1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức xã hội và văn hóa của người Sán Dìu ở Huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên (1945 đến 2010)

128 659 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một trong 8 dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, cũng giống như các dân tộc khác, dân tộc Sán Dìu có lịch sử đấu tranh anh dũng và đã tạo dựng được cho mình một một nền vă

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN VĂN CHIẾN

TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN

NGUYỄN VĂN CHIẾN

TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA

CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN (1945 – 2010)

CHUYÊN NGÀNH LỊCH SỬ VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN, NĂM 2012

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

THÁI NGUYÊN, NĂM 2012

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN VĂN CHIẾN

TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở HUYỆN ĐẠI TỪ - TỈNH THÁI NGUYÊN

NGUYỄN VĂN CHIẾN

TỔ CHỨC XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA

CỦA NGƯỜISÁN DÌU Ở HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN (1945 – 2010)

Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Mã số: 60.22.54

LUẬN VĂN LỊCH SỬ VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS TS Nguyễn Cảnh Minh

2 TS Nguyễn Thị Quế Loan

THÁI NGUYÊN, NĂM 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả của luận văn đều là trung thực và chưa được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

Học viên

Nguyễn Văn Chiến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi xin chân thành cảm ơn Bảo tàng văn hóa Dân tộc tỉnh Thái Nguyên, Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ các cấp chính quyền xã An Khánh, Quân Chu, cùng nhân dân hai xã trên đã tạo điều kiện, cung cấp nguồn tư liệu cho tôi Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa

sử trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, đặc biệt là sự tận tình chỉ bảo, hướng dẫn của thầy Nguyễn Cảnh Minh và cô Nguyễn Thị Quế Loan đã giúp tôi hoàn thành luận văn này!

\\

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU: ……… 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài……… 5

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu……… 6

5 Đóng góp của luận văn 7

6 Bố cục của luận văn……… 7

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI SÁN DÌU Ở HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN TRƯỚC NĂM 1945 8

1.1 Khái quát về huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên 8

1.2 Khái quát về người Sán Dìu ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 17

Tiểu kết chương 1 34

Chương 2: TỔ CHỨC XÃ HỘI CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở ĐẠI TỪ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 2010 36

2.1 Tổ chức gia đình và dòng họ 36

2.2 Tổ chức làng bản từ sau năm 1945 41

2.3 Những chuyển biến tổ chức xã hội từ năm 1986 đến năm 2010 44

Tiểu kết chương 2 47

Chương 3: ĐỜÌ SỐNG VĂN HÓA VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở HUYỆN ĐẠI TỪ, THÁI NGUYÊN (1945 - 2010) 50 3.1 Văn hóa vật chất 50

3.2 Văn hóa tinh thần 67

Tiểu kết chương 3 100

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

PHỤ LỤC 113

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU

Trang

Biểu 1.1 Các dân tộc ở huyện Đại Từ 14 Biểu 1.2 Bảng so sánh ngôn ngữ tiếng dân tộc 19

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, với trên 54 thành phần dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, mỗi dân tộc đã tạo dựng chỗ đứng cho riêng mình trong cộng đồng tộc người ở Việt Nam Sự hình thành các tổ chức xã hội cùng với nét văn hóa độc đáo giàu bản sắc của họ đã khẳng định vị trí của mình trong ngôi nhà chung các dân tộc Việt Nam

Cũng như bao dân tộc khác, người Sán Dìu ở Việt Nam đã tạo dựng cho mình tổ chức xã hội và một nền văn hóa độc đáo Là một dân tộc gia nhập

“đại gia đình các dân tộc Việt Nam” muộn hơn các dân tộc khác, người Sán

Dìu đã trụ trên một mảnh đất không mấy thuận lợi, do cần cù lao động, giàu sáng tạo, họ đã xây dựng cho mình một cuộc sống vững vàng ngày càng phát

triển Trong tác phẩm “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn (1723 – 1782), đề cập đến địa bàn người Sán Dìu cư trú Trong bảy chủng tộc của người Man sống ở Tuyên Quang mà Lê Quý Đôn đề cập đến, tên Man ở đây (thời phong

kiến) không chỉ để chỉ người Dao mà còn để chỉ dân tộc khác Đáng chú ý

nhóm Sơn Man cũng chính là người Sán Dìu chúng ta cần nói tới

Nếu như Sơn Man là Sơn Dao hay người Sán Dìu thì người Sán Dìu có

mặt trên đất nước Việt Nam trước khi cuốn sách đó ra đời, khoảng trên dưới

300 năm nay Họ qua Quảng Ninh vào Hà Bắc rồi ngược Tuyên Quang rồi dừng ở đó Trong sách Bùi Đình cũng viết “quần cộc từ Quảng Đông di cư đến nước ta khoảng ba bốn mươi năm nay, còn có tên là Sơn Dao Họ sống rải rác khắp chu vi đồng bằng trong các vùng Đầm Hà, Hà Cối, Quảng Yên, Phủ Lạng Thương, Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Tuyên Quang Lác đác ngoài các hải

đảo trong vịnh Bắc Việt như Kẻ Bào, Cát Bà cũng có”[7, tr.106]

Như vậy chúng ta thấy người Sán Dìu có mặt ở Việt Nam khoảng 300 năm, là một thành viên gia nhập cộng đồng các dân tộc Việt Nam còn khá trẻ,

Trang 8

nhưng họ đã xây dựng được cho mình tổ chức xã hội của riêng họ và một nền văn hóa riêng biệt Mặc dù trong quá trình sinh sống ảnh hưởng của văn hóa dân tộc khác đối với dân tộc Sán Dìu có sự giao thoa

Là một trong 8 dân tộc sinh sống trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, cũng giống như các dân tộc khác, dân tộc Sán Dìu có lịch sử đấu tranh anh dũng và

đã tạo dựng được cho mình một một nền văn hóa độc đáo Tuy nhiên trong quá trình tồn tại của mình dân tộc Sán Dìu cũng giống như dân tộc khác đều chịu sự chi phối của khu vực văn hóa lịch sử, sống cộng đồng với các dân tộc khác, cho nên dân tộc Sán Dìu đã có sự tiếp xúc, giao thoa và ảnh hưởng văn hóa của các dân tộc khác không thể tránh khỏi Nhất là trong những năm 60 của thế kỷ XX, trong cuộc phát động của Trung ương Đảng, nhiều cuộc di

cư của người Việt đi xây dựng các vùng kinh tế mới Người Việt lên Thái Nguyên làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, lâm trường, trường học, trạm xá, bệnh viện…ngày càng đông đảo, càng thúc đẩy sự giao thoa văn hóa giữa người Việt và các dân tộc thiểu số trong vùng, trong đó giao lưu với người Sán Dìu ngày càng mạnh mẽ Bởi vậy, việc nghiên cứu tổ chức xã hội

và văn hóa của người Sán Dìu có ý nghĩa quan trọng góp phần thiết thực vào việc gìn giữ bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc

Việc nghiên cứu thành công đề tài này sẽ cung cấp cho người đọc cái nhìn mới về đời sống xã hội của người Sán Dìu, cũng như văn hóa vật chất (ăn, mặc, ở…) cũng như văn hóa tinh thần (phong tục, tập quán, tín ngưỡng,

lễ nghi, tôn giáo ) của dân tộc Sán Dìu ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Vì thế tôi quyết định chọn vấn đề “Tổ chức xã hội và văn hóa của người

Sán Dìu ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 - 2010” làm luận

văn thạc sĩ của mình

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Tổ chức xã hội và văn hóa hình thành từ lâu trong lịch sử Từ khi con

Trang 9

người xuất hiện trên trái đất cho đến nay thì tổ chức xã hội và văn hóa được hình thành và phát triển Ban đầu chỉ là những nhóm người nhỏ bé, sinh sống

ở một địa vực nhất định gọi là bày người nguyên thủy Một số tác giả coi bày

người nguyên thủy là một giai đoạn đặc biệt của xã hội loài người Như vậy

bày người nguyên thủy đã là tổ chức xã hội đầu tiên loài người [49, tr.109]

Con người ngày càng đông lên nhiều nhóm người này càng hoàn thiện mình

tách ra hình thành những nhóm người khác hình thành lên các thị tộc, bộ lạc

Xã hội loài người sự chuyển tiếp từ bày người nguyên thủy lên một tổ chức xã

hội cao hơn, chặt chẽ hơn là công xã thị tộc

Cùng với sự tiến bộ của công cụ sản xuất, làm cho năng xuất lao động tăng cao, tư hữu xuất hiện, công xã thị tộc từng bước tan rã nhường chỗ cho

xã hội có giai cấp và nhà nước Đó là một xã hội hoàn chỉnh nhất trong lịch sử

xã hội loài người Cùng với sự hình thành tổ chức xã hội, văn hóa cũng được

hình thành và phát triển Vậy “Văn hóa là tổng thế những giá trị vật chất và

giá trị tinh thần mà con người sáng tạo ra trong một giai đoạn lịch sử nhất định” Như vậy cùng sự hình thành các tổ chức xã hội, đời sống văn hóa con

người ngày càng được nâng cao Thời cổ đại mặc dù đời sống vật chất còn thấp kém con người tạo dựng cho mình những công trình văn hóa vĩ đại, tháp

Ai Cập, vườn cheo Ba-bi-lon, tháp Pi-za, đấu trường Rô-ma…cùng với nó là các công trình khoa học, toán, lý, lịch sử, triết học văn học, truyền thuyết, nghệ thuật…nó phản ánh phong phú, đa dạng đời sống vật chất và tinh thần của con người Đến thời cận đại và hiện đại thành tựu văn hóa đó được kế thừa và phát huy

Ở Việt Nam, ngay từ thời kỳ dựng nước ông cha ta tạo dựng cho mình nhà nước đầu tiên trong lịch sử - nhà nước Văn Lang - Âu Lạc, cùng với nó là một nền văn hóa độc đáo mang đậm tính dân tộc của người Việt cổ Trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc bản sắc văn hóa đó vẫn được gìn giữ và bảo lưu ở

Trang 10

tổ chức xã hội ở làng xã Bước vào thời kỳ độc lập, lãnh thổ Đại Việt không ngừng mở rộng về phía Bắc và phía Nam Nhiều dân tộc thiểu số sáp nhập vào dân tộc Việt tạo nên một ngôi nhà chung của đại gia đình các dân tộc Việt Nam Mỗi tộc người đã hình những nhóm tổ chức xã hội và một nền văn hóa độc đáo Sự phong phú đa dạng của văn hóa các tộc người góp phần đa dạng kho tàng văn hóa Việt Nam

Dân tộc Sán Dìu cũng như bao dân tộc khác, gia nhập đại gia đình dân tộc Việt Nam còn khá trẻ (khoảng 300 năm), nhưng họ khẳng định được chỗ đứng của mình trong cộng đồng dân tộc Việt Nam Trước đây đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã đề cập đến dân tộc Sán Dìu

Năm 1976, Bônifaxi trong “Người Mán quần cộc ở Việt Nam”, Tạp trí dân

tộc học 76 Người Sán Dìu có huyền thoại “vua cóc”, được cố định văn bản

lưu hành rộng rãi trong dân dân Nhưng không cho ta biết gì hơn về nguồn

gốc của họ ngoài cái địa danh “Mãn Khê Quốc”, đây “ là nơi cư trú rất đông

của người Sán Dìu, nơi cảnh vật thiên nhiên hùng vĩ, ruộng đất phì nhiêu làm

ăn rễ dàng Người Sán Dìu cần cù lao động, xây dựng lên xóm làng đông vui,

với tinh thần dân tộc khẳng khái bất khuất” [7, tr.106] Những năm

gần đây các nhà bác học Nga xếp Sán Dìu vào nhóm Hán, trong ngữ hệ Hán – Tạng Tổ chức xã hội và văn hóa của dân tộc Sán Dìu đã được nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam đề cập đến Tác giả Ma Khánh Bằng cho ra đời cuốn

“Người Sán Dìu ở Việt Nam” xuất bản năm 1988, cho ta cái nhìn khái quát

nhất về tổ chức xã hội và văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần của người Sán Dìu như (nhà ở, trang phục, ăn uống, đi lại, quan niệm về hôn nhân và gia đình, một số tục lệ, nghi lễ trong đời sống như cưới xin, ma chay, lễ cấp sắc…) Nhưng đó mới chỉ là cái nhìn chung nhất về người Sán Dìu ở Việt Nam Tác giả chưa đi vào khai thác cụ thể về sự hình thành tổ chức xã hội và

văn hóa ở một địa bàn cụ thể nào cả Năm 2003, tác phẩm “Văn hóa truyền

Trang 11

thống các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên Quang ” và tác phẩm “Dân tộc Sán Dìu ở Bắc Giang”, của nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, cho ta cái nhìn

khái quát về tổ chức xã hội và văn hóa của người Sán Dìu Năm 2005, tác giả

Diệp Trung Bình cho xuất bản tác phẩm “Phong tục nghi lễ chu kỳ đời người

của người Sán Dìu ở Việt Nam” đã cho ta cái nhìn tổng thế về các phong tục,

lễ nghi của người Sán Dìu, chưa đề cập nhiều về tổ chức xã hội của người Sán Dìu Như vậy vấn để tổ chức xã hội và văn hóa của người Sán Dìu ít nhiều được đề cập đến một cách khái quát

Với một quốc gia đa dân tộc, việc nghiên cứu tổ chức xã hội và đời sống văn hóa của các dân tộc, trong đó có dân tộc Sán Dìu có ý nghĩa quan trọng góp phần làm phong phú thêm sự hiểu biết về xã hội và văn hóa của các tộc người trong cộng đồng dân tộc Việt Nam Những công trình nghiên cứu trên được đánh giá cao, đây là những nguồn tư liệu quý để chúng tôi tiếp tục

nghiên cứu đề tài này Việc lựa chọn đề tài “Tổ chức xã hội và văn hóa của

Sán Dìu ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 dến năm 2010”

sẽ đóng góp cho bạn đọc cái nhìn mới về quan niệm tổ chức xã hội và văn hóa của người Sán Dìu ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Từ đó có thái độ trân trọng gìn giữ, phát huy nét đẹp văn hóa của đồng bào dân tộc Sán Dìu

ở Việt Nam

3 ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI 3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

- Tìm hiểu tổ chức xã hội và văn hóa của dân tộc Sán Dìu ở huyện Đại

Từ, tỉnh Thái Nguyên thể hiện ở sự hình thành tổ chức xã hội và những nét đẹp về đời sống văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, từ đó thấy được những đặc trưng về xã hội và văn hoá của người Sán Dìu ở Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Trang 12

- Thấy được vai trò và tác động của những tổ chức xã hội đối với đời sống vật chất và tinh thần của người Sán Dìu ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Thời gian: Nghiên cứu về tổ chức xã hội và văn hóa của người Sán Dìu

huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến năm 2010

- Không gian nghiên cứu: Thực hiện trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái

Nguyên

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nơi người Sán Dìu cư trú

Để thấy được sự tác động của các yếu tố này tới sự hình thành các tổ chức xã hội đời sống văn hóa của người Sán Dìu

- Tìm hiểu về các tổ chức xã hội của người Sán Dìu từ năm 1945 đến năm

2010

- Tìm hiểu về đời sống vật chất (ăn, mặc, ở …) đời sống tinh thần (phong tục, nghi lễ, văn học, nghệ thuật…) Từ năm 1945 đến 2010 của người Sán Dìu ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái nguyên

IV NGUỒN TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1 Nguồn tư liệu

Để thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng các nguồn tư liệu sau:

- Thư tịch cổ: Gia phả dòng họ, thần tích, văn tự cúng tế

- Tư liệu thành văn: Sách, luận án, bài báo, tạp trí

- Tư liệu truyền miệng: Truyền thuyết, dân ca, tục ngữ

- Tư liệu điền dã: Khảo sát thực tế bằng quan sát, hồi cố, ghi âm, chụp

ảnh…ở những vùng có người Sán Dìu sinh sống trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Trang 13

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn chúng tôi sử dụng phương pháp sau:

+ Phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp lô gíc Qua tư liệu thư tịch

cổ, truyền thuyết các tư liệu tư liệu điều tra, thống kê, sổ sách cùng lời kể người cao tuổi ở nơi điền dã …khôi phục lại bức tranh tổ chức xã hội, văn hóa người Sán Dìu ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

+ Phương pháp so sánh: Đối chiếu để tìm ra những nét tương đồng,

những nét khác biệt về tổ chức xã hội và văn hóa của dân tộc Sán Dìu với các dân tộc khác Qua so sánh thấy được được những đặc trưng cơ bản về tổ chức

xã hội và văn hóa của người Sán Dìu ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

+ Phương pháp điền dã: Trong quá trình đi thực địa ở An Khánh, Cù

Vân, Quân Chu… chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn, quan sát, kết hợp với ghi âm, chụp ảnh để thu thập các tư liệu phục vụ cho đề tài

+ Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp liên ngành và đa ngành phương pháp dân tộc học… rút ra thông tin cần thiết phục vụ cho luận văn

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

- Luận văn là một công trình nghiên cứu, biên soạn một cách có hệ thống

và đầy đủ về tổ chức xã hội và đời sống văn hóa của người Sán Dìu ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến năm 2010

- Trên cơ sở nghiên cứu một cách toàn diện tổ chức xã hội và đời sống văn hóa của người Sán Dìu ở huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, luận văn rút ra đặc điểm và những chuyển biến về văn hóa từ năm 1986 đến năm 2010, qua

đó thấy được những đóng góp của họ đối với xã hội và văn hóa dân tộc Việt Nam, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết và gìn giữ bản sắc dân tộc trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay, theo đúng tinh thần của nghị quyết Trung ương V, khóa VIII của Đảng

Trang 14

- Về tư liệu: Việc nghiên cứu thành công luận văn góp phần vào việc đóng góp nguồn tư liệu để biên soạn và nghiên cứu lịch sử địa phương

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu như sau:

Chương 1: Khái quát về người Sán Dìu ở huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên

trước năm 1945

Chương 2: Tổ chức xã hội của người Sán Dìu ở huyện Đại Từ, từ năm 1945

đến năm 2010

Chương 3: Đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của người Sán Dìu ở

huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên từ năm 1945 đến năm 2010

Trang 15

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI SÁN DÌU Ở HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI

NGUYÊN TRƯỚC NĂM 1945 1.1 Khái quát về huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên

1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

105032 đến 105042 độ kinh đông Huyện Đại từ nằm ở phía tây nam tỉnh Thái Nguyên, phía bắc giáp huyện Định Hóa và Phú Lương, phía đông giáp thành phố Thái Nguyên, phía nam giáp huyện phổ Yên Dãy núi Tam Đảo chạy theo hướng tây bắc - đông nam là địa giới tự nhiên của huyện Đại Từ và cũng là của các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Bắc Cạn

Huyện Đại Từ có diện tích tự nhiên 577,99 km2, (trong đó, diện tích đất nông nghiệp là 166,01km2, đất lâm nghiệp 278,15km2, đất nuôi trồng thuỷ sản 6,51km2, đất phi nông nghiệp 84,38km2, đất chưa sử dụng 42,35km2

) Toàn huyện có 153,48 km2

rừng tự nhiên và 90,544 km2 rừng trồng từ 30 năm tuổi trở lên Do nằm gọn dọc theo thung lũng phía đông dãy núi Tam Đảo và hệ thống núi thấp (núi Hồng, núi Chúa ở phía Bắc, núi Pháo ở phía Đông) nên khí hậu Đại Từ khá ôn hoà, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 220c đến 270

c; lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.800mm đến 2.000mm; về mùa nóng thỉnh thoảng có những cơn giông tạo thành lốc xoáy

Địa hình: Đại Từ vừa mang đặc điểm miền núi, vừa mang đặc điểm trung

du Đại Từ nằm trong vùng thuộc chu kỳ tạo sơn Canêđôni, cách ngày nay khoảng 480 triệu năm và hình thành xong trong thời kỳ Đại cổ sinh cách ngày nay khoảng 225 triệu năm Trong lần vận động kiến tạo cách ngày nay khoảng từ 25 đến 28 triệu năm đã làm cho khu vực Đại Từ được nâng cao thêm từ 200m đến 500m Dãy Tam Đảo dài 60km, rộng 15 km chạy dọc phía tây huyện cấu tạo chủ yếu bằng nham riôlít, sườn núi dốc, có nơi dốc tới 250

,

Trang 16

300 Dải núi Chúa ở vùng phía bắc huyện được cấu tạo bằng đá Gabrô có màu

hơi thẫm Dải núi Pháo nằm ở địa bàn xã Cù Vân có đỉnh cao 434 m

Đại Từ có khá nhiều sông suối nhỏ, trong đó sông Công là lớn nhất, bắt

nguồn từ Định Hoá, chảy dọc suốt từ bắc xuống nam huyện Đoạn sông Công chảy qua Đại Từ bắt đầu từ xã Minh Tiến qua các xã Phú Cường, Phú Thịnh, Bản Ngoại, Tiên Hội, thị trấn Đại Từ, xuống các xã Hùng Sơn, Tân Thái, dài gần 24 km rồi đổ vào hồ Núi Cốc Sông Công và nhiều suối nhỏ chảy quanh các triền khe, chân đồi, ven các xóm ở các xã Yên Lãng, Phú Xuyên, La Bằng, Quân Chu, Cát Nê, Ký Phú, Văn Yên vv… là nguồn nước chủ yếu phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất của nhân dân trong huyện Đại Từ có nhiều hồ, đập,sông, xuối… phần hạ lưu qua thị trấn Sông Công, huyện Phổ

Yên rồi gặp sông Cầu ở ngã ba Đa Phúc

mưa trung bình từ 1.700 - 1.800 mm/năm, độ ẩm trung bình 70% - 80% Nhiệt độ cao nhất trong tháng 6 (32°C), lạnh nhất trong tháng 1 (11°C)

Đất đai: Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 57.890 ha, trong đó đất

nông nghiệp chiếm 26,87%; đất lâm nghiệp chiếm 45,13%; còn lại là đất phi nông nghiệp chiếm 28% Trong tổng diện tích hiện có thì diện tích đất chưa

sử dụng chiếm 17,35%, chủ yếu là đất đồi núi và sông suối Trên địa bàn huyện đất được hình thành bởi 8 nhóm, trong đó có 4 nhóm đất chính là: Đất xám mùn trên núi có: 16.400 ha chiếm tỷ lệ 28,37% Đất Feralit phát triển trên đá biến chất: 15.107 ha chiếm 26,14 % Đất Feralit phát triển trên phù sa cổ: 1.3036 ha chiếm 22,55 % Đất phù sa Gley phát triển trên phù sa cổ: 13.247 ha chiếm 22,94 %

Rừng: Diện tích rừng toàn huyện là 24.468 ha Trong đó rừng trồng trên

9.000 ha, rừng tự nhiên 15.000 ha Hiện nay nhiều diện tích rừng trồng đã đến tuổi khai thác, mặt khác diện tích đất có khả năng lâm nghiệp còn khá lớn,

Trang 17

cần phủ xanh để nâng cao độ che phủ và cũng là tiềm năng để phát triển cây lâm nghiệp có giá trị cao

Khoáng sản Đại Từ có khá nhiều tài nguyên khoáng sản: Nhóm nguyên liệu cháy, chủ yếu là than nằm ở 8 xã của huyện là: Yên Lãng, Hà Thượng, Phục Linh, Minh Tiến, An Khánh, Cát Nê, trữ lượng lớn tập trung ở mỏ Làng Cẩm và mỏ Núi Hồng: 17 triệu tấn Nhóm khoáng sản, bao gồm nhiều loại khoáng sản quý như thiếc, vonfram, vàng, chì, kẽm, barit, pyrit, granit phân

bố ở nhiều xã trong huyện, trong đó tập trung nhiều nhất tại mỏ đa kim Núi Pháo, trữ lượng khoảng 100 triệu tấn.Vật liệu xây dựng: gồm các mỏ đất sét,

đá, cát, sỏi Mỏ đa kim wolfram-fluorit-bismut-đồng-vàng Núi Pháo chiếm một diện tích khoảng 45 km2 ở phía đông thị trấn Đại Từ, thuộc huyện Đại

Từ, tỉnh Thái Nguyên, cách Hà Nội khoảng 80 km về phía bắc

Các dấu hiệu quặng hóa trong vùng mỏ, bao gồm cả thiếc và wolfram và một số khoáng sản khác lần đầu tiên được tìm kiếm vào cuối những năm 1960

và từ đó tới đầu những năm 1990 được các nhà địa chất Việt Nam tiến hành tìm kiếm, nghiên cứu và đánh giá dự báo triển vọng ở các mức độ khác nhau Đến khi Công ty khoáng sản Tiberon, một công ty chuyên về tìm kiếm khoáng sản có trụ sở chính tại Canada, tiến hành tìm kiếm thăm dò vùng mỏ

từ năm 1997 thì tiềm năng khoáng sản của mỏ đa kim Núi Pháo mới thực sự được đánh giá một cách chi tiết và định lượng Công ty Tiberon hiện đang tiến hành thăm dò bổ sung và nghiên cứu khả thi để xin giấy phép khai thác

mỏ [10, tr.106]

1.1.2 Lịch sử hình thành và sự thay đổi về địa giới hành chính

Huyện Đại Từ được đặt tên từ thời nhà Trần Sách Thiên hạ lợi bệnh

toàn tập chép: “Năm Vĩnh Lạc thứ 17 (1419)…dồn huyện Tư Nông vào

huyện An Định; huyện Phú Lương, huyện Đại Từ vào huyện Tuyên Hoá”

Tên huyện Đại Từ có từ lâu, sách “Dư Địa chí” của Nguyễn Trãi viết: “Đại

Trang 18

Từ là một trong 8 huyện (Đại Từ, Phú Bình, Phổ Yên, Đồng Hỷ, Phú Lương,

Vũ Nhai, Thái Nguyên, Bình Tuyên) của phủ Phú Bình thuộc thừa tuyên Ninh Sóc” Huyện thuộc phủ Thái Nguyên thời thuộc Minh, đời Nguyễn thuộc phủ

Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Đầu nhà Lê, huyện Đại Từ thuộc phủ Thái Nguyên, năm 1466 thuộc thừa tuyên Thái Nguyên, năm 1469 thuộc thừa tuyên Ninh Sóc, năm 1490 thừa tuyên Ninh Sóc đổi lại là xứ Thái Nguyên,

Đại Từ thuộc xứ Thái Nguyên, toàn huyện có 22 xã, trang

Từ thời Tây Sơn đến đầu thời Nguyễn, hai huyện Đại Từ và Văn Lãng

thuộc phủ Phú Bình (trấn Thái Nguyên, sau là tỉnh Thái Nguyên) Năm 1835, nhà Nguyễn cắt châu Định (Định Hoá) và 3 huyện Đại Từ, Văn Lãng, Phú Lương khỏi phủ Phú Bình để lập phủ Tòng Hóa Thời vua Đồng Khánh

(1886-1889), huyện Đại Từ có 7 tổng, gồm 28 xã, trang, phòng; huyện Văn

Lãng có 7 tổng, gồm 12 xã, trang Năm Khải Định thứ 6 (1922), nhà Nguyễn huyện Văn Lãng gộp vào huyện Đại Từ thành huyện Đại Từ gồm 9 tổng, 38

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, đơn vị hành chính cấp tổng không

tồn tại các xã, làng, xóm ở Đại Từ có nhiều biến động do việc phân chia địa giới hành chính và đặt tên mới cho phù hợp Năm 1965, Thái Nguyên sáp nhập với Bắc Kạn thành tỉnh Bắc Thái, Đại Từ thành huyện của tỉnh Bắc Thái Năm 1996, Bắc Thái tách thành 2 tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên, Đại Từ trở thành huyện của tỉnh Thái Nguyên Ngày 27/10/1967, thành lập thị trấn

Quân Chu

Ngày 1/10/1983, xã Phúc Thọ (xã có nhiều diện tích đất đai bị chìm trong lòng hồ Núi Cốc) sáp nhập với các xóm Tân Thắng, Đồng Đẳng của xã Phúc Thuận (huyện Phổ Yên), xóm Yên Ninh của xã Phúc Trìu (huyện Đồng Hỷ) thành xã Phúc Tân, thuộc huyện Phổ Yên Cùng ngày, xóm Quyết Tiến của xã Tân Thái sáp nhập vào xã Bình Thuận thuộc huyện Đại Từ Năm 2002,

Trang 19

xã Phục Linh lại được chia thành 2 xã: Phục Linh và Tân Linh [10, tr.106]

Địa giới hành chính: Huyện Đại Từ bao gồm 29 xã và 2 thị trấn, được chia làm 482 xóm gồm: Thị trấn: Đại Từ, Quân Chu Xã: An Khánh, Bản Ngoại, Bình Thuận, Cát Nê, Cù Vân, Đức Lương, Hà Thượng, Hoàng Nông, Hùng Sơn, Khôi Kỳ, Ký Phú, La Bằng, Lục Ba, Minh Tiến, Mỹ Yên, Na Mao, Phú Cường, Phú Lạc, Phú Thịnh, Phú Xuyên, Phúc Lương, Phục Linh, Quân Chu, Tân Linh, Tân Thái, Tiên Hội, Vạn Thọ, Văn Yên, Yên Lãng

1.1.3 Khái quát về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trước năm 1945

Trước năm 1945, địa giới hành chính của huyện Đại Từ tỉnh Thái

Nguyên có nhiều thay đổi Dưới thời nhà Nguyễn vào năm Minh Mạng thứ 12 (1831), xứ Thái Nguyên được đổi thành tỉnh bao gồm 3 phủ (Thông Hóa, Phú Bình, Tùng Hóa), 9 huyện (Tư nông nay thuộc Phú Bình, Phổ Yên, Bình Xuyên, Võ Nhai, Đại Từ, Phú Lương, Cảm Hóa, Đồng Hỷ, Văn Lãng), hai châu (Định Hóa, Bạch Thông) Thời kỳ này Văn Lãng chưa sáp nhập vào Đại

Từ Năm 1884, thực dân Pháp xâm lược Thái Nguyên, Chúng thực hiện chính sách bình định phong trào đấu tranh, áp đặt bộ máy cai trị ở Thái Nguyên Từ năm 1886-1889, thực dân Pháp cùng triều đình nhà Nguyễn chia lại bộ máy

hành chính Thái Nguyên Trong đó huyện Đại Từ gồm có 7 tổng, chia làm 28

xã, trang, phờng Huyện Văn Lãng có 7 tổng, được chia 12 xã, trang Năm Khải Định thứ 6 (1922), Pháp cùng triều Nguyễn sáp nhập huyện Văn Lãng vào huyện Đại Từ thành huyện Đại Từ gồm 9 tổng, 38 xã [10, tr.106]

Về kinh tế: Cùng với việc áp đặt bộ máy cai trị, thực dân Pháp ra sức áp

bức bóc lột nhân dân các dân tộc Đại Từ Chúng đặt ra nhiều thứ thuế, thuế đinh, thuế điền và nhiều thư thuế vô lý khác Chúng trắng trợn hơn cướp đoạt ruộng đất của nông dân để lập ra những đồn điền rộng lớn Tiêu biểu đồn điền

Trang 20

Képpler vốn thuộc làng Hà xã An Khánh do Lí trưởng tên là Lý Tanh cai quản Chúng bắt nhân dân các dân tộc huyện Đại Từ làm việc trong các đồn điền Người nông dân phải làm việc vất vả, khổ cực dưới làn doi vọt của chúng Đời sống của đồng bào dân tộc Sán Dìu vô cùng cực khổ Bên cạnh những đồn điền rộng lớn, thực dân Pháp duy trì phương thức bóc lột phong kiến cổ truyền, ruộng đất ngày càng tập trung trong tay địa chủ người Pháp, địa chủ người Việt bóc lột theo kiểu địa tô phong kiến Các dân tộc huyện Đại Từ bị áp bức bóc lột đến cùng cực Xã hội bị phân hóa sâu sắc, người nông dân bị bần cùng hóa phải đị làm thuê trong các đồn điền, các máy, hầm

mỏ, một bộ phận quay lại làm thuê mảnh đất trước kia là mảnh đất của mình,

trở thành tầng lớp tá điền

Cùng với chính sách trong nông nghiệp, thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác mỏ, Đại Từ vốn là vùng đất giầu tài nguyên khoáng sản Pháp cho tiến hành khai thác mỏ than Núi Hồng, Phấn Mễ lối khai thác theo kiểu cổ truyền, bắt công nhân làm việc cực nhọc trong các hầm mỏ với đồng lương rẻ

mạt [88, tr.112]

Văn hóa, giáo dục: Chúng thực hiện chính sách ngu dân nhằm duy trì

nhân dân Đại Từ trong vòng tăm tối, hơn 90% dân số ở Đại Từ mù chữ Bên cạnh đó chúng đầu độc nhân dân bằng rượu cồn và thuốc phiện Ở những nơi vùng sâu, xa nơi hẻo lánh chúng khuyến khích hủ tục, mê tín dị đoan các tệ nạn xã hội phổ biến Bên cạnh đó chúng gây hằn thù tôn giáo, chúng kích động đồng bào thiên chúa giáo chống đối cách mạng Chia rẽ đồng bào lương

- giáo

Dưới chế độ thực dân, phong kiến, nhân dân các dân tộc huyện Đại Từ lâm vào cảnh đói rét, dốt nát, bệnh tật nhiều phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp nổ ra Cuối năm 1892, nổ ra binh biến đồn Hùng Sơn, Đại Từ dưới

sự chỉ huy của Cai Bát nổi dậy khởi nghĩa Năm 1894 nghĩa quân lên tới 350

Trang 21

người Nghĩa quân dựa vào rừng núi 3 tỉnh, Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Tuyên

Quang đánh địch trong 4 năm liền (1982 – 1896) [46, tr.109]

Như vậy dưới ách thống trị của bọn thực dân phong kiến, đời sống kinh

tế, văn hóa, xã hội của đồng bào dân tộc Đại Từ không có thay đổi đáng kể Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đan xen với nền nông nghiệp phong kiến cổ truyền lạc hậu Văn hóa, xã hội thấp kém, mâu thuẫn đồng bào các dân tộc thực dân phong kiến gay gắt

1.1.4 Dân cư và truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Dân cư: Dân số toàn huyện khoảng 159.667 người (năm 2010) Mật độ

dân số bình quân khoảng 283 người/km² Các dân tộc chủ yếu tại địa bàn huyện là Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu, Sán Chay, Mường, phân bố khá đồng đều trên toàn huyện Theo tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009, trong

10 năm (1999-2009) dân số huyện giảm 2900 người do có nhiều người di chuyển đi nơi khác

Biểu 1.1 Thành phần dân tộc ở Đại Từ

Trang 22

Truyền thống yêu nước chống ngoại xâm: Đại Từ là một vùng quê có

truyền thống lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước lâu đời Trên địa bàn huyện có 162 địa điểm di tích lịch sử văn hoá đã kiểm kê và 4 di tích được xếp hạng cấp quốc gia Các di tích lịch sử văn hóa quan trọng Một là, nơi kỷ niệm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27 tháng 7) Hai là, một ngôi chùa thuộc xã Hùng Sơn đã được nhà nước tôn tạo và được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 17/7/1997 Với diện tích 3000m2 gồm: nhà lưu niệm; bia là tảng đá vân mây trắng hình trụ, chóp nhọn, cao hơn 3m, rộng gần 3m, nặng gần 7 tấn Nơi đây ngày 27/7/1947, 300 cán bộ, bộ đội và đại diện các tầng lớp nhân dân địa phương họp mặt nghe công bố thư Bác Hồ, ghi nhận sự ra đời ngày Thương binh liệt sỹ ở nước ta Ba là, 11 xã được nhà nước công nhận là xã ATK (an toàn khu) trong kháng chiến chống Pháp Bốn là, núi Văn, núi Võ, nằm dưới chân núi Tam Đảo thuộc 2 xã Văn Yên - Ký Phú, cách khu du lịch hồ Núi Cốc 15km về phía tây bắc Một di tích gắn với tên tuổi và quê hương vị danh tướng Lưu Nhân Chú với những đóng góp to lớn cho cuộc kháng chiến chống giặc Minh thế kỷ XV và triều đại nhà Lê Ông đã từng dự thề Lũng Nhai năm 1416 kết nghĩa anh em với Lê Lợi Những năm 1425 -

1426 Lưu Nhân Chú chỉ huy nhiều cuộc khởi nghĩa đánh đuổi giặc Minh,

Trang 23

chiến tích năm 1427 tại ải Chi Lăng chém tướng giặc Liễu Thăng đánh tan 10 vạn quân viện binh Chính bản thân ông đã làm sứ giả đàm phán buộc Vương Thông rút quân về nước để nước Đại Việt được thái bình Năm 1485, vua Lê Thánh Tông đã truy phong ông tước “Thái phó vinh quốc công’’ Khu di tích núi Văn, núi Võ được nhà nước xếp hạng cấp quốc gia Dấu tích cùng với truyền thuyết đẹp gắn với danh tướng Lưu Nhân Chú và đội nghĩa binh của ông [10, tr.106]

Huyện Đại Từ là một trong những địa phương có cơ sở Đảng ra đời sớm nhất tỉnh Thái Nguyên Từ nửa cuối thập kỷ 30 (thế kỷ XX), nơi đây đã có phong trào cách mạng khá phát triển Trải qua thực tiễn đấu tranh chống đế quốc, phong kiến, trong thời kỳ vận động dân chủ (1936-1939) và nhất là trong những năm hoạt động bí mật (1939-1945), cán bộ nhân dân các dân tộc được rèn luyện nhiều mặt Chính vì lẽ đó, ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945), dưới sự lãnh đạo của các tổ chức Cứu quốc, các cuộc khởi nghĩa từng phần đã diễn ra sôi nổi khắp trong huyện Cho đến tháng Tám năm 1945, nhân lúc phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, nhân dân Đại Từ dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện đã cùng cả nước tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 giành thắng lợi Đại Từ có một vinh dự đặc biệt, sau Đại hội Quốc dân ở Tân Trào, Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, khi rời khỏi địa giới tỉnh Tuyên Quang đã đặt bước chân đầu tiên lên đất Đại Từ

để về Thủ đô Hà Nội đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhà nước công - nông đầu tiên ở Đông Nam Á

Từ khi thực dân Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc (thu-đông 1947), quân và dân Đại Từ đã trực tiếp chiến đấu, góp phần cùng quân và dân Việt Bắc đánh bại âm mưu của địch, bảo vệ an toàn cơ quan đầu não kháng chiến của ta Trong những năm 1948-1954, nhận rõ trách nhiệm của địa phương với cuộc kháng chiến của dân tộc, Đảng bộ huyện Đại Từ tích cực lãnh đạo nhân

Trang 24

dân các dân tộc xây dựng hậu phương vững mạnh, tham gia đóng góp nhân tài, vật lực cho tiền tuyến Các chiến thắng: Biên Giới (thu - đông 1950), Trung Du (1951), Hòa Bình (đông - xuân 1951-1952)… cho đến chiến thắng Điện Biên Phủ (xuân - hè 1954), đều có một phần công sức và xương máu của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Đại Từ Ngày nay trong sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ tổ quốc Xã hội chủ nghĩa, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quân và dân Đại Từ dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện đã và đang phát huy truyền thống, thế mạnh địa - nhân của mình, phấn đấu xây dựng quê

hương ngày thêm giàu mạnh

1.2 Khái quát về người Sán Dìu ở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

1.2.1 Nguồn gốc tộc người, dân số, phân bố dân cư

Lịch sử tộc người: Dân tộc Sán Dìu gia nhập đại gia đình dân tộc Việt

Nam muộn hơn so với dân tộc khác Trong quá trình tồn tại người Sán Dìu trải qua nhiều khó khăn gian khổ, nhưng do cần cù lao động, đầu óc sáng tạo,

dân tộc Sán Dìu tạo dựng cho mình được cuộc sống vững vàng

Trong tác phẩm “Kiến văn tiểu lục” Lê Quý Đôn (1723 – 1782), đề cập

đến địa bàn người Sán Dìu cư trú Trong bảy chủng tộc của người Man

(Thống kê thực chất là 8 chủng tộc Man) sống ở Tuyên Quang mà Lê Quý Đôn đề cập đến, tên Man ở đây (thời phong kiến) không chỉ để chỉ người Dao

mà còn để chỉ dân tộc khác Đáng chú ý nhóm Sơn Man cũng chính là người

Sán Dìu chúng ta cần nói tới

Nếu như Sơn Man là Sơn Dao hay người Sán Dìu thì người Sán Dìu có

mặt trên đất nước Việt Nam trước khi cuốn sách đó ra đời, khoảng trên dưới

300 năm nay Họ qua Quảng Ninh vào Bắc Giang (hiện nay) rồi ngược Tuyên Quang rồi dừng ở đó Trong sách Bùi Đình cũng viết: “quần cộc từ Quảng Đông di cư đến nước ta khoảng ba bốn mươi năm nay, còn có tên là Sơn Dao

Họ sống rải rác khắp chu vi đồng bằng trong các vùng Đầm Hà, Hà Cối,

Trang 25

Quảng Yên, Phủ Lạng Thương, Thái Nguyên, Vĩnh Yên, Tuyên Quang Lác đác ngoài các hải đảo trong vịnh Bắc Việt như Kẻ Bào, Cát Bà cũng có”

Địa bàn: Dân tộc Sán Dìu là một dân tộc thiểu số, sống ở miền Bắc

nước ta Họ cư trú ven các triền núi thấp, trên các đồi gò thuộc các tỉnh Quảng Ninh Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang Một bộ phận di cư vào Thanh Hóa, họ sống xen kẽ với người Việt, Tày, Nùng, Dao, Hoa có tổ chức

xóm làng riêng

Tên gọi: Từ lâu người Sán Dìu đã có tên tự nhận là Sán Déo Nhín, theo

âm Hán – Việt, tức là Sơn Dao Nhân, tức là người Dao trên núi Nhưng các tộc người xung quanh gán cho họ nhiều tên gọi khác nhau chủ yếu họ dựa vào đặc điểm canh tác và loại hình nhà ở, hay dựa vào đặc điểm y phục như Trại Đất (người trại ở nhà đất, đẻ phân biệt người trại ở nhà sàn – người cao lan), Trại Ruộng, Trại Cộc, Mán Quần Cộc, Mán váy xẻ, Sán Nhiêu, Slán Dao Cho đến tháng 3/1960, Tổng cục Thống kê Trung ương mới khẳng định tên người Sán Dìu Cũng từ đó tên Sán Dìu đi vào văn bản nhà nước như một tên gọi chính thức của dân tộc này Tên gọi này trở nên phổ biến trong nhân dân các dân tộc

Nguồn gốc của người Sán Dìu chưa được làm sáng tỏ, vì chưa có những

cứ liệu lịch sử nào có thế tin cậy được, chỉ là phỏng đoán dựa trên những dấu hiệu mỏng manh Căn cứ vào tên tự nhận của đồng bào, tên Sán Dìu tức là

Sơn Dao, phải chăng người Sán Dìu vốn gốc là người Dao? Từ đó ta có thế

suy ra: Từ xưa khối Dao bị bọn phong kiến phương Bắc “bóp vụn” thành

những nhóm nhỏ khiến cho mỗi nhóm siêu bạt nhiều nơi Người Sán Dìu có thể là một trong những nhóm đó, do sống lâu bên cạnh người Hán (phương nam) nên dần dần họ mất tiếng mẹ đẻ (tiếng Dao), tiếp thu thổ ngữ Quảng

Đông [7, tr.106]

Trang 26

Biểu 1.2 Bảng so sánh ngôn ngữ tiếng dân tộc

Trang 27

[7, tr.106]

Qua bảng so sánh ngôn ngữ trên ta thấy tiếng của người Sán Dìu xa dần với gốc xưa với nhóm đồng tộc của mình Họ tiếp thu tiếng Hán trước khi vào Việt Nam Nhưng trong bảng so sánh ngôn ngữ ta thấy khó nhận thấy dấu hiệu ngưởi Sán Dìu có văn hóa người Dao Về tiếng nói người Sán Dìu lại nói thổ ngữ Quảng Đông, chứ không phải là tiếng Dao Một học giả người Pháp xếp người Sán Dìu vào nhóm người Dao (Bônifaxi trong “Người Mán quần

cộc ở Việt Nam”, Tạp trí dân tộc học 76, năm 1976) Năm gần đây các nhà

bác học Nga xếp Sán Dìu vào nhóm Hán, trong ngữ hệ Hán – Tạng

Người Sán Dìu có huyền thoại “vua cóc”, được cố định văn bản lưu

hành rộng rãi trong dân dân Nhưng không cho ta biết gì hơn về nguồn gốc

của họ ngoài cái địa danh “Mãn Khê Quốc”, đây “ là nơi cư trú rất đông của

người Sán Dìu, nơi cảnh vật thiên nhiên hùng vĩ, ruộng đất phì nhiêu làm ăn

rễ dàng Người Sán Dìu cần cù lao động, xây dựng lên xóm làng đông vui,

với tinh thần dân tộc khẳng khái bất khuất” [7, tr.106]

Mặc dù chưa xác định nguồn gốc xa xưa của mình, nhưng người Sán Dìu vẫn luôn ý thức về mình như là một dân tộc với cái tên tự nhận là Sán Dìu Trong quá trình phiêu bạt họ không còn nhớ tường tận, mà chỉ đọng lại trong

ký ức của họ nỗi bi thảm và hãi hùng khi bị đàn áp Khi vào chung sống với dân tộc Việt Nam thì họ không còn nhớ rõ

Khi vào Việt Nam người Sán Dìu vượt qua dãy Hoàng Chúc Cao Sơn tới Hà Cối, Tiên Yên rồi tỏa đi các nơi Một bộ phận đi dọc bờ biển tới Đầm

Hà, Móng cái, Hoành Bồ, Mạo Khê, Đông Triều, mỗi nhóm nhỏ rẽ sang Chí Linh (Hải Hưng) Phần lớn lần theo dãy Yên Tử để vào Lục Nam Lục Ngạn, Lạng Giang, Yên Thế (Bắc Giang), rồi từ đó chuyển lên Vĩnh Yên, Phúc Yên (Vĩnh Phú), Tuyên Quang (Hà Tuyên), Thái Nguyên (Bắc Thái) Như vậy người Sán Dìu cư trú trên một dải đất bán Sơn địa rộng lớn từ tả ngạn sông

Trang 28

Hồng trở về phía Đông Cư dân định cư một số xã thuộc huyện Bắc Giang, bộ phận còn lại sống bao quanh phía Đông – Nam và Đông - Bắc dãy Tam Đảo thuộc phần dải đất Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên [7, tr.106]

1.2.2 Quá trình nhập cư và định cư của người Sán Dìu ở Đại Từ

Qua Khảo sát điền dã thực tế, phỏng vấn ở địa bàn xã An Khánh, xã Quân Chu của huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên có những dòng họ lớn của người Sán Dìu sinh sống Căn cứ vào gia phả một số dòng họ Hoàng, họ Mậu,

họ Chu, họ Dương, họ Lưu, họ Trình, họ Tộ, họ Trần, họ Đặng ở xã An Khánh, xã Quân Chu cùng với tư liệu của Sở văn hóa Thông tin tỉnh Thái Nguyên và lời kể của ông Chu Vân Tiến, xóm làng Ngò xã An Khánh khẳng

định: Người Sán Dìu (Slan-dèo-nhìn) là một dân tộc thiểu số thuộc vùng

Quảng Đông, Trung Quốc, do chiến tranh loạn lạc người Sán Dìu di cư sang

“An Bắc” Việt Nam (từ Hà Nội trở lên gọi là An Bắc) Trước đây An Bắc

vốn là vùng đất hoang vu, hẻo lánh, ít người sinh sống Khi đó chưa có tỉnh Thái Nguyên, người Sán Dìu di cư lên vùng đất này khai phá ruộng nương, làm nhà đất để ở Dân tộc khác gọi là người Trại (ở nhà đất) để phân biệt người Trại Cao (ở nhà sàn) Khi di cư đến Đại Từ, người Sán Dìu sinh sống chủ yếu xã An Khánh, một bộ phận sinh sống ở xóm lòng Hồ (hồ Núi Cốc) sau đó di cư vào xóm Chiểm, xã Quân Chu, huyện Đại Từ Người Sán Dìu nhập cư vào huyện Đại Từ, Thái Nguyên khoảng trên 300 năm, từ vùng Quảng Đông, Trung Quốc

Theo tác giả Ma Khánh Bằng “Người Sán Dìu ở Việt Nam”: Cuối thế kỷ

XVII (cuối triều Minh, đầu triều Thanh) ở Trung Quốc vì không chịu nổi sự đàn áp, bóc lột tàn bạo của bọn phong kiến thống trị ở Quảng Đông, người Sán Dìu một lần nữa phải lưu tán Một bộ phận nhỏ vượt biên giới Việt Trung vào Việt Nam Theo lời kể của ông Chu Vân Tiến xóm làng Ngò, xã An

Trang 29

Khánh thì dòng họ này vốn sinh sống ở Quảng Đông Trung Quốc di cư vào Việt Nam đã được chín thế hệ

- Thế hệ thứ nhất: Ông Chu Vân Ngại (trưởng họ)

+ Các con: Chu Thùy Quyền; Chu Thùy Thống; Chu Thùy Chín; Chu Thùy Thông

- Thế hệ thứ hai: Chu Thùy Quyền (trưởng họ)

+ Các con: Chu văn Thống, Chu Văn Đức

- Thế hệ thứ Ba: Chu văn Thống (trưởng họ)

+ Các con: Chu Thành Chính; Chu Thành Tiến, Chu Thành Phúc, Chu Thành Yên

- Thế hệ thứ tư: Chu Thành Chính (trưởng họ)

+ Các con: Chu Ích Thông, Chu Ích Triều, Chu Ích Minh, Chu Ích Nhâm, Chu Ích Phú, Chu Ích Vinh

- Thế hệ thứ năm: Chu Ích Thông (trưởng họ)

+ Các con: Chu Quỳnh Nguyên, Chu Quỳnh Hữu, Chu Quỳnh Phú, Chu Quỳnh Quý

- Thế hệ thứ sáu: Chu Quỳnh Nguyên (trưởng họ)

+ Các con: Chu Đức Xông, Chu Đức Minh, Chu Đức Phúc

- Thế hệ thứ bảy: Chu Đức Xông (trưởng họ)

+ Các con: Chu Vân Tiến, Chu Vân Tài, Chu Văn Hữu, Chu Vân Quý, Chu Vân Thanh

- Thế hệ thứ tám: Chu Vân Tiến (trưởng họ)

+ Các con: Chu Thùy Ngọc, Chu Thùy Môn, Chu Thùy Long, Chu Thùy Bình

- Thế hệ thứ chín: Chu Thùy Ngọc (Trưởng họ)

Ông Chu Vân Tiến đang sống ở xóm làng Ngò xã An Khánh, huyện Đại

Từ, tỉnh Thái Nguyên, hiện nay đã có vợ và 4 đứa con (ba trai, một gái)

Trang 30

Theo gia phả của dòng họ Hoàng (ông Hoàng Diễn Đăng ở xóm Tân Tiến xã An Khánh, huyện Đại Từ) cho biết: “Dòng họ của ông vốn ở Quảng Đông, Trung Quốc sau đó di cư vào Hà Tu, Quảng Ninh rồi đến Vĩnh Phúc định cư ba đời ở đó sau đó chuyển về xã An Khánh huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên làn ăn sinh sống định cư lâu dài trên vùng đất này đã được bảy đời

(khoảng trên 200 năm)”[PL3- 4, tr.115-116]

Như vậy cách ngày nay khoảng gần 3 thế kỉ người Sán Dìu đã di cư từ Trung Quốc vào Việt Nam Từ đây họ tỏa ra các hướng khác nhau định cư dải rác trên khắp các tỉnh miền núi phía Bắc trong đó tập sống tập trung đông đúc nhất ở Đồng Hỷ, Thái Nguyên, một bộ phận di cư lên Đại Từ sinh sống Từ khi định cư ở Đại Từ cho đến nay người Sán Dìu có cuộc sống ổn định vững chắc, họ không ngừng phát triển về số lượng Theo thống kê mới nhất năm (2010) của phòng dân tộc huyện Đại Từ thì số dân của người Sán Dìu 3270 người, họ định cư chủ yếu ở hai xã An Khánh và Quân Chu của huyện Đại

Từ Với vùng đất trung du, xen kẽ dải đồng bằng nhỏ hẹp người Sán Dìu nhận thấy đây là mảnh đất phù hợp đối với họ Họ sinh sống lâu dài tích cực tăng gia sản xuất phát triển cuộc sống Bên cạnh đó họ cũng nhanh chóng họ nhanh chóng hòa nhập với các dân tộc anh em xung quanh Trong quá trình đó họ đã giao lưu học hỏi, tiếp thu được nhiều văn hóa tiến bộ của các dân tộc anh em nhưng họ vẫn giữ được nét văn hóa riêng biệt của dân tộc mình

1.2.3 Tổ chức xã hội và văn hóa của người Sán Dìu ở Đại Từ trước năm

1945

Sự hình thành làng bản của người Sán Dìu trước năm 1945

Dân tộc Sán Dìu ra nhập đại gia đình các dân tộc Việt Nam muộn hơn

so với các dân tộc khác Khi vào Việt Nam sinh sống, họ cũng phải chịu hoàn cảnh về chính trị - xã hội nơi mình sinh sống Trước khi thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam sống trong tình trạng phong kiến lạc hậu Người Sán Dìu ở

Trang 31

Đại Từ cũng như các dân tộc khác, đều phải thực hiện nghĩa vụ phong kiến đặt ra như thuế khóa, lao dịch và binh dịch Tuy nhiên chính sách trên có phần lỏng lẻo hơn bởi nhà nước thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Dân tộc Sán Dìu ở huyện Đại Từ cũng đã tạo dựng cho mình một đời sống văn hóa phong phú đa dạng Tuy nhiên do sống ở những vùng hẻo lánh

xa xôi, dân tộc Sán Dìu chịu ít sự chi phối của chính quyền Trung ương Việc quản lý đời sống kinh tế - xã hội vẫn dựa vào những tục lệ đặt ra Mặc dù đời sống xã hội và văn hóa có mặt tích cực, nhưng dân tộc Sán Dìu ở huyện Đại

Từ vẫn còn duy trì mê tín dị đoan, các tập tục lạc hậu Gây nên hậu quả tiêu cực, hạn chế sự phát triển kinh tế - xã hội

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta Năm 1884, thực dân Pháp đánh chiếm Thái Nguyên, nhưng chúng vấp phải sức kháng cự mạnh mẽ của nhân dân Thái Nguyên Thời kỳ này nhiều cuộc khởi nghĩa nổ

ra cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của các dân tộc ít người, trong đó

có cả dân tộc Sán Dìu Họ đóng góp sức người, sức của cho cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược Khi Pháp chiếm được Thái Nguyên chúng tiến hành tổ chức bộ máy cai trị, thực hiện chính sách văn hóa, xã hội bảo thủ lạc hậu thống trị nhân dân Chúng khuyến khích các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, thực hiện chính sách ngu dân về văn hóa, tiến hành mua chuộc những tầng lớp trên để phục vụ cho bộ máy cai trị của chúng

Đối với dân tộc Sán Dìu ở Đại Từ, bộ máy hành chính cai trị thực dân Pháp không thay đổi so với người Việt Trong các địa hạt của Pháp, những đồn điền tổ chức thành các trại, thôn, làng có Phó quản, Chánh quản, ở làng, thôn, trại có Khán Trại, thi hành những luật lệ do thực dân, phong kiến đặt ra,

mà chủ yếu đốc thúc nhân dân nộp lao dịch, binh dịch cho chúng

Trang 32

Để phục vụ cho mục đích quân sự, Pháp đặt ra cơ quan thực hiện mặt quân sự, như ở các xã có Xã Đoàn ở các tổng có Tuần Tổng Xã Đoàn và Tuần Tổng có nghĩa vụ huấn luyện, chỉ huy binh lính, dân binh đàn áp các cuộc nổi dậy quần chúng nhân dân, cơ sở cách mạng của ta

Bên cạnh đó ở các làng, trại, thôn còn có các tổ chức như Hội đồng kỳ mục, Hội đồng hương thôn Các Khán Trại có nhiệm vụ huy động nhân dân

tu sửa đường xá, cầu cống, đình miếu duy trì những tục lệ cổ truyền trong làng

Xã An Khánh huyện Đại Từ là nơi có đông người Sán Dìu sinh sống, Pháp áp đặt bộ máy chính quyền cai trị, trong đó tổng Cù Vân gồm 4 xã (Cù Vân, Phục Linh, Khúc Lộng, Dương Tú) Trước năm 1945, xã Dựơng Tú sáp nhập vào Khúc Lộng trở thành xã An Khánh như bay giờ Ngoài ra còn có xóm Chiểm thuộc xã Quân Chu nơi đây là nơi tập trung đông người Sán Dìu sinh sống Họ vốn định cư ở xóm Lòng Hồ (thuộc hồ Núi Cốc hiện nay), họ di chuyển đến xã Quân Chu làm ăn sinh sống Thực dân Pháp tiến hành áp đặt

bộ máy cai trị khu vực này

Thời Pháp thống trị, Pháp cho xây dựng đồn điền Képpler thuộc làng Hà

xã An Khánh do Lí trưởng tên là Lý Tanh cai quản Chúng bắt dân tộc làm việc trong các đồn điền, phải làm việc vất vả, khổ cực dưới làn doi vọt của chúng Đời sống của đồng bào dân tộc Sán Dìu hết sức cực khổ [46, tr.109 88, tr.112]

Trong quan hệ xã hội các trại, làng vẫn lấy tình đoàn kết, tương thân tương ái giúp đỡ lẫn nhau Cuộc sống của người Sán Dìu ít xảy ra những mâu thuẫn xung đột lớn Ở các trại, làng, bản của người Sán Dìu chế độ ruộng đất công chưa phát triển Khi đến định cư ở đây họ tiến hành khai phá ruộng nương, làm nhà để ở Những nhà nào khai phá được nhiều ruộng thuộc quyền

sở hữu của nhà đó Họ có quyền mua bán, cầm cố, nhưng dưới thời phong

Trang 33

kiến thực dân, ruộng đất của người Sán Dìu bị địa chủ cường hào lấn chiếm, người nông dân bị bần cùng hóa phải nhận ruộng đất của địa chủ canh tác nộp

tô thuế, chế độ ruộng đất tư hữu ngày càng được củng cố Xã hội người Sán Dìu có sự phân hóa giầu nghèo hình thành tầng lớp địa chủ, tá điền ngoài ra hình thành tầng lớp trung nông, tiểu địa chủ Những người làm nghề thầy cúng có ảnh hưởng nhất định trong nhân dân họ có thể cố vấn cho bộ máy chính quyền địa chủ trong làng xã, là người bảo thủ nhất trong việc duy trì những sự lạc hậu, bảo thủ trong làng

Một số tầng lớp khác mới hình thành là học sinh Họ học trong các hương học, trường trung học phổ thông xuất thân từ những giai cấp khác nhau, chủ yếu là nhân dân lao động Họ hăng hái sôi nổi tiếp thu những cái mới

Người phụ nữ trong xã hội phong kiến phải chịu nhiều thiệt thòi và đau khổ Họ không có quyền lợi gì về mặt xã hội, bị trói buộc vào những hủ tục

lạc hậu, như kẻ nô lệ gia đình chồng con, làm công việc “sinh đẻ” và “cái

bếp” trong gia đình

Hoạt động trao đổi mua bán hầu như ở người Sán Dìu chưa có Họ vẫn

tự sản xuất, tự tiêu dùng, nền kinh tế vẫn mang nặng tính chất tự cung, tự cấp

ít trao đổi bên ngoài

Trước năm 1945, dân tộc Sán Dìu cũng như các dân tộc khác, bị áp bức bóc lột nặng nề Họ không có quyền về kinh tế chính trị, bị kìm hãm trong vòng tăm tối bởi các hủ tục lạc hậu và mê tín dị đoan Dưới cảnh xã hội cũ, dân tộc Đại Từ chịu rên xiết bao dân tộc khác Cách mạng tháng Tám thành công trong cả nước, chế độ thực dân, phong kiến bị đánh đổ, nhân dân các dân tộc Đại Từ bước sang trang sử mới nhân dân đứng lên làm chủ vận mệnh

của mình

Trang 34

Chế độ Thổ ty: Trước năm 1945, đứng đầu làng bản là một Hội đồng kỳ

mục, Hội đồng hương thôn (thường là những dòng họ lớn trong làng) Những dòng họ lớn trong làng thường bầu ra một người có uy tín chịu trách nhiệm trước xóm làng Khi Pháp vào thống trị chúng áp đặt bộ máy cai trị ở Đại Từ,

ở địa bàn người Sán Dìu sinh sống, đứng đầu mỗi làng, bản là một “Khán

Trại”, được chia ruộng đất được hưởng lương, giúp việc cho Khán Trại có

tiên chỉ, thứ chỉ giống như người Tày, Nùng Những tiên chỉ thứ chỉ thường không được hưởng lương mà chỉ được cấp ruộng đất Khán Trại thường bị chính quyền thống trị lợi dụng để phục vụ cho lợi ích của họ như đôn đốc nộp

tô thuế, đi lao dịch, binh dịch Đối với những tiên chỉ, thứ chỉ thi hành chính sách của Khán Trại đưa ra Ngoài ra khi nắm chức vụ các Khán Trại thường hay lợi dụng chức vụ của mình để chiếm đoạt ruộng đất của nông dân Đời sống của nhân dân khổ cực dưới sự thống trị chế độ thực dân phong kiến

Các luật tục và tình hình ruộng đất: Đối với người Sán Dìu ở huyện Đại

Từ luật tục được hình thành từ khá lâu và được truyền lại cho các thế hệ con cháu, các thành viên trong làng bản đó đều phải tự ý thức thực hiện, Trưởng

Bản có quyền quản lý và điều hành mọi công việc theo luật tục

Những quy định về đất đai, trong phạm vi một khu vực nhất định (một bản), các gia đình người Sán Dìu được phép khai phá đất đai, nương rãy,

rừng Ông Tiến kể lại: “Trước kia khi người Sán Dìu di cư vào huyện Đại Từ,

thì đất đai lúc đó chưa ai quản lý Đồng bào di cư vào khu vực An Khánh và xóm Lòng Hồ, các gia đình ai khai phá được nhiều đất thì sừ dụng nhiều (có gia đình khai thác được 4 - 5 mẫu ruộng), thời kỳ đó ruộng đất còn hoang hóa nhiều, đồng bào ít có sự tranh chấp Nhưng do dân số ngày càng đông lên những quy định về tục lệ đất đai được đặt ra, không ai được khai phá bừa bãi mà phải tuân theo những quy định chung”

- Những nơi nào ruộng đất đã có chủ sở hữu thì không được xâm phạm

Trang 35

- Nếu ai muốn sử dụng đất đai của người khác, làng khác thì phải được sự đồng ý của những người sở hữu khoảng đất đó, hoặc được sự đồng ý của của làng đó mới được khai phá và phải mang lễ vật cho những người có công khai phá trước đó

- Người ở nơi khác đến khai phá phải được sự đồng ý của Trưởng Bản, phải nộp cho bản gà, rượu và ít bạc trắng

- Những mảnh đất đã được khai phá nhưng chủ khai phá không sử dụng nữa sau khoảng 4 – 5 năm thì ruộng đất đó thuộc sở hữu ruộng đất công của làng xã

Quy định về nguồn nước và rừng: Đối với đồng bào dân Sán Dìu ở

huyện Đại Từ rừng và nguồn nước có vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày Nước cung cấp cho sinh hoạt và là nguồn nước cung cấp cho cây trồng cho nên việc quy định về nguồn nước được đặt ra Theo quy định nguồn nước thuộc sở hữu chung của làng bản, những khúc sông hay xuối chảy qua làng bản nào thì thuộc quyền sở hữu của làng bản đó Thông thường những già làng hàng năm có trách nhiệm huy động thanh niên khỏe mạnh tu sửa đê đập,

để giữ nước phục vụ cho sản xuất Làng đó có trách nhiệm bảo vệ nguồn nước của mình không để cho người khác phá hoại Đối với rừng, theo quy định mỗi một làng bản đều có khu rừng nhất định, những người của các làng bản khác không được đến rừng của làng bản này để khai thác nếu không được sự đồng

ý Những khu rừng của bản đó, người dân ở bản có quyền khai thác, săn bắt, hái lượm Tuy nhiên trong những năm gần đây rừng bị tàn phá nhiều, Đảng

và Nhà nước ta trực tiếp giao đất giao rừng cho người dân quản lí [81, tr.112]

Tình hình ruộng đất: Trước năm 1945, dưới sự thống trị của thực

dân phong kiến, ruộng đất chủ yếu tập trung và tay cường hào, địa chủ xã An Khánh khoảng 1446 ha, xã Quân Chu khoảng 1234 ha, trong đó diện tích đất

Trang 36

tư chiếm khoảng 1515 ha (56,5%) bao gồm diện tích đất đồn điền, đất của địa chủ, cường hào Diện tích đất công 1165 (43,5%) bao gồm diện tích đất của

nhân dân lao động [59, tr.110] Như vậy trước cách mạng tháng Tám

tình hình ruộng đất chủ yếu tập trung trong tay địa chủ cường hào, ruộng đất công không còn bao nhiêu

Quan hệ giai cấp: Trước năm 1945, dưới sự thống trị của thực dân phong

kiến quan hệ bóc lột chủ yếu là quan hệ địa chủ - tá điền Hầu hết ruộng đất tập trung vào tay địa chủ người Pháp và địa chủ bản xứ Chúng thông qua Khán Trại thi hành cai trị bóc lột và vơ vét đồng bào Chúng lập ra đồn điền rộng lớn như Képpler do Lí Tanh cai quản Những người làm trong các đồn điền đó thường là những nông dân bị mất ruộng đất phải làm thuê trước những đòn doi của chúng Hàng năm Khán Trại có nhiệm vụ đôn đốc nộp tô thuế cho chính quyền thực dân phong kiến, đôn đốc những dân đinh làn các nghĩa vụ lao dịch, đi lính cho nhà nước Dưới sự thống trị của chúng đời sống nhân dân vô cùng cơ cực, hàng ngày làm lụng vất vả nhưng không đủ ăn Trong những ngày giáp hạt người dân phải lên rừng đào củ mài, củ nâu, cùng với rau rừng thay cơm trừ bữa

Như vậy, quan hệ giai cấp và các luật tục đất đai mang nặng dấu ấn phong kiến, thực dân Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào Sán Dìu trước năm 1945 hết sức tối tăm, cơ cực bởi sự rằng buộc quan hệ sản xuất phong kiến, cùng với đời sống vật chất, đời sống tinh thần lạc hậu

Đời sống văn hóa dân tộc Sán Dìu ở Đại Từ

Cũng như các dân tộc khác người Sán Dìu ở Đại Từ cũng xây dựng cho mình một nền văn hóa độc đáo, phong phú, đa dạng bên cạnh đó tồn tại những

hủ tục lạc hậu tín dị đoan Trước năm 1945, bên cạnh ảnh hưởng của văn hóa

nô dịch thực dân, phong kiến với nền văn hóa truyền thống của người Sán Dìu đan xen vào nhau

Trang 37

- Văn hóa vật chất

Kinh tế nông nghiệp, do sinh sống trên vùng trung du, đất đai sỏi đá không mấy mỡ mầu, người Sán Dìu khai phá vùng đất chân đồi thành những thửa ruộng bậc thang để trồng lúa nước và hoa mầu Do sống trong những điều kiện thiên nhiên không mấy thuận lợi, người Sán Dìu phải đổ bao nhiêu

mồ hôi, công sức để khai phá, cải tạo, chăm bón mới có được ruộng đồng, làng mạc như bây giờ Ngoài ruộng lúa nước người Sán Dìu còn trồng lúa nương Họ chọn những quả đồi không dốc mấy, tiến hành phát dãy, đốt sạch

cổ cây sau đó dùng những cây vót nhọn chọc lỗ tra hạt mố, ngô, sắn phương thức canh tác thô sơ Bên cạnh đó người Sán Dìu biết trồng chè, lạc, vừng phục vụ cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày

Bên cạnh trồng trọt người Sán Dìu còn biết chăn nuôi gia súc, gia cầm, như trâu, bò, ngựa làm sức kéo, nuôi lợn, chó , các loại gia cầm gà, vịt, ngan, ngỗng phục cho nguồn thực phẩm, dùng phân để làm sức bón cho cây Trong những ngày nông nhàn người Sán Dìu làm các nghề thủ công, đan lát, dệt vải vào rừng săn bắt hoặc hái lượm sản vật của rừng mang lại Hay đánh

bắt cá trong các sông xuối, ao đầm ông Chu Vân Tiến kể lại: “Đồng bào

mỗi năm chỉ sản xuất một vụ lúa, phải nộp tô thuế nặng nề, một năm chỉ đủ

ăn 6 – 7 tháng, cho nên đồng bào phải dựa vào khai thác lâm thổ sản, săn bắt, hái lượm để sinh sống Những năm mất mùa đói kém, đồng bào vào rừng

để săn thú hoặc đào củ mài, củ từ thay cơm”

Nhưng dưới ách thống trị của thực dân phong kiến, ruộng đất của người Sán Dìu ở huyện Đại Từ rơi vào tay bọn cường hào, địa chủ Nhiều người bị mất ruộng đất làm thuê trong các đồn điền của Pháp, thuê ruộng đất của địa chủ canh tác, thực hiện phát canh thu tô Đời sống của dân tộc Sán Dìu cũng như các dân tộc khác hết sức khổ cực, bị bóc lột đến tận xương tủy

Trang 38

Làng bản: Trước năm 1945, người Sán Dìu sống thành từng xóm nhỏ

thường khoảng từ bảy đến mười nhà cách nhau không xa Làng xóm tiêu điều, thường là những con đường đất nhỏ bé, khó đi lại Cùng với sự phát triển của thời gian cư dân Sán Dìu ngày càng đông đúc Làng của người Sán Dìu thường ở những ven đồi núi thấp hoặc trên những sườn đồi thấp, mặc dù họ vẫn sống xen kẽ với dân tộc khác, nhưng người Sán Dìu vẫn sống trong làng xóm riêng Chỗ ở người Sán Dìu thường gần với ruộng để tiện cho sản xuất, xung quanh làng thường có hàng lũy tre bao bọc Nhà ở thường là nhà đất, tranh, tre, nứa, lá, thường là nhà 3 gian hai trái, có cửa lớn ở chính giữa Gian giữa thường là để thờ cúng tổ tiên kê chiếc bàn Gian bên phải thường là con trai cả, gian bên trái của chủ nhà Gian hồi thường là con dâu cả, gian trái thường là vợ chủ nhà Nhà ở của người Sán Dìu thường theo các hướng khác nhau dựa theo địa hình của sườn đồi nơi mình ở

Trang phục: Trước đây trong những ngày tết, lễ hội người đàn ông Sán

Dìu thường mặc một chiếc áo dài, áo trong mầu trắng, áo ngoài mầu đen, chất liệu áo vải chàm Những ngày thường, họ mặc áo năm thân cao cổ, mầu nâu

có túi để đựng Quần mầu nâu cạp lá tọa, thắt lưng màu chàm Đàn ông thường búi tóc, cài châm bằng bạc, chân thường đi guốc gộc được đẽo bằng

gỗ, đôi khi có người đeo vòng cổ Trang phục của nữ giới gồm có khăn đội đầu, áo dài, áo ngắn, váy, dây lưng, xà cạp, riêng áo bên ngoài thường có mầu chàm Ngang lưng thắt dây lưng màu đỏ, tím ngoài ra người phụ nữ còn có váy bốn mảnh đính trên một cạp Người phụ nữ thường vấn tóc, đội khăn đen, chân đi guốc gộc Phụ nữ Sán Dìu thường có ít đồ trang sức

Sinh hoạt ăn uống: Trước năm 1945, dưới ách thống trị của thực dân

phong kiến, ăn uống của người Sán Dìu giản dị, đạm bạc Cơm là nguồn lương thực chính của đồng bào Sán Dìu, ngoài ra người Sán Dìu thường hay

ăn thêm khoai sắn Ngoài hai bữa cơm chính hằng ngày còn có những bữa

Trang 39

điểm tâm Buổi sáng thường ăn khoai, sắn Thức ăn hằng ngày thường là rau,

củ, quả thịt, cá có nhưng không phải là thường xuyên Những ngày lễ tết, người Sán Dìu thường hay có thịt gà, thịt lợn, có các loại bánh tùy theo những

lễ tết Thức uống trong những ngày lễ tết người Sán Dìu thường hay uống rượu, thường có hai loại rượu, rượu cất hoặc rượu nếp, thường dùng men lá trong rừng Nước uống người Sán Dìu hay uống nước vối, tu hú, chè tươi Dưới thời Pháp thuộc sinh hoạt ăn uống của đồng bào dân tộc Sán Dìu ở Đại

Từ hết sức kham khổ, thậm chí không đủ lương thực để ăn Người Sán Dìu thường nấu cơm, độn sắn, khoai, củ mài trong rừng để ăn qua bữa Trong những năm mất mùa đói kém đồng bào Sán Dìu chịu đói rét Nhưng trong làng bản của người Sán Dìu tình làng nghĩa xóm thể hiện khá rõ, họ đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau cùng nhau vượt qua những khó khăn gian khổ

Phương tiện đi lại: Trước năm 1945, phương tiện đi lại của người Sán

Dìu hầu như chưa có gì Đồng bào chủ yếu đi bộ là chính, không có phương

tiện giao thông Ông Chu Vân Tiến kể lại “Thời kỳ đó khi muốn đi đâu ra

khỏi xóm làng phương tiện duy nhất là đôi chân Ngày đó đường xá không phát triển như bây giờ, người ta muốn vận chuyển thóc lúa, hàng hóa chủ yếu bằng đôi vai trần, hoặc cho vào cái gùi để gùi trên lưng”[88, tr.112] Ngoài

việc sử dụng đôi chân đi lại, khi khai thác lâm sản người Sán Dìu biết sử dụng sức chảy của nước trong sông, xuối để kéo gỗ, hay dùng sức kéo của trâu, bò

để kéo và vận chuyển Nhìn chung phương tiện đi lại của người Sán Dìu ở huyện Đại Từ trước những năm 1945, còn hết sức thô sơ, phương tiện xe cơ giới hầu như chưa có Giao lưu kinh tế giữa người Sán Dìu và dân tộc khác trong vùng còn nhiều hạn chế

- Văn hóa tinh thần

Do đời sống kinh tế nghèo nàn, lạc hậu cùng với chính sách nô dịch của thực dân phong kiến ảnh hưởng đến đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào

Trang 40

dân tộc Sán Dìu của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Về tín ngưỡng dân gian, tôn giáo: Do cuộc sống vất vả, trình độ văn hóa

còn thấp kém, cho nên người Sán Dìu có những tôn giáo tín ngưỡng mang tính chất mê tín, dị đoan, trong đó có cả những người làm nghề thầy cúng với

hệ thống phong chức, cấp sắc cho những người này

Chúng ta biết lịch sử của dân tộc Sán Dìu đầy dãy những biến động, người Sán Dìu phải chịu đựng biết bao nhiêu khổ cực, nạn ngoại xâm, cướp bóc, chém giết, thiên nhiên phá hoại mùa màng gia súc, bệnh dịch lan tràn làm chết hàng loạt người gây nên nỗi kinh hoàng cho họ, họ chưa thể nào giải thích nổi Đây chính là mảnh đất mầu mỡ cho những tục lệ, mê tín dị đoan, tôn giáo tín ngưỡng sinh sôi nảy nở

Người Sán Dìu vẫn lấy việc thờ cúng tổ tiên là chính, bên cạnh đó họ còn thờ một số vị thần trong đền, miếu Phật giáo, Đạo giáo, Khổng giáo, họ còn tin có các vị thần linh bảo hộ cho họ, hay những ma quỷ đang tồn tại gây tai họa cho con người Từ khi Pháp đô hộ trên vùng đất Thái Nguyên, Đạo ki tô giáo được truyền bá ở nhiều nơi, trong đó Đại Từ là trung tâm truyền bá của đạo này, nhưng người Sán Dìu không tiếp thu đạo Ki tô giáo, mà họ đi theo Đạo giáo

Trong điện thờ Thái Thượng Hoàng Lão Quân và thờ Tam Thanh (Ngọc Thanh, Thượng Thanh, Thái Thanh) là những người có quyền lực tối cao Những người làm thầy (thầy cúng) là những người thừa hành các công việc ở dưới trần gian giúp cho mọi người có được cuộc sống bình yên, hạnh phúc Những người làm nghề tôn giáo lâu năm được cấp sắc, cấp ấn Khi những người được thầy cúng chữa khỏi, người bệnh phải coi mình là con nuôi của thầy Theo cách nhìn của người dân người thầy trừ tà, ác quỷ kia cũng chỉ là người thầy cúng xua tà ác quỷ cho nhân dân

Ngày đăng: 15/11/2014, 22:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Toan Ánh (2005), Nếp cũ – Hội hè đình đám, Tập 1, tập 2, Nhà xuất bản trẻ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ – Hội hè đình đám
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nhà xuất bản trẻ thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
2. Toan Ánh (2005), Nếp cũ - Tín ngưỡng Việt Nam, Tập 1, tập 2, Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ - Tín ngưỡng Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005
3. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, Nhà xuất bản Tổng hợp, Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp
Năm: 1990
4. Diệp Trung Bình (1963), Dân ca Sán Dìu, Nhà xuất bản Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Dân ca Sán Dìu
Tác giả: Diệp Trung Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học Hà Nội
Năm: 1963
5. Diệp Trung Bình (2005), Phong tục và lễ nghi chu kỳ đời người của người Sán Dìu ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục và lễ nghi chu kỳ đời người của người Sán Dìu ở Việt Nam
Tác giả: Diệp Trung Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc
Năm: 2005
6. Diệp Trung Bình (2007), Văn hóa ẩm thực của người Sán Dìu ở Việt Nam, Đề tài cấp bộ, Bộ văn hóa thông tin, Bảo tàng Văn hóa các Dân tộc Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ẩm thực của người Sán Dìu ở Việt Nam
Tác giả: Diệp Trung Bình
Năm: 2007
7. Ma Khánh Bằng (1983), Người Sán Dìu ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Sán Dìu ở Việt Nam
Tác giả: Ma Khánh Bằng
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1983
11. Bảo tàng văn hóa Dân tộc tỉnh Thái Nguyên (1978), Văn hóa các tộc người thiểu số ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa các tộc người thiểu số ở Việt Nam
Tác giả: Bảo tàng văn hóa Dân tộc tỉnh Thái Nguyên
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1978
12. Phan Huy Chú (1961), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nhà xuất bản Sử học
Năm: 1961
13. Bùi Thế Cường (2005), Bài viết “Các tổ chức xã hội ở Việt Nam” Xã hội học số 2 ( 90). 2005, Viện xã hội học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Các tổ chức xã hội ở Việt Nam” "Xã hội học số 2
Tác giả: Bùi Thế Cường
Năm: 2005
14. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người
Tác giả: Nguyễn Từ Chi
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
Năm: 1996
15. Cục văn hóa cơ sở (2008), Phong tục cưới hỏi quê tôi, Nhà xuất bản Dân tộc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục cưới hỏi quê tôi
Tác giả: Cục văn hóa cơ sở
Nhà XB: Nhà xuất bản Dân tộc Hà Nội
Năm: 2008
17. Phan Hữu Dật (1998), Một số vấn đề dân tộc ở Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dân tộc ở Việt Nam
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
18. Phan Đức Dật, Ngô Đức Thịnh, Phan Ngọc Thắng (1998), Sắc thái văn hóa địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển đất nước, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc thái văn hóa địa phương và tộc người trong chiến lược phát triển đất nước
Tác giả: Phan Đức Dật, Ngô Đức Thịnh, Phan Ngọc Thắng
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1998
19. Khổng Diễn (1995), Dân số và dân số tộc người Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và dân số tộc người Việt Nam
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 1995
20. Khổng Diễn (2005), Người Sán Chay ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Sán Chay ở Việt Nam
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc Hà Nội
Năm: 2005
21. Phan Đại Doãn (2001), Làng xã Việt Nam – Một số vấn đề kinh tế, Văn hóa xã hội, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xã Việt Nam – Một số vấn đề kinh tế
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
22. Phan Hữu Đạt (1999), Một số vấn đề dân tộc học Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề dân tộc học Việt Nam
Tác giả: Phan Hữu Đạt
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
23. Bế Văn Đẳng (1996), Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội miền núi, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế - xã hội miền núi
Tác giả: Bế Văn Đẳng
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
24. Lê Quý Đôn (1962), Vân đài loạn ngữ, Tập 1, Nhà xuất bản Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vân đài loạn ngữ
Tác giả: Lê Quý Đôn
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa Hà Nội
Năm: 1962

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Biểu 1.2. Bảng so sánh ngôn ngữ tiếng dân tộc - Tổ chức xã hội và văn hóa của người Sán Dìu ở Huyện Đại Từ, Tỉnh Thái Nguyên (1945 đến 2010)
i ểu 1.2. Bảng so sánh ngôn ngữ tiếng dân tộc (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w