Bên cạnh những cố gắng, kết quả đạt được, sự chỉ đạo, điều hành vẫn còn nhiều yếu kém: công tác quản lý đất đai ở một số nơi bị buông lỏng quy hoạch treo, chậm thực hiện dự án, quy hoạch
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
-NGÔ THỊ LAN ANH
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH GIAO ĐẤT, CHO THUÊ ĐẤT VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI
ĐOẠN 2006 – 2010
Chuyên nghành: Quản lý Đất đai
Mã số: 60 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lương Văn Hinh
Thái Nguyên - 2012
Trang 2
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một xã hội có một nền sản xuất thường có 3 yếu tố đầu vào là lao động, đất đai (gồm cả tài nguyên thiên nhiên) và vốn Các yếu tố đầu vào này được xác định như các nguồn lực bảo đảm sự phát triển và bền vững của nền sản xuất xã hội Các yếu tố đầu vào này cũng hình thành từng khu vực thị trường riêng, có tính chất đặc thù, cần tới sự điều tiết trực tiếp của Nhà nước thông qua quy hoạch Đối với đất đai ở nước ta, Nhà nước có nhiệm vụ tạo nguồn cung đất trong thị trường sơ cấp, tạo đầu vào cho thị trường thứ cấp thông qua quy hoạch sử dụng đất và việc giao đất, cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc khai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai có tác động trực tiếp tạo thành công trong quá trình đầu tư phát triển gắn với giải quyết nhà ở, xoá đói giảm nghèo, giám sát quá trình đô thị hoá, bảo vệ môi trường, bảo đảm điều kiện dân sinh, bảo tồn và phát triển văn hoá nhằm bảo đảm tính bền vững
Trong những năm qua công tác quản lý nhà nước về đất đai, đặc biệt công tác thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất đã từng bước đi vào nề nếp góp phần ổn định tình hình kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh trật tự Bên cạnh những cố gắng, kết quả đạt được, sự chỉ đạo, điều hành vẫn còn nhiều yếu kém: công tác quản lý đất đai ở một số nơi bị buông lỏng (quy hoạch treo, chậm thực hiện dự án, quy hoạch không đồng bộ, tính khả thi chưa cao, không ổn định; công tác giải phóng mặt bằng vẫn còn có nhiều trường hợp thiếu công khai, dân chủ; công tác giao đất, cho thuê đất và sử dụng đất ở một
số địa phương còn nhiều bất cấp dẫn đến tình trạng giao đất không đúng đối tượng, không đúng thẩm quyền, chồng chéo, sử dụng đất lãng phí, chuyển đổi mục đích sử dụng trái phép, đất để hoang hoá .) dẫn đến hiệu quả sử dụng đất không cao, trong khi đó nền kinh tế nước ta đang từng bước hội
Trang 3nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu sử dụng đất để phát triển kinh tế xã hội là vấn
đề cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, công tác giao đất, cho thuê đất
và quản lý việc sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất trong quá trình thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, xã hội hoá đất nước Từ thực tế trên cho thấy vấn đề giao đất, cho thuê đất và sử dụng đất đối với các dự án đầu tư đang là vấn đề được quan tâm và cần nghiên cứu, vì vậy tôi chọn đề tài
nghiên cứu: “Đánh giá tình hình giao đất, cho thuê đất và sử dụng đất đối
với các dự án trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
* Mục tiêu tổng quát
Đánh giá công tác giao đất, cho thuê đất và việc thực hiện các quyết định đối với các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, đánh giá khả năng thực hiện trong thực tế từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai
* Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu tình hình giao đất, cho thuê đất và sử dụng đất đối với các
dự án trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế cần khắc phục trong công tác giao đất, cho thuê đất và sử dụng đất đối với các dự án đầu tư
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Công tác giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức thực hiện các dự
án đầu tư trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010
- Công tác thanh tra, kiểm tra và quản lý tình hình sử dụng đất của các
tổ chức sau khi được giao đất, cho thuê đất
- Các chính sách pháp luật có liên quan đến giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư
4 Yêu cầu của đề tài
Trang 4- Nghiên cứu, nắm vững các văn bản pháp luật liên quan đến giao đất, cho thuê đất của Trung ương và của tỉnh Thái Nguyên
- Số liệu điều tra phải khách quan và đảm bảo độ tin cậy;
- Đưa ra các ý kiến đánh giá đảm bảo tính khách quan, chính xác đối với công tác giao đất, cho thuê đất và sử dụng đất
- Kết quả nghiên cứu phải đảm bảo cơ sở khoa học và thực tiễn
- Đưa ra được những giải pháp có tính khả thi
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả, phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực
về đất, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý luận về công tác giao và cho thuê đất đối với các dự án
1.1.1 Dự án đầu tư và phân loại dự án đầu tư
b Phân Loại dự án đầu tư
* Phân loại theo quy mô và tính chất dự án: theo quy mô và tính chất
quan trọng có Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C [9]
* Phân loại dự án theo nguồn vốn đầu tư: theo nguồn vốn đầu tư, các
dự án được phân loại như phân loại đầu tư theo nguồn vốn đầu tư.Trong đó có điểm cần chú ý là đối với các dự án sử dụng vốn khác, bao gồm cả vốn tư nhân, chủ đầu tư tự quyết định hình thức và nội dung quản lý dự án [9]
1.1.2 Tầm quan trọng của công tác giao đất, cho thuê đất đối với các dự án
1.1.2.1 Khái niệm
Luật Đất đai 2003 đã đưa ra những khái niệm cụ thể về công tác giao
và cho thuê đất Điều 4 của Luật giải thích:
- “Nhà nước giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất” [8]
- “Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất”[8]
1.1.1.2 Tầm quan trọng của công tác giao đất và cho thuê đất đối với các
dự án đầu tư
Trang 6Để thực hiện một dự án đầu tư thì cần phải có vốn Bất kì một dự án đầu tư nào cũng đòi hỏi một số vốn rất lớn mà bản thân các chủ đầu tư bằng nguồn vốn tự có của mình không chắc đã có đủ mà phải huy động từ các nguồn khác Một trong các nguồn huy động vốn là ngân hàng Tuy nhiên tiếp cận được nguồn vốn này là không dễ Cơ sở pháp lý của giao và cho thuê đất
là GCNQSDĐ tạo điều kiện cho các chủ đầu tư có thể tiếp cận nguồn vốn ngân hàng bằng cách thế chấp quyền sử dụng đất Nguồn vốn này cùng với các nguồn vốn từ kênh huy động khác là điều kiện để chủ đầu tư có thể tiến hành đầu tư vào đất đai, thực hiện dự án
1.1.1.3 Nguyên tắc sử dụng đất
Theo Điều 11 Luật Đất đai 2003 quy định việc sử dụng đất phải đản bảo các nguyên tắc sau:
- Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất
- Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh
- Người sử dụng đất thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan [8]
1.1.3 Các quy định của nhà nước về giao đất và cho thuê đất đối với các
dự án đầu tư
1.1.3.1 Căn cứ để giao đất và cho thuê đất đối với các dự án đầu tư
Theo Điều 27 Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường và
hỗ trợ tái định cư thì căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê đất gồm:
- Quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt
Trường hợp chưa có quy hoạch sử dụng đất hoặc kế hoạch sử dụng đất
Trang 7được duyệt thì căn cứ vào quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt
- Nhu cầu sử dụng đất được thể hiện trong văn bản sau:
Đối với các tổ chức thì nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư
đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc cấp giấy chứng nhận đầu tư;
Đối với các dự án không phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc không phải cấp Giấy chứng nhận đầu tư thì phải thể hiện nhu cầu sử dụng đất trong đơn xin giao đất, thuê đất và có văn bản của Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định về nhu cầu sử dụng đất [5]
1.1.3.2 Cơ chế và hình thức giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án
Sơ đồ 1.1 Cơ chế, hình thức giao đất, cho thuê đất Nhà nước thu hồi đất của
3 trực tiếp cho thuê đất hoặc giao đất cho nhà đầu tư
Đất đang được
sử dụng
Nhà đầu tư tự thoả thuận với người sử dụng đất
Đất sẽ cho thuê hoặc giao cho nhà đầu tư sử
2 Cho thuê đất thu tiền một lần cho
cả thời gian thuê
Trang 8Luật đất đai 2003 đưa ra 2 cơ chế để tạo quỹ đất cho dự án đầu tư: Nhà nước thu hồi đất và nhà đầu tư tự thoả thuận với người đang sử dụng đất; đưa
ra 3 cơ chế giao đất, cho thuê đất đối với các dự án đầu tư: đấu giá đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất và giao đất trực tiếp cho nhà đầu tư Trong 3 cơ chế giao đất, cho thuê đất thì hiện nay các dự án đầu tư chủ yếu thực hiện theo cơ chế Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng đất để giao trực tiếp cho nhà đầu tư
1.1.3.3 Thời hạn giao và cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư
Điều 66, Điều 67 của Luật Đất đai 2003 quy định thời hạn sử dụng của các loại đất Trong đó một số loại đất như đất ở; đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp; đất quốc phòng, an ninh; đất tôn giáo là những loại đất được giao sử dụng ổn định lâu dài
Thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế để thực hiện các
dự án đầu tư được xem xét, quyết định trên cơ sở dự án đầu tư hoặc đơn xin giao đất, thuê đất nhưng không quá năm mươi năm; đối với dự án có vốn đầu
tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế -
xã hội đặc biệt khó khăn mà cần thời hạn dài hơn thì thời hạn giao đất, cho thuê đất là không quá bảy mươi năm [8]
Việc quy định thời hạn sử dụng đất một mặt giúp các nhà đầu tư có thể yên tâm đầu tư và sử dụng đất phù hợp, mặt khác là cơ sở để Nhà nước có thể thu hồi lại đất khi đã hết thời hạn giao và cho thuê để sử dụng vào mục đích khác Tuy nhiên, Nhà nước cũng quy định thời hạn giao và cho thuê đất đủ dài để nhà đầu tư có đủ thời gian để thu hồi vốn và khai thác các lợi ích mà mình đã đầu tư trên đất
Luật còn quy định trong trường hợp đã hết thời hạn giao đất, cho thuê đất, nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất đó thì nhà đầu tư có thể đăng ký xin gia hạn thời hạn sử dụng đất Có thể thấy rằng đây là một quy định tạo điều
Trang 9kiện cho các nhà đầu tư tiếp tục khai thác những lợi ích mình đã bỏ ra đồng thời khuyên khích họ đầu tư thêm vào đất
1.1.3.4 Thẩm quyền giao đất và cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư
Thẩm quyền giao và cho thuê đất được quy định tại điều 37 Luật Đất đai 2003 Điều này quy định ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện các dự án đầu tư
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá công tác giao đất, cho thuê đất đối với các dự án
1.1.4.1 Đảm bảo về mặt quy hoạch
Quy hoạch là một trong những căn cứ để tiến hành giao đất, cho thuê đất Việc giao đất, cho thuê đất phải đảm bảo theo đúng quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt
Trường hợp chưa có quy hoạch sử dụng đất hoặc kế hoạch sử dụng đất được duyệt thì căn cứ vào quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt
1.1.4.2 Đảm bảo về trình tự, thủ tục
Trình tự thủ tục giao đất, cho thuê đất bao gồm các bước thực hiện được gọi là quy trình giao đất, cho thuê đất Công tác giao đất, cho thuê đất phải đảm bảo được thời gian giải quyết hồ sơ, đầy đủ các thủ tục và theo đúng trình tự quy định
1.1.4.3 Đảm bảo chính sách pháp luật
Việc giao đất, cho thuê đất để thực hiện các dự án phải đảm bảo theo đúng chính sách pháp luật về đất đai và các chính sách pháp luật khác liên quan tương ứng với mỗi ngành nghề sử dụng đất của các dự án
1.1.4.4 Đảm bảo sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả
Công tác giao đất, cho thuê đất phải đảm bảo việc sử dụng đất vừa tiết
Trang 10kiệm, vừa hiệu quả, thể hiện qua các công tác quản lý sau:
- Đôn đốc việc sử dụng đất của các chủ đầu tư Kiên quyết thu hồi đất các dự án mà chủ đầu tư không có khả năng thực hiện để giao hoặc cho thuê đối với tổ chức, cá nhân có năng lực và có nhu cầu về đất đai để thực hiện dự
án đầu tư;
- Phải xem xét kỹ nhu cầu sử dụng đất, hiệu quả và tính khả thi của dự
án, khả năng thực sự của nhà đầu tư trước khi quyết định giao đất, cho thuê đất;
- Phải thường xuyên kiểm tra việc sử dụng đất của các đơn vị được giao đất, cho thuê đất về các nội dung: Diện tích, ranh giới đất đang sử dụng và chưa sử dụng; mục đích sử dụng; tiến độ đầu tư thực hiện dự án; thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường; nghĩa vụ tài chính
1.2 Tổng quan về công tác giao đất, cho thuê đất ở một số nước trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Công tác giao đất, cho thuê đất ở một số nước trên thế giới
Một số nước trên thế giới, với tình hình kinh tế - xã hội riêng đều có cơ chế xử lý vần đề đất đai phù hợp với đất nước mình để có thể tận dụng hiệu quả tài sản đất, đảm bảo thu lợi từ quyền sở hữu đất đai và ngăn chặn tình trạng thất thoát tài sản đất trong quá trình quản lý nền kinh tế - xã hội theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế
a Trung Quốc: Theo Hiến pháp của nước CHND Trung Hoa và Luật quản lý
Nhà nước về đất đai, đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước thống nhất quản lý Là người đại diện cho toàn dân, nhà nước Trung Quốc có toàn quyền của một chủ sở hữu Để có thể tận dụng hiệu quả tài sản đất, đảm bảo thu lợi từ quyền sở hữu đất và ngăn trặn tình trạng thất thoát tài sản đã có những quy định hạn chế việc lựa chọn phương thức xử lý đất đai theo pháp luật
- Phương thức giao đất: Doanh nghiệp có quyền sử dụng đất đô thị sau khi được Nhà nước giao đất Trước khi tiến hành cổ phần hoá, doanh nghiệp
Trang 11phải thông qua việc giao đất và phải làm thêm các thủ tục, nộp tiền giao đất (nộp 1 lần) để có được quyền sử dụng đất, hoặc doanh nghiệp phải làm thủ tục đăng ký liên quan để có được quyền sử dụng đất Trung Quốc thực hiện 3 phương thức: đấu thầu, niêm yết giá và đấu giá trong giao đất
Đất đai trong thời hạn được giao sẽ thuộc tài sản của doanh nghiệp, vì vậy doanh nghiệp không chỉ được sử dụng và thu lợi từ đất mà còn có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh như chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp quyền
sử dụng đất theo quy định của pháp luật
Nhà nước Trung Quốc quy định kỳ hạn cao nhất đối với việc giao quyền sử dụng đất: đất nông nghiệp 50 năm, đất ở 70 năm, đất dùng cho thương mại, du lịch, giải trí có kỳ hạn 40 năm, đất dùng cho giáo dục, khoa học kỹ thuật văn hoá, y tế, thể dục, thể thao có kỳ hạn giao 50 năm, đất sử dụng tổng hợp hoặc mục đích khác là 50 năm
- Phương thức cho thuê đất của Nhà nước: Nhà nước cho doanh nghiệp thuê quyền sử dụng đất theo phương thức cho thuê, ký hợp đồng thuê đất trong một giai đoạn nhất định và tiến hành thu tiền thuê đất hàng năm Với phương thức này, đất thuê không được tính vào giá trị tài sản của doanh nghiệp, tuy nhiên trong điều kiện nhất định có thể cho thuê lại, chuyển nhượng, thế chấp quyền sử dụng đất [7]
b Hungary: Đất đai được phân chia lại theo quyền sở hữu Nhà nước, tư nhân
và hỗn hợp Nhà nước chủ yếu nắm quyền sở hữu về đất đai dùng cho mục đích công cộng, xã hội và những vùng quan trọng Tư nhân chủ yếu nắm giữ quyền sở hữu đất cho sản xuất, đặc biệt là đất nông nghiệp
* Đặc điểm chính sách đất đai của Cộng Hoà Hungary:
- Quyền sử dụng đất được quy định thống nhất, không phân biệt giữa tổ chức, cá nhân mua hay thuê đất của Nhà nước
Trang 12- Nhà nước quản lý, giám sát chặt chẽ mục đích sử dụng đất của mỗi tổ chức, cá nhân và hạn chế quyền sở hữu đất đối với cá nhân và tổ chức nước ngoài, việc quản lý đất được phân cấp từ Trung ương đến địa phương;
- Không tính giá trị quyền sử dụng đất vào giá trị của doanh nghiệp mà chỉ tính giá trị của tài sản trên đất;
- Giá mua và giá cho thuê đất được xác định theo giá thị trường
* Thời hạn sử dụng đất: được phân biệt rõ ràng theo hình thức sở hữu
- Đất thuộc sở hữu tư nhân có thời hạn sử dụng vĩnh viễn
- Đất thuê của Nhà nước có thời hạn sử dụng tối đa 99 năm và tối thiếu
là 1 năm
* Các phương thức sử dụng đất:
- Phương thức bán đất của Nhà nước: Thực hiện theo phương thức đấu giá công khai, mọi đối tượng đều có quyền tham gia đấu giá hoặc thông qua mua cổ phiếu
- Phương thức cho thuê đất: Thực hiện theo giá thị trường, đối tượng cho thuê là các doanh nghiệp, các cá nhân, tổ chức trong nước, cá nhân và tổ chức nước ngoài [7]
c Cộng hoà Ba Lan
* Đặc điểm chính sách đất đai của Cộng Hoà Ba Lan:
- Quyền sử dụng đất được thống nhất, giống nhau không phân biệt giữa
tổ chức, cá nhân mua đất và thuê đất của Nhà nước
- Nhà nước quản lý chặt chẽ mục đích sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân
- Thực hiện chế độ cho thuê đất đối với doanh nghiệp
- Giá cho thuê đất của Nhà nước thực hiện theo giá thị trường thông qua mức giá thuê đất bằng 1/30 đơn giá bán đất
* Thời hạn sử dụng đất: được phân biệt rõ ràng theo hình thức sở hữu
- Đất thuộc sơ hữu tư nhân có thời hạn sử dụng vĩnh viễn’
Trang 13- Đất thuê của Nhà nước có thời hạn sử dụng tối đa 99 năm
* Phương thức sử dụng đất:
- Phương thức bán đất của Nhà nước: Thực hiện theo phương thức đấu giá công khai, mọi đối tượng đều có quyền tham gia đấu giá Một số trường hợp được ưu tiên không đấu giá như ưu tiên đối với chủ cũ trước đây đã sử dụng và bị quốc hữu hoá nay có nhu cầu mua lại, hoặc mua để sử dụng vào các hoat động phục vụ phúc lợi xã hội………
- Phương thức cho thuê đất: Thuê với thời hạn từ 3 năm trở lên phải đấu giá Trong đó một số trường hợp không phải đấu giá như sử dụng vào các hoạt động từ thiện……… Đối tượng áp dụng cho thuê đất là doanh nghiệp, đất thuộc hành lang lưới điện quốc gia [7]
d Liên Bang Nga: Hiện nay việc quản lý đất đai ở Nga được thực hiện thông
qua việc quản lý các nguồn lực đất đai, điều tiết các quan hệ pháp luật đất đai
và các đối tượng bất động sản khác trên cơ sở xoá bỏ độc quyền của nhà nước đối với đất đai, nhằm đảm bảo chuyển phần lớn các bất động sản vào tay các pháp nhân, thể nhân, cho phép các chủ thể sử dụng đất sử dụng theo cơ chế thị trường dựa trên những đặc tính, đặc trưng của đất đai, tính đa dạng của sở hữu cũng như các điều kiện kinh tế thị trường và thị trường bất động sản Vì vậy, Nhà nước Nga đã thực hiện việc quản lý, sử dụng đất đai thông qua:
- Chuyển quyền sở hữu đất đai có các công trình cho chủ sở hữu các công trình đó
- Phân định đất đai theo mức độ sở hữu
- Tư nhân hoá các mảnh đất, thửa đất và các công trình bất động sản
* Phương thức sử dụng đất: phương thức bán đất của Nhà nước thực
hiện theo phương thức đấu giá công khai, mọi đối tượng đều có quyền tham gia đấu giá Một số trường hợp được ưu tiên không đấu giá như ưu tiên đối
Trang 14với chủ cũ trước đây đã sử dụng và bị quốc hữu hoá nay có nhu cầu mua lại, hoặc mua để sử dụng vào các hoat động phục vụ phúc lợi xã hội……… [7]
1.2.2 Công tác giao đất, cho thuê đất ở Việt Nam
Việc khai thác và sử dụng đất đai là vấn đề trọng tâm trong lịch sử phát triển của Việt Nam Điều này cũng đúng cả với những nước khác trên thế giới Những phương cách trong đó đất đai được sử dụng, được xác lập quyền sở hữu hay chuyển giao giữa các thế hệ có ảnh hưởng sâu rộng đến các mặt kinh tế, xã hội và chính trị của mỗi nước Điều này đặc biệt đúng với Việt Nam nơi đã có những thay đổi lớn về chính sách sử dụng đất đai trong thời gian qua Trong những năm qua, công tác quản lý đất đai đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng góp phần đẩy mạnh sự nghiệp phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, từng bước “nắm chắc, quản chặt, khai thác có hiệu quả” nguồn tài nguyên đất đai
Theo đánh giá tổng quan, công tác quản lý đất đai theo quy hoạch ngày càng đi vào thực chất, việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
đã bám sát và tuân thủ quy hoạch, góp phần tích cực vào việc sử dụng đất hợp lý
và có hiệu quả Tình trạng vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở các địa phương đã giảm đáng kể Vai trò giám sát của người dân được tăng cường, phát huy tính dân chủ, minh bạch và hạn chế tiêu cực trong quản lý đất đai Đặc biệt,
đã khoanh định quỹ đất sản xuất nông nghiệp hợp lý, bảo vệ quỹ đất trồng lúa, đảm bảo mục tiêu an ninh lương thực quốc gia Đất dành cho phát triển công nghiệp, dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển đô thị cũng được mở rộng, đáp ứng nhu cầu đô thị hóa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý đất đai hiện nay Đó là, chất lượng dự báo nhu cầu quỹ đất cho phát triển của các ngành, lĩnh vực, các dự án đầu tư và kế hoạch sử dụng đất ở nhiều địa phương còn chưa tính toán khoa học, chưa sát với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của thị trường bất động sản dẫn tới tình trạng vừa thiếu, vừa thừa quỹ
Trang 15đất, phải liên tục điều chỉnh quy hoạch Quy hoạch đất chủ yếu thiên về các mục tiêu quản lý hành chính mà chưa tính tới hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững nên chưa phát huy tối đa tiềm năng đất đai Nhiều địa phương chưa thực hiện đúng chủ trương sử dụng tiết kiệm đất nông nghiệp Thêm vào đó là tình trạng sử dụng không hiệu quả của đất xây dựng khu công nghiệp, khu kinh tế, sân bay, cảng nước sâu, sân golf và khu nghỉ dưỡng [7]
1.2.2.1 Thực trạng công tác giao, cho thuê đất đối với các dự án hiện nay trên cả nước
Công tác giao và cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất phục vụ cho các mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế trong thời gian qua đã đạt được triển khai khá đồng bộ, đúng quy định pháp luật, đã thu hút nhiều dự án đầu tư trong nước và quốc tế với quy mô lớn cả về đất đai và vốn đầu tư
Thủ tục và quy trình giao và cho thuê đất đã từng bước được hoàn thiện, góp phần rút ngắn thời gian giao đất cho chủ dự án So với trước đây, thủ tục giao và cho thuê đất đã được đơn giản hơn rất nhiều theo cơ chế “một cửa”
Theo số liệu báo cáo trong dự thảo Chiến lược phát triển ngành đất đai ở Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường soạn thảo, hiện diện tích đất đã giao, cho thuê chiếm trên 76% diện tích tự nhiên của cả nước Trong đó, gần 50% cho
hộ gia đình cá nhân, trên 20% cho các tổ chức kinh tế trong nước [17]
Theo Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên và Môi trường), thống
kê trên địa bàn cả nước cho thấy, diện tích đất của các tổ chức được giao đất, cho thuê nhưng chưa đưa vào sử dụng lên tới 299.719ha Trong đó, diện tích
để hoang hóa trên 250.000ha, thuộc quyền quản lý của hơn 2.400 tổ chức
Riêng diện tích chưa đầu tư hoặc xây dựng chậm là gần 49.000ha, tập trung nhiều tại khu vực Bắc Trung bộ Với các dự án bất động sản, cả nước có
Trang 16khoảng 2.500 dự án, trong đó có 1.200 dự án thuộc diện được Nhà nước giao, cho thuê đất, nhưng chưa đưa vào sử dụng, với diện tích trên 130.000ha, tập trung nhiều ở TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Long An, Bình Dương, Đồng Nai, Quảng Nam, Nam Định [19]
Hiện nay trên địa bàn toàn quốc có 260 khu công nghiệp hiện có, chiếm khoảng 71.000 ha đất với tỷ lệ lấp đầy là 46%, cộng với gần 300 khu công nghiệp dự kiến sẽ được thành lập từ nay tới năm 2020 theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ và diện tích tăng thêm là 128.000 ha đất mà tỷ lệ lấp đầy đạt thấp Chỉ tiêu Quốc hội chỉ cho phép giao đất 44.000 ha vào năm 2010, nhưng trên thực tế, các địa phương đã giao mặt bằng sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp cho các doanh nghiệp lên tới 93.000 ha, vượt 211,26% Điều này cũng xảy ra tương tự tại các khu kinh tế, khu công nghệ cao trên địa bàn cả nước, dẫn tới tình trạng giữ nhiều đất nhưng triển khai chậm vì không thu hút được đầu tư, hoạt động xuất nhập khẩu yếu kém nên không tạo được động lực phát triển [19]
- Về công tác quy hoạch sử dụng đất, nhìn chung chất lượng còn hạn chế chưa có dự báo chính xác về nhu cầu sử dụng đất, các ngành, các địa phương khi xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa sát với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của các địa phương dẫn đến
Trang 17tình trạng liên tục phải điều chính bổ sung
- Hệ thống hồ sơ địa chính chưa đầy đủ, không đồng bộ, thống nhất, thiếu thông tin so với nhu cầu, gây không ít khó khăn cho công tác giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án
- Công tác giải phóng mặt bằng còn rất khó khăn, thời gian của nhiều
dự án còn kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ thi công và làm tăng chi phí đầu tư
- Công tác kiểm tra việc sử dụng đất dau khi được giao đất, cho thuê đất còn gặp nhiều khó khăn, việc triển khai công tác thanh tra, kiểm tra và ban hành các kết luận thanh tra còn chậm; việc xử lý vi phạm chưa triệt để, hiệu quả chưa cao, các chế tài sử lý chưa đủ mạnh để ngăn chặn các vi phạm pháp luật đất đai, thiếu sự phối hợp thường xuyên với các cấp chính quyền địa phương dẫn đến hiệu lực của công tác thanh tra, kiểm tra còn hạn chế
- Vấn đề phân cấp, phân quyền trong giao đất, cho thuê đất, đã bộc lộ nhiều hạn chế, dẫn đến tình trạng dự án "treo" xuất hiện ngày càng nhiều, gây lãng phí tài nguyên đất, làm ảnh hưởng đến đời sống người dân trong vùng dự
án Đây là nội dung cần sớm được sửa đổi nhằm phát huy hiệu quả quỹ đất
1.2.2.3 Nguyên nhân chính của những tồn tại
- Nguyên nhân khách quan: Những năm qua chính sách pháp luật về đất đai
có nhiều thay đổi, hàng trăm, văn bản dưới Luật theo đó cũng được ban hành, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện, nhưng cũng còn không ít những vấn đề chưa rõ, chưa cụ thể, thậm trí còn trồng chéo, mâu thuận, chưa nhất quan khó thực hiện; nhiệu vấn đề phát sinh trong quản lý và sử dụng đất đai chưa được điều chỉnh và sử lý kịp thời
- Nguyên nhân chủ quan: Công tác chỉ đạo, điều hành, tham mưu của
các cơ quan chuyên môn còn nhiều bất cập Chất lượng nguồn nhân lực cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai đặc biêt là cấp cơ sở còn yếu, năng lực giải quyết công việc về đất đai còn nhiều thiếu sót, có những mặt còn yếu kém; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành chưa chặt chẽ
Trang 181.2.3 Tổng quan về công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Thời gian qua công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh đã
có những chuyển biến tích cực, các văn bản pháp luật và các cơ chế, chính sách về đất đai được triển khai đồng bộ giúp công tác quản lý đất đai đi vào
nề nếp, sử dụng đất đai tiết kiệm, có hiệu quả, tạo nguồn nội lực quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển, thu hút nguồn vốn đầu tư Những chủ trương, cơ chế đúng đắn góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, phát triển nông nghiệp nông thôn, phát triển kết cấu hạ tầng, công nghiệp và dịch vụ, thúc đẩy
sự ra đời nhanh chóng của thị trường quyền sử dụng đất, góp phần tích cực trong việc ổn định chính trị, kiềm chế lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội
1.2.3.1 Công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai
Công tác cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai tỉnh Thái Nguyên đã có những chuyển biến tích cực, được dư luận đánh giá cao, nhất là trong công tác giao đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Trình tự, nội dung và các mẫu đơn, tờ khai được niêm yết công khai, thời gian thực hiện thủ tục hành chính được giảm thiểu thông qua việc lồng ghép các thủ tục, xây dựng, đất đai, môi trường ngay từ khâu chấp thuận dự án đầu tư đến khâu bồi thường, giải phóng mặt bằng, triển khai dự án được thực hiện quan cơ chế
“ một cửa liên thông” của tỉnh [16]
1.2.3.2 Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
Căn cứ các quy định của Luật đất đai năm 2003, tỉnh Thái Nguyên đã xây dựng và ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai phù hợp với yêu cầu thực tiến của địa phương, trong đó có các Nghị quyết về Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, Nghị quyết về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Nghị quyết về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, Nghị quyết về giá đất hàng năm Chủ động triển khai có hiệu quả các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, đặc biệt là các văn bản liên quan
Trang 19đến công tác giao đất, cho thuê đất, bồi thường giải phóng mặt bằng…… được dư luận đánh giá tích cự, tháo gỡ được nhiều khó khăn, giải phóng rào cản để huy động nguồn lực đất đai cho đầu tư phát triển [16]
1.2.3.3 Công tác Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh đã được triển khai rất sớm và đồng bộ ở cả 3 cấp: tỉnh, huyện và xã, được Chính phủ xét duyệt tại Nghị quyết số 20/2006/NQ-CP ngày 29 tháng 8 năm 2006 Hiện nay UBND tỉnh đang chỉ đạo cơ quan chuyên môn lập và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 – 2020 và
kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 – 2015 theo chỉ đạo tại văn bản số KTN ngày 23/2/2012 của Chính Phủ Việc chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất trong thời gian quan về cơ bản phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư, cơ cấu lao động, đã góp phần phát triển đồng bộ kết cấu
23/CP-hạ tầng, công nghiệp, nông nghiệp nông thôn, đô thị và dịch vụ, tạo bước đi hợp lý cho quá trình chuyển dịch cơ cấu của tỉnh [16]
1.2.3.4 Công tác đo đạc bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai
Công tác đo đạc bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai được chú trọng Đến nay toàn tỉnh đã hoàn thành đo đạc và lập bản đồ địa chính ở 162/181 phường, xã với diện tích trên 338 nghìn ha đạt 95,82% diện tích tự nhiên Hệ thống bản đồ địa chính được lập bằng công nghệ số, có độ chính xác cao và chi tiết đến từng thửa đất đáp ứng yêu cầu về cả số lượng và chất lượng
Toàn tỉnh đã cấp trên 437 ngàn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các loại với diện tích trên 163 nghìn ha đạt 60% diện tích cần cấp, trong đó có 04 đơn vị cấp huyện đạt diện tích cấp trên 80% bao gồm huyện Phú Bình, huyện Phổ Yên, thị xã Sông Công, thành phố Thái Nguyên Nhiều loại đất đạt tỷ lệ
Trang 20cấp giấy khá cao như: đất xây dựng trụ sở, công trình sự nghiệp Nhà nước đạt trên 99,07%; đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp đạt 100%; đất an ninh đạt 97,77%; đất quốc phòng đạt gần 91,88%; đất ở đô thị đạt 90,75%; đất sản xuất nông nghiệp đạt gần 73% Đã cơ bản hoàn thành việc cấp đổi giấy chứng nhận theo Quyết định 1597/2007/QĐ-UB ngày 10/8/2007 của UBND tỉnh, đạt
tỷ lệ trên 97% số giấy chứng nhận cần cấp đổi [16]
1.2.3.5 Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thời gian quan đã có nhiều tiến bộ, việc tổ chức triển khai các quy định về công bố công khai quy hoạch xây dưng, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, phưwng án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư gắn với việc vận dụng phù hợp các cơ chế chính sách về đất đai đã góp phần từng bước ổn định chỗ ở, đời sống, chuyển đổi ngành nghề, tạo được nhiều việc làm cho người có đất bị thu hồi, đặc biệt
là đối với những người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, từng bước giải quyết hài hoà lợi ích của Nhà nước, của người có đất bị thu hồi, của nhà đầu tư, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư luôn đi liền với việc giải quyết các vấn đề xã hội và tạo việc làm cho người lao động Giai đoạn 2006 – 2010 toàn tỉnh đã tạo được việc làm mới cho gần
79 ngàn lao động, bình quân hàng năm giải quyết được việc cho 15 ngàn lao động Chỉ tính riêng một số ít doanh nghiệp trong khu công nghiệp Sông Công, KCN Nam Phổ Yên và các doanh nghiệp khác như Nhà máy Xi măng Quang Sơn; nhà máy Shinwon Hàn Quốc; TNG Phú Bình đã thu hút trên 15 ngàn lao động Nhiều dự án trọng điểm của tỉnh đã được đẩy nhanh tiến độ như: dự án nhà máy Xi măng Quang Sơn; dự án đường Quốc lộ 37; dự án đường Quốc lộ 3 mới; dự án khai thác khoáng sản đa kim Núi Pháo; dự án Nhà máy may công nghiệp Shinwon; dự án nhà máy may TNG Phú Bình, các công trình dự án phục vụ Liên hoan Trà Quốc tế 2011…….[16]
Trang 211.2.3.6 Thị trường quyền sử dụng đất
Thị trường quyền sử dụng đất tuy sơ khai nhưng bước đầu cơ bản đã tạo lập được cơ chế hoạt động, việc giao dịch, vận hành đang từng bước đi vào nề nếp, thu hút được nhiều nguồn vổntong xã hội đã góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách và đang dần trở thành một trong những nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.[16]
1.2.3.7 Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai
Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai đã đặc biệt được quan tâm Công tác thanh tra, kiểm tra thời gian quan được tiến hành đồng bộ, tập trung, dứt điểm Kết quả thanh tra đã chỉ ra nhiều sai phạm, hạn chế trong công tác quản lý, sử dụng đất đai, kiến nghị sử lý kịp thời, nghiêm minh đối với những cá nhân, tập thể có sai phạm, góp phần khắc phục tồn tại, hạn chế, tiêu cực, thất thoát, lãng phí xẩy ra trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư, chống thất thu ngân sách, nhiều vấn đề xã hội liên quan đến đất đai đã phần nào được giải quyết [16]
Trang 22Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2010 đến tháng 5/2011
- Địa điểm nghiên cứu: Tỉnh Thái Nguyên
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên ảnh hưởng đến sử dụng đất
- Thực trạng của tình hình giao đất, cho thuê đất và sử dụng đất đối với các dự án trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 – 2010
- Những giải pháp và kiến nghị để tăng cường công tác quản lý Nhà nước về giao đất, cho thuê đất và sử dụng đất đối với các dự án nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp điều tra và thu thập số liệu
Điều tra, thu thập các số liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu của
Trang 23giao đất, cho thuê đất của tỉnh nói riêng cũng như các chính sách của Nhà nước nói chung
Đề tài đã chọn 30 tổ chức được nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên để điều tra theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Việc điều tra được thực hiện như sau:
- Đối tượng điều tra: Là các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
- Phát phiếu điều tra: Theo bộ câu hỏi đã được soạn thảo trước, có câu hỏi đóng và câu hỏi mở Nội dung các câu hỏi nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu, gồm:
+ Thông tin tình hình quản lý, sử dụng đất đai của tổ chức
+ Thông tin về hiệu quả sử dụng đất của tổ chức
+ Thông tin về các hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước trong công tác giao đất, cho thuê đất (giải quyết thủ tục, thanh tra, kiểm tra việc sử dụng đất)
+ Những nhu cầu và kiến nghị của tổ chức đối với công tác giao đất, cho thuê đất
- Phỏng vấn trực tiếp: Là những câu hỏi phỏng vấn không có trong phiếu điều tra nhằm mục đích lấy thông tin rộng hơn, gợi mở hơn khi thấy cần thiết
2.4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu
- Xử lý các số liệu thông qua quá trình điều tra thu thập
- Tổng hợp và phân tích số liệu bằng các phần mềm máy tính
- Phân tích tổng hợp số liệu kết hợp các yếu tố định tính với định lượng, các vấn đề vĩ mô và vi mô trong phân tích, mô tả, so sánh và đánh giá công tác giao đất, cho thuê đất
Trang 24+ Căn cứ vào các quy định của pháp Luật Đất đai về giao đất, cho thuê đất; + Căn cứ vào các văn bản của tỉnh Thái Nguyên về quản lý và sử dụng đất + Căn cứ vào các số liệu đã thu thập được và thực trạng của địa phương
2.4.4 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến chuyên gia tư vấn, các nhà quản lý trong lĩnh vực đất đai, quy hoạch, xây dựng, tài chính, môi trường
Trang 25Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên 3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Trang 26- Phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Bắc Kạn;
- Phía Tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc và Tuyên Quang;
- Phía Đông giáp với các tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang;
- Phía Nam giáp với thủ đô Hà Nội
Thái Nguyên có diện tích đất tự nhiên 353.171,60 ha (là tỉnh có diện tích đứng thứ 38/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và chiếm 1,07% diện tích cả nước); bao gồm 7 đơn vị hành chính cấp huyện (7 huyện, 1 thành phố
và 1 thị xã) với tổng số 181 đơn vị hành chính cấp xã (143 xã, 25 phường và 13 thị trấn) Với vị trí địa lý là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, giáo dục của khu Việt Bắc nói riêng, của vùng trung du miền núi Đông Bắc nói chung, Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ Việc giao lưu được thực hiện thông qua
hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông hình dẻ quạt mà thành phố Thái Nguyên là đầu nút [21]
3.1.1.2 Địa hình
Là tỉnh miền núi, nhưng địa hình ít bị chia cắt hơn so với các tỉnh miền núi khác trong vùng Trung du miền núi Bắc bộ Độ cao trung bình (so với mặt nước biển) khoảng 200 - 300 m, thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Các dãy núi cao gồm dãy núi Bắc Sơn và Tam Đảo Đỉnh cao nhất thuộc dãy Tam Đảo có độ cao 1.592 m và điểm thấp nhất là xã Lương Phú thuộc huyện Phú Bình độ cao so với mặt nước biển khoảng 20 m
a Về độ dốc: tuy là tỉnh miền núi nhưng độ dốc tương đối nhỏ, chỉ ở
vùng núi phía Bắc là có độ dốc cao
b Về phân bố địa hình: toàn tỉnh được chia thành 3 vùng, như sau:
vùng núi; vùng đồi cao, núi thấp và vùng đồi gò
c Về địa chất: trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có 35 hệ tầng, phức hệ địa
chất với nhiều loại đá khác nhau Các hệ tầng có chứa đá vôi (các hệ tầng Đồng
Trang 27Đăng, Bắc Sơn) tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc của tỉnh, không thành khối liên tục mà xen kẽ với các tầng khác nhau như: Sông Hiến, Lạng Sơn, Bắc Bun, Vùng Tây Bắc của tỉnh (huyện Định Hoá) có hệ tầng Phố Ngữ, chiếm tỷ
lệ diện tích lớn với các loại đá phổ biến là phiến sét, sét, sét silic, cát bột kết, Chiếm diện tích lớn ở vùng phía Nam là các hệ tầng Tam Đảo, hệ tầng Nà
Khuất, hệ tầng Hà Cối với nhiều loại đá khác nhau [21]
3.1.1.3 Khí hậu
Thái Nguyên nằm trong khu vực có tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 2 mùa rõ rệt, mùa nóng (mưa nhiều) từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa lạnh (mưa ít) từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Tuy nằm ở vùng Đông Bắc, nhưng do có các dãy núi cao ở phía Bắc
và Đông Bắc che chắn gió mùa Đông Bắc trong mùa lạnh, nên Thái Nguyên
ít chịu ảnh hưởng lớn của gió mùa Đông Bắc so với các tỉnh khác thuộc vùng núi Đông Bắc [21]
3.1.1.4 Thuỷ văn
Chế độ thủy văn ở Thái Nguyên phụ thuộc chủ yếu vào chế độ mưa và
hệ thống lưu vực Sông Công và Sông Cầu Có thể chia ra làm 2 mùa: mùa lũ
Trang 28Tóm lại tài nguyên đất của Thái Nguyên khá đa dạng về loại đất, đất bằng có độ dốc < 80
tương đối thuận lợi cho sản xuất cây trồng hàng năm có khoảng 45.047 ha, chiếm 12,72% diện tích tự nhiên Diện tích thích hợp với trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả có khoảng 69.199 ha, chiếm khoảng 10,54% diện tích tự nhiên Diện tích thích hợp với phương thức nông - lâm kết hợp là 62.593 ha, chiếm 17,67% diện tích tự nhiên
3.1.2.2 Tài nguyên nước
Thái Nguyên là tỉnh có nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm khá phong phú
3.1.2.3 Tài nguyên rừng
Số liệu thống kê diện tích đất đai năm 2010 cho thấy, diện tích rừng của tỉnh là 180.639,32 ha, chiếm 51,16% diện tích tự nhiên, trong đó rừng sản xuất 110.836,75 ha, rừng phòng hộ là 34.840,37 ha, rừng đặc dụng là 34.962,20 ha [6]
Biểu đồ 3.1 Diện tích rừng của tỉnh Thái Nguyên
Hệ động, thực vật rừng khá đa dạng và phong phú Có nhiều loài cây quý hiếm như lim xanh, kim giao, trai, nghiến, sến, đinh và nhiều loại động vật gồm lớp thú, lớp chim, lớp bò sát và lớp lưỡng cư, trong đó lớp chim nhiều hơn cả Tuy nhiên, đến nay do săn bắn bừa bãi, môi trường sống bị huỷ hoại nên nhiều loài ở tình trạng bị đe doạ, khan hiếm và tuyệt chủng
Tuy nhiên, do khai thác rừng phục vụ tăng trưởng kinh tế và do công
Trang 29tác bảo vệ và trồng rừng trong một thời gian dài còn yếu kém nên đến nay tài nguyên rừng ở Thái Nguyên suy giảm đáng kể, không còn rừng giàu, rừng trung bình còn rất ít, chủ yếu là rừng nghèo kiệt Nếu trữ lượng gỗ năm
1970 là 3,9 triệu m3, tre nứa vầu là 53 triệu cây thì đến năm 1993 chỉ còn 1,9 triệu m3
gỗ, và 27,6 triệu cây Trong khi đó, diện tích đất trống đồi núi trọc còn nhiều, do vậy cần phải đẩy mạnh công tác trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc nâng cao độ che phủ của rừng, bảo
vệ đất, cải thiện môi trường sinh thái [21]
3.1.2.4 Tài nguyên khoáng sản
Thái Nguyên nằm trong vùng sinh khoáng Đông Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương Hiện đã phát hiện 177 điểm quặng
và mỏ khoáng sản với hơn 30 loại hình khoáng sản khác nhau phân bố tập trung ở các huyện Đại Từ, Phú Lương, Đồng Hỷ, Võ Nhai…[21]
Nhìn chung tài nguyên khoáng sản của Thái Nguyên rất phong phú về chủng loại, trong đó nhiều loại có ý nghĩa trong phạm vi cả nước như quặng sắt, than (đặc biệt là than mỡ) Đây là một lợi thế lớn của tỉnh trong việc phát triển các ngành công nghiệp như luyện kim, khai khoáng, sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng
3.1.2.5 Tài nguyên Du lịch
Nằm ở phía Bắc của thủ đô Hà Nội, Thái Nguyên là một trong những cửa ngõ thuận lợi của thủ đô Hà Nội, có vị trí quan trọng trong mối quan hệ với các địa phương khác về du lịch, giao lưu kinh tế , văn hoá và tạo ra các mối liên kết về du lịch, dịch vụ với các địa phương lân cận trong và ngoài vùng (Hà Nội, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Bắc Giang ) [21]
Trang 30Hình 3.2 Vị trí tỉnh Thái Nguyên trong vùng Đông Bắc
3.1.2.6 Tài nguyên nhân văn
Theo số liệu thống kê, dân số trung bình của tỉnh Thái Nguyên năm
2010 là 1.131.278 người, với 8 dân tộc anh em sinh sống, trong đó người Kinh đông nhất chiếm 75,47%, người Tày chiếm 10,68% Ngoài ra còn có người Dao, Sán Dìu, Cao Lan… Có thể nói Thái Nguyên là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng nhiều dân tộc anh em Mỗi dân tộc có đặc điểm riêng về tiếng nói, trình độ sản xuất, bản sắc văn hoá, song tất cả đều có những nét tương đồng, hoà nhập trong cộng đồng và chung sống trên cùng lãnh thổ [6]
3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.3.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
a) Tăng trưởng kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn tỉnh năm 2010 đạt 11,0%, đạt
Trang 31kế hoạch đề ra Tổng sản phẩm của tỉnh không ngừng tăng kể từ năm 2006 -
2010 Năm 2010, tổng sản phẩm của cả tỉnh là 6.381,0 tỷ đồng, trong đó, khu vực nông lâm nghiệp thủy sản đạt 1.353,0 tỷ đồng, tăng 4,8% Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 2.894,0 tỷ đồng, tăng 14,7% Khu vực dịch vụ đạt 2.134,0 tỷ đồng, tăng 10,4% so với năm trước [6]
Biểu 3.1 Tổng sản phẩm và tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Thái
Nguyên giai đoạn 2006 - 2010
Tổng sản phẩm
(tỷ đồng) 4.195,2 4.716,2 5.258,7 5.748,4 6.381,0 Tốc độ tăng
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2010, [6])
b) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực Tổng sản phẩm trong tỉnh (theo giá thực tế) đạt 19.816,2 tỷ đồng, trong đó khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 41,54%, khu vực dịch vụ chiếm 36,73%, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 21,73% [24]
Biểu đồ 3.2 Cơ cấu tổng sản phẩm của tỉnh Thái Nguyên theo
giá thực tế phân theo khu vực kinh tế
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2010, [6])
Trang 32Cơ cấu tổng sản phẩm 3 khu vực của cả nước : Nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ lần lượt là 20,58%; 41,10%; 38,32%; không có nhiều thay đổi so với năm 2006 và những năm gần đây [6] Như vậy, cơ cấu kinh tế chung trên địa bàn toàn tỉnh có sự chuyển dịch theo chiều hướng tích cực và theo xu thế chung của cả nước
3.1.3.2 Thực trạng phát triển của một số ngành kinh tế
a) Khu vực kinh tế nông, lâm nghiệp và thủy sản
Giai đoạn 2006 - 2010 giá trị sản xuất ngành nông - lâm nghiệp và thuỷ sản của tỉnh tăng khá mạnh Tuy nhiên, năm 2010 giá trị sản xuất theo giá so sánh của ngành này đạt 2.453,69 tỷ đồng, tăng 5,75% so với năm
2009 nhưng chưa đạt mục tiêu kế hoạch đề ra là tăng 6,5% [6]
Trong giai đoan 2006 - 2010, giá trị sản xuất của từng ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng đều qua các năm Năm 2010, sản xuất nông nghiệp đạt 2.313,67 tỷ đồng, tăng 5,29%; giá trị sản xuất Lâm nghiệp đạt 92,2,0 tỷ đồng, tăng 11,66%; giá trị sản xuất thủy sản đạt 47,82 tỷ đồng [6]
Biểu 3.2 Giá trị sản xuất của ngành Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
của tỉnh Thái Nguyên qua các năm theo giá so sánh
Trang 330 500 1000 1500 2000 2500 3000
Tổng số 1964,39 2115,48 2226,37 2320,37 2453,69 Nông nghiệp 1859,63 2005,05 2110 2197,45 2313,67 Lâm nghiệp 73 76,24 81,15 82,57 92,2 Thủy sản 31,75 34,19 35,22 40,35 47,82
Biểu đồ 3.3 Giá trị sản xuất của ngành Nông - lâm nghiệp và thuỷ sản
của tỉnh Thái Nguyên qua các năm theo giá so sánh
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2010, [6])
b) Khu vực kinh tế công nghiệp và xây dựng
- Sản xuất công nghiệp: Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 (theo giá so sánh) trên địa bàn đạt 12.200 tỷ đồng, bằng 100% kế hoạch cả năm và tăng 18,3% so với năm 2009 Trong đó công nghiệp nhà nước Trung ương đạt 6.823 tỷ đồng, bằng 94% kế hoạch, công nghiệp địa phương đạt 4.662 tỷ đồng, bằng 110% kế hoạch và công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 715
tỷ đồng, bằng 102% kế hoạch [24]
c) Khu vực kinh tế dịch vụ
Lĩnh vực thương mại - dịch vụ hiện đã đáp ứng tốt hơn nhu cầu về trao đổi hàng hoá, tiêu thụ sản phẩm cho người sản xuất
Hoạt động kinh doanh thương mại và dịch vụ trên địa bàn đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất và tiêu dùng xã hội Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ xã hội năm 2010 đạt 9.464,5 tỷ đồng, tăng 23,83% so với năm trước [24]
Trang 343.1.4 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
3.1.4.1 Dân số
Số liệu thống kê năm 2010 dân số trung bình của tỉnh Thái Nguyên có 1.131.278 người, chiếm 1,31% dân số của cả nước và 10,16% dân số của vùng Trung du miền núi phía Bắc (là tỉnh có dân số lớn thứ 3 trong vùng, sau tỉnh Bắc Giang và tỉnh Phú Thọ) Mật độ dân số của tỉnh năm 2010 là
320 người/km2, cao gấp 1,23 lần mật độ dân số của cả nước và cao gấp 2,76 lần mật độ dân số của cả vùng [6]
Biểu 3.3 Dân số của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2006 - 2010
(Người)
Phân theo giới tính
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2010, [6])
Dân số của tỉnh phân bố không đồng đều theo đơn vị hành chính Thành phố Thái Nguyên là đơn vị hành chính có số dân lớn nhất với 279.690 người, chiếm 24,72% dân số của cả tỉnh; huyện Võ Nhai có dân số thấp nhất với 64.708 người, chiếm 5,72% dân số của cả tỉnh Thành phố Thái Nguyên
có mật độ dân số cao nhất trong toàn tỉnh với 1.501 người/km2, cao gấp 4,69 lần mật độ dân số chung của cả tỉnh; huyện Võ Nhai có mật độ dân số thấp nhất, chỉ với 77 người/km2, bằng 24,06% mật độ dân số chung của cả tỉnh
Về cơ cấu dân số: Dân số thuộc khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dân số của tỉnh Tỷ trọng này có xu hướng giảm dần qua các
Trang 35năm, tuy nhiên vẫn còn ở mức thấp Dân số thuộc khu vực nông thôn năm
2006 là 75,59% và giảm xuống còn 74,05% vào năm 2010 Như vậy, đã có
sự chuyển dịch trong cơ cấu dân số giữa khu vực thành thị và nông thôn mặc
dù còn chưa rõ nét
Biểu 3.4 Dân số trung bình và mật độ dân số
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2010, [6])
3.1.4.2 Lao động, việc làm và thu nhập
Tỉnh TN được cả nước biết đến là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với 7 Trường Đại học, 13 trường Cao đẳng và 03 trường trung học chuyên nghiệp, 24 cơ sở dạy nghề
Trang 360 5.000 10.000 15.000 20.000
Biểu đồ 3.4 Số lao động được tạo việc làm trong năm
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2010, [6])
Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế trên địa bàn tỉnh năm
2010 có 679.623 người (chiếm 60,08% tổng dân số), tăng gấp 1,05 lần so với năm 2008 (648.495 người) và tăng gấp 1,13 lần so với năm 2005 Khu vực kinh tế nông lâm nghiệp thủy sản chiếm phần lớn lực lượng lao động của tỉnh với 459.884 người, chiếm 67,67% [6]
0,0 500,0 1.000,0 1.500,0 2.000,0 2.500,0
Biểu đồ 3.5 Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2010, [6])
Năm 2010 mức thu nhập một tháng ở thành thị là 1.997,0 nghìn đồng/người, trong khi đó ở nông thôn là 1.191,0 nghìn đồng/người (bằng 59,64 % so với thành thị) [6], [24]
Trang 373.1.5 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
3.1.5.1 Mạng lưới giao thông
Giao thông tỉnh Thái Nguyên có 3 loại hình: Đường bộ, đường thủy
và đường sắt trong đo hình thức vận tải bằng đường bộ là chính [29]
Với đặc điểm về hệ thống giao thông như trên đã và đang tạo điều kiện cho Thái Nguyên trở thành trung tâm kinh tế của vùng miền núi Bắc
Bộ, nhất là sau khi tuyến đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên được xây dựng xong
3.1.5.2 Hệ thống thuỷ lợi
Hệ thống thủy lợi của Thái Nguyên sau nhiều năm được đầu tư, hiện tại toàn tỉnh đã có một số công trình thuỷ lợi lớn như hệ thống hồ Núi Cốc, đập Thác Huống, hồ Bảo Linh, hồ Gò Miếu, hệ thống đê sông Cầu Tổng số
có 2027 công trình lớn nhỏ
Hiện nay toàn tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích yêu cầu tưới vụ chiêm: 25.000 ha, các công trình hiện có tưới được khoảng 22.000 ha đạt 70% so với diện tích cần tưới, vụ mùa diện tích yêu cầu tưới: 42.142 ha, hiện tại tưới được 34.000 ha đạt 75% [29]
3.1.5.3 Mạng lưới y tế, giáo dục, văn hoá
Số các cơ sở y tế mỗi năm đã tăng lên , năm 2006 có 354 cơ sở, đến năm 2008 có 422 cơ sở và đến năm 2010 có 539 cơ sở, trong đó có 21 bệnh viện (Nhà nước có 18 bệnh viện và ngoài Nhà nước có 03 bệnh viện); có 25 phòng khám đa khoa khu vực (Nhà nước có 13 cơ sở, ngoài Nhà nước có 12
cơ sở); có 02 nhà hộ sinh và có 181 trạm y tế phường, xã (đạt tỷ lệ 100%) [6]
- Giáo dục mầm non: Số cơ sở giáo dục mầm non năm 2010 là 206 trường, tăng 4,04% so với năm 2006 và tăng 1,48% so với năm 2009 [6]
- Giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông
- Giáo dục hệ đại học : Cơ sở đào tạo đại học hiện có 7 trường, có số
Trang 38giáo viên là 2.057 người với số sinh viên đang theo học là 61.787 người [6]
3.1.6 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội , môi trường
3.1.6.1 Lợi thế và kết quả đạt được
- Có vị trí địa lý tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, gần sân bay quốc tế Nội Bài, cách không xa cảng biển Hải Phòng và kề cận với các tỉnh tiếp giáp với Trung Quốc về phía Bắc Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường thuỷ liên tỉnh đều thuận tiện nên có điều kiện liên kết, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển công nghiệp và đô thị, giao lưu trao đổi, buôn bán hàng hoá với các thị trường lớn, tiếp nhận nhanh công nghệ, thông tin, khoa học kỹ thuật… đặc biệt là từ Hà Nội
- Vai trò của Thái Nguyên được xác định là trung tâm kinh tế, y tế, văn hóa, đào tạo của khu vực Đông Bắc hay cả Vùng trung du và miền núi phía Bắc; đồng thời là vùng kinh tế trọng điểm Bắc thủ đô Hà Nội nên được chú trọng đầu tư các nguồn lực cho phát triển kinh tế xã hội
- Có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng phong phú, trong đó có loại không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi cả nước như sắt, than (đặc biệt là than mỡ), titan; mà còn có ý nghĩa đối với thế giới (Vonfram)… điều này tạo cho Thái Nguyên có một lợi thế so sánh lớn trong việc phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng, sản xuất vật liệu xây dựng…
- Có điều kiện khí hậu, đất đai thuận lợi cho việc phát triển nông lâm nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hình thành vùng sản xuất nông lâm nghiệp hàng hóa tập trung gắn với công nghiệp chế biến và tiêu thụ sản phẩm như chuyên canh sản xuất lương thực, vùng chè chất lượng cao, vùng cây ăn quả, rừng nguyên liệu
- Nền kinh tế của tỉnh tăng trưởng cao (bình quân 11,14%/năm, từ năm
2006 đến năm 2010), cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng
công nghiệp và dịch vụ; có công nghiệp được hình thành sớm và có lợi thế
Trang 39phát triển như công nghiệp khai thác, chế biến cùng với việc hình thành các khu công nghiệp đang phát triển nên có điều kiện để phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hiện đại
- Thái Nguyên có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch như khu du lịch Quốc gia Hồ Núi Cốc, hang động; các di tích lịch sử, đặc biệt là di tích lịch sử cách mạng…là một lợi thế để phát triển du lịch và dịch vụ
- Thái Nguyên là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Đây là lợi thế rất quan trọng để tỉnh có nguồn nhân lực chất lượng cao; có khả năng ứng dụng khoa học - công nghệ cao vào sản xuất và đời sống, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
- Công tác quản lý và bảo vệ môi trường được quan tâm chú trọng, chất lượng môi trường của tỉnh (môi trường đất, môi trường nước, xử lý chất thải ) nhìn chung hiện nay còn tương đối tốt Ô nhiễm môi trường chủ yếu
là do chất thải từ các hoạt động sản xuất của một số lĩnh vực như chế biến nông lâm sản, khai thác và chế biến khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, chăn nuôi, hoạt động xây dựng, hoạt động giao thông đã cơ bản được kiểm soát nên đã giảm thiểu sự ô nhiễm vì vậy đã tạo điều kiện cho phát triển kinh
- Hiệu quả ứng dụng các đề tài khoa học, nghiên cứu áp dụng vào thực
Trang 40tiễn còn thấp; sự phát triển kinh tế và dân số đang tạo ra sức ép đối với vấn đề ô nhiễm môi trường
3.2 Quỹ đất và hiện trạng sử dụng các loại đất trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
Trên cơ sở số liệu kiểm kê đất đai năm 2010 và chỉnh lý biến động từ
01 tháng 01 năm 2010 đến 31 tháng 12 năm 2010 cho thấy đến 01 tháng 01 năm 2011 tỉnh Thái Nguyên có 353.101,67 ha đất tự nhiên , chiếm 1,07% diện tích tự nhiên của cả nước (là tỉnh có diện tích trung bình so với cả nước
và có diện tích tự nhiên lớn thứ 26 trong tổng số 63 tỉnh thành của cả nước) Bình quân diện tích tự nhiên trên đầu người là 0,31 ha/người, thấp hơn so với mức bình quân chung của cả nước (0,38 ha/người) Diện tích đất đã được sử dụng vào các mục đích chiếm tỷ lệ 95,54% (tỷ lệ chung của cả nước
là 86,38%) [6]
Biểu 3.5 Diện tích, cơ cấu các loại đất chính tỉnh TN năm 2010
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2010, [6])