1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh

95 1,2K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

23 2/ Hiện trạng khai thác và sử dụng thực vật rừng làm thuốc, thực phẩm của người dân 24 3/ Nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc, thực phẩm 24 4/ Đề xuất một số giải p

Trang 1

§¹I HäC TH¸I NGUY£N

HOÀNH BỒ-QUẢNG NINH

LUËN V¡N TH¹C SÜ KHOA HäC l©m nghiÖp

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Lê Văn Thắng

Học viên cao học khóa 18 Chuyên ngành: Lâm học Niên khóa 2010 - 2012

Tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên - Đại học Thái Nguyên

Đến nay tôi đã hoàn thành luận văn nghiên cứu cuối khóa học Tôi xin cam đoan:

- Đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện

- Số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực, khách quan

- Các kết luận khoa học của luận văn chưa từng ai công bố trong các

nghiên cứu khác

- Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012

Người làm cam đoan

Lê Văn Thắng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN!

Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này, tác giả xin chân thành cảm ơn Thầy giáo, TS Trần Quốc Hưng, trưởng Khoa Lâm nghiệp - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, là người hướng dẫn khoa học và nhiệt tình giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu

Tác giả xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo giảng dạy khóa học, Hạt kiểm lâm huyện Hoành Bồ, Ban quản lý Khu Bảo tồn Thiên nhiên

Đồng Sơn - Kỳ thượng, cán bộ UBND xã Đồng Sơn - Kỳ Thượng, huyện

Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh đã nhiệt tình tạo điều kiện, giúp đỡ và hợp tác với tác giả trong quá trình nghiên cứu thu thập số liệu tại địa phương

Cuối cùng xin được cảm ơn cơ quan, gia đình và bạn bè đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu để thực hiện đề tài tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012

Tác giả

Lê Văn Thắng

Trang 4

1.1.1 Một số khái niệm về LSNG (Non-Timber Forest products,

Non-Wood Forest products)

3

1.1.2 Phân loại lâm sản ngoài gỗ 4

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 8

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 8

1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thuốc 8

1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thực phẩm 10

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 11

1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thuốc 11

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thực phẩm 19

Chương 2 - MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 23

1/ Thống kê những loài LSNG được người dân trong vùng sử

dụng làm thuốc, thực phẩm (danh lục của loài LSNG) 23 2/ Hiện trạng khai thác và sử dụng thực vật rừng làm thuốc,

thực phẩm của người dân

24 3/ Nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc, thực phẩm 24 4/ Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển những 24

Trang 5

loài cây này

23.5.1 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu thứ cấp 24

2.5.2 Điều tra thực địa về các loại LSNG được sử dụng tại cộng đồng 24

2.5.3 Phương pháp xử lý tài liệu 28

Chương 3 - ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC

3.1.3 Khí hậu thuỷ văn 29

3.1.4 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng 30

3.1.5 Thảm thực vật rừng 31

3.1.6 Khu hệ động vật rừng 32

3.2.1 Dân số, dân tộc và phân bố dân cư 33

Chương 4 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

4.1 Những LSNG được người dân trong vùng sử dụng làm thuốc,

4.2 Thực trạng khai thác,sử dụng thực vật rừng làm thuốc,

thực phẩm của người dân trên địa bàn 39

4.2.1 Nguồn gốc của những loài LSNG được khai thác làm thuốc,

thực phẩm tại khu vực nghiên cứu

39

4.2.2 Thực trạng khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc, thực phẩm 41

4.2.3 Tình hình sử dụng và tiêu thụ nguồn tài nguyên cây thuốc, thực phẩm 50

4.3 Nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc, thực phẩm 57 4.4 Giải pháp bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững những loài

Trang 6

4.4.1 Lựa chọn loài LSNG ưu tiên trong bảo tồn và phát triển 59 4.4.2 Giải pháp để bảo tồn và phát triển các sản phẩm này 61

Trang 7

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTTN Bảo tồn thiên nhiên

FAO Tổ chức Nông lương Thế giới

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 8

dụng làm thuốc và thực phẩm tại khu vực nghiên cứu

58

Bảng 4.12 Đánh giá nhóm LSNG chủ yếu để phát triển dƣợc liệu, thực phẩm 60

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Trang

Hình 1 Đường cong xác định loài LSNG làm thuốc và thực phẩm trong

một cộng đồng có thể dừng phỏng vấn khi số loài không tăng 25

Hình 2 Một số hình ảnh thu hái và sử dụng lâm sản ngoài gỗ tại

Hình 3 Một số hình ảnh gieo ươm và gây trồng LSNG tại cộng đồng 55 Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ phân nhóm LSNG theo giá trị sử dụng 38 Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ sử dụng các bộ phận của các loài cây làm thuốc 38 Hình 4.3 Biểu đồ tỷ lệ sử dụng các bộ phận của các loài cây làm thực phẩm 39

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái rừng Hệ sinh thái rừng nhiệt đới là một đơn vị của tự nhiên, một thể thống nhất, biện chứng của các loài cây gỗ lớn, cây bụi thảm tươi, thực vật ký sinh, phụ sinh, dây leo, các động vật, vi sinh vật, các chất hữu cơ, vô cơ… Tập hợp các cây cho LSNG là một bộ phận hợp thành của đơn vị tự nhiên đó, rất phong phú cả về số loài, tuổi, dạng sống, ứng dụng và giá trị của nó

Phát triển LSNG thực chất là làm tăng giá trị kinh tế của rừng, để kinh doanh tổng hợp tài nguyên rừng và để bảo vệ rừng Để tăng giá trị kinh tế của rừng có thể có nhiều con đường khác nhau, trong đó có sự lựa chọn con đường phát triển LSNG Phát triển LSNG là tận dụng ưu thế đa dạng sinh học (ĐDSH) của hệ sinh thái rừng, sự đa dạng về sản phẩm lại tạo ra sự cân bằng trên cơ sở bảo tồn có khai thác hướng tới một nền nông nghiệp sinh thái bền vững Hoạt động phát triển LSNG còn bị chi phối bởi yếu tố xã hội và nhân văn như việc hoạch định các chính sách, việc bố trí phân công lao động cũng như các chế độ hưởng lợi trong phát triển rừng Sự tồn tại và phát triển LSNG lại có tác dụng bổ trợ ngược lại với các thành phần trong hệ sinh thái rừng Người sinh sống trong vùng, khai thác và sử dụng LSNG như là một trong những kế sinh nhai tất yếu về quyền cũng như nhu cầu được hưởng lợi về rừng Vì vậy, LSNG góp phần tích cực trong các chương trình xóa đói, giảm nghèo của nhà nước Nhưng muốn phát triển tài nguyên rừng được bền vững, phải giải quyết được hài hòa các mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế-xã hội

và sinh thái Một trong những giải pháp có triển vọng làm giảm nhẹ các xung đột trong khu vực là phát triển LSNG, vì quản lý, sử dụng và phát triển hợp

lý nguồn tài nguyên này sẽ tác động trực tiếp tích cực đến đời sống kinh tế -

xã hội của người dân và vừa đảm bảo tính ổn định và bền vững của hệ sinh thái rừng, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu hiện nay

Trang 11

Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, nằm trong cánh cung trùng điệp của khu Đông Bắc, ở độ cao 150m - 1.120m so với mặt nước biển Với tổng diện tích 21.353 ha, thuộc địa giới hành chính 5 xã: Đồng Lâm, Đồng Sơn, Hòa Bình, Vũ Oai, Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh §ược thành lập năm 2003, theo quyết định số 440/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh Đây là khu rừng đặc dụng điển hình của hệ sinh thái rừng kín lá rụng thường xanh núi thấp, có tính ĐDSH cao ở vùng Đông Bắc Việt Nam Tuy vậy hiện tại, những áp lực nên khu bảo tồn là rất lớn, vì đây là nơi sinh sống của đồng bào các dân tộc thiểu số: Dao, Sán Chỉ, Tày Đời sống của

bà con các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn Với tổng số hộ 248 hộ, gần 1.500 nhân khẩu đang sinh sống trong vùng lõi của khu bảo tồn, và hơn 2.000 hộ gia đình, xấp xỉ 10.000 cư dân có liên quan, ảnh hưởng tới nguồn tài nguyên ĐDSH của khu bảo tồn Cuộc sống của người dân nơi đây phụ thuộc rất rõ vào tài nguyên rừng (TNR), nhất là nguồn LSNG là chủ yếu Vì thế, các hoạt động khai thác và buôn bán LSNG là hoạt động thường xuyên mang tính không bền vững Trong thực tế, rất nhiều loài LSNG đã cạn kiệt, không còn để khai thác mặc dù trước đây có rất nhiều với trữ lượng lớn Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là do người dân chỉ khai thác các sản phẩm của chúng mà chưa chú ý tới việc bảo tồn, gây trồng, chăm sóc hoặc khai thác một cách hợp lý Hậu quả

là nguồn tài nguyên LSNG trong khu vực khu bảo tồn dần dần bị cạn kiệt, môi trường bị suy thoái, ảnh hưởng xấu đến cân bằng sinh thái và ĐDSH của rừng Trước thực trạng như vừa nêu ở trên, nhằm góp phần sử dụng hợp lý LSNG và nâng cao hiệu quả bảo tồn ĐDSH Khu bảo tồn thiên nhiên, việc

thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm

sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại Khu bảo tồn Thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh” để đưa ra những giải pháp phù

hợp nhằm bảo vệ, phát triển nguồn tài nguyên LSNG một cách có hiệu quả

Trang 12

Chương 1- TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát về lâm sản ngoài gỗ

1.1.1 Một số khái niệm về lâm sản ngoài gỗ (Non - Timber Forest products, Non - Wood Forest products)

- Lâm sản ngoài gỗ bao gồm “tất cả sản phẩm sinh vật (trừ gỗ tròn công nghiệp, gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy) có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừng trồng được dùng trong gia đình, mua bán, hoặc có ý nghĩa tôn giáo, văn hóa xã hội” Việc sử dụng hệ sinh thái cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên, quản

lý vùng đệm… thuộc về lĩnh vực dịch vụ của rừng” (Wickens, 1991)

- Trong hội nghị các chuyên gia LSNG của các nước vùng Châu Á, Thái Bình Dương họp tại Bangkok, Thái Lan từ ngày 5-8/11/1991 đã thông qua định

nghĩa về LSNG như sau: “Lâm sản ngoài gỗ (Non-wood forest products) bao gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ, củi và than Lâm sản ngoài gỗ được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ”

- “Thực vật rừng gồm tất cả các loài cây, loài cỏ, dây leo bậc cao và bậc thấp phân bố trong rừng Những loài cây không cho gỗ hoặc ngoài gỗ còn cho các sản phẩm quý khác như nhựa Thông, quả Hồi, vỏ Quế hoặc sợi Song mây

là thực vật đặc sản rừng” (Lê Mộng Chân, Vũ Văn Dũng, 1992) [8]

- Lâm sản ngoài gỗ là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không kể gỗ, cũng như các dịch vụ có được từ rừng và đất rừng Dịch vụ trong định nghĩa này như là những hoạt động từ du lịch sinh thái, làm dây leo, thu gom nhựa và các hoạt động liên quan đến thu hái và chế biến những sản

phẩm này (FAO, 1995)

- Lâm sản ngoài gỗ bao hàm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục đích của con người Bao gồm các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và

sợi (Jenne H de Beer & Milanie J McDermott, 1996)

Trang 13

- Lâm sản ngoài gỗ là các sản phẩm nguồn gốc sinh vật, loại trừ gỗ lớn,

có ở rừng, ở đất rừng và ở các cây bên ngoài rừng (FAO, 1999)

- Theo Trần Ngọc Hải (2000): “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (hiểu theo nghĩa rộng gồm rừng

tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người Bao gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa mủ, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi…”

- Theo Vũ Tiến Hinh và Phạm Văn Điển (2003) “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được từ rừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ lớn ở tất cả các hình thái của nó”

Dẫn theo (Nguyễn Thị Thoa, 2006) [27]

Theo các định nghĩa như đã nêu ở trên, LSNG là một phần tài nguyên rừng Như vậy, đi tìm chỉ một định nghĩa cho Lâm sản ngoài gỗ là không thể Định nghĩa này có thể thay đổi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, vào quan điểm sử dụng, phát triển tài nguyên và nhu cầu khác Các loại sản phẩm ngoài gỗ sẽ ngày càng được tăng lên do sự tìm tòi, phát hiện giá trị của chúng

để phục vụ cuộc sống cho con người, chúng gồm các sản phẩm qua chế biến hoặc không cần qua chế biến

1.1.2 Phân loại lâm sản ngoài gỗ

Hiện nay, có rất nhiều loại LSNG được điều tra, phát hiện, khai thác và

sử dụng Đối tượng và mục tiêu sử dụng, nghiên cứu LSNG cũng rất đa dạng (người dân, thương nhân, nhà quản lý, nhà nghiên cứu…) Chính vì vậy, việc phân loại chúng có rất nhiều quan điểm khác nhau

Dưới đây sẽ trình bày một số phương pháp phân loại LSNG đang được

sử dụng phổ biến hiện nay:

Trang 14

- Phương pháp phân loại LSNG theo hệ thống sinh: Đây là cách phân

loại các LSNG theo hệ thống tiến hóa của sinh giới Theo phân loại kinh điển, sinh giới được chia là hai giới chính: Động vật và thực vật Giới động vật và giới thực vật, tuy rất phong phú và đa dạng nhưng đều có thể sắp xếp một cách khách quan vào hệ thống các bậc phân loại từ lớn đến nhỏ: Giới\Ngành\Lớp\Bộ\Họ\Loài Ưu điểm của cách phân loại này là thấy được mối quan hệ thân thuộc giữa các loài và nhóm loài cùng sự tiến hóa của chúng Phương pháp này chú ý nhiều đến đặc điểm sinh học của loài Nhược điểm là đòi hỏi người sử dụng phải có những hiểu biết nhất định về phân loại

động, thực vật (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2000) [9]

- Phương pháp phân loại LSNG theo nhóm giá trị sử dụng: Là cách phân

loại mà các LSNG khác nhau không kể nguồn gốc trong hệ thống sinh, nơi phân bố… có cùng giá trị sử dụng thì được xếp trong cùng một nhóm Ví dụ: Một hệ

thống phân loại LSNG thực vật theo nhóm công dụng như sau: Nhóm cây cho lương thực, thực phẩm; nhóm cây cho sợi; nhóm cây cho ta-nanh; nhóm cây cho màu nhuộm; nhóm cây làm dược liệu; nhóm cây cho nhựa, sáp, sơn; nhóm cây dùng làm vật liệu nhẹ và thủ công mỹ nghệ; nhóm cây làm cản, cho bóng mát

Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ áp dụng và sử dụng nhiều kiến thức bản địa của người dân, nên người dân dễ nhớ, đồng thời khuyến khích được

họ tham gia trong quá trình quản lý tài nguyên Ngoài ra phương pháp này cũng được các nhà kinh doanh, nhà nghiên cứu LSNG quan tâm Nhược điểm của phương pháp này chỉ mới nhấn mạnh tới giá trị sử dụng, mà chưa đề cập đến đặc điểm sinh vật học (đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố…) của các loài, nên khả năng nhận biết các loài gặp nhiều khó khăn hơn nữa một số loài có nhiều công dụng khi phân loại dễ bị trùng vào nhiều nhóm khác nhau

Hệ thống phân loại khác lại dựa vào các sản phẩm LSNG, như hệ thống

phân loại đã thông qua trong Hội nghị LSNG Thái Lan, tháng 11/1991 (Bài

Trang 15

giảng Lâm sản ngoài gỗ, 2002 Dự án LSNG, Hà Nội) Trong hệ thống này

LSNG đƣợc chia làm 6 nhóm:

Nhóm 1- Các sản phẩm có sợi: tre nứa, song mây, lá và thân có sợi và các loại cỏ Nhóm 2 - Sản phẩn làm thực phẩm: các sản phẩm nguồn gốc thực vật: thân, chồi, rễ, củ, lá, hoa, quả, quả hạch, gia vị, hạt có dầu và có nấm Các sản phẩm nguồn gốc động vật: mật ong, thịt động vật rừng, cá, trai ốc, tổ chim ăn đƣợc, trứng và côn trùng

Nhóm 3 - Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật

Nhóm 4 - Các sản phẩm chiết xuất: gôm, nhựa dầu, nhựa mủ, ta-nanh

và thuốc nhuộm, dầu béo và tinh dầu

nhóm các dịch vụ (II) (Bài giảng LSNG, 2002 Dự án LSNG, Hà Nội) [3]

Trong đó nhóm (I) bao gồm 3 nhóm sản phẩm phụ đó là: (a) Lâm sản ngoài gỗ có nguồn gốc từ thực vật; (b) Lâm sản ngoài gỗ có nguồn gốc từ

Trang 16

động vật và (c) Lâm sản ngoài gỗ có nguồn gốc từ khoáng vật Nhóm II gồm các dịch vụ như: du lịch, giải trí, xem động vật hoang dã…

Ở Việt Nam, khung phân loại lâm sản ngoài gỗ đầu tiên được chính thức thừa nhận bằng văn bản đó là “Danh mục các loài đặc sản rừng được quản lý thống nhất theo ngành” Đây là văn bản kèm theo Nghị định 160-HĐBT ngày 10/12/1984 của Hội đồng bộ trưởng về việc thống nhất quản lý các đặc sản rừng (nay gọi là lâm sản ngoài gỗ)

Theo danh mục này đặc sản rừng được chia làm 2 nhóm lớn: Hệ cây rừng và Hệ động vật rừng Mỗi nhóm lớn lại chia nhiều nhóm phụ sau:

+ Nhóm cây rừng cho nguyên liệu làm các loại hàng tiểu thủ công và

mỹ nghệ như: song, mây, tre, trúc, lá bương…

+ Các sản phẩm công nghiệp được chế biến từ nguyên liệu có nguồn gốc

từ các loài cây rừng như: cách kiến Shellac, dầu thông, tùng hương, dầu trong…

● Hệ động vật rừng:

Bao gồm các nhóm động vật rừng cho da, lông, sừng, xương, ngà, thịt,

xạ, mật; cho dược liệu như: voi, hổ, báo, trâu rừng, bò rừng, hươu, nai, rắn, trăn, kỳ đà, tắc kè, khỉ, nhím, vượn, ong rừng, các loài chim quý, các nhóm động vật rừng có đặc dụng khác

Mặc dù còn vài điểm chưa hợp lý, tuy nhiên có hệ thống phân loại LSNG trên là một mốc quan trọng, đánh giá sự tiến bộ về nhận thức, sự hiểu biết về LSNG của Việt Nam

Trang 17

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thuốc

Trên thế giới, nghiên cứu về cây thuốc có nhiều thành công và quy mô rộng phải kể đến Trung Quốc Có thể khẳng định Trung Quốc là quốc gia đi đầu trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh Vào thế kỷ 16 Lý Thời Trân

đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó năm 1955 cuốn bản thảo này đã được in

ấn lại Nội dung cuốn sách đã đưa tới cho người cách sử dụng các loại cây cỏ

để chữa bệnh Năm 1954 tác giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công

trình “Dược dụng thực vật cấp sinh lý học” Cuốn sách này giới thiệu tới

người đọc cách sử dụng từng loại cây thuốc, tác dụng sinh lý, sinh hoá của

chúng, cách phối hợp các loài cây thuốc theo từng địa phương như “Giang Tô tỉnh thực vật dược tài chí”, “Giang Tô trung dược danh thực đồ khảo”,

“Quảng Tây trung dược trí” (Trần Hồng Hạnh, 1996) [17].

Năm 1992, J.H de Beer - chuyên gia LSNG của tổ chức Nông lương thế giới - khi nghiên cứu về vai trò và thị trường của LSNG đã nhận thấy giá trị to lớn của thảo quả đối với việc tăng thu nhập cho người dân sống trong khu vực vùng núi nơi có phân bố thảo quả nhằm xoá đói giảm nghèo, đồng thời là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội vùng núi và bảo tồn phát triển tài nguyên rừng Về nhu cầu thị trường của thảo quả là rất lớn, chỉ tính riêng ở Lào, hàng năm xuất khẩu khoảng 400 tấn sang Trung Quốc và Thái Lan Đây là công trình nghiên cứu tổng kết về vai trò thảo quả đối với con người, xã hội cũng như tình hình sản xuất buôn bán và dự báo thị trường, tiềm năng phát triển của thảo quả

(Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Năm 1996, Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc tại Viện Vệ sinh dịch tễ công cộng Trung Quốc biên soạn cuốn sách “Bản thảo bức tranh màu Trung Quốc” Cuốn sách đã mô tả tới hơn 1.000 loài cây thuốc

Trang 18

ở Trung Quốc, một trong số đó là thảo quả Nội dung đề cập là: Tên khoa học, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học cơ bản, công dụng và thành

phần hoá học của thảo quả (Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Năm 1999, trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.S de Padua, N Bunyapraphatsara và R.H.M.J Lemmens đã tổng kết các nghiên cứu về các cây thuộc chi Amomum trong đó có thảo quả Ở đây tác giả đề cập đến đặc điểm phân loại của thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của thảo quả Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sóc bảo vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và

buôn bán thảo quả trên thế giới (Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Theo ước tính của Quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khoẻ, phát triển kinh

35.000-tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hoá (Nguyễn Văn Tập, 2006) [23]

Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa Liên Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn Năm 1952 các tác giả A.l Ermakov, V.V Arasimovich, đã nghiên cứu thành công công trình “Phương pháp nghiên cứu hoá sinh - sinh lý cây thuốc” Công trình này là cơ sở cho việc sử dụng và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loài cây thuốc Các tác giả A.F.Hammermen, M.D Choupinxkaia và A.A Yatsenko đã đưa ra được giá trị của từng loài cây thuốc (cả về giá trị dược liệu và giá trị kinh tế) trong tập sách “Giá trị cây thuốc” Năm 1972 tác giả N G Kovalena đã công

bố rộng rãi ở Liên Xô (cũ), việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao vừa không gây hại cho sức khoẻ của con người Qua cuốn sách “Chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm được loại cây thuốc và chữa đúng

bệnh với liều lượng đã được định sẵn (Trần Thị Lan, 2005) [19]

Trang 19

Tiến sỹ James A.Dule - nhà dược lý học người mỹ đã có nhiều đóng góp cho tổ chức WHO trong việc xây dựng danh mục các loài cây thuốc, cách thu hái, sử dụng, chế biến và một số thận trọng khi sử dụng các loại cây thuốc

(Trần Thị Lan, 2005) [19]

1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thực phẩm

Nhiều nước trên thế giới như Brazil, Colombia, Equado, Bolivia, Thái Lan, Inđonesia, Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc đã và đang nghiên cứu các sản phẩm LSNG, trong đó có các loại rau, quả rừng mang lại nhiều dinh dưỡng, nhằm nâng cao đời sống của người dân bản địa và bảo vệ ĐDSH của các hệ

sinh thái rừng địa phương (Everlyn Mathias, 2001) [32]

Mendelsohn, 1989 đã căn cứ vào giá trị sử dụng của LSNG để phân thành 5 nhóm: Các sản phẩm thực vật ăn được, keo dán và nhựa, thuốc nhuộm

và ta nanh, cây cho sợi, cây làm thuốc Ông cũng căn cứ vào thị trường tiêu thụ để phân LSNG thành 3 nhóm: Nhóm bán trên thị trường, nhóm bán ở địa phương và nhóm sử dụng trực tiếp bởi người thu hoạch Nhóm thứ ba thường chiếm tỷ trọng rất cao nhưng lại chưa tính được giá trị Theo Mendelsohn chính điều này đã làm cho LSNG trước đây bị lu mờ và ít được chú ý đến

(Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Theo Falconer, 1993, hầu hết mọi người đều thừa nhận LSNG như một yếu

tố quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội miền núi Ở Ghana, LSNG có vai trò cung cấp thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng, đồng thời cũng chiếm

gần 90% nguồn thu nhập của các hộ gia đình (Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Để thuận tiện cho việc nghiên cứu C Chandrasekhanran (1995) - một chuyên gia LSNG của FAO, đã chia LSNG thành 4 nhóm chính như sau:

A Cây sống và các bộ phận của cây

B Động vật và các sản phẩm của động vật

C Các sản phẩm được chế biến (các gia vị, dầu, nhựa thực vật )

D Các dịch vụ từ rừng

Trang 20

Các nghiên cứu chỉ ra rằng rừng nhiệt đới không chỉ phong phú về tài nguyên gỗ mà còn đa dạng về các loại thực vật cho sản phẩm ngoài gỗ Khi nghiên cứu đa dạng lâm sản ngoài gỗ trong phạm vi một bản ở Thakek, Khammouan, Lào người ta đã thống kê được 306 loài LSNG trong đó có 223

loài làm thức ăn (Phan Văn Thắng, 2002) [25]

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thuốc

Vào những năm 1960 đến những năm 1980, các nhà khoa học khi nghiên cứu về cây thuốc ở Việt Nam có đề cập đến loài thảo quả Do thảo quả là cây

“truyền thống”, có đặc thù riêng khác với một số loài LSNG là do có phạm vi phân bố hẹp, chúng được trồng chủ yếu dưới tán rừng ở các tỉnh phía Bắc như: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang… nên các nhà khoa học ít quan tâm Các

công trình nghiên cứu liên quan còn tản mạn (Phan Văn Thắng, 2002) [25] Sau năm 1975, Vàng đắng (Coscinium fenestrum) nguồn nguyên liệu

cho berberin coi là có vùng phân bố rộng, có trữ lượng lớn Song chỉ sau hơn chục năm khai thác loài Vàng đắng đã trở nên rất hiếm và ở tình trạng

sẽ nguy cấp (V) trong sách đỏ Việt Nam Ba kích (Morinda offcinalis) là

cây thuốc có tác dụng tăng cường sức khỏe, chữa thấp khớp và một số bệnh

khác đã bị khai thác mỗi năm vài chục tấn liên tục nên đã cạn kiệt (Viện Dược Liệu, 2002) [31].

Năm 1982, Giáo sư Đoàn Thị Nhu công bố kết quả nghiên cứu của mình

về “Bảo vệ, khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc thiên nhiên và phát triển trồng cây thuốc trên rừng ở Việt Nam” Trong đó tác giả kết luận: thảo quả là cây dược liệu quý và thích nghi tốt ở điều kiện dưới tán rừng, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào về kỹ thuật gây trồng thảo quả dưới tán

rừng (Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Trang 21

Theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu Bộ Y tế năm 1985, nước ta có 1.863 loài cây thuốc thuộc 236 họ thực vật Theo giáo sư Võ Văn Chi trong cuốn “Từ điển cây thuốc” số loài cây thuốc ở Việt Nam là trên 3.000 loài Trên 3/4 cây trong số này là những cây mọc tự nhiên, phần lớn sinh sống ở rừng Kết quả điều tra sơ bộ ban đầu ở rừng một số tỉnh miền bắc cho thấy tỷ

lệ cây làm thuốc thường chiếm tỷ lệ rất cao (Viện Dược Liệu, 2002) [31]

Trong những năm qua, chỉ riêng ngành y học dân tộc cổ truyền nước ta

đã khai thác một lượng dược liệu khá lớn Theo thống kê chưa đầy đủ thì năm

1995, chỉ riêng ngành đông dược cổ truyền tư nhân đã sử dụng tới 20.000 tấn dược liệu khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây Nhu cầu cho công nghiệp chế biến dược phẩm, mỹ phẩm, hương phẩm cần khoảng 20.000 tấn Ngoài ra còn xuất khẩu khoảng trên 10.000 tấn nguyên liệu thô Việc khai thác liên tục, không có kế hoạch, không hợp lý đã đặt hàng trăm loài cây thuốc trước mối

đe dọa tuyệt chủng (Viện Dược liệu, 2002) [31]

Khi phát hiện được tác dụng an thần rất ưu việt của I-tetrahudropalmatin

từ rễ củ của một số loài Bình vôi (Stephania spp) thì việc khai thác chúng đã

được tiến hành ồ ạt Để tách chiết một loại ancloit I-tetrahudropalmatin làm thuốc ngủ rotundin người ta đã khai thác một hỗn hợp củ của rất nhiều loại Bình vôi mà trong đó có loại không chứa hoặc chỉ chứa hàm lượng I-tetrahydropalmatin không đáng kể Do khai thác bừa bãi để chế biến trong nước hoặc bán nguyên liệu thô qua biên giới sang Trung Quốc mà nhiều loại Bình vôi đã trở nên rất hiếm Đến năm 1996, tuy mới biết được trên 10 loài thuốc chi Binh vôi (Stephania) thì đã có 4 loài phải đưa vào Sách đỏ Việt

Nam (Viện Dược Liệu, 2002) [31]

Trồng cây nông nghiệp, dược liệu và đặc sản dưới tán rừng, Nguyễn Ngọc Bình và cs, 2000, giới thiệu kỹ thuật gây trồng các loài cây dưới tán rừng để tạo ra sản phẩm, tăng thu nhập cho các hộ gia đình nhận khoán, bảo

Trang 22

vệ, khoanh nuôi rừng Tác giả đã giới thiệu giá trị kinh tế, đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, kỹ thuật gây trồng 28 loài LSNG như: Ba kích, sa nhân,

thảo quả, trám trắng, mây nếp,… (Nguyễn Ngọc Bình, 2001) [5]

Tìm hiểu việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của người Dao xã Địch Quả - huyện Thanh Sơn - tỉnh Phú Thọ, Phạm Thanh Huyền và

cs, 2000 Kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức về việc sử dụng nguồn cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao ở đây Tác giả đã chỉ rõ những loài thực vật rừng được người dân sử dụng làm thuốc, nơi phân bố, công dụng, cách thu hái chúng Thêm vào đó, họ còn đưa ra một cách rất chi tiết về mục đích, thời vụ

và các điều kiêng kị khi thu hái cây thuốc; đánh giá mức độ tác động của người dân địa phương, nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây

thuốc (Phạm Thanh Huyền, 2000) [18]

Trước yêu cầu bảo tồn và trồng thêm Ba kích để làm thuốc, từ năm 1994 đến 2002, Viện Dược liệu đã phối hợp với một số hộ nông dân ở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xây dựng thành công một số mô hình trồng cây Ba kích Trong đó có mô hình Ba kích trồng xen ở vườn gia đình, trang trại, mô hình trồng Ba kích ở đồi và đất nương rẫy cũ Bước đầu các mô hình này đã đem

lại hiệu quả kinh tế cao (Nguyễn Chiều, Nguyễn Tập, 2006) [10]

Ở nước ta số loài cây làm thuốc được ghi nhận trong thời gian gần đây không ngừng tăng lên:

Năm 1952: Toàn Đông Dương có 1.350 loài

Năm 1986: Việt Nam đã biết có 1.863 loài

Năm 1996: Việt Nam đã biết có 3.200 loài

Năm 2000: Việt Nam đã biết có 3.800 loài

(Lã Đình Mỡi, 2003) [20]

Cây thuốc - nguồn tài nguyên LSNG đang có nguy cơ cạn kiệt, Trần Khắc Bảo, 2003, đã đưa ra một số nguyên nhân làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cây thuốc như diện tích rừng bị thu hẹp, chất lượng rừng suy thoái hay quản lý rừng còn nhiều bất cập chồng chéo, kém hiệu quả Từ đó tác giả cho rằng chiến lược bảo tồn tài nguyên cây thuốc là bảo tồn các hệ sinh thái, sự đa dạng các loài (trước hết

Trang 23

là các loài có giá trị y học và kinh tế, quý hiếm, đặc hữu, có nguy cơ tuyệt chủng)

và sự đa dạng di truyền Bảo tồn cây thuốc phải gắn liền với bảo tồn và phát huy trí thức y học cổ truyền và y học dân gian gắn với sử dụng bền vững và phát triển

cây thuốc (Trần Khắc Bảo, 2003) [4]

Khi nghiên cứu các biện pháp phát triển bền vững nguồn tài nguyên thực vật phi gỗ tại VQG Hoàng Liên, Ninh Khắc Bản, 2003 đã thống kê được 29 loài cây dùng làm thuốc và cây cho tinh dầu Trong đó tác giả đã lựa chọn được một số loài cây triển vọng để đưa vào phát triển: Thảo quả, Thiên niên

kiện, Xuyên khung, (Ninh Khắc Bản, 2003) [2]

Nghiên cứu một số bài thuốc, cây thuốc dân gian của cộng đồng dân tộc thiểu số tại buôn Đrăng Phốk - Vùng lõi VQG Yok Đôn - Huyện Buôn Đôn -

Tỉnh Dak Lak, Nguyễn Văn Thành và cs, 2004 Nghiên cứu đã chỉ ra từ cộng

đồng các bài thuốc, cây thuốc dân gian dùng để trị các loại bệnh thường gặp trong cuộc sống từ đó lựa chọn các bài thuốc, cây thuốc hay, quan trọng để bảo tồn và phát triển nhân rộng dựa trên cơ sở sự lựa chọn có sự tham gia của người dân Đề tài đã ghi nhận được 46 bài thuốc với tổng cộng 69 loài cây làm thuốc

mà người dân tại cộng đồng đã sử dụng để điều trị từ các bệnh thông thường đến các bệnh có thể gọi là nan y và đã sắp xếp thành 9 nhóm các bài thuốc theo

nhóm bệnh (Nguyễn Văn Thành, 2004) [26].

Đề xuất về bảo tồn và phát triển nguồn cây thuốc tại VQG Tam Đảo, Ngô Quý Công và cs trong 2 năm 2004 - 2005 nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra việc khai thác, sử dụng cây thuốc nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia, nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc quý nhằm bảo tồn và phát triển cho mục đích gây trồng thương mại Đề tài được Quỹ nghiên cứu của

Dự án hỗ trợ chuyên ngành Lâm sản ngoài gỗ tại Việt Nam - pha II tài trợ, nghiên cứu chỉ rõ phương pháp thu hái cũng là vấn đề cần quan tâm, việc thu hái bằng cách đào cả cây do bộ phận dùng chủ yếu là rễ, củ làm cho số lượng loài suy giảm

Trang 24

nhanh chóng và đây cũng là nguy cơ dẫn đến sự khan hiếm, thậm chí là sự tuyệt chủng của một số lớn các cây thuốc Vì vậy, việc nhân giống nhằm mục đích hỗ trợ cây giống cho người dân có thể trồng tại vườn nhà cũng như xây dựng các vườn cây thuốc tại địa phương để giảm áp lực thu hái cây thuốc trong rừng tự nhiên là việc làm rất cần thiết và đưa ra những giải pháp, đề xuất hợp lý để bảo tồn

và phát triển (Ngô Quý Công, 2005) [11]

Theo tác giả Nguyễn Văn Tập (2005), để bảo tồn cây thuốc có hiệu quả cần phải tiến hành công tác điều tra quy hoạch, bảo vệ và khai thác bền vững, tăng cường bảo tồn cây thuốc trong hệ thống các khu rừng đặc dụng và rừng phòng hộ, bảo tồn chuyển vị kết hợp với nghiên cứu gieo trồng tại chỗ, có như vậy thì các loại cây thuốc quý hiếm mới thoát khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng, đồng thời lại tạo ra thêm nguyên liệu để làm thuốc ngay tại các vùng

phân bố vốn có của chúng (Nguyễn Tập, 2005) [22]

Năm 2006 nhóm tác giả thuộc Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Viện Dược liệu đã tổ chức điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã Đồng Lâm, huyện Hoàng Bồ, tỉnh Quảng Ninh và đã ghi nhận được 288 loài thuộc 233 chi, 107 họ và 6 ngành thực vật Tất cả đều là những cây thuốc mọc hoang dại trong các quần xã rừng thứ sinh và đồi cây bụi Trong đó có 8 loài được coi là mới (chưa có tên trong

danh lục cây thuốc Việt Nam) (Nguyễn Văn Tập, 2006) [23]

Kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc nam dưới tán rừng tự nhiên, Lê

Thị Diên và cs, 2006, Trong bối cảnh nguồn tài nguyên dược liệu thiên nhiên

đang bị khai thác cạn kiệt cần thiết phải có các hoạt động bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây dược liệu do chính người dân sống gần rừng thực hiện nhằm sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này trong tương lai Kỹ thuật tạo cây con và gây trồng các loài cây Bách bệnh, Bình vôi, Bồng Bồng, Lá khôi, Vàng đắng đã được người dân tại thôn Hà An áp dụng rộng rãi Các cây thuốc

Trang 25

nam được gây trồng có tỷ lệ sống cao, sức sinh trưởng tốt, hứa hẹn sẽ đóng góp đáng kể vào nguồn thu nhập cho các hộ gia đình tham gia gây trồng Công trình nghiên cứu này nhằm cung cấp kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc nam được người dân sử dụng nhiều dựa trên kinh nghiệm của người dân kết hợp với những thử nghiệm từ đề tài phát triển cây thuốc nam tại thôn Hà

An (Lê Thị Diên, 2006) [13]

Thực trạng khai thác sử dụng và tiềm năng gây trồng cây thuốc tại VQG Tam Đảo và vùng đệm, 2008, Đỗ Hoàng Sơn và cs Qua điều tra họ thống kê được tại VQG Tam Đảo và vùng đệm có 459 loài cây thuốc thuộc 346 chi và

119 họ trong 4 ngành thực vật là: Equisetophyta, Polypodiophyta, Pinophyta và Magnoliophyta Người dân thuộc vùng đệm ở đây chủ yếu là người Dao và Sán Dìu sử dụng cây thuốc để chữa 16 nhóm bệnh khác nhau Trong đó trên 90% số loài được sử dụng thu hái trong rừng tự nhiên Mỗi năm có khoảng hơn 700 tấn thuốc tươi từ VQG Tam đảo được thu hái để buôn bán Nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây đang bị suy giảm khoảng 40% so với 5 năm trước đây Trên cơ sở các nghiên cứu tác giả đã đề xuất 26 loài cây thuốc cần được ưu tiên và đưa vào

bảo tồn (Đỗ Hoàng Sơn, 2008) [21]

Từ nhiều năm qua, Viện Dược liệu đã thu thập hơn 500 loài cây thuốc đem về trồng, nhân giống ở các vườn cây thuốc 65 loài có nguy cơ cao đã được trồng ở Trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Sa Pa (Lào Cai), Vườn trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Vườn Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến thuốc Hà Nội (Thanh Trì), Vườn Trung tâm nghiên cứu dược liệu Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa) và vườn bảo tồn cây thuốc vùng cao Phó Bảng (Đồng Văn - Hà Giang) Các vườn thuốc này có đủ điều kiện giống như điều kiện sống tự nhiên của chúng và lý lịch thu thập, ngày trồng, tình hình sinh trưởng phát triển, ra hoa - quả được ghi lại để đánh giá khả năng

bảo tồn (Lê Văn Giỏi, 2006) [16]

Trang 26

Danh sách một số loài cây dược liệu có giá trị cao trên thị trường được người dân bán tại chợ Sapa do tổ chức y tế Thế giới (WHO) và Viện Đông y thống kê như sau: Bạch chỉ, Bạch thược, Bạch truật, Cam thảo, Đại táo, Đẳng sâm, Đỗ trọng, Đương qui, Hà thủ ô đỏ, Hà thủ ô trắng, Liên nhục, Hoài sơn, Hoàng kỳ, Huyền sâm, Mạch môn, Ngũ gia bì chân chim, Ngũ gia bì gai, Ngu tất, Sâm nam, Thổ phục linh, Thục địa Trong số dược liệu này chỉ có một số rất nhỏ có nguồn gốc Trung Hoa như Đương qui, Đại táo, số còn lại là sản

phẩm có nguồn gốc từ rừng của Việt Nam (Nguyễn Thị Thoa, 2006) [27]

Kiến thức bản địa trong bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc tại xã San Thành - thị xã Lai Châu, TS Lê Sỹ Trung và cs Qua điều tra, nghiên cứu tác giả đã thống kê 51 loài cây thuốc đang được khai thác và sử dụng Xác định các loài cây thuốc được đưa vào bảo tồn và phát triển Thực trạng quản

lý, bảo vệ, nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc tại địa phương và đề xuất một số giải pháp chủ yếu cho việc quản lý, bảo vệ và phát

triển (Lê Sỹ Trung) [30]

Trồng Sương Sâm từ hạt bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, Lưu Hồng Trường,

2005 Sương Sâm là tên gọi một loài dây leo, có tên khoa học là Cyclea barbata

Miers (Cyclea wal-lichii Diels; C.cliiata Cb) thuộc họ menispermaceae Juss Ở

Miền Nam, Sương Sâm có tên gọi là dây sâm hay sâm lông Tất cả các phần của

dây Sương Sâm đều có thể được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau Phổ biến nhất là việc sử dụng lá (đôi khi cả dây) của dây Sương Sâm để chế biến thành một loại nước giải khát rất thông dụng ở vùng núi nông thôn miền Nam

Việt Nam Tác giả đã nghiên cứu: Canh tác dây Sương Sâm và tác động đến tài

nguyên thiên nhiên, cách thu hoạch và bảo quản hạt Sương Sâm để làm giống, một số ưu điểm và nhược điểm của hai phương pháp trồng Sương Sâm trồng từ

rễ và trồng từ hạt (Lưu Hồng Trường, 2005) [29]

Trang 27

Vừa qua Viện Dược liệu và Bộ môn Dược liệu - Trường Đại học Dược Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu định tính và định lượng một số nhóm chất trong cây Chè đắng mọc tại Cao Bằng Kết quả nghiên cứu cho thấy trong lá Chè đắng có 5 nhóm chất: Saponin tổng, flavonoid tổng, polysaccharid tổng, carotenoid và các a-xít hữu cơ Đây là những nhóm chất có nhiều tác dụng sinh học quan trọng và từ

lâu đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu (Nguyễn Thị Thoa, 2006) [27]

Dược thảo trong rừng mưa nhiệt đới, Phạm Minh Toại và cs, 2005, tác giả

chỉ ra: với mức độ mất rừng như hiện nay thì hệ thực vật và động vật giàu có ở vùng nhiệt đới, bao gồm cả các loài dược thảo đã biết hoặc đang ở dạng tiềm năng sẽ bị huỷ diệt và các kiến thức bản địa liên quan cũng ít có cơ hội tồn tại Việc mất rừng nhiệt đới rõ ràng đang đe doạ sự an toàn của loài người thông qua các tác động cùng tăng lẫn nhau như: Trượt lở đất, lũ lụt và hoang mạc hoá, xói mòn đất và sự lây nhiễm một số bệnh tật Tuy nhiên, sự tuyệt chủng của những loài dược thảo và sự mất đi của những thầy thuốc nam giỏi ở địa phương (thầy lang) còn là một nguy cơ lớn hơn nhiều đối với sức khoẻ con

người ở cả các nước đang phát triển và các nước phát triển (Phạm Minh Toại, 2005) [24]

Một số vấn đề bảo tồn cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng, Nguyễn Văn Tập,

2005 Trong nguồn LSNG ở Việt Nam, cây thuốc chiếm một vị trí quan trọng

về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế Theo kết quả điều tra cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) đến năm 2004 đã phát hiện được ở nước ta có 3.948 loài thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm)

có công dụng làm thuốc Trong số đó, trên 90% tổng số loài là cây thuốc mọc

tự nhiên, chủ yếu trong các quần hệ rừng Rừng cũng là nơi tập hợp hầu hết cây thuốc quý có giá trị sử dụng và kinh tế cao Tuy nhiên, do khai thác không chú ý đến tái sinh trong nhiều năm qua, cùng với nhiều nguyên nhân khác,

Trang 28

nguồn cây thuốc mọc tự nhiên ở Việt Nam đã bị giảm sút nghiêm trọng, đang

đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng cao (Nguyễn Văn Tập, 2005) [22]

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu các loài LSNG làm thực phẩm

Khi nghiên cứu về LSNG ở nước ta, các công trình nghiên cứu đều khẳng định: LSNG chính là một yếu tố cho phát triển kinh tế xã hội miền núi Lâm sản ngoài gỗ đã là nguồn cung cấp các thực phẩm, thuốc chữa bệnh phục vụ cho cuộc sống của người dân ở nông thôn miền núi Trong quá trình sử dụng, giá trị của LSNG được phát hiện ngày càng nhiều, vai trò của LSNG đối với phát triển

KT-XH miền núi càng lớn (Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Một số rau dại ăn được ở Việt Nam, Nguyễn Tiến Bân và cs, 1994 Các nhà nghiên cứu đã thống kê được 113 loài thực vật rừng làm thực phẩm, gia

vị có ở Việt Nam và tìm hiểu giá trị dinh dưỡng, phân biệt rau ăn được và rau độc, đặc điểm nơi sống, cách thu hái, chế biến… Đây là một đề tài khoa học của nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu đã điều tra, khảo sát, tìm hiểu, trong một thời gian dài đầy công phu và tỉ mỉ trên nhiều vùng sinh thái khác nhau

(Nguyễn Tiến Bân, 1994) [1]

Năm 1999, khi nghiên cứu ở VQG Ba Vì, Nguyễn Văn Sản và cs, 1999 đưa ra kết luận: LSNG là nguồn thu nhập quan trọng đối với cuộc sống của người dân nông thôn Tác giả cho rằng một trong những nguyên nhân mất rừng, làm suy thoái đa dạng sinh học có nguồn gốc từ đời sống khó khăn của người dân, LSNG bị sử dụng không hợp lý, cạn kiệt Một trong những giải pháp có hiệu quả để giải quyết vấn đề đời sống khó khăn của người dân mà vẫn bảo tồn và phát triển rừng bền vững ở nước ta là phát triển tài nguyên

LSNG (Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Năm 2001, Vũ Văn Dũng và cs đã đề xuất cách phân loại mới, theo các tác giả, LSNG được chia ra làm 6 nhóm chính bao gồm: Sản phẩm có sợi, sản phẩm dùng làm thực phẩm, các sản phẩm thuốc và mỹ phẩm, các sản phẩm chiết xuất,

Trang 29

động vật và các sản phẩm động vật khác làm thực phẩm, làm thuốc, các sản phẩm khác gồm cây cảnh, lá để gói thức ăn và hàng hoá, nhìn chung, mỗi cách phân loại đều có những tồn tại nhất định, nhưng chúng đều có ý nghĩa trong nghiên cứu về sự

đa dạng, phong phú của LSNG, về tiềm năng phát triển ngành LSNG ở Việt Nam

(Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Năm 2001, trong quá trình thực hiện dự án “Sử dụng bền vững LSNG” tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ và vùng đệm VQG Ba Bể các nhà nghiên cứu kết luận rằng: phát triển LSNG là một trong những hướng đi đem lại hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng mục tiêu nâng cao chất lượng sống cho người dân, từ đó xóa đói giảm nghèo và phát triển KT-XH trong khu vực

(Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Trong công trình nghiên cứu “Giá trị và sử dụng LSNG ở 2 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn” của Phạm Văn Thắng và cs, 2001 cho thấy giá trị sử dụng của LSNG đối với người dân rất lớn, 90% số hộ dân sống dựa vào rừng Sản phẩm khai thác chủ yếu hiện nay là gỗ và LSNG như măng, tre, trúc, hồi, giẻ, và cây dược liệu Thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ trong mỗi hộ gia đình đứng thứ 2 trong cơ cấu thu nhập của hộ gia đình và chiếm trung bình khoảng 22% tổng thu nhập kinh tế

(Phan Văn Thắng, 2002) [25]

Tìm hiểu việc sử dụng thực vật rừng làm thuốc, rau của nhân dân các xóm Bản Cám, Nà Nặm thuộc Vườn quốc gia Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn, La Quang Độ,

2001 Tác giả đã xác định được tên, giá trị sử dụng, đặc điểm sinh thái, nơi phân

bố của 15 loài thực vật rừng làm rau ăn và kinh nghiệm của người dân tộc trong khai thác, sử dụng, chế biến các loài này Đề tài là một sự đóng góp quan trọng

cho tỉnh Bắc Kạn trong việc đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên LSNG (La Quang Độ, 2001) [15]

Tập quán của người H’mông tỉnh Sơn La trong thu hoạch và chế biến quả

Sơn Tra, Nguyễn Hùng Thiện, 2005 Cây Sơn Tra là một loài LSNG có giá trị,

Trang 30

quả Sơn Tra đang được thị trường trong và ngoài nước tiêu thụ khá mạnh Vì vậy, nếu bảo đảm được kỹ thuật tạo giống cây và trồng rừng, công nghệ sau thu hoạch được nghiên cứu hoàn thiện từ sơ chế sảm phẩm đến chế biến công nghiệp, dự trữ

đủ nguyên liệu sản xuất cho cả năm và tiêu thụ quanh năm thì đây là một loài cây rất có triển vọng, có tiềm năng lớn để phát triển trên diện rộng, góp phần tăng thu

nhập để xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường sinh thái (Nguyễn Hùng Thiện, 2005) [28]

Trồng và chế biến Thạch đen - một nghề cổ truyền của dân tộc Tày Nùng, Phùng Tửu Bôi, 2005 Cây Thạch đen có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng được nhập vào ta từ rất lâu đời Ở Việt Nam cây đã được trồng ở một

số nơi, hiện đang trồng nhiều ở Lạng Sơn và Cao Bằng, nhiều nhất là ở ba xã Chi Lăng, Kim Đồng và Tân Tiến thuộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Theo tác giả Thạch đen là một loài LSNG có nhiều giá trị và triển vọng, cần

có chính sách và kỹ thuật hỗ trợ để người dân có thể phát triển lâu dài loại

hàng hoá này (Phùng Tửu Bôi, 2005) [7]

Kiến thức bản địa của người dân trong việc khai thác sử dụng các loài LSNG làm thực phẩm, gia vị tại xã Thần Sa -Võ Nhai, Nguyễn Thị Thoa và cs Tác giả đã xác định được 16 loài LSNG thường xuyên được sử dụng làm rau ăn, gia vị, tìm hiểu kinh nghiệm của người dân xã trong việc sử dụng các loài làm

thực phẩm, gia vị và đề xuất giải pháp bảo vệ, phát triển các loài này (Nguyễn Thị Thoa) [27]

Ngoài ra cũng có nhiều cá nhân nghiên cứu nhiều chủ đề liên quan đến LSNG nhưng hầu hết các nghiên cứu này tập trung vào các loại tre trúc như: Thử nghiệm nhân giống Luồng của Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, nghiên cứu nhân giống và gây trồng các loài tre trúc lấy măng của Phân Viện Khoa học Lâm nghiệp Miền Nam; nghiên cứu nhân giống tre Lồ Ô và Luồng của Khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Huế; một số tác giả khác đã nghiên cứu

Trang 31

về cây thuốc nam Ngoài ra có một số đề tài nghiên cứu về khai thác và sử dụng cũng như chế biến các loài LSNG của một số cộng đồng dân tộc thiểu số của sinh viên khoa Lâm nghiệp các trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Đại học Huế và Đại học Tây Nguyên

Nhận xét : Các kết quả nghiên cứu đã phác thảo một bức tranh về LSNG

với số lượng khổng lồ các giống loài Chúng có dạng sống, đặc điểm sinh thái

và giá trị sử dụng vô cùng đa dạng Tính phong phú của LSNG có ý nghĩa lớn trong giai đoạn hiện nay Nó không phải là sản phẩm “phụ” mà là một trong những sản phẩm chính của rừng, có ý nghĩa đến quá trình phát triển kinh tế xã hội miền núi và góp phần bảo tồn và phát triển rừng Gần đây, những phát hiện mới về tiềm năng của LSNG như khả năng phục hồi nhanh, cho thu hoạch sớm với năng suất kinh tế cao và ổn định, có khả năng kinh doanh liên tục, phù hợp với quy mô hộ gia đình và đặc biệt là việc khai thác chúng gần như không tổn hại đến rừng đã thúc đẩy nhiều nhà khoa học tham gia vào nghiên cứu phát triển LSNG

Trang 32

Chương 2 - MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc, thực phẩm

- Đề xuất được một số giải pháp phù hợp cho Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng nhằm bảo tồn và phát triển các loài LSNG làm thuốc, thực phẩm

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đề tài chỉ nghiên cứu các loài cây LSNG hiện có ở Khu Bảo tồn dùng làm thuốc, thực phẩm

2.3 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm nghiên cứu: Tại các xã thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 7/2011 đến tháng 7/2012

2.4 Nội dung nghiên cứu

1/ Thống kê những loài lâm sản ngoài gỗ được người dân trong vùng sử dụng làm thuốc, thực phẩm (danh lục của loài LSNG)

Trang 33

2/ Hiện trạng khai thác và sử dụng thực vật rừng làm thuốc, thực phẩm của người dân (nguồn gốc khai thác các loài LSNG đó, khai thác ở mức độ nào, mức độ phổ biến của các loài đó)

3/ Nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc, thực phẩm 4/ Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển những loài cây này

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu thứ cấp

- Thu thập và phân tích số liệu thứ cấp (bao gồm: Luận chứng kỹ thuật

thành lập khu bảo tồn; các nghiên cứu đã được thực hiện trong khu vực, các điều tra cơ bản của khu bảo tồn về thành phần loài động thực vật, điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế xã hội, các nghiên cứu về LSNG ở Việt Nam, các văn bản luật và chính sách có liên quan…) Đây là những cơ sở dữ liệu ban đầu, là nguồn thông tin định hướng cho các bước nghiên cứu tiếp theo

2.5.2 Điều tra thực địa về các loại LSNG được sử dụng tại cộng đồng

* Khảo sát:

Khảo sát tình hình chung ở cả vùng khu bảo tồn bao gồm 5 xã, để chọn ra 2

xã (Đồng Sơn và Kỳ Thượng) Sau đó tiếp tục khảo sát để có thông tin sơ bộ cho quá trình phỏng vấn Khảo sát tại chợ địa phương để tìm hiểu thị trường tiêu thụ

* Phỏng vấn:

Sử dụng phương pháp Điều tra thông qua các bảng hỏi (sử dụng công cụ

Đánh giá nhanh hay đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân PRA/RRA), chủ yếu là quan sát trực tiếp và phỏng vấn linh hoạt với các câu hỏi

mở, phỏng vấn bán cấu trúc… Phỏng vấn sâu những người có kinh nghiệm như:

- Phỏng vấn cán bộ địa phương: Được thực hiện đầu tiên nhằm tìm hiểu tình hình chung về kinh tế - xã hội của thôn: Dân số, mức sống, dân trí, các loại đất đai, tình hình khai thác và sử dụng tài nguyên rừng và LSNG

Trang 34

- Phỏng vấn hộ gia đình: Được thực hiện tại 02 xã (mỗi xã chọn 30 hộ gia đình làm cộng tác viên điểm) Các hộ phỏng vấn được lựa chọn theo phương pháp lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên Tiêu chuẩn của các cộng tác viên này là: Biết khai thác/chế biến các LSNG; Có kiến thức/kỹ năng thực hành; Am hiểu truyền thống quản lý, sử dụng LSNG của cộng đồng; Sử dụng tốt hai thứ tiếng phổ thông và tiếng Dao; Đại diện cho các thành phần khác trong thôn bản như: Lứa tuổi, lãnh đạo thôn, giới, thành phần kinh tế, mối quan tâm Đề tài sử dụng bảng câu hỏi với nội dung ngắn gọn, rõ ràng để khi phỏng vấn thu được nhiều thông tin, giúp cho người dân dễ hiểu, dễ trả lời Điều quan trọng nhất khi phỏng vấn là đề nghị người cung cấp tin liệt kê đầy đủ tên những loài LSNG được người dân trong vùng sử dụng làm thuốc, thực phẩm bằng tiếng dân tộc của họ

để tránh được sự nhầm lẫn tên cây giữa các ngôn ngữ, văn hóa khác nhau

Hình 1: Đường cong xác định loài LSNG làm thuốc và thực phẩm trong một cộng đồng có thể dừng phỏng vấn khi số loài không tăng

- Phỏng vấn cán bộ Khu bảo tồn: Cuộc phỏng vấn này nhằm tìm hiểu tình hình chung về quản lý rừng và đất rừng của Khu bảo tồn, các chính sách, chương trình thực hiện tại vùng đệm và việc sử dụng LSNG, TNR của các cộng đồng địa phương trong vùng đệm Đồng thời nhằm kiểm tra chéo thông tin thu thập tại các thôn điểm và thu thập bổ sung tài liệu

(Các thông tin phỏng vấn thu thập được ghi chép và mô tả vào các mẫu

phiếu, bảng hỏi có sẵn- Xem phần phụ biểu)

Số tên loài LSNG làm thuốc và thực phẩm

Trang 35

* Thảo luận nhóm:

Phương pháp này được thực hiện sau khi thực hiện công cụ phỏng vấn

hộ gia đình Các cuộc thảo luận được tiến hành dựa trên khung thảo luận chuẩn bị sẵn:

Hai nhóm thảo luận được hình thành tại 2 xã trong vùng nghiên cứu Mỗi nhóm bao gồm từ 5 - 7 người với đủ các thành phần kinh tế trong thôn Thảo luận này nhằm khẳng định lại và bổ sung các hình thức khai thác, chế biến và

sử dụng LSNG Đồng thời tìm hiểu những khó khăn và khuyến nghị của cộng đồng trong phát triển sản xuất và sử dụng LSNG và TNR một cách bền vững

* Điều tra thu thập số liệu trên tuyến và các ô tiêu chuẩn:

+ Điều tra theo tuyến với người cung cấp thông tin quan trọng: Đây là phương pháp thường được áp dụng trong điều tra tài nguyên thực vật Dựa trên cơ sở kết quả tổng hợp thông qua bảng hỏi, lựa chọn người cung cấp thông tin quan trọng và tiến hành xác định tên khoa học và vị trí phân loại của các LSNG

- Xác định tuyến điều tra: Tuyến điều tra được xác định dựa trên thực trạng thảm thực vật, địa hình và phân bố loài LSNG trong khu vực, và đảm bảo tính đại diện, khách quan… Đề tài đã thiết lập 04 tuyến điều tra tại các địa điểm nghiên cứu

Tuyến 1 và 2 Tại xã Kỳ Thượng đi qua tiểu khu 60 và 61 (thôn Khe

Phương và Khe Lương)

Tuyến 3 và 4 Tại xã Đồng Sơn đi qua tiểu khu 58 và 59 (thôn Khe Càn

và Tân Ốc)

- Điều tra ô tiêu chuẩn (ÔTC): Trên tuyến điều tra, tại mỗi vị trí có sự thay đổi về thảm thực vật, tiến hành lập ÔTC với diện tích 100m2

(10 x 10m) Trên ÔTC điều tra một số chỉ tiêu: Thành phần loài; Tần số xuất hiện; Tình

Trang 36

hình phân bố và khả năng phát triển) Đề tài đã lập được 12 ÔTC (Các chỉ tiêu thu thập số liệu được trình bày chi tiết trong phiếu điều tra)

2.5.3 Phương pháp xử lý tài liệu

* Công tác nội nghiệp:

Quá trình xử lý và phân tích thông tin được thực hiện bằng tay và các phần mềm máy tính Excell, phân tích so sánh các mẫu quan sát, thống kê phân tích,

phân tích logic (kết hợp giữa kiến thức bản địa và kiến thức hiện đại để đánh giá)

Kết quả xử lý được thể hiện theo dạng phân tích, mô tả, bảng và biểu đồ Ngoài ra các kết quả thảo luận, các thông tin định tính như chính sách, tổ chức cộng đồng, thị trường được phân tích theo phương pháp định tính

* Phương pháp chuyên gia:

Đề tài sử dụng phương pháp chuyên gia để tiến hành điều chỉnh và hoàn thiện những giải pháp đã được hình thành sau khi phân tích tài liệu ngoại nghiệp Với phương pháp này đề tài đã gửi báo cáo sơ bộ tham khảo ý kiến của một số chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực LSNG Những ý kiến của họ sẽ được sử dụng để điều chỉnh và hoàn thiện các giải pháp quản lý bền vững LSNG ở địa phương

Trang 37

Chương 3 - ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI

KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý

Kết quả khảo sát (Dự án xây dựng khu Bảo tồn Thiên nhiên Đồng Sơn -

Kỳ Thượng, 2001; và UBND tỉnh Quảng Ninh, 2003) đã xác định danh giới

và vị trí địa lý của khu vực như sau:

Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng thuộc địa giới hành chính 5 xã phía Bắc huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, bao gồm: Đồng Sơn, Đồng Lâm, Kỳ Thượng, Vũ Oai và Hoà Bình

Ranh giới tiếp giáp của khu bảo tồn:

- Phía Bắc giáp xã Lương Mông, Minh Cầm huyện Ba Chẽ

- Phía Tây: Giáp xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ

- Phía Nam: Giáp xã Thống Nhất, huyện Hoành Bồ

- Phía Đông (Bắc): Giáp xã Đồn Đạc, huyện Ba Chẽ

Tọa độ địa lý: Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng nằm trong tọa độ địa lý:

Trang 38

Mặc dù so với vùng miền núi phía Bắc Việt Nam, khu vực Đồng Sơn -

Kỳ Thượng có độ cao tuyệt đối không cao nhưng độ chênh cao khá lớn (cao nhất đỉnh Thiên Sơn cao 1.090m, thấp nhất là mặt nước tại đập hồ Cao Vân 31m) và mức độ chia cắt rất phức tạp với nhiều đỉnh núi, nhiều phụ lưu đặc biệt có hồ Cao Vân ở phía Tây Nam thuộc xã Hoà Bình với diện tích mặt hồ

146 ha có nhiều ngách suối tạo nên một vùng cảnh quan hùng vĩ

3.1.3 Khí hậu thuỷ văn

3.1.3.1 Khí hậu

Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ảnh hưởng khí hậu hải dương, hàng năm có 2 mùa rõ rệt: mùa nóng ẩm từ tháng 4-9 hàng năm; mùa hanh khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình/năm là 230C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 410C vào tháng 6, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 00

C vào tháng 1; lượng mưa trung bình/năm từ 2.000 - 2.400mm, tập trung vào các tháng 7, tháng 8 chiếm 80%, ẩm độ không khí cao nhất vào tháng 3 - 4 là 89 %, thấp nhất vào tháng 1 - 2 là 65 %; hướng gió chính mùa hè là gió Đông Nam; mùa đông là gió Đông Bắc Do đặc điểm địa hình nên tại các thung lũng thường xuất hiện sương muối xảy ra vào tháng 1, tháng 2 ảnh hưởng tới cây trồng, đặc biệt là cây nông lâm nghiệp

Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng có tổng diện tích đất lâm nghiệp 15.637,7 ha chia thành các phân khu như sau:

 Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 12.949,7 ha;

 Phân khu phục hồi sinh thái: 2.653 ha;

 Phân khu hành chính và du lịch: 35 ha

3.1.3.2 Thủy văn

Khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng là đầu nguồn của 2 con sông chính là sông

Ba Chẽ và sông Mam Do địa hình chia cắt mạnh đã tạo nên rất nhiều chỉ lưu với dòng suối hẹp, dòng chảy xiết Hầu hết các khe suối đều có dòng chảy quanh năm

Trang 39

vì phần lớn diện tích lưu vực còn có rừng che phủ Tuy vậy, vào mùa mưa thường

xảy ra lũ lụt vì độ dốc quá lớn (Bộ NN & PTNT; Viện ĐTQH rừng, 2001) [6]

Cùng với hệ thống sông suối, hồ Hồ Cao Vân với diện tích 146 ha, có dung tích khoảng 5.000.000m3, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước cho sản xuất sinh hoạt của nhân dân trong huyện và thành phố Hạ Long

3.1.4 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng

3.1.4.1 Địa chất:

Nền địa chất KBT thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng là các sản phẩm trầm tích lục nguyên hình thành vào kỷ Triat với các loại đá mẹ chủ yếu thuộc nhóm đá trầm tích như phiến thạch sét, đá cát kết Cũng do quá trình hoạt động tạo sơn và chấn động địa chất, khối Alumic silicat nóng chảy trong lòng đất phun trào rồi đông đặc lại hình thành nên đá Mắcma tại phần sườn, đỉnh

các dãy núi (Bộ NN&PTNT; Viện Điều tra Quy hoạch rừng, 2001)[6]

3.1.4.2 Thổ nhưỡng:

Kết quả điều tra xây dựng bản đồ dạng đất do Viện Điều tra Quy hoạch rừng xây dựng tháng 4 năm 2011 đã phát hiện trong khu vực có 22 dạng đất trong 4 nhóm đất chính:

- Nhóm đất Feralit có mùn trên núi trung bình, phân bố độ cao trên 700m, thuộc dãy núi Khe Ru, Am Váp, Đèo Mo Do có thảm thực bì che phủ nên tầng mùn dày, giàu dinh dưỡng

- Nhóm đất Feralit vùng đồi núi thấp phát triển trên nhóm đá sét, phân

bố ở sườn giữa thuộc các xã Đồng Lâm, Kỳ Thượng Đất phát triển trên đá phiến thạch sét, tầng đất trung bình, thành phần cơ giới là thịt trung bình đến nặng, hàm lượng dinh dưỡng khá Loại đất này thích hợp với các loại cây trồng lâm nghiệp như Dẻ, Trám, Keo

- Nhóm đất Feralit vùng đồi núi thấp phát triển trên đá cát, phân bố tập trung tại các xã Đồng Sơn, Hòa Bình, Đồng Lâm Đất phát triển trên đá sa

Trang 40

thạch, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, tầng đất trung bình từ 60- 80cm, nghèo dinh dưỡng, dễ bị xói mòn Loại đất này phù hợp với các loại cây trồng như Keo, Quế, Chè, Dứa

- Nhóm đất thung lũng: Phân bố ở ven sông suối ở hầu hết các xã Đất hình thành do sản phẩm bồi tụ nên tầng đất dày, giàu dinh dưỡng, thích hợp với các loài cây ăn quả, cây công nghiệp

Nhìn chung đất đai trong Khu BTTN là đất Feralit màu đỏ vàng, vàng đỏ đến vàng nhạt, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, đất tơi xốp dễ thoát nước, tầng đất trung bình, khả năng kết dính kém đất dễ bị rửa trôi, xói mòn nếu mất rừng Đất đai thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp nhưng đòi hỏi phải có phân bón

3.1.5 Thảm thực vật rừng

Căn cứ nguyên tắc và tiêu chuẩn phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng, qua khảo sát đã xác định khu vực Đồng Sơn - Kỳ Thượng có các kiểu thực vật sau:

 Kiểu thảm thực vật thường xanh mưa ẩm Á nhiệt đới núi thấp

 Kiểu thảm thực vật thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

Bảng 2.1 Thống kê diện tích các kiểu thảm thực vật rừng hiện nay của Khu

BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thượng

1 Rừng thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi

trung bình

1.137

2 Rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới 14.500,7

2.1 Kiểu phụ rừng thứ sinh sau khai thác 14.341,60 2.1.1 Ưu hợp Dẻ, Trám, Lim xanh, Trâm, Chẹo 2.483,74 2.1.2 Ưu hợp Thành ngạnh, Sau sau, Trâm, Dẻ, Kháo,… 7.560,15 2.1.3 Ưu hợp Thẩu tấu, Me rừng, Sim, Mua, Cỏ lào, 2.103,61 2.1.4 Ưu hợp cỏ lào, lau, lách, chè vè, 2.194,1

Ngày đăng: 15/11/2014, 22:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tiến Bân, Bùi Minh Đức và cs (1994), Một số rau dại ăn được ở Việt Nam, Nxb Quân đội Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số rau dại ăn được ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tiến Bân, Bùi Minh Đức và cs
Nhà XB: Nxb Quân đội Nhân dân
Năm: 1994
2. Ninh Khắc Bản (2003), Điều tra, đánh giá và biện pháp phát triển bền vững nguồn tài nguyên thực vật phi gỗ tại VQG Hoàng Liên, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ( 3/2002), trang 351-355 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, đánh giá và biện pháp phát triển bền vững nguồn tài nguyên thực vật phi gỗ tại VQG Hoàng Liên
Tác giả: Ninh Khắc Bản
Năm: 2003
3. Ninh Khắc Bản (2003), Điều tra và kiến nghị về khai thác, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thực vật phi gỗ cho rừng Hương Sơn, Hà Tĩnh, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, (3/2003), trang 94-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra và kiến nghị về khai thác, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thực vật phi gỗ cho rừng Hương Sơn, Hà Tĩnh
Tác giả: Ninh Khắc Bản
Năm: 2003
4. Trần Khắc Bảo (2003), Cây thuốc - nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đang có nguy cơ cạn kiệt, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, (10/2003), trang 1336-1338 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc - nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ đang có nguy cơ cạn kiệt
Tác giả: Trần Khắc Bảo
Năm: 2003
5. Nguyễn Ngọc Bình, Phạm Đức Tuấn, 2001, Trồng cây nông nghiệp, cây dược liệu và cây đặc sản dưới tán rừng, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng cây nông nghiệp, cây dược liệu và cây đặc sản dưới tán rừng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
7. Phùng Tửu Bôi (2005), Trồng và chế biến Thạch đen - một nghề cổ truyền của dân tộc Tày Nùng, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (1), trang 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trồng và chế biến Thạch đen - một nghề cổ truyền của dân tộc Tày Nùng, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ
Tác giả: Phùng Tửu Bôi
Năm: 2005
8. Lê Mộng Chân, Vũ Văn Dũng, 1992, Thực vật đặc sản rừng - Đại học lâm nghiệp, Xuân Mai, Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực vật đặc sản rừng -
9. Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 200, Giáo trình Thực vật rừng, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thực vật rừng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
10. Nguyễn Chiều, Nguyễn Tập (2006), Mô hình trồng ba kích ở vùng trung du và núi thấp, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (6/2006), trang 4-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình trồng ba kích ở vùng trung du và núi thấp
Tác giả: Nguyễn Chiều, Nguyễn Tập
Năm: 2006
11. Ngô Quý Công, Bruce Dunn (2005), Đề xuất về bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn Quốc gia Tam Đảo, Bản tin Lâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất về bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn Quốc gia Tam Đảo
Tác giả: Ngô Quý Công, Bruce Dunn
Nhà XB: Bản tin Lâm
Năm: 2005
12. Lê Thị Diên, Nguyễn Viết Tuân (2005), Một số kết quả phát triển cây thuốc nam tại vùng đệm Vườn quốc gia Bạch Mã, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (5), trang 22-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả phát triển cây thuốc nam tại vùng đệm Vườn quốc gia Bạch Mã
Tác giả: Lê Thị Diên, Nguyễn Viết Tuân
Năm: 2005
13. Lê Thị Diên, Trần Nam Thắng, Lê Thái Hùng (2006), Kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc nam dưới tán rừng tự nhiên, Trường Đại học Nông Lâm Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc nam dưới tán rừng tự nhiên
Tác giả: Lê Thị Diên, Trần Nam Thắng, Lê Thái Hùng
Năm: 2006
14. Lê Thị Diên, Trần Minh Đức, Lê Thái Hùng (2006), Kỹ thuật trồng và sơ chế Sâm Bố chính, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (6/2006), trang 4-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng và sơ chế Sâm Bố chính
Tác giả: Lê Thị Diên, Trần Minh Đức, Lê Thái Hùng
Năm: 2006
15. La Quang Độ (2001), Tìm hiểu việc sử dụng thực vật rừng làm thuốc, rau ăn của nhân dân các xóm Bản Cán, Nà Năm thuộc vườn quốc gia Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu việc sử dụng thực vật rừng làm thuốc, rau ăn của nhân dân các xóm Bản Cán, Nà Năm thuộc vườn quốc gia Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn
Tác giả: La Quang Độ
Năm: 2001
16. Lê Văn Giỏi (2006), Mô hình trồng cây thuốc nhập nội ở Sa Pa, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (6/2006), trang 18-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình trồng cây thuốc nhập nội ở Sa Pa
Tác giả: Lê Văn Giỏi
Năm: 2006
17. Trần Hồng Hạnh (1996), Nghề thuốc nam cổ truyền ở làng Nghĩa Trai, Luận án tốt nghiệp khoa học lịch sử chuyên ngành dân tộc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề thuốc nam cổ truyền ở làng Nghĩa Trai
Tác giả: Trần Hồng Hạnh
Năm: 1996
18. Phạm Thanh Huyền, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thuý Bình (2000), Tìm hiểu việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của người Dao xã Địch Quả - huyện Thanh Sơn-tỉnh Phú Thọ. Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của người Dao xã Địch Quả - huyện Thanh Sơn-tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Phạm Thanh Huyền, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thuý Bình
Năm: 2000
19. Trần Thị Lan (2005), Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã San Thàng - thị xã Lai Châu - tỉnh Lai Châu Khóa luận tốt nghiệp đại học, chuyên ngành Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã San Thàng - thị xã Lai Châu - tỉnh Lai Châu
Tác giả: Trần Thị Lan
Năm: 2005
21. Đỗ Hoàng Sơn, Đỗ Văn Tuân, Thực trạng khai thác, sử dụng và tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng khai thác, sử dụng và tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm
22. Nguyễn Văn Tập (2005), “Một số vấn đề bảo tồn cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng”, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (4), trang 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề bảo tồn cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng”, "Bản tin Lâm sản ngoài gỗ
Tác giả: Nguyễn Văn Tập
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Đường cong xác định loài LSNG làm thuốc và thực phẩm trong             một cộng đồng có thể dừng phỏng vấn khi số loài không tăng - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Hình 1 Đường cong xác định loài LSNG làm thuốc và thực phẩm trong một cộng đồng có thể dừng phỏng vấn khi số loài không tăng (Trang 34)
Bảng  2.1. Thống kê diện tích các kiểu thảm thực vật rừng hiện nay của Khu - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
ng 2.1. Thống kê diện tích các kiểu thảm thực vật rừng hiện nay của Khu (Trang 40)
Bảng 2.2. Thành phần hệ động vật của Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thƣợng - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 2.2. Thành phần hệ động vật của Khu BTTN Đồng Sơn - Kỳ Thƣợng (Trang 41)
Hình 4.2. Biểu đồ tỷ lệ sử dụng các bộ phận của các loài cây làm thuốc - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Hình 4.2. Biểu đồ tỷ lệ sử dụng các bộ phận của các loài cây làm thuốc (Trang 47)
Hình 4.3. Biểu đồ tỷ lệ sử dụng các bộ phận của các loài cây làm thực phẩm - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Hình 4.3. Biểu đồ tỷ lệ sử dụng các bộ phận của các loài cây làm thực phẩm (Trang 48)
Bảng 4.2. Nguồn gốc các loài LSNG đƣợc khai thác tại Khu bảo tồn - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 4.2. Nguồn gốc các loài LSNG đƣợc khai thác tại Khu bảo tồn (Trang 49)
Bảng 4.3. Thực trạng các loài LSNG khai thác cả cây, thân và dây làm thuốc - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 4.3. Thực trạng các loài LSNG khai thác cả cây, thân và dây làm thuốc (Trang 51)
Bảng 4.5. Thực trạng các loài LSNG khai thác rễ, củ làm thuốc - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 4.5. Thực trạng các loài LSNG khai thác rễ, củ làm thuốc (Trang 54)
Bảng 4.6. Thực trạng các loài LSNG khai thác vỏ, nhựa, mật làm thuốc - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 4.6. Thực trạng các loài LSNG khai thác vỏ, nhựa, mật làm thuốc (Trang 55)
Bảng 4.8. Thực trạng các loài LSNG khai thác thân, lá làm thực phẩm - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 4.8. Thực trạng các loài LSNG khai thác thân, lá làm thực phẩm (Trang 57)
Hình thức  thu hái - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Hình th ức thu hái (Trang 58)
Bảng 4.10. Thực trạng các loài LSNG khai thác quả làm thực phẩm - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Bảng 4.10. Thực trạng các loài LSNG khai thác quả làm thực phẩm (Trang 59)
Hình 2: Một số hình ảnh thu hái và sử dụng lâm sản ngoài gỗ tại cộng          đồng Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thƣợng - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Hình 2 Một số hình ảnh thu hái và sử dụng lâm sản ngoài gỗ tại cộng đồng Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thƣợng (Trang 62)
Hình 3: Một số hình ảnh gieo ƣơm và gây trồng lâm sản ngoài gỗ                 trong Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thƣợng - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
Hình 3 Một số hình ảnh gieo ƣơm và gây trồng lâm sản ngoài gỗ trong Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thƣợng (Trang 64)
BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN CÁN BỘ THÔN, XÃ - Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác lâm sản ngoài gỗ làm thuốc và thực phẩm tại khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn, Kỳ Thượng, Hoành Bồ, Quảng Ninh
BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN CÁN BỘ THÔN, XÃ (Trang 88)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w