưng tấm lòng độ lượng bao dung của Nguyễn Du không phê phán, lên án

Chương III: Nhân vật Lục Vân Tiên trong truyện Lục Vân Tiên của

Nguyễn Đình Chiểu

Ở chương III này, chúng tôi tìm hiểu nhân vật nam Lục Vân Tiên để

thấy xu hướng tôn nho trở lại của vùng đất phương Nam dưới thời Nguyễn đã ảnh hưởng đến sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu Lục Vân Tiên có những vẻ đẹp truyền thống của nam nhi, anh hùng, nhưng thiếu chất lãng mạn, thiếu sự

đa tình

So sánh nhân vật Lục Vân Tiên với nhân vật Từ Hải để thấy sự giống nhau và khác nhau trong biểu hiện nam tính Một điểm khác biệt quan trọng là tính chất khắc kỷ, là vẻ nghiêm nghị đạo mạo quá mức trước phụ nữ Tác giả Nguyễn Đình Chiểu cũng đối lập gay gắt hai kiểu chính diện -phản diện bằng đối lập những biểu hiện yếu tố nam tính

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1

LÝ LUẬN GIỚI VÀ VIỆC PHÂN TÍCH CÁC NHÂN VẬT NAM NHI –ANH HÙNG TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

1.1 Những khái niệm về giới (gender) và giới tính (sex)

Trong những năm gần trở lại đây, thuật ngữ “Giới” (gender) – khác biệt với thuật ngữ “Giới tính” (sex), thường xuất hiện trong các bài viết, các công trình nghiên cứu ở Việt Nam Giới thường được nói đến ở hai khía cạnh sinh

học và xã hội Ở vấn đề này, chúng tôi không có tham vọng đi sâu nghiên cứu những vấn đề chuyên môn thuộc lĩnh vực này mà chỉ đi tìm hiểu khái niệm " giới" và "giới tính" để phục vụ cho những vấn đề có liên quan đến bài viết của

mình Khái niêm "giới" mà chúng tôi đề cập ở đây được hiểu theo góc độ xã hội

Theo Hoàng Bá Thịnh trong bài Tiểu luận xã hội học về giới thì "giới"

được hiểu như sau: Khái niệm giới không chỉ đề cập đến nam và nữ mà cả mối quan hệ giữa nam và nữ Trong mối quan hệ này có sự phân biệt vai trò, trách nhiệm, hành vi xã hội mong đợi và quy định cho mỗi giới, phù hợp với những đặc điểm văn hoá, chính trị, kinh tế và tôn giáo Do vậy, nó luôn biến đổi theo thời gian và có sự khác biệt theo không gian; vì thế nó luôn biến đổi theo các giai đoạn lịch sử và có khác biệt giữa các cộng đồng, xã hội” [52.54]

Reiter 1975: 159: Giới là một thành phần của hệ thống giới tính Hệ thống giới tính (gender/sex sytem) chỉ "sự sắp xếp mà trong đó xã hội qui

định sự tương ứng giữa giới tính sinh học và hành vi con người, trong đó

những nhu cầu được thỏa mãn"

(Nguồn: Dịch từ http://en.wikipedia.org/wiki/Gender- role )

Hội Liên Hiệp phụ nữ Việt Nam định nghĩa: “Giới là phạm trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ Xã hội tạo

ra gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm

Trang 16

giới khác nhau Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được” [13.33]

Trong cuốn tài liêu giáo dục Giới và các vấn đề đô thị của TS.Trần Thi

Kim Xuyến thì giới được định nghĩa: "Giới ( gender) là một thuật ngữ chỉ vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ từ góc độ xã hội; giới đề cập đến sự phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lựcvà lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh xã hội cụ thể" [67.3]

Theo Bem và Coltrane, các nhà nghiên cứu xã hội học của đại học

cực giới (đàn ông và đàn bà là khác nhau và sự khác biệt này một nguyên tắc

tổ chức trung tâm của cuộc sống xã hội), androcentrism (nam giới ưu trội hơn nữ giới; kinh nghiệm nam giới là tiêu chuẩn, nam quyền); và chủ nghĩa thiên về những kiến giải sinh học (hai thấu kính đầu tiên là do sự khác biệt về sinh học giữa các giới tính) Đây là một cách tiếp cận cấu trúc xã hội đã nhìn nhận sự tiếp nhận đặc điểm về giới như sự đoán trước hoàn thiện nhân cách cá nhân Như vậy, "giới là sự khác biệt mang tính xã hội (không phải sự khác biệt về sinh học), chỉ sự tương quan về vai trò xã hội, vị trí và giá trị xã hội giữa phụ nữ và nam giới" Sự khác biệt về giới không phải vốn có cùng với sự tồn tại của nam và nữ mà là sự tập hợp các hành vi học được từ xã hội và những kỳ vọng về các đặc điểm, phẩm chất, năng lực được cân nhắc nhằm xác định thế nào là một người nam giới hay một người phụ nữ (hoặc cậu bé – cô bé), trong một xã hội hay nền văn hóa nhất định

Như vậy, "giới" là những đặc điểm mà xã hội đã tạo nên ở người nam

và người nữ, là quy định của xã hội về người nam và người nữ, là những đặc trưng xã hội ở nam và nữ Đó là giới xã hội Giới xã hội thường bao gồm nhiều vấn đề như: vai trò, vị trí của mỗi giới, đặc điểm và nhiệm vụ của mỗi giới trong xã hội… Những vấn đế này thường do xã hội quy định và biến đổi

Trang 17

theo từng giai đoạn lịch sử, từng quốc gia, tuỳ theo truyền thống, phong tục tập quán của mỗi dân tộc…

Giới tính(Sex): các đặc điểm về cấu tạo cơ thể, liên quan đến chức năng sinh sản của phụ nữ và nam giới được gọi là giới tính Đây là những đặc điểm mà phụ nữ và nam giới không thể đổi chỗ cho nhau Cụ thể là phụ nữ mang thai, sinh con, cho con bú, nam giới tạo ra tinh trùng để thụ thai

Giới và giới tính có mối quan hệ rất chặt chẽ và phức tạp Giới là cơ sở

để tạo nên giới tính Những đặc điểm sinh học của giớí xác định giới tính về mặt sinh học đồng thời cũng là những biểu hiện của giới tính về mặt sinh học

Ở góc độ này, giới là một bộ phận của giới tính, đồng thời giới chi phối và quyết định giới tính Những đặc điểm xã hội của giới cũng góp phần hình thành những đặc điểm xã hội của giới tính Chúng cũng chi phối và quyết định sự hình thành giới tính

Sự phân cực vai trò giới trong xã hội ngày càng trở nên rõ nét Nữ giới thì được gắn với những đặc điểm như là giàu tình cảm, thận trọng, tính hợp tác, tinh thần cộng đồng và sự phục tùng Còn nam giới có xu hướng được gắn với các đặc điểm như duy lý, có năng lực, thích ganh đua, chủ nghĩa cá nhân và sự tàn nhẫn Nam giới theo bản năng tự nhiên của mình luôn thể hiện

sự phân tích và tính cạnh tranh nhiều hơn, trong khi đó phụ nữ giàu lòng trắc

ẩn và thiên về sự chăm chút tỉ mỉ cho những người xung quanh Có nhiều giả thuyết và lý giải khác nhau cho sự khác biệt độc đáo này Theo tiến sĩ người

Mỹ Cordelia Fine, đồng thời là tác giả cuốn Ảo giác về giới tính (Delusions of

gender), sự khác biệt giữa hai giới không chỉ xuất phát từ cấu tạo tự nhiên khác nhau của não hay sứ mệnh sinh học của mỗi giới mà còn là do yếu tố tác động của xã hội và môi trường sống

Trong văn hoá người Việt, giới có tác động không nhỏ đến sự phân công lao động giữa người phụ nữ và nam giới trong gia đình Người đàn ông luôn là người giữ vai trò trụ cột trong gia đình Mọi lĩnh vực có liên quan đến

Trang 18

đời sống gia đình như: làm nhà, dạm vợ, gả chồng cho con cái, chăn nuôi,

trồng trọt… nhất nhất đều do người đàn ông chủ gia đình quyết định Tư

tưởng trọng nam khinh nữ của Nho giáo góp phần làm cho chế độ phụ hệ gia trưởng trong người Việt thêm củng cố Trong một gia đình nếu không có con trai nối dõi tông đường thì dù có bao nhiêu con gái thì dư luận xã hội cũng đều cho là không có con (Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô) Đến tuổi lấy chồng, người con gái không có quyền được lựa chọn người chồng Với tục “Cha

mẹ đặt đâu con ngồi đấy” và với lệ thách cưới người con gái trở thành một vật trao đổi mua bán Người phụ nữ sau khi đi lấy chồng trở thành thành viên của gia đình chồng "Con gái là con người ta, con dâu mới thật mẹ cha mua về" và cũng từ đây họ và tên của người đàn bà sẽ biến mất Ngay cả cách dạy con

của bà mẹ trong bài ca dao ở Quốc văn giáo khoa thư cũng thể hiện rất rõ vị

trí của người nữ giới và nam giới trong xã hội:

Con ơi muốn nên thân người, Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha:

Gái thì giữ việc trong nhà, Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa, Trai thì đọc sách ngâm thơ,

Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa, Mai sau nối được nghiệp nhà, Trước là đẹp mặt sau là ấm thân

Trong văn hoá làng xã, chỉ có đàn ông mới được lên đình làng bàn việc, phụ nữ ở nhà, việc tổ chức các lễ nghi tôn giáo cũng do người đàn ông thực hiện Cái nhìn của nam giới về phụ nữ cũng có phần khinh miệt Trong quan hệ nam nữ, phạm trù trinh tiết như là biểu hiện của đạo đức chỉ áp dụng cho người phụ nữ; còn người đàn ông không bị ràng buộc bởi phạm trù này Không ai lại đi khen hay chê người đàn ông vì giữ (hay không giữ) trinh tiết với vợ, song trinh tiết là một trong những chuẩn mực để khen chê đức hạnh

Trang 19

người phụ nữ Một nhà nho có thể có hàng chục vợ hay một ông vua có hàng trăm cung nữ, nhưng vẫn “vô tư” bàn về trinh tiết phụ nữ, vẫn sẵn sàng làm thơ, viết văn ngợi ca những người phụ nữ “tiết hạnh khả phong” Và, với quan niệm “tài trai lấy năm lấy bảy, gái chính chuyên chỉ có một chồng”, những người phụ nữ nạn nhân của chế độ đa thê (bất kể là vợ cả hay vợ lẽ), suốt đời chìm đắm trong những mối mâu thuẫn, bất hòa, khổ đau nhiều khi chỉ vì những chuyện rất vụn vặt Từ luật Hồng Đức đến luật Gia Long là quá trình phát triển ngày càng phản động của chế độ phong kiến đối với phụ nữ Những cực hình, chỉ áp dụng riêng đối với phu nữ khi bị coi là làm những việc trái với luân thường đạo lí: thả bè trôi sông, gọt gáy bôi vôi, ngựa xé, voi giày

Thực tế về cái nhìn nam quyền rất phổ biến trong văn học trung đại Các nhà nho xưa thường coi phụ nữ là lực cản trên con đường tu dưỡng đạo đức nên phải xa lánh nữ sắc, coi nữ sắc nguy hiểm như ma quái, quỉ, hồ ly tinh, rắn báo oán Truyền thuyết về Thị Lộ là rắn báo oán, các nhân vật phụ

nữ ma quái trong Truyền kỳ mạn lục ra đời cũng bởi xuất phát từ chính những quan niệm này Trong Gia huấn ca của Nguyễn Trãi, phần lớn những

bài giáo huấn là để răn dạy người phụ nữ trong gia đình phải biết đối nhân xử thế trong mọi trường hợp với cha mẹ, với chồng, với bạn chồng, với trong họ, ngoài làng Trái lại, cái nhìn của xã hội (cũng là nam giới thống trị) về người nam giới thường là ca ngợi mẫu hình nam nhi, quân tử, anh hùng, trượng phu, con người trên phương diện xã hội mà tỏ ra khinh miệt những kẻ mê đắm nữ sắc, coi như những nhân vật phản diện Những hiện tượng này vẫn còn tồn tại dai dẳng cho đến tận ngày nay Người đàn ông theo quan niệm Nho giáo phải lập công danh sự nghiệp, có chí khí nam nhi, chí khí anh hùng Để thực hiện

lý tưởng cao cả đó, họ phải gạt bỏ tình cảm nhi nữ, không đam mê sắc đẹp như thiền sư (nam nhân) hy sinh đời sống tình dục để tu luyện những phép thuật để đạt được những khả năng phi thường hay nhà nho tiết dục, quay lưng lại tiếng gọi của thân xác, của sắc đẹp bởi nó chính là nguyên nhân gây nên

Trang 20

suy vong, sụp đổ cho của các triều đình, bất hạnh tai hoạ cho gia đình và nỗi đâu khổ cho cá nhân Đó là lý do sâu xa của việc họ coi thường sắc đẹp

Quan niệm văn hóa về đặc điểm và vai trò của giới có vai trò chi phối, tác động đến cách xây dựng hình tượng nhân vật (cả nam và nữ) Trong nghiên cứu văn học, người ta có thể vận dụng phương pháp nghiên cứu giới của nhân vật văn học để tìm hiểu các kiểu hình tượng nam, nữ Trước đây, nhân vật nam, nữ thường chỉ được nhìn theo quan điểm giai cấp, áp bức hay

bị áp bức, theo quan điểm đạo đức, đáng khen hay đáng chê thì với điểm nhìn giới, chúng ta thấy thêm những phương diện khác của nhân vật Từ đó, chúng

ta có thể phân tích một cách toàn diện sự ảnh hưởng của các quan niệm giới thời trung đại tới cách nhìn nhận và sự xây dựng hình tượng nhân vật

1.2 Các kiểu nhân vật nam trong văn học trung đại Việt Nam

Mỗi nền văn học ở một quốc gia nào đó đều có sự vận động theo tiến trình vận động của lịch sử Văn học Việt Nam trung đại cũng không nằm ngoài quy luật đó Đặt văn học vào tiến trình vận động của nó sẽ giúp người đọc có cái nhìn toàn diện hơn về đề tài, thể loại, ngôn ngữ, nhân vật Tuy nhiên, các vấn đề về phân kì lịch sử dân tộc và quy luật vận động của văn học dân tộc vẫn luôn là vấn đề gây nhiều tranh luận trong các cuộc hội thảo Có rất nhiều quan niệm về phân kì lịch sử văn học dân tộc Việt Nam được đưa ra Theo giới nghiên cứu mácxít thì quy luật vận động của tiến trình văn học trung đại đều dựa vào nội dung được phản ánh trong các giai đoạn khác nhau

để phân định ranh giới giữa chúng Cách phân kì này còn bộc lộ những vấn đề bất cập bởi "đời sống văn học là kết quả của mối quan hệ tương tác giữa chủ thể và khách thể Sự thay đổi của các yếu tố thuộc về hiện thực xã hội lịch sử với tư cách là đối tượng của sự phản ánh phải được chủ thể là nhà văn nhận thức để chuyển hoá thành tác phẩm văn học Tất nhiên, sự thay đổi của chủ thể cũng là do nhân tố khách thể quy định, song là sự quy định phức tạp Vả lại, chủ thể có sự độc lập tương đối với khách thể Chủ thể sáng tạo nhìn

Trang 21

ngắm thế giới khách quan và xử lí các quan sát hiện thực bằng vốn tri thức văn hoá, bằng quan điểm chính trị , đạo đức - thẩm mĩ, những yếu tố chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau"[49.69] Ngược dòng thời gian trở lại với cách nhìn nhận tiến trình văn học của tác gia văn học Phạm Đình Hổ

(1768 - 1839) trong Vũ trung tuỳ bút, ông cho rằng tiến trình văn học sử được

nhìn nhận theo lịch trình các triều đại Đây là một quan điểm không mấy khoa học và hiện nay không còn được sử dụng Tuy nhiên, mốc Lê Trung hưng mà ông đưa ra đã thuyết phục được giới nghiên cứu văn học trung đại nước nhà

Sự kiện Lê Trung hưng bắt đầu khi nhà Lê, nhờ có sự phò tá của họ Trịnh, đánh bại nhà Mạc, trở lại Thăng Long đã mở ra một cái nhìn mới về lịch sử văn học dân tộc cũng như sự thay đổi về đề tài, thể loại, ngôn ngữ, nhân vật

Ở đây, chúng tôi không có tham vọng khảo sát tất cả sự đổi thay trong quá trình vận động của nền văn học Việt Nam trung đại mà chỉ khảo sát một khía cạnh nhỏ đó là các kiểu nhân vật nam trong văn học Việt Nam trung đại

Nhìn lại những trang lịch sử từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XVII, các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê, Mạc, Lê Trung hưng lần lượt ra đời, phát triển và suy vong Tất cả những điều đó đều được phản ánh rõ nét trên lĩnh vực văn hoá Sự hình thành và phát triển của dòng văn học viết trong thời kỳ này là một biểu hiện rõ nét của công cuộc phục hưng và phát triển văn hoá trong nước Đại Việt ngày càng trên đà lớn mạnh Nền văn học Đại Việt từ đây cũng đã hình thành một lực lượng sáng tác ngày càng đông đảo Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhận thấy, chủ thể sáng tác và đối tượng phản ánh trong các tác phẩm văn học gần mười thế kỷ tuyệt đại đa số là nam giới Những mẫu hình lí tưởng về nam giới qua các các tác phẩm văn học ở từng thời kỳ cũng được phản ánh rõ nét Nhân vật chính từ thơ thiền đến thơ của các nhà

nho đều hướng về những mẫu hình lí tưởng thông qua hai phạm trù thân và

tâm Các nhân vật như thiền sư, nam nhi, quân tử, sĩ nho, nam giới đều là

những nhân vật - mẫu người lí tưởng đoạn tuyệt với cái gọi là bản năng như

Trang 22

mọi cám dỗ về vật chất, mọi nhu cầu bản năng tình dục ( hay còn gọi là tính dục), luôn sống phấn đấu vì lí tưởng nhân cách cao thượng Văn học sau Lê Trung hưng, con người thế tục là mẫu hình chủ đạo của văn học Ở giai đoạn này xuất hiện các nhân vật nam là những sĩ tử đi thi và gian lận trong thi cử, những tên quan lại ăn hối lộ, sách nhiễu dân lành, chúa Trịnh ăn chơi xa đoạ

Ở mục này, chúng tôi sẽ lần lượt điểm qua các nhân vật nam giới trong theo các giai đoạn lịch sử như đã nói ở trên

1.2.1 Các nhân vật văn học từ thế kỷ X đến thế kỷ XV

Văn học từ thế kỉ X đến thế đến thế kỉ XV, cụ thể từ đời Lý đến đời Lê, phát triển rầm rộ xoay quanh các cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm của dân tộc Bộ phận văn học đời Lý và đầu đời Trần chủ yếu do các nhà sư sáng tác và điều mặc nhiên nhận thấy là các nhân vật trong những trang viết là các thiền sư

Nói đến Phật giáo, người ta thường nghĩ đến một triết lí siêu hình, những quan niệm về cuộc đời là ảo ảnh, hư vô và quay lưng lại nó; nhưng các nhà sư thời Lí, Trần đã không quay lưng lại cuộc đời mà nhập thế tích cực Qua thơ văn Lí, Trần, chúng ta dễ dàng nhận ra con người thời kỳ này có cách nhìn hoàn toàn mới về cuộc đời, một lối sống với đầy đủ chất liệu mang đậm

tính nhân văn Và hơn thế nữa, “nhà chùa thời này không quay lưng với cuộc

đời, không thoát ly hiện thực mà tham gia đắc lực vào những hoạt động xã hội Nhiều nhà sư là chỗ dựa vững chắc cho nhà vua Họ có vai trò quan trọng trong triều đình và sáng tác của họ cũng ít tính chất vô hư, thơ văn của họ thường hồn nhiên, sôi nổi, lạc quan yêu đời, ngay cả những trường hợp họ lý

thuyết về Phật giáo" [25.35] Mãn Giác thiền sư ((1051-1096) trong bài Cáo

tật thị chúng là hình ảnh một thiền sư với tư tưởng lạc quan yêu đời thể hiện

tinh thần vô uý và tin vào nhịp điệu vận hành biến động liên tục nên không lo

sợ sự biến đổi lên xuống của cuộc đời Trong cách nhìn của nhà thơ, cuộc đời không phải sớm nở tối tàn , mà tàn rồi lại nở:

Trang 23

Xuân khứ bách hoa lạc, Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhỡn tiền quá, Lão tòng đầu thượng lai, Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

( Hoàng việt thi tuyển - BÙI HUY BÍCH) (Xuân qua trăm hoa rụng,

Xuân tới trăm hoa nở

Việc đời ruổi qua trước mắt, Cảnh già hiện ra trên đầu

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết, Đêm qua, một cành mai nở trước sân.)

Quảng Nghiêm thiền sư (1121- 1190) trong bài Thị tật khi nhắc đến

quan niệm về "tịch diệt", " vô sinh" không tỏ thái độ khẳng định mà có vẻ hoài nghi:

Ly tịch phương ngôn tịch diệt Khứ sinh hậu thuyết vô sinh

( Lìa được cõi tịch mới có thể nói chuyện tịch diệt

Thoát được sự sinh mới nói được chuyênh vô sinh)

Quan niệm của nhà sư về " chí nam nhi", về "tài trai" thì thể hiện khá rõ nét chủ nghĩa lạc quan dồi dào sinh lực của dân tộc Đó là hình mẫu nam nhi

có ý chí, có con đường đi riêng cho bản thân mình để đạt được mục đích chứ không nên theo vết chân người đi trước, dù người ấy đã thành công như Đức

Phật Như Lai:

Nam nhi tự hữu xung thiên chí, Hưu hướng Như lai hành xứ hành

(Làm trai tự có cái chí xông lên trời,

Không cần phải đi vào con đường mà Như Lai đã đi)

Trang 24

Không chỉ dừng lại ở nhân vật thiền sư ngộ đạo có dũng khí vô uý, văn học Lí - Trần còn xây dựng những nhân vật thiền sư nhờ quá trình tu tâm mà

có khả năng phi thường có thể đem lại quyền pháp kì vĩ cứu nhân độ thế Tác

giả Thiền uyển tập anh đã khắc hoạ các kiểu nhân vật thiền sư có sự khác

thường và có phần kì dị về hành trạng, phẩm cách và tài năng Thiền sư

Không Lộ có thể “bay trên không, đi dưới nước, hàng long phục hổ, muôn

phép lạ không lường hết được” Thiền sư Đạo Hạnh " ném gậy xuống dòng

nước xiết, gậy liền trôi ngược; lại có thể khiến rắn rết, muông thú đến chầu phục, đốt ngón tay cầu mưa, phun nước phép chữa bệnh, không việc gì là

không ứng nghiệm” Nhân vật thiền sư trong Thiền uyển tập anh còn được

biết đến ở trình độ học vấn phi thường Trong số 41 bài sự tích các vị sư gồm

16 vị sư thuộc phái Thiền tông của Võ Ngôn Thông và 25 vị sư thuộc phái Thiền tông của Vinitaruci, chúng tôi nhận thấy các nhân vật thiền sư đều có điểm chung được kể đến ở trình độ học vấn uyên bác, trí tuệ tinh anh ngay từ nhỏ Thiền sư Pháp Thuận "học rộng, thơ hay có tài giúp vua, hiểu rõ việc nước Sau khi đắc pháp, sư nói ra lời nào cũng phù hợp với sấm ngữ".Đại sư Khuông Việt "thụ nghiệp thiền sư Vân Phong ở chùa Khai quốc (?) tại đây sư đọc khắp kinh sách nhà phật hiểu hết mọi yếu chỉ của thiền tông Năm 40 tuổi tiếng tăm lừng lẫy trong nước" Thiền sư Cứu Chỉ "thuở nhỏ hiếu học, đọc khắp các kinh điển Nho, Phật, Không thứ gì là không quán xuyến" Thiền sư Quảng Trí "dốc trí tu thiền, không đầy một năm mà phong độ tiếng tăm truyền xa" Thiền sư Ngộ Ấn "10 tuổi đã theo học nghiệp Nho Thiền sư Vạn Hạnh "thuở nhỏ đã khác thường, gồm thông 3 học, nghiên cứu trăm luận" Tăng sư Huệ Sinh tướng mạo kì vĩ, ăn nói lưu loát , rất giỏi văn chương, có tài viết vẽ Học Nho rảnh rỗi sư nghiên cứu thêm sách Pháp, học bách luận và các kinh, không gì không xem hết" Thiền sư Tịnh Lực "thuở nhỏ thông minh, biện tài, sở trường nghề văn, thể chữ càng giỏi" Thiền sư Huyền Quang "là người có tiếng nói dịu dàng, dung mạo đẹp đẽ Sư học vấn thông tuệ, mỗi

Trang 25

ngày học hàng vạn chữ, không đầy 10 năm, gồm thông tam học" Sư đã từng

đỗ đại khoa từ năm 20 tuổi, được triều đình bổ vào làm việc ở Viện Hàn lâm, chuyên tiếp đón Bắc sứ nhưng sau đó “nhiều lần dâng biểu xin từ chức, muốn được xuất gia tu hành học đạo” cuối cùng trở thành một vị thánh tăng “tinh thông thánh đạo, các tăng ni theo học có tới ngàn người” Rõ ràng, thực hiện mục đích tôn vinh đức hạnh siêu việt, tài năng khác thường của của các bậc

thiền sư từ thế kỉ IX đến thế kỉ XIII, Thiền uyển tập anh cho người đọc có cơ

hội được nghiền ngẫm, dung nạp, thu nhận các phương thức khắc hoạ kiểu nhân vật rất thanh thoát mà gần gũi với văn hoá Phật giáo Có thể nói, các thời đại kế tiếp khó có thể tìm thấy hình ảnh những thiền sư giàu lòng yêu đời, yêu cuộc sống, luôn hướng về chúng sinh như thời đại Lý, Trần Tuy

nhiên, các nhà sư-nam nhân hiện ra trong thơ là vô tính Họ sợ tính dục thân

xác vì tính dục có thể hại cho sự tu trì phép thuật (Trước nhà vua, sư Huyền Quang đã chứng minh ông vô tội trong câu chuyện Điểm Bích bằng cách hô gió gọi mưa, tức là chứng minh ông trong sáng, vì nếu có quan hệ tính dục với Điểm Bích chắc đã mất phép thiêng )

Bộ phận văn học cuối đời Trần sang đời Hồ và đầu đời Lê chủ yếu là

do các nho sĩ sáng tác vì vậy Nho giáo đã để lại dấu ấn trong văn học Mẫu hình con người lí tưởng của Nho giáo với tam cương ngũ thường, với đạo lí trung hiếu tiết nghĩa, với chí khí tu, tề, trị, bình cũng xuất hiện ngày càng nhiều trên những trang văn thơ Ở thời kì này, hình tượng "nam nhi" gắn liền với chí hướng lập công, được người đời ca tụng là chủ đề được nhiều nhà thơ, nhà văn nhắc đến Theo Phạm Ngũ Lão chí làm trai phải gắn liền với hai chữ công danh, Chí làm trai này mang tinh thần, tư tưởng tích cực, gắn với ý thức trách nhiệm, lập công (để lại sự nghiệp), lập danh (để lại tiếng thơm cho đời) Chí làm trai đó được coi là món nợ đời phải trả Trả xong nợ công danh có nghĩa là hoàn thành nghĩa vụ đối với dân, với nước Quan niệm lập công danh

đã trở thành lý tưởng sống của trang nam nhi thời phong kiến:

Trang 26

Nam nhi vị liễu công danh trái,

Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu

(Thân nam nhi mà trả trọn nợ công danh,

Thì luống nhữ thẹn thùng khi nghe người đời nói chuyện Vũ hầu)

Về sau, hình tượng nam nhi được thể hiện rõ nét hơn, mang vóc dáng

của bậc đại trượng phu anh hùng Lê Cảnh Tuân (? - ?) trong bài Vô ý cũng

đã xây dựng hình ảnh nam nhi thông qua những hành động cụ thể:

Tứ phương tự thị nam nhi sự, Đạp biến giang san dă bất kì

( Hoàng Việt thi tuyển - BÙI HUY BÍCH)

(Việc bốn phương nguyên là việc của người nam nhi,

Dạo khắp cả núi sông cũng là một sự kỳ lạ)

Bên cạnh chí làm trai, các nhà nho còn xây dựng những mẫu hình quân

tử có trách nhiệm cao với đời Hình tượng Trần Quốc Tuấn trong Dụ chư tỳ

tướng hịch văn ( Hịch văn răn bảo các tỳ tướng) tiêu biểu cho cốt cách của

người quân tử có ý thức trách nhiệm cao độ với dân, với nước mà quên ăn,

quên ngủ: "Dư thường lâm xan vong thực, chung dạ phủ chẩm; thế tứ giao di,

tâm phúc như đảo; thường dĩ vị năng thực nhục tẩm bì như can ẩm huyết vị hận dã Tuy dư chi bách thân, cao ư thảo dã, dư chi thiên chi, khoả ư mã cách, diệc nguyện vi chi".(Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruôt

đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói

trong da ngựa, ta cũng vui lòng) Người quân tử trong Bình ngô đại cáo cũng

thể hiện là tấm gương sáng về tấm lòng vì dân vì nước mà quên ăn, quên ngủ:

Ta đây:

Chốn Lam Sơn dấy nghĩa, Chốn hoang dã nương mình,

Trang 27

Ngẫm thù lơn há đội trời chung, Căm thù giặc thề không cùng sống

Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời;

Nếm mật nằm gan, há phải một hai sớm tối

Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh

Nói tóm lại, người nam nhi, quân tử, anh hùng trong văn thơ nhà nho là những người biết dồn sức mạnh của tinh thần và sức lực vào sự nghiệp xây dựng trật tự xã hội lí tưởng mà họ gọi là thái bình thịnh trị

Như vậy, văn học thế kỉ X đến thế kỉ XV, là văn học của các thiền sư

và nhà nho Hình tượng các thiền sư thường có nét phi giới tính, nhà sư còn thể

hiện là kẻ vô tính, dường như thủ tiêu giới tính là điều kiện cần thiết để tu luyện có được những phép thuật phi thường kỳ vĩ Phật giáo chủ trương “tiết dục”, “diệt dục”, coi sắc là cái cần kiêng kỵ nên nhan sắc phụ nữ bị xem

thường trong mắt các tín đồ đạo Phật Tam tổ thực lục có kể lại câu chuyện ca

ngợi thiền sư Huyền Quang vượt qua sắc dục, giữ lòng chay bạch với thái độ

e sợ, cảnh giác với người phụ nữ nhan sắc Câu chuyện được kể như sau:

Vua Minh Tông và các đại thần muốn thử lòng dục của Huyền Quang bèn nén sắp đặt cơ mưu, chọn người cung nữ vô cùng xinh đẹp và khéo léo là cung nhân Điểm Bích gọi vào nội điện, ban cho một thẻ bài và căn dặn: “Vị tăng ấy vốn không

ưa sắc dục, tánh tình rất cương trực, giới hạnh lại cao nghiêm, ngươi có nhan sắc lại

có tài ăn nói và thông hiểu sử kinh, vậy hãy đến thử thầy Nếu thầy còn động lòng quyến luyến tình dục, ngươi hãy dụ lấy cho được kim tử làm bằng chứng, bằng gian trá sẽ có tội, ngươi phải kính cẩn vâng lời” Điểm Bích vâng lệnh lên đường, đến chùa Vân Yên xin nương náu cửa chùa Ở đây, nàng tìm mọi cách cám dỗ Huyền Quang nhưng thiền sư tuyệt nhiên không lay động Biết khó dùng sắc đẹp cám dỗ Huyền Quang, Điểm Bích nảy ra kế than vãn về gia cảnh và được thiền sư cho một dật kim tử Nhận được dật kim tử, Điểm Bích vội về nói dối Vua là đã cám dỗ được Huyền Quang Vua nghe xong buồn rầu, bèn lệnh mở đàn tràng để kiểm tra hạnh

Trang 28

pháp của sư Huyền Quang lên đàn tràng chứng minh được hạnh pháp của mình Vua biết sư bị oan lại càng kính nể Riêng nàng Điểm Bích bị phạt làm tỳ nữ quét tước một ngôi chùa trong nội điện

Trong câu chuyện này, vẻ đẹp của Điểm Bích không được ca ngợi mà

bị lấy làm nền để tô đậm quan niệm: Nữ sắc là thứ sức mạnh có hại cho lí tưởng Phật; lí tưởng thánh nhân của nam giới, vì vậy nam giới cần biết cảnh giác và tránh xa nó

Mẫu hình các nhà nho thường là những người có sứ mệnh cao cả, đem lại sự vẻ vang cho cho đất nước Họ luôn có thái độ khắc kỉ với phụ nữ Người phụ nữ thường vắng bóng trong các tác phẩm văn học thời kì này hoặc nếu có thì đó là thái độ xa lánh, coi sắc đẹp là sự cản trở bước đường lập công danh Theo quan niệm của các nhà nho thời kì này, người nam nhi phải luôn thoát khỏi mọi cám dỗ của những ham muốn vật chất thông thường hay về tình ái bản năng

Kim ngân ấy của người cùng muốn;

Tửu sắc ấy là nơi nghiệp khá chừa

Thế sự trai yêu thiếp mọn, Nhân tình gái nhớ chồng xưa

Chẳng say, chẳng đắm là quân tử, Người hiểm lòng thay hãy khá ngờ

(Nguyễn Trãi, Bảo kính cảnh giới, bài 42)

Trong bài thơ Giới sắc, Nguyễn Trãi một lần nữa đứng trên lập trường

của một nhà nho khắc kỉ răn dạy nam giới, khuyên người quân tử né tránh nữ

sắc, nên coi nữ sắc là kẻ thù:

Sắc là giặc, đam làm chi Thuở trọng còn phòng có thuở suy

Trụ mất quốc gia vì Đát Kỉ, Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi

Trang 29

Bại tan gia thất đời từng thấy, Tổn hại tinh thần sự ích chi!

(Nguyễn Trãi - Quốc âm thi tập - Bài 190) Trần Thái Tông, tác giả Khóa hư lục viết Giới sắc văn với những lời lẽ

đầy nghiêm khắc khi đánh giá về những yếu tố ngoại hình hấp dẫn của người phụ nữ: “Tóc mượt lưng ong dễ khiến mịt mờ tâm tính; mặt hoa da phấn dễ xui rời rã tinh thần Mắt đưa lấp lánh như dao, ai không đứt ruột; lưỡi uốn ngọt ngào tựa sáo, hết thảy nghiêng tai Người đắm đuối, nghĩa tình xa bỏ; kẻ đam mê, đạo đức tiêu tan Trên thì phong giáo đắm chìm; dưới thì cửa nhà táng loạn Không kể kẻ phàm người học; đều say áo pháp điểm trang Cương

kỷ quốc gia đổ vỡ chốn Tô đài… Độc giác gần nữ am mà trở về cõi tục; Chân Quân xa thán phụ mà được lên thiên đàng Kẻ lánh sắc được ngũ thần thông;

kẻ phạm sắc mất toàn giới hạnh” [33.98]

Câu chuyện Rắn báo oán trong Tang thương ngẫu lục cũng phần nào

thể hiện quan niệm tương tự về sự kì thị nữ sắc Theo đánh giá của các nhà nho thì chính sắc đẹp của Nguyễn Thị Lộ đã làm cho vua Thái Tông phải chết

và gieo rắc tại hoạ cho cả dòng họ Nguyễn Trãi

Cũng từ đây ta hiểu tại sao các sử gia lại cho rằng những người phụ nữ hồng nha, tiêu biểu cho sắc dục, là ma quái, hồ li tinh, rắn báo oán, họ chỉ đem lại bất hạnh cho gia đình, làm khuynh đảo quốc gia, triều đại Sử gia Ngô

Sĩ Liên khi ghi chép chuyện Nguyễn Thị Lộ đã bình luận: “Nữ sắc làm hại người ta quá lắm Thị Lộ chỉ là một người đàn bà thôi, Thái Tông yêu nó mà thân phải chết, Nguyễn Trãi lấy nó mà cả họ bị diệt, không đề phòng mà được ư?” [17.1372-1373]

Tựu chung lại, cũng vì một lí tưởng nhân cách, thi ca cổ thường hay diễn tả tâm đạo lí lo đời, lo nước mà gạt bỏ tất cả các trạng thái tâm lí có tính

tự nhiên Con người được văn hoá hoá một cách triệt để

Trang 30

1.2.2 Các nhân vật văn học từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII

Giai đoạn văn học từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII là giai đoạn chuyển tiếp, xã hội Việt nam bước vào giai đạon khủng hoảng trầm trọng Chiến tranh huynh đệ tương tàn diễn ra liên miên giữa các tập đoàn phong kiến Các thiết chế chính trị, tư tưởng phong kiến Nho giáo bị xáo trộn, lung lay và rạn nứt Nho giáo chiếm địa vị độc tôn, nhưng nó đứng trước những thử thách mới hết sức cay nghiệt Nó nhanh chóng trở thành công cụ của giai cấp thống trị dùng để quản lí xã họi và con người Giai đoạn này có biến động và tranh chấp giữa hai kiểu nhân vật nam, truyền thống và đổi mới Mẫu nhân vật nam chính thống đề cao ngôi vua, đề cao triều đình, coi trọng nho sĩ, luôn mơ ước đến một xã hội phong kiến lý tưởng vẫn xuất hiện trong thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan Các nhân vật trữ tình trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm luôn biết điều tiết dục vọng sao cho không có hại cho trật tự phong kiến, cho cuộc sống:

Đạo ở mình ta lấy đạo trung, Chớ cho đục, chớ cho trong

( Bài số 104) Bởi theo ông, những người biết điều tiết dục vọng, biết ngăn lòng tư dục, biết nhường nhin nhau thì sẽ đấng "thánh hiền":

Dù ai ngăn được lòng tư ấy,

Ta ắt dành cho đấng thánh hiền

( Bài số 124) Thơ văn Phùng Khắc Khoan thể hiện thái độ ôm ấp lý tưởng hành đạo, không chịu khuất phục trước thời cuộc khó khăn, muốm đem tài kinh bang tế thế phò vua giúp nước Ông hy vọng có thể tìm ra bậc anh hùng cứu nước:

Quét sạch mây mù ai đó nhỉ, Ung dung định lại bốn phương trời

( Thương loạn)

Trang 31

Bên cạnh những con người trong văn học trong những khuôn mẫu "tam cương, ngũ thường", thời điểm này đã xuất hiện những nhân vật nam giới kiểu mới, những chàng trai không quan tâm học hành hay làm ăn mà là đệ tử

của thần ái tình như trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ

Trong tác phẩm Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ (? - ?) các nhân vật

nam không còn được xây dựng trên những công thức định sẵn theo quan điểm của Nho giáo Các nhân vật nam là những con người phàm bình Hơn nữa các nhân vật này đều có tình yêu nam nữ, có nhu cầu bản năng thân xác Nhân vật

Từ Thức trong Từ Thức lấy vợ tiên kể về một mối tình thơ mộng óc phần si

mê giữa một kẻ sĩ nơi hạ giới nặng tình với một nàng tiên ở chốn Bồng Lai tiên cảnh nên đã treo ấn từ quan để cùng nàng hưởng thụ Hay nhân vật Hà

Nhân trong Truyện kỳ ngộ ở Trại Tây, một nho sĩ quê ở Thiên Trường lên

kinh sư để ăn học nhưng "bút nghiên nản chí, son phấn tình nồng" Hà Nhân

có cuộc tình với hai nàng Đào và Liễu “Hà Nhân rủ rê hai ả đến chơi chỗ trọ của mình, chuyện trò đằm thắm Chàng lả lơi cợt nghẹo, hai ả thẹn thò nói rằng: “ Chúng em việc xuân chưa trải, nhụy thắm còn phong, chỉn e mưa gió nặng nề, hoặc không kham nổi cho những tấm thân hoa mềm yếu” Hà Nhân khuyên lơn dịu ngọt rồi cùng tắt đèn đi nằm Lửa đượm hương nồng, ái ân mười phần thỏa nguyện” Trong cuộc hoan lạc ấy, Hà Nhân tán dương những bài thơ đầy khoái lạc vật chất của tình nhân và làm thơ đáp trả lại Chàng

thương gia Trình Trung Ngộ trong “Truyện cây gạo” cũng là một kẻ phóng

đãng, mê si mà liều lĩnh Trình Trung Ngộ gặp Nhị Khanh trên cây cầu Liều Khê trong một đêm tình tứ thơ mộng Từ đó, hai người quấn quýt bên nhau, miệt mài trong những cuộc truy hoan dâm đãng, xác thịt Cuối cùng vì si mê

tình ái mà đến nỗi phải bỏ mạng Truyện yêu quái ở Xương Giang thì kể về

gã phú thương họ Phạm, bỏ tiền ra mua một cô gái nhỏ, có nham sắc để thoả mãn sự dâm ô Những nhân vật nam nhiễm những thói hư tật xấu ở đời như

cờ bạc cũng được đưa vào trong Truyền kì mạn lục như Trọng Quỳ, vì chơi

Trang 32

bời và ham tiền y đã bán nàng cho Đỗ Tam, một tên lái buôn giàu có, quỷ quyệt Ngoài ra, Nguyễn Dữ cũng xây dựng những nhân vật nam mang nhiều đức tính tốt đẹp trong cách ứng nhân xử thế: Người tiều phu núi Nưa có phẩm tiết cao không chịu ra làm quan cho kẻ “miệng lưỡi bẻo lẻo , đã dắm mình vào trong cái triều đình trọc loạn, lại còn toan kéo người khác để cùng đắm với mình”, nhân vật Dương Đứng thì công bằng và nhân hậu, Ngô Tử Văn thì dũng cảm, cứng cỏi trong việc truy nã vong hồn tướng giặc dám đốt

ngôi đền để trị tên ác quỷ ấy Văn Dĩ Thành thì “ tính tình hào hiệp”, đem tài

đức của mình để trừ cho dân khỏi nạn ma quỷ quấy nhiễu, Phạm Tử Hư thì ăn

ở phải đạo với thầy Tất cả mọi hành động, việc làm của họ đều vì lợi ích chung của cả cộng đồng

Như vậy, văn học thời kì này đã có những biến đổi rõ nét “Văn học không còn những bức chân dung “ nhìn ngay, ngó thẳng”, cứng nhắc trong những khuôn mẫu” tam cương, ngũ thường”, “tam tòng tứ đức”, con người của tinh thần và ý chí, tư tưởng và giáo điều, thì nay bước vào văn học là những con người trần thế, với da thịt và nhu cầu, hành động và ước muốn chủ quan của nó” [14.126] Những dục vọng, ước muốn thoát ra ngoài sự toả chiết của tư tưởng Nho giáo về " tu, tề, trị, bình" đối với người quân tử,

"công, dung, ngôn, hạnh" đối với người phụ nữ phong kiến bắt đầu xuất hiện trong văn học Tuy nhiên, từ các góc độ khác nhau, dù vô tình hay cố ý khi biểu thị quan hệ tình dục nam nữ, các "nhân vật nam thường là người còn các nhân vật nữ thường là yêu ma như là bức bình phong che chắn búa rìu dư luận của xã hội Nho giáo hoá vốn được định hướng theo lí tưởng quả dục, tiết dục, thậm chí diệt dục" [49.177] Lời bình cuối mỗi truyện của tác giả dù có phê phán người đàn ông nhưng không nhằm hạ thấp mà thiên về giáo huấn họ để bảo

vệ trật tự nam quyền Trong Truyện kỳ ngộ ở Trại Tây, tác giả lí giải việc Hà

Nhân bút nghiên chí nản như sau: "Than ôi, thanh lòng không bằng ít dục, dục

Trang 33

nếu yên lặng thì lòng rỗng mà điều thiện sẽ vào, khí bằng phẳng mà cái lý sẽ thắng, tà quỷ còn đến quấy nhiễu làm sao được Chàng họ Hà lòng trẻ có nhiều vật dục, cho nên loài kia mới thừa cơ quyến rũ Nếu không thì những giống nguyệt quái hoa yêu, mê hoặc sao được mà chẳng phải thu hình nép bóng ở trước Lương công là một bậc chính nhân Kẻ sĩ gánh cặp đến học ở Trường An, tưởng nên chăm chỉ về học nghiệp, tuy không dám mong đến được chỗ vô dục nhưng giá gắng tiến được đến chỗ quả dục thì tốt lắm!" Lời

lí giải đã phần nào cho thấy cái nhìn khắc kỉ của nhà nho đối với người phụ

nữ trong xã hội phong kiến thời bấy giờ

1.2.3 Các nhân vật văn học từ thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX

Hoàn cảnh đáng lưu ý nhất của lịch sử dân tộc trong thời kỳ này là những cuộc nội chiến và bão táp của các cuộc khởi nghĩa nông dân Cuộc khởi nghĩa của đội quân áo vải cờ đào đã lật đổ các tập đoàn phong kiến Đàng trong (chúa Nguyễn), Đàng ngoài (vua Lê, Chúa Trịnh), đánh tan quân xâm lược Xiêm ở phía Nam, 20 vạn quân Thanh ở phía Bắc Sau đó, phong trào Tây Sơn suy yếu, triều Nguyễn khôi phục chế độ phong kiến chuyên chế Đất nước nằm trước hiểm hoạ xâm lăng của thực dân Pháp

Thế kỷ thứ XVIII đầu thế kỷ XIX là một giai đoạn văn học có nhiều biến chuyển to lớn Bên cạnh hình tượng nghệ thuật về người phụ nữ, văn học thời kỳ này đã xây dựng thành công hình tượng nghệ thuật về giới trí thức phong kiến Theo giới nghiên cứu, các nhân vật nam thời kỳ này là các nhà nho tài tử

Nhà nho tài tử là những nhà nho trải qua một quá trình học tập tu dưỡng dưới “cửa Khổng sân Trình” như bất cứ một tri thức nào của thời đại mình Ra đời trong một xã hội Nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống, nhà nho tài tử bị hấp dẫn bởi một hình tượng chính thống, quan niệm về người “đại trượng phu” Đại trượng phu hay người “hào kiệt” là loại nhân vật xuất chúng

Trang 34

vượt lên trên quần chúng cả về tầm cỡ của trí tuệ, tài năng, lẫn những hoài bão, ước vọng to lớn Trong một bối cảnh xã hội loạn lạc, đại trượng phu là người tính toán những sự nghiệp lớn Nhà nghiên cứu văn học Việt Nam Phan Ngọc cũng cho rằng, vào giai đoạn văn học thế kỷ XVIII - nửa đầu thế

kỷ XIX, “Tư tưởng thị dân đòi hưởng lạc, đòi hỏi hạnh phúc, chống lại thói an bần lạc đạo xuất hiện, và trở thành xu thế chính Các tài tử ra đời để thay thế các quân tử, các trượng phu, là những người độc chiếm văn đàn trước đây Các tài tử ấy học đạo thánh hiền, nhưng suy nghĩ theo lối thị dân Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát đều tự xưng là tài tử Con người tài tử là điển hình mới của thời đại Con người quân tử bị chế giễu, đạo đức sống khắc kỷ phục lễ bị mạt sát Một trào lưu tư tưởng mới manh nha trong lòng những chàng trai tài giỏi nhất của thời đại”[30.44]

Điểm khác biệt cơ bản giữa những người tài tử với người hành đạo và người ẩn dật là ở chỗ người tài tử coi “tài” và “tình” chứ không phải đạo đức làm nên giá trị của con người “Đó không chỉ là điểm để phân biệt với người thánh hiền mà cao hơn, là điều khiến họ tự hào” Người tài tử quan niệm “tài” theo nhiều cách Có thể đó là tài trị nước, cầm quân (kinh luân), có thể là tài trong học vấn Nhưng dẫu đã có những tài năng ấy, vẫn nhất thiết phải có thêm tài văn chương “nhả ngọc, phun châu”, rộng hơn nữa là “cầm kì thi họa” - những thứ nghệ thuật tài hoa, và tài năng đó phải gắn với “tình” nữa mới thành người tài tử Theo GS.Trần Đình Sử, thì tài tử không phải là người tài theo quan niệm thông thường, mà là kẻ lấy ngông làm tài, tài thoát ra thói tục, vì vậy mà

nó gắn rất chặt với tài tình

Người tài tử cậy tài, mơ ước không phải chỉ là công danh phú

quý, mà còn lập nên những sự nghiệp phi thường “Vòng trời đất dọc

ngang ngang dọc”, “Chí làm trai Nam bắc Đông Tây / Cho phí sức vẫy

Trang 35

vùng trong bốn bể” (Nguyễn Công Trứ) Cao Bá Quát còn "kiêu" hơn

khi ông coi những người tài giỏi trong quá khứ chẳng thấm vào đâu so với ông:"Nghiêng cánh nhạn, tếch mái rừng Nhan, Khổng, chí xông pha nào quản chông gai; Cựa đuôi kình, toan vượt biển Trình, Chu, tài bay nhảy ngại chi gian khổ" Nhà nho tài tử trong thơ văn Nguyễn Du, đôi lúc (trong thơ chữ Hán) cũng hé cho kẻ hậu nhân cái "kiêu ngầm" của mình:

Tam thập hành canh lục xích thân,

Thông minh xuyên tạc tổn thiên chân

(Tấm thân sáu thước đã ba mươi tuổi rồi Vì thông minh làm xuyên tạc, hại

đến tính trời)

Các nhà nho tài tử không chỉ khoe tài của bản thân mà họ còn đưa cái tài

vào trong thế giới nhân vật của họ Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, các nhân vật nam dù chính diện hay phản diện đều có tài: Kim Trọng: "Nền phú

hậu, bậc tài danh / Văn chương nết đất, thông minh tính trời", Từ Hải cũng

được giới thiệu là một người tài: "Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài",

Thúc Sinh cũng biết làm thơ Đường luật, Sở Khanh cũng biết làm thơ, Hồ Tôn Hiến cũng "kinh luân gồm tài" Trước đó, Nguyễn Gia Thiều, Ngô gia văn phái cũng đã từng để cho nhân vật của mình lên tiếng đề cao cái tài của mình Tóm lại, "chữ tài , từ chỗ kiêng kỵ của thời đại trước, trở thành một ý niệm động lực của thời đại mới".[30.46]

Con người tài tử trong thơ Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ đều có mối quan hệ với các nhân vật ả đào, kĩ nữ Gò bó, ngột ngạt trong môi trường chính thống đầy những niêm luật, ước thúc, họ tìm đến sinh hoạt ca trù như một nhu cầu tất yếu, nhằm thỏa mãn cái tôi bản ngã, ngoài vòng cương tỏa khắt khe của lễ giáo phong kiến Nhưng cái nhìn của hai nhà nho về người phụ nữ ( cụ thể là người hát ả đào, kĩ nữ) lại có phần khác biệt

Nguyễn Công Trứ nói nhiều đến chí nam nhi, nợ anh hùng, song khác hẳn các tác giả trước đây, anh hùng của ông lại đầy yếu tố sắc tình Ông khoe

Trang 36

đi hát ả đào, khoe có các cô gái trẻ đi tháp tùng lên chùa Tuy vậy, mặt trái của ông là tư tưởng nam quyền, khắt khe với phụ nữ, chỉ cho nam giới có quyền chơi bời phóng đãng Với Nguyễn Công Trứ, trong số 12 người thiếp của ông (có tài liệu nói là 14), có không ít người xuất thân là ả đào Gần gũi các cô đào là thế, nhưng Nguyễn Công Trứ chưa bao giờ thể hiện thái độ thương cảm trước thân phận bạc bẽo của những người phụ nữ này Nguyễn Công Trứ từng tận mắt chứng kiến tài năng, mê mải sắc đẹp của các ả đào; cũng gửi gắm không ít tâm sự ruột gan của mình cho cô đào hát; trải qua bao nhiêu cuộc tình tha thiết sâu nặng với họ, nhưng vẫn không trân trọng họ Ông đến với họ đơn thuần chỉ để giải trí, vui chơi, xem họ là thú vui chứ không nhìn nhận họ như những con người có giá trị Chính vì chỉ xem ả đào như một thú chơi mà ông thường có thái độ bỡn đùa họ:

Lật đật qua đèo nóng nực thay Hai cô thương đến lại cho giày

Ơn này biết lấy chi mà trả Xin quỳ hai gối chống hai tay

(Cảm ơn hai cô đào)

Cái nhìn về người ả đào thuần túy là cái nhìn từ phía người đàn ông hưởng thụ ăn chơi Tiếng đàn hay, giọng hát ngọt, sắc đẹp đã cuốn họ vào cuộc chơi say sưa mê mải, không một lần dừng lại, không một lần đặt mình vào vị trí người ca nữ để hiểu phía sau từng cuộc hát là những nỗi đắng cay, tủi nhục của người phụ nữ đem tài sắc mua vui cho người Điều này chỉ có thể

lý giải bằng quan điểm nam quyền nho giáo Những tư liệu còn để lại cho chúng ta thấy Nguyễn Công Trứ vốn không phải là một người coi trọng phụ

nữ Ông khá khắt khe trong việc đánh giá tiết hạnh người phụ nữ Ông lên tiếng trách móc nàng thiếu phụ Nam Xương – người liệt nữ được chính vua

Lê Thánh Tông ca ngợi hết lời:

Trang 37

Thực cùng chồng chi nỡ dối cùng con Gương nữ tắc trông vào chưa phải lẽ

Đã có ngọn đèn chơi với trẻ Thời chi chiếc bóng gọi là chồng Tiếng phụ phàng chi nỡ trách đàn ông

(Vịnh Nam Xương liệt nữ) Gay gắt hơn, ông chê bai nàng Thúy Kiều của Nguyễn Du: “Bạc mệnh

chẳng lầm người tiết nghĩa/ Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm” (Vịnh Thúy Kiều) Nàng thiếu phụ Nam Xương trung trinh đến thế ông còn trách móc, thì

những kỹ nữ bán thân như Kiều sao không khỏi bị Nguyễn Công Trứ nặng lời Kiều tuy là kỹ nữ Trung Quốc nhưng rất tiêu biểu cho cuộc đời, thân phận của những ả đào – kỹ nữ Việt Nam thế kỷ XVIII – XIX, nên chắc hẳn thái độ của Nguyễn Công Trứ với nàng Kiều cũng là cách mà ông nhìn nhận những ả đào quanh mình

Đây cũng là quan niệm của hầu hết các nhà nho đương thời Các nhà nho đi nghe hát để thị tài, khoe tài, để thoả mãn nhu cầu giải trí của mình, tuy nhiên nhiều người trong số họ thể hiện rõ thái độ miệt thị, cái nhìn thiếu trân

trọng đối với nhân vật ả đào Thái độ ấy bộc lộ ngay từ cách gọi tên “con

hát”, “bọn ca nhi” Cách xưng hô như vậy thể hiện sự xem thường, khinh

miệt của cả xã hội đối với những người làm nghề cầm ca trên chiếu hát Hầu hết họ xem ả đào là một phần của thú cầm ca, là thú vui, là công cụ phục vụ nhu cầu giải trí chứ không xem các cô đầu là con người có số phận, có cuộc

đời riêng Điều này dẫn đến quan niệm “xướng ca vô loài” Xã hội Việt Nam

trung đại vốn có ý thức coi thường nghề ca xướng, miệt thị các nghệ sỹ; triều đình cũng quan niệm nghệ sĩ chỉ là kẻ để mua vui Một quan niệm đạo đức Nho giáo đề cao trinh tiết, thủy chung như nhất của phụ nữ tất không dung nạp người ả đào nhan sắc thành tài sản chung cho mọi đàn ông có tiền (họ hay nói đến vàng, ngàn vàng, lạng vàng) Bởi thế người ả đào chưa bao giờ có được cái nhìn trân trọng trong xã hội Việt Nam cho đến tận hết thế kỷ XIX

Trang 38

Nguyễn Du đã có một quan niệm đi ngược với xu thế chung của các nhà nho cùng thời khi ông luôn dành những tình cảm trân trọng, sự cảm thông đối với người phụ nữ Mệnh đề hồng nhan phận bạc được Nguyễn Du đặc biệt nhấn mạnh với thân phận của những kĩ nữ - ả đào Tấm lòng thương cảm ấy được thể hiện xuyên suốt trong toàn bộ sáng tác của ông, bao gồm cả thơ chữ Hán và thơ Nôm Chứng kiến cảnh đời bấp bênh, phiêu bạt, không ổn định của những kỹ nữ - ả đào, nhiều bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du thể hiện niềm xót xa đến tột cùng.Cảm thương cho số phận của người ca nữ bất hạnh là

mạch nguồn cảm xúc chính để Nguyễn Du làm bài thơ Long thành cầm giả ca hay Điếu La Thành ca nữ giả Trong Truyện Kiều rất nhiều lần Nguyễn Du

nhắc đến nỗi bất hạnh mà người tài sắc phải gánh chịu:

“Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.”

“Thương thay cũng một thân người, Khéo thay mang lấy sắc tài làm chi.”

“Nghĩ đời mà ngán cho đời, Tài tình chi lắm cho trời đất ghen”

Người phụ nữ tài sắc không chỉ làm cung phi, làm món mồi tranh đoạt của bọn quyền quý Họ còn đem tài sắc phục vụ nhu cầu ăn chơi giải trí của bọn đàn ông và làm thành một lớp người đặc biệt trong xã hội được gọi là đào nương, ả đào, cô đào Sống bằng lời ca tiếng hát, những phụ nữ gọi là ả đào

đã bán tài hát hay, đàn ngọt của mình, thậm chí phải “mắt đi mày lại” với

khán thính giả đàn ông để rồi không ít người trở thành vợ thiếp - vợ nhỏ Và cái kết cho họ bao giờ cũng là cuộc sống cực khổ, cô đơn và bất hạnh, thậm chí có người phải bỏ mạng trong cảnh nghèo đói, bệnh tật, không cửa không nhà Không chỉ cảm thông với thân phận của những phụ nữ tài sắc, Nguyễn

Du còn nhìn thấy nơi họ một sự tương đồng với thân phận của những nhà thơ

như mình Viết Độc tiểu thanh kí Nguyễn Du đã nhìn thấy thân phận mình

Trang 39

trong thân phận nàng Tiểu Thanh – nhân vật mang dáng vẻ là một kĩ nữ Tiểu Thanh tài tình nhưng bất hạnh chết yểu Nguyễn Du liên tưởng đến thân thế của chính mình và những người làm thơ văn nghệ thuật, một thứ thơ văn không phải để lập thân, nói chí, giáo huấn mà để bộc lộ cảm xúc Nguyễn Du

khóc nàng Tiểu Thanh nhưng lại nghĩ đến mình: “ Không biết ba trăm năm lẻ

nữa/ Thiên hạ ai người khóc Tố Như?” (Độc Tiểu Thanh kí) Có thể suy đoán

rằng triết lý “tài mệnh tương đố” được bắt nguồn từ những quan sát và suy

ngẫm lâu dài của Nguyễn Du về thân phận những người phụ nữ nói chung và nhân vật ả đào nói riêng mà ông đã có dịp chứng kiến ngay trong gia đình mình và bắt gặp đâu đó trên đường đời Chính tấm lòng yêu thương, đồng cảm ấy cho thấy Nguyễn Du có tầm nhân bản cao hơn các nhà Nho khác

1.2.4 Các nhân vật văn học cuối thế kỷ XIX:

Cuối thế kỷ XIX, dòng văn học hát nói với các nhân vật tài tử như Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh đa tình, phóng túng tiếp tục truyền thống Nguyễn Công Trứ

Nhân vật tài tử trong hát nói của Dương Khuê đều được miêu tả ở mối quan hệ tình ái giữa khách chơi - ả đào Đó có thể là mối quan hệ chênh lệch

tuổi tác như trong Hồng Hồng Tuyết Tuyết; đó có thể là nỗi nhớ nhung của cô đầu đối với tình quân (Tặng cô đầu Cần); là nỗi băn khoăn về mối tình lửng lơ

mơ hồ (Ở nhà hát ngẫu hứng); cũng có thể là tâm sự của cô đầu về ký ức những năm tuổi trẻ (Tặng cô đầu Phẩm); là tình cảnh tương đồng giữa mình và người ca nữ trong thế đối sánh của cặp đôi tài tử – giai nhân (Gặp cô đầu cũ)

Ở đầu thế kỷ XX, Chu Mạnh Trinh vẫn tự coi mình là nòi đa tình ( ta

cũng nòi tình thương, người đồng điệu) và vẫn dùng khái niệm nòi tình để gọi

nhân vật chính của Truyện Kiều Với Chu Mạnh Trinh, tập thơ Vịnh Kiều có một giá trị đặc biệt Tài hoa của họ Chu, trút hết cả vào tập thơ Vịnh Kiều này

Thương Kiều như thể thương thân, đó chính là tình cảm của Chu Mạnh Trinh Bởi thế bênh Kiều, nhận ra vẻ đẹp của nàng Kiều sau mười lăm năm lưu lạc;

Trang 40

biện bác lại những sự lên án Kiều của những nhà nho câu nệ, nghiêm khắc;

không ai bằng Chu Mạnh Trinh: " Chỉ vì một nỗi mối manh chưa có, thề

thốt đã nhiều Trăng gió mắc vào, phồn hoa dính mãi Cũng có người bảo tại nước chảy mây trôi lỡ bước, nên cành đưa lá đón quen thân Nào biết đâu bông hạnh nở ngoài tường, chưa để con ong qua tới Cho có muốn lưỡi dao liều với mạng, lại sợ thành cháy vạ lây Tấm lòng này như tuyết như gương Mối sầu nọ qua ngày qua tháng Ngọc kia không vết, giá liên thành khôn xiết

so bì Nước đã trôi xuôi, hồn cựu mộng hãy còn vơ vẩn" Vậy là ngoài Kim Vân Kiều truyện, tác phẩm thiên tài bất hủ của Nguyễn Du, còn có Thanh Tâm tài nhân thi tập của Chu Mạnh Trinh Chu Mạnh Trinh viết về Kiều thật

hết lòng Ông dồn hết tâm sức trong tập thơ này, chính là ông tôn vinh một vẻ đẹp tự nhiên, trời phú, ông thông cảm với kiếp tài hoa bạc mệnh, và ông cũng

lên tiếng bảo vệ những nét đẹp tinh thần ẩn sau cuộc đời chìm nổi “thanh lâu

hai lượt, thanh y hai lần” của Thuý Kiều:

Công cha bao quản nài thân thiếp,

Sự nước xui nên phụ với chàng, Cung oán nỉ non đàn bạc mệnh, Duyên may run rủi lưới Tiền Đường

Hai bên vẹn cả tình cùng hiếu

Đem bắc đồng cân đáng mấy vàng!

Có thể nói, Chu Mạnh Trinh rất quý trọng thân xác của người phụ nữ, coi trọng những người Ông tìm đến với lối hát ả đào để vượt ra khỏi vòng kiềm tỏa của xã hội phong kiến Ông đã tìm thấy trong hình thức sinh hoạt ấy cái tư tưởng muốn thoát ra khỏi vòng bó buộc của luân thường, sự giam hãm của khoa cử, đường hẹp hòi của sĩ hoạn, khuôn phép của tinh thần Khổng Mạnh… Không chỉ say mê tiếng hát của các đào nương, ông còn đặt mình vào cương vị người ả đào để cảm thông, trân trọng và cất lên tiếng nói nhân đạo sâu sắc

Ngày đăng: 15/11/2014, 22:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2003), Từ điển Hán Việt tái bản, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt tái bản
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2003
2. Đào Duy Anh (1958 ), Khảo luận về Kim Vân Kiều tái bản,, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo luận về Kim Vân Kiều tái bản
Nhà XB: Nxb Văn hóa
4. Nguyễn Đổng Chi (1972), Nguồn gốc và quá trình hình thành chủ nghĩa anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu, Nghiên cứu lịch sử, số 145, tháng 7/8 - 1972 5. Trương Chính (1983), Thơ văn Nguyễn Công Trứ. Hà Nội, Nxb Văn Học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc và quá trình hình thành chủ nghĩa anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu", Nghiên cứu lịch sử, số 145, tháng 7/8 - 1972 5. Trương Chính (1983), "Thơ văn Nguyễn Công Trứ
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi (1972), Nguồn gốc và quá trình hình thành chủ nghĩa anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu, Nghiên cứu lịch sử, số 145, tháng 7/8 - 1972 5. Trương Chính
Nhà XB: Nxb Văn Học
Năm: 1983
6. Nguyễn Đình Chú (1972), Từ lý tưởng nhân nghĩa đến chủ nghĩa yêu nước, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ lý tưởng nhân nghĩa đến chủ nghĩa yêu nước
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1972
7. Xuân Diệu (1996), Thi hào dân tộc Nguyễn Du, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi hào dân tộc Nguyễn Du
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1996
8. Ngô Viết Dinh tuyển chọn và biên tập (1999), Những chân dung truyện Kiều, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chân dung truyện Kiều, Nxb Thanh niên
Tác giả: Ngô Viết Dinh tuyển chọn và biên tập
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1999
10. Lưu Thế Đức, Lý Tu Chương (1967), Nguyễn Du, nhà thơ kiệt xuất Việt Nam và Truyện Kiều của ông,Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Du, nhà thơ kiệt xuất Việt Nam và Truyện Kiều của ông
Tác giả: Lưu Thế Đức, Lý Tu Chương
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1967
11. Vũ Hạnh (1992),Những khuôn mặt tình yêu trong Truyện Kiều, Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1992),Những khuôn mặt tình yêu trong Truyện Kiều
Tác giả: Vũ Hạnh
Nhà XB: Nxb Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
12. Hồ Sĩ Hiệp, Hoài Thanh (1990), Nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc: Nguyễn Đình Chiểu ( 1822 - 1888) tái bản, Nxb Tổng hợp, Tiền Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ yêu nước lớn của dân tộc: "Nguyễn Đình Chiểu" ( 1822 - 1888) "tái bản
Tác giả: Hồ Sĩ Hiệp, Hoài Thanh
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 1990
13. Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2005),Những điều cần biết về bình đẳng giới, http://www.hoilhpn.org.vn/NewsDetail.asp?Catid=115&NewsId=516&lang=VN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết về bình đẳng giới
Tác giả: Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Năm: 2005
14. Nguyễn Phạm Hùng (2011), Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế Kỷ XX, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến thế Kỷ XX
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
15. Khái Hưng (2010), Tiêu sơn tráng sĩ ( tiểu thuyết), Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu sơn tráng sĩ ( tiểu thuyết)
Tác giả: Khái Hưng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2010
16. Trần Đình Hượu (1995), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1995
17. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
19. Đinh Gia Khánh ( 1976), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ X - thế kỷ XVII, tập II, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1976), Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỷ X - thế kỷ XVII, tập II
Nhà XB: Nxb Văn học
20. Đinh Gia Khánh (2004), Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ X - nửa đầu thế kỷ XVIII
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
21. Vũ Ngọc Khánh (1996), Nguyễn Công Trứ, một cá nhân, một danh nhân văn hoá, trong sách Nguyễn Công Trứ - con người, cuộc đời và thơ. Hà Nội, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Trứ, một cá nhân, một danh nhân văn hoá", trong sách "Nguyễn Công Trứ - con người, cuộc đời và thơ
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1996
22. Vũ Khiêu (1987), Người trí thức Việt Nam qua các chặng đường lịch sử, Nxb Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người trí thức Việt Nam qua các chặng đường lịch sử
Tác giả: Vũ Khiêu
Nhà XB: Nxb Tp Hồ Chí Minh
Năm: 1987
24. Lê Đình Kỵ (1972), Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du
Tác giả: Lê Đình Kỵ
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1972
66. Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh tập, Bản dịch của Lê Hữu Mục,http://www.thuvien-ebook.com/forums/showthread.php?t=7983 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w