Nhiệm vụ đào tạo của nhà trường phổ thông Việt Nam là hình thành những cơ sở ban đầu và trọng yếu của con người mới phát triển toàn diện, Nghị quyết hội nghị lần thứ hai của Ban chấp hàn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––––
ĐỖ ÁNH DƯƠNG
TỔ CHỨC MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA
CHO HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ TRƯỜNG VĂN HÓA I - BỘ CÔNG AN GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC BỘ MÔN TOÁN
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp giảng dạy bộ môn Toán
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Thanh Hải
THÁI NGUYÊN - NĂM 2012
Trang 2Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trịnh Thanh Hải
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Em cũng chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các đồng nghiệp và các em học sinh trường Văn hóa I – Bộ Công an đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thu thập tài liệu, khảo sát thực tế và thực nghiệm sư phạm để thực hiện luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý, trao đổi của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và các bạn học viên để luận văn được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 08 năm 2012
HỌC VIÊN
Đỗ Ánh Dương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 08 năm 2012
HỌC VIÊN
Đỗ Ánh Dương
Trang 4Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc dạy học ở nhà trường phổ thông 6
1.1.1 Mục tiêu giáo dục phổ thông 6
1.1.2 Nhiệm vụ của quá trình dạy học 6
1.2 Hình thức tổ chức dạy học ở nhà trường phổ thông 9
1.3 Đặc điểm và nhiệm vụ của môn toán ở trường phổ thông 13
1.3.1 Đặc điểm của môn toán ở trường phổ thông 13
1.3.2 Nhiệm vụ của dạy học toán ở trường phổ thông 14
1.4 Định hướng đổi mới PPDH ở trường phổ thông 15
1.4.1 Sử dụng các PPDH truyền thống theo tỉnh thần phát huy tính tích
1.4.2 Chuyển từ phương pháp nặng về sự diễn giảng của GV sang
phương pháp thiên về tổ chức cho HS hoạt động để tự lực chiếm lĩnh
Trang 51.4.4 Coi trọng việc bồi dưỡng phương pháp tự học 17
1.4.5 Coi trọng việc rèn luyện kỹ năng ngang tầm với truyền thụ kiến
1.4.6 Đổi mới kiêm tra đánh giá kết quả học tập của HS 18
1.4.7 Tăng cường sử dụng thiết bị dạy học, ứng dụng CNTT trong dạy
1.5.Tính tích cực của HS trong hoạt động học tập 19
1.5.1 Khái niệm về tính tích cực và tích cực nhận thức trong học tập 19
1.5.2 Những dấu hiệu của tính tích cực nhận thức 20
1.5.3 Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của HS 21 1.6 HĐNK trong dạy học toán ở trường phổ thông 22
1.6.2 Đặc điểm của HĐNK toán học 23
1.6.3 Mục đích, ý nghĩa của HĐNK toán học 24
1.6.4 Phương pháp dạy học ngoại khóa toán học 25 1.7 Tổng quan chung về HS các trường Văn hóa - Bộ Công an 25
1.7.1 Giới thiệu về hệ thống các trường Văn hóa - Bộ Công An 25
1.7.2 Đặc điểm của HS trường VHI - BCA 26 1.8 Điều tra thực trạng dạy học phần kiến thức Toán 12 - THPT tại
1.8.2 Thực trạng hoạt động học của HS trong các giờ học Toán 35
Chương 2: TỔ CHỨC MỘT SỐ CHỦ ĐỀ NGOẠI KHÓA
TRONG CHƯƠNG TRÌNH TOÁN 12 - THPT
38 2.1 Định hướng cho việc xây dựng các chuyên đề 38
Trang 62.3 Thiết kế các chuyên đề 40
2.3.1 Chuyên đề 1: Rèn luyện kỹ năng giải toán cho HS qua chủ đề
"Các loại điểm liên quan đến đồ thị hàm số" 40 2.2.2 Chuyên đề 2: Tổ chức hội thi “Tìm sai lầm trong lời giải toán” 63
2.2.3 Chuyên đề 3: Hướng dẫn sử dụng máy tính điện tử cầm tay
Casio FX500MS để giải toán
3.4 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sƣ phạm 101
3.4.1 Phân tích đánh giá chuyên đề 1 101
3.4.2 Phân tích đánh giá chuyên đề 2 102
3.4.3 Phân tích đánh giá chuyên đề 3 104
3.4.5 HS đánh giá về vai trò của HĐNK toán 106
Trang 7BẢNG CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 8MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Nhiệm vụ đào tạo của nhà trường phổ thông Việt Nam là hình thành những cơ sở ban đầu và trọng yếu của con người mới phát triển toàn diện, Nghị quyết hội nghị lần thứ hai của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng
sản Việt Nam khóa VIII đã khẳng định: “ Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của
giáo dục nhằm xây dựng những con người và thế hệ gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giữ gìn
và phát huy giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa của nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học
và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp có tính tổ chức kỷ luật” 16
Việt Nam ta là một nhà nước độc lập, thống nhất gồm nhiều dân tộc anh
em chung sống Đối với các dân tộc thì tình yêu quê hương, yêu dân tộc, yêu đất nước gắn bó chặt chẽ với nhau là cả một quá trình trong sự nghiệp giải phóng đất nước và xây dựng cuộc sống mới Sinh thời, Bác Hồ từng kêu gọi:
“Phải đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhau xây dựng Tổ Quốc Phải ra sức làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp”.
Thực hiện chính sách đổi mới của Đảng, nhất là từ khi có Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và Quyết định 72 của Chính phủ với các chương trình chình
có mục tiêu theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa, trong đó nhấn mạnh đến việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cơ cấu kinh tế đã tạo điều kiện cho kinh tế -
xã hội các vùng dân tộc và miền núi có một sự phát triển mới phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của từng vùng Quá trình đô thị hoá ở miền núi đã và đang khởi sắc, ở đó cư dân các dân tộc ít người đang tăng lên, đời sống dân trí
Trang 9không ngừng được nâng cao
Song song với sự phát triển kinh tế, sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá cũng đã có nhiều tiến bộ rõ rệt Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, các trường dự bị Đại học dân tộc, các lớp riêng cho con em dân tộc ít người, các trường Đại học hoặc trung học chuyên nghiệp ở Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên, Nam Bộ đã đào tạo ra nguồn nhân lực rất quan trọng cho các địa bàn miền núi, biên giới và hải đảo
1.2 Để đáp ứng được những yêu cầu mới trong giai đoạn hiện nay, đòi hỏi ngành giáo dục phải đổi mới toàn diện; Đổi mới về cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp giảng dạy và học theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá Trong hệ thống giáo dục của nước ta hiện nay thì bậc học phổ thông đóng vai trò vô cùng quan trọng Định hướng đổi mới PPDH được nêu lên
trong luật giáo dục (2005), trong đó điều 27.1 nêu rõ " Mục tiêu của giáo dục
phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ
và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách
và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc."
Mặt khác, giáo dục là một hoạt động kết hợp giữa vai trò chủ đạo của người thầy với sự tự giác, tích cực và độc lập tự giáo dục, rèn luyện của HS nhằm hình thành ý thức, tình cảm phù hợp với các chuẩn mực xã hội quy định HĐNK là một hình thức dạy học ngoài giờ lên lớp, nó có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động tự giáo dục, tự rèn luyện của HS, nó là phương tiện để phát huy năng lực và tài năng của HS, làm thức tỉnh hứng thú của các em về môn học HĐNK có nội dung phong phú, các hình thức giáo dục đa dạng, hấp dẫn, có phạm vi tiến hành rộng rãi, có khả năng kết hợp tốt các lực lượng giáo dục Chính điều này sẽ tạo hứng thú học tập, củng cố kiến
Trang 10thức, rèn luyện khả năng tư duy, ứng xử của người học, thực hiện tốt được mục tiêu giáo dục phổ thông và nhiệm vụ dạy học chung
1.3 Hệ thống các trường Văn hóa thuộc Bộ Công an gồm 3 trường phân
bố ở 3 miền Bắc, Trung, Nam Đó là hệ thống các trường chuyên biệt với sức mạnh là đào tạo văn hóa bậc THPT cho con em đồng bào các dân tộc vùng cao, nơi biên cương hải đảo tạo nguồn cho các trường Trung cấp An ninh và Học viện An ninh và sau này khi tốt nghiệp các em sẽ là những chiến sĩ Công
an công tác tại những vùng đặc biệt khó khăn, nơi biên giới hải đảo địa đầu của tổ quốc
Thực tiễn ở các trường THPT, đặc biệt là trường VHI - BCA, HĐNK môn toán nói riêng và các môn học khác nói chung ít được quan tâm và đầu
tư đúng mức Trong nhà trường phổ thông hiện nay hình thức dạy học lớp-bài vẫn được thực hiện một cách phổ biến
Trên thực tế đối với các HS THPT, đặc biệt là mô hình các trường dân tộc nội trú luôn có nhiều điều kiện thuận lợi để tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp Về thời gian, ngoài giờ học chính khóa, HS có các buổi tự học ở lớp và ở phòng có sự quản lý của GV chủ nhiệm lớp cùng các GV phụ trách Hơn nữa các em đang ở lứa tuổi ham thích hoạt động, ham thích tìm tòi, khám phá, do đó HĐNK sẽ là cơ hội để các em mở rộng kiến thức và thể hiện chính mình Những yếu tố trên là điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức các HĐNK nói chung và đặc biệt là ngoại khóa toán học
Trên cơ sở những lý do đã trình bày ở trên và để nâng cao hiệu quả trong quá trình dạy học, đồng thời góp phần phát huy tính tích cực trong nhận thức cho HS THPT nói chung và đặc biệt là HS dân tộc ít người nói riêng, tôi đã
lựa chọn đề tài “Tổ chức một số hoạt động ngoại khóa cho học sinh dân tộc thiểu số Trường Văn Hóa I - Bộ Công An góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Toán”
Trang 112 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
Thiết kế một số chuyên đề ngoại khóa nhằm tích cực hóa hoạt động học
tập của HS trong dạy học bộ môn Toán cho HS trường VHI - BCA góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
3 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Khách thể: Quá trình dạy học bộ môn toán THPT
Đối tượng ngiên cứu: Dạy học một số chuyên đề ngoại khóa trong chương trình toán THPT cho HS trường VHI - BCA
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu ta xây dựng được những chuyên đề và đưa ra được hình thức thực
hiện các chuyên đề phù hợp với đặc điểm của HS các trường Văn hóa thuộc
Bộ Công an thì sẽ góp phần tích cực hóa hoạt động học tập của HS Qua đó sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn toán và chất lượng đầu vào cho các Học viện, trường Đại học và Trung cấp của Ngành Công an
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc tổ chức dạy nói chung và dạy học ngoại khóa nói riêng
5.2 Khảo sát thực trạng việc dạy học toán tại trường VHI - BCA 5.3 Thiết kế một số chuyên đề ngoại khóa và đề xuất giải pháp cho việc
tổ chức dạy học ngoại khóa bộ môn toán tại trường VHI - BCA
5.4 Tổ chức thực hiện tại trường VHI - BCA, tổng kết và rút ra một số kết luận cần thiết cho việc dạy học ngoại khóa
6 PHẠM VI ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Giới hạn trong chương trình toán lớp 12 THPT ở trường VHI - BCA
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu lý luận: nghiên cứu các tài liệu về tâm lý học, giáo dục học, lý luận dạy học toán, các tài liệu về tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ
Trang 12lên lớp, điều tra thực tiễn
Phương pháp chuyên gia: Thăm dò ý kiến, lập phiếu điều tra
Phương pháp thực nghiệm sư phạm: thực hiện tổ chức và dạy học ngoại khóa một số phần kiến thức đã chọn và đánh giá mức độ hoàn thành của luận văn so với mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
8 CẤU TRÚC VÀ NỘI DUNG LUẬN VĂN
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo
gồm có 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương II: Tổ chức một số chuyên đề ngoại khóa toán học cho HS trường
VHI - BCA
Chương III: Thực nghiệm sư phạm tại trường VHI - BCA, kết quả đạt được
khi thực hiện các chuyên đề Kiến nghị và đề xuất
Trang 13CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Mục tiêu, nhiệm vụ, nguyên tắc dạy học ở nhà trường phổ thông
1.1.1 Mục tiêu giáo dục phổ thông
Mục tiêu giáo dục phổ thông đã được cụ thể hoá trong luật giáo dục (2005), trong đó điều 27.1 nêu rõ "Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triến năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"
1.1.2 Nhiệm vụ của quá trình dạy học
Để đào tạo con người đủ phẩm chất và năng lực thoả mãn yêu cầu xã hội, quá trình dạy học phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
Điểu khiển, tổ chức HS nắm vững hệ thống tri thức phổ thông cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn của đất nước về tự nhiên, xã hội - nhân văn, đồng
thời rèn luyện cho họ hệ thống kỹ năng, kỹ xảo tương ứng
Trong dạy học, phải tổ chức cho người học nắm vững hệ thống tri thức phổ thông cơ bản, phù hợp với thực tiễn đất nước về tự nhiên, xã hội, tư duy Những tri thức khoa học phổ thông cơ bản được cung cấp cho người học phải
là những tri thức phản ánh những thành tựu mới nhất của các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn hoá phù hợp với chân lý khách quan Trên cơ sở đó hình thành ở người học hệ thống kỹ năng, kỹ xảo nhất định như: tự học; tự nghiên cứu khoa học ở mức độ thấp; khả năng phân tích, xử lí các tình huống nhằm giúp cho người học không chỉ nắm vững tri thức khoa học mà còn biết vận dụng tri thức một cách linh hoạt, sáng tạo trong các tình huống khác nhau Vì vậy, trong quá trình dạy học cần xác định các mức độ chiếm lĩnh tri thức của
Trang 14người học ở các trình độ khác nhau từ nhận biết, tái hiện đến tái tạo, tìm tòi
và cuối cùng là khả năng kết hợp tất cả các mức độ trên
Tổ chức điều khiển người học hình thành phát triển năng lực và những phẩm chất trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy, độc lập, sáng tạo, phát triến thể lực
nâng cao sức khoẻ để phục vụ học tập và lao động
Trong quá trình dạy học, GV cần chú ý phát triển ở HS các năng lực trí tuệ sau: năng lực định hướng đúng vấn đề nghiên cứu trong thực tế; năng lực
tư duy trừu tượng; năng lực di chuyển hành động trí tuệ, dự đoán diễn biến của các hiện tượng; năng lực hoạt động nhận thức độc lập, sáng tạo Bên cạnh việc phát triển các năng lực hoạt động trí tuệ, quá trình dạy học có nhiệm vụ bồi dưỡng cho HS một số phẩm chất hoạt động trí tuệ cả về bề rộng, chiều sâu, tính độc lập, tính phê phán, tính mềm dẻo, tính năng động và tính khái quát của hoạt động trí tuệ
Như vậy, trong quá trình dạy học các phẩm chất của hoạt động trí tuệ nói riêng và trí tuệ nói chung không ngừng phát triển và hoàn thiện Ngược lại, sự phát triển trí tuệ trong chừng mực nhất định cũng ảnh hưởng trở lại đối với chất lượng quá trình dạy học Như vậy, giữa dạy học và phát triển trí tuệ có mối quan hệ mật thiết với nhau, vì vậy dạy học cần đi trước và thúc đẩy sự phát triển của người học Muốn thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của người học thì việc dạy học phải đảm bảo tính vừa sức với người học, các nhiệm vụ dạy
học phải tương thích với “vùng phát triển gần nhất” tạo điều kiện đòi hỏi
người học phải không ngừng vươn lên với sự nỗ lực cao nhất
Để phát triển trí tuệ cho HS cần chú ý tới các điều kiện sau: nắm được đặc điểm của đối tượng, đặc biệt là trình độ nhận thức của đối tượng; lựa chọn nội dung dạy học một cách khoa học và hợp lí; có phương pháp dạy học thích hợp nhằm phát huy trí thông minh của HS Bên cạnh phát triển trí tuệ, quá trình dạy học có nhiệm vụ chăm lo phát triển thể lực cho HS, giúp các em
Trang 15có sức khoẻ đế học tập và tham gia các hoạt động khác
Tổ chức điều khiển người học, hình thành phát triển thế giới quan khoa học, nhân sinh quan và các phẩm chất của người công dân, người lao động có
bản lĩnh và bản nghĩa cộng đồng
Để hình thành thế giới quan khoa học cho HS, quá trình dạy học có nhiệm vụ tổ chức, điều khiển HS nắm vững hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy Hình thành ở HS niềm tin về tính chân thực và hiệu quả của kiến thức, hình thành thái độ lành mạnh với thực tiễn, hình thành quan điểm sống tích cực Trong quá trình dạy học, GV cần giáo dục cho HS lí tưởng, những phẩm chất, nhân cách của con người mà xã hội đặt ra: yêu nước, yêu Chủ nghĩa Xã hội, có lòng thương người, có lòng tự trọng cao, có ý thức pháp luật
Giữa các nhiệm vụ dạy học có mối liên hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau cùng thực hiện mục tiêu của quá trình dạy học Nhờ nắm vững kỹ năng,
kỹ xảo mà năng lực tư duy sáng tạo của con người không ngừng được phát triển, sự phát triển của tư duy sẽ kèm theo sự phát triển của thế giới quan khoa học, nhân sinh quan và các phẩm chất đạo đức của con người từ đó hình thành con người mới đáp ứng yêu cầu của xã hội
1.1.3 Nguyên tắc dạy học
Nguyên tắc dạy học là hệ thống xác định những yêu cầu cơ bản, có tính chất xuất phát để chỉ đạo việc xác định nội dung, phương pháp và hình thức dạy học phù hợp với mục đích giáo dục, nhiệm vụ dạy học và với những tính quy luật của quá trình dạy học
Hệ thống các nguyên tắc dạy học bao gồm:
Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học
Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn, học đi đôi
Trang 16với hành, nhà trường gắn liền với đời sống
Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học
Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của HS và vai trò chủ đạo của GV trong quá trình dạy học
Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa tính trực quan với sự phát triển tư duy lí thuyết
Nguyên tắc đảm bảo tính vững chắc và sự phát triển năng lực nhận thức của HS
Nguyên tắc đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá biệt và tính tập thể trong quá trình dạy học
Nguyên tắc đảm bảo tính cảm xúc tích cực của dạy học
Nguyên tắc chuyển từ dạy học sang tự học
1.2 Hình thức tổ chức dạy học ở nhà trường phổ thông
Hình thức tổ chức dạy học là toàn bộ những cách thức tổ chức hoạt động của GV và HS trong quá trình dạy học, ở thời gian và địa điểm nhất định với những phương pháp, phương tiện dạy học cụ thể nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học
Hình thức dạy học khác nhau chủ yếu tuỳ theo mối quan hệ giữa việc dạy học có tính tập thể hay tính cá nhân, mức độ tính tự lực hoạt động nhận thức của HS, sự chỉ đạo chuyên biệt của GV đối với hoạt động học tập của
HS, chế độ làm việc, thành phần HS, địa điểm và thời gian học tập
Trong thực tế dạy học, người ta phân ra ba mô hình tổ chức dạy học: dạng toàn lớp; dạng nhóm; dạng cá nhân
Dạng toàn lớp: Mọi HS đồng thời hoàn thành những nhiệm vụ nhận thức chung
Ưu điểm: GV có thể điều khiển mọi HS, tích cực điều khiển việc lĩnh
hội tri thức, việc ôn tập và củng cố tri thức cho toàn lớp
Trang 17Hạn chế: GV khó chú ý đến đặc điểm cá nhân, đặc biệt là đến tốc độ
hoạt động và trình độ hoạt động nhận thức của mỗi HS
Dạng nhóm: Từng nhóm HS cùng giải quyết những nhiệm vụ nhận thức thống nhất Các em có thể cùng thảo luận các nhiệm vụ nhận thức, vạch
ra con đường giải quyết các nhiệm vụ đó, cuối cùng đạt kết quả chung
Ưu điểm: GV có thể chú ý tới những nhu cầu riêng của từng nhóm HS,
có thể mở ra khả năng rộng rãi để HS hợp tác hoạt động với nhau cũng như kiểm tra lẫn nhau
Ưu điểm: Phù hợp với mức độ cao nhất những đặc điểm cá nhân HS về
trình độ nhận thức, tốc độ nhận thức, tốc độ làm việc Dạng này tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi cá nhân phát huy hết tiềm năng của mình, rèn luyện năng lực nhận thức độc lập Mặt khác, đối với GV về mặt giảng dạy có thể cá biệt hoá cao độ trong việc đưa ra nhiệm vụ nhận thức, kiểm tra và đánh giá kết quả của HS
Hạn chế: Dễ làm mất nhiều thời gian, đòi hỏi GV mất nhiều công sức,
không có tác động qua lại, giúp đỡ lẫn nhau giữa các cá nhân HS
Tóm lại, mỗi dạng tổ chức dạy học đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Thực tiễn dạy học đã khẳng định rằng, muốn phát huy cao độ những tác dụng của chúng, GV cần khéo léo sử dụng phối hợp các dạng tổ chức dạy học một cách hiệu quả Các dạng tổ chức dạy học này được thực hiện thông qua các
Trang 18hình thức dạy học cụ thể
*Tổ chức dạy học ở trường phổ thông
Để thực hiện được những nhiệm vụ dạy học ở trường phổ thông, hoạt động dạy học được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau Đối với thực tiễn dạy học ở nước ta, quá trình dạy học được thực hiện bởi nhiều hình thức, có thể kể đến một số hình thức sau:
Hình thức lớp – bài : đây là hình thức dạy học cơ bản, là hình thức GV
lên lớp trình bày nội dung kiến thức của một tiết, cùng trình độ nhận thức Do
đó hình thức này có thể sử dụng để đào tạo hàng loạt HS đáp ứng yêu cầu phổ cập giáo dục như yêu cầu đào tạo công nhân lao động Hình thức này đảm bảo truyền tải đến người học những tri thức cơ bản, những kĩ năng, kĩ xảo cần thiết phục vụ cho đời sống cũng như lao động sản xuất
Tuy nhiên, hình thức này vấp phải nhược điểm là không có đủ thời gian
để HS nắm vững ngay tri thức, GV không có đủ điều kiện để chú ý đầy đủ đến đặc điểm nhận thức của từng HS, không có điều kiện để mở rộng tri thức vượt qua ngoài nội dung, phạm vi chương trình
Hình thức học ở nhà: Với hình thức này HS có thể làm được rất nhiều
công việc như học bài, làm bài, làm thí nghiệm, đọc sách tham khảo, chuẩn bị bài mới
Hình thức này có ý nghĩa quan trọng, nó giúp HS mở rộng, đào sâu, hệ thống hoá và khái quát hoá những điều đã học ở trên lớp, hoàn thiện vốn hiểu biết Ngoài ra nó còn giúp HS rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo vận dụng những tri thức đã biết vào các tình huống kể cả tình huống mới nảy sinh trong cuộc sống, trong lao động, sản xuất Hình thức tự học ở nhà còn giúp HS bước đầu nắm bắt tri thức mới bằng cách đọc trước SGK, làm trước công việc theo chỉ dẫn của GV
Tuy nhiên hình thức này đòi hỏi tính tự giác, tự lực rất cao của HS và
Trang 19đòi hỏi GV phải có những biện pháp phù hợp mới đem lại hiệu quả cao
Trước khi tham gia HĐNK, HS kiểm tra những kiến thức đã học, kết hợp với những tài liệu có liên quan đến hoạt động ngoại khoá do GV cung cấp, do đó HS có thể mở rộng kiến thức của mình cả về lí thuyết lẫn thực tế Như vậy hoạt động ngoại khoá cũng góp phần làm tư duy của HS phát triển, khả năng phân tích, và giải quyết vấn đề được nâng lên, rèn luyện khả năng lập luận cho HS
HĐNK không chỉ là một hình thức dạy học mà còn là hoạt động vui chơi
bổ ích, lành mạnh Do vậy HS sẽ hăng hái tham gia, tạo tình cảm, hứng thú với môn học
* Lưu ý khi vận dụng:
HĐNK được tổ chức trên cơ sở tự nguyện của HS nên việc thu hút các
em tích cực tham gia cũng là một vấn đề đáng quan tâm Hoạt động ngoại khoá đòi hỏi sự nỗ lực nhiệt tình tham gia của GV và HS, đòi hỏi GV phải bỏ nhiều công sức trong việc tìm chủ đề và nội dung cho hoạt động này HĐNK cần sự phối hợp giữa các tổ chức đoàn thể trong nhà trường và cả ngoài xã hội trong việc tổ chức hoạt động cũng như hỗ trợ về kinh phí
Hình thức giúp đỡ riêng
Trang 20Trong quá trình dạy học tất yếu sẽ có sự phân hóa về trình độ nhận thức
và sẽ xuất hiện loại HS là: yếu-kém, khá-giỏi mà việc dạy học được tiến hành trên cơ sở chung không thỏa mãn những HS này
Tóm lai, mỗi một hình thức dạy học đều có những ưu nhược điểm nhất định, để hoạt động dạy học đạt kết quả cao, đáp ứng nhu cầu về đổi mới giáo dục của nước ta hiện nay đòi hỏi người GV phải biết kết hợp các hình thức dạy học, lựa chọn các hình thức dạy học sao cho phù hợp với mục đích, mục tiêu đã đặt ra đối với từng cấp học, môn học
1.3 Đặc điểm và nhiệm vụ của môn toán ở trường phổ thông
1.3.1 Đặc điểm của môn toán ở trường phổ thông
Đối tượng của môn toán ở trường phổ thông là những hình dạng không gian, quan hệ số lượng, quan hệ lôgic quan trọng nhất của thế giới khách quan
Môn toán so với các môn học khác được đặc trưng bởi tính khái quát, trừu tượng cao độ của nó Thí dụ: toán học nghiên cứu hàm số cho bởi
phương trình: y = ax, là khái quát hóa mối quan hệ chung của nhiều hiện
tượng trong thực tiễn khách quan như: C2R (trong hình học), P=UI (trong điện học), M = 29đ (trong hóa học) 14
Môn toán được đặc trưng bởi tính lôgic chặt chẽ của nó, nhưng vì lý
do sư phạm, người ta không sử dụng triệt để phương pháp tiên đề để xây dựng giáo trình toán học; có nhiều vấn đề còn được thừa nhận, có những chứng minh chưa thật chặt chẽ Tuy nhiên nhìn chung các kiến thức môn toán
từ lớp 1 đến lớp 12 luôn có tính hệ thống, lôgic của nó; kiến thức học trước là
cơ sở cho kiến thức học sau; khái niệm học sau được minh họa, định nghĩa thông qua các khái niệm học trước, từ các mệnh đề này suy ra các mệnh đề khác một cách tuần tự
Về mặt phương pháp, môn toán được đặc trưng bởi sự kết hợp chặt
Trang 21chẽ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, giữa phương pháp quy nạp và phương pháp suy diễn và điều này được thể hiện ở tất cả các cấp học với từng mức độ khác nhau, với yêu cầu tăng dần
1.3.2 Nhiệm vụ của dạy học toán ở trường phổ thông
Làm cho HS nắm vững hệ thống kiến thức và phương pháp toán học cơ bản, phổ thông, theo quan điểm hiện đại và tinh thần của giáo dục kỹ thuật tổng hợp và có khả năng vận dụng được những kiến thức và phương pháp toán học vào kỹ thuật lao động, quản lý kinh tế, vào việc học các môn học khác (như vật
lý, hóa học, sinh học, kỹ thuật công nông nghiệp, công nghệ học ) Đây là nhiệm vụ rất quan trọng vì chỉ có trên cơ sở nắm vững và vận dụng được kiến thức, phương pháp toán học mới có điều kiện rèn luyện các mặt khác Hồ Chủ
Tịch đã dạy:”Cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ thông, chắc chắn,
thiết thực, thích hợp với nhu cầu về tiền đồ xây dựng nước nhà ”
Làm cho HS nắm được phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp học tập để từ đấy rèn luyện năng lực tư duy lôgic, độc lập, chính xác, linh hoạt và sáng tạo, phát triển trí tưởng tượng không gian, có tiềm lực tập dượt nghiên cứu khoa học, có khả năng tự học, có hiểu biết về nhận thức duy vật biện chứng trong toán học
Góp phần rèn luyện, giáo dục cho HS ý thức làm chủ, lòng yêu nước, yêu lao động, yêu Chủ nghĩa Xã hội (thể hiện qua động cơ hăng say học tập,
có hoài bão lớn góp sức mình cho sự nghiệp cách mạng Xã hội Chủ nghĩa, cho lý tưởng Cộng sản Chủ nghĩa, có thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan Cộng sản Chủ nghĩa), đặc biệt phải rèn luyện một số đức tính quý báu của người lao động như: cẩn thận, chính xác, cần cù, khắc phục khó khăn, làm việc có kế hoạch, có kỷ luật, năng suất cao, có kiểm tra công việc đã làm,
có ý tức tiết kiệm, trung thực, dám nghĩ dám làm, sáng tạo, làm việc hợp lý với nhiều cải tiến để có năng xuất cao
Trang 22 Bảo đảm cho mọi HS đạt yêu cầu chất lượng phổ cập về toán học, đồng thời chú trọng việc phát hiện và bồi dưỡng những HS có năng lực về toán
1.4 Định hướng đổi mới PPDH ở trường phổ thông
1.4.1 Sử dụng các PPDH truyền thống theo tinh thần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
Trong việc đổi mới PPDH, ta không phủ nhận vai trò của các PPDH truyền thống Ở một mức độ nào đó, ta phải xem xét các phương pháp này theo quan điểm mới, theo hướng tích cực hoá hoạt động của HS
Muốn vậy, GV phải kích thích được óc tò mò khoa học, ham hiểu biết của HS bằng cách tạo ra những tình huống có vấn đề Đó thường là những câu hỏi thú vị gây hứng thú học tập, tạo nhu cầu nhận thức và có thể nghiên cứu được đối với HS
Trong dạy học truyền thống, GV thường hay sử dụng kết hợp nhiều PPDH thuộc các nhóm khác nhau một cách linh hoạt Ví dụ: giảng giải kết hợp với minh hoạ, xem thí nghiệm biểu diễn kết hợp với vấn đáp
Như vậy, đổi mới PPDH không phải là phủ định hoàn toàn các PPDH truyền thống, mà sử dụng chúng theo tinh thần mới: phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
1.4.2 Chuyển từ phương pháp nặng về sự diễn giảng của GV sang phương pháp thiên về tổ chức cho HS hoạt động để HS tự lực chiếm lĩnh kiến thức và
kỹ năng
Theo PPDH truyền thống, GV là người truyền thụ kiến thức, còn HS là người tiếp thu kiến thức Ở đây, GV chủ yếu sử dụng phương pháp giảng giải kết hợp minh họa, việc sử dụng thiết bị dạy học hạn chế dẫn đến tình trạng
dạy học theo kiểu “đọc – chép” Theo phương pháp mới, GV giao cho HS
đọc, nghiền ngẫm SGK, rồi sau đó đặt câu hỏi để kiểm tra sự lĩnh hội kiến thức của các em Thông qua cách trả lời, trình bày, báo cáo mà HS được rèn
Trang 23luyện những kỹ năng và tố chất cần thiết cho mình
Theo quan niệm mới về dạy học, vai trò chủ yếu của GV là tổ chức, hướng dẫn, điều khiển hoạt động học tập của HS, giúp HS đạt được mục tiêu dạy học
GV không thuyết trình liên miên, giảng giải mọi vấn đề mà chủ động tạo điều kiện rèn luyện óc độc lập suy nghĩ và tư duy sáng tạo của HS bằng cách: tăng cường sử dụng PPDH “vấn đáp tìm tòi”; tăng cường hoạt động độc lập của HS bằng cách tạo ra các cuộc tranh luận; trao nhiệm vụ học tập ngày càng nặng dần cho HS chuyển dần từ dạy học truyền thụ kiến thức sang dạy học giải quyết vấn đề
Việc đổi mới PPDH của GV đòi hỏi HS phải đổi mới phương pháp học tập Đây là một tất yếu đòi hỏi người học phải nỗ lực, chủ động, sáng tạo trong các hoạt động nhận thức của mình Như vậy, trọng tâm đánh giá tiết dạy phải đặt vào hoạt động của HS trong tiết dạy đó
1.4.3 Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp một cách hài hoà với học tập hợp tác
Các hình thức tổ chức học tập cá nhân, theo nhóm nhỏ và theo lớp là các hình thức vẫn được áp dụng theo PPDH truyền thống Theo PPDH dạy học mới, hình thức học tập cá nhân vẫn là hình thức học tập cơ bản, có hiệu quả nhất nhưng HS phải có tinh thần học tập một cách tự giác, chủ động
Học tập hợp tác là hình thức học tập bổ trợ có tác dụng rèn luyện người học tinh thần hợp tác lao động, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, ý thức trách nhiệm với công việc chung Phối hợp chặt chẽ những nỗ lực cá nhân trong tự học với việc học tập hợp tác trong nhóm
Dạy học theo định hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HS đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ của mỗi HS trong quá trình tự lực dành lấy kiến thức mới Một trong những hình thức tăng cường hoạt động học tập của HS trên
Trang 24lớp là sử dụng phiếu học tập cho từng HS
Tuy nhiên, trong học tập không phải bất kỳ một nhiệm vụ học tập nào cũng có thể được hoàn thành bởi những hoạt động thuần tuý cá nhân Có những câu hỏi, những vấn đề đặt ra khó và phức tạp, đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các cá nhân mới có thể hoàn thành nhiệm vụ Thông qua sự hợp tác tìm tòi, nghiên cứu, thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được điều chỉnh, khẳng định hay bác bỏ; qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Đó là sự vận dụng vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi cá nhân và cả lớp
Cũng thông qua hoạt động nhóm để giáo dục cho HS tinh thần, trách nhiệm và thói quen trong lao động hợp tác theo sự phân công có kế hoạch của nhóm; biết cách lắng nghe ý kiến người khác tranh luận, ứng xử và cộng tác trong nhóm Sự hợp tác trong lao động và trong nghiên cứu là một đặc trưng quan trọng của người lao động trong xã hội mới
Như vậy, hình thức học tập cá nhân vẫn là hình thức hoạt động chủ yếu giúp HS phát triển các năng lực của mỗi cá nhân
1.4.4 Coi trọng việc bồi dưỡng phương pháp tự học
Trong xã hội hiện đại, sự bùng nổ thông tin đòi hỏi mỗi cá nhân phải nỗ lực học tập biết cách cập nhật thông tin
Việc tự học của HS là hoạt động rất cần thiết Ở đây, GV cần phải bồi dưỡng cho HS khả năng thu thập thông tin, huấn luyện cho HS cách nắm bắt nội dung chính của tài liệu học tập, đồng thời giao bài tập về nhà cho HS, có thể tính toán cân đối giữa nội dung học tập trên lớp và nội dung cần tìm hiểu
ở nhà GV cần phải quan tâm đến phương pháp học của HS, từng bước hình thành năng lực tự học để các em có thể tự bổ sung kiến thức và học thường xuyên suốt đời
Trang 251.4.5 Coi trọng việc rèn luyện kỹ năng ngang tầm với truyền thụ kiến thức
Việc rèn luyện kỹ năng là một trong những yêu cầu rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách HS Hiện nay, rất ít GV chú ý đến lĩnh vực này cho
HS Trên lớp GV cố gắng truyền đạt kiến thức mà không chú ý đến việc rèn luyện tư duy, rèn luyện kỹ năng cho HS Đổi mới PPDH cũng như kiểm tra, đánh giá coi trọng những kỹ năng, năng lực thực hành của HS GV cần phải tính toán đưa các kỹ năng vào hoạt động học tập thích hợp của HS theo một chiến lược đã được hoạch định, chuẩn bị từ trước
1.4.6 Đổi mới kiếm tra đánh giá kết quả học tập của HS
Đổi mới PPDH phải đi đôi với đổi mới đánh giá kết quả học tập của HS Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS phải căn cứ vào mục tiêu của môn học và phải phối hợp kiểm tra bằng trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan, tạo điều kiện để HS tự đánh giá kết quả học tập của mình
1.4.7 Tăng cường sử dụng thiết bị dạy học, ứng dụng CNTT trong dạy học toán
Xác định được tầm quan trọng của CNTT, Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo ngành giáo dục đào tạo sớm đưa CNTT vào các nhà trường Những năm gần đây, CNTT trong nhà trường đã được quan tâm Mục tiêu của việc học tin học trong nhà trường, mối quan hệ giữa tin học với tư cách là một môn học với việc ứng dụng CNTT trong dạy học đã dần dần được xác định rõ ràng qua các cấp học
Sử dụng CNTT để dạy học, PPDH cũng thay đổi GV là người hướng dẫn HS học tập chứ không đơn thuần là người phát thông tin đến HS GV cũng phải học tập thường xuyên để nâng cao trình độ về CNTT, sử dụng có hiệu quả CNTT trong học tập HS có thế lấy thông tin từ nhiều nguồn phong phú khác nhau như; sách, internet, CD-ROM Lúc này HS phải biết cách đánh giá và lựa chọn thông tin, không còn chỉ đơn thuần nhận thông tin một cách thụ động vì nguồn thông tin vô cùng phong phú
Trang 26Như vậy, việc sử dụng CNTT trong dạy học sẽ góp phần đổi mới PPDH trên các mặt sau đây: thực hiện học tập trong hoạt động và bằng hoạt động, tăng cường tự học trong quá trình dạy học, sử dụng luân chuyển những hình thức dạy học đa dạng, hình thành và sử dụng công nghệ dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá
Để nâng cao hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong trường THPT, một trong các giải pháp là: nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lí, GV và HS
về việc đưa ứng dụng CNTT trong quản lí giáo dục và dạy học bồi dưỡng GV các bộ môn về CNTT để họ có thể tổ chức tốt ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
Mọi công nghệ sẽ chẳng có tác dụng gì nếu người GV không phát huy
và sáng tạo nó, chỉ có GV mới đem lại sự kỳ diệu, hiệu quả
1.5 Tính tích cực của HS trong hoạt động học tập
1.5.1 Khái niệm về tính tích cực và tích cực nhận thức trong học tập
Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội, khác với động vật, con người không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có trong thiên nhiên cho sự tồn tại và phát triển của xã hội mà còn chủ động cải biến môi trường tự nhiên, cải tạo xã hội, sáng tạo ra nền văn hóa ở mỗi thời đại
Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí nhằm giải quyết những vấn đề học tập - nhận thức Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện, điều kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt động
Tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của HS đặc trưng
ở khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức
Tính tích cực học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện ở sự gắng sức cao về nhiều mặt trong hoạt động học tập Học tập là một trường hợp
Trang 27riêng của sự nhận thức, vì thế nói tới học tập tích cực thực chất là nói tới tích cực nhận thức
1.5.2 Những dấu hiệu của tính tích cực nhận thức
Chúng ta có thể nhận biết được tính tích cực trong hoạt động nhận thức của HS dựa vào nhiều dấu hiệu khác nhau Những dấu hiệu đó có thể phân chia thành các nhóm như sau:
Những dấu hiệu bên ngoài thông qua thái độ, hành vi và hứng thú:
Hứng thú nhận thức là thái độ, là sự lựa chọn của cá nhân về đối tượng nhận thức, trong đó cá nhân không chỉ dừng lại ở những đặc điểm bên ngoài của sự vật, hiện tượng, mà hướng vào các đặc tính bên trong của sự vật hiện tượng muốn nhận thức Hứng thú nhận thức là động cơ quan trọng của quá trình nhận thức và thường biểu lộ dưới dạng tính tò mò, lòng khao khát cái mới Như vậy, nhờ có hứng thú nhận thức mà HĐ nhận thức diễn ra thuận lợi hơn và hiệu quả hơn
Nhu cầu, hứng thú nhận thức được biểu hiện bằng các dấu hiệu cụ thể sau:
HS khao khát, tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của GV, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích được phát biểu ý kiến của mình về những vấn đề
đã nêu ra
HS hay nêu thắc mắc, đòi giải thích cặn kẽ những vấn đề GV trình bày chưa đủ rõ Việc đặt câu hỏi của các em thể hiện lòng ham muốn hiểu biết nhiều hơn, sâu sắc hơn về những đối tượng mà các em đang tiếp xúc
HS mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới lấy từ những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vi của bài học Thích thú, chủ động tiếp xúc với đối tượng cần nhận thức
Hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập: ghi chép cẩn thận, đầy đủ, cử chỉ khẩn trương khi thực hiện các hành động tư duy Thái độ phản ứng khi chuông báo hết tiết học: tiếc rẻ, cố làm cho xong, hay
Trang 28vội gấp sách vở, chờ được lệnh ra chơi
Những dấu hiệu bên trong:
Các em tích cực sử dụng các thao tác nhận thức, đặc biệt là các thao tác
tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức
Tích cực vận dụng vốn kiến thức và kĩ năng đã tích lũy được nhằm giải quyết các tình huống và bài tập khác nhau, đặc biệt là xử lí các tình huống mới
Phát hiện nhanh chóng, chính xác những nội dung được quan sát
Hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác hiểu ý mình
Có những biểu hiện của tính độc lập, sáng tạo trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ nhận thức, biết tìm ra các cách giải quyết khác nhau và lựa chọn cách giải quyết hay nhất
Có những biểu hiện của ý chí trong quá trình nhận thức như sự nỗ lực của bản thân, khắc phục những khó khăn để thực hiện đến cùng nhiệm vụ được giao
Thông qua kết quả học tập:
Kết quả học tập là một dấu hiệu quan trọng và có tính chất khái quát của tính tích cực nhận thức Chỉ tích cực học tập một cách thường xuyên, liên tục, tự giác mới có kết quả học tập tốt
1.5.3 Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức của HS
Phát huy tính tích cực nhận thức của HS liên quan đến nhiều yếu tố Trong đó, các yếu tố như: động cơ và hứng thú học tập, năng lực và ý chí cá nhân, không khí dạy học trong lớp đóng một vai trò quan trọng Do vậy, để phát huy được tính tích cực trong hoạt động nhận thức của HS chúng ta cần
có những biện pháp sư phạm thích hợp Trên cơ sở lí luận và thực tiễn đã nghiên cứu, chúng tôi đưa ra một số biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS:
Trang 29Vận dụng và phối hợp các phương pháp dạy học một cách có hiệu quả, đặc biệt là các phương pháp dạy học tích cực như: phương pháp thực nghiệm, phương pháp nhóm Có như vậy mới khuyến khích tính tích cực của HS trong học tập
Tạo ra và duy trì không khí dạy học trong lóp nhằm tạo môi trường thuận lợi Trong môi trường đó tâm lí HS thoải mái nên HS dễ dàng bộc lộ những hiểu biết của mình và tham gia tích cực vào quá trình dạy học
Khởi động tư duy gây hứng thú học tập cho HS HS càng hứng thú học tập bao nhiêu thì việc thu nhận kiến thức của các em càng chủ động tích cực
và chắc chắn bấy nhiêu Những vấn đề cần nhận thức nên được làm bộc lộ một cách đột ngột, bất ngờ nhằm gây ra xung đột tâm lí ở HS từ đó gây được
sự tò mò, kích thích tính hiếu kì của HS
Sử dụng nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau như: cá nhân, nhóm, tập thể lớp, khối lớp, học trong các buổi ngoại khóa, tham quan Các hình thức dạy học khác nhau sẽ tạo điều kiện cho HS phát biểu, trao đổi kiến thức, rèn luyện kỹ năng qua đó giúp HS phát triển toàn diện và tăng cường tính tích cực trong hoạt động nhận thức của HS
Kiểm tra, đánh giá cũng là một động lực quan trọng tác động đến tính tích cực trong học tập của HS Do vây, cần có những đổi mới trong hình thức cũng như nội dung kiểm tra, đánh giá HS như: sử dụng phiếu học tập để củng
cố các kiến thức và kĩ năng vừa học trong bài, tạo điều kiện cho HS đánh giá kết quả học tập lẫn nhau bằng cách sửa bài tập trên lớp, sử dụng phối hợp hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận
1.6 Hoạt động ngoại khoá trong dạy học toán ở trường phổ thông
1.6.1 Vị trí, vai trò của HĐNK
HĐNK là một trong các hình thức dạy học trong nhà trường phổ thông hiện nay Ngoại khóa toán học nói riêng và HĐNK nói chung có vai trò vô
Trang 30cùng quan trọng, góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục trên tất cả các mặt
Về giáo dục nhận thức: HĐNK giúp HS củng cố, đào sâu, mở rộng kiến
thức đã học trên lớp, ngoài ra giúp HS vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đời sống đặt ra, tạo điều kiện để học đi đôi với hành, lí luận đi đôi với thực tiễn
Về rèn luyện kỹ năng: HĐNK rèn luyện cho HS kỹ năng tổ chức, kỹ năng điều khiển, kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng sử dụng và làm bài tập thực hành
Về giáo dục tinh thần thái độ: HĐNK tạo hứng thú học tập, khơi dậy
lòng ham hiểu biết, lôi cuốn HS tự giác tham gia vào các hoạt động tìm tòi tri thức, phát huy tính tích cực nhận thức của HS
Về mặt chuyên môn: HĐNK sẽ giúp HS củng cố vững chắc thêm kiến thức cơ bản, mở rộng và hiểu sâu hơn các kiến thức có liên quan
1.6.2 Đặc điểm của HĐNK toán học
HĐNK nói chung và ngoại khóa toán học nói riêng có một số đặc điểm
Trang 31Để HĐNK đạt kết quả tốt đẹp đòi hỏi phải có sự tổ chức chặt chẽ, tỉ mỉ của GV, sự giúp đỡ của các tổ chức đoàn thể trong nhà trường, của hội cha
mẹ HS và của các tổ chức ngoài xã hội Bên cạnh đó nội dung và hình thức
tổ chức HĐNK phải đa dạng, mềm dẻo, hấp dẫn để lôi cuốn được nhiều HS tham gia
1.6.3 Mục đích, ý nghĩa của HĐNK toán học
Để nâng cao chất lượng học tập môn toán của HS, GV phải biết nâng cao
chất lượng dạy học nội khóa và biết tổ chức HĐNK của bộ môn HĐNK là một hình thức giáo dục để gắn liền hơn nữa việc giáo dục của nhà trường với việc giáo dục của xã hội, của gia đình, việc học tập trong nhà trường với việc học tập và hoạt động trong thực tiễn
Nhằm hỗ trợ cho dạy học chính khóa, thể hiện ở 5 nhiệm vụ sau:
Gây hứng thú học tập môn toán: HĐNK với nội dung phong phú và hình thức hấp dẫn sẽ kích thích và nâng cao hứng thú học toán cho HS, gây một không khí học tập toán tốt trong nhà trường phổ thông Đó là một trong những điều kiện đảm bảo kết quả học tập tốt
Bổ xung, đào sâu và mở rộng kiến thức học ở chính khóa: Với thời gian có hạn, việc dạy học nội khóa phải dừng lại ở nội dung nhất định Yêu cầu có thể được nâng cao, kiến thức nội khóa có thể được bổ sung, đào sâu,
mở rộng bằng con đường ngoại khóa (lịch sử hình học, đại số, phương pháp tiên đề, hình học phi Ơcơlit ) Như vậy, ngoại khóa giúp cho GV-HS có điều kiện củng cố kiến thức nội khóa, bổ sung một số điểm cần thiết, trong chừng mực nào đó có thể mở rộng phạm vi kiến thức trong chương trình
Tạo điều kiện gắn nhà trường với xã hội, lý luận liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành: Với hình thức ngoại khóa, thầy và trò có nội dung mềm dẻo hơn, phóng khoáng hơn; có phương pháp sinh động hơn; có tổ chức linh hoạt hơn; thời gian đỡ gò bó hơn Do đó, có điều kiện thâm nhập cuộc sống, tăng
Trang 32cường thực hành, góp phần thực hiện nguyên lý giáo dục tổng hợp và toàn diện
Rèn luyện tư cách làm việc tập thể: Nhiều HĐNK có hình thức tập thể; có phân công, phân nhiệm, có người chỉ huy, điều khiển, có người phục tùng thực hiện, GV-HS có nhiều điều kiện để trao đổi nhiều hơn, GV có điều kiện kiểm tra, đôn đốc Như vậy nhờ ngoại khóa mà tăng cường giáo dục cho HS thói quen độc lập trong học tập, tính chủ động, tính sáng tạo, tính tập thể trong học tập và công tác
Tạo điểu kiện phát triển và bồi dưỡng năng lực cá nhân: Thông qua HĐNK, GV có thể phát hiện được những HS có khả năng toán học (thể hiện trước hết ở sự say mê toán học, ở khả năng phát hiện và giải quyết những vấn
đề toán học nảy sinh trong lý thuyết cũng như trong thực tiễn) Từ đó, GV có
kế hoạch bồi dưỡng năng lực toán học cho HS
1.6.4 Phương pháp dạy học ngoại khóa toán học
Phương pháp dạy học ngoại khóa toán học thường có tính mềm dẻo, không cứng nhắc, tùy thuộc vào nội dung ngoại khóa, trình độ của GV và của HS Tuy nhiên phương pháp dạy học ngoại khóa toán học phải dựa trên các định hướng của chiến lược dạy học nói chung và tuân theo các nguyên tắc sau:
Cần phải lập kế hoạch ngoại khóa hết sức chi tiết ngay từ sớm, đủ để các nhóm có thời gian chuẩn bị
Tổ chức ngoại khóa cần dựa trên tính tự nguyện, hứng thú của HS đảm bảo HS yêu thích công việc của mình và phát huy được sự sáng tạo của họ
Đảm bảo tính nghiêm túc, nhẹ nhàng, nhưng không tùy tiện Nhóm ngoại khóa cần phải có tổ chức chặt chẽ, có kế hoạch làm việc cụ thể để tránh tình trạng nhàm chán, không hứng thú Vì vậy đòi hỏi mỗi nhóm ngoại khóa cần có một nhóm trưởng với tư cách là hạt nhân của nhóm
1.7 Tổng quan chung về HS các trường Văn Hóa thuộc Bộ Công an
1.7.1 Giới thiệu về hệ thống các trường Văn hóa thuộc Bộ Công An
Trang 33Hệ thống các trường Văn hóa thuộc Bộ Công an gồm 3 trường: Trường Văn hóa I nằm trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Trường Văn hóa II nằm trên
địa bàn tỉnh Tiền Giang và Trường Văn hóa III nằm trên địa bàn tỉnh Đắclắc
Trường VHI - BCA tiền thân là trường Hạ sỹ quan Công an III được thành lập ngày 30/7/1976 theo Quyết định số 2581/NV- QĐ của Bộ trưởng
Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) trên cơ sở hợp nhất trường đào tạo cán bộ Công an Tây Bắc với trường đào tạo cán bộ Công an Việt Bắc Trải qua 36 năm xây dựng và trưởng thành, nhà trường đã đào tạo được trên 7000 HS thuộc 26 dân tộc thiểu số, tạo nguồn cán bộ cho Công an các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc, góp phần xây dựng lực lượng CAND ngày càng trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa Với những thành tích trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, nhà trường đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều bằng khen, cờ và huân chương cao quý như: Huân chương chiến công hạng nhất, Huân chương Quân công hạng ba, Huân chương bảo vệ
Tổ quốc hạng nhất
Chức năng, nhiệm vụ hiện nay của trường là đào tạo hoàn thiện văn hoá THPT cho HS người dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc, con các liệt sĩ CAND và con các liệt sĩ trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Đồng thời hướng nghiệp theo ngành Công an để HS theo học tiếp trong Học viện An ninh nhân dân và Trung cấp An ninh nhân dân
Mục tiêu đào tạo của trường nhằm giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật Đồng thời giáo dục để HS yên tâm
học tập và phục vụ lâu dài trong lực lượng Công an nhân dân
1.7.2 Đặc điểm của HS trường VHI- BCA
Như đã giới thiệu ở trên, đa số HS của trường là người dân tộc tiểu số
Trang 34nên chất lượng học tập phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm tâm lí của HS Qua các kết quả nghiên cứu đã được công bố thì đặc điểm tâm lí của HS dân tộc ít người được thể hiện như sau:
Về trình độ tư duy
Do sống từ nhỏ trong không gian rộng, tiếp xúc nhiều với thiên nhiên, nên nhận thức cảm tính của HS dân tộc phát triển khá tốt Cảm giác, tri giác của các em có những nét độc đáo tuy nhiên còn thiếu tính toàn diện, cảm tính
mơ hồ không thấy được cái bản chất bên trong của các sự vật, hiện tượng Quá trình tri giác thường gắn với hành động trực tiếp, sờ mó, gắn với màu sắc hấp dẫn của sự vật đã tạo ra hưng phấn xúc cảm ở HS Nhận thức lý tính của
HS dân tộc còn kém phát triển Chịu khó học tập nhưng không sâu sắc, chỉ nhận thức hiện tượng bên ngoài, không nhận thức rõ được cái bên trong của hiện tượng, cũng không nâng đến sự khách quan khoa học hợp với lôgic Các
em chỉ biết được cái bày ra trước mắt và cái đã xuất hiện trước mắt các em, nhưng các em chưa độc lập suy nghĩ về bản chất của vấn đề đó Vì thế các em chỉ tiếp thu một cách thụ động, thiếu tính tích cực bên trong, nhận xuông ý kiến mà không chịu tìm tòi cơ sở khoa học của nó Nhờ vào việc tổ chức các hình thức học tập đa dạng như: tham quan, ngoại khoá, nghiên cứu tài liệu, tăng cường cách dạy học trực quan sẽ làm tăng hiểu biết cho HS, uốn nắn lệch lạc, tạo ra phương pháp nhận thức cảm tính tích cực làm tiền đề cho nhận thức ở mức độ chính xác hơn, cao hơn
Đặc điểm nổi bật trong tư duy của một số HS dân tộc là thói quen lao động trí óc chưa bền, ngại suy nghĩ ngại động não Trong học tập, nhiều em không biết lật đi lật lại vấn đề, phát hiện thắc mắc, suy nghĩ thiếu sâu sắc về vấn đề học tập Nhiều em không hiểu bài nhưng không biết mình không hiểu
ở chỗ nào Các em có thói quen suy nghĩ một chiều, dễ thừa nhận những điều người khác nói Khi nêu kết luận về một vấn đề, HS dân tộc ít đi sâu tìm hiểu
Trang 35nguyên nhân, ý nghĩa hoặc những diễn biến và hậu quả của vấn đề đó Có thể thấy tư duy của HS dân tộc còn kém nhanh nhạy và linh hoạt, khả năng thay đổi giải pháp chậm, nhiều khi máy móc dập khuôn Có thể sống trong điều kiện tự cấp tự túc, cuộc sống ít va chạm, ít phức tạp, ít giao tiếp, nên HS dân tộc thường thoả mãn với những cái có sẵn, ít động não đổi mới, khả năng độc lập tư duy và óc phê phán còn hạn chế, khả năng tư duy trực quan hình ảnh của HS dân tộc tốt hơn khả năng tư duy trừu tượng - logic Những vấn đề đòi hỏi phải suy nghĩ trừu tượng và phức tạp, các em gặp khó khăn một phần do vốn ngôn ngữ phổ thông bị hạn chế
Từ sự phân tích đặc điểm nhận thức của HS dân tộc qua các kết quả nghiên cứu của một số nhà khoa học đã cho thấy: khả năng tư duy kinh nghiệm của HS dân tộc đạt mức cao so với trình độ chung của lứa tuối; khả năng tư duy lý luận còn thấp so với yêu cầu; trình độ các thao tác tư duy, khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát nhiều khi thiếu toàn diện, hệ thống Tri thức, thói quen được hình thành bằng con đường kinh nghiệm ảnh hưởng đến quá trình tiến hành các thao tác trí tuệ của HS dân tộc Đồng thời, những đặc điểm của quá trình nhận thức của HS dân tộc chi phối mạnh mẽ các thuộc tính tâm lý khác như: khả năng ghi nhớ có chủ định chậm được hình thành, khả năng tự điều chỉnh ghi nhớ có ý thức của HS còn yếu Do kinh nghiệm nghèo nàn, nên tưởng tượng của HS dân tộc còn mờ nhạt, thiếu sinh động
Về mặt tình cảm
Thông qua các hoạt động và giao tiếp ở những tình huống khác nhau, cảm xúc thái độ của HS dân tộc bộc lộ một cách khá sâu sắc Trong quan hệ cộng đồng, quan hệ xã hội, các em coi trọng tín nghĩa, thẳng thắn, yêu ghét rạch ròi Tình cảm của HS dân tộc thầm kín, ít biểu hiện ra ngoài một cách mạnh mẽ Tình bạn của các em rất bền vững, gắn bó, ít thay đổi, do vậy các nhóm hình thành từ địa phương khi học trường phổ thông vẫn bền vững có
Trang 36tác động nhiều mặt đến sự phát triển nhân cách HS HS dân tộc rất gắn bó với quê hương, làng bản, muốn thoát ly, bay nhảy nhưng khi xa quê lại nhớ nhung da diết Nhìn chung, HS dân tộc ưa chuộng tình cảm và muốn được giải quyết vấn để bằng tình cảm Đây là đặc điểm cẩn chú ý trong công tác chủ nhiệm, công tác quản lý, giáo dục
Sự phát triển nhân cách của HS dân tộc lứa tuổi THPT đã tương đối ổn định Lứa tuổi của HS dân tộc so với người Kinh có trội hơn về thể lực, sức khoẻ Mặc dầu chịu ảnh hưởng từ nhỏ điều kiện sống khó khăn, nhưng HS dân tộc có tính cách riêng, yêu lao động, quý trọng tình thầy trò, tình bạn, trung thực, dũng cảm Bên cạnh những HS rụt rè, mặc cảm, tự ti, nhiều em có lòng vị tha, ham hiểu biết, đặc biệt là ý chí phấn đấu theo tấm gương HS dân tộc thường nghĩ thế nào thì nói như thế, không có chuyện thêm bớt, có lòng tự trọng cao nhưng hay bảo thủ, tự ái Trong lối sống, các em ưa phóng khoáng,
tự do, không thích gò bó, nhiều thói quen chưa tốt như tác phong lề mề, chậm chạp, thiếu ngăn nắp ảnh hưởng đến công tác giáo dục, dạy học khi các em học ở trường phổ thông, cũng như khi học ở các trường chuyên nghiệp
Đặc điểm nhu cầu
Sự phát triển nhu cầu của HS dân tộc cũng diễn ra theo quy luật chung:
từ những quá trình và chức năng trực tiếp thành gián tiếp từ không chủ định thành chủ định, từ chưa có ý thức trở thành có ý thức Quá trình hình thành nhu cầu, động cơ học tập không tách rời phương pháp, biện pháp tổ chức học tập Do đó, mọi hoạt động của HS dân tộc, dưới sự chỉ đạo của người thầy phải xác định HS là chủ thể của hoạt động học tập Trong các hình thức tổ chức học tập, coi trọng thực hành, tổ chức học tập độc lập, dạy học trực quan,
sử dụng tối đa lợi thế môi trường trường giáo dục hiện nay
Đối với HS dân tộc nhu cầu được khen, có được uy tín trước bạn bè, hoặc nhu cầu được chơi, hoạt động ngoại khoá đều có tác dụng tích cực đối
Trang 37với hoạt động học tập của HS dân tộc Do vậy, việc mở rộng phạm vi nhu cầu qua các hoạt động như: tổ chức hoạt động tập thể, lao động, vui chơi, giao lưu hoạt động xã hội, văn hóa thể thao là tiền đề nảy sinh nhu cầu mới-nhu cầu nhận thức Tổ chức học tập theo các hình thức khác nhau như tự học, học ngoài giờ chính khóa, học qua tình huống, học qua HĐNK đều có tác dụng
bổ xung tri thức, mở ra những nhu cầu mới cho HS dân tộc
Đặc điểm giao tiếp
Tính tích cực trong giao tiếp của HS dân tộc chưa cao Trong việc thiết lập quan hệ mới, HS dân tộc gặp khó khăn, thiếu chủ động Do đặc điểm nhận thức còn hạn chế, khả năng ngôn ngữ bị chi phối, đã hình thành cho HS dân tộc thái độ giao tiếp thờ ơ (mặc dù bên trong khá tích cực), các em không biết
sử dụng giữa ngôn ngữ và cử chỉ, biểu cảm thái độ đúng lúc đúng chỗ Trong học tập, HS dân tộc còn bị động trong cách học, ngại trao đổi với bạn bè, thầy
cô Giữa nhu cầu nhận thức của HS dân tộc với nhu cầu giao tiếp nhiều khi thiếu thống nhất HS dân tộc mong muốn được đánh giá tốt, được khen nhưng ngại bộc lộ mình, ngại nói, ngại viết, thích mở rộng tầm nhìn, ham hiểu biết nhưng ngại suy nghĩ về các vấn đề trừu tượng
HS dân tộc có lối nói, cách nghĩ, hành vi với những nét riêng Trong giao tiếp, các em thiếu mềm mỏng, bộc lộ cảm xúc rõ rệt song thiếu kỹ năng định vị Khi giao tiếp với người thân, với bạn là thẳng thắn, bình đẳng, lời nói
ít quan tâm đến chủ ngữ, hay nói trống không Mặc dù cư trú xen kẽ với nhiều dân tộc khác, tiếp xúc với nhiều nguồn ảnh hưởng, song không làm biến đổi lớn về phong cách giao tiếp của HS dân tộc Phương tiện giao tiếp chủ yếu của HS dân tộc trong trường phổ thông hiện nay là dùng tiếng Việt
Do vốn từ hạn chế, khả năng diễn đạt trôi chảy chưa phải là phổ biến đối với hầu hết HS dân tộc, nên nhiều em ngại tiếp xúc, thiếu mạnh dạn trong trao đổi thông tin Trên lớp, các em ngại phát biểu, thảo luận, bảo vệ ý kiến vì sợ sai
Trang 38và xấu hổ
Trong học tập và giao tiếp, cường độ tiếp xúc của HS dân tộc cũng nhiều hơn so với HS các trường khác Do tính chất nội trú cùng những đặc điểm quản lý tập trung cho nên giờ tự học, sinh hoạt của HS dân tộc có sự giao tiếp thường xuyên với các lực lượng giáo dục Toàn bộ hoạt động diễn ra trong 24 giờ trên ngày, trong không gian nội trú là một môi trường giao tiếp
sư phạm có ý nghĩa lớn đối với HS dân tộc Đây là nét đặc thù của trường phổ thông dân tộc nội trú, khác với các hệ trường phổ thông khác không có được nét đặc thù này
Từ những đặc điểm trên chúng tôi nhận thấy cần phải bù đắp những lỗ hổng kiến thức cho HS, đặc biệt là kiến thức toán bằng nhiều con đường khác nhau trong đó có HĐNK toán học
1.8 Điều tra thực trạng dạy học phần kiến thức Toán 12 - THPT tại trường Văn hóa I - Bộ Công an
Mục tiêu điều tra
Tìm hiểu thực tế tình hình dạy học môn Toán tại trường VHI - BCA để phát hiện những điểm còn hạn chế cả về phương pháp và phương tiện dạy học Những khó khăn còn tồn tại của GV trong việc tổ chức các hoạt động học tập ngoại khóa cho bộ môn Toán
Tìm hiểu rõ sự khác biệt về điều kiện học tập và sinh hoạt của HS dân tộc nội trú so với các HS của các trường THPT khác Đây là một căn cứ để chúng tôi xây dựng nội dung, hình thức tổ chức và dự kiến phương pháp dạy học ngoại khóa phần kiến thức Toán 12 - THPT nhằm phát huy tính tích cực nhận thức cho HS
Phương pháp điều tra
Điều tra GV và HS, điều tra bằng phiếu, trao đổi trực tiếp, thăm lớp, dự giờ Thăm quan cơ sở vật chất của nhà trường, thăm quan phòng học chuyên
Trang 39dùng, thư viện để tìm hiểu về tình hình cơ sở vật chất phục vụ cho bộ môn Tìm hiểu điều kiện học tập và sinh hoạt của các em HS
Đối tượng điều tra
Chúng tôi đã phát phiếu thăm dò, trao đổi với các đồng chí là GV trong nhà trường và các em HS khối 12 thuộc trường VHI - BCA
1.8.1 Kết quả điều tra
Cơ sở vật chất của nhà trường:
Nhà trường gồm có 02 nhà lớp học 5 tầng, 1 hội trường lớn 700 chỗ ngồi đảm bảo cho các hoạt động tập thể, có 3 phòng học chuyên dùng với đầy đủ trang thiết bị, có 4 phòng máy vi tính và 1 thư viện đảm bảo cho GV, HS tham gia học tập, tra cứu tài liệu Có sân điều lệnh và sân bóng đá rộng rãi Khu ký túc xá của HS sạch sẽ, có nhà ăn tập thể rộng rãi, thoáng mát đảm bảo vệ sinh Nhà hiệu bộ có đầy đủ các phòng ban: phòng ban giám hiệu, phòng đào tạo, phòng tổ chức, phòng dành cho các tổ chuyên môn
Quy mô năm học 2011-2012:
- Tổng số lớp: 21 lớp trong đó: Khối 12: 6 lớp
Khối 11: 7 lớp
Khối 10: 8 lớp
- Tổng số HS toàn trường : 823 HS trong đó:
( HS dân tộc thiểu số: 821 HS; HS khối 12: 251 HS)
Chất lượng giáo dục học kỳ 1 năm học 2011 – 2012:
Kết quả xếp loại hạnh kiểm Kết quả xếp loại học lực
Tốt: 561 / 823 = 68,17% Giỏi: 21 / 823 = 2,55%
Khá: 197 / 823 = 23,94% Khá: 311 / 823 = 37,79% Trung bình: 47 / 823 = 5,71% Trung bình: 378 / 823 = 45,93% Yếu, kém: 18 / 823 = 2,19% Yếu, kém: 1113 / 823 = 13,73%
Trang 40
* Cơ cấu đội ngũ GV và phương pháp dạy học
- Tổng số cán bộ GV: 62 GV
- GV trực tiếp giảng dạy: 62 GV
+ Trình độ: Thạc sỹ: 18 GV
Đại học: 44 GV + Biên chế 100% trong đó GV nữ: 42 GV
+ GV là dân tộc thiểu số: 12 GV
100% GV nhà trường được đào tạo chính quy, có trình độ chuyên môn tốt Nhiều GV đã có nhiều năm giảng dạy, tâm huyết với nghề, chuyên môn vững vàng Một số GV trẻ tuy chưa có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy nhưng có trình độ chuyên môn tốt, năng động trong công việc, phát huy tốt việc áp dụng CNTT trong giảng dạy
Phương pháp dạy học
GV bước đầu đã tiếp cận với phương pháp lấy HS làm trung tâm, tuy nhiên vẫn còn sử dụng phương pháp thuyết trình là chủ yếu Phần lớn GV chủ yếu dạy đơn thuần theo sách giáo khoa, chưa tạo được tình huống làm nảy sinh vấn đề cho HS, cách đặt câu hỏi chưa có chất lượng, chưa có nhiều câu hỏi định hướng phát triển tư duy cho HS, các câu hỏi thường lắt nhắt hay quá đơn giản hoặc quá khó, đưa ra không đúng lúc, do đó chưa tạo được hứng thú,
cơ hội cho HS tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề cơ bản của bài học
Việc sử dụng phương tiện dạy học hiện đại chưa thực sự hiệu quả, đặc biệt là các phần mềm dạy toán
Môi trường nội trú rất thuận lợi cho tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp Tuy nhiên, việc tổ chức hoạt động học tập ngoài giờ lên lớp cho HS còn nghèo nàn, chưa phong phú đa dạng, đôi khi chỉ mang tính hình thức không kích thích được hứng thú học tập của HS