1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyện ngắn Đoàn Lê luận án thạc sĩ

107 480 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 842,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên văn đàn, sự hiện diện truyện ngắn của những cây bút nữ đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc như Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư,…Tr

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BÙI VŨ NGỌC TRÂM

TRUYỆN NGẮN ĐOÀN LÊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

BÙI VŨ NGỌC TRÂM

TRUYỆN NGẮN ĐOÀN LÊ

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN BÍCH THU

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012

Tác giả luận văn

Bùi Vũ Ngọc Trâm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Bằng sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn

PGS.TS Nguyễn Bích Thu, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong

suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ văn, khoa Sau đại học, cán bộ phòng quản lý khoa học trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Tôi cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới BGH, bạn bè, đồng nghiệp trường THPT Thác Bà, Sở GD & ĐT tỉnh Yên Bái cùng gia đình và những người thân yêu đã động viên, quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành tốt khoá học này

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012

Tác giả luận văn

Bùi Vũ Ngọc Trâm

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang bìa phụ

Lời cảm ơn

Lời cam đoan

Mục lục i

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 10

Chương 1 TRUYỆN NGẮN ĐOÀN LÊ TRONG DÒNG CHẢY TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM SAU 1975 10

1.1 Khái lược truyện ngắn Việt Nam sau 1975 10

1.1.1 Một số vấn đề lý thuyết thể loại .10

1.1.2 Bối cảnh lịch sử - thẩm mĩ của văn học Việt Nam sau 1975 13

1.1.3 Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 16

1.2 Khái lược về thế hệ nhà văn nữ Việt Nam sau 1975 18

1.2.1 Sự nối tiếp của nhiều thế hệ cầm bút 18

1.2.2 Một số biểu hiện của “đặc điểm giới” trong tác phẩm của các nhà văn nữ 1975 20

1.3 Đoàn Lê - một cây bút nữ độc đáo của văn học Việt Nam sau 1975 22 1.3.1 Người phụ nữ đa tài, đa đoan 22

1.3.2 Sự nghiệp sáng tác phong phú 27

1.3.3 Vị trí truyện ngắn trong sáng tác của Đoàn Lê 30

Chương 2 BỨC TRANH HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG TRONG TRUYỆN NGẮN ĐOÀN LÊ 34

2.1 Ý thức của nhà văn với hiện thực đời sống 34

2.1.1 Đi sâu khai thác mảng đề tài thế sự 34

2.1.2 Ý thức đối thoại ngầm với những quan niệm sáng tạo đương đại 41

Trang 6

2.2 Hình tượng xóm Chùa và các vấn đề đạo đức – xã hội đương đại 46

2.2.1 Tác động của nền kinh tế thị trường và sự băng hoại các giá trị

đạo đức 46

2.2.2 Chân dung nhân cách méo mó, bi hài 52

2.2.3 Thân phận người phụ nữ trong xã hội hiện đại 58

2.3 Thế giới tưởng tượng trong truyện ngắn Đoàn Lê 63

2.3.1 Thế giới cõi âm, giấc mơ, sự biến hình 63

2.3.2 Tưởng tượng – một cách nhận thức về thực tại 73

2.4 Yếu tố tự truyện trong truyện ngắn Đoàn Lê 74

2.4.1 Nét riêng của yếu tố tự truyện trong sáng tác Đoàn Lê 74

2.4.2 Những trải nghiệm và tâm tư của Đoàn Lê 76

Chương 3 MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN ĐOÀN LÊ 78

3.1 Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện 78

3.1.1 Tình huống hiện thực 78

3.1.2 Tình huống giả tưởng – hài hước 79

3.1.3 Tình huống giả tưởng – kinh dị 81

3.1.4 Sự đan xen các tình huống 82

3.2 Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật 83

3.2.1 Nắm bắt nhanh các trạng thái tâm lý nhân vật 83

3.2.2 Sắc sảo và hài hước trong cách sử dụng các chi tiết mô tả 86

3.3 Ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Đoàn Lê 87

3.3.1 Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Đoàn Lê 87

3.3.2 Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Đoàn Lê 89

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 7

CHÂN DUNG NHÀ VĂN ĐOÀN LÊ

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Truyện ngắn Việt Nam từ sau 1975 đến nay phát triển mạnh mẽ cả về

số lượng và chất lượng Đặc biệt sau 1986, trong không khí dân chủ hóa của đời sống văn học, truyện ngắn Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể Hòa vào dòng chảy ấy không thể không kể đến những đóng góp của các nhà văn nữ thời kỳ đổi mới Trên văn đàn, sự hiện diện truyện ngắn của những cây bút nữ đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc như Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư,…Trong

số đó, sáng tác của Đoàn Lê dù không ồn ào gây “sốc” như một số tác giả nữ trẻ khác nhưng đọc tác phẩm của chị, độc giả dễ ấn tượng với con người, cuộc sống, với cảm hứng và cách viết của nữ sĩ Sáng tác của Đoàn Lê thực sự đã làm sinh động, phong phú thêm cho đời sống văn xuôi nói riêng và văn học nước nhà nói chung

Đoàn Lê tên thật là Đoàn Thị Lê, sinh ngày 15.04.1943 ở thành phố Bengich (nay là phố Lê Lợi – Hải Phòng) Không riêng gì ở Hải Phòng mà đối với giới văn nghệ sĩ cả nước tên tuổi nữ sĩ Đoàn Lê đã trở nên quen thuộc Gọi chị là nhà văn, họa sĩ, nhà biên kịch, diễn viên hay đạo diễn đều đúng cả Những “cầm kỳ thi họa” đem lại cho Đoàn Lê một danh tiếng tài hoa Học vẽ

từ bậc thầy như Bùi Xuân Phái, Dương Bích Liên Học điện ảnh từ các bậc thầy của Nga và Việt Nam Khởi nghiệp biên kịch điện ảnh với những tác phẩm được đồng nghiệp đánh giá tốt Nhưng cuối cùng, văn xuôi mới là sở trường của người đàn bà thành phố cảng, vẻ thùy mị duyên dáng song hành với tính cách một người đàn bà quyết đoán, sắc sảo Những điều dường như xung khắc ấy cùng lúc tồn tại trong một con người, dệt nên những trang văn xuôi tài hoa, vừa dịu dàng, vừa quyết liệt, lôi cuốn sự chú ý của người đọc cũng như giới nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam đương đại Nói như

Đoàn Lê: “tôi đặc biệt thích viết truyện ngắn, chỉ những gì không thể viết

Trang 9

ngắn được thì tôi đành chịu” Hơn thế nữa, ở nữ nhà văn này, người đọc nhận

ra sự hội tụ các yếu tố của nhiều loại hình nghệ thuật: điện ảnh, hội họa, thi ca qua các trang văn của chị

Những tiểu thuyết đầy trăn trở tâm huyết của chị như Cuốn gia phả để

lại, Lão già tâm thần, Người đẹp và đức vua, Tiền định gây được nhiều thiện

cảm với bạn đọc Cuốn gia phả để lại ngay khi mới ra mắt công chúng đã

được nhận giải thưởng văn học của Hội nhà văn Việt Nam (1990) Song phải

kể đến thành quả chị nhận được ở truyện ngắn Truyện của chị được dịch tại

Mỹ, Thụy Điển, Đức và ở đâu cũng được hoan nghênh Có thể kể tên những

tập truyện ngắn của Đoàn Lê như Thành hoàng làng xổ số, Trinh tiết xóm

Chùa, Người khách đêm giao thừa, Nghĩa địa xóm Chùa, …Và Sex Đọc văn

chị, ta bị cuốn hút bởi cách viết dung dị, những nhận xét hóm hỉnh và sâu sắc

về nhân tình thế thái, về những buồn vui ấm lạnh của cuộc đời Truyện ngắn của Đoàn Lê là một tiếng nói quen thuộc mà mới lạ, mang đậm dấu ấn sáng tạo của nhà văn

Đến nay, tuy đã có một số bài giới thiệu, bình luận, đánh giá về tác phẩm Đoàn Lê của một số nhà văn, nhà nghiên cứu nhưng vẫn chưa phải là những công trình mang tính hệ thống, khẳng định vị trí của Đoàn Lê trong dòng văn học nữ đương đại và rộng ra trong nền văn xuôi Việt Nam đương đại

Trên đây là những lý do để chúng tôi chọn đề tài cho luận văn của mình

là TRUYỆN NGẮN ĐOÀN LÊ Tìm hiểu đề tài này, chúng tôi muốn tiếp cận

và nhận diện những thành tựu về nội dung cũng như về nghệ thuật của truyện ngắn Đoàn Lê, đồng thời đặt sáng tác của chị trong sự vận động và đổi mới của văn xuôi Việt Nam đương đại

2 Lịch sử vấn đề

Đam mê và miệt mài, viết văn, làm thơ, biên kịch, đạo diễn phim và vẽ tranh, một Đoàn Lê vẫn tiếp diễn trên con đường văn học nghệ thuật với nhiều chữ “sĩ” Cuộc đời chị là vậy, đa mang, truân chuyên nhưng những đứa

Trang 10

con tinh thần của người đàn bà mảnh mai và cương nghị này lại có sức hấp dẫn, cuốn hút độc giả và giành được những giải thưởng danh giá

Trong quá trình tìm hiểu về Đoàn Lê và tác phẩm của chị, chúng tôi thu thập được một số bài viết để tạo cơ sở cho một cái nhìn bao quát về truyện ngắn Đoàn Lê

2.1 Những ý kiến, những bài viết có tính chất khái quát về truyện ngắn Đoàn Lê

Trong các bài viết về sáng tác của Đoàn Lê, chúng tôi để ý nhiều đến những bài viết của nhà văn Hồ Anh Thái – một nhà văn đã có cả một quá trình theo dõi những sáng tác của chị Với số lượng bài viết về Đoàn Lê nhiều hơn cả, ông đã nắm được cái “thần” rất riêng, độc đáo trong giọng văn của

chị: “ Một giọng văn được nhớ, nền nã, dung dị bao giờ cũng kèm theo chất

hài hước ngấm ngầm” [60] Hồ Anh Thái đã rất chú ý đến nghệ thuật sử dụng

những yếu tố kì ảo của nữ văn sĩ này Ông cho rằng yếu tố kì ảo của Đoàn Lê

trong những truyện tiêu biểu nhất ấy là “cái thực lẫn với cái ảo chỉ làm lạ

hóa, chỉ thay đổi một góc nhìn hiện thực chứ không phải yếu tố xoay chuyển

và quyết định hiện thực nghệ thuật ” [59]

Chú ý đến bút pháp và giọng điệu, tạp chí Kirkus Peviews nhận xét:

“Thảng hoặc Đoàn Lê có xu hướng ngụ ngôn kiểu Kafka như Lên ruồi…ở chỗ

khác, những truyện ngắn đạt tới giọng điệu riêng tư thấm thía như trong Giường đôi xóm Chùa…” [60]

Nghệ sĩ ưu tú Ngọc Hiền – một người bạn của nhà văn, cũng có tới hai

bài viết về chị Ở Đoàn Lê – những cung bậc cuộc đời ( http://vietbao.com.vn )

đã đưa những nhận định không thể phủ nhận: “…Có lẽ nếm trải cuộc đời với

đầy đủ những cung bậc buồn vui, những hạnh phúc và bất hạnh đã qua của người đàn bà đa đoan này đã làm nên những trang viết mang màu sắc Đoàn Lê” Và thực sự là như thế, “không phải ngẫu nhiên mà những tác phẩm gan ruột của chị, chị đã có chỗ đứng thật đẹp trong trái tim người đọc” [27]

Trang 11

Về nghệ thuật xây dựng nhân vật, Việt Hà với bài viết Người khách

đêm giao thừa – phút trải lòng của Đoàn Lê nêu đặc điểm: “nhân vật trong truyện ngắn Đoàn Lê thường có những thiệt thòi về ngoại hình…Chính từ nhân vật kia nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp bất tử của tình yêu nguyên vẹn…” [35]

Trong bài Thấp thoáng Đoàn Lê (Báo Văn nghệ số 31 ra ngày 4/8//2012), tác giả Vũ Quốc Văn đã nhận xét về truyện ngắn Đoàn Lê: “Nó

(Truyện ngắn Đoàn Lê – Bùi Vũ Ngọc Trâm) như gió, như nước, hư thực hữu hình, vô ảnh cuốn người ta, mê hoặc người ta khôn cưỡng lại để cười, buồn thương, xót xa rồi mở mắt mà thức ngộ, mà nhận chân cuộc sống” [71]

2.2 Những ý kiến, những bài viết về một tập truyện, một tác phẩm cụ thể

Ý kiến của tác giả Bonnier Crown (NewYork) trên tờ WorldLiterature

Today về tập truyện ngắn Nghĩa địa xóm Chùa (The cemetery of Chua

village) – tập truyện được nhà xuất bản Curbtone Press ấn hành và có mặt trong hệ thống hiệu sách toàn nước Mỹ, được giới thiệu và bán trên mạng amazon.com Trong bài viết, tác giả nói lên cảm nhận chung của mình khi đọc

tập truyện này: “ Đoàn Lê đã viết những truyện ngắn như những viên đá quý,

những truyện ngắn có thể đọc như truyện phúng dụ, châm biếm, huyễn tưởng

Dù thuộc loại gì đi nữa, “Nghĩa địa xóm Chùa” cũng khiến người đọc bật khóc bật cười… tập truyện ngắn phản ánh sự suy sụp các giá trị truyền thống trước sự tham lam, hám lợi, quan liêu, đua đòi, sự áp bức giai cấp và tình dục, sự tham nhũng và vi phạm nhân quyền…tác phẩm này của Đoàn Lê rất đáng được giới thiệu vì văn phong tinh tế, linh hoạt, nó không chỉ là một sự lựa chọn tốt cho văn học châu Á, mà còn cho các lớp học viết văn” [73]

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú khi biên tập để in truyện ngắn Nghĩa địa

xóm Chùa trên tạp chí Tác phẩm mới đã nói về cảm xúc của mình khi đọc:

“hay Đoàn Lê nghi có mầm bệnh trong người? Chỉ có người ốm mới dám viết

về những truyện khủng khiếp như vậy” [40] Cùng chia sẻ với cảm nhận ấy,

Trang 12

tác giả Mai Ngọc bàn thêm: “Truyện ngắn này có phong cách rất mới Nhân

vật trong truyện là những người đã chết Chết nhưng vẫn sống trong thế giới riêng, song song với thế giới của những người sống Ở đây, những người chết nhìn, nghe ngóng và phê phán chuyện của người sống, y hệt như khi họ còn sinh thời” Qua tình huống nhầm lẫn “ khiến người đọc ám ảnh cho xã hội mà

họ đang sống, nơi chỉ cần chút tiền “lót tay tiêu cực phí” là có thể thay đổi được cục diện” [35] Để có được lời đánh giá cao như vậy của đồng nghiệp là

điều mà không phải ai cũng có được

Tạp chí Nghiệp đoàn phát hành (Consotium Distributorn) khi giới thiệu

tập truyện ngắn Trinh tiết xóm Chùa có viết: “Đoàn Lê được ghi nhận ở

phong cách đa dạng và sức sáng tạo tươi mới Với học giả, những truyện ngắn này cho một cái nhìn vào bên trong văn hóa Việt Nam sau đổi mới Với người đọc nói chung, đây là những tác phẩm bao quát và đầy nhân văn về những đề tài như lòng tham, hôn nhân, ly dị, tuổi già; đó là những tác phẩm

về quyền con người, khảo sát tất cả những gì bí ẩn tinh tế của trái tim con người” [41] Cũng bàn về tập Trinh tiết xóm Chùa, giáo sư Nguyễn Lân

Dũng, một người “ngoại đạo” với văn chương cũng phải thốt lên: “Đọc xong

16 truyện trong tập sách này lòng tôi đau xót quá Đành rằng không phải chỗ nào cũng như xóm Chùa này, nhưng rõ ràng ở nhiều nơi nông thôn hiện đã không còn bình yên nữa…Những xóm Chùa vẫn hiện diện nơi này nơi nọ với những biến tướng khác nhau, nhưng đều giống nhau ở sự tha hóa” [18]

Trong bài viết Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi sau 1975, tác giả

Nguyễn Thị Bình đã đề cập đến cảm hứng trào lộng biểu hiện thông qua việc xây dựng các tình huống trào phúng trong văn xuôi sau 1975, tác giả nêu ví

dụ: “Các tác phẩm Thành hoàng làng xổ số, Đất xóm Chùa của Đoàn Lê…

đầy rẫy những tình huống trào phúng” [14] và trong chuyên luận Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 Những đổi mới cơ bản, tác giả nhận xét: “…Thành hoàng làng xổ số, Đất xóm Chùa… là sự phóng đại hiện thực theo con mắt

Trang 13

trào lộng”, còn Người đẹp xóm Chùa “là số phận của nghệ thuật chân chính trong môi trường phàm tục” [13]

Theo http://Vietbao.com, Hồ Anh Thái nhận thấy rằng ở Giường đôi

xóm Chùa có sự “xót xa thấm thía, sự hợp tan của một tổ ấm thường ở bên ngoài ý chí của con người, có khi nó là bất khả tri” Ở Người đẹp xóm Chùa,

ông phát hiện ra rằng “hiện tại chỉ trong thoáng chốc được đẩy về thành quá

khứ, khoảnh khắc hiện tồn bất chợt nhuốm màu trải nghiệm của cái đẹp đi qua thời gian trong mối tương tác với thời gian”, còn ở Mẹ và con và thánh thần, ta thấy “chị tự mổ xẻ theo kiểu không gây mê” [60]

Trên trang web của Tập đoàn tân tạo (Ita expess) có đăng bài viết bình

luận về tập truyện ngắn Người khách đêm giao thừa, trong đó có đoạn “Tập

truyện ngắn “Người khách đêm giao thừa” vẻn vẹn 12 truyện ngắn – 12 lần tâm linh tác giả run lên dưới cái rét cuộc đời Những khoảnh khắc tận cùng của một giây cuối, một lần cuối và một con người đứng bơ vơ rồi đổ bóng xuống lòng nhân thế Từng trang văn xuôi xông lên mùi cát bụi, mùi nước mắt, mùi mồ hôi nghe thật gần gũi thân quen” [35]

Ý kiến của Vũ Thị Huyền về tập truyện …và Sex cho rằng đây là

“mảnh ghép cuộc sống luôn được bà phụng dựng – theo phong cách nào –

vẫn cảm nhận được xã hội hiện đại với những mặt trái của thị trường Những gió độc làm tàn úa một vùng văn hóa (A Tourism xóm Chùa) Nền tảng xã hội, tế bào xã hội – gia đình (Trinh tiết xóm Chùa) lung lay tận gốc Và đặc biệt trong chuyện “Mẹ và con và thánh thần” (với lời đề “Tặng con trai tội nghiệp”), người đọc là tôi phải chùng lòng trước nỗi đau rứt ruột về tình mẫu

tử của người mẹ mất con vì tệ nạn xã hội thay cho một khát vọng vào một kiếp sau mẹ lại là mẹ, con lại là con” [70]

Trên đây mới chỉ dừng lại ở phạm vi một bài báo hoặc những đánh giá khái quát nằm trong các tiểu luận mang tính khái quát về văn học Về cơ bản, các bài viết, các ý kiến nêu trên đều đánh giá cao Đoàn Lê Cho đến thời điểm

Trang 14

này vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và hoàn chỉnh về truyện ngắn Đoàn Lê Các bài viết còn lẻ tẻ nhưng là những gợi dẫn quý báu cho việc tiếp cận và triển khai luận văn của chúng tôi

3 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc khảo sát, tìm hiểu truyện ngắn Đoàn Lê, luận văn nhằm mục đích:

3.1 Nhận diện và miêu tả những đặc điểm truyện ngắn Đoàn Lê về nội dung

và nghệ thuật Đồng thời chỉ ra những nét đặc sắc, riêng biệt của Đoàn Lê trong cách thể hiện cuộc sống và con người

3.2 Khẳng định vị trí của Đoàn Lê trong đời sống văn học đương đại và ghi

nhận đóng góp của cây bút nữ này với thể loại truyện ngắn

4 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đoàn Lê sáng tác nhiều thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, Tuy nhiên, luận văn của chúng tôi chỉ tập trung vào thể loại truyện ngắn

Trong thể loại truyện ngắn, chúng tôi tập trung khai thác các khía cạnh

về bức tranh hiện thực đời sống và một số phương thức thể hiện nghệ thuật như: xây dựng tình huống truyện, ngôn ngữ, giọng điệu…

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của luận văn chúng tôi tập trung vào việc khảo sát 5 tập truyện ngắn sau của Đoàn Lê:

 Thành hoàng làng xổ số (Nhà xuất bản Phụ nữ, 1990)

 Nghĩa địa xóm Chùa (Nhà xuất bản Hội nhà văn, 1999)

 Trinh tiết xóm Chùa (Nhà xuất bản Hội nhà văn, 2005)

 Người khách đêm giao thừa (Nhà xuất bản Phụ nữ, 2007)

 …và Sex (Nhà xuất bản Thanh niên, 2010)

Trang 15

Ngoài ra, chúng tôi cũng sẽ chú ý tới một số truyện ngắn mới nhất, chưa được tập hợp in thành tập truyện của tác giả như:

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có sự đối sánh truyện ngắn Đoàn

Lê với một số tác phẩm của nhà văn nữ khác cùng thời

5 Phương pháp nghiên cứu

Để phục vụ cho mục đích nêu trên, luận văn này có kết hợp các phương pháp nghiên cứu như:

Luận văn triển khai nhằm khẳng định thành tựu của truyện ngắn Đoàn

Lê trên cả phương diện nội dung và nghệ thuật như: Bức tranh hiện thực đời sống, phương thức xây dựng tình huống truyện, mô tả tâm lý nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật

6.2 Đóng góp của luận văn

- Nhận diện những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật thể hiện trong truyện ngắn Đoàn Lê Từ đó đưa ra một cái nhìn hệ thống về truyện ngắn Đoàn Lê

- Ghi nhận vị thế của Đoàn Lê ở thể loại truyện ngắn

Trang 16

- Bước đầu minh chứng được sự phong phú, đa dạng của bức tranh truyện ngắn nữ đương đại từ cái nhìn của một “mắt xích” truyện ngắn

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Thư mục tham khảo, Nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Truyện ngắn Đoàn Lê trong dòng chảy truyện ngắn nữ Việt

Nam sau 1975

Chương 2: Bức tranh hiện thực đời sống trong truyện ngắn Đoàn Lê Chương 3: Một số phương thức thể hiện nghệ thuật trong truyện ngắn

Đoàn Lê

Trang 17

NỘI DUNG

Chương 1 TRUYỆN NGẮN ĐOÀN LÊ TRONG DÒNG CHẢY TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM SAU 1975

1.1 Khái lược truyện ngắn Việt Nam sau 1975

1.1.1 Một số vấn đề lý thuyết thể loại

Văn học Việt Nam kể từ sau 1975 đã bước sang một thời kì mới, với sự bừng nở của văn xuôi Đặc biệt là từ giữa thập kỉ 80, khi ý thức văn hoá mới hình thành, hệ hình giá trị biến đổi thì văn học đã thực sự chuyển sang một hình thái khác trước, đánh dấu một bước phát triển mới trong lịch sử văn học dân tộc Văn xuôi đóng vai trò chủ đạo trong bước ngoặt của dòng chảy hiện

đại ấy Trong đó, truyện ngắn, một thể loại văn học được coi là “xung kích”

của đời sống văn học, một thể loại có tính chất “thuốc thử” đối với hầu hết nhà văn trên con đường sáng tạo nghệ thuật của mình

Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại của Truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn gọn Bởi truyện ngắn được viết ra để đọc liền một mạch Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự khác (các loại truyện kể dân gian cũng có độ dài tương đương với truyện ngắn) Hình hài của truyện ngắn hiện đại như ta thấy hiện nay là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt cuộc sống rất riêng, mang tính chất thể loại Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường chỉ hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp

Trang 18

Nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới thì mỗi nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới ấy Về cách nắm bắt cuộc sống của thể loại, truyện ngắn không có tham vọng ôm vào mình một hiện thực rộng lớn,

hoành tráng “Ngắn ở đây đồng nghĩa với hàm súc, tinh lọc và hay” [63]

Nguyên tắc chưng cất của truyện ngắn không cho phép “dồn ép” hoặc “nhồi nhét” rút gọn nội dung của một truyện dài, hoặc một hình thức tương đương như thế, thành truyện ngắn Truyện ngắn hiện nay được hình thành từ mối quan hệ con người với hoàn cảnh, mối quan hệ giữa thực chất sâu xa của hiện tượng với biểu hiện bên ngoài, những mặt này đôi khi lẫn lộn với nhau khiến người ta khó nhận ra một cách rành mạch

Từ những sự kiện riêng lẻ trong cuộc sống, những trường hợp cá biệt, người viết truyện ngắn phải tìm ra một cái gì chung, có ý nghĩa Việc này giống như cách làm của người thợ ngọc Đá thì rất nhiều, nhưng không phải

đá nào cũng có ngọc Người nghệ sĩ phải biết lựa chọn, rồi lại gia công thế nào, để cuối cùng làm bật ra vẻ đẹp bấy lâu vẫn ẩn tàng trong đá chết Các tác giả truyện ngắn thường hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay trong đời sống tâm hồn con người Ám ảnh và đầy ấn tượng cũng là một trong những cách thức chiếm lĩnh hiện thực và hấp dẫn người đọc của truyện ngắn Về tác động của truyện ngắn, do tính chất cô đúc, truyện ngắn có sức nén và sức công phá cao Chỉ

cần một ít trang văn xuôi, người viết có thể làm “nổ tung trong tình cảm và ý

nghĩ của người đọc những điều rất sâu xa và da diết của con người, khiến người đọc phải nhớ mãi, suy nghĩ mãi, đọc đi đọc lại mãi không chán” [38, tr 148]

Trong truyện ngắn hiện đại, nhiều khi cốt truyện gồm nhiều đường dây cùng tồn tại, liên quan tới các hiện tượng mà bề ngoài dường như không có gì liên quan tới nhau Trong thời đại hiện nay, khi kỹ thuật đã phát triển tới một trình độ rất cao, nhân loại vẫn luôn luôn phải đối mặt với những vấn đề không

Trang 19

thể giải quyết, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống Nhưng chính trong một thế giới như vậy, văn học lại có điều kiện tìm ra mối quan hệ phức tạp của các hiện tượng khác nhau Với đặc trưng hết sức năng động, phản ứng rất nhanh, dễ điều chỉnh và mau thu được kết quả, thể loại truyện ngắn có thể

dễ dàng theo dõi các qui luật sáng tạo của nhà văn, cùng là theo dõi việc giải quyết những vấn đề được đề cập tới trong văn học Bên cạnh đó truyện ngắn cũng cho phép và khuyến dụ người viết thử nghiệm các phương pháp, hình thức mới So với việc phiêu lưu trong một thời gian gian dài với một cuốn tiểu thuyết, việc “chơi” với một câu chuyện ngắn có lẽ có sức quyến rũ hơn Chính trong sự phát triển thể loại truyện ngắn người ta dễ cảm nhận được sự uyển chuyển và khả năng thích nghi nhanh chóng của nó với thời đại, với các trào lưu Truyện ngắn hiện đại ngày nay đã cho thấy khá nhiều cách tân và thể nghiệm táo bạo, vượt ra ngoài những giới hạn, phá vỡ cấu trúc năm màn truyền thống, thậm chí truyện mà không có chuyện Ở truyện ngắn, chi tiết đóng vai trò rất quan trọng Nó góp phần tạo dựng cảnh trí, không khí, tình huống và khắc họa tính cách, hành động, tâm tư, nhân vật Nhận xét về

điều này, nhà văn Nguyên Ngọc khẳng định: “Truyện ngắn có thể có cốt

truyện, thậm chí cốt truyện li kì, gay cấn, kể được Truyện ngắn cũng có thể chẳng có cốt truyện gì cả, không kể được nhưng truyện ngắn không thể nghèo chi tiết Nó sẽ như nước lã” [58]

Sức hấp dẫn của truyện ngắn là ở chỗ nó không tự gói mình trong cái

áo chật hẹp của hình thức và của thể loại, mà luôn chứa đựng sức khai phóng

tiềm tàng Ngay cả những truyện ngắn được cho là “không có gì để kể”, nó

vẫn có một độ căng hiện thực nhất định và khả năng bùng nổ

Có thể gọi truyện ngắn là thể loại của thời hiện tại Bởi cái chính, tác động của truyện ngắn là tức thời và liền mạch Nó tạo một lát cắt, bất ngờ đặt người đọc vào đâu đó giữa lòng cuộc sống rồi cứ thế đẩy anh ta đi tiếp

Trang 20

Truyện ngắn không đòi hỏi người đọc phải bao quát được nhiều tầng của hiện thực, nó chỉ là một khoảnh khắc được ngưng đọng, một tia sáng được soi chiếu, thành ra người đọc dễ dàng đến với truyện ngắn trong bất cứ thời gian nào, bối cảnh nào Ký ức nó để lại bao giờ cũng tươi rói và đầy ấn tượng, trong khoảnh khắc ấy, phút giây ấy Cho nên, không đầy sự hoài vọng như thơ hay tùy bút, không vươn mình kể những gì dài rộng như tiểu thuyết, truyện ngắn thản nhiên bày biện một cách gọn ghẽ một hiện tại hiện tồn Dường như, truyện ngắn là thể loại thích hợp hơn cả để thể hiện những đoạn cắt cuộc đời Bởi quá khứ đã trôi qua, tương lai thì chưa tới, những mảnh vụn tâm tình chỉ có thể dành cho hiện tại

Hơn thế, trong nhịp sống hối hả ngày nay, con người có chút ít thời gian để lật vội những trang báo, tạp chí hay kích chuột trên màn hình vi tính

để tìm đọc những sáng tác văn chương, truyện ngắn trở thành thể loại “hợp thời” và cần thiết cho công cuộc duy trì văn hóa đọc của quần chúng

1.1.2 Bối cảnh lịch sử - thẩm mĩ của văn học Việt Nam sau 1975

Mùa xuân năm 1975, chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chấm dứt sự chia cắt đất nước Sự kiện này

mở ra một thời kỳ mới của xã hội và lịch sử dân tộc Việt Nam cùng những cơ hội và thách thức mới ở phía trước

Khi khúc khải hoàn vừa tấu xong, khi xúc cảm mãnh liệt về chiến công tạm lắng xuống, thực trạng của đất nước sau chiến tranh với tất cả những đổ nát, ngổn ngang, nhức nhối của nó đòi hỏi một sự nhận thức mới, sự đối mặt với những vấn đề phức tạp đang diễn ra Từ thời chiến bước sang thời bình, hiện thực cuộc sống mở ra bao điều phức tạp, con người cũng có những thay đổi trong tâm tư, tình cảm: trong kháng chiến, tất cả hướng về cái chung, đồng lòng, đồng sức hướng về chiến thắng Giờ đây, cuộc sống đầy lo toan, tính toán buộc con người phải căng mình lên đối mặt với những khó khăn,

Trang 21

những vun vén cá nhân Các giá trị cao cả về xã hội, đạo đức, lối sống trong chiến tranh bền vững thì đến giờ ít nhiều đã bắt đầu lung lay, rạn nứt Các chuẩn mực giá trị mới đang phôi thai từng bước hình thành Đời sống văn hóa – tư tưởng vào những năm tám mươi, chín mươi của thế kỷ đứng trước diễn biến không ổn định Những tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường và việc

mở cửa, hội nhập làm nảy sinh tâm lý thực dụng, sùng ngoại, chạy theo lối sống hưởng thụ vật chất, coi nhẹ các giá trị tinh thần của cộng đồng Hiện thực xã hội khiến con người chán nản, mất niềm tin, không có động lực để phấn đấu

Đứng trước những bất cập, những vấn đề nhức nhối, bức xúc của xã hội hiện thực cuộc sống như muốn phá vỡ khuôn khổ vốn chật hẹp, bức bối của

nó Đất nước rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng về kinh tế xã hội, như

PGS.TS Phan Trọng Thưởng nhận định: “Mười năm sau chiến tranh, cơ chế

quan liêu bao cấp đã đến lúc bộc lộ hết những hậu quả nặng nề của nó trên mọi mặt của đời sống chính trị - xã hội Hàng loạt chủ trương, chính sách đã

tỏ ra lỗi thời Những quy luật đặc thù của đời sống chiến tranh đã hết hiệu lực, không còn phù hợp với trạng thái phát triển của đất nước trong điều kiện lịch sử mới” Vậy nhu cầu đổi mới được đặt ra khẩn thiết và cấp bách

Để khắc phục những sai lầm, khiếm khuyết, đưa đất nước vượt qua cuộc khủng hoảng và đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đại hội Đảng toàn quốc lần VI đã đề ra đường lối đổi mới đất nước trong thời kỳ

quá độ Có thể xem đây là bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc “Đối với các

nước xã hội chủ nghĩa anh em, đổi mới là con đường vươn lên đáp ứng đòi hỏi của thời đại, đối phó thắng lợi với mọi thử thách, đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của nhân dân Đối với đất nước ta, đổi mới có ý nghĩa sống còn" (Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần VI 1987), với phương châm đổi mới đồng bộ và toàn diện, và tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng

Trang 22

sự thật, nói rõ sự thật, Đảng ta đã nghiêm khắc tự phê bình những chủ trương,

chính sách sai lầm, chủ quan, duy ý chí, đề ra đường lối phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, hình thành cơ chế thị trường, kế hoạch

hoá theo phương châm hạch toán kinh doanh nhằm đưa đất nước ra khỏi

khủng hoảng, đi vào ổn định, phát triển Giống như một cuộc lột xác đau đớn

để trưởng thành mạnh mẽ, đất nước ta đã chuyển mình để bắt kịp với quy luật của sự phát triển Những chuyển biến ấy đã tác động sâu sắc đến sự phát triển của văn học nghệ thuật

Văn học - hoạt động tư duy tinh tế, sâu sắc và mẫn cảm với hiện thực

đã được đặt lên hàng đầu trong công cuộc đổi mới Tâm điểm của công cuộc đổi mới là con người Đáp ứng nhu cầu lịch sử, văn học đã tự nhận thức được

sứ mệnh của mình: công cụ quan trọng để hoàn thiện nhân cách con người Đổi mới văn học đã góp phần hình thành bộ mặt văn hóa xã hội trong thời kỳ mới

Tư duy nghệ thuật cũ ngày càng tỏ ra không thích hợp với thời kỳ mới

Sự chuyển đổi của tư duy nghệ thuật đã làm cho mối quan hệ giữa văn học và hiện thực có sự thay đổi về chất Suốt 30 năm chiến tranh, dường như nhà văn chưa có điều kiện, thời gian để nghiền ngẫm, suy tư, để quan sát hiện thực từ nhiều phía Khi chiến tranh đã lùi lại phía sau, nhà văn mới có điều kiện để quan sát, nhìn nhận nó trong tính toàn diện và nhiều mặt của sự kiện Vấn đề chiến tranh, số phận, đạo đức, nhân cách, những kiểu tư duy, làm ăn cũ đều được nhìn nhận lại với ý nghĩa nhân văn mới Và cùng với sự mở rộng giao lưu, hội nhập văn hóa nhân loại, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, văn học cũng đã thực sự bước vào chặng đường đổi mới chính mình theo xu hướng phát triển của thời đại

Như vậy nhu cầu tự thân của văn học và nhu cầu xã hội đã dẫn đến đổi mới văn học Đổi mới văn học là một tất yếu lịch sử

Trang 23

1.1.3 Truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Truyện ngắn với ưu thế đặc biệt của thể loại luôn tỏ ra nhạy bén với cái mới do tác động của điều kiện lịch sử, văn hóa, xã hội Trong điều kiện hoàn cảnh mới của đất nước sau 1975, thể loại nhạy cảm này chắc chắn có những

thay đổi quan trọng Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng trong công trình Truyện

ngắn, những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại cũng khẳng định sự thành

công của truyện ngắn sau 1975: “ truyện ngắn phát triển mạnh mẽ cả về số

lượng và chất lượng”, “truyện ngắn có bước đột khởi nhờ vào ngọn gió lành của công cuộc đổi mới” [64]

Khác với trước 1975, do tác động của điều kiện hoàn cảnh chiến tranh

và yêu cầu của Đảng về một nền văn nghệ cổ vũ, động viên cho hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, văn học nói chung, truyện ngắn nói riêng mang đặc trưng “ký hoá” và “sử thi hoá” rõ nét Truyện ngắn Việt Nam sau

1975 tập trung nghiên cứu hiện trạng tinh thần xã hội sau chiến tranh – đó là hiện trạng phức tạp và đa dạng đan xen các mặt tích cực và tiêu cực Tính chất phức tạp của đời sống tinh thần xã hội là kết quả tất yếu của hậu chiến tranh, của đời sống kinh tế khó khăn, của sự xâm nhập các trào lưu tư tưởng

từ bên ngoài vào Nhìn chung các nhà văn đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự

thật, không né tránh và viết về sự thật Chuyện “đời thường” vì thế nổi trội

trong đa số truyện ngắn giai đoạn này, thậm chí đã hình thành một quan niệm

“văn học thế sự” Nhà văn có thể viết tất cả mọi chuyện: Nỗi cô đơn, sự đau

khổ về thể xác và tinh thần của con người, niềm vui và sự đắng cay của cuộc đời, sự trung thành và sự phản bội…

Truyện ngắn thời kỳ đổi mới đã xuất hiện một khuynh hướng khá nổi bật là khuynh hướng nhận thức lại quá khứ Sau chiến tranh, nhu cầu được nói thẳng, nói thật đã trở nên cần thiết hơn bao giờ hết và điều này được cổ vũ bởi tinh thần dân chủ của đời sống Trong cảm quan sáng tác của các nhà văn lúc này đã có ý thức lật xới lại vấn đề của lịch sử, hay nhìn thực tại với góc độ mới

Trang 24

Hiện thực chiến tranh và người lính thời kỳ này giống như một cỗ xe khổng lồ đang chạy theo quán tính vượt qua ranh giới lịch sử vẫn được trở lại tiếp tục khai thác nhưng với cách tiếp cận mới Chất giọng sử thi nhạt dần và

có thêm những giọng điệu mới từ giọng điệu thâm trầm trong Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu), Bản lý lịch tự thuật (Y Ban), Thời gian (Cao Duy Thảo),… đến chất giọng xót xa với Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo), Người ở bến

sông Châu (Sương Nguyệt Minh),… Từ nhiều góc nhìn và sự thể hiện khác

nhau về sự đa đoan của con người, sự đa sự của cuộc sống, các truyện ngắn viết về chiến tranh đã có sự phối âm của nhiều chất giọng Điều đó tạo nên tính đa sắc cho bức tranh cuộc sống con người thời hậu chiến, với những gương mặt như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh,…

Không khí đổi mới - dân chủ tác động mạnh mẽ đến đời sống văn học nghệ thuật, đến các chủ thể sáng tạo Con người trở thành đối tượng hàng đầu trong cảm hứng sáng tác của các văn nghệ sĩ Con người được mô tả như một thực thể của những cái đã biết và những cái chưa biết – những “cái con người” trong con người Con người nếm trải với những vấn đề đời tư, bản thể,

tự do luyến ái, đời sống tình dục được các nhà văn khai thác không né tránh,

ngại ngùng ở cả các mặt trái, góc khuất, phần chìm của hiện thực “Chưa bao

giờ, con người với tất cả quan hệ xã hội của nó, thân phận và cuộc đời của nó được phản ánh một cách sinh động và phong phú như trong giai đoạn hiện nay” (Bích Thu) Con người được phản ánh trong văn học với cái nhìn đa

diện, đa chiều và được đặt trong mối quan hệ với các yếu tố xã hội phức tạp, phong phú (Nhân vật của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải….) Trong văn xuôi xuất hiện nhân vật tự thú (con người tự phê phán, khác giai đoạn trước: con người bị phê phán), nhân vật trí thức (tự khám phá, mổ xẻ nội tâm của

Trang 25

mình)… Bên cạnh đó, nhà văn đã đặt con người trong đời sống tinh thần, tình cảm, đời sống tự nhiên, bản năng, giúp con người hiện ra toàn vẹn hơn, chân thực hơn không chỉ với những khát vọng cao cả mà cả những dục vọng tầm thường… Cái nhìn nhiều chiều kích và nhân bản ấy giúp nhà văn có những

nhận thức mới mẻ về con người Đó là quan niệm về thiện - ác (“Đôi lúc,

con người ta trở nên tàn ác một cách rất hồn nhiên” - Đứa ăn cắp - Nguyễn

Minh Châu); là sự phát hiện về con người bí ẩn (Thiếu phụ chưa chồng - Nguyễn Thị Thu Huệ, Một khái niệm tình yêu - Chu Lai, Chuỗi hạt của con

cáo - Phạm Thị Ngọc Liên …), con người tự nhiên (Người sót lại của rừng cười - Võ Thị Hảo, Tân cảng - Nguyễn Thị Thu Huệ…); con người cô đơn

(Tướng về hưu - Nguyễn Huy Thiệp, Lạc thời - Nguyễn Khải, Cam ngọt - Phạm Sông Hồng,…); con người tâm linh (Dị hương – Sương Nguyệt Minh,…);…

Tóm lại truyện ngắn sau 1975 tuy có khác nhiều so với truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1975 nhưng nó vẫn phát triển trên cái nền của những thành tựu truyện ngắn 1945 - 1975 đã đạt được Ngay những nhược điểm, những hạn chế không thể tránh khỏi của giai đoạn trước cũng giúp cho kinh nghiệm nghệ thuật của giai đoạn sau Nhìn tổng thể, sự vận động của truyện ngắn sau 1975

đã diễn ra giống như một cuộc “nhận đường” toàn diện và sâu sắc: từ ý thức nghệ thuật đến hành vi sáng tạo, từ tư tưởng đến thi pháp Sự vận động ấy hướng mạnh mẽ đến những nỗ lực cách tân nhằm đổi mới thể loại Về mặt hình thức, truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đổi mới rõ rệt ở các phương diện: dạng thức cấu trúc cốt truyện, trần thuật và ngôn ngữ truyện Những cách tân

ấy đã góp phần tạo nên diện mạo mới cho truyện ngắn Việt Nam

1.2 Khái lược về thế hệ nhà văn nữ Việt Nam sau 1975

1.2.1 Sự nối tiếp của nhiều thế hệ cầm bút

Văn học Việt Nam những năm gần đây xuất hiện một đội ngũ đông đảo các nhà văn nữ như: Lê Minh Khuê, Đoàn Lê , Lý Lan, Nguyễn Thị Thu Huệ,

Trang 26

Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư, …Với cái nhìn mẫn cảm bản năng, các nhà văn nữ thường quan tâm nhiều đến nỗi bất hạnh, sự cô đơn

và khát vọng tình yêu hạnh phúc, đến người phụ nữ, đến những đứa trẻ mồ côi bất hạnh… những khía cạnh nhỏ nhoi, bí ẩn của cuộc sống đời thường Sự tiếp nối trong đội ngũ và cảm hứng sáng tác của các thế hệ nhà văn nữ thể hiện ở nhiều khía cạnh trong tác phẩm văn học

Trước hết các nhà văn nữ có sự tiếp nối về đề tài trong văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng Nhưng đây là sự tiếp nối mang tính cách tân, đổi mới trên nền truyền thống đề tài truyện ngắn mà nhiều nhà văn nữ khai thác đó là việc tìm kiếm và theo đuổi hạnh phúc riêng tư của người phụ nữ

Trong tác phẩm Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê hình ảnh những cô

gái Hà Nội trẻ trung tinh nghịch nhưng rất can đảm sẵn sàng hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ như: Nho, Thao, Phương Định Các cô gái trẻ ấy ngoài những lúc làm nhiệm vụ gian khổ thì trong lòng luôn lạc quan hy vọng tìm kiếm hạnh phúc của bản thân Ngoài ra là các đề tài về số phận những người nghèo khổ, bất hạnh, hạnh phúc gia đình, những người phụ nữ đẹp người đẹp nết nhưng trắc trở về tình duyên, gia đình gặp nhiều sóng gió

Sự tiếp nối về thể loại: hầu hết các nhà văn nữ đều lựa chọn văn xuôi, đặc biệt là truyện ngắn để thể hiện tâm tư, suy nghĩ của bản thân Truyện ngắn có cấu trúc như một truyện dài, mang đậm tư duy tiểu thuyết, là sự chồng xếp, đan chéo của vô vàn trạng huống và những mảnh thân phận khác nhau Đó là những câu chuyện xoay quanh số phận những con người xóm

Chùa của Đoàn Lê, hay của con người nơi đất mũi trong Cánh đồng bất tận

của Nguyễn Ngọc Tư …

Sự tiếp nối những cách thức thể hiện trong tác phẩm: nghệ thuật miêu

tả tâm lý nhân vật trực tiếp hoặc gián tiếp Những tình huống truyện độc đáo, bất ngờ đầy táo bạo… là những nét nghệ thuật được các thế hệ nhà văn nữ kế thừa và phát huy

Trang 27

1.2.2 Một số biểu hiện của “đặc điểm giới” trong tác phẩm của các nhà văn nữ 1975

Nếu như ở các giai đoạn trước 1930 - 1945 hay 1945 - 1975 ưu thế thuộc về các nhà văn nam như: Nam Cao, Thạch Lam, Nguyên Hồng, Nguyễn Khải, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu… thì văn học đương đại phần đông gắn với các tên tuổi nữ như: Lê Minh Khuê, Dạ Ngân, Đoàn Lê, Phạm Thị Hoài, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu…Như lời phát biểu của nhà văn

Võ Phiến: Chúng ta đang có một nền văn chương đổi phái tính Những trang

viết của các nhà văn nữ thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến số phận, hạnh phúc

và quyền sống của người giới mình Trong cuộc sống hiện nay, theo suy nghĩ

và cảm nhận của họ, người phụ nữ vẫn còn mang nhiều nỗi khổ cần được sẻ chia và họ đã tìm thấy trong văn học nói chung và văn xuôi nói riêng một sức mạnh để qua thế giới nhân vật nữ họ tìm được nơi để bày tỏ những tâm tư, suy nghĩ uẩn khúc của lòng mình Và có lẽ theo quy luật đồng thanh tương ứng lúc đầu là một vài cây bút nữ viết, rồi những cây bút khác qua tác phẩm của những người đi trước tìm thấy ở đó một sự đồng cảm và họ cũng viết để giãi bày làm thành cả một dòng chảy Ở dòng chảy đó họ như được tự do phơi

mở cái tôi cá nhân của chính mình với một giọng điệu riêng, một cách thức riêng Họ thẳng thắn đối thoại lại những quan niệm cũ về những mẫu hình nữ giới trước đây luôn bị đóng khung trong những đặc điểm dịu dàng, thùy mị, giàu đức hy sinh, nhẫn nhục và chịu đựng hoặc chỉ viết về những chuyện nhỏ nhặt, không có tầm tư tưởng lớn Họ mạnh dạn thể hiện sự thức tỉnh ý thức cá nhân, khát vọng bản thể, khẳng định giá trị sống… của chính mình trên diễn đàn văn học nghệ thuật Khi viết về tình yêu, họ khám phá toàn diện về mọi mặt, mọi cung bậc, từ những dư vị ngọt ngào đến những dư vị đắng chát, từ nhẹ dạ cả tin đến mạnh mẽ, chủ động, già dặn và từng trải…tất cả đều là

Trang 28

những bộc bạch chân thực nhất của các cây bút nữ viết về giới mình Hơn nữa khi nữ văn sĩ viết về phái yếu, cũng có nghĩa là họ đã hướng ngòi bút vào chính mình, dù tác giả viết về người phụ nữ khác thì cái nhìn của họ cũng sẽ

có phần sâu sắc, triệt để và thấu đáo hơn Nhà văn nữ viết nhiều về phụ nữ vì theo đặc trưng tâm lý họ tồn tại với tình cảm hướng nội, luôn muốn tìm sự đồng cảm, khác tâm lý đàn ông với lý trí hướng ngoại luôn luôn phân tích chiếm lĩnh Bên cạnh đó nhà văn nữ muốn thông qua nhân vật nữ để thể hiện tâm hồn mình, bản thân mình, vì vậy mà những sáng tác của các tác giả nữ thường mang màu sắc tự truyện Diện sống của phụ nữ nói chung không rộng bằng nam giới, các tác giả nữ lại thường viết tập trung vào những đề tài nhất định, do đó đôi khi không tránh khỏi việc gây nên cảm giác đơn điệu cho

người đọc, như nhà văn Lê Minh Khuê nhận xét: “Nghĩ về những người viết

cùng giới mình, tôi thường bị chi phối bởi cảm giác nước đôi Một mặt nhiều chị em bộc lộ một tài năng rõ rệt, không lèm nhèm, không mờ nhạt Mặt khác sao vẫn cứ cảm thấy, đặt trong hoàn cảnh chung rồi mỗi người cũng thế thôi, không bao giờ có sự gọi là đồ sộ, vĩ đại ở những cây bút nữ này cả” [27] Và

nhà phê bình Đặng Anh Đào cũng khẳng định: “Phụ nữ thường mạnh ở chỗ

đưa tất cả cuộc đời và tâm hồn họ vào trong sách…tuy nhiên phải nói thật là

ở mỗi người nguy cơ lặp lại chính mình, nguy cơ ấy khá rõ” [27] Riêng thế

giới nhân vật nữ của các nhà văn nữ được xây dựng trên những trang văn thấm đẫm tình cảm, cảm xúc như đang tuôn trào từ trái tim, tâm hồn của họ với giọng điệu khi thì dịu dàng, ấm áp, khi thì xúc động nghẹn ngào… và tình yêu luôn là đề tài trung tâm trong nhiều sáng tác của các cây bút nữ Đặc biệt người phụ nữ trong văn học thời kì đổi mới hiện lên với khát vọng yêu đương mãnh liệt, luôn đòi hỏi được yêu thương che chở, bộc lộ những phẩm chất tốt trong tình yêu và thường xuyên gặp ngang trái trong ái tình Nhân vật nữ của các nhà văn nữ thời kì đổi mới không phải là không có những người hạnh

Trang 29

phúc, những khoảnh khắc vui, song hầu hết trong số họ là những người bất hạnh, cô đơn Với tâm hồn nhạy cảm, dễ xúc động nữ văn sĩ là người dễ nhận

ra và dễ khắc sâu những nỗi buồn của người cùng giới hoặc của chính mình Qua những trang viết đó, các nhà văn nữ thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến số phận, hạnh phúc và quyền sống của người giới mình trong cuộc sống hiện nay, theo suy nghĩ và cảm nhận của họ người phụ nữ vẫn còn mang nhiều nỗi khổ cần được sẻ chia Chính vì thế mấy mươi năm trở lại đây, người đọc đã được thưởng thức nhiều giọng điệu mới với những phong cách khác nhau của các cây bút nữ, trải nghiệm như Lê Minh Khuê, sắc sảo như Phạm Thị Hoài, tinh tế như Phan Thị Vàng Anh, đằm thắm như Nguyễn Thị Thu Huệ, hồn hậu

và đậm sắc màu văn hoá như Nguyễn Ngọc Tư, Chưa bao giờ phái nữ lại dành được sự quan tâm nhiều của người cầm bút như hôm nay Khuynh hướng duy nữ được thể hiện không chỉ là sự xuất hiện nhiều nhà văn nữ, nhiều nhân vật nữ trong các tác phẩm mà nó còn chi phối ngay cả cách đặt tên

tác phẩm như: Người đàn bà đứng trước gương, Người đàn bà có ma lực, I

am đàn bà của Y Ban, Hồn trinh nữ, Goá phụ đen của Võ Thị Hảo, Thiếu phụ chưa chồng của Nguyễn Thị Thu Huệ,… Mỗi tác giả đều cố gắng xác lập một

tiếng nói riêng, một giọng điệu của riêng mình Dường như với xu hướng duy

nữ ngôn ngữ văn chương của nền văn học đã đổi thay, tinh tế hơn, chất nội cảm nhiều hơn, màu sắc biểu tượng đa dạng hơn

1.3 Đoàn Lê - một cây bút nữ độc đáo của văn học Việt Nam sau 1975

1.3.1 Người phụ nữ đa tài, đa đoan

Đoàn Lê là con gái một cụ đồ nho đất Cảng Gia đình có nghề thuốc gia truyền Cụ đồ có ý hướng cho cô con gái yêu, thông minh khá mẫn cảm của mình nối nghiệp nhà Nhưng khi ấy, cô hoa khôi phố biển Đoàn Lê đang thì mộng mơ bay nhảy đã không vâng theo ý phụ thân, mà thi vào học khoa điện ảnh, Trường Sân khấu điện ảnh Hà Nội

Trang 30

17 tuổi, Đoàn Lê đã táo bạo rời làng quê, bỏ tuổi thơ đầy ắp những kỷ niệm để lên chốn thị thành phồn hoa tìm sự nghiệp Cũng nhanh chóng chị bước vào cuộc hôn nhân thứ nhất với rất nhiều những mộng tưởng 18 tuổi Đoàn Lê đã làm mẹ, khi còn đang học lớp Sân khấu - điện ảnh khóa đầu tiên Cái gánh nặng này thật không hề dễ dàng với một cô gái “khuê các” đầy mộng mơ Sinh con gái đầu lòng được 15 ngày, Đoàn Lê gửi con cho em gái

là Đoàn Thị Tảo nuôi hộ để đi theo đoàn làm phim Rồi cuộc hôn nhân đầu của chị tan vỡ, chị bồng hai đứa con thơ ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng Cuộc đời cơm áo đè nặng lên đôi vai Đoàn Lê với biết bao khó khăn trước mắt Sau này, cuộc sống cô quạnh, vất vả khiến chị đi bước nữa, nhưng lấy

chồng cũng chẳng dư dật gì Theo lời chị Tảo: “Tôi thường phải về nhà xin

vàng của mẹ đem bán để “cứu trợ” cho chị ấy”

Có lẽ những nếm trải của cuộc đời với đầy đủ những cung bậc buồn vui, hạnh phúc và bất hạnh đã qua của người đàn bà đa đoan này đã làm nên những trang viết mang màu sắc Đoàn Lê! Không phải ngẫu nhiên mà Đoàn

Thị Tảo đã có bài thơ nổi tiếng tặng Chị tôi! Và cũng không phải ngẫu nhiên,

với những tác phẩm gan ruột của mình, chị đã có “chỗ đứng thật đẹp trong trái tim người đọc”

Đoàn Lê nổi lên như một nhan sắc dịu dàng, thánh thiện, với cặp mắt nâu, da trắng, nụ cười lấp lóa thật hiền và một bím tóc dài chấm gót được vắt

về trước ngực

Nhà văn, nhà biên kịch Đoàn Lê đến với nghiệp văn chương có lẽ bắt

đầu từ bài thơ Bói hoa năm chị mới mười sáu tuổi Bài thơ nói lên sự e ấp

ngại ngùng của một cô thiếu nữ trước ngưỡng cửa cuộc đời, ngưỡng cửa tình yêu Ngay lập tức, bài thơ đã được giới trẻ lúc bấy giờ chuyền tay nhau chép vào sổ thơ của mình:

Trang 31

Ngày xưa em thơ ngây

Nhưng nụ hồng e ấp Giấu kín điều em mong

Với Đoàn Lê, người ta có thể gọi chị là nhà văn, nhà biên kịch điện ảnh, hay nhà thơ, họa sĩ đều được Với văn chương, chị khẳng định tài năng

bằng tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại, đã được nhận giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 1990 Những cuốn tiểu thuyết khác như Lão già tâm thần,

Thành hoàng làng xổ số, Người đẹp và đức vua, những tuyển tập truyện

ngắn như Nghĩa địa xóm Chùa, Người khách đêm giao thừa, lần lượt ra đời

đã khẳng định rõ văn phong và ghi nhận tài năng của chị Cuốn tiểu thuyết

Tiền định ra mắt bạn đọc gần đây nhất đã sớm được lọt vào vòng chung kết

giải thưởng Bách Việt Với văn phong giản dị, hóm hỉnh mà sâu sắc, mỗi câu chuyện về những số phận con người dưới ngòi bút tài hoa của Đoàn Lê đã hiện lên chân thực, sống động và thấm đẫm tính nhân văn Những câu chuyện xoay quanh cái làng Chùa bé nhỏ nhưng trong ấy có hình dáng của nhiều làng quê thân thuộc khác Có những câu chuyện tình yêu nhẹ nhàng mà khiến

người đọc sửng sốt, rồi rưng rưng nước mắt như Chuyện tình Guột Lại có câu chuyện mang tính triết lý ngụ ngôn cao như chuyện Nghĩa địa xóm Chùa,

hóm hỉnh đấy mà đầy chua cay về thói đời ngay cả khi chết đi rồi, con người

ta vẫn không dễ gì thay đổi Đoàn Lê có biệt tài phát hiện và miêu tả những chi tiết đắt giá ngay trong những cái tưởng chừng như vụn vặt của đời thường Văn phong của Đoàn Lê có những nét rất riêng, cuốn hút người đọc bằng những câu chữ vừa tinh tế, mượt mà, vừa ý nhị, dí dỏm

Đến với điện ảnh từ nghề diễn viên, nhưng Đoàn Lê lại chỉ mới có mặt

trong bộ phim Quyển vở sang trang của đạo diễn Nguyễn Ngọc Trung, với

Trang 32

vai cô giáo Hồng Vân Đóng góp cho ngành điện ảnh nhiều nhất đó là những

kịch bản phim như Làng Vũ Đại ngày ấy, Cha và con, Thành hoàng làng xổ

số, Bình minh xôn xao, Ngày về, Truy lùng băng quỷ gió, và một loạt kịch

bản phim truyền hình khác mà chị vừa viết kịch bản vừa đạo diễn Dường như khả năng sáng tạo của chị là không giới hạn Trong cùng một thời gian, người ta thấy chị vừa viết, vừa làm phim, vừa vẽ và làm thơ

Sau khi về hưu, Đoàn Lê lui về ẩn dật ở ngôi nhà nhỏ dưới chân núi thuộc thị xã Đồ Sơn Đó là một khu đất chừng 400m2, thuộc thị xã Đồ Sơn, cách biển vài trăm mét, dựa lưng vào quả núi Mẫu, xóm núi đó lại gần đường

ô tô Ra khỏi ngõ chừng vài chục mét là đến phố Có thể nói ngôi nhà Đoàn

Lê vừa quê, vừa tỉnh, lại vừa biển Chị xa lánh mọi thứ phù du để chuyên tâm vào hội họa Đoàn Lê giờ sống bình yên cùng những toan, những mầu, những cây bút vẽ Mọi vui buồn, chị dồn hết vào những bức tranh Những gì không viết nên thành câu chữ, chị dùng hội họa thay lời Thi thoảng, chị lại cùng bạn

bè mở những triển lãm tranh nho nhỏ với những bức tranh sơn dầu Thế mạnh của Đoàn Lê là tranh sơn dầu, và đề tài chủ đạo là nét đẹp xuân thì của những

cô thiếu nữ Hồi danh họa Bùi Xuân Phái còn sống, cụ đã là người chỉ bảo cho Đoàn Lê những nét bút đầu tiên, những bài học cơ bản về hội họa Những năm bảy mươi của thế kỷ trước, Đoàn Lê đã thi đỗ vào trường mỹ thuật, song

cơ chế lúc đó đã kìm chân chị, khiến chị không được theo hội họa là bộ môn nghệ thuật mà chị đam mê Cũng là do thói thường của tệ quan liêu, trù úm, cửa quyền Nhưng cũng không biết thế là hay hay dở, vì nếu theo học trường

mỹ thuật hồi đó, thì chúng ta lại chưa chắc đã có một nhà văn Đoàn Lê như

ngày nay Mọi sự âu cũng là do số phận cả, đều là do Tiền định – như tên

cuốn tiểu thuyết mới đây của chị

Đọc Tiền định, người ta có thể nghĩ đây là một cuốn tự truyện, vì nhân

vật cô Chín trong tiểu thuyết cũng lận đận, long đong như số phận nhà văn,

Trang 33

nhà biên kịch Đoàn Lê Nhưng khác với cô Chín trong tiểu thuyết có số phận nghiệt ngã, ở cái kết "không có hậu", với Đoàn Lê lại tìm thấy một lẽ sống trong tình yêu nghệ thuật Và chị tìm thấy sự bình yên sau bao ngày sóng gió bão bùng Những tác phẩm hội họa của chị thể hiện sự tĩnh tại, an nhiên, xa lánh mọi vòng tục lụy của đời thường

Khi được hỏi hội họa và nghề viết bổ sung cho nhau như thế nào? Đoàn

Lê cho biết nghề viết, viết văn, kịch bản, thơ viết ra đã có sự kiểm duyệt của chính mình và nhiều khi không đủ diễn tả mọi xúc cảm Niềm đam mê hội họa giải phóng những thôi thúc khi không viết được Những cảm xúc, những

vẻ đẹp không thể diễn tả thành lời thì tôi tìm đến hội họa Nhờ tranh mà những truyện ngắn hay kịch bản phim của tôi cũng có bố cục chặt chẽ hơn và nhiều người nhận ra sự cân đối, hài hòa

Sắp bước sang tuổi 70, nhà văn Đoàn Lê vẫn có những truyện ngắn và tiểu thuyết với giọng văn hóm hỉnh, trẻ trung và với tài năng của chị, các nhà văn

trẻ vẫn thường yêu quý gọi chị là Chị tôi và thường ngâm nga những câu thơ: Thế

là chị ơi/ rụng bông hoa gạo/ ô hay, trời không nín gió/ cho ngày chị sinh?

Cái nết na, nét dịu dàng, tần tảo của Đoàn Lê khiến người đời ngưỡng

mộ, nhưng nó dường như cũng chính là nạn nhân của sự giả dối, toan tính của người đời Ở chị luôn hiển hiện sự giằng xé giữa tình duyên và nặng gánh trách nhiệm Chính sự vương vấn, lỡ dở ấy tạo nên sự long đong, lân đận trong đời của người đàn bà – là chị

Phải nói rằng ít có người phụ nữ nào mà số phận long đong như nhà văn Đoàn Lê với hai lần chia tay chồng Người con trai yêu quý, chiếc lá xanh

đã rụng trước lá vàng Số phận đổ xuống đầu dồn dập như muốn đánh gục người đàn bà đa tài và đa tình này Những chấn thương tình cảm để lại khá

nhiều dấu vết trong những sáng tác của chị Truyện ngắn Giường đôi xóm

Chùa kể lại về cuộc chia tay giữa vợ chồng, cái tổ ấm mà nhà văn cố níu giữ

nhưng không được Mẹ và con và thánh thần kể về sự ra đi của người con

Trang 34

Nhà văn đã dùng ngòi bút để tự mổ xẻ mình trước căn bệnh cuộc đời Truyện

ngắn này khá hay nhưng thật buồn Giao cảm cuối cùng nói về cái chết của

mình và sự giao cảm với người tình tưởng tượng Rồi có lúc làm thơ, chị viết:

Người đừng năm tiết, bảy tao Mai ta ra biển, tan vào sóng xanh

1.3.2 Sự nghiệp sáng tác phong phú

Khi nghĩ tới một nhà văn Đoàn Lê là người đọc thường nhắc đến giải

thưởng Hội nhà văn năm 1990 với tiểu thuyết Cuốn gia phả để lại, hoặc gần đây nhất là giải thưởng tập truyện ngắn Trinh tiết xóm Chùa, năm 2005 Và

khi nhắc đến một Đoàn Lê điện ảnh, người xem không thể quên bộ phim

Làng Vũ Đại ngày ấy Còn ở lĩnh vực hội hoạ, đó dường như là một sự quay

về với một Đoàn Lê trẻ trung dịu dàng của một thời con gái Bước vào thế giới hội họa, sự run rẩy của cảm xúc luôn luôn như mới bắt đầu mỗi khi Đoàn Lê cầm cây cọ để giải toả những ẩn ức trong tâm hồn mình Mỗi bức tranh của chị như một ẩn dụ, thông qua hình tượng để bày tỏ những xúc động sâu thẳm trong con tim Có lẽ, trái tim thi sĩ đa cảm hiện lên qua mầu sắc, đường nét và được chắt lọc bởi bố cục khá tiết chế Trong cõi sắc màu này,

cái thuở dậy thì thơ ca cách đây nửa thế kỷ với bài thơ Bói hoa của nữ sĩ

Đoàn Lê đã trở lại Cái kiếp hoa ấy sau này nhập hồn vào giá vẽ của Đoàn Lê

với các tên khác nhau như Hoa bèo, Hoa lan tiêu, Hoa hồng, Nhưng có thể

nói, ngoài những đề tài tập trung về phụ nữ và phong cảnh, thì mảng tranh

“nuy" của chị có một sức thu hút đặc biệt Đây thật sự là một nét phá cách của một thân phận đầy gian truân, trần ai với cuộc sống mà Đoàn Lê đã trải nghiệm Nhiều đau khổ đến mức chị đã định tìm đến thiền với một nguyên tắc sống: "Không nói , không nhìn, không nghe, không tình dục!?" Nhưng cuộc đời lại không cho chị được toại nguyện, nên giờ đây, với văn chương lại có

một Đoàn lê nghiệt ngã hơn với tập truyện Trinh tiết xóm Chùa, còn với giá

Trang 35

vẽ xuất hiện một Đoàn Lê thi sĩ hơn khi gắn bó tinh tế trong hội hoạ "nuy" Cái nhìn, cái nghe, cái tình dục qua toan với mầu sắc, đường nét mang thương

hiệu Đoàn Lê luôn luôn nhân ái và thật sự nồng ấm Tác phẩm Hoa bèo của

chị là một ẩn dụ sâu sắc, giàu tính biểu đạt, thể hiện lòng thương với thân phận của các cô gái trôi dạt về bãi biển Đồ Sơn như những cánh bèo lênh đênh, bị sóng đánh tả tơi trên mặt cát Hình tượng ấy qua bức tranh ‘nuy" đã làm xúc động lòng người, nó không còn gây ấn tượng ở sự trần trụi gợi dục

mà là sự đày ải đến đáy thân phận con người nơi trần gian đã đánh thức lương

tâm người xem Hay như bức Giếng lan tiêu, đâu chỉ có riêng cảnh một cô gái

tắm bên giếng, mà ở đó còn toát lên hương vị thanh tân của tuổi trẻ với một sắc đẹp thiên nhiên dịu dàng trong gam xanh trong vắt của miền quê biển Bên cạnh đó những bức tranh khác của Đoàn Lê cũng gây ấn tượng như

những bài thơ đồng quê: Mèo ngủ, Phút yên lặng, Trong phòng tắm, Xóm núi,

Nông nhàn

Đến và sống cùng điện ảnh suốt cuộc đời, Đoàn Lê đã tham gia trong nhiều lĩnh vực hoạt động: diễn viên, thiết kế mỹ thuật, biên kịch rồi đạo diễn

Người ta chưa quên hình ảnh cô giáo Hồng Vân của chị, vai chính trong phim

Quyển vở sang trang cùng những phim nhựa, phim truyền hình mà chị là biên

kịch hay đạo diễn hoặc biên kịch kiêm đạo diễn Có thể kể đến Làng Vũ Đại

ngày ấy, Bình minh xôn xao, Niết bàn rực cháy, Song nữ, Nước mắt của biển, Cái chết của Hồ Xuân Hương, Giọt nước mắt thiêng, Chị đã được nhận

những giải thưởng xứng đáng cho các phim Con Vá, Chim bìm bịp trong Liên

hoan phim truyền hình toàn quốc

Với văn học, Đoàn Lê lâu nay đã là một gương mặt nhà văn nữ có tiếng với nhiều tác phẩm được độc giả đón nhận Những tiểu thuyết tâm huyết đầy

trăn trở của chị như: Cuốn gia phả để lại, Lão già tâm thần, Người đẹp và đức

vua, Tiền định đã gây được nhiều thiện cảm với người đọc Cuốn gia phả để

Trang 36

lại ngay khi mới ra mắt công chúng đã được nhận giải thưởng của Hội Nhà

văn Việt Nam Còn phải kể đến nhiều giải thưởng chị đã nhận được cho những truyện ngắn và tập truyện ngắn trong nhiều năm qua Những truyện

ngắn Giường đôi xóm Chùa, Trinh tiết xóm Chùa chính là khả năng quan sát

và thể hiện thực tế đời sống rất nhạy cảm của Đoàn Lê Tác phẩm của chị được dịch, xuất bản và được độc giả đón nhận tại Đức, Mỹ, Thụy Điển Cách viết dung dị, những nhận xét hóm hỉnh và sâu sắc về nhân tình thế thái,

về ấm lạnh cuộc đời của chị tựa như một nụ cười khoan dung và độ lượng đã tìm được sự đồng cảm của nhiều tầng lớp độc giả trong và ngoài nước

Sự trải nghiệm cuộc đời cùng một tâm hồn đầy cá tính đã tạo nên nguồn năng lượng dồi dào và một nội lực “thâm hậu” trong lao động nghệ thuật của Đoàn Lê Những đứa con tinh thần của người đàn bà mảnh mai và

có vẻ yếu đuối này lại có một sức sống mãnh liệt, hấp dẫn, cuốn hút độc giả

và giành được những thành tựu đáng kể

Là người con của đất cảng Hải Phòng, đi học và lập nghiệp tại Thủ đô nhưng từ năm 1988, khi trở về “xóm núi Đồ Sơn” sống và tiếp tục trăn trở sáng tạo với tinh thần “làm chủ quỹ thời gian”, Đoàn Lê thực sự đã có những thành công trong nhiều lĩnh vực Ở tuổi “tri thiên mệnh”, chị lại bất ngờ cho

ta một cách lắng nghe mới về sự lắng đọng của tâm hồn qua bài thơ Mưa núi:

Mưa núi gần kề bên hiên

Tí tách nguồn cơn ngõ bé Xóm núi bâng khuâng rất khẽ Khói chiều

Câu thơ hàng xóm đang yêu Tạc một cánh diều vách núi Chợt nghe bước chân lủi thủi

Lá rừng

Trang 37

Đoàn Lê nhìn cuộc đời rất giản dị nên chị quan niệm không việc gì phải đao to búa lớn cả Trong sáng tạo, chị làm việc cật lực, thậm chí lao lực, nhưng xét cho đến cùng với chị đó cũng chỉ là những cuộc "rong chơi" trong thế giới này mà thôi Và sáng tạo nghệ thuật - đấy là một cách "chơi" của chị Chị lựa chọn một thái độ với cuộc sống bằng những câu thơ tình dí dỏm:

Anh cứ nói cả trăm điều dối trá

Để em tin như thể rất dại khờ

Em giấu trong lòng sớm nắng chiều mưa Điều dối trá hồn nhiên thành vô tội Thế gian này nặng đâu lời nói dối

Những kiếp người èo uột sẽ đi qua Rồi tất cả sẽ trở thành vô nghĩa Tội tình gì em khe khắt với hai ta

1.3.3 Vị trí truyện ngắn trong sáng tác của Đoàn Lê

Đoàn Lê thử nghiệp của mình trên nhiều loại hình nghệ thuật và ở lĩnh vực nào chị cũng có những tác phẩm tiêu biểu Nhưng có lẽ nói đến sự nghiệp sáng tác của Đoàn Lê , là người ta nghĩ đến các sáng tác văn chương của nhà văn Đoàn Lê đã có những thành tựu thật sự với văn chương Một giọng văn được nhớ, nền nã dung dị nhưng bao giờ cũng kèm theo chất hài hước ngầm

Những tập truyện: Thành hoàng làng xổ số, Nghĩa địa xóm Chùa, Trinh tiết

xóm Chùa; những tiểu thuyết: Lão già tâm thần, Cuốn gia phả để lại, đã

đoạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam, báo Văn Nghệ,

Đoàn Lê viết văn từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước Nhưng khoảng 20 năm gần đây chị mới nổi lên sau bao nhiêu thăng trầm nổi nênh của cuộc đời và thân phận Người viết văn xuôi thường vẫn vậy Cuộc đời làm nhà văn điên đảo đau đớn, nhưng bù lại qua đó ta mới thấy yêu quý đời hơn, và văn của ta mới đằm thắm hơn, bao dung hơn Vốn liếng văn chương của Đoàn Lê nay đã khá dày dặn

Trang 38

Văn học vốn là thứ bùa mê đối với nhiều người Đoàn Lê cũng bị thứ bùa mê ấy hút hồn từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường Trong các loại hình văn học như đã nói trên, dường như truyện ngắn còn có “mối nhân duyên” đặc biệt với Đoàn Lê Chị thấy mình thoải mái hơn cả khi viết truyện ngắn

Nó vừa đủ độ thời gian người viết dành cho nó, không kéo dài quá

Nhà văn Đoàn Lê thực sự là một cây bút viết truyện ngắn đặc sắc Truyện ngắn của chị xuất hiện liên tục, đều đều trên nhiều tờ báo Truyện của Đoàn Lê lúc thì đằm thắm, trữ tình, lúc thì hiện thực sắc sảo Có lúc lại táo bạo, hiện đại bất ngờ, rồi có lúc lại trẻ trung thổn thức như một cô gái mới lớn

Vậy những tiền đề mang đến thành công cho Đoàn Lê ở thể loại truyện

ngắn là gì? Và cũng thật chân tình, Đoàn Lê thú nhận: “Tôi rất mê truyện

ngắn của Nam Cao Có thể nói, tôi chịu nhiều ảnh hưởng của nhà văn tiền bối ấy trong nghề viết văn xuôi”

Ở ngay hai truyện ngắn đầu tiên của tập truyện Thành hoàng làng xổ

số, người đọc dễ dàng nhận ra hai khuynh hướng, hướng nội và hướng ngoại

mà Đoàn Lê đã tìm thấy trong bậc tiền bối được ưa thích của mình Đêm ngâu

vào báo hiệu một khuynh hướng sáng tác của Đoàn Lê Khuynh hướng hướng

nội, phân tích tâm lý, đào sâu vào cái ẩn khuất của tâm hồn con người, cảm thông với những thân phận bất hạnh Truyện viết khá tinh tế về một mối tình

tay ba Thành hoàng làng xổ số là một truyện ngắn viết theo xu hướng ngược

lại Nó hướng ngoại Trong truyện có chuyện, đầy sự kiện và chi tiết, nói về những con người nghèo khổ, chỉ muốn đổi đời bằng xổ số, số đề Xu hướng hướng ngoại ấy của Đoàn Lê nổi lên rõ ràng và đặc sắc nhất là seri truyện

ngắn viết về xóm Chùa Chúng ta bắt gặp Đất xóm Chùa, Nghĩa địa xóm

Chùa, Người đẹp xóm Chùa, Trinh tiết xóm Chùa, Xóm Chùa thời ung thư

Trước đây Nam Cao viết về một làng quê thời Pháp thuộc – làng Vũ Đại với

sự khốn cùng thê thảm của nó Còn Đoàn Lê thì vẽ ra cho chúng ta xem một

Trang 39

làng quê trong quá trình đô thị hóa Thời gian đô thị hóa là thời gian bản lề,

nó là thời gian quá độ chuyển sang đời sống công nghiệp cho nên hiện thực xảy ra vô cùng khắc nghiệt Các giá trị truyền thống của một xã hội nông nghiệp đang mất đi, và các giá trị mới chưa được hình thành Chúng ta chứng kiến văn hóa làng cổ truyền đang bị biến đổi hay là đang tan rã Ở chùm truyện ngắn này, những bi kịch về tranh chấp đất đai trong làng xóm xảy ra

Đạo đức xuống cấp (Đất xóm Chùa) Rồi những cô gái đi lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc (Trinh tiết xóm Chùa), thậm chí người ta bán cả mồ mả ông cha đi

mà không biết (Xóm Chùa thời ung thư)

Đoàn Lê chả phải đi thực tế đâu xa Khi ở làng Lủ quê chồng, chị sống chan hòa với người dân chung quanh, quan sát những con người và sự việc hàng ngày quanh mình mà viết nên những truyện ngắn này Nam Cao có một làng quê mà ông cắm rễ rất sâu để làm chất liệu cho nghề văn của mình Đoàn

Lê cũng làm như vậy Có khác chăng giữa hai người, thì chỉ là hiện thực diễn

ra mỗi thời mỗi khác, và tâm hồn mỗi nhà văn mỗi khác Hiện nay, nhà văn

nữ đang sống ở một xóm núi Đồ Sơn Một cái xóm gần núi, gần biển Đã

thấy những truyện ngắn Chốn sơn khê, Rồi Bụt hiện lên, mang hơi thở của cái

thị xã du lịch biển này, cái xóm ven biển cũng đang thay đổi từng ngày Một

loạt truyện xóm Chùa của Đoàn Lê đem lại cho người đọc cảm giác chúng có

dáng dấp của một cuốn tiểu thuyết thời hậu hiện đại Cuốn tiểu thuyết gồm những truyện ngắn, tức là kết cấu của nó lỏng Cái gắn kết các truyện đó lại là chủ đề văn hóa làng thời hiện đại Một cái gì đó quý giá đang mất đi và ta đang cố níu giữ nó lại

Phong cách truyện ngắn của Đoàn Lê ngày càng đa dạng Ngoài những truyện thiên về tả thực và phân tích tâm lý ta còn thấy nhiều truyện mang yếu

tố ảo hơn như : Lên ruồi, Nhân bản hoặc mang yếu tố hiện đại như Sex hoặc

sử dụng nhiều đến trí tưởng tượng tổng hợp hơn (immagination synthétique),

Trang 40

nghĩa là tác giả dùng hư cấu bịa đặt tổng hợp những trải nghiệm của cả đời

mình ra để viết như Chờ nhật thực, Cổ tích Manơcanh, Tình Guột

Tóm lại truyện ngắn đã mang đến cho Đoàn Lê nhiều thành công và

được độc giả ghi nhận Theo tạp chí nghiệp đoàn xuất bản về Tuyển tập Đoàn

Lê ở Mỹ đã khẳng định: “… Đoàn Lê được ghi nhận ở phong cách đa dạng và sức sáng tạo tươi mới” [73] Còn nhà văn Hồ Anh Thái thì nhận xét “… Đoàn

Lê U70 lại viết như U30” [60]

Nhà văn Đoàn Lê chứng tỏ một phong cách mới trong đời sống văn học đương đại Việt Nam Một phong cách dịu dàng, táo bạo, tỉnh táo nhưng rất nền nã, nhẹ nhàng, và đặc biệt hài hước Chị là nhà văn kế thừa và tiếp nối dòng văn học nữ Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại Đoàn Lê phát huy ưu thế của ngòi bút trong thể loại truyện ngắn, và thực sự nó đã chiếm một vị trí đáng kể trong sự nghiệp viết văn của chị Khi nói tới Đoàn Lê là người đọc nghĩ tới một “thương hiệu” Đoàn Lê trong văn xuôi nói chung và truyện ngắn của chị nói riêng

Ngày đăng: 15/11/2014, 22:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Andrew Taylor, “Cốt truyện – cửa ải gian khó của nhà văn”, nguồn: http://evan.vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cốt truyện – cửa ải gian khó của nhà văn
2. Ngọc Anh (ngày 10/07/2003), “Đã đến lúc những người đàn bà nổi loạn”, Báo nông thôn ngày nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đã đến lúc những người đàn bà nổi loạn”
3. Nhuệ Anh (2006), “Các nhà văn nữ và thế kỷ của nàng”, Tạp chí văn nghệ, (21) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà văn nữ và thế kỷ của nàng”, "Tạp chí văn nghệ
Tác giả: Nhuệ Anh
Năm: 2006
4. Thái Phan Vàng Anh, “Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại”, nguồn: http://tapchisonghuong.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại
5. Thái Phan Vàng Anh, “Từ phương diện điểm nhìn nhận diện quan niệm trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại”, nguồn:vanganh.hoaco@gmail.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ phương diện điểm nhìn nhận diện quan niệm trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam đương đại
6. Thái Phan Vàng Anh, “Hình tượng người trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới”, nguồn: vanganh.hoaco@gmail.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng người trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam thời kỳ đổi mới
7. Thái Phan Vàng Anh (3/2012) “Chiến tranh mang khuôn mặt phụ nữ trong văn xuôi hậu chiến”, Tạp chí văn nghệ quân đội, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh mang khuôn mặt phụ nữ trong văn xuôi hậu chiến”, "Tạp chí văn nghệ quân đội
8. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
9. Vũ Tuấn Anh (1996), “Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại”, Tạp chí văn hóa, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình văn học đương đại nhìn từ phương diện thể loại”, "Tạp chí văn hóa
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1996
10. Y Ban (2006), “Hãy lắng nghe tác phẩm của nhà văn nữ”, nguồn: http://vietbao.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy lắng nghe tác phẩm của nhà văn nữ
Tác giả: Y Ban
Năm: 2006
11. Việt Báo, “Nữ sĩ Đoàn Lê: “Trời không nín gió””, nguồn: http://www.cand.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Nữ sĩ Đoàn Lê": “Trời không nín gió””
12. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn học Việt Nam hiện đại”, Tạp chí văn học, (9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn học Việt Nam hiện đại”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
13. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995 những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
14. Nguyễn Thị Bình (2001), “ Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi sau 1975”, Tạp chí văn học số (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng trào lộng trong văn xuôi sau 1975"”, Tạp chí văn học số
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2001
15. Triệu Thanh Bình, “Nhà văn Đoàn Lê: “Tình riêng bỏ chợ, tình người đa đoan””, nguồn: http://tintuc.xalo.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Đoàn Lê": “Tình riêng bỏ chợ, tình người đa đoan””
16. Nguyễn Minh Châu (1987), “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, Tạp chí văn nghệ Quân đội, (49, 50) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, "Tạp chí văn nghệ Quân đội
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
17. Diễm Chi (thực hiện), Võ Thị Hảo (2005), “Tôi là người nô lệ cho gia đình”, Báo phụ nữ, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôi là người nô lệ cho gia đình”, "Báo phụ nữ
Tác giả: Diễm Chi (thực hiện), Võ Thị Hảo
Năm: 2005
18. Nguyễn Lân Dũng, “Ai cứu xóm Chùa?”, Nguồn: Nguyenlandung.vietsciences.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ai cứu xóm Chùa
19. Đông Dương, “Nhà văn Đoàn Lê và huyền thoại xóm Chùa”, nguồn: http://thuvien-ebook.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Đoàn Lê và huyền thoại xóm Chùa
20. Đặng Anh Đào (1993), “Hình thức mới trong truyện ngắn hôm nay”, Tạp chí văn học, (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thức mới trong truyện ngắn hôm nay”, "Tạp chí văn học
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w