1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 đến 2011

85 1,8K 25

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

sự đổi mới chính sách đất đai của Nhà nước ta với những thay đổi quan trọng như: Đất đai được khẳng định là có giá trị; ruộng đất nông lâm nghiệp được giao ổn định lâu dài cho các hộ gia

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông

Thái Nguyên, năm 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung, số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Văn Độ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập, rèn luyện và thực hiện luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngảnh Quản lý đất đai, khoá học 2009- 2012 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, bản thân em đã nhận được sự giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ

và chỉ bảo tận tình của Ban Chủ nhiệm khoa, tập thể giảng viên, cán bộ, nhân viên khoa Sau Đại học, khoa Tài nguyên và Môi trường cùng toàn thể bạn bè, đồng nghiệp Đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông- Phó Hiệu trưởng trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, là người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã dành nhiều thời gian, công sức, tình cảm và trách nhiệm của mình để giúp

đỡ em có thể hoàn thành một cách tốt nhất Luận văn này

Bằng tình cảm của một người học trò, tự đáy lòng em xin được chân thành gửi lời tri ân sâu sắc nhất đến các thầy, các cô, các bạn đồng nghiệp về sự giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo đầy tình cảm và trách nhiệm trên

Bản thân tác giả Luận văn xin trân trọng cám ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo, cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất, Đội Thanh tra xây dựng và Trật tự đô thị thành phố

Hạ Long; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, cán bộ địa chính và xây dựng các phường trên địa bàn Thành phố đã tạo điều kiện cho tác giả thu thập số liệu và những thông tin cần thiết liên quan phục vụ quá trình thực hiện Luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Văn Độ

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan ……… i

Lời cảm ơn ……… ii

Mục lục ……… iii

Danh mục các chữ viết tắt ……… ……… vi

Danh mục các bảng ……… vii

Phần I: Đặt vấn đề ……….……….……… 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài ……….……… 1

1.2 Mục đích, yêu cầu nghiên cứu……….……… 3

1.2.1 Mục đích ……….……….……… 3

1.2.2 Yêu cầu ……….……….……… 3

Phần II: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu ……… 5

2.1 Cơ sở khoa học và tính pháp lý ……….……… 5

2.1.1 Cơ sở lý luận chung 5 2.1.2 Tình hình quản lý sử dụng đất ……… 6

2.2 Công tác quản lý sử dụng đất đai trong cả nước ……… 10

2.2.1 Cơ sở pháp lý về quản lý sử dụng đất đai ……… 10

2.2.2 Nghiên cứu công tác quản lý sử dụng đất đai ở Việt Nam … 13 2.2.3 Công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh …… 28

Phần III: Nội dung và phương pháp nghiên cứu ……… 37

3.1 Nội dung nghiên cứu ……… 37

3.2 Phương pháp nghiên cứu ……… 37

3.2.1 Phương pháp kế thừa, chọn lọc ……… 37

3.2.2 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu ……… 37

3.2.3 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp ……… 38

3.2.4 Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu ……… 38

3.2.5 Phương pháp nghiên cứu, sử dụng các bản đồ chuyên dùng 38 Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận ……… 39

4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên ……… 39

4.1.1 Điều kiện tự nhiên ……… 39

Trang 5

4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của thành phố Hạ Long ………… 43

4.2 Tình hình sử dụng các loại đất của thành phố Hạ Long …… 52

4.2.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2011 ……… 52

4.2.2 Tình hình sử dụng đất đai giai đoạn 2006- 2011 ………… 55

4.3 Đánh giá công tác quản lý nhà nước ……… 61

4.3.1 Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật ……… 61

4.3.2 Công tác xác định địa giới hành chính ……… 63

4.3.3 Công tác khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất ………. 63

4.3.4 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất ……… 66

4.3.5 Công tác đăng ký quyền sử dụng đất ……… 70

4.3.6 Công tác quản lý tài chính về đất đai ……… 77

4.3.7 Thanh tra, kiểm tra ……… 81

4.4 Đề xuất một số giải pháp ……… 86

4.4.1 Nhóm giải pháp chung ……… 86

4.4.2 Một số giải pháp cụ thể ……… 87

Phần V: Kết luận và kiến nghị ……… 90

5.1 Kết luận ……… 90

5.2 Kiến nghị ……… 92

Tài liệu tham khảo ……… 94

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNXH : Chủ nghĩa xã hội

NN : Nhà nước

UBND : Uỷ ban nhân dân

HĐND : Hội đồng nhân dân

TN&MT : Tài nguyên và Môi trường

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1: Đầu mối giao thông thành phố Hạ Long

Bảng 4.2: Hiện trạng sử dụng đất năm 2011

Bảng 4.3: Tổng hợp số lượng bản đồ địa chính theo Luật đất đai 1993

Bảng 4.4: Tổng hợp kết quả giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/CP

Bảng 4.5: Tổng hợp kết quả giao đất thực hiện các dự án

Bảng 4.6: Tổng hợp các dự án thu hồi đất

Bảng 4.7: Kết quả lập hồ sơ địa chính thành phố Hạ Long

Bảng 4.8: Tổng hợp công tác cấp GCNQSDĐ thành phố Hạ Long giai đoạn 2005- 2010 Bảng 4.9: Tổng hợp diện tích đất đai theo địa giới hành chính

Bảng 4.10: Kết quả thu ngân sách về đất đai thành phố Hạ Long giai đoạn 2006 - 2011 Bảng 4.11: Tình hình giải quyết đơn thư thành phố Hạ Long giai đoạn 2006 – 2011

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì có thể thay thế được của ngành sản xuất nông- lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là các nguồn lợi tự nhiên như khí hậu, thời tiết, nước, không khí, khoáng sản nằm trong lòng đất, sinh vật sống trên bề mặt trái đất thậm chí cả sinh vật sống trong lòng đất Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố định trong không gian, vì vậy cần phải quản lý sử dụng đất một cách hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm và bền vững.[13]

Hơn nữa, quá trình phát triển kinh tế, quá trình đô thị hoá làm cho mật độ dân cư ngày càng tăng, kéo theo nhu cầu về nhà ở cũng như đất xây dựng các công trình công cộng, khu công nghiệp trong cả nước vốn đã “bức xúc” nay càng trở nên “nhức nhối” hơn Đây là vấn đề nan giải không chỉ với nước ta mà còn với cả các nước trên thế giới

Để giải quyết vấn đề này, mỗi quốc gia đều xây dựng cho mình những chương trình, kế hoạch, chiến lược riêng để sử dụng đất đai được hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm

Từ năm 1945 khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cho đến nay, Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề đất đai; đã ban hành, sửa đổi và bổ sung Luật Đất đai năm 1988, Luật Đất đai năm 1993; Luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Đất đai 1993 năm 1998, năm 2001; đặc biệt, Luật Đất đai năm 2003 chính thức có hiệu lực ngày 01/7/2004 đã từng bước đưa pháp luật đất đai phù hợp với thực tế quản

lý và sử dụng đất Các văn bản, thông tư, nghị định… đi kèm đã giúp rất nhiều cho việc nắm chắc, quản lý chặt chẽ quỹ đất của quốc gia cũng như phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế đất nước trong thời kỳ đổi mới [11]

Công tác quản lý Nhà nước về đất đai với 13 nội dung được quy định tại điều 6 của Luật Đất đai năm 2003, đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước nắm chắc, quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên của quốc gia cũng như để người sử dụng đất yên tâm đầu tư, sử dụng và khai thác tiềm năng từ đất

Hạ Long là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Ninh được thành lập theo Nghị định 102/1993/NĐ-CP ngày 27/12/1993 của Chính phủ Với lợi thế về vị trí địa lý,

Trang 9

điều kiện tự nhiên, là đầu mối giao thông quan trọng, đường bộ, đường thuỷ, đường sắt, cảng biển thành phố Hạ Long giữ vị trí chiến lược, trở thành “Tâm” của tỉnh

Quảng Ninh (Chiếm 4,5% diện tích, 19% dân số, 31% GDP, 53,6% tỉ trọng dịch vụ) qua

huyện Đông Triều và hướng về đồng bằng sông Hồng, thủ đô Hà Nội, liên kết vùng ở cấp quốc gia; qua thành phố Móng Cái và hướng về Đông Bắc Á, Trung Quốc, kết nối khu vực ở cấp quốc tế Vì thế tốc độ gia tăng dân số, sự đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ và sâu sắc, kéo theo nhu cầu về đất đai gia tăng, gây sức ép lớn đến quỹ đất cho các ngành kinh tế nói riêng và quỹ đất đai nói chung Quá trình tổ chức quản lý và sử dụng đất cũng vì thế mà bộc lộ những tồn tại, nảy sinh nhiều vấn đề mới mà Nhà nước chưa kiểm soát được như: sử dụng đất không đúng mục đích, giao đất trái thẩm quyền, tranh chấp và lấn chiếm đất đai, quy hoạch sai nguyên tắc… Bên cạnh đó, việc giao đất, cấp GCNQSDĐ còn chậm và chưa đồng bộ làm cho người dân chưa thực sự yên tâm đầu tư sản xuất, hạn chế việc đưa công tác quản lý và SDĐ vào nề nếp [19]

Nghiên cứu công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long giúp chúng ta có cái nhìn chi tiết về tình hình quản lý, sử dụng đất, cơ cấu đất đai của từng loại đất, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đai đai

Xuất phát từ thực tiễn trên, đồng thời nhận thức rõ yêu cầu cấp bách, cần thiết phải tìm hiểu, đánh giá một cách chi tiết công tác quản lý đất đai ở các cấp có thẩm quyền phục

vụ công tác quản lý Nhà nước về đất đai, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông- Phó Hiệu trưởng trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006- 2011”

2 Mục đích, yêu cầu nghiên cứu

2.1 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tiến hành đánh giá kết quả và hạn chế để tìm ra nguyên nhân, đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung trong thời gian tới

Trang 10

Đánh giá tình hình sử dụng các loại đất của thành phố Hạ Long

Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai quy định tại Luật Đất đai năm 2003

Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy cao nhất những điểm tích cực, hiệu quả và hạn chế mức thấp nhất các vấn đề còn tồn tại, không còn phù hợp trong công tác quản lý, sử dụng đất đai, giúp cơ quan quản lý Nhà nước quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên đất

Trang 11

Chương I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học và tính pháp lý của công tác QLNN về đất đai

1.1.1 Cơ sở lý luận chung

- Khái niệm đất đai: Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa hình, thời gian Giá trị tài nguyên đất được đánh giá bằng số lượng diện tích (ha,

km2) và độ phì nhiêu, màu mỡ [11]

Đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với khái niệm này đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: yếu tố khí hậu, địa hình, địa mạo, tính chất thổ nhưỡng, thuỷ văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật và những biến đổi của đất do các hoạt động của con người

Về mặt đời sống- xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá,

là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất nông- lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá và an ninh quốc phòng Nhưng đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian

- Vấn đề sử dụng đất: Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích của loại đất được sử dụng Việc sử dụng đất có thể được định nghĩa là “Những hoạt động của con người có liên quan trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài nguyên đất hoặc có tác động lên chúng” [12]

Số liệu về quá trình và hình thái các hoạt động đầu tư (lao động, vốn, nước, phân hoá học ), kết quả sản lượng (loại nông sản, thời gian, chu kỳ mùa vụ ) cho phép đánh giá chính xác việc sử dụng đất, phân tích tác động môi trường và kinh tế, lập

mô hình những ảnh hưởng của việc biến đổi sử dụng đất hoặc việc chuyển đổi việc sử dụng đất này sang mục đích sử dụng đất khác

Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị chi phối

Trang 12

bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị kiềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh tế- xã hội và các yếu tố kỹ thuật Vì vậy có thể khái quát một số điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất

Điều kiện tự nhiên: khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian như diện tích trồng trọt, mặt bằng xây dựng , cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất như: yếu tố khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng

Điều kiện kinh tế- xã hội: bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số, lao động, thông tin, các chính sách quản lý về môi trường, chính sách đất đai, yêu cầu về quốc phòng, sức sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện

và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất

Yếu tố không gian: đây là một tính chất “đặc biệt” khi sử dụng đất do đất đai là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người Đất đai hạn chế

về số lượng, có vị trí cố định và là tư liệu sản xuất không thể thay thế được khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội

- Vấn đề quản lý đất đai: Quản lý đất đai bao gồm những chức năng, nhiệm vụ liên quan đến việc xác lập và thực thi các quy tắc cho việc quản lý, sử dụng và phát triển đất đai cùng với những lợi nhuận thu được từ đất (thông qua việc bán, cho thuê hoặc thu thuế) và giải quyết những tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu và QSDĐ

Quản lý đất đai là quá trình điều tra mô tả những tài liệu chi tiết về thửa đất, xác định hoặc điều chỉnh các quyền và các thuộc tính khác của đất, lưu giữ, cập nhật, cung cấp những thông tin về sở hữu, giá trị, sử dụng đất và thông tin liên quan đến thị trường bất động sản Quản lý đất đai liên quan đến cả hai đối tượng đất công và đất tư bao gồm các hoạt động đo đạc, đăng ký đất đai, định giá đất, giám sát và quản lý sử dụng đất, cơ sở hạ tầng cho công tác quản lý

Nhà nước phải đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất đai và các nguyên tắc của hệ thống quản lý đất đai bao gồm pháp luật đất đai, pháp luật liên

Trang 13

quan đến đất đai Đối với công tác quản lý đất đai, Nhà nước xác định một số nội dung chủ yếu: Sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước, tập trung và phân cấp quản lý, vị trí của cơ quan đăng ký đất đai, vai trò của lĩnh vực công và tư nhân, quản lý các tài liệu địa chính, quản lý các tổ chức địa chính, quản lý nguồn nhân lực, nghiên cứu, trợ giúp

về chuyên gia tư vấn, hợp tác quốc tế

1.1.2 Tình hình quản lý sử dụng đất đai ở một số nước trên thế giới

1.1.2.1 Thụy Điển

Ở Thuỵ Điển, phần lớn đất đai thuộc sở hữu tư nhân nhưng việc quản lý và sử dụng đất đai là mối quan tâm chung của toàn xã hội Luật Đất đai của Thụy Điển luôn đặt đề cao sự cân bằng giữa lợi ích riêng của chủ sử dụng đất và lợi ích chung của Nhà nước, là một trong những văn bản pháp luật được xếp vào loại hoàn chỉnh nhất, nó tập hợp 36 đạo luật khác nhau

Các hoạt động cụ thể về quản lý sử dụng đất như quy hoạch sử dụng đất, đăng

ký dất đai, bất động sản và thông tin địa chính đều được quản lý bởi ngân hàng dữ liệu

và được luật hoá Pháp luật và chính sách đất đai ở Thuỵ Điển về cơ bản dựa trên chế

độ sở hữu tư nhân về đất đai và kinh tế thị trường, có sự giám sát chung của xã hội Từ năm 1970 trở lại đây gắn liền với việc giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật bất động sản tư nhân; quy định các vật cố định gắn liền với bất động sản, quy định việc mua bán đất đai, việc thế chấp, quy định về hoa lợi và các hoạt động khác như vấn đề bồi thường, quy hoạch sử dụng đất, thu hồi đất, đăng ký quyền sở hữu đất đai và hệ thống đăng ký…

1.1.2.2 Trung Quốc

Trung Quốc đang thi hành chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về đất đai, đó là chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể của quần chúng lao động Mọi đơn vị, cá nhân không được xâm chiếm, mua bán hoặc chuyển nhượng phi pháp đất đai Vì lợi ích công cộng, Nhà nước có thể tiến hành trưng dụng theo pháp luật đối với đất đai thuộc

sở hữu tập thể và thực hiện chế độ quản chế mục đích sử dụng đất

Tiết kiệm đất, sử dụng đất đai hợp lý, bảo vệ thiết thực đất canh tác là quốc sách

cơ bản Ở Trung Quốc đất đai được phân thành 3 loại:

Trang 14

- Đất nông nghiệp là đất trực tiếp sử dụng vào sản xuất nông nghiệp bao gồm đất canh tác, đất rừng, đồng cỏ, đất dùng cho các công trình thuỷ lợi và đất mặt nước nuôi trồng

- Đất xây dựng gồm đất xây dựng nhà ở đô thị và nông thôn, đất dùng cho mục đích công cộng, đất dùng cho khu công nghiệp, công nghệ, khoáng sản và đất dùng cho công trình quốc phòng

- Đất chưa sử dụng là đất không thuộc hai loại đất trên

Nhà nước thực hiện chế độ bồi thường đối với đất bị trưng dụng Bồi thường đối với đất canh tác bằng 6 đến 10 lần sản lượng bình quân hàng năm của 3 năm liên tiếp trước đó khi bị trưng dụng Tiêu chuẩn hỗ trợ định cư cho mỗi nhân khẩu nông nghiệp bằng 4 đến 6 lần giá trị sản lượng bình quân của đất canh tác/đầu người thuộc đất bị trưng dụng, cao nhất không vượt quá 15 lần Đồng thời nghiêm cấm tuyệt đối việc xâm phạm, lạm dụng tiền đề bù đất trưng dụng và các loại tiền khác liên quan đến đất bị trưng dụng để sử dụng vào mục đích khác

1.1.2.3 Pháp

Các chính sách quản lý đất đai ở Pháp được xây dựng trên một số nguyên tắc chỉ đạo quy hoạch không gian, bao gồm cả chỉ đạo quản lý sử dụng đất đai và hình thành các công cụ quản lý đất đai

Nguyên tắc đầu tiên là phân biệt rõ ràng không gian công cộng và không gian tư nhân Không gian công cộng gồm đất đai, tài sản trên đất thuộc sở hữu Nhà nước và tập thể địa phương Tài sản công cộng có đặc điểm là không thể chuyển nhượng, tức là không mua, bán được Không gian công cộng gồm các công sở, trường học, bệnh viện, nhà văn hoá, bảo tàng

Không gian tư nhân song song tồn tại với không gian công cộng và đảm bảo lợi ích song hành Quyền sở hữu tài sản là bất khả xâm phạm và thiêng liêng, không ai có quyền buộc người khác phải nhường quyền sở hữu của mình Chỉ có lợi ích công cộng mới có thể yêu cầu lợi ích tư nhân nhường chỗ nhưng phải thực hiện bồi thường một cách công bằng và tiên quyết với lợi ích tư nhân

Trang 15

Chính sách quản lý sử dụng đất canh tác rất chặt chẽ, luật pháp quy định một số điểm cơ bản sau:

Việc chuyển đất canh tác sang mục đích khác, kể cả việc làm nhà ở cũng phải xin phép chính quyền cấp xã quyết định Nghiêm cấm việc xây dựng nhà trên đất canh tác để bán cho người khác Thực hiện chính sách miễn giảm thuế, được hưởng quy chế

ưu tiên đối với một số đất đai chuyên dùng để gieo hạt, đất đã trồng hoặc trồng lại rừng, đất mới dành cho ươm cây trồng

Khuyến khích việc tích tụ đất nông nghiệp bằng cách tạo điều kiện thuận lợi để các chủ đất có thể dồn điền, đổi thửa Việc mua bán đất đai không thể tự thực hiện giữa người bán và người mua mà phải xin phép cơ quan giám sát việc mua bán Việc bán đất nông nghiệp phải nộp thuế đất và thuế trước bạ, phải được ưu tiên bán cho những người liền kề để tạo ra thửa đất có diện tích lớn hơn

Đối với đất đô thị mới, khi chia cho người dân thì phải nộp 30% chi phí cho các công trình xây dựng hạ tầng, phần còn lại 70% do kinh phí địa phương chi trả

1.1.2.4 Australia

Trong suốt quá trình lịch sử từ lúc là thuộc địa của Anh đến khi trở thành quốc gia độc lập, pháp luật và chính sách đất đai của Australia mang tính kế thừa và phát triển một cách liên tục, không có sự thay đổi và gián đoạn do sự thay đổi về chính trị Đây là điều kiện thuận lợi để pháp luật và chính sách đất đai phát triển nhất quán và ngày càng hoàn thiện

Luật Đất đai của Australia quy định Nhà nước và tư nhân có quyền sở hữu đất đai và bất động sản trên mặt đất Phạm vi sở hữu đất đai theo luật định là tính từ tâm trái đất trở lên, nhưng thông thường Nhà nước có quyền bảo tồn đất ở từng độ sâu nhất định, nơi có những mỏ khoáng sản quý như vàng, bạc, thiếc, than, dầu mỏ…

Luật Đất đai Australia bảo hộ tuyệt đối quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu đất đai Chủ sở hữu có quyền cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế theo di chúc

mà không có sự cản trở nào, kể cả việc tích luỹ đất đai Tuy nhiên, luật cũng quy định Nhà nước có quyền trưng thu đất tư nhân để sử dụng vào mục đích công cộng, phục vụ phát triển kinh tế, xã hội nhưng phải thực hiện bồi thường thoả đáng

Trang 16

1.2 Công tác quản lý sử dụng đất đai trong cả nước

1.2.1 Cơ sở pháp lý về quản lý sử dụng đất đai

Ở Việt Nam, công tác quản lý tài nguyên đất đã được quan tâm từ rất sớm Những năm đầu của thập kỷ 80, Nhà nước đã xây dựng một hệ thống chính sách về đất đai phù hợp với tình hình đất nước thể hiện ở chính sách thống nhất quản lý ruộng đất

và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước, đồng thời thực hiện công tác

đo đạc phân hạng đất và đăng ký thống kê đất đai trong cả nước Đặc biệt ngày 18/12/1980 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Hiến pháp sửa đổi quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa… đều thuộc sở hữu toàn dân và Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung” Đây là cơ sở pháp lý vô cùng quan trọng để thực thi công tác quản lý đất đai trên phạm vi cả nước [28]

Nội dung quản lý đất nông nghiệp có những chuyển biến tích cực khi thực hiện Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động trong hợp tác xã nông nghiệp Chỉ thị 100 được coi là tiền đề cho những chính sách mang tính cải cách sâu rộng sau này

Ngày 29/12/1987, Quốc hội khoá VIII chính thức thông qua Luật Đất đai năm

1988 và chính thức có hiệu lực từ ngày 08/01/1988 Nghị quyết 10/NQ-TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị về giao đất cho hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài là dấu mốc có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của công tác quản lý sử dụng đất đai trong giai đoạn xây dựng, đổi mới đất nước

Hiến pháp năm 1992 ra đời đánh dấu điểm khởi đầu của công cuộc đổi mới chính trị Tại điều 17 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật”

Đồng thời Luật Đất đai năm 1988 không còn phù hợp và bộc lộ nhiều điểm bất cập, chính vì vậy ngày 01/7/1993 Luật Đất đai năm 1993 được thông qua, chính thức

có hiệu lực từ ngày 15/10/1993 Tiếp đó là Luật Đất đai bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993, 2001

Hệ thống pháp luật về đất đai thời kỳ này đã đánh dấu một mốc quan trọng về

Trang 17

sự đổi mới chính sách đất đai của Nhà nước ta với những thay đổi quan trọng như: Đất đai được khẳng định là có giá trị; ruộng đất nông lâm nghiệp được giao ổn định lâu dài cho các hộ gia đình, cá nhân; người sử dụng đất được hưởng các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấp quyền sử dụng đất….và quy định 7 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Nghị định 64/CP ngày 27/09/1993 quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp

Ngày 26/11/2003 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Đất đai năm 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 Luật Đất đai 2003 và hệ thống pháp luật về đất đai sau này đã vận dụng cũng như kế thừa những chính sách mang tính đổi mới, tiến bộ của hệ thống pháp luật đất đai trước đây đồng thời tiếp thu, đón đầu những chính sách pháp luật đất đai tiên tiến, hiện đại, phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước

Tại điều 6 Luật Đất đai năm 2003 quy định 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm: [16]

1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó;

2 Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính;

3 Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất;

4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

5 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất;

6 Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

7 Thống kê, kiểm kê đất đai;

8 Quản lý tài chính về đất đai;

Trang 18

9 Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản;

10 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất;

11 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và

xử lý vi phạm pháp luật về đất đai;

12 Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai;

13 Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai;

Cùng với Luật Đất đai năm 2003, Nhà nước ban hành các Nghị định, Thông tư, Chỉ thị … đã tạo ra một hành lang pháp lý cho công tác quản lý đất đai Hệ thống văn bản pháp luật đất đai được đánh giá là tương đối hoàn chỉnh với những nội dung quy định cụ thể

Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung

về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai Đây được coi là Nghị định mang tính đột phá, giải quyết

được nhiều tồn tại, bất cập trong quá trình quản lý sử dụng đất

1.2.2 Nghiên cứu công tác quản lý sử dụng đất đai ở Việt Nam

1.2.2.1 Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai

Trải qua các thời kỳ, Việt Nam đã ban hành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đất đai tương đối chi tiết và đầy đủ nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới người sử dụng đất [30]

- Ngày 01/7/1980 Chính phủ đã ban hành Quyết định số 201/CP về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước

- Chỉ thị số 299/CT-TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về công tác

đo đạc phân hạng đất và đăng ký thống kê đất đai trong cả nước

- Ngày 29/12/1987 Quốc hội thông qua Luật Đất đai đầu tiên và có hiệu lực thi hành từ ngày 08/01/1988

Trang 19

- Nghị quyết 10/NQ-TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị về giao đất cho hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài, Nghị quyết là dấu mốc có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp

- Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội thông qua ngày 14/7/1993

- Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp

- Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ quy định về quản lý, sử dụng đất lâm nghiệp

- Nghị định 34/CP ngày 23/4/1994 của Chính phủ quy định về chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường)

- Ngày 02/12/1998 Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993

- Nghị định 17/CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ quy định về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyển sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất

- Ngày 29/6/2001 Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1993

- Nghị định số 68/2001/NĐ-CP ngày 01/10/2001 quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Nghị định số 79/2001/NĐ-CP ngày 01/11/2001 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất

- Ngày 26/11/2003 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Đất đai năm 2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 Cùng với đó, Nhà nước đã ban hành các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành, cụ thể:

Trang 20

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003, hướng dẫn về

xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP, Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; về thu tiền sử dụng đất

- Thông tư số 28/2004/TT-BTNMT, Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT, Thông

tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất; hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính; hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003

- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung

về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai

- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

- Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

- Thông tư số 17/2010/TT-BTNMT ngày 04/10/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật về chuẩn dữ liệu địa chính

- Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về thu tiền sử

Trang 21

dụng đất; Nghị định số 121/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 về thu tiền thuê đất; Nghị định số 45/2011/NĐ-CP ngày 17/6/2011 về Lệ phí trước bạ

- Thông tư số 93/2011/TT-BTC và Thông tư số 94/2011/TT-BTC ngày 29/6/2011 của Bộ Tài Chính về sửa đổi, bổ sung nội dung hướng dẫn thực hiện các Nghị định số 120, 121 nêu trên

- Thông tư số 48/2012/TT-BTC ngày 16/3/2012 của Bộ Tài Chính về hướng dẫn việc xác định giá khởi điểm và chế độ tài chính trong hoạt động đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất

Nhìn chung, công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai qua các thời kỳ là tương đối đầy đủ, phù hợp với điều kiện và tình hình sử dụng đất ở Việt Nam Hệ thống văn bản dưới luật đã quy định chi tiết, đầy đủ đảm bảo quản lý thống nhất toàn bộ quỹ đất trong phạm vi cả nước theo quy hoạch và pháp luật

1.2.2.2 Công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính

Ranh giới hành chính được xác định bằng các yếu tố địa vật cố định hoặc các điểm mốc giới và được khoanh vẽ trên bản đồ

Thực hiện Chỉ thị 364/CP ngày 6/11/1991 của Chính phủ, các địa phương trên

cả nước đã tiến hành đo đạc, xác định địa giới hành chính trên cơ sở vùng lãnh thổ đã được xác định theo Chỉ thị số 299/CT-TTg ngày 10/11/1980

Tính đến 31/12/2008 toàn quốc có 63 tỉnh, thành phố với tổng diện tích tự nhiên

là 33.121.159 ha

Hồ sơ địa giới hành chính là hồ sơ phục vụ công tác quản lý Nhà nước đối với địa giới hành chính; được xây dựng trên cơ sở Chỉ thị 364/CP đã được xây dựng hoàn thiện tới từng xã, phường, thị trấn Cơ bản địa giới hành chính đã được xác định cụ thể,

rõ ràng và được quản lý theo đúng quy định [16]

Bản đồ hành chính thể hiện ranh giới các đơn vị hành chính kèm theo địa danh

và một số yếu tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội Hiện nay toàn quốc cơ bản đã xây dựng xong hệ thống bản đồ hành chính của 63 tỉnh, thành phố

Trang 22

1.2.2.3 Công tác khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản

đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất

Bản đồ địa chính là bản đồ thể hiện các thửa đất và các yếu tố địa lý có liên quan, lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận [16]

Bản đồ hiện trạng sử dụng đất là bản đồ thể hiện sự phân bố các loại đất tại một thời điểm xác định, được lập theo đơn vị hành chính

Bản đồ quy hoạch sử dụng đất là bản đồ được lập tại thời điểm đầu kỳ quy hoạch, thể hiện sự phân bổ các loại đất tại thời điểm cuối kỳ quy hoạch

Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng

sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất giúp cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai nắm chắc các thông tin của từng thửa đất, cả về số lượng, chất lượng, diện tích, loại đất

Giai đoạn từ năm 1981 đến năm 2003, thực hiện Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai đo đạc bản đồ giải thửa nhằm nắm lại quỹ đất toàn quốc Hệ thống bản đồ địa hình cơ bản tỷ lệ 1:50.000 phủ trên cả nước và phủ trùm các vùng kinh tế trọng điểm đã hoàn thành trên 50% khối lượng theo công nghệ số, hệ quy chiếu quốc gia VN-2000, hệ thống các điểm toạ độ, độ cao Nhà nước đã được ban hành và Chính phủ ra quyết định đưa vào sử dụng từ ngày 12/9/2000

Công tác đo đạc, hệ thống ảnh hàng không, ảnh vệ tinh phủ trùm cả nước đã thực hiện được trên 80% diện tích Đo đạc bản đồ địa hình đáy biển đã từng bước phát triển, chuẩn bị đủ cơ sở vật chất để triển khai trên diện rộng trong thời gian tới

Nghị định 73/CP ngày 25/10/1993 của Chính phủ về công tác phân hạng đất, tính thuế sử dụng đất nông nghiệp Công tác phân hạng đất đóng vai trò hết sức quan trọng, giúp Nhà nước quản lý đất đai về mặt chất lượng Đối với đất nông nghiệp, đánh giá phân hạng đất là một nhiệm vụ quan trọng và không thể thiếu được; thông qua phân hạng đất làm căn cứ pháp lý quan trọng để tính thuế nông nghiệp, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất… đảm bảo công bằng cả về quyền lợi và nghĩa vụ cho người sử dụng đất [4]

Trang 23

1.2.2.4 Công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là định hướng khoa học cho việc phân bổ sử dụng đất theo mục đích và yêu cầu của các ngành kinh tế, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương và của cả nước ở từng giai đoạn cụ thể Quy hoạch sử dụng đất được lập cho giai đoạn 10 năm, kế hoạch sử dụng đất được lập cho giai đoạn 5 năm, nhằm mục đích sử dụng đất một cách khoa học, hợp lý, hiệu quả cao và ổn định Đồng thời, đây là một căn cứ pháp lý, kỹ thuật quan trọng cho việc điều tiết các quan hệ đất đai như: giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất [16]

Ngay từ thời kỳ nước ta mới thống nhất, công tác quy hoạch, kế hoạch đã được Đảng và Nhà nước quan tâm Khi đó Hội đồng Bộ trưởng đã lập Ban chỉ đạo phân vùng quy hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp Trung ương để triển khai công tác này trên phạm vi cả nước

Quy hoạch đất đai theo lãnh thổ hành chính cấp Tỉnh, thành phố và đã được triển khai thực hiện ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao nhiệm vụ lập và triển khai công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước đến năm 2020 và định hướng tới năm 2050 trình Chính phủ phê duyệt

Việc lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm được các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện đầy đủ và đúng thời hạn, hàng năm đều đạt 100% chỉ tiêu

1.2.2.5 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất là một nội dung quan trọng trong các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai Nó phản ánh cụ thể chính sách của Nhà nước trong việc điều chỉnh các quan hệ đất đai trong thời kỳ đổi mới Để đảm bảo công bằng xã hội, đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của nhân dân, Nhà nước ta phải thực hiện phân bổ đất hợp lý [16]

Thực hiện Nghị định 64/CP ngày 27/09/1993 của Chính phủ về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp, đến nay cơ bản toàn quốc đã giao diện tích đất nông nghiệp tới tay người nông

Trang 24

dân để người dân yên tâm đấu tư sản xuất Thời hạn giao từ 20 năm đến 50 năm tuỳ theo từng loại đất

Đồng thời chúng ta cũng tiến hành giao đất ở ổn định, lâu dài cho hộ gia đình cá nhân sử dụng đất ở và vườn liền kề

Nội dung liên quan đến quyền và nghĩa vụ của đơn vị, cá nhân được Nhà nước giao đất, thu hồi đất dựa trên cơ sở thực hiện Nghị định 18/CP ngày 13/02/1995 của Chính phủ quy định chi tiết việc thi hành pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất Quyết định số 1357/TC/QĐ-TCT ngày 30/12/1995 của Bộ Tài chính quy định về khung giá cho thuê đất đối với các tổ chức trong nước được Nhà nước cho thuê đất

Thu hồi đất được thực hiện trong các trường hợp: đất sử dụng không đúng mục đích, giao đất không đúng thẩm quyền, đất quá thời hạn sử dụng hoặc sử dụng lãng phí,

đất do doanh nghiệp bị giải thể hoặc phá sản, Nhà nước trưng dụng đất để sử dụng vào

và nguồn gốc sử dụng đất Nội dung công tác nhằm thống kê và quản lý toàn bộ quỹ đất hiện đang được sử dụng của địa phương [28]

Đối với Nhà nước: đăng ký đất đai là một công cụ giúp Nhà nước nắm chắc và quản lý chặt tài nguyên đất đã giao cho người sử dụng đất Thông qua đó, Nhà nước sẽ tiến hành các biện pháp quản lý đất đai có hiệu quả và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất

Đối với người sử dụng đất: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất, tạo điều kiện để

Trang 25

họ yên tâm sản xuất, khai thác sử dụng đất có hiệu quả cao và thực hiện đầy đủ nghĩa

vụ đối với Nhà nước theo pháp luật

Tính đến 31/12/2008, hầu hết các xã, phường, thị trấn trên toàn quốc đã tổ chức thực hiện việc đăng ký kê khai quyền sử dụng đất

Tuy nhiên hệ thống hồ sơ địa chính của nhiều xã còn lập theo mẫu cũ chưa chuyển đổi sang mẫu mới hiện hành là Hệ thống hồ sơ địa chính được thiết lập theo Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Kết quả lập hồ sơ địa chính trên địa bàn cả nước: trong 8 vùng của cả nước thì Đồng bằng Sông Cửu Long có số xã lập hệ thống hồ sơ địa chính theo mẫu mới (Thông

tư 29/2004/TT-BTNMT) là nhiều nhất cụ thể: Số xã lập sổ mục kê là 328, chiếm hơn 20% tổng số xã lập sổ mục kê; số xã lập sổ địa chính là 352 chiếm hơn 31% tổng số xã lập sổ địa chính Vùng có số xã lập hồ sơ địa chính thấp nhất là vùng Tây Bắc với các cơn số tương ứng là 18 xã (4,7%) và 40 xã (11,7%)

Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một chứng thư pháp lý đảm bảo quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người sử dụng, là một công cụ để Nhà nước thực thi công tác quản lý Nhà nước đối với người sử dụng đất và thửa đất cụ thể

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện từ năm 1990 theo quy định của Luật Đất đai năm 1988 và Quyết định số 201 QĐ/ĐKTK ngày 14/7/1989 của Tổng cục Quản lý ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) Song do còn nhiều khó khăn và vướng mắc trong các quy định về hồ sơ, thủ tục nên tiến độ cấp giấy chứng nhận trong cả nước còn chậm

Từ khi công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo Luật Đất đai năm 2003, công tác này mới được đẩy mạnh và đã đạt được những kết quả tích cực [16]

Đến nay cả nước đã có 19 tỉnh hoàn thành cơ bản việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đạt trên 90% diện tích các loại đất chính gồm: An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Bình Dương, Đồng Nai, Đồng Tháp, Hà Nam, Hà Tĩnh, Hậu Giang, Hoà Bình, Kiên Giang, Long An, Lạng Sơn, Phú Thọ, Tây Ninh, Thanh Hoá, Sóc Trăng,

Trang 26

Sơn La, Vĩnh Long, trong đó có 3 tỉnh đạt tỷ lệ cấp đất cao nhất, đó là Vĩnh Long 98%,

Hà Tĩnh 97,7%, Hậu Giang 87,1% Các tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đạt dưới 50% diện tích các loại đất gồm: Tuyên Quang, Yên Bái, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Gia Lai, trong đó có 2 tỉnh đạt tỷ lệ thấp nhất là Thửa Thiên Huế 29,2%, Đà Nẵng 30,7%

Tính đến 31/12/2011, cả nước đã cấp được 34.368.283 giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất với diện tích 20.385.658,5 ha, đạt 78,1% tổng diện tích các loại đất cần cấp giấy, trong đó:

- Đất sản xuất nông nghiệp cấp được 16.174.435 giấy với diện tích 8.320.851,0

ha, đạt 85,2% tổng diện tích; đất lâm nghiệp cấp được 2.688.668 giấy với diện tích 10.465.481,0 ha đạt 86,3% tổng diện tích; đất nuôi trồng thuỷ sản cấp được 1.067.748 giấy với diện tích 578.945,4 ha đạt 83,8 % tổng diện tích đất cần cấp

- Đất chuyên dùng cấp được 149.845 giấy với diện tích 466.552 ha đạt 60,5% tổng diện tích; đất cơ sở tôn giáo cấp được 18.869 giấy với diện tích 11.292 ha đạt 82,2% tổng diện tích đất cần cấp

- Đất khu dân cư nông thôn cấp được 11.671.924 giấy với diện tích 460.618 ha đạt 83,8% tổng diện tích; đất ở đô thị cấp theo 02 loại giấy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thường gọi là bìa đỏ do Tổng cục Địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) phát hành và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở là giấy hồng theo Nghị định 60/NĐ-CP, đã cấp được 3.683.411 giấy với diện tích 84.219

ha đạt 64,3% tổng diện tích đất cần cấp

1.2.2.7 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai

Công tác kiểm kê đất đai được thực hiện định kỳ 5 năm một lần Công tác kiểm

kê đất đai được đánh giá là vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, chính

trị, xã hội; kết quả kiểm kê đất đai là căn cứ để UBND các cấp nghiên cứu, hoạch định các chủ trương, chính sách đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững; tính toán các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; làm căn cứ cho việc lập quy hoạch, kế hoạch phát triển của vùng lãnh thổ [16]

Hàng năm Bộ Tài nguyên và Môi trường có kế hoạch hướng dẫn việc thực hiện

Trang 27

thống kê đất đai đến các địa phương triển khai thực hiện vào ngày 01/01 hàng năm và

tổ chức kiểm kê đất đai trong cả nước định kỳ 5 năm

Năm 1999, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 24/CP về việc kiểm kê đất đai năm 2000 Dưới sự phối hợp chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương nên công tác kiểm kê đất đai năm 2000 đã hoàn thành tốt trong cả nước

Năm 2004, Bộ Tài nguyên và Môi trường có Thông tư số 28/2004/TT-BTNMT hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất, các tỉnh thành phố có kế hoạch triển khai thực hiện và đã đạt kết qủa cao

1.2.2.8 Công tác quản lý tài chính, phát triển thị trường bất động sản; quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Quản lý tài chính về đất đai được thực hiện theo nguyên tắc tài chính của Nhà nước [16] Công tác thu thuế nhà đất hàng năm hiện nay đang được tiến hành theo hướng dẫn tại Thông tư số 83/TC-TCT ngày 7/10/1994 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 94/CP ngày 25/8/1994 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh

về thuế nhà, đất

Thuế chuyển quyền sử dụng đất là loại thuế trực thu nhằm huy động vào ngân sách Nhà nước một phần thu nhập của người sử dụng đất khi chuyển quyền sử dụng đất Thu thuế chuyển quyền sử dụng đất theo Nghị định số 19/2000/NĐ-CP Ngày 08/6/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế chuyển quyền sử dụng đất

Lệ phí trước bạ là khoản tiền mà người có nhu cầu xin trước bạ nộp cho cơ quan thuế để được Nhà nước đảm bảo về mặt pháp lý quyền sở hữu một tài sản Thực thiện thu Lệ phí trước bạ theo Nghị định số 193/CP Ngày 29/12/1994 của Chính phủ

Tiền sử dụng đất là một khoản tiền mà người sử dụng đất phải nộp khi được Nhà nước giao đất để làm nhà ở, đầu tư xây dựng nhà để bán, cho thuê; xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê; người đang sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng từ các loại đất trước đây khi được Nhà nước giao đất không phải nộp tiền sử dụng đất; người được mua nhà ở đang thuê, nhà thanh lý, nhà hoá giá thuộc sở hữu Nhà nước Thu tiền sử dụng đất theo

Trang 28

Nghị định số 89/CP ngày 17/8/1994; Nghị định số 44/CP ngày 03/8/1996; Nghị định số 38/2000/NĐ-CP ngày 23/8/2000; Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ, Bộ Tài chính có Thông tư số 115/2000/TT-BTC ngày 11/12/2000, Thông tư

số 117/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 hướng dẫn thi hành Nghị định số 38 và Nghị định số 198 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất

Lệ phí địa chính là một khoản tiền người sử dụng đất phải trả khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức được uỷ quyền giải quyết các công việc về địa chính như: cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chứng nhận đăng ký biến động đất

đai, trích lục bản đồ hoặc các văn bản cần thiết trong hồ sơ địa chính, xác nhận tính

Để phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản cần phải có một hệ thống cơ sở vật chất tốt như hệ thống quy hoạch đất đai đầy đủ, rõ ràng, công khai và minh bạch; phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của địa phương; các loại bản đồ phải đầy đủ, chính xác cùng với nó là hệ thống pháp luật phải tạo được hành lang thông thoáng nhưng cũng đảm bảo chặt chẽ, khoa học

1.2.2.10 Công tác quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Quản lý giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là một nội dung mới trong các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai của Luật Đất đai năm

2003 so với năm 1993 Đây là một nội dung nhằm xem xét việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, đảm bảo thực hiện đúng theo pháp luật đối với công

Trang 29

tác quản lý và sử dụng đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền [16]

Từ khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, công tác quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất mới được quan tâm thực hiện, coi trọng Người sử dụng đất đã được hưởng các quyền lợi theo quy định của pháp luật như được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp Đồng thời người sử dụng đất thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước

1.2.2.11 Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về đất đai

Mục đích của công tác này là nhằm thúc đẩy quá trình thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật đất đai, đảm bảo cho đất đai được quản lý chặt chẽ, các loại đất được sử dụng một cách hợp pháp, tiết kiệm và mang hiệu quả cao Mặt khác, qua thanh tra, kiểm tra để nắm được các chính sách pháp luật đất đai đã đi vào thực tế như thế nào, từ đó phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực, tìm ra những nội dung không phù hợp để đề xuất bổ sung, sửa đổi [16]

Bộ Tài nguyên và Môi trường thường xuyên tổ chức thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai, qua đó kịp thời chấn chình việc triển khai thực hiện ở các cấp, đồng thời nhiều vụ việc liên quan đến sai phạm trong quá trình quản lý và sử dụng đất đã được phát hiện, xử lý kiên quyết, dứt điểm, đảm bảo đúng pháp luật

1.2.2.12 Công tác giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, nó gắn liền với quyền lợi và lợi ích kinh tế của người sử dụng đất Đặc biệt cùng với cơ chế thị trường và sự phát triển của nền kinh

tế, đất đai trở nên có giá trị hơn Do vậy, vấn đề tranh chấp đất đai xảy ra thường xuyên, phức tạp và quyết liệt; không giải quyết được sẽ gây ra sự mất ổn định trong xã hội [16]

Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai: là biện pháp nhằm điều chỉnh các quan hệ đất đai theo đúng pháp luật, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ sử dụng đất đem lại sự công bằng

xã hội, góp phần nâng cao tinh thần đoàn kết trong nhân dân, nâng cao lòng tin của nhân

Trang 30

dân đối với các cấp chính quyền và giữ vững được an ninh chính trị trong xã hội

Để tạo cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp đất đai, Luật Đất đai năm 1993 đã quy định rõ về trách nhiệm, thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của các cấp đối với từng trường hợp cụ thể Đã dành toàn bộ 13 điều của chương VI để quy định về thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về xử phạt

vi phạm hành chính về đất đai

Theo số liệu báo cáo Từ năm 2008 đến năm 2011, các cơ quan hành chính nhà nước đã tiếp 1.571.505 lượt người đến khiếu nại, tố cáo và tiếp nhận, xử lý 672.990 đơn thư Số lượng công dân khiếu nại, tố cáo ngày càng tăng cả về số đoàn đông người, số vụ việc (từ 187.037 vụ việc năm 2008 tăng lên 236.466 vụ việc năm 2011, tỷ lệ tăng 26,4%;

từ 2.466 lượt đoàn năm 2008 tăng lên 4.056 lượt đoàn năm 2011 tỷ lệ tăng 64,5%) Sự gia tăng ở các khu vực không đồng đều: khu vực phía Bắc tuy số vụ việc giảm 6,3%, nhưng số đoàn đông người tăng cao nhất (99%); khu vực Miền Trung - Tây Nguyên tăng 64,2% số vụ việc, 66,4% số đoàn đông người; khu vực phía Nam tăng 17,5% số vụ, 31,9% số đoàn đông người

1.2.2.13 Công tác quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai

Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai thể hiện chủ trương mới của Đảng và Nhà nước ta trong việc quản lý và sử dụng đất ở thời kỳ mới, đồng thời cũng nhằm hoàn thiện và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản một cách công khai, minh bạch [16]

Trong quản lý và sử dụng đất, các hoạt động dịch vụ công về đất đai bao gồm các hoạt động như: tư vấn về giá đất; tư vấn về lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; dịch vụ về đo đạc thành lập bản đồ địa chính; dịch vụ về thông tin đất đai… Các dịch

vụ này được các tổ chức, cá nhân thuộc Nhà nước hoặc không thuộc Nhà nước thực hiện có thu tiền dưới sự quản lý, cho phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Hiện nay, hầu hết các địa phương trên toàn quốc đã thành lập Văn phòng đăng

ký quyền sử dụng đất vừa thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, vừa cung cấp các dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý sử dụng đất đai

Trang 31

1.2.3 Công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Quảng Ninh nằm trong khu vực hợp tác Hai hành lang- Một vành đai kinh tế Việt Nam- Trung Quốc, hợp tác liên vùng Vịnh Bắc Bộ, cầu nối quan trọng của hợp tác kinh tế ASEAN- Trung Quốc, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, hành lang kinh tế Nam Ninh- Singapore Diện tích đất hơn 6100km2, diện tích biển tương đương đất liền với

2077 đảo đá và đất; biên giới trên bộ ~ 120km, đường phân định Vịnh Bắc bộ trên biển 191km; có 14 đơn vị hành chính cấp huyện trong đó 4 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện; là địa phương có nhiều khu kinh tế nhất cả nước (4 khu kinh tế ven biển và cửa khẩu, cả nước có 43 khu kinh tế); có di sản thiên nhiên- kỳ quan thế giới Vịnh Hạ Long

là cơ hội lớn để phát triển các loại hình du lịch và hướng đến phát triển ngành công nghiệp văn hoá- giải trí Những năm qua, công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Tỉnh nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Tỉnh [19]

1.2.3.1 Công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý sử dụng đất đai

và tổ chức thực hiện các văn bản đó

Công tác ban hành các văn bản pháp quy trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đã được Tỉnh uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân Tỉnh đặc biệt quan tâm, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong điều kiện thực tiễn của Tỉnh Căn cứ pháp luật đất đai, sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ và Hội đồng nhân dân Tỉnh, UBND tỉnh Quảng Ninh đã ban hành: [19]

Quyết định số 4005/2004/QĐ-UBND, ngày 04/11/2004 về việc ban hành bộ đơn giá bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Tỉnh

Quyết định số 1122/2005/QĐ-UBND, ngày 20/4/2005 ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Tỉnh

Quyết định số 4466/2005/QĐ-UBND, ngày 01/12/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số Điều của Quy trình "Thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, ban hành kèm theo Quyết định số 1122/2005/QĐ-UB ngày 20/4/2005 của Uỷ ban nhân dân tỉnh"

Quyết định số 4505/2007/QĐ-UBND, ngày 05/12/2007 về việc quy định hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận đất ở cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn Tỉnh

Trang 32

Quyết định số 4668/2007/QĐ-UBND ngày 17/12/2007 về việc ban hành Quy định về quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng cho các tổ chức trên địa bàn Tỉnh

Quyết định số 80/2008/QĐ-UBND, ngày 09/01/2008 về việc sửa đổi mục 36,

37, 38 quy định kèm theo Quyết định số 4466/QĐ-UBND ngày 01/12/2005 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh

Quyết định 99/2008/QĐ-UBND, ngày 11/01/2008 về việc ban hành quy định về trình tự, thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, thu hồi đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Quyết định số 1970/QĐ-UBND, ngày 19/6/2008 về việc điều chỉnh hệ số đơn giá bồi thường, di chuyển công trình xây dựng và máy móc thiết bị trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Quyết định số 363/QĐ-UBND, ngày 17/02/2009 về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối năm 2007 đến năm 2010 c

Quyết định số 547/QĐ-UBND, ngày 06/03/2009 về việc quy định điều chỉnh, bổ sung đơn giá bồi thường thiệt hại về cây trồng, khi Nhà Nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Quyết định số 574/QĐ-UBND, ngày 3/6/2009 về việc quy định điều chỉnh, bổ sung đơn giá bồi thường thiệt hại về cây trồng, khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Quyết định số 499/2010/QĐ-UBND, ngày 11/2/1010 Về việc ban hành quy định

về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

Chỉ thị số 10/CT-UBND, ngày 05/5/2010 về việc tăng cường công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp đến năm 2020 trên địa bàn Tỉnh

Quyết định số 1748/2010/QĐ-UBND, ngày 11/6/2010 về sửa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 17 Quy định kèm theo Quyết định số 499/2010/QĐ-UBND ngày 11/02/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

Trang 33

khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Tỉnh

Quyết định số 2878/Đ-UBND, nNgày 23/9/2010 về việc phê duyệt chính sách

hỗ trợ đối với một số loại đất nằm trong hành lang bảo vệ an toàn công trình lưới điện cao áp trên địa bàn Tỉnh

Nhìn chung công tác ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai đã và đang được triển khai thực hiện nghiêm túc trên toàn địa bàn tỉnh Quảng Ninh

1.2.3.2 Công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính; khảo sát đo đạc, thành lập bản đồ

Thực hiện Chỉ thị 364/CP ngày 6/11/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về giải quyết những tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính các cấp tỉnh, huyện, xã; UBND Tỉnh đã chỉ đạo các ngành chuyên môn

và địa phương xác định cắm mốc địa giới hành chính đến từng xã, phường, thị trấn theo đúng quy định [19]

Theo số liệu điều tra, tỉnh Quảng Ninh có 4 thành phố, 1 thị xã, và 9 huyện với

186 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thi trấn

- Tính đến 31/12/2010, Tỉnh đã hoàn thành công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính chính quy tỷ lệ 1:500 đối với đất thổ cử và tỷ lệ 1:1.000 đối với đất nông nghiệp cho 64

xã, phường thuộc 4 thành phố là: Hạ Long, Uông Bí, Móng Cái, Cẩm Phả

Đối với thành phố Hạ Long, năm 1997 và 1998, Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh đã ký hợp đồng với 4 đơn vị tư vấn tiến hành đo đạc bản đồ và lập hồ sơ địa chính cho các phường, triển khai đo vẽ bản đồ địa chính chính quy Đến năm 2000, các đơn vị tư vấn đã hoàn thành và bàn giao cho Thành phố Bản đồ địa chính tỷ lệ 1:500 dạng số hoá và bản đồ giấy [21]

- Bước đầu ngành Tài nguyên & Môi trường của Tỉnh đã áp dụng công nghệ tin học vào nhiều lĩnh vực như công tác cập nhật bản đồ, bàn giao mốc giới, xây dựng hồ

sơ địa chính và trích lục bản đồ, gắn việc quản lý đất đai với quản lý Nhà nước và đã tiến hành nhiều công trình thí điểm về đo đạc lập sổ địa chính theo các phương pháp

Trang 34

quản lý mới ở một số phường

- Thực hiện Chỉ thị số 618/CT-TTg ngày 15/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 Đến nay công tác kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng, bản đồ quy hoạch sử dụng đất được thực hiện tại 3 cấp từ cấp xã, cấp huyện đến Tỉnh, giai đoạn 2011- 2020, kế hoạch

sử dụng đất giai đoạn 2011- 2015

1.2.3.3 Công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được quan tâm Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Tỉnh đến năm 2010; kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2006- 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và điều chỉnh hàng năm làm căn cứ để giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất theo quy định Tất cả các xã, phường, thị trấn đã hoàn thành công tác lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và 2020 phục vụ trực tiếp cho công tác giao đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất ở, đất xây dựng hạ tầng khu dân cư nông thôn, quản lý quỹ đất công ích Tỉnh đang hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện, thị xã, thành phố [19]

1.2.3.4 Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Công tác giao đất, cho thuê đất đã thực hiện cải cách hành chính về thủ tục; hàng năm UBND Tỉnh đã giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện các dự án phát triển đô thị với diện tích trung bình khoảng 475 ha Tình hình thực hiện kế hoạch nhìn chung đạt thấp, tính trung bình đạt 67,68% so với chỉ tiêu kế hoạch đặt ra Phần lớn các dự án đầu tư có sử dụng đất được Nhà nước giao hoặc cho thuê đã được triển khai và sử dụng có hiệu quả Một số dự án chưa được triển khai hoặc triển khai châm tiến độ do khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng [19]

Trong 5 năm đã thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng được 315/865 dự án

và đã bàn giao diện tích đất ngoài thực địa cho các chủ đầu tư là 2.283 ha; đặc biệt để tạo quỹ đất sạch thu hút các nhà đầu tư, Tỉnh đã triển khai 56 dự án đầu tư xây dựng nhà ở tái định cư với 11.052 căn hộ, tập trung ở những dự án lớn trên địa bàn thành phố Hạ Long, Móng Cái, Cẩm Phả, Uông Bí, huyện Đông Triều và Hoành Bồ

Trang 35

1.2.3.5 Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Tỉnh, nhằm quản lý đến từng thửa đất, từng chủ sử dụng đất, tạo điều kiện để người sử dụng đất thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; từng bước hình thành và phát triển thị trường bất động sản có sự quản lý của Nhà nước Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở để thiết lập hồ sơ địa chính, là công cụ để chính quyền các cấp quản lý, nắm chắc được quỹ đất, đăng ký chỉnh lý biến động, đồng thời phục vụ cho công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương [19]

Tính đến thời điểm kiểm kê đất đai 31/12/2010, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã cấp được 81.592 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, đạt 79,03% tổng số

hộ sử dụng đất nông nghiệp; 14.876 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, đạt 54,48%; 2.836 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nuôi trồng thuỷ sản, đạt 51,97%; 124.721 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đô thị, đạt 94,36% và 131.971 Giấy đất ở nông thôn đạt 95,67%; 254 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp và đất phi nông nghiệp khác cho các tổ chức, đơn vị sử dụng đất, đạt 51,52%

1.2.3.6 Công tác thống kê, kiểm kê đất đai

- Hoàn thành công tác kiểm kê đất đai năm 2000 theo Chỉ thị 24/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ

- Hoàn thành công tác kiểm kê đất chưa sử dụng và định hướng sử dụng đất theo Chỉ thị 90/CT của Chính phủ

- Hàng năm các xã, phường, thị trấn; huyện, thị xã, thành phố và Tỉnh đều thực hiện tốt công tác thống kê đất đai, khai báo biến động sử dụng đất

- Từ cuối năm 2004, thực hiện công tác kiểm kê đất đai theo chỉ thị 28/CT-TTg ngày 15/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về kiểm kê đất năm 2005 UBND tỉnh chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung thực hiện trên 184 xã, phường, thị trấn, 14 huyện, thị

xã, thành phố và hoàn thành vào ngày 31/8/2005

Trang 36

Thực hiện Chỉ thị số 618/CT-TTg ngày 15/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ, đến nay, đã kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 cho 186

xã, phường, thị trấn, 14 huyện, thị xã, thành phố và xây dựng quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011- 2020, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011- 2015

1.2.3.7 Công tác quản lý tài chính, phát triển thị trường bất động sản; quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Để phát huy nguồn nội lực từ đất đai nhằm bổ sung kinh phí để đầu tư phát triển

hạ tầng trên địa bàn Tỉnh, công tác đấu giá quyền sử dụng đất đã được coi trọng Trong những năm qua tỉnh chỉ đạo các sở ban ngành liên quan triển khai đấu giá quyền sử dụng đất của các huyện thị xã, thành phố trong tỉnh Năm 2010, đã tổ chức đấu giá 46

dự án, diện tích 352,3 ha, tổng số tiền thu được là 28.208 tỷ đồng [19]

1.2.3.8 Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong quản lý, sử dụng đất đai

Từ năm 2005 đến năm 2010, UBND Tỉnh đã có quyết định thu hồi của 65 tổ chức với diện tích 62,48 ha do để đất hoang hóa, sử dụng sai mục đích, vi phạm Luật Đất đai UBND các huyện, thị xã, thành phố đã xử lý 421 trường hợp và thu hồi diện tích 20,7 ha Diện tích sau khi thu hồi đã giao cho UBND xã, phường, thị trấn quản lý, sử dụng theo đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương Đã có 98 tổ chức đã khắc phục tình trạng để đất hoang hóa, 26 tổ chức đã lập dự án sử dụng đất đúng mục đích với 31,7 ha [19]

Công tác giải quyết đơn thư: Trong năm 2011, các cơ quan hành chính nhà nước các cấp đã tiếp 5.421 lượt công dân với 2.358 vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; trong đó tại trụ sở tiếp công dân của tỉnh tiếp 1.581 lượt công dân, giảm 1,98% so với cùng kỳ năm 2010 Tổng số đơn thư đã tiếp nhận, xử lý là 4.333 với 2.880 vụ việc (có 63 vụ việc tồn từ năm 2010 chuyển sang) Qua phân loại có 118 vụ việc khiếu nại, giảm 48% so với năm 2010; 47 vụ việc tố cáo, giảm 20,3% Nội dung các vụ việc chủ yếu là bồi thường giải phóng mặt bằng (73 vụ việc); liên quan đến đất đai (38 vụ việc) Đặc biệt trong công tác giải quyết khiếu nại tố cáo đối với những vụ việc kéo dài, phức tạp theo Kế hoạch số 319 ngày 20/2/2009 của Thanh tra Chính phủ

Trang 37

Chương II NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Địa điểm: 20 phường thuộc thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Thời gian: Từ 2006 – 2011

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của thành phố Hạ Long

- Đánh giá tình hình sử dụng các loại đất trên địa bàn thành phố Hạ Long

- Đánh giá tình hình thực hiện các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, trong đó

đi sâu đánh giá công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn Thành phố

- Đề xuất các biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp kế thừa, chọn lọc

Phương pháp này sử dụng và thừa hưởng những tài liệu, dữ liệu đã có về vấn đề nghiên cứu, dựa trên những thông tin sẵn có để xây dựng và phát triển thành cơ sở dữ liệu cần thiết của luận văn

Phương pháp này được áp dụng đối với phần tổng quan khi nghiên cứu các vấn

đề về tình hình quản lý, sử dụng đất của cả nước; cơ sở pháp lý của quản lý Nhà nước

về đất đai

2.4.2 Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu

Tìm hiểu các tài liệu văn bản pháp luật do Quốc hội, Chính phủ, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; các văn bản pháp luật do tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hạ Long ban hành về quản lý và sử dụng đất đai Thu thập thông qua các nguồn tài liệu sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các báo cáo tổng kết và hội thảo của các tổ chức kinh

Trang 38

tế và các cơ quan nghiên cứu, các công trình nghiên cứu có liên quan

Điều tra thu thập các tài liệu, số liệu, các thông tin cần thiết về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, về tình hình quản lý, sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hạ Long

Đối với các thông tin định tính, tiến hành phỏng vấn trực tiếp các cán bộ làm công tác quản lý đất đai từ cấp thành phố đến các phường

2.4.3 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp

Điều tra, thu thập số liệu về tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn 20 phường trong toàn thành phố Đối chiếu với các số liệu thu thập với thực trạng quản lý

sử dụng đất của các phường

2.4.4 Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu

Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng trong việc chọn mẫu, điều tra, tổng hợp và phân tích các dữ liệu thu thập được trên cơ sở đó tìm ra được bản chất của vấn đề nghiên cứu

Phương pháp phân tích so sánh: Phương pháp này được dùng để đối chiếu các

chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hoá, cùng nội dung và tính chất tương tự như nhau thông qua tính toán các tỷ số, so sánh thông tin từ các nguồn khác nhau ở các thời gian và không gian khác nhau

Phương pháp chuyên gia: Đây là phương pháp tranh thủ ý kiến đóng góp của

các chuyên gia, các nhà quản lý ở các cấp và ý kiến của họ trong đánh giá cũng như đề

ra các giải pháp nhằm hoàn thiện vấn đề quản lý đât đai hiện nay

Quá trình thống kê, phân tích nhằm phân loại tài liệu đã thu thập, liệt kê các tài liệu, số liệu có nội dung đáng tin cậy, từ đó tổng hợp xây dựng nội dung của luận văn 2.4.5 Phương pháp nghiên cứu, sử dụng các bản đồ chuyên dùng:

Sử dụng hệ thống bản đồ địa hình, địa chính, quy hoạch để nghiên cứu, đánh giá tình hình quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long

Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Trang 39

3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội thành phố Hạ Long

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Thành phố Hạ Long có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng, là thủ phủ của tỉnh Quảng Ninh, với diện tích đất tự nhiên là 271,95km2, nằm ở Tây Bắc vịnh Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 165 km về phía Tây theo Quốc lộ 18A, cách trung tâm thành phố Hải Phòng 70 km về phía Tây Nam theo Quốc lộ 10, cách cửa khẩu quốc tế Móng Cái

180 km về phía Đông theo Quốc lộ 18A [25]

Phía Bắc- Tây Bắc giáp huyện Hoành Bồ, phía Đông- Đông Bắc giáp thành phố Cẩm Phả, phía Tây- Tây Nam giáp thị xã Quảng Yên, phía Nam thông ra biển, giáp Vịnh

Hạ Long và thành phố Hải Phòng Địa giới nằm trong khoảng tọa độ địa lý: Vĩ độ Bắc

từ 20055’ đến 21005’; Kinh độ Đông từ 106050’ đến 107030’

3.1.1.2 Địa hình địa mạo

Thành phố Hạ Long có địa hình đa dạng và phức tạp, bao gồm cả đồi núi, thung lũng, vùng ven biển và hải đảo, được chia thành 3 vùng rõ rệt [25]

Vùng đồi núi bao bọc phía Bắc và Đông Bắc chiếm 70% diện tích đất của Thành phố, có độ cao trung bình từ 150- 250m, chạy dài từ Yên Lập đến Hà Tu, đỉnh cao nhất

là 504 m Dải đồi núi này thấp dần về phía biển, độ dốc trung bình từ 15- 20%, xen kẽ

là các thung lũng nhỏ hẹp

Vùng ven biển ở phía Nam Quốc lộ 18A, độ cao trung bình từ 0.5 đến 5m

Vùng hải đảo là toàn bộ vùng Vịnh, với gần 2000 hòn đảo lớn nhỏ, chủ yếu là đảo đá

Kết cấu địa chất chủ yếu là đất sỏi sạn, cuội sỏi, cát kết, cát sét… ổn định và có cường độ chịu tải cao, từ 2.5 đến 4.5 kg/cm2

Hình 3.1 Bản đồ thành phố Hạ Long

Trang 40

3.1.1.3 Khí hậu, thủy văn

- Nhiệt độ trung bình hằng năm là 23.70C, lượng mưa 1832 mm/năm, độ ẩm không khí 84% Do những đặc điểm về địa hình và vị trí địa lý, thành phố Hạ Long có

2 loại gió mùa hoạt động khá rõ rệt là gió Đông Bắc về mùa đông và gió Tây Nam về mùa hè [25]

- Thuỷ văn, nguồn nước: Các sông chính chảy qua Thành phố có sông Diễn Vọng,

Vũ Oai, Trới đổ vào Vịnh Cửa Lục rồi chảy ra Vịnh Hạ Long, sông Yên Lập đổ vào hồ Yên Lập Các con suối chảy dọc sườn núi phía Nam đều nhỏ, ngắn, lưu lượng nước không nhiều, cùng với địa hình dốc nên khi có mưa to, nước dâng lên nhanh và thoát ra biển cũng nhanh

3.1.1.4 Các nguồn tài nguyên

- Tài nguyên đất: Gồm 2 nhóm chính, nhóm đất bằng ven biển chủ yếu là đất nhiễm mặn có hơn 5.654 ha, đất ngọt phù sa dọc theo các sông, suối 142 ha; nhóm thứ hai là đất đồi núi có 891.82 ha, trong đó 667.82 ha đất trồng lúa [25]

- Tài nguyên khoáng sản: Chủ yếu là than đá và vật liệu xây dựng; tổng trữ lượng than đá đã thăm dò được là 529 triệu tấn Vật liệu xây dựng gồm có đá vôi, đất sét, cao lanh, đáng kể nhất là đá vôi, trữ lượng 1.3 tỉ tấn, đất sét 41.5 triệu m3

- Tài nguyên du lịch: Gắn liền với Vịnh Hạ Long, Di sản thiên nhiên mới của thế giới, với nhiều hang động huyền ảo và gần 1000 hòn đảo có dáng hình kỳ vĩ Vùng biển có 950 loài cá, 500 loài động vật thân mềm, 400 loài giáp xác, 117 loài san hô

- Tài nguyên rừng: Đất rừng có 5153 ha, trong đó rừng tự nhiên là 1442 ha, rừng trồng 3711 ha Độ che phủ thấp, chỉ đạt 16,68% Ngoài ra Hạ Long còn 3923 ha đất trống đồi trọc, đồi cỏ và cây bụi

- Tài nguyên nước: Nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất có nhiều hạn chế, nguồn nước ngầm trữ lượng không lớn, trữ lượng cấp A 3400 m3, cấp B 3430 m3, cấp

C 13796m3/ngày đêm Hiện khai thác nước ngầm bằng cách khoan giếng ở độ sâu từ

100 đến 130 m, lượng nước khai thác cao nhất 20.626m3

/ngày đêm; ngoài ra sử dụng

nguồn nước lấy từ huyện Hoành Bồ

Ngày đăng: 15/11/2014, 22:30

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Bản đồ thành phố Hạ Long - Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 đến 2011
Hình 3.1. Bản đồ thành phố Hạ Long (Trang 39)
Bảng 3.1. Đầu mối giao thông thành phố Hạ Long - Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 đến 2011
Bảng 3.1. Đầu mối giao thông thành phố Hạ Long (Trang 44)
Hình 3.3. Cơ cấu diện tích đất đai của thành phố Hạ Long - Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 đến 2011
Hình 3.3. Cơ cấu diện tích đất đai của thành phố Hạ Long (Trang 45)
Bảng 3.2. Hiện trạng sử dụng đất năm 2011 - Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 đến 2011
Bảng 3.2. Hiện trạng sử dụng đất năm 2011 (Trang 45)
Bảng 3.3: Ban hành văn bản QLĐĐ của thành phố Hạ Long - Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 đến 2011
Bảng 3.3 Ban hành văn bản QLĐĐ của thành phố Hạ Long (Trang 47)
Bảng 3.4: Tổng hợp diện tích đất đai theo địa giới hành chính - Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 đến 2011
Bảng 3.4 Tổng hợp diện tích đất đai theo địa giới hành chính (Trang 48)
Bảng 3.7. Tổng hợp kết quả giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/CP - Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 đến 2011
Bảng 3.7. Tổng hợp kết quả giao đất nông nghiệp theo Nghị định 64/CP (Trang 57)
Bảng 3.8. Kết quả giao đất thực hiện các dự án giai đoạn 2006- 2011 - Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 đến 2011
Bảng 3.8. Kết quả giao đất thực hiện các dự án giai đoạn 2006- 2011 (Trang 58)
Bảng 3.9. Tổng hợp các dự án thu hồi đất - Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 đến 2011
Bảng 3.9. Tổng hợp các dự án thu hồi đất (Trang 59)
Hình 3.4: Cơ cấu đất đai theo đối tƣợng quản lý, sử dụng  Bảng 3.12. Tổng hợp diện tích đất đai theo địa giới hành chính - Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 đến 2011
Hình 3.4 Cơ cấu đất đai theo đối tƣợng quản lý, sử dụng Bảng 3.12. Tổng hợp diện tích đất đai theo địa giới hành chính (Trang 64)
Bảng 3.13. Kết quả thu ngân sách về đất đai thành phố Hạ Long - Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 đến 2011
Bảng 3.13. Kết quả thu ngân sách về đất đai thành phố Hạ Long (Trang 67)
Bảng 3.14. Tình hình đấu giá QSDĐ giai đoạn 2006- 2011 - Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 đến 2011
Bảng 3.14. Tình hình đấu giá QSDĐ giai đoạn 2006- 2011 (Trang 68)
Bảng 3.16. Kết quả thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định - Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 đến 2011
Bảng 3.16. Kết quả thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định (Trang 69)
Bảng 3.18. Công tác quản lý hoạt động dịch vụ công thành phố Hạ Long - Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2006 đến 2011
Bảng 3.18. Công tác quản lý hoạt động dịch vụ công thành phố Hạ Long (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm