1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản văn chương ở lớp 9

101 1,4K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay nhiều giáo viên đã sử dụng các phương pháp dạy học tích cực vào dạy học văn nhưng trong thực tế vẫn còn không ít giáo viên và học sinh còn nhiều lúng túng, thậm chí chưa hiểu cá

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa có ai công bố trong một công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Thanh Tùng

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN !

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất của mình tới Giáo sư, Tiến sĩ Lê A – Người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình làm luận văn và hoàn thành công trình nghiên cứu

Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm - Đại họcThái Nguyên, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012

Tác giả

Lê Thanh Tùng

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỤC LỤC

Trang

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Giả thuyết của luận văn 8

7 Kết cấu của luận văn 9

NỘI DUNG 10

Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN Ở LỚP 9 10

1.1 Cơ sở lý thuyết của việc ứng dụng bản đồ tư duy 10

1.1.1 Khái niệm về bản đồ tư duy 10

1.1.2 Vai trò, đặc điểm và cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy 11

1.1.3 Cơ sở sinh lý thần kinh 17

1.1.4 Cơ sở tâm lý học 17

1.2 Thực trạng ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản ở THCS 18

1.2.1 Xây dựng kế hoạch khảo sát 19

1.2.2 Học sinh THCS với việc ứng dụng bản đồ tư duy vào đọc hiểu văn bản ở lớp 9 20

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.2.3 Giáo viên THCS với việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học

đọc hiểu văn bản 28

1.2.4 Kết luận về thực trạng việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản ở THCS 31

Chương 2 ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC MỘT SỐ KIỂU BÀI ĐỌC HIỂU VĂN BẢN Ở LỚP 9 32

2.1 Một số định hướng chung khi ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản ở lớp 9 32

2.1.1 Về phạm vi ứng dụng bản đồ tư duy trong các trường hợp sau 32

2.1.2 Về nội dung cần lưu ý khi ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản 35

2.2 Ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu một số kiểu loại văn bản ở lớp 9 36

2.2.1 Ứng dụng bản đồ tư duy vào đọc hiểu các kiểu văn bản nghệ thuật 37

2.2.2 Ứng dụng bản đồ tư duy vào đọc hiểu kiểu văn bản nghị luận 46

2.2.3 Ứng dụng bản đồ tư duy vào đọc hiểu văn bản nhật dụng 49

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 54

3.1 Mục đích, ý nghĩa của thực nghiệm sư phạm 54

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 54

3.3 Nội dung thực nghiệm 55

3.4 Phương pháp tiến hành thực nghiệm 56

3.5 Thiết kế giáo án thực nghiệm 56

3.5.1 Giáo án 1: Tiết 102- Văn bản nhật dụng: 56

3.5.2 Giáo án 2: 61

3.5.3 Giáo án 3: 66

3.5.4 Giáo án 4: 76

3.6 Kết quả thực nghiệm 83

3.6.1 Các tiêu chí đánh giá 83

3.6.2 Kết quả thu được sau thực nghiệm 84

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3.7 Kết luận về thực nghiệm 85

3.7.1 Đối với giáo viên 85

3.7.2 Đối với học sinh 86

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

DANH MỤC QUY ƢỚC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Bản đồ tư duy: BĐTD Công nghệ thông tin: CNTT

Mâu thuẫn: ><

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Việc nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản văn chương ở lớp 9” xuất phát từ những lí do sau đây:

1.1 Yêu cầu mới của sự phát kinh tế - xã hội hiện đại

Xã hội tri thức phát triển với những tiến bộ vượt trội của khoa học thông tin

và tri thức hiện đại Con người là yếu tố trung tâm trong xã hội tri thức, là chủ thể kiến tạo xã hội

Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định từ nay đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta trở thành nước công nghiệp có cơ

sở vật chất - kỹ thuật hiện đại Để thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập Quốc tế, đất nước ta cần phải có nguồn nhân lực có trình

độ học vấn cao, có thể thực hiện được nhiều nhiệm vụ phức tạp đạt hiệu quả

Từ đó yêu cầu giáo dục phải thay đổi để đáp ứng nguồn nhân lực có chất lượng cao cho xã hội, giáo dục cần đào tạo con người đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường lao động và nghề nghiệp cũng như trong cuộc sống, có khả năng hòa nhập và cạnh tranh Quốc tế với năng lực hành động, tính sáng tạo, năng động, tính tự lực và trách nhiệm, năng lực cộng tác làm việc, năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp

Để làm được điều này yêu cầu giáo dục phải áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, hiện đại phù hợp với xu thế đổi mới của đất nước Luật giáo dục năm

2005 tại điều 28.2 có ghi: “Phương pháp dạy học phổ thông, phát huy tính tích cực,

tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.[24, 19]

1.2 Sự thay đổi của tâm lý xã hội, tâm lý tiếp nhận của người học

Khoa học công nghệ thông tin phát triển nhanh như vũ bão đã tạo nên văn hóa nghe-nhìn lấn át văn hoá đọc của nhà trường Tâm lý học sinh ngại học văn vì các kênh thông tin qua thực hành, áp dụng, qua quan sát trực tiếp đã thu hút các em

Trang 9

hơn Vì vậy nếu dạy học không quan tâm đến tâm lý của người học (Thích cái gì?),

mà giáo viên chỉ truyền thụ kiến thức một chiều (thông tin tiếp thụ một chiều) hoặc

áp dụng mang tính hình thức các phương pháp dạy học cũ kỹ thì người học hoàn toàn thụ động trong tiếp thu kiến thức Mặt khác, nhận thức của học sinh cũng khác trước, từ tư duy cụ thể chuyển sang tư duy lô gíc, tư duy trừu tượng Từ đó, yêu cầu phải sử dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực là cần thiết

1.3 Thực tiễn áp dụng phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực trong dạy học Ngữ văn hiện nay

Đặc trưng cơ bản của tác phẩm văn học là nghệ thuật xây dựng hình tượng bằng ngôn từ Học sinh lĩnh hội tri thức và thực sự rung cảm trước cái đẹp thông qua hình tượng nghệ thuật mang đậm tính thẩm mỹ của tác phẩm văn học, qua cách thức tổ chức giảng dạy của giáo viên và qua sự tích cực hoạt động của học sinh Nội dung phong phú của văn chương, tư tưởng chủ đề của một tác phẩm mà tác giả gửi gắm có được học sinh lĩnh hội, nhận thức đúng đắn để đạt tới giá trị thẩm mỹ và trí tuệ hay không còn phụ thuộc vào giáo viên lên lớp có phát huy ở học sinh lòng ham mê, tính tích cực học tập trong giờ đọc văn hay không Điều

đó đòi hỏi người giáo viên ngoài kỹ năng truyền đạt kiến thức còn phải biết tổ chức, khơi gợi cho học sinh những cảm hứng đặc biệt, mong muốn tìm hiểu, khám phá những kiến thức mới trong giờ đọc văn này Muốn vậy, ngoài khả năng thẩm thấu văn chương, giáo viên cần phải có khả năng sử dụng một số phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực một cách có hệ thống, có tính thuyết phục cao nhằm tạo ra sự lôi cuốn học sinh vào giờ học

Hiện nay nhiều giáo viên đã sử dụng các phương pháp dạy học tích cực vào dạy học văn nhưng trong thực tế vẫn còn không ít giáo viên và học sinh còn nhiều lúng túng, thậm chí chưa hiểu cách thức áp dụng kỹ thuật dạy học tích cực vào dạy đọc-hiểu văn bản đạt hiệu quả Trong thực tế tình huống đã xảy ra rất nhiều là khi giáo viên nêu lên một vấn đề cần giải quyết nào đó thì học sinh loay hoay không thể giải quyết được vấn đề khó khăn đó, và khi ấy giáo viên bằng kinh nghiệm của mình đành phải tự đưa ra đáp án Đó là một nghịch lý trong dạy học tích cực hiện nay mà giáo viên nhiều nơi mắc phải và kết quả thu được chưa như mong đợi

Trang 10

Vậy muốn học sinh thực sự được đối thoại với nhà văn thông qua tác phẩm văn chương thì người giáo viên phải có một hệ thống những phương pháp, kỹ thuật dạy học với cách thức tổ chức dạy học linh hoạt, hợp lý, tạo ra được những tình huống thu hút được sự chú ý của học sinh đồng thời phát huy được tính tích cực, chủ động và sự say

mê khám phá cái hay cái đẹp trong tác phẩm văn chương của người học

Từ nhận thức trên, tôi đã chọn đề tài “Ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản văn chương ở lớp 9”, mong muốn sẽ tác động đến việc thu hút học sinh học tập môn Ngữ văn, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong tiếp nhận kiến thức văn học, góp phần nhỏ bé trong việc tháo gỡ những khó khăn phức tạp về phương pháp dạy học văn ở trường phổ thông hiện nay

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Về việc nghiên cứu dạy học tích cực ở một số nước

Vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong dạy học Ngữ văn nói riêng là vấn đề được nhiều nước trên thế giới đề cập tới

Đặc biệt là giáo trình đổi mới phương pháp dạy học của các nước Anh, Mỹ, Liên xô Trong đó phải kể đến công trình nghiên cứu của tác giả V.A Nhikônxki

(Liên xô) với cuốn: “Phương pháp giảng dạy văn ở trường phổ thông” do Ngọc

Toàn - Bùi Lê dịch - Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội - 1978

Tài liệu này gồm 2 tập:

Tập 1: Từ chương I đến chương V

Tập 2: Từ chương VI đến chương IX

Trong giáo trình này, tác giả đã trình bày mục đích, nhiệm vụ, nội dung và vị trí của môn văn ở trường phổ thông (cấp II và cấp III), các nguyên tắc, phương pháp, thủ thuật giảng dạy văn ở trường phổ thông

Đáng chú ý là ở chương I, tác giả đã trình bày rõ quan điểm “Học sinh là độc giả của tác phẩm văn học” Ở chương II, tác giả nêu ra các phương pháp giáo dục

thẩm mỹ trong giờ dạy học văn và sự phát triển các kỹ năng, năng khiếu văn của học sinh Ở chương V, tác giả đã chú ý đến phương pháp tọa đàm của thầy và trò

Trang 11

trong giờ dạy học văn Song đây vẫn chỉ là tài liệu định hướng chung, là cơ sở lý luận về đổi mới phương pháp dạy học văn chứ chưa thật sự đi vào các kỹ thuật dạy học tích cực cụ thể

2.2 Việc nghiên cứu dạy học tích cực ở Việt Nam

Ở Việt Nam, bàn về đổi mới phương pháp dạy học văn theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đã được Đảng, Nhà nước và Bộ GD&ĐT quan tâm từ rất lâu Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả về

vấn đề này được đăng trên sách báo, tạp chí Trong số đó phải kể đến bài: “Dạy văn

là một quá trình rèn luyện toàn diện” đăng trên tạp trí nghiên cứu giáo dục số 28 -

11/1973 của thủ tướng Phạm Văn Đồng -Người đã có nhiều tâm huyết với sự nghiệp phát triển đất nước và nền giáo dục nước nhà

Theo tác giả, dạy học văn là phải gợi được “suy nghĩ, tìm tòi, rèn luyện bộ

óc, trí thông minh, tài sáng tạo… tức là rèn luyện phương pháp suy nghĩ… dạy cách viết, cách nói, cách “đọc văn” để giờ văn trở nên hấp dẫn, sôi nổi và hứng thú đối với học sinh hơn”[8, 14]

Cuốn tài liệu: “Áp dụng dạy và học tích cực trong môn văn học” của nhóm

các tác giả: Trần Bá Hoành, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến, Nguyễn Trọng Hoàn Tài liệu này gồm ba phần chính:

Phần 1: Lý luận chung về dạy và học tích cực

Phần 2: Áp dụng dạy và học tích cực trong môn Văn

Phần 3: Danh sách các băng hình minh họa kèm theo

Đây là cuốn tài liệu thể hiện được những vấn đề chung của dạy học tích cực

và những vấn đề cụ thể khi áp dụng, thiết kế bài dạy học ở môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông

Cuốn tài liệu “Dạy và học tích cực-một số phương pháp và kĩ thuật dạy học”

do tác giả Nguyễn Lăng Bình (chủ biên) giới thiệu một số phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực hiện nay được thực hiện tại nhiều nước trên thế giới và các nước trong khu vực nhằm giúp cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục Việt Nam tiếp cận với một số phương pháp và kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực của học sinh

Trang 12

Các phương pháp và kỹ thuật dạy học nêu ra đều hướng tới tăng cường sự tham gia hợp tác tích cực của học sinh, tạo điều kiện phân hóa trình độ của người học, phát huy khả năng tối đa của người học, đảm bảo cho người học học sâu hơn

và thoải mái hơn Đồng thời hình thành các kỹ năng hợp tác, giao tiếp, trình bày, tìm kiếm, thu thập, xử lý thông tin, giải quyết vấn đề, chuẩn bị hành trang cho học sinh đối diện với thử thách trong cuộc sống, góp phần đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu sự phát triển Kinh tế-xã hội

2.3 Về lý thuyết bản đồ tư duy và ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học

Từ những năm 60 của thế kỉ XX, vấn đề này trên thế giới đã được đề cập tới, thể

hiện rõ nhất trong cuốn “Bản đồ tư duy trong công viêc”(Mindmaps at work) của Tony

Buzan (người Anh) Ở cuốn sách này, tác giả đã giúp bạn đọc khám phá “khả năng đạt đến sự cân bằng trong công việc và cuộc sống" [4, 18-20] bằng việc trình bày những phương pháp mới để giải quyết vấn đề , nắm bắt sức mạnh của sự thay đổi, cách thức hoạt động nhóm hiệu quả, bí quyết thuyết trình thành công,… thông qua những ví dụ sinh động về sự áp dụng thành công bản đồ tư duy trong công việc

Từ đó, Tony Buzan đã đưa ra hàng loạt công trình nghiên cứu khác nhằm hệ thống lại cách tạo lập một bản đồ tư duy thông thường như sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc từ khóa… Nhưng do mục đích xây dựng lý thuyết bản đồ tư duy trong công việc nên Tony Buzan không đề cập tới ứng dụng bản đồ tư duy trong hoạt động dạy học ở nhà trường nói chung

Về ứng dụng bản đồ tư duy phải kể đến cuốn sách của Joyce Wycoff với nhan đề

“Ứng dụng bản đồ tư duy” - cuốn sách đã được tác giả giới thiệu kĩ thuật xây dựng một

bản đồ tư duy thông thường, đồng thời tác giả khẳng định bản chất của nó - “đó là kĩ thuật suy nghĩ bằng cả bộ não” Ông đã chỉ ra khả năng vận dụng rộng rãi bản đồ tư duy vào nhiều lĩnh vực trong thực tiễn đời sống con người bao gồm: việc lập kế hoạch, ghi chép, quản lý cuộc họp, thuyết trình, học tập, phát triển cá nhân…

Xét riêng về mảng học tập, Wycoff nhấn mạnh “lập bản đồ tư duy là hình thức ghi chép hiệu quả” vì nó cho phép người sử dụng “nhanh chóng ghi lại các ý

tưởng bằng từ khóa, sắp xếp một cách cơ bản thông tin khi nó được truyền tải, tự

Trang 13

động loại bỏ những từ không quan trọng và đưa ra sự sắp xếp sơ bộ thông tin được tiếp nhận” [28, 188] Như vậy, điều được tác giả quan tâm nhất ở đây là bản đồ tư duy có thể ứng dụng như một công cụ ghi nhớ ở nhiều lĩnh vực

Ở Việt Nam, xét riêng trong phạm vi dạy học trong nhà trường phổ thông,

việc ứng dụng bản đồ tư duy còn rất khiêm tốn, ngoài cuốn tài liệu “Dạy và học tích cực” nêu trên còn phải kể đến tập tài liệu “Một số chuyên đề bồi dưỡng cán bộ quản

lý và giáo viên THCS” của nhóm tác giả thuộc dự án phát triển giáo dục THCS II -

Bộ GD&ĐT do TS Trần Đình Châu chủ biên Tập tài liệu này đã được Bộ GD&ĐT triển khai tập huấn cho cán bộ quản lý và giáo viên THCS cốt cán trong thời gian hè năm 2011 Trong đó cũng nêu rõ việc thiết kế một bản đồ tư duy để hỗ trợ đổi mới phương pháp dạy học và quản lý nhà trường Song do mục đích quán triệt đổi mới phương pháp dạy học chung trong toàn ngành nên việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học vẫn chỉ mang tính định hướng chung Đặc biệt việc ứng dụng bản đồ tư duy trong dạy học đọc hiểu văn bản Ngữ văn nói riêng mới chỉ được trình bày tổng quát, chủ yếu thông qua một số bài học điển hình, còn cụ thể ứng dụng trong từng trường hợp như thế nào,…thì vẫn chưa được đề cập tới

Kết luận chung về các tài liệu viết về phương pháp dạy học văn và dạy học tích cực nêu trên:

Qua các công trình nghiên cứu, các giáo trình và bài viết về đổi mới phương pháp dạy học văn cũng như dạy và học tích cực, công trình nghiên cứu về lý thuyết cũng như ứng dụng bản đồ tư duy, các tác giả đã nêu ra được những vấn đề chung nhất của đổi mới phương pháp dạy học văn nói chung trong nhà trường phổ thông

và phương pháp tiếp cận và khám phá tác phẩm văn chương nói riêng Đề xuất các phương pháp, biện pháp, kỹ thuật tiếp nhận và cảm thụ trong dạy học văn từ đó những giáo viên đứng lớp có thể vận dụng để dạy học văn theo hướng đổi mới hiện đại, xóa bỏ lối dạy học truyền thụ kiến thức một chiều theo kiểu thầy đọc-trò chép, hướng tới một cách dạy học mới có sự thẩm thấu tổ chức linh hoạt của người dạy,

sự chủ động sáng tạo của người học để giờ văn thực sự có nhiều bổ ích

Trang 14

Đây là những tài liệu, những công trình nghiên cứu giúp cho tôi nhiều hiểu biết thấu đáo và là cơ sở vững trắc để tôi tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về đề tài này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Áp dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực vào Đọc hiểu văn bản ở lớp 9

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu việc ứng dụng bản đồ tư duy

vào dạy học đọc hiểu văn bản ở lớp 9

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là:

Trên cơ sở lí thuyết và thực tiễn về dạy học tích cực, luận văn triển khai ứng dụng

kỹ thuật bản đồ tư duy nhằm góp phần nâmg cao hiệu quả dạy và học đọc hiểu văn bản

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn cần nghiên cứu giải quyết các nhiệm vụ sau:

a Xác định cơ sở lí thuyết và thực tiễn của việc ứng dụng các kĩ thuật dạy học tích cực bằng bản đồ tư duy

b Triển khai ứng dụng kĩ thuật dạy học tích cực (Bản đồ tư duy) vào các kiểu bài học đọc hiểu văn bản ở lớp 9 - THCS

c Thực nghiệm sư phạm để đánh giá khả năng thực thi và hiệu quả của việc ứng dụng kĩ thuật bản đồ tư duy vào thực tiễn quá trình dạy học

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này, luận văn áp dụng những phương pháp sau đây:

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Tìm hiểu các công trình nghiên cứu, các tài liệu trong sách, báo, tạp chí, đã công bố của các tác giả trong và ngoài nước để có được cơ sở lý luận, lịch sử nghiên cứu về phương pháp dạy học văn nói chung và một số kỹ thuật dạy học tích cực trong dạy học văn nói riêng Qua đó nghiên cứu lý thuyết về phát huy tính tích cực, chủ động trong giờ đọc hiểu văn bản cho học sinh ở trường phổ thông

Trang 15

5.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

5.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm

Quan sát các giờ dạy học đọc hiểu văn bản ở trường THCS đểxem những ưu điểm, tồn tại, khó khăn trở ngại của giáo viên và học sinh khi tiếp cận khám phá một văn bản văn học Từ đó thu thập thông tin, xem xét hứng thú của học sinh trong giờ học văn để có biện pháp ứng dụng các kỹ thuật dạy học mới vào giờ đọc hiểu văn bản

5.2.2 Phương pháp điều tra giáo dục

Cùng với phương pháp quan sát, chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng những khó khăn của giáo viên và hứng thú học tập của học sinh trong giờ đọc hiểu

văn bản bằng cách:

Phát phiếu điều tra thăm dò ý kiến của giáo viên và học sinh về tâm lý (thích hay không thích) giờ đọc văn, cách tiếp cận, cảm thụ khi khám phá một tác phẩm văn chương Học sinh có được vui vẻ, thoải mái, hào hứng trong giờ đọc hiểu văn hay không…

Ngoài ra chúng tôi còn phỏng vấn giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh, nhà quản lý giáo dục về phương pháp dạy học văn và tâm lý tiếp nhận văn chương của học sinh hiện nay để thu được những số liệu cụ thể nhằm phục vụ quá trình nghiên cứu

5.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Qua tìm hiểu, nghiên cứu sâu về lý thuyết, nghiên cứu về thực tế, chúng tôi thiết kế một số bài đọc hiểu văn bản trong chương trình Ngữ văn lớp 9 THCS và trực tiếp dạy thử nghiệm nhằm kiểm chứng các kỹ thuật dạy học tích cực và những giải pháp đề tài nêu ra

6 Giả thuyết của luận văn

Trong dạy học Ngữ văn nói chung, đọc hiểu văn bản nói riêng, có thể ứng dụng bản đồ tư duy Nếu ứng dụng bản đồ tư duy phù hợp với đặc điểm tâm lý nhận thức của học sinh, phù hợp với kiểu loại văn bản và thể hiện được giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản thì sẽ góp phần kích thích hứng thú học tập, rèn luyện tư duy cho học

sinh, giúp các em cảm nhận văn bản một cách chắc chắn và sâu sắc hơn

Trang 16

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn bao gồm 3 phần lớn: Mở đầu, Nội dung và Kết luận

* Phần mở đầu bao gồm:

- Lý do chọn đề tài

- Lịch sử vấn đề

- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu

- Giả thuyết của luận văn

- Kết cấu luận văn

* Phần nội dung chính của luận văn gồm:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết và thực tiễn của việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản ở lớp 9

Chương 2: Ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học một số kiểu bài đọc hiểu văn bản ở lớp 9

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

* Phần kết luận

Trang 17

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG

BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN Ở LỚP 9

1.1 Cơ sở lý thuyết của việc ứng dụng bản đồ tư duy

1.1.1 Khái niệm về bản đồ tư duy

Từ những năm 60 của thế kỷ XX trong lĩnh vực khoa học đã xuất hiện một thuật ngữ mới: mindmap - với nghĩa là “bản đồ tư duy”, “sơ đồ tư duy” “bản đồ trí não” hay “tâm bản đồ” Trong cuốn “Bản đồ tư duy trong công việc”, Tony Buzan

đã định nghĩa: “bản đồ tư duy là một hình thức ghi chép, sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm Ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý chính và đều được nối với ý tưởng trung tâm” [4, 20-21] Trong khái niệm này, có thể nói rằng cách giải thích của Tony Buzan là nhấn mạnh nhiều đến các yếu tố thuộc về đặc điểm hình thức cũng như phương thức xây dựng một bản đồ tư duy trong công việc

* Trang web wiktionary.org, chuyên trang từ điển quốc tế định nghĩa: “bản

đồ tư duy là một dạng biểu đồ được dùng để biểu thị các từ ngữ, ý tưởng, nhiệm vụ hoặc yếu tố khác có liên quan hoặc được sắp xếp xung quanh một từ khóa hoặc ý tưởng trung tâm”[29, 2]

Để giải thích rõ hơn khái niệm nêu trên, website wiktionary.org bổ sung thêm các bản đồ tư duy được sử dụng nhằm tạo ra hoặc phân loại các ý tưởng, cũng như là một phương tiện hỗ trợ trong học tập, tổ chức, giải quyết vấn đề, đưa ra các quyết định

Trang web ehow.com cũng đề cập và nhấn mạnh hơn vấn đề “lập bản đồ tư duy” để trên cơ sở ấy nêu lên cách hiểu về “bản đồ tư duy” Theo đó: “lập bản đồ tư duy là một kỹ thuật được sử dụng để giải quyết vấn đề Thay cho các danh sách truyền thống, bản đồ tư duy khuyến khích các quan hệ tư duy Nó là một công cụ đơn giản và nhanh chóng được sử dụng để tạo ra các ý tưởng và hỗ trợ “tư duy bên ngoài bộ não”[30, 3]

Trang 18

Ngoài ra, tại trang thông tin điện tử Mindmap blog.com cũng nêu rõ: “một bản đồ tư duy sử dụng các ý tưởng trực quan thuộc về thị giác để tạo ra một hình thức tổ chức kế hoạch Một biểu đồ phản ánh một cách tự nhiên cách bộ não xử lý thông tin Thông tin và các nhiệm vụ tỏa ra từ một chủ đề hoặc mục tiêu trung tâm hơn là ghi một tiêu đề như trong một danh sách Các yếu tố liên quan kết nối với các đường nối, những yếu tố mới có thể được chụp ngẫu nhiên và sau đó tổ chức thành các kế hoạch lớn hơn, với những ý tưởng mới chảy trôi tự nhiên như một biểu

đồ chi tiết Thông tin có thể được minh họa bằng các ký hiệu, từ ngữ, màu sắc, hình ảnh, liên kết, đường nối và đính kèm thêm bối cảnh, giúp cho việc phát hiện, biểu lộ

ra các hướng đi mới cũng như những ý tưởng to lớn và rõ ràng hơn”[31, 4]

“Bản đồ tư duy sẽ cung cấp cái nhìn toàn cảnh bức tranh tổng thể về một chủ

đề hay lựa chọn của mình Bản đồ tư duy cũng lưu trữ lượng lớn thông tin một cách hiệu quả, nhưng quan trọng nhất là thấy được bản đồ tư duy cuối cùng không những

dễ nhìn, dễ đọc, mà hơn thế nữa còn sử dụng tiềm năng của bộ não theo cách rất thú vị Nó giúp phát triển những kỹ năng mới cho bộ não - Những điều thường bị coi nhẹ trong các phương pháp dạy học truyền thống”[31,5-6]

Như vậy, từ những cách giải thích và minh họa về bản đồ tư duy của các nhà nghiên cứu nêu trên, trên thực tế khó có thể tìm ra được một định nghĩa hoàn chỉnh, thống nhất về bản đồ tư duy trong khoa học giáo dục Để phục vụ cho việc nghiên cứu và triển khai đề tài này được hiệu quả, chúng tôi đã dựa trên các tài liệu và tổng hợp các ý kiến, mạnh dạn đưa ra khái niệm như sau:

Bản đồ tư duy là một kỹ thuật dạy học chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tự học nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực

1.1.2 Vai trò, đặc điểm và cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy

1.1.2.1 Vai trò của bản đồ tư duy trong dạy học

Nghĩa của cụm từ bản đồ tư duy không hiểu theo nghĩa bản đồ thông thường như bản đồ địa lý mà bản đồ tư duy được hiểu là một hình thức ghi chép theo mạch

tư duy của mỗi người bằng việc kết hợp nét vẽ, màu sắc và chữ viết Đặc biệt đây là

Trang 19

một sơ đồ mở, việc thiết kế bản đồ tư duy theo mạch tư duy của mỗi người, không yêu cầu tỷ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồ địa lý, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một nội dung nhưng mỗi người có thể thể hiện nó dưới dạng bản đồ tư duy theo một cách riêng, do đó việc lập bản đồ tư duy phát huy được tối đa khẳ năng sáng tạo của mỗi người

Bản đồ tư duy - một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kỹ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não Nó được coi là sự lựa chọn cho toàn bộ trí óc hướng tới lối suy nghĩ mạch lạc

Tony Buzan trong các nghiên cứu để tìm ra hoạt động của bộ não đã cho rằng: “một hình ảnh có giá trị hơn cả ngàn từ ” và “màu sắc cũng có tác dụng kích thích não như hình ảnh Màu sắc mang đến cho bản đồ tư duy những dung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo” [3, 87]

1.1.2.2 Đặc điểm của bản đồ tư duy

Qua các nghiên cứu lý thuyết bản đồ tư duy, Tony Buzan đã miêu tả các đặc điểm của bản đồ tư duy trên cơ sở so sánh việc lập một bản đồ tư duy với lập một danh sách thông thường theo kiểu liệt kê Từ đó ông kết luận có ba kiểu ghi chép thông thường và phổ biến của học sinh phổ thông và sinh viên các trường Đại học như sau:

(1)Dùng câu đầy đủ để ghi lại nội dung cần thiết ở dạng tường thuật

(2) Liệt kê, ghi lại các ý tưởng theo tuần tự xuất hiện của nó (thường là sự xuất hiện trong tư duy người học)

(3) Làm dàn ý, ghi chú theo kiểu xâu chuỗi các ý với nhau, phân tích rõ ý lớn, ý nhỏ

Với kiểu ghi chép này, hình thức và công cụ được sử dụng rất hạn chế: dòng thẳng, câu đúng ngữ pháp, chữ và số thông thường, một màu sắc duy nhất hoặc dùng hai màu là tối đa Tất cả những yếu tố này mặc dù vẫn mang lại hiệu quả ghi chép hay ghi nhớ cho người học Song, xét về tổng thể và dựa trên lý thuyết tiếp

Trang 20

nhận của con người, nó cũng có nhiều bất lợi với người sử dụng như: các từ khóa nêu bật vấn đề bị chìm khuất với những yếu tố ngôn từ kỹ thuật cần thiết khác, gây lãng phí thời gian hơn vào việc thiết lập ý tưởng bằng câu có ngữ pháp đầy đủ; mất nhiều thì giờ để ghi nhớ, sắp xếp ý tưởng, khó tìm ra ngay mối liên hệ giữa các ý tưởng, dễ rơi vào tình trạng chán nản, thất vọng do giữ mãi trạng thái phải liệt kê

mà không biết điểm dừng

Từ những vấn đề còn tồn tại nêu trên, Tony Buzan đã đưa ra một hình thức ghi chép mới gọi là “bản đồ tư duy” Theo ông, ở một bản đồ tư duy thường có các đặc điểm sau:

* Đặc điểm thứ nhất: bản đồ tư duy luôn bắt đầu hình thành từ một hình vẽ

hay một ý tưởng trung tâm (từ khóa) Theo các nghiên cứu khoa học, hình ảnh bao giờ cũng có giá trị tự khắc thu hút sự tập trung của mắt và não bộ, kích thích vô số liên kết trong quá trình tư duy; đồng thời giúp người tiếp nhận có thể ghi nhớ dễ dàng, hiệu quả Ở bản đồ tư duy, nếu buộc vẫn phải dùng từ để thay thế cho hình ảnh làm trung tâm thì người sử dụng vẫn có thể biến đổi con chữ, thay đổi kích cỡ, màu sắc, nhằm gia tăng tính sinh động Như vậy, hình ảnh đóng vai trò làm điểm nhấn kích thích sự sáng tạo tư duy của người sử dụng Nó phản ánh trung thành, nổi bật, thể hiện rõ nhất nội dung chính cần triển khai

Từ hình ảnh trung tâm đã xây dụng được, hàng loạt các đường kẻ đậm được tỏa ra theo nhiều hướng Mỗi đường kẻ này được thể hiện bằng một màu sắc khác nhau, được ghi chú bằng một từ khóa có liên quan đến nội dung chính của vấn đề - hay có liên quan đến hình ảnh trung tâm Các nhánh lớn này lại được phân thành những nhánh nhỏ nhằm nghiên cứu chủ đề ở mức độ cụ thể hơn Những nhánh nhỏ tiếp tục phân xuất ra các nhánh nhỏ hơn nữa, thể hiện mức độ chi tiết hóa ngày càng cao Như vậy, nhờ sự kết nối giữa các nhánh mà các ý tưởng được khắc họa ra cũng có sự liên kết chặt chẽ với nhau, từ đó mà bản đồ tư duy vừa bao quát được các ý tưởng trên phạn vi rộng giúp người dùng có cái nhìn tổng quan, lại vừa thể hiện được những ý tưởng ở tầm thấp, mang lại sự hiểu biết vấn đề từ cấp độ nhỏ nhất

Trang 21

* Đặc điểm thứ hai: bản đồ tư duy so với lối ghi chép thông thường sẽ tận dụng triệt để được các yếu tố có tác dụng nhấn mạnh cốt lõi của vấn đề hay ý tưởng, phân biệt vùng ý tưởng này với vùng ý tưởng khác

1.1.2.3 Cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy

Cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy chú trọng tới một ý tưởng thông qua một

từ khóa trung tâm, tới các hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới liên tưởng tạo thành cấu trúc của các nhánh

Bản đồ tư duy dùng từ khóa thay vì sử dụng câu đầy đủ và đúng ngữ pháp như đa số người học thường dùng Những từ khóa này có tác dụng thâu tóm nội dung thông tin cần lưu ý, ghi nhớ một cách ngắn gọn mà vẫn phản ánh rõ nét nhất những nội dung ấy Việc đưa từ khóa vào bản đồ tư duy vừa giúp người học tiết kiệm được thời gian ghi chép, mặt khác giúp người dùng nhấn mạnh vào các ý tưởng Vì thế khi xem lại bản đồ tư duy bất kỳ, người học có thể nhanh chóng thâu tóm được ngay đơn vị kiến thức cần quan tâm cũng như dễ dàng biết được mối liên

hệ giữa các yếu tố trong nội dung kiến thức cần chiếm lĩnh

Trong bản đồ tư duy hình ảnh được xem là một trong những yếu tố có khả năng huy động nhiều nhất các kỹ năng tư duy trên vỏ não Đó là bởi nó bao gồm trong mình nhiều đơn vị như màu sắc, đường nét, hình khối, kích thước, kết cấu, bố cục và đặc biệt hình ảnh nào cũng đem đến sự hình dung, tưởng tượng ở người đọc Vì thế so với từ ngữ thông thường, một hình ảnh bất kỳ bao giờ cũng thường kích thích não làm việc hiệu quả hơn, tạo ra những phản ứng nhanh chóng và đa dạng hơn

Bản đồ tư duy sử dụng đa dạng các loại màu sắc khác nhau Ở đây, màu sắc được dùng nhằm thể hiện mức độ quan trọng của những vấn đề đang phát triển, cấu trúc, sắp xếp ý tưởng, phân biệt các vùng So với việc chỉ sử dụng một màu hoặc hai màu đơn giản để viết các ghi chú theo kiểu liệt kê thì dùng nhiều màu sắc khác nhau sẽ có tác dụng kích thích hơn đối với hoạt động tiếp nhận, ghi nhớ và sáng tạo, giảm thiểu được sự đơn điệu, nhàm chán Mặt khác, màu sắc cũng giúp cho cấu trúc

và hình vẽ trong bản đồ tư duy thêm sinh động

Trang 22

Như vậy, bản đồ tư duy là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ với nhau Sản phẩm của bản đồ tư duy cuối cùng mang lại giá trị thẩm mỹ, phản ánh sâu sắc nội dung đến mức độ nào là phụ thuộc vào khả năng động não, tưởng tượng, liên hệ và năng lực cảm thụ nghệ thuật của từng cá thể Vì vậy, có thể vận dụng bản

đồ tư duy vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, ôn tập, luyện tập hay hệ thống hóa kiến thức và lập kế hoạch công tác, học tập

Để minh họa rõ nét cho những đặc điểm hình thức nêu trên, đề tài có thể dẫn

ra một số bản đồ tư duy như sau:

(Bản đồ tư duy thể hiện tổng quan về BĐTD)1

[ Xem phụ lục 1]

Trang 23

(Bản đồ tư duy về cách thiết kế BĐTD)2

Trang 24

Bản đồ tư duy với mục tiêu phát triển tư duy logic, khả năng phân tích, tổng hợp,… có thể có tác dụng phù hợp với tâm sinh lý học sinh, mang lại hiệu quả ghi nhớ dưới dạng sơ đồ hóa kiến thức Qua nghiên cứu về cơ sở sinh lý thần kinh và cơ

sở tâm lý học, chúng ta làm rõ thêm điều này

1.1.3 Cơ sở sinh lý thần kinh

Thành tựu nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy, bộ não không tư duy theo dạng tuyến tính mà bằng cách tạo ra những kết nối, những nhánh thần kinh Việc ghi chép tuần tự theo lối truyền thống với bút và giấy có dòng kẻ đã khiến cho con người cảm thấy nhàm chán

Lâu nay đã có một số quan điểm cho rằng, con người không sử dụng hết 100% các tế bào não, có đến 90% tế bào còn lại ở trạng thái ngủ yên vĩnh viễn Những nghiên cứu bằng ảnh cộng hưởng từ chức năng cho thấy, toàn bộ não hoạt động một cách đồng bộ trong các hoạt động tinh thần của con người và quá trình

tư duy là sự kết hợp phức tạp giữa ngôn ngữ, hình ảnh, khung cảnh, màu sắc, âm thanh và giai điệu Tức là quá trình tư duy đã sử dụng toàn bộ các phần khác nhau trên bộ não

Một khi học sinh tiến hành thí nghiệm hoặc khám phá những thông điệp còn nằm sâu dưới lớp ngôn từ của văn bản nào đó thì não trái đóng vai trò thu thập thông tin, cứ liệu, còn não phải đóng vai trò xây dựng sơ đồ, thu thập hình ảnh tổng thể về đối tượng cần nghiên cứu Ngoài ra tính hấp dẫn của hình ảnh, âm thanh, kết quả bất ngờ của thí nghiệm, gây ra những kích thích rất mạnh lên hệ thống rìa (hệ thống cổ áo) của não giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi để vỏ não phân tích, xử lý, rút ra kết luận hoặc xây dựng

mô hình về đối tượng cần nghiên cứu

1.1.4 Cơ sở tâm lý học

Trực giác đóng vai trò quan trọng trong sáng tạo Cơ sở của trực giác là trí tưởng tượng khoa học Trí tưởng tượng là khả năng tạo hình ảnh phản ánh đối tượng cho trước ở trong óc, trí tưởng tượng đóng vai trò quan trọng trong sáng tạo bởi con người tưởng tượng ra cái mới ở trong óc rồi mới biến nó thành hiện thực

Trang 25

Khi ta suy nghĩ về một vấn đề gì đó, thông tin được tích lũy trong não một cách dần dần Bằng trí tưởng tượng của mình, con người xây dựng các sơ đồ, mô hình và tiến hành thao tác với các “vật liệu” ấy Khi được những sự kiện mới làm nảy sinh, kích thích, khơi gợi Những thông tin từ trong não bật ra tự nhiên và dễ dàng, giúp con người phán đoán nhanh và cái mới xuất hiện Những hình vẽ, ký hiệu, màu sắc đóng vai trò quan trọng trong tưởng tượng, nếu không có chúng thì không thể tạo ra được sự liên kết giữa các ý tưởng [8, 36]

Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, bản đồ tư duy có thể phục vụ một số mục đích Trong đó mục đích chính là làm cho tư duy trở nên nhìn thấy được qua bản đồ tư duy là:

- Tìm hiểu những gì ta biết, giúp xác định những khái niệm then chốt, thể hiện mối liên hệ giữa các ý tưởng và lập nên một mẫu có ý nghĩa từ những gì ta biết

và hiểu, do đó giúp ghi nhớ một cách bền vững

- Trợ giúp lập kế hoạch cho một hoạt động hoặc một dự án thông qua tổ chức

và tập hợp các ý tưởng và thể hiện mối liên hệ giữa chúng

- Trợ giúp đánh giá kinh nghiệm hoặc kiến thức thông qua quá trình suy nghĩ

về những yếu tố chính trong những gì đã biết hoặc đã làm

- Trong bản đồ tư duy, học sinh được tự do phát triển các ý tưởng, xây dựng mô hình và thiết kế mô hình vật chất hoặc tinh thần để giải quyết những vấn đề thực tiễn Từ đó, cùng với việc hình thành được kiến thức, các kỹ năng

tư duy (đặc biệt là các kỹ năng tư duy bậc cao) của học sinh cũng được phát triển [1, 69]

1.2 Thực trạng ứng dụng bản đồ tƣ duy vào dạy học đọc hiểu văn bản ở THCS

Để tìm hiểu được thực trạng việc ứng dụng bản đồ tư duy vào đọc hiểu văn bản ở THCS nói chung và lớp 9 nói riêng, chúng tôi đã xây dựng kế hoạch khảo sát thực tiễn với các nội dung sau:

Trang 26

1.2.1 Xây dựng kế hoạch khảo sát

1.2.1.1 Mục đích khảo sát

Mục đích của việc khảo sát là phát hiện ưu điểm, đồng thời chỉ rõ những khó khăn trong ứng dụng bản đồ tư duy vào đọc hiểu văn bản ở THCS nói chung và ở lớp 9 nói riêng hiện nay Từ đó phát huy những ưu điểm đã được khẳng định, đề xuất những biện pháp nhằm khắc phục những khó khăn về các mặt: tiếp cận với việc ứng dụng bản đồ tư duy một cách thường xuyên; các biện pháp để ứng dụng hiệu quả bản đồ tư duy trong đọc hiểu văn bản

1.2.1.2 Nội dung khảo sát

- Về phía học sinh: chúng tôi tìm hiểu thực trạng việc nhận biết và ứng dụng bản đồ tư duy trong giờ đọc hiểu văn bản ở lớp 9 trên các bình diện sau:

+ Tâm lý của học sinh THCS với việc ứng dụng bản đồ tư duy vào đọc hiểu văn bản

+ Những khó khăn khi học sinh ứng dụng bản đồ tư duy và nguyên nhân của vấn đề này

+ Hoạt động ứng dụng bản đồ tư duy của học sinh vào đọc hiểu văn bản ở trên lớp và ở nhà

- Về phía giáo viên: chúng tôi tiến hành khảo sát trên ba bình diện sau:

+ Những ưu điểm và hạn chế khi giáo viên ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy đọc hiểu văn bản ở lớp 9

+ Những cố gắng của giáo viên trong việc ứng dụng bản đồ tư duy vào đọc hiểu văn bản trong thời gian qua

+ Tâm tư nguyện vọng của giáo viên khi được ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy đọc hiểu văn bản

1.2.1.3 Địa bàn khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát thực tế việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy và học phần đọc hiểu văn bản lớp 9 ở ba trường THCS vùng núi phía Bắc thuộc huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang (trường THCS Tân Bắc, THCS Tân Trịnh, THCS Yên

Trang 27

Bình) và ba trường THCS thuộc thành phố Hà Giang tỉnh Hà Giang (trường THCS Yên Biên, THCS Minh Khai, THCS Quang Trung)

Ngoài việc khảo sát ở sáu trường THCS nêu trên, chúng tôi còn tiến hành trao đổi, trò chuyện, phát phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp đối với cán bộ quản lý, giáo viên các lớp tập huấn hè năm 2011 tại trường PTDT Nội Trú huyện Bắc Quang

- Hà Giang

1.2.1.4 Phương pháp khảo sát

- Qua quan sát, dự giờ

- Qua phỏng vấn, trò chuyện, trao đổi với giáo viên, học sinh

- Qua phiếu điều tra

Từ kế hoạch khảo sát nêu trên, chúng tôi tiến hành khảo sát theo các nội dung kế hoạch và được thực hiện theo các nội dung sau đây:

1.2.2 Học sinh THCS với việc ứng dụng bản đồ tư duy vào đọc hiểu văn bản ở lớp 9

1.2.2.1.Tâm lý của học sinh THCS với việc ứng dụng bản đồ tư duy vào đọc hiểu văn bản

Bằng phương pháp điều tra, chúng tôi tiến hành khảo sát tâm lý học sinh lớp

9 ở sáu trường THCS nêu trên với việc ứng dụng bản đồ tư duy vào đọc hiểu văn bản ở lớp 9

- Phiếu khảo sát 1: (bao gồm hai câu hỏi)

+ Câu hỏi 1: Em thích hay không thích ứng dụng kỹ thuật bản đồ tư duy vào lĩnh hội tri thức đọc hiểu văn bản?

+ Câu hỏi 2: Em thích thiết kế một bản đồ tư duy để biểu diễn tri thức toàn bài trong các bài đọc hiểu nào sau đây?

Các bài: Phong cách Hồ chí Minh (Lê Anh Trà), Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải), Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long), Tôi và chúng ta (Lưu Quang Vũ), Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới (Vũ Khoan)

Trang 28

Học sinh trả lời vào trong phiếu điều tra các ý kiến của mình và kết quả thu được như sau:

Bảng 1.1: Tâm lý học sinh THCS với việc ứng dụng bản đồ tư duy

vào lĩnh hội tri thức đọc hiểu văn bản

Lớp –

Trường

Số học sinh

Tâm lý

Phong cách

Hồ chí Minh

Mùa xuân

nh nhỏ

ta

Chuẩn

bị hành trang vào thế kỷ mới

Thích ứng dụng

Không thích ứng dụng

45 21,7%

29 14%

46 22,3%

42 20,3%

45 21,7%

Trang 29

Bảng 1.2: So sánh tâm lý học sinh vùng khó khăn với học sinh vùng thuận lợi về ứng dụng bản đồ tư duy vào đọc hiểu văn bản

Khu vực - trường học sinh Tổng số

Tâm lý Thích Không

thích Miền núi huyện QB(THCS Tân Bắc, Tân

75 77,3%

22 22,7%

Thành phố HG(THCS Yên Biên, Minh

99 90%

11 10%

Từ các số liệu điều tra trên đây, chúng tôi nhận thấy phần lớn học sinh THCS (lớp 9) đều thích sử dụng bản đồ tư duy trong học tập để lĩnh hội tri thức về đọc hiểu văn bản (84%) Tuy nhiên tâm lí thích sử dụng bản đồ tư duy có sự khác nhau giữa học sinh vùng thuận lợi và vùng khó khăn của tỉnh Hà Giang Tỉ lệ thích sử dụng bản đồ tư duy của học sinh thành phố là cao hơn so với vùng nông thôn miền núi (thành phố là 90%, nông thôn miền núi là 77.3%)

Qua phiếu điều tra và qua tâm sự, trao đổi trực tiếp với các em học sinh, chúng tôi thấy các em rất hào hứng và mong muốn được học, khám phá kiến thức mới cũng như hệ thống kiến thức bằng bản đồ tư duy và đặc biệt nhiều học sinh coi đây là một kĩ thuật có thể sử dụng thường xuyên được nhằm tháo gỡ khó khăn trong phương pháp học tập của mình

Mặc dù vậy, phần lớn học sinh mới chỉ ban đầu tiếp cận và thấy thích thú với việc ứng dụng bản đồ tư duy nhưng thực sự các em vẫn còn lúng túng, chưa biết áp dụng rộng rãi như thế nào và trong các trường hợp cụ thể nào Với các em, bản đồ

tư duy vẫn còn là miền đất mới mẻ đầy bí ẩn cần được mở rộng và khám phá

Phỏng vấn một số học sinh ở các trường THCS khảo sát mới thấy rõ tâm tư, nguyện vọng của các em:

Em Triệu Thị Hà Nhi (học sinh lớp 9B, trường THCS Tân Bắc) cho biết:

“Em rất thích sử dụng bản đồ tư duy vào học tập, đặc biệt đối với các môn khoa học

tự nhiên, bản đồ tư duy rúp em chắt lọc được những đơn vị kiến thức cơ bản và giúp

em dễ hiểu bài, dễ nhớ hơn Tuy vậy đối với các môn khoa học xã hội, đặc biệt là môn Ngữ văn thì em cảm thấy rất khó tự học bằng bản đồ tư duy vì cách áp dụng

Trang 30

khác nhiều so với các môn khoa học tự nhiên Em mong muốn có được sự hướng dẫn cách thức tự học Ngữ văn bằng bản đồ tư duy”

Em Nguyễn Trung Quý (học sinh lớp 9A, trường THCS Minh Khai - thành phố HG) cho biết: “Bản đồ tư duy giúp em học tập tiến bộ hơn vì em cảm thấy dễ tiếp thu kiến thức của bài Nhưng ở trên lớp, em ít khi được học với bản đồ tư duy còn về nhà em tự mình học bằng bản đồ tư duy thì thực sự chưa có hiệu quả lắm”

Em Hoàng Tuấn Anh (học sinh lớp 9B, trường THCS Yên Bình - Quang Bình) cho biết: “Em chỉ có thể sử dụng bản đồ tư duy vào học Ngữ văn phần đọc hiểu văn bản lớp 9 ở những bài văn nghị luận, văn bản tự sự, văn bản nhật dụng, còn sử dụng để khám phá giá trị của các bài thơ thì thực sự em chưa làm được”

Qua một vài ý kiến của các em học sinh nêu ra tương tự như các ý kiến trích dẫn trên đây, chúng tôi thấy mặc dù mỗi em có một cách tiếp cận riêng với bản đồ

tư duy trong học tập của mình nhưng quy chung lại, các em đã có nhận thức đúng đắn về tính ưu việt của bản đồ tư duy trong tích cực hóa phương pháp học tập Song nhìn chung bản đồ tư duy với các em vẫn còn nhiều khó khăn khi ứng dụng

1.2.2.2 Những khó khăn khi học sinh ứng dụng bản đồ tư duy và nguyên nhân của vấn đề này

Để tìm hiểu những khó khăn của học sinh khi ứng dụng bản đồ tư duy vào đọc hiểu văn bản, chúng tôi đã tiến hành khảo sát bằng cách phát phiếu điều tra, đồng thời trao đổi trực tiếp với học sinh

- Phiếu điều tra 1:

Câu hỏi: Hãy nêu những khó khăn mà em gặp phải khi ứng dụng bản đồ tư duy trong đọc hiểu văn bản?

- Phiếu điều tra 2: (với 2 câu hỏi)

+ Câu hỏi 1: Trong bài “ Ánh trăng” của Nguyễn Duy (SGK Ngữ văn 9 - Tập 1)

em thấy việc thiết kế và ứng dụng bản đồ tư duy như sau đúng hay sai?

Trang 31

- Phần lớn học sinh chưa tự mình xây dựng được một bản đồ tư duy hoàn chỉnh theo một ý tưởng tự học sinh đưa ra mà cần phải có sự hỗ trợ của giáo viên, chịu sự tác động mang tính chất định sẵn từ phía giáo viên nên học sinh khó có thể phát huy tính chủ động, sáng tạo khi lập một bản đồ tư duy

- Bản đồ tư duy khi ứng dụng vào hệ thống hóa kiến thức hoặc ôn tập thì dễ thực hiện theo kiểu kể tên hoặc liệt kê là chính Còn khi sử dụng bản đồ tư duy trong lĩnh hội kiến thức mới còn rất nhiều lúng túng, đặc biệt đối với tác phẩm trữ tình

- Thời gian trên lớp có hạn mà việc ứng dụng bản đồ tư duy cần mất khá nhiều thời gian nên các em học sinh ít được ứng dụng bản đồ tư duy để học trên lớp Nhiều học sinh chưa có kỹ năng lập bản đồ tư duy thực sự

- Nhiều học sinh cho rằng để phát hiện ra một ý tưởng (một từ khóa) cho một đơn vị kiến thức mới để triển khai các nội dung xung quanh từ khóa ấy nhiều khi là một việc không dễ dàng, cần phải có thảo luận và gợi ý từ phía giáo viên

*) Với phiếu điều tra 2:

Các câu hỏi trong phiếu điều tra 2 là những câu hỏi buộc học sinh phải tiếp cận trực tiếp, làm việc trực tiếp về mặt nội dung và hình thức với văn bản “Ánh trăng” Mục đích của 2 câu hỏi trong phiếu điều tra khảo sát này là: tìm hiểu, xem xét, đánh giá cách tiếp cận của học sinh đối với bản đồ tư duy trong đọc hiểu văn bản, khả năng sáng tạo thực thụ của học sinh về vấn đề này

- Kết quả thu được như sau:

Bảng 3: Năng lực tiếp cận và ứng dụng bản đồ tư duy của học sinh THCS (lớp 9) vào đọc hiểu văn bản

Tổng số học

sinh

Tiếp cận và ứng dụng đúng

Tiếp cận và ứng dụng chƣa đầy đủ

Tiếp cận và ứng dụng sai

54%

87 42%

8 4%

Từ số liệu được khảo sát, thống kê nêu trên, chúng tôi nhận thấy số học sinh tiếp cận và ứng dụng bản đồ tư duy đúng, đầy đủ, có khả năng sáng tạo cao hơn so với số học sinh nhận thức chưa đầy đủ hoặc nhận thức sai Đồng thời qua phần trả lời câu hỏi trong phiếu điều tra của các em cũng phản ánh rất rõ vấn đề này

Phần lớn các em học sinh đã trả lời đúng ở câu hỏi khảo sát 1 Sang đến câu

Trang 32

hỏi khảo sát 2, nhiều học sinh đã bộc lộ được sự sáng tạo của mình khi xây dựng mới một bản đồ tư duy mà vẫn phản ánh rõ nội dung, hình thức của văn bản Qua đó cho chúng ta thấy khả năng nhận thức, liên tưởng, tưởng tượng khá nhanh nhạy của học sinh với việc sử dụng bản đồ tư duy trong học tập

Song bên cạnh đó vẫn còn khá đông các em học sinh chưa tiếp cận đúng hoặc chưa có kỹ năng ứng dụng bản đồ tư duy trong đọc hiểu văn bản văn học (46%) Vậy, những nguyên nhân nào dẫn đến hạn chế về cách tiếp cận và ứng dụng nêu trên, sau khi tìm hiểu, khảo sát, chúng tôi thống kê được kết quả như sau:

*) Nguyên nhân dẫn đến những khó khăn trong việc ứng dụng bản đồ tư duy vào đọc hiểu văn bản của học sinh lớp 9

Từ kết quả khảo sát và phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với học sinh, chúng tôi thấy có nhiều nguyên nhân dẫn đến khó khăn nêu trên Song theo chúng tôi thì có một số nguyên nhân cơ bản sau đây:

- Nguyên nhân 1: năng lực cảm thụ văn chương của học sinh chưa đồng đều, một số học sinh nổi trội , còn đa số các em chưa phát huy được năng lực này, thêm vào đó là vốn sống, vốn hiểu biết văn hóa, vốn kiến thức văn học và kiến thức khoa học khác của các em còn hạn chế

- Nguyên nhân 2: Ngôn ngữ diễn đạt của học sinh và khả năng lập luận, trình bày logic một vấn đề còn hạn chế Đặc biệt là học sinh miền núi, học sinh dân tộc thì yếu tố ngôn ngữ lại càng trở nên khó khăn hơn khi phải dùng một từ, cụm từ ngắn gọn để khái quát một vấn đề hoặc khi trình bày mạch lạc một vấn đề

- Nguyên nhân 3: Nhiều học sinh chưa biết cách tiếp cận với tư duy mới (với việc ứng dụng bản đồ tư duy vào học tập), điều này biểu hiện ở chỗ học sinh không biết bắt đầu từ đâu, cách xây dựng một bản đồ tư duy như thế nào cho hợp lý, và nguyên tắc chung của kỹ thuật bản đồ tư duy là gì Khi ứng dụng vào bài học, chủ yếu học sinh không tự làm mà chỉ được chứng kiến bản đã chuẩn bị sẵn của thầy cô giáo là chính nên các em ít có cơ hội được tự do thể hiện

- Nguyên nhân 4: việc đầu tư cho một tiết dạy của giáo viên và học sinh với bản đồ tư duy còn mất khá nhiều thời gian, điều đó mâu thuẫn với thời lượng có hạn của một tiết học trên lớp nên học sinh ít được hướng dẫn cách ứng dụng bản đồ tư duy Mặt khác ở nhiều đơn vị trường học còn thiếu thốn về cơ sở vật chất, tài liệu

Trang 33

tham khảo nên học sinh chưa được tiếp cận nhiều với kỹ thuật dạy học tích cực này

- Đây được coi là một nguyên nhân chính dẫn đến những nhận thức chưa đầy

đủ của học sinh về bản đồ tư duy và thực sự sẽ là rào cản đối với học sinh khi các

em không được tạo thói quen thường xuyên sử dụng bản đồ tư duy trong học tập của mình

Trên đây là 4 nguyên nhân được nêu ra mà theo chúng tôi là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến khó khăn trong việc nhận thức và ứng dụng bản đồ tư duy của học sinh THCS

1.2.2.3 Hoạt động học tập với bản đồ tư duy của học sinh ở trên lớp và ở nhà

*) Hoạt động với bản đồ tư duy của học sinh ở trên lớp:

Qua các buổi trực tiếp dự giờ được đăng ký hoặc dự giờ thao giảng của giáo viên THCS 6 trường khảo sát cũng như quá trình tiếp xúc với học sinh, khảo sát sự chuẩn bị của học sinh trước khi đến lớp, qua phỏng vấn giáo viên Chúng tôi nhận thấy tình hình hoạt động của học sinh trong các tiết học như sau:

Trong cả năm học, chủ yếu học sinh được học với bản đồ tư duy ở các môn KHTN, còn các môn KHXH và đặc biệt là phần đọc hiểu văn bản của môn Ngữ văn lại rất ít được giáo viên sử dụng cho học sinh thực hiện

Trong tiết học đọc hiểu văn bản với bản đồ tư duy thì học sinh tỏ ra rất hứng thú, nắm bắt kiến thức nhanh hơn, khi bước ra khỏi lớp học sinh có thể thâu tóm kiến thức toàn bài một cách dễ dàng hơn

Một số học sinh khá, giỏi có thể tự đưa ra ý tưởng và thiết kế một bản đồ tư duy ngay trong tiết học Song trong một tiết học có rất ít học sinh được tham gia vào thiết kế bản đồ tư duy vì nhiều giáo viên chưa phát huy hết kỹ năng học tập hợp tác kết hợp với bản đồ tư duy để phát huy được hết khả năng của các đối tượng học sinh trong một lớp học

Nhiều học sinh thao tác với bản đồ tư duy còn lúng túng do chưa hiểu rõ cơ chế ứng dụng của nó trong đọc hiểu văn bản

Chính từ những biểu hiện nêu trên sẽ là cơ sở để đề tài này giải quyết bằng một số giải pháp ứng dụng ở các chương tiếp theo

Trang 34

*) Hoạt động với bản đồ tư duy của học sinh ở nhà:

Qua xem xét sự chuẩn bị bài của học sinh và khả năng tự học ở nhà của các

em, qua hỏi ý kiến của giáo viên trực tiếp giảng dạy, chúng tôi thấy: phần lớn học sinh đều cố gắng học bài, chuẩn bị bài soạn, hoàn thành các bài tập theo yêu cầu của giáo viên Song nhìn chung học sinh chưa có thói quen tự soạn bài theo bản đồ tư duy để trình bày trước lớp

Một số bài soạn ở nhà đã thực hiện ứng dụng bản đồ tư duy nhưng mới chỉ ở cấp độ sơ lược, chưa tạo ra một cấu trúc hoàn chỉnh, chưa biết liên kết và phát triển

ý để làm nổi bật nội dung kiến thức cần nhớ

1.2.2.4 Một số kết luận về tình hình học sinh với việc ứng dụng bản đồ tư duy trong đọc hiểu văn bản ở THCS

Qua khảo sát và phân tích, chúng tôi có một số kết luận về học sinh THCS với việc ứng dụng bản đồ tư duy như sau:

sự cảm thụ rất hồn nhiên, trong sáng Song các em thực sự ít được dùng bản đồ

tư duy trong môn Ngữ văn và con đường để dẫn tới một bản đồ tư duy hoàn chỉnh, có tác dụng lĩnh hội tri thức mới ( đặc biệt với các văn bản trữ tình) thì các em còn nhiều hạn chế

- Về sự chủ động, sáng tạo của học sinh trong ứng dụng bản đồ tư duy:

Học sinh thể hiện đầy cảm xúc và hứng thú trong các tiết học có ứng dụng bản đồ tư duy, một số ít học sinh có sự sáng tạo khác với giáo viên mà vẫn đảm bảo phản ánh rõ giá trị của tác phẩm văn học Song nhìn chung học sinh chưa chủ động ứng dụng bản đồ tư duy trong học tập ở trên lớp cũng như ở nhà, bản đồ tư duy chưa trở thành kĩ thuật quen thuộc trong hành trang học tập của các em

Trang 35

1.2.3 Giáo viên THCS với việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản

Bằng việc phát phiếu điều tra, khảo sát qua trao đổi, phỏng vấn với câu hỏi: Anh (chị) cho biết khi ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản có những thuận lợi và khó khăn nào?

Từ kết quả thu được theo khảo sát với các câu trả lời vào phiếu hoặc trả lời trực tiếp bằng miệng của giáo viên, chúng tôi tổng hợp được nội dung sau:

1.2.3.1 Những thuận lợi khi giáo viên ứng dụng bản đồ tư duy vào đọc hiểu văn bản

Dạy học bằng bản đồ tư duy giúp giáo viên dễ dàng hệ thống hóa kiến thức, phát triển ý một cách nhanh chóng và ấn tượng bằng một cấu trúc mở đa chiều, gây phản ứng tích cực trong giờ học Bởi “một hình ảnh có giá trị hơn cả ngàn từ ” ( Buzan) và màu sắc, đường nét cũng giúp học sinh dễ ghi nhớ hơn, giáo viên dễ thực hiện đúng mục tiêu bài học hơn

Với bản đồ tư duy, giáo viên có thể dễ dàng phát huy được tính tích cực học tập, sự động não, chống bệnh ỷ lại của học sinh, đồng thời khơi nguồn sáng tạo, làm nên một giờ học thành công

Sử dụng bản đồ tư duy phát huy được trí sáng tạo của người học, phá vỡ sự nhàm chán và lối truyền thụ một chiều đang ngự trị trong trường phổ thông lâu nay, tạo ra một giờ học đổi mới, dễ dàng áp dụng công nghệ thông tin vào dạy học

Tuy nhiên, theo ý kiến của nhiều giáo viên và qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy

ở giáo viên khi ứng dụng bản đồ tư duy vẫn còn gặp không ít những khó khăn, hạn chế

1.2.3.2 Những khó khăn, hạn chế khi giáo viên ứng dụng bản đồ tư duy vào đọc hiểu văn bản và nguyên nhân của vấn đề này

Thứ nhất, nhiều giáo viên chưa tiếp cận đầy đủ bản chất và cơ chế hoạt động của bản đồ tư duy trong đọc hiểu văn bản, dẫn đến ứng dụng một cách gò ép, suy diễn khô cứng Nguyên nhân của vấn đề này là giáo viên chưa nắm chắc được mạch cảm xúc, chủ đề tư tưởng của một văn bản văn học cần khám phá

Thứ hai, trong khi ứng dụng bản đồ tư duy, giáo viên thường hay áp đặt các từ khóa và yêu cầu học sinh phát triển ý một cách đơn điệu (gần như liệt kê các ý) vì vậy hiệu quả sử dụng bản đồ tư duy chưa thực sự được phát huy hết

Trang 36

Nguyên nhân của vấn đề này là do giáo viên chưa có hệ thống câu hỏi gợi dẫn hợp lý để phát triển ý cho học sinh chủ động tìm ý Mặt khác giáo viên cũng chưa biết kết hợp giữa ứng dụng bản đồ tư duy với các phương pháp dạy học khác như hoạt động nhóm cho có hiệu quả

Thứ ba, kỹ thuật bản đồ tư duy trong dạy học đã triển khai nhưng chưa được nhiều người quan tâm thực hiện, từ đội ngũ cán bộ quản lý trường học đến giáo viên giảng dạy Vì vậy bản đồ tư duy ít được giáo viên sử dụng khi lên lớp và chưa trở thành thói quen để có thể phát huy ưu điểm của kỹ thuật dạy học này

Thứ tư, phần lớn ở các trường học (đặc biệt là các trường miền núi hiện nay) vẫn còn thiếu thốn về cơ sở vật chất, các phương tiện dạy học và tài liệu tham khảo như các tài liệu dịch từ các cuốn sách của nước ngoài, hệ thống sách báo, tạp chí khoa học phục vụ đổi mới phương pháp dạy học Cá biệt có một số đơn vị chưa trang bị được máy chiếu

Trên đây là một số khó khăn, hạn chế và nguyên nhân của vấn đề khi giáo viên THCS ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản mà chúng tôi thống kê được

1.2.3.3 Những cố gắng của giáo viên trong việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản

Để biết được quá trình thực hiện ứng dụng bản đồ tư duy của giáo viên vào dạy học như thế nào trong một năm học từ khi được tập huấn đại trà ở thời điểm hè năm 2011 Chúng tôi điều tra bằng phiếu với các câu hỏi sau:

Câu hỏi 1: Anh (chị) hãy cho biết quan niệm của mình trong việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản?

Câu hỏi 2: Để tích cực hóa hoạt động dạy học bằng bản đồ tư duy, anh (chị)

đã có những biện pháp nào?

Bằng thực tế khảo sát, chúng tôi nhận thấy các cán bộ quản lý, giáo viên THCS đã có những cố gắng trong việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản Song thực tế kết quả đạt được chưa như mong đợi

- Về mặt nhận thức:

Các giáo viên dạy văn nói chung đều rất thích thú với việc ứng dụng bản đồ tư

Trang 37

duy vào các tiết lên lớp có thể ứng dụng Họ nhận thấy hiệu quả của bản đồ tư duy trong dạy học có nhiều khả quan cho đổi mới phương pháp dạy học Học sinh cũng luôn ủng

hộ việc thực hiện kỹ thuật dạy học này (như đã khảo sát ở học sinh nêu trên)

- Về mặt thực tế giảng dạy:

Một số ít giáo viên (chủ yếu là giáo viên KHTN) thường xuyên ứng dụng bản đồ tư duy trong các tiết lên lớp, còn rất nhiều cán bộ giáo viên chưa ưu tiên cho ứng dụng kiểu dạy học này nên chưa đưa ra được các biện pháp hữu hiệu để cho bản đồ tư duy được phát triển trong các phương pháp dạy học tích cực

Từ những ghi nhận trên đây, chúng tôi tiếp tục điều tra, khảo sát để tìm hiểu những nguyện vọng của giáo viên trong việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học

1.2.3.4 Tâm tư nguyện vọng của giáo viên khi được ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản

Dạy học bằng bản đồ tư duy xuất phát từ tiếp thu kinh nghiệm quốc tế và nghiên cứu thực tiễn tại Việt Nam để đưa ra giới thiệu và đưa vào áp dụng cho các địa phương Song nhìn chung đây vẫn là một kỹ thuật dạy học tích cực, có tính chất mới mẻ so với cách dạy học trước đây Vì vậy, với nhiều người, kỹ thuật dạy học bản đồ tư duy vẫn còn nhiều điều cần được khám phá và dần tháo gỡ Rất nhiều giáo viên ý thức được vấn đề này và mong muốn kiểu dạy học này tiếp tục được mở rộng, được nhiều người quan tâm

và trở thành kỹ thuật được sử dụng thường xuyên khi áp dụng phối hợp đồng thời với các phương pháp, kỹ thuật dạy học khác để đạt hiệu quả

Từ đó, giáo viên mong muốn được tham dự nhiều hội thảo khoa học các cấp, nhiều tiết dự giờ trao đổi, rút kinh nghiệm, tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhất (con đường đi đến một bản đồ tư duy) Như cách thức tổ chức một bản đồ tư duy dưới dạng nào: thứ bậc, sơ đồ mạng, sơ đồ chuỗi hay sơ đồ quan hệ toàn bộ với bộ phận?

Mặt khác, giáo viên cũng mong muốn được làm rõ việc ứng dụng bản đồ tư duy trong từng trường hợp cụ thể theo cơ chế nào để dễ phát huy tiềm năng sáng tạo của học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản Điều này giáo viên rất mong muốn có một vài tài liệu không phải là lý thuyết ứng dụng mà cụ thể là việc thực hành ứng dụng trong từng phân môn, từng trường hợp cụ thể khi dạy học đọc hiểu văn bản

Đó cũng chính là mong muốn của người viết và là động lực để đề tài này được triển khai nghiên cứu

Trang 38

1.2.4 Kết luận về thực trạng việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản ở THCS

Từ thực trạng vấn đề được khảo sát như trên, nhìn một cách tổng quát có thể thấy việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học sau những năm đổi mới phương pháp dạy học, thay đổi mục tiêu giáo dục-đào tạo, và đặc biệt là từ thời điểm triển khai tập huấn đại trà cho giáo viên hè năm 2011 đến nay, bản đồ tư duy đã ghi được dấu

ấn trên con đường đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực Lối dạy truyền thụ một chiều theo kiểu thầy đọc - trò chép đã diễn ra phổ biến trước đây không còn cơ hội ngự trị trong nền giáo dục nước ta mà thay thế vào đó là kiểu dạy học, kiểu tư duy mới mẻ, sáng tạo

Đi sâu vào tìm hiểu vấn đề này ở các trường THCS đã triển khai tích cực việc ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy và học, phần nào đã đem lại được hiệu quả và sự mới lạ, đem lại luồng sinh khí mới cho việc tháo gỡ khó khăn trong đổi mới phương pháp dạy học hiện nay Bước đầu cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh các trường THCS đã kết hợp được bản đồ tư duy với các phương pháp dạy học khác để đổi mới phương pháp dạy học, phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh Song nhìn chung kết quả khả quan hơn vẫn thuộc về sự ứng dụng các kỹ thuật dạy học tích cực ở trường THCS các thành phố có điều kiện phát triển tốt hơn nên cả giáo viên và học sinh đã giành được nhiều thời gian đầu tư cho ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học Còn ở các trường THCS miền núi các huyện, do địa bàn và cơ sở vật chất còn nhiều khó khăn nên việc đầu tư quan tâm đến ứng dụng bản đồ tư duy có phần hạn chế

Giáo viên các trường THCS nhìn chung đã thực hiện cơ bản, đại trà kỹ thuật dạy học này Song hiệu quả dạy học chưa như mong đợi Thiết nghĩ rằng để có thể tháo gỡ những khó khăn trong ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản cần phải có sự đầu tư sâu sắc hơn nữa từ phía nhà quản lý, giáo viên và học sinh (mở hội thảo chuyên đề, rút kinh nghiệm, viết sáng kiến kinh nghiệm ) Cần phải coi đây là một kỹ thuật dạy học mang tính phổ biến có thể áp dụng hiệu quả trong từng trường hợp Có như vậy mới mong đạt được hiệu quả ứng dụng kỹ thuật bản

đồ tư duy vào dạy học

Trang 39

Chương 2 ỨNG DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY VÀO DẠY HỌC MỘT SỐ KIỂU BÀI

Hệ thống hóa kiến thức trong dạy học nhằm giúp cho giáo viên và học sinh

có được cái nhìn tổng thể nội dung chương trình của toàn cấp học, của một lớp học hay một phần học, một chương của một môn học Từ đó giúp cho giáo viên và học sinh có định hướng đúng trong quá trình dạy học, thực hiện đúng mục tiêu mà chương trình đề ra

Kiến thức chung của môn ngữ văn THCS có thể hệ thống hóa ở nhiều cấp độ khác nhau, khái quát hay cụ thể, đơn giản hay chi tiết là tùy theo ý của từng người học

Riêng chương trình Ngữ văn lớp 9 có thể được hệ thống hóa kiến thức đọc hiểu văn bản bằng bản đồ tư duy như sau:

[Xem phụ lục 4]

Trang 40

Việc hệ thống hóa kiến thức không những giúp cho học sinh có cái nhìn toàn diện về dung lượng của một đơn vị kiến thức cụ thể, mà còn có cơ hội nhận biết và

lý giải sự tồn tại của mỗi thành tố trong đơn vị kiến thức, dễ dàng bổ sung hoặc giảm bớt một hay nhiều thành phần của đơn vị kiến thức đó để tiến tới một nhận thức hoàn chỉnh Qua việc hệ thống hóa kiến thức bằng hình thức bản đồ tư duy, người học có điều kiện suy nghĩ sâu hơn, nhiều chiều hơn về đơn vị kiến thức, tư duy theo đó mà được rèn luyện thêm

2.1.1.2 Sơ đồ hóa kiến thức toàn bài

Kiến thức trong phần đọc hiểu văn bản được chứa đựng trong một tập hợp ngôn ngữ rất khó nắm bắt Ứng dụng bản đồ tư duy để sơ đồ hóa kiến thức có nghĩa

là dùng hình vẽ, đường nét, màu sắc quy ước đơn giản nhằm miêu tả một đặc trưng của đơn vị kiến thức đó Nhờ được tiếp cận qua thị giác (hình vẽ, đường nét, màu sắc) mà người học dễ dàng hình dung ra bản chất logic của đơn vị kiến thức, tìm ra mối liên hệ giữa các thành tố của đơn vị kiến thức đó Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng kiến thức được sơ đồ hóa trong toàn bài ở đây là những kiến thức trọng tâm, cơ bản, giúp học sinh dễ nhớ, dễ đọc một cách chính xác, hệ thống, không lẫn lộn Vì vậy học sinh cần phải lấy kiến thức trong bản đồ tư duy đó để làm nền tảng kết hợp với kết cấu, giọng điệu, ngôn từ và các yếu tố nghệ thuật khác để hiểu và cảm chiều sâu tư tưởng và những giá trị thẩm mĩ cao đẹp mà người viết hướng tới Sau đây là một số ví dụ bản đồ tư duy thiết kế theo kiểu sơ đồ hóa kiến thức toàn bài như vậy:

[ Xem phụ lục 5, phụ lục 6, phụ lục 12]

2.1.1.3 Sơ đồ hóa một bộ phận kiến thức của bài

Trong một bài đọc hiểu, không phải bài nào cũng có thể ứng dụng bản đồ tư duy toàn bài một cách hợp lí mà muốn đạt được hiệu quả dạy học theo hướng tích hợp và dạy học tích cực thì giáo viên cần phải thao tác với các phương pháp, kĩ thuật dạy học khác nhau một cách linh hoạt Bản đồ tư duy chỉ là một kĩ thuật dạy học trong số các phương pháp, kĩ thuật dạy học đó Vì vậy có thể sơ đồ hóa một bộ phận kiến thức trong bài học cùng kết hợp làm nổi bật trọng tâm của bài Tuy nhiên, các kiến thức được lựa chọn nên là các kiến thức trọng tâm có thể là “chìa khóa” để

từ đó khám phá ra giá trị chung của văn bản Mỗi bài chỉ nên chọn một hoặc hai đơn

Ngày đăng: 15/11/2014, 22:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Lăng Bình, Đỗ Hương Trà, Nguyễn Phương Hồng, Cao Thị Thặng (2010), Dạy và học tích cực, Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học tích cực
Tác giả: Nguyễn Lăng Bình, Đỗ Hương Trà, Nguyễn Phương Hồng, Cao Thị Thặng
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2010
2. Hoàng Hữu Bội (2002, 2003, 2004, 2005), Thiết kế bài học Ngữ văn 6,7,8,9 theo hướng tích hợp, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học Ngữ văn 6,7,8,9 theo hướng tích hợp
Nhà XB: Nxb Giáo dục
3. T. Buzan (2008), Sơ đồ tư duy (The mindmap book) – Lê Huy Lâm dịch, Nxb Tổng hợp, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ đồ tư duy
Tác giả: T. Buzan
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 2008
4. T. Buzan (2009), Bản đồ tư duy trong công việc (Mindmaps at work) – New Thinking Group dịch, Nxb LĐ – XH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản đồ tư duy trong công việc
Tác giả: T. Buzan
Nhà XB: Nxb LĐ – XH
Năm: 2009
6. Trần Đình Châu (chủ biên) (2011), Một số chuyên đề bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên THCS, Dự án phát triển GD THCS, (Tài liệu lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên THCS
Tác giả: Trần Đình Châu (chủ biên)
Năm: 2011
7. Lê Minh Châu, Nguyễn Thúy Hồng, Lưu Thu Thủy, Đào Vân Vi, Nguyễn Huệ Yên (2010), Rèn luyện kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THCS, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THCS
Tác giả: Lê Minh Châu, Nguyễn Thúy Hồng, Lưu Thu Thủy, Đào Vân Vi, Nguyễn Huệ Yên
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2010
8. Phạm Văn Đồng (11/1973), “Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện”, Tạp chí nghiên cứu giáo dục, (Số 28) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện”, "Tạp chí nghiên cứu giáo dục
9. Bùi Vĩnh Trường Giang (2010), “Một hướng khai thác mới khi dạy học các văn bản ngữ văn ở trường THCS”, Tạp chí dạy và học ngày nay, (số 12), tr. 25-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một hướng khai thác mới khi dạy học các văn bản ngữ văn ở trường THCS”, "Tạp chí dạy và học ngày nay
Tác giả: Bùi Vĩnh Trường Giang
Năm: 2010
10. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1997
11. Nguyễn Kế Hào (2009), Giáo trình tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Nguyễn Kế Hào
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2009
12. Nguyễn Trọng Hoàn (2002), Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2002
13. Trần Bá Hoành, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến, Nguyễn Trọng Hoàn (2005), Áp dụng dạy và học tích cực trong môn văn, Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng dạy và học tích cực trong môn văn
Tác giả: Trần Bá Hoành, Nguyễn Trí, Cao Đức Tiến, Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2005
14. Nguyễn Thanh Hùng (2001), Hiểu văn dạy văn, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiểu văn dạy văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2001
15. Nguyễn Thanh Hùng, Trần Đình Sử, Hoàng Dân, Nguyễn Văn Đường, Nguyễn Trọng Hoàn, Vũ Nho, Đỗ Ngọc Thống…(2008), Thiết kế bài dạy Ngữ văn THCS, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài dạy Ngữ văn THCS
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng, Trần Đình Sử, Hoàng Dân, Nguyễn Văn Đường, Nguyễn Trọng Hoàn, Vũ Nho, Đỗ Ngọc Thống…
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
16. Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt (1998), Phương pháp dạy học văn, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học văn
Tác giả: Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh, Nguyễn Thanh Hùng, Trần Thế Phiệt
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1998
17. Phan Trọng Luận (2006), Văn học giáo dục thế kỉ XXI, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học giáo dục thế kỉ XXI
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2006
18. V.A. Nhikonxki (1978), Phương pháp giảng dạy văn học ở trường phổ thông – Ngọc Toàn, Bùi Lê dịch, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giảng dạy văn học ở trường phổ thông
Tác giả: V.A. Nhikonxki
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1978
19. Vũ Nho, Nguyễn Trọng Hoàn, Nguyễn Thúy Hồng, Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngọc (2002), Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS môn Ngữ văn, Dự án phát triển GD THCS, (Tài liệu lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS môn Ngữ văn
Tác giả: Vũ Nho, Nguyễn Trọng Hoàn, Nguyễn Thúy Hồng, Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngọc
Năm: 2002
20. Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên) (2003), Sách giáo khoa Ngữ văn 6,7,8,9, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Ngữ văn 6,7,8,9
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi (Tổng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
21. Trần Hoài Phương (2010), Ứng dụng lý thuyết bản đồ tư duy vào dạy học Tiếng Việt ở trung học phổ thông, Luận văn thạc sỹ, ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng lý thuyết bản đồ tư duy vào dạy học Tiếng Việt ở trung học phổ thông
Tác giả: Trần Hoài Phương
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Tâm lý học sinh THCS với việc ứng dụng bản đồ tƣ duy - Ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản văn chương ở lớp 9
Bảng 1.1 Tâm lý học sinh THCS với việc ứng dụng bản đồ tƣ duy (Trang 28)
Bảng 1.2: So sánh tâm lý học sinh vùng khó khăn với học sinh vùng   thuận lợi về ứng dụng bản đồ tƣ duy vào đọc hiểu văn bản - Ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản văn chương ở lớp 9
Bảng 1.2 So sánh tâm lý học sinh vùng khó khăn với học sinh vùng thuận lợi về ứng dụng bản đồ tƣ duy vào đọc hiểu văn bản (Trang 29)
Bảng 3: Năng lực tiếp cận và ứng dụng bản đồ tư duy của học sinh THCS  (lớp 9) vào đọc hiểu văn bản - Ứng dụng bản đồ tư duy vào dạy học đọc hiểu văn bản văn chương ở lớp 9
Bảng 3 Năng lực tiếp cận và ứng dụng bản đồ tư duy của học sinh THCS (lớp 9) vào đọc hiểu văn bản (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w