Vì vậy, để đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn thì việc tiếp tục có những nghiên cứu về thực trạng ô nhiễm, phân tích, đánh giá được nồng độ dioxin trong môi trường là cần thiết và đóng
Trang 1-
NGUYỄN HỮU PHÚC
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM DIOXIN
DO CHIẾN TRANH TẠI MỘT SỐ ĐIỂM TỒN LƯU Ô NHIỄM
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số: 60 44 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Thế Hùng
TS Nguyễn Anh Tuấn
Thái Nguyên, năm 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ vô cùng tận tình của cơ sở đào tạo, gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn tới Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Phòng Quản
lý đào tạo Sau đại học đã tạo điều kiện, giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thế Hùng và TS Nguyễn Anh Tuấn đã hết lòng tận tụy hướng dẫn tôi thực hiện đề tài đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt đề tài của mình
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiên, động viên và cổ vũ tôi trong suốt quá trình học tập
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012
Học viên
Nguyễn Hữu Phúc
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực
và chưa hề bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và thông tin trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012
Học viên
Nguyễn Hữu Phúc
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Yêu cầu 3
4 Ý nghĩa của đề tài 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2 Cơ sở pháp lý 5
1.3 Cơ sở lí luận 6
1.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 16
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 16
1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 19
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 24
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24
2.3 Nội dung nghiên cứu 24
2.4 Phương pháp nghiên cứu 24
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Nguồn gây ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam và các địa điểm nghiên cứu 27
3.1.1 Nguồn gây ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam 27
3.1.2 Nguồn gây ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng và sân bay Biên Hòa 33
3.2 Đánh giá tồn lưu ô nhiễm dioxin trong môi trường 38
3.2.1 Tồn lưu ô nhiễm dioxin trong môi trường 38
Trang 53.2.2 So sánh nồng độ ô nhiễm dioxin trong mẫu đất và mẫu trầm tích 49
3.3 Đề xuất mô hình đánh giá rủi ro môi trường ban đầu 52
3.3.1 Khái quát về mô hình đánh giá rủi ro đối với ô nhiễm môi trường 52
3.3.2 Đề xuất mô hình đánh giá rủi ro môi trường ban đầu do tồn lưu ô nhiễm dioxin 54
3.4 Một số giải pháp quản lý, khắc phục và giảm thiểu 57
3.4.1 Những hạn chế liên quan đến quản lý ô nhiễm dioxin do chiến tranh 57
3.4.2 Một số giải pháp để quản lý, khắc phục và giảm thiểu ô nhiễm dioxin 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ - CỤM TỪ VIẾT TẮT
AND : Acide deoxiribo nucleic
AhR : Aryl nuclear Translocator
ARN : Acide ribo nucleic
BVMT : Bảo vệ môi trường
FAO : Tổ chức nông lương Liên Hợp Quốc
GEMS : Hệ thống chương trình giám sát đánh giá ô nhiễm thực phẩm toàn cầu HxCDD : Hexa chloro dibenzo dioxin
HpCDD : Hepta chloro dibenzo dioxin
HPLC : High-performance liquid chromatography
HxCDF : Hexa chloro dibenzo furan
HpCDF : Hepta chloro dibenzo furan
IARC : Tổ chức quốc tế về nghiên cứu ung thư
IOM : Viện Y tế Hoa kỳ
ODA : Officical Development Assistantl
PeCDD : Penta chloro dibenzo dioxin
PCP : Penta chloro phenol
PCDFs : Polycholro dibenzo furans
PCDDs : Polycholro dibenzo dioxins
PeCDF : Penta cholro dibenzo furan
PCBs : Poly chlorbiphenyls
POPs : Persittant organic pollutants
PVC : Poly vinyl chlororua
OCDD : Otor chloro dibenzo dioxin
Trang 7OCDD : Otor chloro dibenzo furan
TCDD : Tetra chloro dibenzo dioxin
TCDF : Tetra chloro dibenzo furan
TeCB : Tetra chloro benzen
TEF : Total Equipment Failure
TEQ : Toxic Equivalents
UB 10 – 80 : Ủy ban Quốc gia điều tra hậu quả chất hóa học trong chiến tranh UNDP : Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc
UNEP : Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc
UNESCO : Tổ chức văn hóa giáo dục Liên Hợp Quốc
WHO : Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Hàm lượng TCDD và độ độc tương tương (ppt) trong máu người
Việt Nam (1991 - 1992) 13
Bảng 1.2 Danh mục các bệnh ở người liên quan đến phơi nhiễm dioxin 14
Bảng 1.3 Các giá trị TEF của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trong đánh giá rủi ro đối với con người 15
Bảng 1.4 Hàm lượng 2,3,7,8 - TCDD trong cá, giáp xác và thực phẩm Mỹ đã nhập khẩu ở Việt Nam 20
Bảng 1.5 Hàm lượng 2,3,7,8 - TCDD trong sữa lấy tại Việt Nam và Mỹ 21
Bảng 2.1 Vị trí thu thập mẫu đất, trầm tích tại sân bay Đà Nẵng 25
Bảng 2.2 Vị trí thu thập mẫu đất, trầm tích tại sân bay Biên Hòa 26
Bảng 3.1 Lượng chất phát quang phun rải ở miền Nam Việt Nam 28
Bảng 3.2 Diện tích bị ảnh hưởng của chất khai quang 30
Bảng 3.3 Diện tích đất bị rải ảnh hưởng nặng nề bởi chất phát quang có chứa dioxin theo địa phương 32
Bảng 3.4 Các điểm lưu giữ chính các chất phát quang/dioxin/chất da cam trong thời gian chiến tranh Việt Nam, từ 1961 - 1971 34
Bảng 3.5 Lượng các loại chất phát quang được quân đội Mỹ lưu giữ và trung chuyển tại sân bay Biên Hòa 37
Bảng 3.6 Nồng độ dioxin trong mẫu đất quan trắc được tại sân bay Đà Nẵng 40
Bảng 3.7 Nồng độ dioxin trong mẫu trầm tích quan trắc được tại sân bay Đà Nẵng 44
Bảng 3.8 Nồng độ dioxin trong mẫu đất quan trắc được tại sân bay Biên Hòa 46
Bảng 3.9 Nồng độ dioxin trong mẫu trầm tích quan trắc được tại các khu vực lân cận 48
Bảng 3.10 Bảng so sánh giá trị lớn nhất, trung bình, nhỏ nhất nồng độ ô nhiễm trong mẫu đất và mẫu trầm tích theo loại chất dioxin sân bay Đà Nẵng 50
Bảng 3.11 Bảng so sánh giá trị lớn nhất, trung bình, nhỏ nhất nồng độ ô nhiễm trong mẫu đất và mẫu trầm tích theo loại chất dioxin sân bay Biên Hòa 51
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Cấu trúc của của một số đồng phân dioxin 7
Hình 1.2 Cơ chế tạo ra sản phẩm phụ 2,3,7,8-TCDD 9
Hình 1.3 Cấu trúc của phức hợp dioxin receptor 13
Hình 1.4 Cơ chế gây độc của TCDD trong tế bào 13
Hình 3.1 Hoá chất làm rụng lá được rải trong chiến tranh Việt Nam 28
Hình 3.2 Diện tích bị phun rải chất phát quang có chứa dioxin theo các tác giả 31
Hình 3.3 Biểu đồ mô tả tỉ lệ lưu giữ chất phát quang tại các sân bay lưu giữ và trung chuyển mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam 1961 -1971 34
Hình 3.4 Biểu đồ mô tả tỉ lệ các loại chất có trong tổng lượng các chất phát quang tại sân bay Đà Nẵng 35
Hình 3.5 Tỉ lệ % các loại chất phát quang được lưu giữ, trung chuyển qua sân bay Biên Hòa trong chiến tranh Việt Nam 38
Hình 3.6 Biểu đồ thể hiện nồng độ ng TEQ (Min, Mean, Max) của PCDD, PCDF, WHO - TEQ 41
Hình 3.7 Biểu đồ thể hiện so sánh sự thay đổi nồng độ TCDD và sự thay đổi nồng độ TEQ trong các mẫu đất lấy tại sân bay Đà Nẵng 42
Hình 3.8 Mô phỏng các hoạt động của quá trình đánh giá rủi ro môi trường 53
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chiến tranh đã kết thúc gần 40 năm nhưng những hậu quả để lại cho đến hiện nay vẫn rất nặng nề Một trong những hậu quả đó là vấn đề ảnh hưởng của dioxin có trong hóa chất diệt cỏ mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Cuộc chiến tranh hóa chất ở Việt Nam diễn ra từ năm 1961 đến năm 1972 đã, đang và tiếp tục gây tác động đặc biệt nghiêm trọng đối với môi trường và con người ở Việt Nam
Theo số liệu thống kê được Bộ Quốc phòng Mỹ công bố năm 2007 [39], trong khoảng thời gian tiến hành cuộc chiến tranh hóa chất ở Việt Nam từ năm 1961 đến năm 1972, quân đội Mỹ đã sử dụng khoảng 80 triệu lít hóa chất diệt cỏ và thực hiện khoảng 6000 chuyến bay để phun rải xuống các khu vực ở miền Nam Việt Nam Trong đó, những khu vực được xác định bị phun rải nhiều nhất gồm có: Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Bình Phước, Sài Gòn, Đồng Nai và Cà Mau Bên cạnh những khu vực này, tại một số sân bay mà Không quân Mỹ đã sử dụng làm căn cứ để tập kết, lưu giữ và trung chuyển hóa chất diệt cỏ như: Sân bay Đà Nẵng, sân bay Phù Cát – Bình Định và sân bay Biên Hòa – Đồng Nai thì nồng độ dioxin trong môi trường đặc biệt cao
Dioxin chứa trong hóa chất diệt cỏ mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh
đã gây nên hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho hàng triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm, cũng như là các vấn đề môi trường nghiêm trọng khác Cho đến nay, đã có những nghiên cứu với mục đích xác định số lượng người bị phơi nhiễm dioxin ở nước ta; tuy nhiên, có thể nhận các thấy số liệu đưa ra chưa có sự thống nhất Theo Hoàng Đình Cầu [5], số lượng nạn nhân bị phơi nhiễm dioxin ở Việt Nam khoảng 1 triệu người, trong đó có khoảng 150.000 trẻ em sinh ra bị dị tật bẩm sinh có liên quan đến dioxin Theo Stellman 2003 [34], trong quá trình nghiên cứu đã căn cứ vào đặc điểm phân bố dân cư và diện tích bị phun rải, cho rằng có khoảng 2,1 – 4,8 triệu người bị phơi nhiễm dioxin trực tiếp; còn theo Hội nạn nhân chất độc màu da cam Việt Nam thì số lượng đó là khoảng 3 triệu người Vì tính phức tạp của dioxin
Trang 11và những lý do khác có liên quan, cho đến nay chúng ta vẫn chưa thể xác định được chính xác số lượng người bị phơi nhiễm dioxin trong chiến tranh Việt Nam
Trong nhiều năm qua, Bộ Quốc phòng đã phối hợp với nhiều cơ quan khác nhau có liên quan trong và ngoài nước tiến hành các nghiên cứu với mục đích xác định mức độ tồn lưu ô nhiễm dioxin; tác động sinh thái và đề xuất các biện pháp ngăn chặn sự lan truyền trong môi trường cũng như xử lý triệt để các điểm tồn lưu ô nhiễm dioxin với nồng độ cao
Tuy nhiên thực tiễn cho thấy giải quyết các vấn đề liên quan đến tồn lưu ô nhiễm dioxin là vấn đề đặc biệt phức tạp Đánh giá mức độ ô nhiễm, xác định mức
độ ảnh hưởng, rủi ro sinh thái và tác động đến sức khỏe con người là cơ sở đặc biệt quan trọng đối với hoạt động phòng ngừa, cải thiện ô nhiễm, xử lý triệt để - phục hồi môi trường và hạn chế tới mức thấp nhất tác hại của dioxin đối với con người Hiện nay, ở Việt Nam chưa có đủ các điều kiện đáp ứng được những yêu cầu, cần thiết về trang thiết bị, nguồn lực, để phục vụ cho việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tồn lưu ô nhiễm dioxin do vậy những dữ liệu khoa học mà chúng ta có được vẫn chưa đáp ứng được các tiêu chí để quốc tế công nhận Vì vậy, để đáp ứng những yêu cầu của thực tiễn thì việc tiếp tục có những nghiên cứu về thực trạng ô nhiễm, phân tích, đánh giá được nồng độ dioxin trong môi trường là cần thiết và đóng vai trò vị trí, quan trọng cho việc đề xuất các giải pháp quản lý, khắc phục ô nhiễm, giảm thiểu rủi ro sinh thái, rủi ro cho sức khỏe của con người cũng như giải quyết các vấn đề xã hội khác liên quan đến tồn lưu ô nhiễm dioxin
Xuất phát từ những vấn đề thực tế nêu trên, được sự nhất trí của Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đồng thời được
sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thế Hùng và TS Nguyễn Anh Tuấn, tôi đã
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm dioxin do chiến
tranh tại một số điểm tồn lưu ô nhiễm ở Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng ô nhiễm và bước đầu đề xuất mô hình đánh giá rủi ro
và giải pháp giảm thiểu ô nhiễm đối với môi trường do dioxin có nguồn gốc từ chất diệt cỏ mà quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh tại Việt Nam
Trang 123 Yêu cầu
- Thông tin, số liệu thu thập được phải đảm bảo tính trung thực, chính xác và
khách quan;
- Các phương pháp nghiên cứu áp dụng cho đề tài phải đảm bảo tính khoa học;
- Đánh giá đầy đủ, chính xác nồng độ dioxin tồn lưu đất trầm tích;
- Đề xuất mô hình đánh giá rủi ro ban đầu đối với môi trường do tồn lưu ô nhiễm dioxin có nguồn gốc từ chiến tranh;
- Giải pháp và kiến nghị đề xuất phải có tính thực tế, khả thi
4 Ý nghĩa của đề tài
Trang 13Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
* Khái niệm môi trường
Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật [11]
Theo UNESCO, môi trường được hiểu là “ toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người”
* Một số khái niệm liên quan
Theo Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2005 [11], các khái niệm về ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và chất thải được trình bày như sau :
- Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường, không phù hợp với các tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật
- Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật
- Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác
- Tồn lưu ô nhiễm môi trường:
Theo định nghĩa của Bộ Môi trường New Zealand: “Điểm ô nhiễm (contaminated site) là một vị trí/khu vực mà tại đó chất nguy hại xuất hiện ở nồng
độ cho phép và các đánh giá chỉ ra rằng nó gây ra, hoặc có tiềm năng gây ra rủi ro trung hạn hoặc dài hạn cho sức khỏe cộng đồng và môi trường”
Theo nhóm Quản lý tồn lưu ô nhiễm của Canada thì “Điểm ô nhiễm tồn lưu là
vị trí/khu vực mà chất ô nhiễm xuất hiện ở nồng độ cao hơn nồng độ thông thường
và gây ra, hoặc có thể gây ra, hoặc có thể gây ra các tác động nguy hại trung hạn hoặc dài hạn đến môi trường và sức khỏe cộng đồng, hoặc vượt quá tiêu chuẩn cho phép trong luật”
Trang 14Theo các Bộ: Mơi trường, Giao thơng vận tải, Năng lượng và Truyền thơng Thụy Sỹ thì “Điểm ơ nhiễm tồn lưu là những điểm bị ơ nhiễm mà dẫn tới những tác hại hoặc tổn thất, hoặc tiềm tàng nguy cơ gia tăng tác hại”
Luật Bảo vệ Mơi trường năm 1990 của Anh định nghĩa: “Điểm ơ nhiễm là mọi khu vực cĩ chứa các loại chất được xác định gây ra những tổn thương nghiêm trọng hoặc cĩ tiềm năng gây ra các tổn thương, hoặc gây ra ơ nhiễm hoặc cĩ thể gây ra ơ nhiễm cho các nguồn nước được kiểm sốt”
Ở Việt Nam, theo Đặng Kim Chi “Điểm ơ nhiễm tồn lưu là khu vực đã và đang tồn tại những chất ơ nhiễm, cĩ khả năng hoặc tiềm ẩn khả năng gây nhiễm độc mơi trường khí, nước, đất và sinh vật cũng như tới sức khỏe con người” (Hội thảo
xử lý ơ nhiễm tồn lưu Việt- Đức năm 2007)
- Rủi ro mơi trường: “Rủi ro" là "sự kết hợp các xác suất, hoặc tần suất xẩy
ra của một mối nguy hiểm (hazard) xác định và mức độ hậu quả xẩy ra [31]
Do vậy, cĩ thể hiểu rủi ro mơi trường là xác suất tác động cĩ thể cĩ của các yếu tố nguy hại tồn tại hoặc tiềm ẩn trong mơi trường (chất ơ nhiễm…) và mức độ tác động của các yếu tố nguy hại đĩ
"Rủi ro" = "Nguy hại" + "Tiếp xúc" [31]
- Đánh giá rủi ro mơi trường: là một kỹ thuật nhằm đánh giá một cách cĩ hệ thống các tác động cĩ hại thực tế hay tiềm tàng của các chất ơ nhiễm lên thực vật, động vật và tồn bộ hệ sinh thái [9]
- Quản lý rủi ro mơi trường: Quản lý rủi ro mơi trường là thiết lập và thực hiện chính sách phản ứng lại rủi ro và giảm bớt rủi ro sao cho chi phí kinh tế nhất Quản
lý rủi ro là cung cấp các thơng tin nguy cơ cho các nhà quản lý dự án để phục vụ cho việc ra quyết định [9] Do vậy, cĩ thể nĩi đĩ là một quá trình thực thi các quyết định về lựa chọn hay chấp nhận rủi ro
1.2 Cơ sở pháp lý
- Căn cứ Nghị quyết số 41 - NQ/TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ mơi trường trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghệ hĩa hiện đại hĩa đất nước;
Trang 15- Căn cứ luật BVMT 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006;
- Căn cứ Quyết định số 33/1999/QĐ - TTg ngày 01 tháng 3 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam;
- Quyết định số 67/2004/QĐ - TTg ngày 27 tháng 4 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về kế hoạch hành động giai đoạn 2004 - 2010 khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam;
- Quyết định số 251/2005/QĐ - TTg ngày 12 tháng 10 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về kiện toàn Ban Chỉ đạo quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam;
- Căn cứ Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 theo Quyết định số 256/2003/QĐ ngày 02 tháng 12 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường;
- Căn cứ Quyết định 184/2006/QĐ - TTg về việc thực hiện Công ước Stockholm tại Việt Nam về quản lý các hợp chất POPs;
- Căn cứ Kế hoạch số 70 - KH/TU ngày 28 tháng 04 năm 2005, thực hiện Nghị quyết số 41 - NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá IX) về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước
1.3 Cơ sở lí luận
* Giới thiệu chung về dioxin
Dioxin là tên gọi chung của một nhóm hàng trăm các hợp chất hóa học tồn tại bền vững trong môi trường cũng như trong cơ thể con người và các sinh vật khác Tùy theo số nguyên tử Cl và vị trí không gian của những nguyên tử này, dioxine có
75 đồng phân PCDD (poly-chloro-dibenzo-dioxines) và 135 đồng phân PCDF (poly
- chloro -dibenzo - furanes) với độc tính khác nhau Theo Công ước Stockhoml năm
1972, dioxine còn bao gồm nhóm các PCBs (polyclobiphenyles), là các chất tương tự dioxine, bao gồm 419 chất hóa học trong đó có 29 chất đặc biệt nguy hiểm Trong số các hợp chất dioxin, TCDD là nhóm độc nhất TCDD và các dioxin khác được hình
Trang 16thành như một phụ phẩm của các quá trình hoá học, từ những hiện tượng tự nhiên như núi lửa phun, cháy rừng đến các quá trình nhân tạo như sản xuất hoá chất, thuốc trừ sâu, thép, sơn, giấy, quá trình thiêu và toả khói Dioxin là sản phẩm phụ của nhiều quá trình sản xuất chất hóa học công nghiệp liên quan đến clo như các hệ thống đốt chất thải, sản xuất hóa chất và thuốc trừ sâu và dây truyền tẩy trắng trong sản xuất giấy [20] Trong những năm chiến tranh, quân đội Mỹ đã sử dụng hơn 20 loại chất diệt cỏ có chứa hàm lượng dioxin cao để phun rải xuống nhiều vùng thuộc miền Trung và Nam nước ta [34]
Hình 1.1 Cấu trúc của của một số đồng phân dioxin
* Tính chất hóa lý
Dioxin rất bền vững không bị phận hủy dưới tác dụng của axit mạnh, kiềm mạnh, các chất [O] Dioxin rất ít bay hơi ở t0 thường tan tốt trong các dung môi ko phân cực như n - hexane, tan rất ít trong dung môi phân cực như acetone và hầu như
ko tan trong nước (khoảng ~ 0.2 microgam /l nước) Chu kỳ bán hủy của dioxin từ
5 - 7 năm và có thể lên đến 12 năm Dioxin là các hợp chất hữu cơ không mùi,
Trang 17không màu, chứa cacbon, hidro, oxi và clorin Có khoảng 210 hợp chất dioxin khác nhau,tùy theo số nguyên tử Cl và vị trí không gian của những nguyên tử nà, dioxin
có 75 đồng phân PCDD (poly - chloro -dibenzo - dioxines) và 135 đồng phân PCDF (poly - chloro - dibenzo - furanes) với độc tính khác nhau Dioxine còn bao gồm nhóm các PCB (poly-chloro-biphenyles), là các chất tương tự dioxin, bao gồm 419 chất hóa học trong đó có 29 chất đặc biệt nguy hiểm , nhưng chỉ có 17 hợp chất là độc Tiêu biểu và độc hại nhất là: dioxin 2,3,7,8 -tetra-clorodibenzen-p-dioxin, viết tắt là 2,3,7,8 –TCDD [20] Đối với môi trường đất thì chu kỳ bán hủy của dioxin trong đất là khoảng 10 năm Theo những nghiên cứu của D.Pautenbach (1992) và R.Puri (1989,1990), trên lớp đất bề mặt thì chu kỳ bán hủy của dioxin dao động trong khoảng từ 9 đến 25 năm, còn ở các lớp đất sâu hơn thì chu kỳ đó dao động trong khoảng từ 25 đến 100 năm [23] Dioxin khó tan trong nước nên hầu như được
đi vào cơ thể con người qua chuỗi thức ăn Dioxin tan một phần trong chất béo (dung môi ko phân cực hoặc ít phân cực) và tan mạnh trong các dung môi hữu cơ như dầu hỏa, diezen Chúng gắn với các chất hữu cơ và được hấp thụ vào mô mỡ của tế bào sinh vật Khi đã vào cơ thể con người dioxin nhanh chóng gắn với những phân tử protein trong màng tế bào Sau khi kết hợp với các thụ thể này dioxin nhanh chóng được di chuyển và bào tương và nhân tế bào Theo các quá trình sinh lý, hóa sinh xảy ra trong cơ thể sinh vật thì dioxin tích lũy và tồn lưu trong thời gian dài Dioxin có áp suất bay hơi rất thấp, chỉ bằng 1,7.10-6 mmHg ở 25oC, dioxin có điểm nóng chảy cao khoảng 305o
C và khả năng tan trong nước khoảng 0,2 µg/l Về mặt ổn định nhiệt thì hợp chất này ổn định nhiệt đến khoảng 750oC Ngưỡng nhiệt độ để phân hủy hoàn toàn dioxin khoảng 1000 - 1300 oC
* Nguồn phát thải dioxin
Đầu thế kỷ 20, khi công ty Dow Chemical Midland ở Mỹ thành công trong việc nghiên cứu và tách chiết khí clo từ dung dịch muối ăn Từ thời điểm đó clo đã được sử dụng để tổng hợp nên các loại hóa chất như: thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, các hợp chất dẻo-polyvinyl Việc tổng hợp thành công và đưa vào sử dụng những hợp chất này được xem như là một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tại thời điểm
đó Trong các hợp chất là thuốc diệt cỏ thì dioxin được tìm thấy nhiều nhất, ước
Trang 18tính nồng độ khoảng 2ppm Dioxin chủ yếu được tạo ra là do sản phẩm phụ phát thải của các quá trình sản xuất công nghiệp nhưng cũng có thể là kết quả của quá trình tự nhiên, như vụ phun trào núi lửa và cháy rừng có liên quan đến clo Dioxin
là sản phẩm phụ không mong muốn của một loạt các quy trình sản xuất bao gồm nấu chảy, clo tẩy trắng bột giấy và sản xuất của một số chất diệt cỏ và thuốc trừ sâu Ngày nay, các lò đốt rác thải công nghệ cũ, lạc hậu thường là những nguồn phát thải dioxin phổ biến, do quá trình đốt cháy phản ứng cháy không có đủ nhiệt độ để diễn
ra hoàn toàn Dù là công nghệ đã cho phép để thiêu đốt chất thải được kiểm soát với lượng khí thải thấp
Đặc điểm tạo thành dioxin của các nguồn phát thải từ hoạt động công nghiệp
và dân sinh cụ thể như sau [10]:
- Sự tạo thành dioxin đặc thù trong chất da cam do quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam: Theo đó quy trình sản xuất chất da cam theo công nghệ trước đây cần phải sử dụng tiền chất là tetra-chlorobenzen (TeCB) đã tạo ra một lượng đáng kể dioxin, trong đó thành phần chủ yếu là 2,3,7,8-TCDD Đối với quá trình này quân đội Mỹ đã đẩy nhiệt độ tổng hợp lên cao hơn nhằm mục đích tạo ra lượng dioxin lớn hơn
Hình 1.2 Cơ chế tạo ra sản phẩm phụ 2,3,7,8-TCDD
- Các quá trình có sử dụng nhiệt và phản ứng cháy: Hình thành theo 3 cơ chế; Thứ nhất, do sự phân hủy không hoàn toàn các hợp chất dioxin có sẵn trong thành phần tham gia phản ứng cháy, nguyên nhân là do quá trình đốt hiệu quả thấp, công nghệ đốt và hệ thống kiểm soát ô nhiễm trong quá trình đốt kém
Trang 19Thứ hai, dioxin hình thành trong lò thông qua các phản ứng hóa học giữa các hợp chất hydrocacbon có cấu trúc nhân thơm với các hợp chất có chứa clo
Thứ ba, phản ứng tổng hợp từ dầu hình thành dioxin từ carbon đơn giản và clo vô cơ, đây thực chất là quá trình phân nhỏ và biến đổi của các phân tử có cấu trúc carbon lớn sang các hợp chất vòng (aromatic) [26]
- Các quá trình công nghiệp khác: Một số ngành công nghiệp khác có khả năng phát thải ra dioxin là các ngành công nghiệp ximăng - tận dụng các nguyên liệu đốt như dầu cặn, dầu thải, vỏ lốp xe ; dệt nhuộm và may mặc - do sử dụng các hóa chất nhuộm đa số có chứa các nhóm chức hữu cơ và các công đoạn tẩy trắng thường sử dụng hóa chất tẩy có chứa clo; ngành công nghiệp sản xuất giấy - quy trình sản xuất giấy sử dụng hợp chất chlorophenols, hợp chất này được coi là chất tiền dioxin
* Sự tồn tại, phân bố và lan truyền của dioxin trong môi trường
Các hợp chất POPs nói chung và dioxin nói riêng, khi tồn tại trong môi
trường, chúng dễ dàng luân chuyển giữa không khí, đất và nước
Trong môi trường không khí, dioxin tồn tại ở cả 2 trạng thái: hơi (pha khí) và hấp phụ vào các hạt rắn (pha rắn) lơ lửng trong không khí Trong môi trường nước, dioxin được gắn vào các hạt rắn lơ lửng và các hạt trầm tích Sự phân bố dioxin giữa các môi trường không khí, đất và nước không ổn định Như vậy, có thể thấy do khả năng hòa tan trong nước thấp (khoảng 0,2 microgram/lít) cho nên trong môi trường dioxin chủ yếu tồn tại ở pha rắn và pha khí
Các hợp chất dioxin di chuyển vào không khí do sự phát thải trực tiếp hoặc do
sự phát tán bụi từ mặt đất Sau một thời gian dioxin sẽ được đưa trở lại đất và nước bởi sự lắng đọng qua bụi, mưa và tuyết Trong nước, dioxin có thể được di chuyển bởi dòng nước, tích lũy ở trầm tích hoặc đáy các thủy vực hoặc gắn với các phần tử
lơ lửng trong nước, một phần bay hơi vào không khí
Do có tính tương thích cao với các chất hữu cơ nên dioxin sẽ tập trung chủ yếu ở các khu vực có hàm lượng hữu cơ cao Hàm lượng clo trong phân tử càng cao thì càng dễ phân bố vào trong đất, trầm tích và chất hữu cơ Tính tương thích với các hợp chất hữu cơ của dioxin tăng lên khi số lượng nguyên tử clo trong phân tử dioxin tăng lên
Trong môi trường nói chung và môi trường nước nói riêng, thì thông qua chuỗi thức ăn lượng dioxin sẽ được khuyếch đại sinh học
Trang 20Trong môi trường đất dioxin được tìm thấy nhiều nhất trong một số loại đất, cặn lắng Các vùng tồn lưu dioxin ở nồng độ cao sau 30 năm thường là các vùng đất ngập nước, đất có pH<3,5 (đất rất chua, phèn) vì vậy khó có thể tìm thấy loại vi sinh vật nào tồn tại, thích nghi và phát triển hữu hiệu trong điều kiện này Như vậy,
có thể nhận thấy tại các vùng đất này thì dioxin tồn lưu với hàm lượng rất cao và trong thời gian dài Quá trình tồn tại trong môi trường đất, vì tính tương thích cao với các hợp chất hữu cơ cho nên dioxin có khả năng liên kết với các hợp chất hữu
cơ trong đất, đặc biệt là các hợp chất ô nhiễm hữu cơ và đối với các loại đất có hàm lượng mùn cao Ở Việt Nam, một số vùng dioxin đã và đang thấm sâu vào các tầng đất phía dưới khiến cho việc phân tích, xác định gặp rất nhiều khó khăn Hàm lượng dioxin trong đất tại các vùng này rất cao do vậy làm gia tăng khả năng phơi nhiễm Đây là một trong những nguyên nhân làm cho vấn đề ô nhiễm dioxin trở nên phức tạp
Đối với môi trường đất và dinh dưỡng cây trồng thì sự có mặt của dioxin sẽ thúc đẩy nhanh quá trình phân hủy dinh dưỡng ở các lớp đất màu mỡ trên bề mặt, làm thay đổi thành phần và tính chất thổ nhưỡng của đất Chính điều này đã dẫn đến hậu quả là sự phục hồi của thảm thực vật tại các khu vực bị ô nhiễm diễn ra một cách chậm chạp và bị biến đổi mạnh mẽ, dẫn đến phá hủy cân bằng sinh thái của môi trường đất [6] Trong môi trường nước, do đặc tính vật lý ít tan trong môi trường nước (<0,2µg/l) cho nên dioxin ít được tìm thấy ở dạng hòa tan trong nước Các phần
tử dioxin chủ yếu tồn tại ở trạng thái lơ lửng, bám vào các loại rong rêu, tồn tại trong các dạng trầm tích, bùn ở đáy của các thủy vực hoặc ngấm vào lòng đất, do vậy tồn lưu lâu hơn trong môi trường
Trong môi trường không khí, tương tự như các hợp chất POPs khác dioxin tồn tại chủ yếu ở hai pha là pha khí (dạng hơi) và pha rắn (bám vào các hạt bụi) có trong môi trường không khí Một ví dụ cụ thể liên quan đến ô nhiễm dioxin trong môi trường không khí là: Vào năm 1976, một tai nạn nghiêm trọng đã xảy ra tại nhà máy hóa chất
ở Seveso, Ý, tai nạn này đã làm cho một lượng lớn dioxin được phát tán vào môi trường không khí, tạo nên đám mây hóa chất độc hại với thành phần chủ yếu là 2,3,7,8-Tetrachlorodibenzo-p-dioxin, gây ô nhiễm một diện tích khoảng 15 km2, ảnh hưởng đến 37000 người [17] Đây được xem là thảm họa môi trường nghiêm trọng nhất trong lịch sử nước Ý
Trang 21* Ảnh hưởng của dioxin đến con người và động vật
Dioxin có khả năng di chuyển và tích lũy trong thực phẩm, quá trình đó còn làm gia tăng các hiệu ứng sinh học của dioxin trong chuỗi thức ăn Thông qua chuỗi thức ăn, dioxin sẽ được tích lũy với khả năng khuyếch đại theo cấp số nhân ở các bậc dinh dưỡng cao hơn trong chuỗi thức ăn Đối với cơ thể động vật và con người, dioxin có thể xâm nhập qua đường tiêu hóa, qua đường hô hấp, qua da, nhau thai và sữa mẹ [24] Tuy nhiên, đối với thực vật thì rất hiếm khi phát hiện thấy sự có mặt của dioxin trong thực vật do đặc tính ít hòa tan trong nước và vì thế không thể hút lên bởi
hệ rễ ở thực vật
Trong cơ thể động vật và con người, khi xâm nhập vào cơ thể do đặc tính tương thích với các hợp chất hữu cơ cho nên dioxin chủ yếu tồn tại ở dạng tích lũy tại các mô mỡ [37] Tiếp xúc với dioxin ở nồng độ cao có thể gây tổn thương da và thay đổi chức năng gan ở người Tiếp xúc trong thời gian dài gây nên các thay đổi đối với hệ thống miễn dịch, hệ thần kinh, các hệ thống của tuyến nội tiết và ảnh hưởng tới hệ thống cũng như chức năng sinh sản Do tính chất dễ tan trong các mô
mỡ cho nên khi xâm nhập vào cơ thể bằng con đường tiêu hóa, hô hấp dioxin dễ dàng thấm qua màng ruột và phổi vào hệ tuần hoàn; tuy nhiên thời gian tồn lưu của dioxin trong máu tương đối ngắn do máu sẽ trực tiếp đưa dioxin đến các mô mỡ của các cơ quan trong cơ thể Quá trình chuyển hóa dioxin trong cơ thể diễn ra dưới tác động oxi hóa của men gan, cơ chế oxi hóa này sẽ cắt vòng của phân tử dioxin tại vị trí nhóm thế clo 1,6 để tạo nên các sản phẩm dễ tan hơn và đào thải chúng ra khỏi
cơ thể qua nước tiểu
Bên cạnh đó, khi tồn tại trong tế bào động vật dioxin còn có khả năng tạo phức với các AhR (Aryl nuclear Translocator) để tạo nên phức dioxin - AhR - tARN (ARN thông tin) [13], [25] Phức này càng bền thì độ độc của đồng phân dioxin đó càng cao, phức hợp này có khả năng kết hợp với các protein vận chuyển để xâm nhập vào nhân tế bào tại đây dioxin sẽ tự động can thiệp vào quá trình đóng mở một số gen giải độc quan trọng của tế bào Khi tồn tại trong nhân tế bào, dioxin sẽ tác động lên các gen quy định cấu trúc của phân tử protein trên phân tử ADN Sự tác động đó sẽ làm rối loạn quá trình sinh tổng hợp và thay đổi cấu trúc của một số protein quan trọng như: Protein sửa chữa lỗi sai trong quá trình tự sao tổng hợp nên các phân tử ADN mới, các protein đóng vai trò điều chỉnh quá trình sinh trưởng và phát triển của tế bào, emzim tham gia chuyển hóa các độc tố dẫn đến khả năng gây đột biến gen và ung thư của các độc tố khác có trong môi trường [22]
Trang 22Bảng 1.1 Hàm lượng TCDD và độ độc tương tương (ppt) trong máu người Việt
Nam (1991 - 1992)
Vùng lấy mẫu n TCDD TEQ
(Nguồn: Văn phòng 33, 2010)
Đối với hệ thống di truyền ở cơ thể động vật nói chung thì một thí nghiệm trên chuột cho thấy: dioxin làm tăng nồng độ các gốc ion tự do trong tế bào, đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự hủy hoại cấu trúc tế bào, hủy hoại các protein quan trọng
và có thể gây nên đột biến gen trên phân tử ADN Đối với hoocmon sinh dục nữ thì dioxin liên kết với các thụ thể ER là thụ thể hoocmon sinh dục nữ làm rối lọan chức năng sinh sản, tăng khả năng ung thư buồng trứng, ung thư tử cung, ung thư vú và gây biến đổi giới tính đối với các thế hệ tiếp theo [25]
Hình 1.3 Cấu trúc của phức hợp dioxin receptor
Hình 1.4 Cơ chế gây độc của TCDD trong tế bào
Trang 23Năm 1996, tổng thống Mĩ đương nhiệm lúc đó là Bill Clinton đã chính thức thừa nhận chất độc da cam gần như là nguyên nhân của 13 chứng bệnh nan y ở người là: Ung thư tuyến tiền liệt, ung thư máu, ung thư thận, ung thư não, ung thư đường tiêu hóa tiểu đường loại 2 và bệnh thần kinh ngoại biên
Bảng 1.2 Danh mục các bệnh ở người liên quan đến phơi nhiễm dioxin
1 Ung thư phần mềm Soft tissue sarcoma
2 U lympho không Hodgkin Non – Hodgkin’s lymphoma
3 U lympho Hodgkin Hodgkin’s disease
4 Ung thư phế quản - phổi Lung and Bronchus cancer
5 Ung thư khí quản Trachea cancer
6 Ung thư thanh quản Larynx cancer
7 Ung thư tiền liệt tuyến Prostate cancer
8 Ung thư gan nguyên phát Primary liver cancers
9 Bệnh đa u tủy xương ác tính Kahler’s disease
10 Bệnh thần kinh ngoại biên cấp tính
và bán cấp tính Acute and subacute peripheral neuropathy
11 Tật gai sống chẻ đôi Spina Bifida
12 Bệnh trứng cá do clo Chloracne
13 Bệnh đái tháo đường type 2 Type 2 Diabetes
14 Bệnh Porphyrin xuất hiện chậm Porphyria cutanea tarda
15 Các bất thường sinh sản Unusual births
16 Các dị dạng, dị tật bẩm sinh (đối với con của người bị nhiễm chất độc hóa học/dioxin)
17 Rối loạn tâm thần Mental disorders
(Nguồn: Bộ Y tế, 2008)
Các báo cáo của EPA đã công nhận dioxin là một chất gây ung thư cho con người Năm 1997, Tổ chức quốc tế về nghiên cứu ung thư (IARC) thuộc WHO đã công bố 2,3,7,8-TCDD là chất gây ung thư nhóm 1 (nghĩa là nhóm đã được công nhận là gây ung thư) [38] Đồng thời, tháng 1 năm 2001, chương trình Độc học Quốc gia Hoa Kỳ đã chuyển dioxin vào nhóm "các chất gây ung thư cho người"
Trang 24Bảng 1.3 Các giá trị TEF của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trong đánh giá rủi ro
đối với con người
Chất đồng dạng Giá trị
TEF Dibenzo-p-dioxins
(PCDDs)
"dioxin-like" PCBs Non-ortho PCBs + Mono-ortho PCBs
Trang 25Trong một nghiên cứu kiểm định năm 2003, các nhà khoa học cũng khẳng định không có một liều lượng nào là an toàn hoặc ngưỡng dioxin mà dưới nó thì không gây ung thư Điều này có thể hiểu là nếu một người phơi nhiễm dioxin dù lượng nhỏ nhất thì đã mang trong mình hiểm họa ung thư Ở Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành danh mục các bệnh có liên quan đến dioxin nhằm phục vụ công tác giải quyết hậu quả do chiến tranh hóa chất tại mà quân đội Mĩ tiến hành tại Việt Nam (1961 -1971) Ngoài ung thư, dioxin còn có thể liên quan đến một số bệnh nguy hiểm khác như bệnh rám da, bệnh đái tháo đường, bệnh ung thư trực tràng không Hodgkin, thiểu năng sinh dục cho cả nam và nữ, sinh con quái thai hoặc thiểu năng trí tuệ, chửa trứng (ở nữ) Cơ chế phân tử của dioxin tác động lên các tế bào và cơ thể người, động vật vẫn đang còn nhiều tranh cãi về chi tiết Thời gian bán phân huỷ của dioxin trong cơ thể động vật là 7 năm hoặc có thể lâu hơn Thông thường, dioxin gây độc tế bào thông qua một thụ thể chuyên biệt cho các hydratcarbon thơm
có tên là AhR (Aryl hydrocarbon Receptor) Phức hợp dioxin - thụ thể sẽ kế hợp với protein vận chuyển ArnT (AhR nuclear Translocator) để xâm nhập vào trong nhân
tế bào [13] Tại đây dioxin sẽ gây đóng mở một số gene giải độc quan trọng của tế bào như Cyp1A, Cyp1B, Đồng thời, một số thí nghiệm trên chuột cho thấy dioxin làm tăng nồng độ các gốc ion tự do trong tế bào Điều này, có thể là làm phá huỷ các cấu trúc tế bào, các protein quan trọng và, quan trọng hơn cả, nó có thể gây đột biến trên phân tử AND [25] Trong một đánh giá về rủi ro và nghiên cứu các vấn đề chính sách được đưa ra trong Hội nghị Quốc tế về dioxin tổ chức tại Berlin, 2004, nhóm tác giả đến từ Cục Môi trường Liên bang Đức đã đưa ra kiến nghị không có mức phơi nhiễm dioxin tối thiểu nào có độ an toàn cho phép Theo WHO thì mức phơi nhiễm dioxin cho phép qua thức ăn của mỗi người là 1-10 pg đương lượng độc (TEQ)/ngày [38]
1.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Các nghiên cứu về dioxin đã được tiến hành rất nhiều trong thế giới về đặc tính, mức độ phơi nhiễm, ảnh hưởng phơi nhiễm, đánh giá rủi ro môi trường Do
Trang 26tính chất vô cùng nguy hại của dioxin mà nó được đưa vào chương trình quản lý
hóa chất độc hại ưu tiên của hầu hết các nước trên thế giới
Nhận thức được những rủi ro lớn mà dioxin gây ra, hầu hết các nước trên thế giới đều xây dựng kế hoạch quốc gia về dioxin Chính phủ Úc công bố Kế hoạch quốc gia về dioxin vào năm 2001 [18], để giảm dioxin và các chất giống dioxin trong môi trường Một trong những chương trình ưu tiên là nâng cao kiến thức cộng đồng về dioxin Chính phủ Úc đã tiến hành một loạt các nghiên cứu (2001 - 2004), để đo lượng khí thải từ các nguồn như cháy rừng, mức độ dioxin trong thực phẩm, môi trường và khu dân cư Những phát hiện của các nghiên cứu này đã được sử dụng để xác định nguy cơ rủi ro dioxin gây ra cho sức khỏe của con người
Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện việc giám sát nồng độ dioxin có trong thực phẩm Các giám sát này đã phát huy được hiệu quả khi phát hiện được nhiều sự cố ô nhiễm dioxin trong thực phẩm
Tại Hà Lan năm 2004, phát hiện được nồng độ dioxin gia tăng trong sữa bò, nguyên nhân được xác định là do đất sét bị nhiễm dioxin được sử dụng trong quá trình sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc Vụ việc tương tự cũng đã xảy ra và được phát hiện năm 2006, nguyên nhân là do sử dụng mỡ động vật nhiễm dioxin trong sản xuất thức ăn chăn nuôi Năm 2008 tại Ireland, chương trình kiểm soát ô nhiễm trong thực phẩm của quốc gia này đã phát hiện hàng trăm tấn thịt lợn bị nhiễm dioxin với nồng độ cao gấp 200 lần so với ngưỡng an toàn cho phép theo tiêu chuẩn của WHO Các nghiên cứu sau đó cho thấy, nguyên nhân ô nhiễm có nguồn gốc từ thức ăn chăn nuôi bị nhiễm dioxin [24] Đây chính là những minh chứng quan trọng
về sự phơi nhiễm dioxin thông qua chuỗi thức ăn
Trang 27Những nghiên cứu trên thế giới về dioxin trong thời gian gần đây chủ yếu tập trung vào vấn đề giảm nhiễm độc hay phơi nhiễm dioxin ở người Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xác định giảm nhiễm độc dioxin là một trong những mục tiêu quan trọng trong các mục tiêu của y tế cộng đồng Từ năm 1976, WHO đã chủ trì và chịu trách nhiệm đối với Hệ thống chương trình giám sát và đánh giá ô nhiễm thực phẩm toàn cầu (GEMS) [24], trong hệ thống này thì dioxin là một phần quan trọng của chương trình giám sát và đánh giá Thông qua hệ thống mạng lưới các phòng thí nghiệm tham gia chương trình của hơn 70 quốc gia, chương trình đã thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá và cung cấp những thông tin quan trong về mức độ và xu hướng diễn biến của các chất ô nhiễm có trong thực phẩm, trong đó có dioxin Năm 1987, WHO cũng đã bắt đầu triển khai chương trình nghiên cứu định kỳ
về mức độ ô nhiễm dioxin, các nghiên cứu này tập trung chủ yếu ở các nước châu
Âu Thông qua việc đánh giá định kỳ về hàm lượng dioxin có trong mẫu sữa người, những nghiên cứu này đã cung cấp những đánh giá quan trọng cho vấn đề phơi nhiễm dioxin ở người từ tất cả các nguồn tiếp xúc Trong đó, các biện pháp kiểm soát tiếp xúc với dioxin và tránh phơi nhiễm được áp dụng tại một số quốc gia được đánh giá là phát huy hiệu quả đáng kể Trong những hoạt động gần đây nhất, Ủy ban chuyên gia về phụ gia thực phẩm của FAO/WHO đã thực hiện việc đánh giá rủi
ro toàn diện đối với PCDDs, PCDFs và các chất giống dioxin [38] Mục đích của hoạt động này là nhằm xác định một ngưỡng nồng độ dioxin an toàn khi bị phơi nhiễm mà không phát hiện được những ảnh hưởng đối với sức khỏe con người
Về ô nhiễm tồn lưu, điểm ô nhiễm tồn lưu có thể được coi là một khái niệm không còn mới mẻ đối với cả các nước phát triển Ví dụ như tại Đức, đã có hơn 50.000 điểm ô nhiễm do công nghiệp được xác định Tại Mỹ, có khoảng hơn 100.000 điểm nghi ngờ ô nhiễm với khoảng 10.000 điểm được xếp hạng ưu tiên xem xét Vì vậy, nếu như những năm 80, phục hồi môi trường và giải quyết hậu quả môi trường là ưu tiên được đặt lên hàng đầu, thì đến nay, mặc dù việc bảo vệ ô nhiễm đất và nước ngầm đã được quy định thành luật, nhưng chiến lược quản lý các điểm ô nhiễm tồn lưu đã chuyển dần sang hướng tìm kiếm phương cách sử dụng phù hợp hơn là tập trung mọi phương tiện kỹ thuật và kinh tế để phục hồi điểm ô nhiễm tồn lưu đến nồng độ thông thường, hoặc ở mức có thể chấp nhận được với mọi hình thức sử dụng đất
Trang 28Cho đến nay, điểm ô nhiễm tồn lưu vẫn là một trọng tâm của các chiến lược môi trường quốc gia hoặc các chương trình môi trường ở châu Âu và Bắc Mỹ Toàn
bộ các vấn đề về điểm ô nhiễm tồn lưu, hoặc các chương trình quốc gia về quản lý điểm ô nhiễm tồn lưu mới chỉ được luật hóa trong những năm cuối thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21, cho thấy chúng không phải là những vấn đề có thể được giải quyết dễ dàng Trong công tác quản lý hóa chất độc hại và quản lý các điểm ô nhiễm tồn lưu, đánh giá rủi ro và quản lý rủi ro đã trở thành công cụ quản lý ngày càng quan trọng, việc sử dụng các đánh giá rủi ro môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc ra các quyết định chính sách và quy định trong quản lý môi trường: Thiết kế các quy định, ví dụ xác định mức độ rủi ro được xã hội chấp nhận, nó có thể là cơ sở để xây dựng tiêu chuẩn môi trường; Cung cấp cơ sở cho việc ra quyết định về địa điểm dự án, ví dụ quy hoạch sử dụng đất hoặc lựa chọn địa điểm lắp đặt nhà máy xử lý chất thải nguy hại; Xác định các rủi ro môi trường ưu tiên; So sánh các rủi ro, ví dụ so sánh giữa các nguồn tài nguyên, giữa các loại rủi ro hoặc giữa các quyết định về rủi ro Hiện nay, WHO đang phối hợp với Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc trong vấn đề thực hiện các cam kết của Công ước Stockholm về kiểm soát các hợp chất ô nhiễm hữu cơ bền vững POPs, trong đó có dioxin
1.4.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Trong chiến tranh hóa chất ở Việt Nam, quân đội Mĩ đã sử dụng một số loại hóa chất diệt cỏ với tên gọi như sau [2], [3]:
- Chất da cam: là một hỗn hợp có tỉ lệ 1/1 của các chất 2,4-D diclorophenoxyaxeticaxit) và 2,4,5-T (2,4,5- Triclorophenoaxeticaxit) Trong suốt cuộc chiến tranh, quân đội Mĩ đã sử dụng tới 44,338 triệu lít (64%) tổng lượng chất độc đã được sử dụng, tương đương với 170 kg dioxin chất cực độc phát sinh trong quá trình sản xuất 2,4,5-T
(2,4 Chất trắng: là một hỗn hợp gồm 2,4(2,4 D và picloran được sử dụng tới 12,835 triệu lít
- Chất xanh lam: là một hỗn hợp của natrietylmetyl arsenat (Na.cacodylate) và dimetylarsenataxit (acodylic) được sử dụng tới 8,182 triệu lít
- Các thuốc diệt cỏ loại clorophenoxy có: 2,4,5-triclophenoxyaxeticaxit T) và 2,4- diclophenylaxeticaxit (2,4-D) đã được sản xuất và sử dụng trên phạm vi rộng để diệt cỏ dại, một số loại thực vật và chất làm rụng lá sử dụng trong quân sự
Trang 29(2,4,5 TCDD (2,3,7,8) – Tetraclodibenzo(2,4,5 p(2,4,5 dioxin được tạo ra trong quá trình sản xuất một số hợp chất thơm và các hợp chất hữu cơ halogen có chứa oxy như các chất diệt cỏ clorophenoxy và hexaclophen mà cho đến những năm 1960 người ta vẫn còn sử dụng quá trình sản xuất này
- Các hợp chất dioxin có thể có tới 75 dẫn xuất khi thay thế từ 1- 8 nguyên tử clo vào vị trí của các nguyên tử hydro trong cấu trúc phân tử trong đó đáng chú ý nhất là TCDD (2,3,7,8 - TCDD), là một trong những chất độc nguy hiểm nhất trong tất cả các chất tổng hợp đối với một số động vật kể cả con người
Các nhà khoa học thế giới và Việt Nam đã hợp tác nghiên cứu về dioxin từ những năm 1970 đến nay Có thể tổng hợp các kết quả nghiên cứu theo từng giai đoạn như sau [2]:
* Giai đoạn 1962-1971
Trong giai đoạn 1962 - 1971, quân đội Mỹ và quân đội Nam Việt Nam đã phun rải chất diệt cỏ trong đó có dioxin làm ô nhiễm một số khu vực miền Nam Việt Nam với mục đích làm rụng lá để phá huỷ những khu rừng có thể làm nơi ẩn nấp và cung cấp lương thực cho kẻ thù
Khoảng 85% chất da cam được coi là có nguồn gốc từ những vụ phun rải bằng máy bay trong chiến dịch Ranch Hand Lượng còn lại là từ các vụ phun rải bằng tay, bằng trực thăng hay bằng tàu chiến của hải quân
Bảng 1.4 Hàm lượng 2,3,7,8 - TCDD trong cá, giáp xác và thực phẩm Mỹ đã
nhập khẩu ở Việt Nam
Loại thực phẩm Năm Nơi lấy mẫu Nồng độ TCDD
ppt/kg
Mẫu tai siêu thị 1990 Dallas, Texas < 0,1
(Nguồn: Văn phòng 33, 2010)
Hàm lượng TCDD trung bình cho phép có trong chất da cam là khoảng 3 ppm Năm 1970, các nhà khoa học đã tiến hành lấy mẫu sữa và cá tại các khu vực bị phun rải Kết quả phân tích đã tìm thấy hàm lượng TCDD có nguồn gốc từ chất da cam cao nhất là 1.850 ppt/g mỡ trong sữa, trong mẫu đất lấy ở khu vực Biên Hoà lên tới
Trang 301.000.000 ppt [2] Theo kết quả nghiên cứu của một nhóm các nhà khoa học Việt Nam, Mĩ, Đức về kết quả nghiên cứu về dioxin từ năm 1970 đến nay [2], hàm lượng TCDD có trong mẫu sữa người lấy tại Việt Nam và Mĩ được biểu thị cụ thể như sau:
Bảng 1.5 Hàm lượng 2,3,7,8 - TCDD trong sữa lấy tại Việt Nam và Mỹ
Nơi lấy mẫu n Năm Hàm lƣợng (ppt, lipid)
Binghamton, NY, USA và
Los Angeles, CA, USA 42 (Trung bình) 1980 3,3
sự trong nhiều bệnh viện; Uỷ ban 10-80 chuyên nghiên cứu về hậu quả chất diệt cỏ
sử dụng trong thời gian chiến tranh; cùng toàn thể các nhà khoa học từ nhiều quốc gia Mỹ, Đức, Canada, Pháp, Nhật, Nga [2]
Mẫu phân tích dioxin trong tế bào người được thực hiện bởi Tiến sĩ John Jake Ryan cho thấy sự tăng hàm lượng dioxin trong tế bào người và các mẫu sinh học khác Kết quả cũng tương tự như phân tích của Olaf Paepke tại phòng thí nghiệm ERGO Humburg, Đức Đã có nhiều cuộc hội thảo quốc tế về vấn đề này được tổ chức tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh dưới sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, các chuyên gia về môi trường và Chính phủ Việt Nam
Trang 31Nhóm chuyên gia về môi trường Hatfield của Canada đã thực hiện nghiên cứu đánh giá ô nhiễm dioxin TCDD trong đất, trầm tích, thực phẩm và con người tại một số vùng ở Việt Nam
* Giai đoạn 1998 – 2000
Giáo sư Hoàng Trọng Quỳnh đã thực hiện tiếp nghiên cứu cùng với Arnold Schecter, John Constable và Olaf Paepke [2] Nghiên cứu này đã chỉ ra hàm lượng TCDD trong mẫu máu và mỡ của người dân quanh khu căn cứ và khu chứa lên tới
400 ppt Trong mẫu cá, vịt và nhiều động vật khác được sử dụng làm thực phẩm đều
có hàm lượng TCDD khá cao Nghiên cứu này cho thấy việc sử dụng những thực phẩm bị ô nhiễm có nguồn gốc từ động vật càng làm tăng ô nhiễm TCDD có nguồn gốc từ chất da cam trong cơ thể người Trầm tích và nước là hai nguồn ô nhiễm đầu tiên, tiếp theo là các loài động vật khiến cho những sinh vật này bị nhiễm độc Tương tự dioxin sẽ vào trong cơ thể người qua chuỗi thức ăn Nhóm chuyên gia của Hatfield Canada đã tìm thấy sự tăng hàm lượng TCDD trong cơ thể người, trong thực phẩm, trong môi trường xung quanh sân bay gần các điểm ô nhiễm
* Giai đoạn 2000 - 2008
Trọng tâm của hướng nghiên cứu trong giai đoạn này là giảm thiểu ô nhiễm dioxin tại các điểm nóng và những khu vực có hàm lượng dioxin cao tại các sân bay Quỹ Ford, dưới sự chỉ đạo của ngài Charles Bailes và các cộng sự đầu tư cho hướng nghiên cứu này Trong giai đoạn hiện nay, Tổng cục Môi trường đã có nhiều hoạt động hợp tác quốc tế về quản lý các điểm ô nhiễm môi trường mà điển hình là dự án hợp tác với Cục Bảo vệ môi trường Đức về quản lý các điểm ô nhiễm tồn lưu
ở Việt Nam Tuy nhiên, tồn lưu ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam là vấn đề
có tính phức tạp bậc nhất trong số các vấn đề liên quan đến hiện trạng môi trường Việt Nam hiện nay Do vậy, để giải quyết triệt để được vấn đề này, đòi hỏi phải có
sự chung tay góp sức và phối hợp giữa Chính phủ, các cơ quan trực thuộc Chính phủ, các cơ quan tổ chức có liên quan và của toàn xã hội
Dự án "Xử lý ô nhiễm dioxin tại các vùng nóng ở Việt Nam" đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường mà cụ thể là Văn phòng Ban chỉ đạo 33 phối hợp với Quỹ Môi trường Toàn cầu và UNDP Dự án được thực hiện từ năm 2010 đến 2014 nhằm giải quyết hậu quả của hóa chất độc hại trong chiến tranh Việt Nam, giảm thiểu sự
Trang 32tàn phá của chất độc đối với hệ sinh thái và sức khỏe con người tại ba vùng nóng: sân bay Đà Nẵng, sân bay Biên Hòa (Đồng Nai), sân bay Phù Cát (Bình Định) Trong thực tế, rất nhiều các nhà khoa học Mỹ, Việt Nam cũng như các nhà khoa học khác trên thế giới đã nghiên cứu về chất độc da cam – dioxin sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam, mức độ tồn dư của dioxin trong môi trường và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe người dân Việt Nam sống ở nhưng khu vực có khả năng bị phơi nhiễm cũng như các thế hệ con cháu của họ sau này Cũng như có nhiều nghiên cứu đã được tiến hành ở nhóm đối tượng là các cựu binh Mỹ và các nước đã từng tham chiến ở Việt Nam Hầu hết các nghiên cứu đó đều khẳng định về những tác hại lâu dài và vô cùng nghiêm trong của dioxin có trong chất độc da cam đối với môi trường và con người Tuy nhiên, vấn đề hiện nay là trong quá trình nghiên cứu các tác giả đã sử dụng các quy trình nghiên cứu khác nhau nên hầu hết mối liên hệ trực tiếp giữa chất độc da cam và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe của người dân Việt Nam đều chưa được công nhận một cách rõ ràng Điển hình là theo Viện Y tế Hoa Kỳ (IOM) [2] ước tính thì lượng dioxin - TCDD có trong 19,5 triệu thùng chất da cam mà quân đội Mĩ
đã sử dụng để phun rải trong chiến tranh Việt Nam chỉ tương đương 170 kg dioxin – TCDD; trong khhi đó theo cách tính của Stellman và cộng sự (2003) thì khối lượng
đó ước tính khoảng 700 kg [34] Các kết quả nghiên cứu khoa học có liên quan đến dioxin ở Việt Nam vẫn tiếp tục là những minh chứng cho hậu quả nặng nề của dioxin
mà quân đội Mĩ sử dụng trong chiến tranh đối với môi trường và con người Việt Nam L.Wayen Dwernychuk cùng các cộng sự Canada và Việt Nam 2002 [29], đã công bố những kết quả nghiên cứu về sự tồn dư của dioxin trong các mẫu đất, mẫu sinh phẩm tại các vùng trước đây là căn cứ quân đội Mĩ dùng làm kho chứa chất độc
da cam Nghiên cứu đã khẳng định chất độc dioxin tồn dư trong đất đã làm ô nhiễm nguồn nước thông qua đó xâm nhập vào chuỗi thức ăn để có mặt trong cơ thể con người Từ các kết quả nghiên cứu của mình L.Wayen Dwernychuk [29] cũng đã từng khẳng định cần phải tôn trọng các thông tin mới về ảnh hưởng của dioxin đến sức khỏe của cựu binh Mĩ và người dân Việt Nam, những người đã, đang và sẽ tiếp tục phải đối mặt với những hậu quả vô cùng nghiêm trọng do dioxin sử dụng trong chiến tranh gây ra
Trang 33Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiện trạng tồn lưu ô nhiễm dioxin do quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam ở một số khu vực lựa chọn (Sân bay Đà Nẵng và Sân bay Biên Hòa)
- Phạm vi nghiên cứu: Sự tồn lưu của dioxin trong đất và trầm tích
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
* Thời gian: Nghiên cứu từ tháng 11/2010 đến tháng 9 /2012
* Địa điểm: Một số điểm tồn lưu ô nhiễm dioxin do chiến tranh: Sân bay Đà
Nẵng, Sân bay Biên Hòa – Đồng Nai
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu về nguồn nhân ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam và các địa điểm nghiên cứu;
- Đánh giá tồn lưu ô nhiễm dioxin trong môi trường đất, trầm tích tại các địa điểm nghiên cứu;
- Đề xuất mô hình đánh giá rủi ro môi trường ban đầu do tồn lưu ô nhiễm dioxin trong chiến tranh đến môi trường tại khu vực nghiên cứu;
- Đề xuất một số giải pháp quản lý, khắc phục và giảm thiểu ảnh hưởng do tồn lưu ô nhiễm dioxin
2.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, thống kê: Thu thập thông tin, phân tích và tổng hợp
thông tin có liên quan Sử dụng phần mềm EXCEL để xử lý số liệu và thông tin thu thập được
- Phương pháp kế thừa: Nghiên cứu kế thừa các tài liệu liên quan đến
dioxin chiến tranh Tham khảo, kế thừa các tài liệu trong nước và quốc tế có liên quan đến ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam cũng như tại các địa điểm lựa chọn nghiên cứu Tài liệu về nguồn ô nhiễm dioxin, mức độ ô nhiễm, phơi nhiễm dioxin ở Việt Nam
Trang 34- Phương pháp đánh giá rủi ro: Nhận dạng các mối nguy hại, đánh giá độc
tính, đánh giá phơi nhiễm, mô tả đặc tính rủi ro, biện pháp giảm thiểu rủi ro;
- Phương pháp lấy mẫu:
+ Loại mẫu thu thập: Mẫu đất và mẫu trầm tích tại các địa điểm nghiên cứu; + Số lượng mẫu: Đối với sân bay Đà Nẵng số lượng mẫu đất lấy 13 mẫu, mẫu trầm tích lấy 9 mẫu; Đối với sân bay Biên Hòa lấy 11 mẫu đất và 12 mẫu trầm tích + Vị trí lấy mẫu:
Bảng 2.1 Vị trí thu thập mẫu đất, trầm tích tại sân bay Đà Nẵng
STT
Vị trí Đất Ký hiệu Trầm tích Ký hiệu
10 Khu chứa vỏ thùng VN74
(Nguồn: Bộ TN&MT, 2010)
Trang 35Bảng 2.2 Vị trí thu thập mẫu đất, trầm tích tại sân bay Biên Hòa
Đất Ký hiệu Trầm tích Ký hiệu Khu để bồn chứa Trầm tích hồ Biên Hùng và ruộng
1 Phía Nam sân bê tông BH-S1 Bùn bề mặt thuộc khu
vực ruộng giữa sân bay
SR1
3 Phía Nam hố chôn lấp BH-S3
Trầm tích bề mặt khu vực hồ Biên Hùng
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Nguồn gây ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam và các địa điểm nghiên cứu
3.1.1 Nguồn gây ô nhiễm dioxin do chiến tranh ở Việt Nam
Trong thực tế, có hai nguồn chính gây ô nhiễm dioxin ở Việt Nam Thứ nhất, nguồn ô nhiễm dioxin do chiến tranh tập trung ở các khu vực thuộc miền Nam Thứ hai, nguồn ô nhiễm dioxin phát sinh từ các nguồn phát thải công nghiệp, phân bố trên địa bàn cả nước Bên cạnh các nguồn ô nhiễm dioxin nói trên còn có các nguồn phát thải khác từ các hoạt động dân sinh và nguồn ô nhiễm dioxin từ các nguyên nhân tự nhiên như cháy rừng tự nhiên, các hoạt động của núi lửa Những nguồn này không phải là nguồn đóng vai trò chủ yếu gây ô nhiễm dioxin ở Việt Nam Trong phạm vi nghiên cứu này chúng tôi tập trung làm rõ hai nguồn chính gây ô nhiễm dioxin là nguồn ô nhiễm do chiến tranh và nguồn ô nhiễm do phát thải công nghiệp
Trong chiến tranh Việt Nam, từ năm 1961 - 1971 quân đội Mỹ đã sử dụng một lượng lớn các chất phát quang để phun rải trên một diện tích rộng lớn thuộc chiến trường miền Nam Việt Nam Mục đích chính là làm rụng lá cây ở những khu vực do quân giải phóng kiểm soát nhằm đạt được những ưu thế về mặt chiến lược quân sự trên chiến trường; phá hoại mùa màng, làm suy giảm năng suất lương thực, hạn chế nguồn cung cấp thực phẩm tại chỗ cho quân giải phóng; tạo ra các vành đai nhằm bảo vệ các căn cứ quân sự của quân đội Mỹ và đồng minh ở miền Nam Việt Nam
* Về loại chất phát quang có chứa dioxin
Nghiên cứu của tác giả Vũ Chiến Thắng cho thấy [15]: Từ năm 1961 - 1966, quân đội Mỹ sử dụng chủ yếu phương tiện vận chuyển và phun rải là máy bay với tần suất 4 lần/ngày Đến năm 1969, mức độ phun rải tăng lên 36 lần/ngày và lượng máy bay sử dụng được thống kê là 24 máy bay lên thẳng
Trang 37(Nguồn: Chicago Tribune, 2009) Hình 3.1 Hoá chất làm rụng lá được rải trong chiến tranh Việt Nam
Tài liệu thống kê về chiến dịch Ranch Hand còn cho thấy cụ thể hơn, từ tháng 8/1965 - tháng 2/1971, quân đội Mỹ đã thực hiện 6.542 chuyến bay rải chất phát quang xuống 32/46 tỉnh thuộc miền Nam Việt Nam Ước tính tổng lượng dioxin
được sử dụng trong chiến tranh ít nhất là 366 kg
Bảng 3.1 Lượng chất phát quang phun rải ở miền Nam Việt Nam
Nguồn
Tên chất
Westing (1976)
Lindsey (1999)
UB 10-80 (2000)
Stellman (2003)
Young (2005)
Xanh (Blue) 8.182.000 8.189.960 4.672.171 4.741.381 4.372.160 Trắng (White) 19.835.000 19.806.644 20.636.766 20.556.525 21.320.000
Da cam (Orange) 44.373.000 44.274.611 44.723.096 45.677.937 43.891.120
Tổng (lít) 72.390.000 73.314.495 72.450.734 72.949.954 71.542.640
(Nguồn: Vũ Chiến Thắng, 2004)
Trang 38Cho đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau để làm rõ lượng chất phát quang có chứa dioxin được được quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam Tuy nhiên, vẫn chưa có một kết quả nghiên cứu thống nhất được công nhận về lượng chất phát quang có chứa dioxin được sử dụng trong chiến tranh Việt Nam (1961-1971) Các số liệu thống kê hầu hết đều xác định lượng chất phát quang mà quân đội Mỹ đã sử dụng vào khoảng hơn 70 triệu lít bao gồm nhiều loại chất khác nhau như: chất xanh, chất hồng, chất tím, chất trắng, chất da cam Các số liệu thống kê cụ thể về lượng chất phát quang phun rải ở chiến tranh Việt Nam của một số tác giả nghiên cứu có được tổng hợp qua bảng 4.1 Qua bảng này chúng ta nhận thấy: số liệu thống kê được công bố đầu tiên về dioxin sử dụng trong chiến tranh Việt Nam là của tác giả Westing năm 1976 trong đó ghi nhận sự có mặt của chất xanh, chất trắng và chất da cam với số lượng 73.390.000 lít - đây cũng là con số thống kê lớn nhất từng được ghi nhận; Còn theo tác giả Lindsey công bố năm 1999 thì có sự ghi nhận thêm các chất xanh mạ, hồng và tím với tổng thể tích là 73 314.495 Tuy nhiên, đến năm 2005 tác giả Young đã công bố số liệu được thu thập từ
Bộ Quốc phòng Mỹ và con số thống kê ghi nhận sự có mặt của 6 loại chất màu khác nhau, với tổng thể tích là 71.542.640 lít trong đó chất da cam chiếm tỉ lệ 61,35 % tổng thể tích chất hóa học được sử dụng
* Về nồng độ và khối lƣợng dioxin
Cho đến nay, vấn đề ước tính tổng lượng dioxin có trong chất phát quang được quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam vẫn còn gây ra nhiều tranh cãi Để xác định chính xác khối lượng chất dioxin có trong hóa chất diện cỏ mà quân đội
Mỹ đã sưe dụng trong chiến tranh Việt Nam thì cần phải xác định chính xác thể tích
sử dụng và nồng độ dioxin/đơn vị thể tích có trong từng loại chất hoặc nồng độ dioxin trung bình/đơn vị thể tích Nồng độ dioxin có trong các chất phát quang theo nghiên cứu của Không quân Mỹ ước tính là 1,77 ppm; theo ước tính của Viện Y khoa Mỹ là 13,25 ppm; còn theo ước tính của Lindsey, 1999 là 1,77 - 40 ppm [39]
Do vấn đề ước tính về nồng độ dioxin khác nhau trong các chất phát quang cho nên việc tính toán và đưa ra số liệu về khối lượng dioxin được phun rải cũng không có
sự thống nhất.Theo Stellman, 2003 [34]: lượng chất dioxin được phun rải cùng với
Trang 39các chất phát quang là 336 kg; Viện Y khoa Mỹ là 167 kg Tuy nhiên, theo nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam thì con số này là 1000 kg [14]
* Về diện tích và khu vực bị phun rải
Trong các nghiên cứu được tiến hành thời gian trước đây, theo ước tính của các nhà nghiên cứu thuộc Viện Y khoa Mỹ, tổng diện tích không quân Mỹ và Nam Việt Nam rải là 1,5 triệu ha Nhưng qua sử dụng hệ thống kiểm tra dân số thôn ấp
do quân đội Mỹ phát triển trong thời chiến, các nhà nghiên cứu đại học Columbia -
Mỹ cho thấy tổng diện tích bị ảnh hưởng bởi hóa chất khai quang là 2.631.297 ha Trong số này, có đến 86% bị rải hai lần trở lên Khoảng 11% bị rải hơn 10 lần Trong số diện tích ảnh hưởng, có đến 1.679.734 ha bị ảnh hưởng bởi chất diệt cỏ,
và trong số đó, có đến 80% bị rải hai lần trở lên [2], [39]
Bảng 3.2 Diện tích bị ảnh hưởng của chất khai quang
Số lần rải Diện tích (ha) bị ảnh
hưởng của chất diệt cỏ
Diện tích (ha) bị ảnh hưởng dioxin
(Nguồn: Nguyễn Văn Tuấn, 2006 và Young AL, 2007)
Tuy nhiên, nghiên cứu tổng hợp của tác giả Vũ Chiến Thắng cho thấy diện tịch bị phun rải chất phát quang có chứa dioxin được thống kê cụ thể theo các tác giả qua biểu đồ số liệu sau:
Trang 40(Nguồn: Vũ Chiến Thắng, 2004)
Hình 3.2 Diện tích bị phun rải chất phát quang có chứa dioxin theo các tác giả
Qua bảng số liệu thống kê ước tính diện tích bị phun rải chất phát quang có chứa dioxin theo các tác giả khác nhau nhận thấy: diện tích ước tích giữa các tác giả nước ngoài và nghiên cứu của Việt Nam có sự chênh lệch khá lớn
Theo Bộ Quốc phòng Mỹ là 2.233.600 ha; theo Westing là 2.574.000 ha; theo Lindsey là 2.611.900 ha ; còn theo Ủy ban tố cáo tội ác chiến tranh của Mỹ - UBTCTACT thì con số này là 5.802.000 ha Bên cạnh những nghiên cứu nói trên, còn có một số các kết quả nghiên cứu khác nhau đã được công bố như: năm 2003 trong nghiên cứu của Stellman và cộng sự thì diện tích phun rải ước tính là 2.631.297 ha, còn số liệu gần đây nhất của Văn phòng chỉ đạo 33 - Bộ Tài nguyên
và Môi trường là 3.893500 ha Có một số nguyên nhân gây nên sự chênh lệch số liệu thống kê về diện tích bị phun rải như sau:
- Do sử dụng nhiều loại phương tiện phun rải khác nhau chẳng hạn như sử dụng máy bay, xe ô tô, phun rải bằng tay, rò rỉ ;
- Theo bảng thống kê tần suất bị phun rải, có nhiều khu vực bị phun rải nhiều lần do vậy gây nên sự sai khác về số liệu thống kê;
- Quá trình phun rải (đặc biệt là sử dụng máy bay) chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như: tốc độ gió, áp lực dòng phun, tốc độ di chuyển của thiết bị vận chuyển trong quá trình phun, tốc độ gió,