Nấm KSCT thuộc chi Cordyceps là các loài nấm quý, có giá trị dược liệu cao có tác dụng chữa trị được rất nhiều các loại bệnh như: Tăng tuổi thọ, kiệt sức, tăng sức mạnh trong vận động,
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
TÔ QUANG HUYÊN
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI NẤM KÝ SINH CÔN TRÙNG TẠI KHU RỪNG DI TÍCH LỊCH SỬ VÀ CẢNH QUAN MÔI TRƯỜNG
MƯỜNG PHĂNG, HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, Năm 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chƣa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã đƣợc cảm ơn Các thông tin, tài liệu trong luận văn này đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Trang 3quý báu và hiệu quả đó
Trước tiên, tác giả xin đặc biệt cảm ơn PGS.TS Phạm Quang Thu - người hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học và các thầy, cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy, cung cấp kiến thức và giúp đỡ tác giả hoàn thành khoá học
Tác giả cũng xin cảm ơn Lãnh đạo Ban quản lý khu rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng và địa phương nơi tôi thực hiện nghiên cứu đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Tỉnh Điện Biên, UBND huyện và các phòng, ban của huyện Điện Biên, UBND các xã thuộc huyện, TP.Điện Biên Phủ, Điện Biên, Điện Biên Đông, Mường Ảng và một số hộ nông dân trên địa bàn xã Mường Phăng đã tạo điều kiện, cung cấp thông tin và số liệu giúp tác giả hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012
Tác giả
Tô Quang Huyên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN iii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu, đối tượng, giới hạn nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài 29
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3
1.1.1.1 Nghiên cứu về phân loại, thành phần loài nấm KSCT 3
1.1.1.2 Nghiên cứu về thành phần hóa học của nấm ký sinh côn trùng 4
1.1.1.3 Nghiên cứu về giá trị dược liệu của nấm KSCT 6
1.1.1.4 Nghiên cứu về nuôi trồng thể quả trên giá thể và nuôi cấy sinh khối hệ sợi 11 1.1.1.5 Thị trường và giá 12
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 13
1.1.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài nấm KSCT 13
1.1.2.2 Nghiên cứu về thành phần hóa học và giá trị dược liệu của nấm KSCT 14
1.1.2.3 Nghiên cứu về nuôi trồng thể quả 16
1.1.3 Nhận xét đánh giá từ các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và Thê Giới 16
1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu 18
1.2.1 Quá trình hình thành Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng 18
1.2.2 Đặc điểm tự nhiên 19
1.2.2.1 Vị trí địa lý 19
1.2.2.2 Địa hình và thổ nhưỡng 19
1.2.2.3 Khí hậu và thủy văn 22
1.2.2.4 Nguồn tài nguyên rừng và những kết quả hoạt động chủ yếu 23
1.2.3 Đặc điểm xã hội 24
1.2.3.1 Đặc điểm và phân bố dân cư 24
1.2.3.2 Hiện trạng sản xuất 25
1.2.3.3 Cơ sở hạ tầng và y tế, văn hóa - giáo dục 26
1.2.4 Nhận xét về khu vực nghiên cứu 28
CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
Trang 52.1 Nội dung nghiên cứu 30
2.1.1 Điều tra thu mẫu và giám định nấm KSCT tại Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng 29
2.1.2 Đánh giá đa dạng sinh học các loài nấm KSCT tại Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng 30
2.1.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài nấm phổ biến nhất trong vùng 30
2.1.4 Đề xuất hướng bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển một số loài nấm quý 30
2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Quan điểm và cách tiếp cận trong nghiên cứu 31
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu chung 31
2.2.3 Công tác chuẩn bị 31
2.2.4 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 32
2.2.4.1 Điều tra thu mẫu và giám định nấm KSCT tại Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên 32
2.2.4.2 Đánh giá đa dạng sinh học các loài nấm KSCT tại Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng 33
2.2.4.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài nấm 35
2.2.4.4 Đề xuất hướng bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển một số loài nấm quý 37
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
3.1 Kết quả điều tra thu mẫu và giám định nấm KSCT tại Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng, Điện Biên 38
3.1.1 Kết quả thu mẫu nấm KSCT tại Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng 38
3.1.2 Thành phần loài nấm KSCT của khu vực nghiên cứu 52
3.1.3 Mô tả đặc điểm hình thái các loài nấm tại Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng 53
3.1.3.1 Nấm Bạch cương Beauveria bassiana Vuill 53
3.1.3.2 Nấm Cordyceps nutans Pat 54
3.1.3.3 Nấm Cordyceps sphecocephala Berk & M.A Curtis 56
3.1.3.4 Nấm Cordyceps elongatostromata Kobayasi & Shimizu 57
3.1.3.5 Nấm Cordyceps crinalis Ellis ex Lloyd 58
Trang 63.1.3.6 Nấm Cordyceps prolifica Kobayasi 58
3.1.3.7 Nấm Cordyceps pseudomilitaris Hywel-Jones & Sivichai 59
3.2 Đánh giá đa dạng sinh học các loài nấm KSCT tại Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng 60
3.2.1 Đa dạng về thành phần loài, tần suất xuất hiện 60
3.2.2 Đa dạng về phân bố 62
3.2.2.1 Phân bố theo loại hình rừng 62
3.2.2.2 Phân bố theo độ cao 64
3.2.2.3 Phân bố theo độ tàn che 67
3.2.2.4 Phân bố theo thời gian trong năm 69
3.2.3 Đa dạng về ký chủ 71
3.2.4 Đa dạng về giá trị sử dụng và giá trị dược liệu 73
3.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài nấm Cordyceps nutans 74
3.3.1 Phân lập thuần khiết nấm 74
3.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ không khí đến sự sinh trưởng của hệ sợi nấm Cordyceps nutans 75
3.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm không khí đến sự sinh trưởng của hệ sợi nấm Cordyceps nutans 76
3.3.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của pH môi trường đến sự sinh trưởng của hệ sợi nấm Cordyceps nutans 78
3.3.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng tới sinh trưởng của hệ sợi Cordyceps nutans 79
3.4 Đề xuất hướng bảo tồn, phát triển và khai thác, sử dụng một số loài nấm quý 80 3.4.1 Nguyên tắc quản lý và bảo tồn 81
3.4.2 Các giải pháp cụ thể 82
3.4.2.1 Về công tác bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng 82
3.4.2.2 Về khai thác và sử dụng 85
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 86
4.1 Kết luận 86
4.2 Tồn tại 86
4.3 Khuyến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng1-1:Tổng hợp diện tích các loại đất trên địa bàn xã Mường Phăng 21
Bảng 1-2: Các chỉ tiêu khí hậu trên địa bàn xã Mường Phăng 22
Bảng 1-3: Chi tiết dân số, dân tộc thuộc Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng 24
Bảng 1-4: Nghề nghiệp và số hộ nghèo Khurừng DTLS&CQMT Mường Phăng 26
Bảng 3.1: Ký hiệu, đặc điểm các mẫu thu được tại Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng 38
Bảng 3-2: Thành phần loài nấm KSCT thu được tại Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng 53
Bảng 3-3: Đa dạng về thành phần loài và Tần suất xuất hiện của nấm KSCT 61
Bảng 3-4: Phân bố theo loại hình rừng của các loài nấm KSCT 63
Bảng 3-5: Tổng hợp phân bố theo độ cao của các loài nấm KSCT 65
Bảng 3-6: Phân bố theo độ tàn che của các loài nấm KSCT 68
Bảng 3-7: Số lượng nấm KSCT thu được theo thời gian 70
Bảng 3-8: Tỷ lệ thành phần Bộ côn trùng ký chủ của các loài nấm KSCT 71
Bảng 3-9: Xác định loài nấm KSCT trên bộ côn trùng ký chủ 73
Bảng 3-10: Phân loại giá trị sử dụng của các loài nấm KSCT 74
Bảng 3-11 Sinh trưởng của hệ sợi nấm dưới ảnh hưởng của nhiệt độ không khí 76
Bảng 3-12: Sinh trưởng của hệ sợi nấm dưới ảnh hưởng của độ ẩm không khí 77
Bảng 3-13: Sinh trưởng của hệ sợi nấm dưới ảnh hưởng của pH môi trường 78
Bảng 3-14: Sinh trưởng của hệ sợi nấm trên môi trường dinh dưỡng khác nhau 79
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1a: Mẫu nấm Beauveria bassiana 54
Hình 1b: Bào tử nấm Beauveria bassiana 54
Hình 2a: Mẫu nấm Cordyceps nutans còn non Error! Bookmark not defined Hình 2b: Mẫu nấm Cordyceps nutans trưởng thành 55
Hình 3a: Mẫu nấm Cordyceps sphecocephala 56
Hình 3b: Chi tiết thể quả nấm Cordyceps sphecocephala 56
Hình 4a: Mẫu nấm Cordyceps elongatostromata 57
Hình 4b: Chi tiết thể quả nấm Cordyceps elongatostromata 57
Hình 5a: Mẫu nấm Cordyceps crinalis 58
Hình 5b: Bào tử nấm Cordyceps crinalis 58
Hình 6a: Bào tử nấm Cordyceps prolifica 59
Hình 6b: Mẫu nấm Cordyceps prolifica 59
Hình 7a: Mẫu nấm Cordyceps pseudomilitaris 60
Hình 7b: Bào tử nấm Cordyceps pseudomilitaris 60
Hình 08: Biểu đồ tần suất xuất hiện của các loài nấm KSCT 61
Hình 09: Biểu đồ nấm KSCT thu được theo loại hình rừng 63
Hình 10: Biểu đồ phân bố nấm KSCT thu được theo độ cao 66
Hình 11: Biểu đồ phân bố nấm KSCT theo độ tàn che 68
Hình 12: Biểu đồ tỷ lệ % thành phần côn trùng ký chủ của các loài nấm KSCT 72
Hình 13: Hệ sợi nấm Cordyceps nutans 75
Hình 14: Thể quả nấm Cordyceps nutans hình thành trên giá thể nhân tạo 85
Trang 910 C nutans Cordyceps nutans
11 C.sphecocephala Cordyceps sphecocephala
12 C.elongatostromata Cordyceps elongatostromata
13 C.crinalis Cordyceps crinalis
14 C.prolifica Cordyceps prolifica
15 C.pseudomilitaris Cordyceps pseudomilitaris
19 MP 01 - 223 Ký hiệu số lƣợng nấm thu đƣợc
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Nấm ký sinh côn trùng (KSCT) là một nhóm đặc biệt trong giới nấm, nó góp một phần không nhỏ giữ vai trò ổn định trong hệ sinh thái rừng và đem lại lợi ích rất lớn cho con người Nấm KSCT, đó là hiện tuợng nấm xâm nhiễm vào cơ thể côn trùng hút hết chất dinh dưỡng làm cho chúng chết Đây là loài nấm đã và đang được nghiên cứu ứng dụng trong các ngành sản xuất Nông, Lâm nghiệp để sản xuất thuốc
trừ sâu sinh học Nấm KSCT thuộc chi Cordyceps là các loài nấm quý, có giá trị
dược liệu cao có tác dụng chữa trị được rất nhiều các loại bệnh như: Tăng tuổi thọ, kiệt sức, tăng sức mạnh trong vận động, điền kinh và thuốc chống ung thư,…Thành phần hóa học của các loài nấm này chứa rất nhiều axit amin không thể thay thế được nên chúng là một loại thuốc bổ rất có giá trị, hiện đã và đang được nuôi trồng
ở nhiều nước trên thế giới nhất là ở Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc…Tuy nhiên, trên thực tế, giá trị của nhiều loại nấm nói chung và nấm KSCT nói riêng còn chưa được biết đến Để góp phần bảo tồn và nghiên cứu ứng dụng các loài nấm KSCT trong y dược các loài nấm KSCT để chăm sóc sức khỏe con người
Nấm KSCT, có nhóm nấm thuộc chi Cordyceps còn gọi là Đông trùng hạ
thảo với nghĩa là các loài nấm ký sinh trên sâu non, nhộng hoặc sâu trưởng thành của một số loài côn trùng Vào mùa đông, sâu non, sâu trưởng thành của một số loài nằm dưới đất hoặc ở trên mặt đất, bị nấm KSCT xâm nhiễm và sử dụng các chất trong cơ thể côn trùng làm thức ăn, làm cho côn trùng chết Giai đoạn này nhiệt độ
và ẩm độ không khí thấp, nấm ký sinh ở dạng hệ sợi, giai đoạn vô tính của nấm nên được gọi là “trùng” Đến mùa hè, nhiệt độ và ẩm độ không khí cao, nấm chuyển giai đoạn, hình thành thể quả và nhú lên khỏi mặt đất nhưng gốc vẫn dính liền vào thân sâu, nên được gọi là “thảo” “Đông trùng hạ thảo” được miêu tả cho cả giai đoạn phát triển hoàn thành vòng đời của nấm Theo đông y Trung Quốc , nấm “đông trùng hạ thảo” có tác dụng chữa nhiều bệnh như bệnh về phổi , về thận, đổ mồ hôi
trộm, đau lưng, yếu sinh lý [2]
Trang 11Tại Việt Nam, những nghiên cứu về thành phần loài nấm KSCT được công bố
vào năm 1996 và 2001, có 03 loài nấm thuộc chi Cordyceps, đó là Cordyceps sinensis,
Cordyceps militaris và Cordyceps sabrolifera (Trịnh Tam Kiệt, 2001) và 03 loài mới
được phát hiện cho khu hệ nấm Việt Nam đó là Cordyceps nutans, Cordyceps gunnii (Phạm Quang Thu, 2009) và Cordyceps takaomontana (Phạm Quang Thu và Nguyễn
Mạnh Hà, 2010) [3, 4, 8] Về thành phần hóa học và giá trị dược liệu chưa được nghiên cứu nhiều, từ các nguồn tài liệu khác nhau, các nhà khoa học đã khẳng định nấm KSCT (Đông trùng hạ thảo) là một dược liệu quý và hiếm Nhiều bài thuốc có giá trị liên quan đến, đã được lưu truyền để chữa các bệnh nan y và tăng cường sức khỏe Từ những thông tin nêu trên, việc nghiên cứu hệ thống về nấm KSCT ở Việt Nam là rất cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Khu rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng, Điện Biên được đánh giá là một trong những khu rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường
có giá trị đa dạng sinh học cao của miền Bắc nước ta[6] Ngoài hệ động vật và các loài cây gỗ lớn phong phú ở đây còn có nguồn dược liệu quí như Ba kích, nấm Linh chi… Về loài nấm KSCT tại Khu rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng, các nhà nghiên cứu về thành phần nấm KSCT có ghi nhận về phân bố trên địa bàn nhưng chưa có những nghiên cứu cụ thể về thành phần loài, đặc điểm sinh học cũng như giá trị dược liệu và giá trị kinh tế mà nguồn dược liệu này đem lại cho đồng bào sinh sống quanh vùng
Với mong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ bé vào việc xây dựng danh mục nguồn gen các loài nấm KSCT, bảo tồn đa dạng sinh học và đề xuất biện pháp bảo tồn phát triển, sử dựng bền vững nguồn dược liệu quí trong nước Và mở
ra một hướng đi mới trong việc phát triển kinh tế - xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số sống ven khu rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng Được sự cho phép của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên và sự hướng dẫn của PGS TS Phạm Quang Thu – Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam Tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài nấm ký sinh côn trùng
tại khu rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên”
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1.1 Nghiên cứu về phân loại, thành phần loài nấm KSCT
Nấm KSCT là các loài nấm ký sinh trên sâu non hoặc nhộng hoặc sâu trưởng thành của một số loài côn trùng Vào mùa đông, sâu non, sâu trưởng thành của một
số loài nằm dưới đất hoặc ở trên mặt đất bị nấm KSCT xâm nhiễm và sử dụng các chất trong cơ thể côn trùng làm thức ăn, làm cho côn trùng chết Giai đoạn này nhiệt
độ và ẩm độ không khí thấp, nấm ký sinh ở dạng hệ sợi Đến mùa hè, nhiệt độ và
ẩm độ không khí cao đã hình thành thể quả và nhú lên khỏi mặt đất nhưng gốc vẫn dính liền vào thân sâu Người ta thường đào lấy cả xác sâu và nấm để làm thuốc Vì mùa đông nấm ký sinh trên sâu, mùa hạ mọc thành cây nấm
Chi nấm Cordyceps đã được thu mẫu và định loại trên 400 loài khác nhau và theo hệ thống phân loại truyền thống các loài này được xếp vào họ Clavicipitaceae
Dựa trên đặc điểm hình thái cũng như đặc điểm về cấu trúc phân tử, các loài nấm
trên được xếp trong 162 đơn vị phân loại, bao gồm các chi chủ yếu là: Cordyceps,
Elaphocordyceps, Metacordyceps và Ophiocordyceps thuộc 2 họ Cordycipitaceae
và Ophiocordycipitaceae (Gi-Ho Sung et al 2007) [ 13]
Mao X.L (2000) đã mô tả đặc điểm hình thái, công dụng và ảnh minh họa
cho 13 loài nấm thuộc chi Cordyceps phân bố ở Trung Quốc, đó là các loài:
Cordyceps barnesii Thwaites, Cordyceps capiata (Holmsk.: Fr.) Link., Cordyceps crassispora Zang, Yang et Li, Cordyceps gunii (Berk.) Berk., Cordyceps hawkesii
Gray, Cordyceps kyushuensis Kobayasi, Cordyceps martialis Gray, Cordyceps
militaris (L.:Fr.) Link., Cordyceps nutans Pat., Cordyceps ophioglossoides
(Ehrenb.) Link., Cordyceps sinensis (Berk.) Sacc., Cordyceps sobolifera (Hill.)
Trang 13Sung Jae Mo (2000) đã mô tả đặc điểm hình thái và hình ảnh của 25 loài nấm
thuộc chi Cordyceps phân bố ở Hàn Quốc, bao gồm các loài sau: Cordyceps
adaesanensis, C agriota Kawamura, C bifisispora, C crassispora, C discoideocapiata, C formicarum, C gemiculata, C gracilis, C heteropoda, C ishikariensis, C kyushuensis, C martialis, C militaris, C nutans, C ochraceostromata, C ophioglossoides, C oxycephala, C pentatoni, C pruinosa, C rosea, C scarabaeicola, C sinensis, C sphecocephala, C tricentri, C yongmoonensis [18]
Tại Nhật Bản, Tsuguo Hongo và Masana Izawa (1994) đã mô tả và giới thiệu
bằng hình ảnh 33 loài nấm Đông trùng hạ thảo thuộc chi Cordyceps, đó là các loài:
Cordyceps agriota, C longissima, C yakushimensis, C sobolifera, C heteropoda,
C tricentri, C coccidiicola, C nutans, C pruinosa, C crinalis, C militaris, C takaomontana, C neovolkiana, C nakazawai, C purpureostromata, C ferruginosa,
C nigripoda, C roseostromata, C annullata, C clavata, C atrovirens, C gracilioides, C michiganensis., C subssesilis, C stylophora, C macularis, C discoideocapitata, C sphecocephala, C japonensis, C japonica, C ophioglossoides, C capita, C intermedia, f michinoluensis [ 28]
Nhƣ vậy, thành phần loài nấm KSCT khá phong phú ở trên các vùng sinh thái khác nhau và có nhiều loài có phạm vi phân bố rộng, có nhiều loài có đặc điểm phân bố đặc hữu cho từng vùng
Năm 1983, Riley phát hiện một loài nấm ký sinh trên côn trùng thuộc Ngài đêm
ở Bắc Mỹ Ở châu Á cũng tìm ra nấm ký sinh trên côn trùng thuộc họ Ngài đêm
1.1.1.2 Nghiên cứu về thành phần hóa học của nấm ký sinh côn trùng
Trong các loài nấm KSCT, loài nấm Cordyceps sinensis, Cordyceps militaris
và một số loài khác đƣợc quan tâm nghiên cứu nhiều hơn cả về phân loại, thành phần hóa học và giá trị dƣợc liệu Các phân tích hoá học cho thấy trong sinh khối
(biomass) của nấm Cordyceps militaris có 17 a xít amin khác nhau, D-mannitol,
lipit và nhiều nguyên tố khoáng (Se, Zn, Cu ) Quan trọng hơn là trong sinh khối
Trang 14có nhiều chất có hoạt tính sinh học, mà các nhà khoa học phát hiện được nhờ các tiến bộ của ngành hoá học các hợp chất tự nhiên Theo số liệu của Viện sinh thái ứng dụng thuộc Viện Hàn lâm khoa học Trung Quốc, thành phần hóa học của thể
quả nấm Cordyceps militaris như sau:
+ Protein chiếm 40,69%;
+ Các loại vitamin: vitamin A (34,7 mg/gam), vitamin B1 (13,0 mg/gam), vitamin B6 (62,2 mg/gam), vitamin B12 (70,3 mg/gam), vitamin B3 (42,9 mg/gam);
+ Các nguyên tố khoáng: Se (0,44 ppm), Zn (130,0 ppm), Cu (29,15 ppm); + Hợp chất hóa học và nhóm hợp chất quan trọng: cordycepin (1,52%),
cordycepic axit (11,8%), polychaccarit (30%)
Hợp chất cordycepin là một hợp chất quan trọng, quyết định phẩm chất, chất
lượng của nấm KSCT (Mina Masuda et al., 2005) [21] Cordycepin
(3’-deoxyadenosine) là một dạng nucleotide có hoạt tính sinh học phổ rộng, thường được chuyển đổi thành 5’-mono, di và triphosphate, hợp chất này ức chế sự hoạt động của quá trình sinh tổng hợp mới của các tế bào ung thư Những nghiên cứu của Trung Quốc, Hàn Quốc và Mỹ tập trung chủ yếu vào tuyển chọn và nâng cao hàm lượng cordycepin trong thể quả hoặc trong dịch nuôi cấy hệ sợi Khi nuôi cấy
hệ sợi trên môi trường lỏng, nấm đã sản sinh ra cordycepin, hàm lượng đạt 26,8 mg/lít Nếu cung cấp đủ lượng oxy cho quá trình nuôi cấy, hàm lượng này được tăng lên nhiều từ 114,8 đến 167,5 mg/lít (Xian-Bing Mao và Jian-Jiang Zhong, 2004) Tuy nhiên sản lượng cordycepin thu được từ thể quả nấm phụ thuộc vào khối lượng theo thể tích dung môi chiết xuất, thời gian chiết xuất và nồng độ của cồn làm dung môi [31] Sản lượng đạt cực đại khi sử dụng cồn có nồng độ 20,21%, thời gian chiết xuất là 101,88 phút, khối lượng dung môi là 33,13 ml/gam thể quả nấm (Jiang-
Feng Song et al., 2007) [16]
Như vậy qua phần phân tích ở trên, hợp chất cordycepin là một hợp chất
quan trọng, quyết định phẩm chất, chất lượng của nấm KSCT
Trang 151.1.1.3 Nghiên cứu về giá trị dược liệu của nấm KSCT
Từ xa xưa người Phương Đông đã biết sử dụng nhiều loại nấm để làm thuốc
bổ tăng cường thể lực, phòng chống bệnh tật như: Nấm KSCT, Phục Linh, Vân Chi,
Linh Chi, Nấm Hương Nhật, Nấm mùa đông
Hơn 1500 năm trước trên dãy Hymalaya, những người chăn thả gia súc nhận thấy khi gia súc của họ nhai một loại cỏ thì chúng trở nên rất khoẻ mạnh Thậm chí những con già yếu cũng trở nên rất sung sức Họ phát hiện ra loại cỏ đó chính là
một loại nấm mọc từ mình con sâu (đó là loại nấm thuộc chi Cordyceps) Có lẽ do
loại nấm này chứa một số thành phần bí ẩn nào đó Các thầy thuốc Trung Quốc sử dụng chúng và trị được một số bệnh hiêm nghèo Từ đó dược tính kì diệu của loài nấm được khám phá và truyền tụng Hơn 1000 năm sau, các loài nấm được sử dụng như một phương thuốc màu nhiệm chỉ dành riêng cho các vị vua chúa [19]
Đến năm 1993, huấn luyện viên của một đội tuyển nữ Trung Quốc cũng khẳng định năng lực của các vận động viên tăng lên là nhờ sự luyện tập cao độ và
sử dụng một số loại thuốc bổ có nguồn gốc từ nấm Cordyceps Y sử Trung Quốc đã
nhấn mạnh tác dụng cải thiện chức năng phổi và thận của loại nấm này Ngày nay,
Cordyceps đã có mặt ở hầu hết các nước Phương Tây
“Nấm KSCT” tên gọi của loại nấm này có ý nghĩa, mùa đông nấm kí sinh côn trùng, mùa hè là cây cỏ (thực ra là nấm), loại nấm này có nhiều ở vùng Tây Nam Trung Hoa
Ở Mỹ, Nấm KSCT được sử dụng làm thuốc tăng lực hồi phục sức khỏe cho các vận động viên thể dục thể thao
Chi nấm Cordyceps có tới 350 loài khác nhau, chỉ riêng ở Trung Quốc đã tìm
thấy 60 loài Tuy nhiên, người ta mới chỉ nghiên cứu nhiều nhất về hai loài:
Cordyceps sinensis (Berk.) Sacc và Cordyceps militaris( L ex Fr.) Link Loài thứ
hai được gọi là Nhộng trùng thảo [23]
Tại một viện nghiên cứu công nghệ sinh học Trung Quốc việc phân lập thành
công nấm Cordyceps sinensis trong nấm ký sinh côn trùng và chứng minh được mọi
dược liệu đều nằm trong phần hạ thảo chứ không hề có trong phần Đông trùng [23]
Trang 16Sách y học cổ truyền của Trung Quốc từ xa xưa đã coi nấm KSCT là vị thuốc có tác dụng “tư bổ dược thiện”, có thể chữa được “bách hư bách tổn” Mặt khác các nghiên cứu cổ truyền cũng như các thực nghiệm hiện đại đều xác định nấm ký sinh côn trùng hầu như không có tác dụng phụ đối với cơ thể người và động vật [19]
Nấm ký sinh côn trùng thường gặp ở những vùng rừng ẩm ướt như Tứ Xuyên, Thanh Hải, Quý Châu, Vân Nam (Trung Quốc), Tứ Xuyên là nơi sản xuất nhiều hơn cả Nấm KSCT chủ yếu tìm thấy ở vùng núi cao hơn 4000m ở cao nguyên Tuy nhiên, hiện nay nhiều loài nấm thuộc chi Cordyceps được nuôi trồng trên quy mô công nghiệp để tinh chế các cơ chất có dược tính
Tên “Nấm KSCT” được ghi chép là vị thuốc lần đầu trong cuốn Bản thảo cương mục đời Minh cuả Lý Thời Trần Dược tính theo Đông Y là vị ngọt, tính ấm, hơi độc Nó nhập vào kinh Phế và kinh Thận Tác dụng là bổ hư, kích phát nguyên khí, trừ ho, hoá đàm Do đó, nó trị khó thở và ho do chứng đàm thấp, trị khó thở do
hư nhược, ho do lao tổn, ho ra máu, đổ mô hôi trộm về đêm, trị đau thắt lưng và đầu gối, bổ hư trong thời gian bình phục một cơn bệnh [22]
Hiện nay tại Hàn Quốc có và đang trồng thành công loại đông trùng hạ thảo (nhân tạo) màu nó vàng ánh (khác với loại thiên nhiên có màu sôcôla)
Nhộng Trùng Thảo được Xí nghiệp dược phẩm tỉnh Cát Lâm (Trung Quốc) phân lập được từ năm 1986, năm 1990 đã được nuôi cấy thành công trong nồi lên men Năm 1994 đã được đưa vào sản xuất lớn trên nhộng tằm, sau đó lại thành công trong việc nuôi cấy trên các môi trường nhân tạo như gạo, tiểu mạch, ngô…[23]
Tháng 11/1990 và tháng 4/1991 Trạm Vệ sinh phòng dịch Thẩm Dương (Trung Quốc) đã công bố kết quả kiểm định về giá trị an toàn thực phẩm của Nhộng Trùng Thảo và xác nhận không có độc tính, có thể coi là thực phẩm an toàn
Đã có rất nhiều nghiên cứu sâu sắc về dược lý của Nhộng Trùng Thảo đã được công bố Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng Nhộng Trùng Thảo được sử dụng có hiệu quả để chữa trị nhiều bệnh, như rối loạn chức năng của gan (Nan J.X et al 2001), ung thư (Yoo H.S at el 2004), sự lão hoá, các chứng viêm tấy
Trang 17(Won S.Y and Park E.H 2005) Đặc biệt nó được đánh giá có tác dụng tốt đối với thận và phổi theo y học cổ truyền Trung Quốc [20]
Một trong những giá trị của Nhộng Trùng Thảo là kìm hãm sự phát triển của
tế bào ung thư Dịch chiết bằng nước ấm đối với nấm này đã có thể kìm hãm sự phát triển của dong tế bào ung thư máu ở người bằng cách gây ra hiện tượng tự chết (apoptsis) của các tế bào này thong qua sự hoạt hoá enzyme caspase-3 (Lee H et al., 2006, Park C et al., 20005) Dịch chiết từ Nhộng trùng thảo đã thể hiện là có tiềm năng to lớn trong việc chữa trị ung thư máu (leukemia) Các nhà khoa học cũng sử dụng dịch chiết từ Nhộng trung thảo để thử nghiệm trên các dòng tế bào bình thường và các tế bào ung thư Kết quả cho thấy hai dòng tế bào K562 (tế bào ung thư máu-leukemia) và Du 145 (tế bào ung thư tuyến tiền liệt-prostate carcinoma) bị ức chế mạnh bởi dịch chiết butanol từ Nhộng trùng thảo (Kim et al 2006) Yoo H S và cộng sự đã chứng minh rằng Nhộng trùng thảo có tác dụng chống lại sự tạo thành các mạch máu mới (angiogenesis) bằng cách giảm sự biểu hiện của bFGF, một trong những nhân tố kích thích quá trình này Do có vai trò kìm hãm trong quá trình angiogenesis mà Nhộng trùng thảo có thể ngăn chặn quá trình
di căn và sự phát triển của ung thư [23]
Ngoài ra nhộng trùng thảo còn có tác dụng kìm hãm sự ôxy hoá của lipid, lipioprotein và lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) Chất chống oxy hoá trong Nhộng trùng thảo có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa một số bệnh gây ra bởi bởi một loạt phản ứng oxy hoá dẫn việc phá hoại AND, protein và các phân tử lớn khác Những hiện tượng trên dẫn đến sự thoái hoá hoặc làm tăng mức độ của một số bệnh như: Lão hoá, hen và ung thư (Klauning J.E và Kamendulis L.M., 2004; Balaban R.S et al., 2005) Một số chất chống oxy hoá đã được tổng hợp nhân tạo như butylated hydroxyanisole (BHA) (Thompson D and Moldeus P 1988) hoặc như butylated hydroxytoluene (BHT) (Witschi H.P 1986; Thomspon D and Moldeus P 1988) Do đó việc sử dụng Nhộng trùng thảo trong việc chống oxy hoá, đề kháng lại bệnh tật là vô cùng có giá trị trong y học Dịch chiết từ Nhộng trùng thảo làm kích thích sự trưởng thành về mặt hình thái và chức năng của tế bào dạng cây (dendritic
Trang 18cell), một trong những tế bào quan trọng nhất trong việc trình diện kháng nguyên (Kim G.Y et al 2006) [20]
Nhộng trùng thảo không chỉ là dược liệu quý giá mà còn được sử dụng trong việc pha chế rược và trà Hơn nữa thức ăn có thêm Nhộng trùng thảo còn làm tăng mức độ ngon miệng vàcó tác dụng làm tăng sức khoẻ cho con người
Do các giá trị nói trên, việc nuôi cấy nhân tạo Nhộng trùng thảo đã được mở rộng tại Trung Quốc và nhiều nước khác Có thể dùng phương pháp lên men chìm ((submerged fermentation) trong các nồi lên men (fermentor) hay lên men chìm trên môi trường đặc (solid fermentation: cơm hay nhộng tằm) trong các chai thuỷ tinh miệng rộng hay trong các bao màng mỏng (PP) Sau khi thu hoạch thể quả hay sinh khối ta đem sấy khô và làm thực phẩm trực tiếp hay phối hợp với các Công ty dược phẩm để chế biến thành các viên nén hay viên con nhộng
Nấm KSCT (được người Trung Quốc phát hiện cách đây 1.500 năm), loài nấm này có thể chiết suất ra một số loại thuốc bổ, giúp những người trong độ tuổi 40-70 lấy lại sự cân đối cơ thể sau một thời gian dài ít vận động, đồng thời nâng cao sức luyện tập, khả năng chịu đựng và làm giảm mệt
Các chuyên gia Mỹ cho biết các nhà khoa học ở trung tâm Pharmanex,
Caliornia đã phát triển một thuốc CordyMax có chứa chiết suất của nấm Cordyceps
Nhóm tiến hành trên 131 người tình nguyện trong thời gian là 12 tuần Trong thời gian này, các chuyên gia đánh giá khả năng luyện tập, sức chịu đựng và những thay đổi trong chuyển hoá của những người tình nguyện vào các giai đoạn trước, trong
và sau khi thử nghiệm
Lịch sử y học Trung Quốc cũng có ghi nhận tác dụng cải thiện chức năng phổi và thận của loại nấm này nhưng đây là lần đầu tiên các chuyên gia chứng minh
được hiệu quả của nấm Cordyceps
Lần đầu tiên, y học phương Tây đã công nhận tính năng bổ dưỡng của một
loại nấm có tên là Cordyceps, được người Trung Quốc phát hiện trước đây 1.500
năm Chiết suất từ thảo mộc này có thể giúp người trung niên lấy lại sự cân đối sau nhiều năm phải ngồi nhiều do công việc [19]
Trang 19Theo chủ tịch hiệp hội Y dược cổ truyền Trung Quốc, tiến sĩ JidongWu, công trình của nhà khoa học Pharmanex rất có giá trị vì từ trước đến nay chưa có
thử nghiệm khoa học nào chứng minh hiệu quả của nấm Cordyceps Qua nhiều năm
nghiên cứu, Công ty VitaPro, Inc ở Caliornia (Mỹ) đã sản xuất ra sản phẩm Vitalex+
từ một số thảo dược hiếm trong thiên nhiên Vitalex+
được bào chế dưới sự phối
hợp giữa Đông và Tây dược gồm rất nhiều các thành phần ví dụ như: Cordyceps
sinensis: (45mg) Phát biểu tai một hội thảo của Hiệp hội sinh lý học Mỹ, các nhà
Khoa học thuộc Trung tâm Nghiên cứu dược học ở California đã khẳng định nấm Cordyceps có thể nâng cao sức khoẻ luyện tập, khả năng chịu đựng và làm giảm mệt mỏi những người trong độ tuổi 40-70 Nhóm đã triển khai một loại thực phẩm
chức năng có chức chiết xuất của nấm Cordyceps và đã thử nghiệm trên 131 người
tình nguyện trong thời gian là 12 tuần Qua đánh giá khả năng tập luyện, sức chịu đựng và những thay đổi trong chuyển hoá của số người này vào các giai đoạn trước, trong và sau khi thử nghiệm, các chuyên gia nhận thấy lượng tiêu thụ Oxy ở nhóm
dùng Cordyceps tăng lên 5,5% Huyết áp tâm trương ở nhóm dùng Cordyceps cũng
giảm 3,2% Đồng thời khoảng thời gian đi bộ quãng đường 1,6 km của nhóm dùng
Cordyceps cũng giảm 29 giây, trong khi nhóm kia tăng nhẹ Tất cả đều chứng tỏ có
sự gia tăng thể lực ở những người đã sử dụng nấm Cordyceps Y văn Trung Quốc
đã nhấn mạnh tác dụng cải thiện chức năng phổi và thận của loại nấm này Ngoài ra,
nấm Cordyceps đã được chứng minh là loại thảo dược làm gia tăng hệ miễn dịch
trong ngừa và trị ung thư, tăng tinh trùng, có tác dụng bổ thận, phổi, tăng sản xuất
máu huyết Trong nấm Cordyceps chứa 8% chất béo, 25% protein, 29%
carbohydrate, 4% chất khoáng vi lượng; uracil, uridin, adenine, adenosine acid cordicepic có tính kháng sinh (Furuya, 1983) và 3 protein chống ung thư O-N, SN-
C và CO-1 (Yingetal, 1987) Theo Pereira trong New York Journal of Medicine cho
rằng nấm Cordyceps có những tính chất tương tự Nhân Sâm, dùng để phục hồi cơ
thể sau khi bị kiệt quệ hoặc do bệnh kéo dài [19]
Nhờ sự phối hợp của các thành phần trên và cùng với công nghệ bào chế tân tiến nên Vitalex+ có tác dụng bổ sung chế độ dinh dưỡng, bồi bổ gan thận, thậm chí
Trang 20làm chậm quá trình lão hoá, hỗ trợ cho hoạt động tuyến tiền liệt và tiết niệu giúp người đàn ông cải thiện năng lực và sinh lực nhanh chóng, hiệu quả
Ở Trung Quốc đã phát hiện Nấm KSCT có 58 loài, ký sinh trên sâu non, nhộng các loài sâu khác [6]
1.1.1.4 Nghiên cứu về nuôi trồng thể quả trên giá thể và nuôi cấy sinh khối hệ sợi
Nuôi trồng thể quả nấm KSCT Cordyceps militaris và các loài Paecilomyces spp (giai đoạn vô tính của các loài nấm thuộc chi Cordyceps), được tiến hành ở
nhiều nước trên thế giới: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Mỹ Tại Trung Quốc có các trang trại lớn chuyên nuôi trồng loài nấm này ở các tỉnh: Thượng Hải, Quảng Châu, Chiết Giang, An Huy, Giang Tô Chỉ tính một trang trại nuôi trồng loài nấm này tại Kaiping, Quảng Châu, sản lượng một năm thu được 100.000 kg sản phẩm Sản phẩm nấm KSCT từ nuôi trồng nhân tạo đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phương Tây và mang lại lợi nhuận cao cho các doanh nghiệp
và người nuôi trồng nấm (Li Cui et al., 2008) [20] Tại Thái Lan, Patcharaporn
Wongsa và đồng tác giả (2005), đã nghiên cứu phân lập và sự sinh trưởng của hệ
sợi và hình thành bào tử chồi của nấm Cordyceps unilateralis ký sinh kiến Môi
trường PDA (Potato Dextrose Agar), PYEG (Peptone Yeast Extract Glucose), CSA (Carrot extract Sucrose Agar) và môi trường MEA (Malt Extract Agar) được dùng
để phân lập và nuôi cấy hệ sợi [25]
Jae Sung Kim và đồng tác giả (2006), tại Hàn Quốc, đã sử dụng nhộng tằm
để nuôi trồng thể quả nấm Cordyceps militaris [15] Nhộng tằm được đựng trong
trong các lọ nuôi cấy, khử trùng ở 1210C trong thời gian 90 phút, để nguội, cấy giống nấm, 20 ngày sợi nấm ăn kín toàn bộ giá thể, trong điều kiện nhiệt độ 20-
250C, cường độ ánh sáng 500-700 lux đã hình thành mầm thể quả Nuôi cấy thu sinh khối hệ sợi cũng được các tác giả tiến hành trên môi trường dinh dưỡng lỏng với thành phần như sau: 40 g/lít đường glucose, 10 g/lít cao nấm men, 0.5 g/lít
KH2PO4, 0.5 g/lít K2HPO4:3H2O, và 0.5 g/lít MgSO4.7H2O
Trang 21Hai loài Cordyceps sinensis (Berk.) Sacc và Cordyceps militaris (L ex Fr.)
Link được tập trung nghiên cứu nuôi trồng thể quả và nuôi cấy sinh khối hệ sợi nhiều nhất (Russell R., Paterson M., 2008) [26] Duck-Hyun Cho và đồng tác giả (2000), tại Hàn Quốc, đã tiến hành nghiên cứu sự sinh trưởng của hệ sợi của 3
chủng ký hiệu là CHO-7208; CHO-7845; CHO-7846 của loài Cordyceps militaris trên môi trường dinh dưỡng và quá trình hình thành thể quả nấm Cordyceps
militaris với giá thể là sâu non loài Allomyrina dichotoma Linnaeus Kết quả cho
thấy sự sinh trưởng của hệ sợi của các chủng khác nhau là khác nhau trong nuôi cấy thuần khiết Chỉ có 2 chủng CHO-7208 và CHO-7846 hình thành thể quả khi sử
dụng sâu non Allomyrina dichotoma Linnaeus làm giá thể Chiều dài của thể quả đạt
51-56 mm sau 27 ngày nuôi cấy [12]
Tại thành phố Hayward, bang California, Mỹ, Công ty công nghệ sinh học
BIOKEN đã nuôi trồng quy mô công nghiệp loài nấm Cordyceps militaris Sản
phẩm được tiêu thụ trong nước và thị trường quốc tế
Hiện nay việc sử dụng trở nên rộng rãi hơn khi người Trung Hoa bắt đầu nuôi cấy trên nền gạo để cung cấp sản phẩm với nhiều dạng sử dụng: bột khô, thuốc nước hoặc ly trích trong rượu và lên men sợi nấm
1.1.1.5 Thị trường và giá
Wang Youwei (2007), công ty trách nhiệm hữu hạn Công nghệ Baoli, Laoning,
Trung Quốc phân tích về thị trường thực phẩm chức năng và nấm Cordyceps militaris
cho rằng: Tình hình kinh tế xã hội và mức sống của người dân trên toàn thế giới đã được cải thiện nên thị trường thực phẩm chữa bệnh có tiềm năng rất lớn [29] Giá trị sản xuất các mặt hàng thực phẩm chữa bệnh đạt 70 tỷ nhân dân tệ ở Trung Quốc năm
2004 Nhật bản đạt mỗi năm 3,6 tỷ USD trong những năm 1990 Mỹ đạt mỗi năm 3,5
tỷ USD trong những năm 1990 Các sản phẩm thực phẩm chức năng và thuốc từ
Cordyceps militaris chiếm thị phần lớn Một số ví dụ về giá sản phẩm được sản xuất từ
nguồn nguyên liệu Cordyceps militaris như sau: sản phẩm viên nang Ultraceps được
Trang 22sản xuất từ Cordyceps của công ty Zeolite với giá 41,95 USD/lọ, 90 viên/lọ, 650 mg/viên Cordygen5 với giá 19,95 USD/lọ 90 viên
Tại một của hàng Đông dược có uy tín ở Côn Minh, Trung Quốc, giá cho 5g nấm ký sinh côn trùng lên tới gần 500 nhân dân tệ (khoảng 1 triệu đồng Việt Nam, năm 2005)
Gần đây, một Công ty trách nhiệm hữu hạn thuộc Sở nghiên cứu kỹ thuật Sinh vật Trùng Khánh (Trung Quốc) đã nghiên cứu, ứng dụng công nghệ hiện đại tinh chế được nấm KSCT từ thiên nhiên mà vẫn giữ nguyên được những tính năng của nó tạo ra viên nang Trùng thảo tinh Trong đó, mỗi viên nang chứa 100% Đông trùng hạ thảo tinh chất Viên nang có tác dụng rất tốt, đặc biệt trong dưỡng tinh cho nam giới, giúp nâng cao sức đề kháng và tăng cường miễn dịch của cơ thể, giúp cải thiện tuần hoàn máu, bổ thận, hỗ trợ trong điều trị một số bệnh về tim mạch, về đường hô hấp và đường tiêu hóa Hiện nay, sản phẩm Viên nang Trùng thảo tinh đã
có mặt ở Việt Nam
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam có khí hậu Nhiệt đới và là một trong những Quốc gia có nguồn tài nguyên Sinh học được xếp vào loại đa dạng và phong phú nhất thế giới Tuy nhiên, các nghiên cứu về đa dạng sinh học và sự phân bố của các loài nấm ký sinh côn trùng chỉ mới đang ở giai đoạn “khởi động” Vì thế chương trình hợp tác nghiên cứu với Trung tâm Quốc gia về kỹ thuật Di truyền và Công nghệ sinh học của Thái Lan nhằm mục đích thiết lập cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học của các loài nấm KSCT ở Việt Nam đồng thời huấn luyện phương pháp phân lập, phân loại và nuôi cấy các loại nấm này (đây là một kỹ thuật tương đối khó so với việc phân lập một
số thể quả và vi nấm khác) nhằm xây dựng bộ sưu tập giống để sử dụng cho các mục đích nghiên cứu và ứng dụng sản xuất sau này
1.1.2.1 Nghiên cứu về thành phần loài nấm KSCT
Những năm gần đây, trước sự phát triển của khoa học và kỹ thuật, các loài
Trang 23về những vấn đề khác nhau như điều tra thành phần loài, loài sâu bị ký sinh, phân lập và nuôi cấy trong phòng thí nghiệm và đặc biệt là nhân sinh khối, tạo chế phẩm
để phòng trừ một số loài sâu hại đối với cây nông nghiệp và cây lâm nghiệp Phân
lập và sử dụng nấm Beauveria để phòng trừ mọt hại nông sản (Lê Doãn Diên et al,
1994) [1] Nghiên cứu sản xuất với quy mô công nghiệp và thử nghiệm trên diện
rộng chế phẩm nấm KSCT Beauveria và Metarhizium được thể hiện nhiều trong các công trình nghiên cứu của (Phạm Thị Thùy et al., 1994) [9]
Nghiên cứu về thành phần loài: Trịnh Tam Kiệt (1996), Trịnh Tam Kiệt và đồng tác giả (2001) đã nêu danh mục các loài nấm KSCT có ở Việt Nam thuộc họ
Clavicipitaceae có 3 loài thuộc chi Cordyceps đó là Cordyceps martialis Speg.,
Cordyceps sinensis (Berk) Sacc và loài Cordyceps sobolifera (Hill) Berk & Br Các
tác giả đã ghi nhận nấm KSCT có phân bố ở các tỉnh của Việt Nam như: Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Quảng Nam, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Tây Ninh [3, 4] Năm
2009, Phạm Quang Thu đã phát hiện thêm hai loài nấm ký sinh côn trùng mới cho khu hệ nấm ở Việt Nam có phân bố ở Bắc Giang và Vĩnh Phúc, đó là loài nấm:
Cordyceps nutans và Cordyceps gunnii [8] Năm 2010, Phạm Quang Thu và
Nguyễn Mạnh Hà phát hiện thêm loài nấm KSCT Cordyceps takaomontana, đưa
tổng số loài nấm ký sinh côn trùng được phát hiện ở Việt Nam lên 6 loài
1.1.2.2 Nghiên cứu về thành phần hóa học và giá trị dược liệu của nấm KSCT
Đỗ Tất Lợi (1977) cho rằng nấm KSCT (Đông trùng hạ thảo) là một vị thuốc
bổ, dùng để chữa trị thần kinh suy nhược, chữa ho, ho lao, bổ tinh khí, chữa đau lưng, bổ thận Liều dùng 6-12 gam với hình thức ngâm rượu [5]
Nguyễn Lân Dũng, Dương Văn Hợp và Nguyễn Thế Hải (2005) đã tổng quan các tài liệu nghiên cứu của Trung Quốc, Hàn Quốc và tài liệu ở các nước
phương Tây về giá trị dược liệu của loài nấm KSCT Cordyceps militaris và
Trang 24Cordyceps sinensis Các loài nấm này có thể dùng để chữa trị 25 loại bệnh khác
nhau nên các tác giả đã gọi nấm KSCT là thần dược [2]
Nguyễn Lân Dũng, Dương Văn Hợp và Nguyễn Thế Hải (2005) đã tổng quan các tài liệu nghiên cứu của Trung Quốc, Hàn Quốc và tài liệu ở các nước
phương Tây về giá trị dược liệu của loài nấm KSCT Cordyceps militaris và
Cordyceps sinensis Các loài nấm này có thể dùng để chữa trị cho 25 loại bệnh khác
nhau nên các tác giả đã gọi nấm KSCT là thần dược bao gồm các tác dụng: [14]
1- Chống lại tác dụng xấu của các tân dược đối với thận, thí dụ đối với độc tính của Cephalosporin A;
2- Bảo vệ thận trong trường hợp gặp tổn thưng do thiếu máu;
3- Chống lại sự suy thoái của thận, xúc tiến việc tái sinh và phục hồi các tế bào tiểu quản ở thận;
4- Làm hạ huyết áp ở người cao huyết áp;
5- Chống lại hiện tượng thiếu máu ở cơ tim6- Giữ ổn định nhịp đập của tim; 6- Tăng cường tính miễn dịch không đặc hiệu;
8- Điều tiết tính miễn dịch đặc hiệu;
9- Tăng cường năng lực thực bào của các tế bào miễn dịch;
10- Tăng cường tác dụng của nội tiết tố tuyến thượng thận và làm trương nở các nhánh khí quản;
11- Tăng cường dịch tiết trong khí quản và trừ đờm;
12- Làm chậm quá trình lão hoá của cơ thể;
13- Hạn chế bệnh tật của tuổi già;
14- Nâng cao năng lực chống ung thư của cơ thể;
15- Chống lại tình trạng thiếu oxygen của cơ thể;
16- Tăng cường tác dụng lưu thông máu trong cơ thể;
17- hạn chế tác hại của tia gamma đối với cơ thể;
18- Tăng cường tác dụng an thần, trấn tĩnh thần kinh;
19-Tăng cường việc điều tiết nồng độ đường trong máu;
Trang 2521- Xúc tiến tác dụng của các nội tiết tố (hormone);
22- Tăng cường chức năng tiêu hoá và hấp thu các chất dinh dưỡng ;
23- Ức chế vi sinh vật có hại, kể cả vi khuẩn lao;
24- Kháng viêm và tiêu viêm;
25- Có tác dụng cường dương và chống liệt dương
Nguyễn Khánh Toàn (2008) đưa ra một số bài thuốc có nấm KSCT như sau [10]:
* Rượu trùng hạ thảo nhân sâm: Nấm KSCT và nhân sâm lượng bằng nhau,
ngâm trong rượu tốt, mỗi ngày uống một chén nhỏ Công dụng: bổ thận, tráng dương dùng cho người bị suy nhược, liệt dương
* Canh đông trùng hùng áp: Nấm KSCT 10g, vịt đực 1 con, rượu trắng,
gừng tươi, hạt tiêu, gia vị vừa đủ Vịt làm thịt rồi bỏ nấm KSCT vào trong bụng, hầm nhừ, cho gia vị, ăn thịt, uống nước, mỗi tuần một lần Công dụng: bổ hư, trợ dương dùng cho người bị liệt dương, suy giảm ham muốn tình dục
1.1.2.3 Nghiên cứu về nuôi trồng thể quả
Trần Văn Mão (2002) đã nêu sơ bộ về môi trường nhân giống, kỹ thuật nuôi
trồng thể quả và nuôi cấy sinh khối hệ sợi nấm Cordyceps sinensis [7] Tuy nhiên,
những thông tin này đều tập hợp từ các nguồn tài liệu tham khảo của Trung Quốc
Trong 02 năm qua (2008-2009) tại viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam, Phạm Quang Thu tiến hành nghiên cứu nuôi trồng thể quả nấm KSCT trong phòng thí nghiệm Thí nghiệm với nhiều loại giá thể khác nhau để tìm ra được công thức hiệu quả nhất để có thể nhân rộng việc nuôi cấy nhân tạo loài nấm này tại Việt Nam
1.1.3 Nhận xét đánh giá từ các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và Thê Giới
Từ phần tổng quan tài liệu những nghiên cứu về nấm KSCT ở ngoài nước và trong nước cho thấy: Nấm KSCT là một loài nấm có giá trị dược liệu quý, chữa trị được nhiều loài bệnh nan y như ung thư, kháng khuẩn, chống oxy hóa và các bệnh
về yếu sinh lý… Cùng với các thảo dược khác, việc nghiên cứu về giá trị dược liệu
và sử dụng nấm ký sinh côn trùng trong lâm sàng đã mở ra một hướng đi mới trong
Trang 26việc điều trị bệnh cho con người Cuộc sống hiện đại ngày nay đã khác rất nhiều so với trước, bên cạnh sự phát triển của kinh tế và khoa học kỹ thuật, y học cũng ngày càng tiến bộ Nhưng sự lạm dụng thuốc Tây trong điều trị và sự sử dụng thuốc chưa đúng cách có thể kéo theo hệ luỵ rất nhiều bệnh xuất hiện như: Bệnh tiểu đường, bệnh dạ dày, viêm gan, suy thận, đau xương khớp, phong thấp…đặc biệt là ở những người cao tuổi Để giảm tránh những tác dụng phụ do điều trị thuốc Tây dài ngày, đặc biệt là việc sử dụng thuốc Tây đối với người cao tuổi dễ sinh phản ứng phụ hơn
do tuổi đã cao, hệ miễn dịch suy giảm và các cơ quan nội tạng cũng suy yếu, ngày càng nhiều sản phẩm đông y và dược thảo được nghiên cứu để sử dụng điều trị bệnh, bồi bổ sức khoẻ và tăng sinh lực…
Nghiên cứu về thành phần loài, giá trị dược liệu và nuôi trồng thể quả được tiến hành nghiên cứu với trình độ cao ở nhiều nước trên thế giới và đạt được kết quả tốt Thực tế cho thấy tại Trung Quốc, Hàn Quốc và Mỹ, kỹ thuật nuôi trồng loài nấm này đã đạt được trình độ cao và được thực hiện trên quy mô công nghiệp Chỉ tính một trang nuôi trồng loài nấm này tại Kaiping, Quảng Châu, sản lượng một năm thu được 100.000 kg sản phẩm Sản phẩm nấm KSCT từ nuôi trồng nhân tạo
đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới kể cả các nước phương Tây và mang lại lợi nhuận cao cho các doanh nghiệp và người nuôi trồng nấm Nhiệt độ không khí 20-
250C, cường độ ánh sáng 500-700 lux là những điều kiện tốt nhất để nuôi trồng thể quả trên giá thể nhân tạo
Qua các nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy rằng nước ta nằm trong
vị trí địa lý có dải phân bố của nấm ký sinh côn trùng Các nghiên cứu về nấm KSCT đã được một số nhà khoa học quan tâm, bước đầu đã có những công bố về thành phần loài, về phân bố và đặc điểm sinh thái học, giá trị dược Nhưng những nghiên cứu chưa nhiều, chưa đánh giá hết hiện trạng về thành phần loài, số lượng, phân bố cụ thể, cũng như tiềm năng giá trị dược liệu của các loài nấm KSCT tại nước ta Từ đó cũng chưa đưa ra được những khuyến cáo trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng trên các địa phương của nước ta có xuất hiện loài nấm quí này
Trang 27Nhằm góp phần giải quyết những vấn đề còn tồn tại nêu trên, đề tài “Nghiên
cứu thành phần loài nấm ký sinh côn trùng tại khu rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” đặt ra là rất
cần thiết và có ý nghĩa cả về khoa học lẫn thực tiễn Trước hết, góp phần xây dựng danh mục nguồn gen các loài nấm ký sinh côn trùng, bảo tồn đa dạng sinh học và đề xuất biện pháp bảo tồn phát triển, sử dựng bền vững nguồn dược liệu quí này ở trong nước Đây cũng chính là lý do mà tôi lựa chọn đề tài này, để thực hiện trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ khoa học nông nghiệp , chuyên ngành Lâm học
1.2 Tổng quan khu vực nghiên cứu
1.2.1 Quá trình hình thành Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng
Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng, được đánh giá là một trong những khu rừng di tích và cảnh quan thiên nhiên tiêu biểu nhất không chỉ của Điện Biên
mà còn điển hình cho cả vùng Tây Bắc Việt Nam Với nguồn tài nguyên nước phong phú , Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng có vai trò quan trọng trong việc điều tiết nước cho sản xuất nông nghiệp, trồng trọt, sinh hoạt của người dân trong vùng và các vùng phụ cận Ngoài ra, với khu rừng nguyên sinh tiêu biểu và hệ thống động, thực vật phong phú, đây không chỉ là điểm bảo tồn, nghiên cứu sinh vật
mà còn là khu du lịch di tích lịch sử, cảnh quan sinh thái hấp dẫn dành cho du khách muốn khám phá thiên nhiên
Được thành lập theo Quyết định số 837/QĐ-UBND ngày 08/7/2010 của UBND tỉnh Điện Biên Với tổng diện tích là 6.781,8 ha, trong đó : Diện tích phân khu rừng đặc dụng là 2.669,6 ha; diện tích rừng phòng hộ là 3.710,9 ha; diện tích rừng sản xuất 401,3 ha, diện tích di tích lịch sử 2,5 ha; vai trò chính của Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng:
- Bảo vệ nguồn gen và tính đa dạng sinh học của khu hệ động, thực vật rừng nhiệt đới của vùng Tây Bắc -Việt Nam
Trang 28- Nghiên cứu khoa học và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh nghề rừng
- Tăng cường vai trò phòng hộ, duy trì và điều hoà nguồn nước, bảo vệ môi trường, góp phần ổn định đời sống nhân dân xung quanh Khu, phát triển du lịch sinh thái và bảo vệ di tích lịch sử văn hoá
Ban quản lý trực thuộc sở NN &PTNT, trụ sở Ban Quản lý Khu đặt tại xã Mường Phăng cách trung tâm huyện Điện Biên và TP.Điện Biên Phủ 25 km về phía Đông Bắc
- Phía Bắc tiếp giáp với xã Nà Nhạn và xã Nà Tấu , huyện Điện Biên;
- Phía Tây tiếp giáp với xã Tà Lèng và xã Thanh Minh, thành phố Điện Biên Phủ;
- Phía Nam tiếp giáp với xã Pú Nhi, huyện Điện Biên Đông;
- Phía Đông tiếp giáp với xã Ẳng Cang và xã Ẳng Nưa, huyện Mường Ảng Tổng diện tích đất tự nhiên của toàn xã là 9.158,5 ha
Trang 29+ Kiểu địa hình thung lũng : Nằm xen với các dãy núi thuộc khu vực hồ Pá Khoang; tuy nhiên kiểu địa hình này diện tích không lớn ;
- Địa thế: Địa thế của xã cao về phía Tây , phía Đông Bắc và Đông Nam với những dã y núi cao tiếp giáp với huyện Điện Biên Đông , huyện Mường Ẳng và thành phố Điện Biên Phủ có độ dốc từ 300
- 350 với những đồi thấp có độ dốc từ 200
- 250 tập trung quanh khu vực hồ Pá Khoang
- Nhóm đất Feralit mùn vàng đỏ trên núi trung bình: Phân bố ở độ cao từ 950 m đến 1.600 m so với mặt nước biển, độ dốc bình quân > 250 Đá mẹ chủ yếu là nhóm
đá macma axit và đá biến chất, có thành phần cơ giới trung bình hàm lượng mùn tương đối dày
- Nhóm đất thung lũng (do quá trình bồi tụ): Phân bố tập trung chủ yếu ở ven
hồ, suối, vùng đồi, thung lũng, có độ cao dưới 950 m so với mặt nước biển, có độ dốc nhỏ Dạng đất này có tầng đất từ trung bình đến dày, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến cát pha, đất tơi xốp
Từ hai nhóm đất trên khu vực dự án đã hình thành 6 loại đất sau:
Trang 30Bảng1-1: Tổng hợp diện tích các loại đất trên địa bàn xã Mường Phăng
hiệu
Diện tích (ha)
Tỷ lệ
%
1 Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit Ha 7.114 77,7
2 Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét Fs 36,6 0,4
3 Đất mùn vàng nhạt trên đá cát Hq 13,1 0,1
4 Đất mùn đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét Hs 262,9 2,9
5 Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit Fa 893,5 9,8
6 Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ D 238,4 2,6
`
- Đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit (Ha): Diện tích 7.114 ha chiếm 77,7%
tổng diện tích tự nhiên, đây là loại đất chính phân bố trên địa bàn xã; đất có thành
phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, tầng đất dầy, hàm lượng mùn trong đất
tương đối nhiều, thích hợp cho sản xuất nông, lâm nghiệp
- Đất vàng đỏ trên đá macma axit (Fa): Diện tích 893,5 ha chiếm 9,8% diện
tích đất tự nhiên toàn xã Phân bố chủ yếu ở phía tiếp giáp với thành phố Điện Biên
Phủ có độ cao từ 900 - 1.000 m so với mặt nước biển; đất có thành phần cơ giới thịt
trung bình hàm lượng mùn nhiều
- Đất thung lũng (D): Diện tích 238,4 ha chiếm 2,6% diện tích đất tự nhiên
toàn xã, tập trung ở ven suối Nậm Phăng, đất được hình thành do sản phẩm dốc tụ,
bồi tụ của suối; thành phần cơ giới của đất từ thịt nhẹ, hàm lượng mùn lớn, rất phù
hợp cho sản xuất nông nghiệp đặc biệt là trồng lúa nước
- Ngoài ra còn một số loại đất như: Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến sét (Fs),
đất mùn vàng nhạt phát triển trên đá cát (Hq), đất mùn đỏ vàng trên đá sét Tuy nhiên
những loại đất này chiếm tỷ lệ không lớn và phân bố chủ yếu ở những đỉnh núi cao thuộc khu vực giáp ranh với huyện Điện Biên Đông và thành phố Điện Biên Phủ
Trang 311.2.2.3 Khí hậu và thủy văn
+ Nhiệt độ bình quân trong năm 22,30
c;
+ Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối 26,30c;
+ Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối 30c;
+ Lượng mưa trung bình/năm từ 1.600 mm - 2.000mm;
+ Lượng mưa thấp nhất khoảng 20 - 30 mm/tháng; phân bố vào tháng 1 và tháng 12;
+ Lượng mưa cao nhất khoảng 400 mm/tháng; tập trung vào tháng 7, 8
Hướng gió thịnh hành của xã là gió Đông Bắc vào mùa lạnh và gió Đông Nam vào mùa nóng; vào các tháng 3, 4 trên địa bàn xã, thường chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam (gió Lào) do đó thời tiết thường khô hanh
Nhìn chung khí hậu của Mường Phăng cũng như các xã khác của huyện Điện Biên Tuy nhiên nhiệt độ trung bình thường thấp hơn, làm cho cây trồng nông nghiệp nhất là cây lúa trên địa bàn xã, có thời gian sinh trưởng phát triển chậm, kéo dài thời vụ hơn so với các xã khác trong huyện
Bảng 1-2: Các chỉ tiêu khí hậu trên địa bàn xã Mường Phăng
Độ ẩm không khí trung bình % 82%
Số giờ nắng trong năm Giờ 1.997 giờ
Tổng lượng nước bốc hơi trong năm mm 652,7
Trang 32b Thuỷ văn
Hệ thống thủy văn trên địa bàn xã gồm hệ thống suối sau:
- Suối Nậm Phăng: Đây là suối chính chạy dọc xã bắt nguồn từ 2 khu vực: suối Lọng Luông và khu vực bản Nghịu rồi đổ vào hồ Pá Khoang tại bản Đông Mệt Nguồn nước được cung cấp từ nhiều các khe nhỏ khác nhau chủ yếu phục vụ sản xuất
- Suối Nậm Điếng: bắt nguồn từ đỉnh núi cao, tiếp giáp với huyện Điện Biên Đông, chảy theo hướng Đông Nam - Tây Bắc, qua địa phận bản Tân Bình, bản Khá rồi hợp với khe Phiêng Ma Lông đổ vào suối Nậm Phăng Ngoài cung cấp nước cho sản xuất, còn cung cấp nước sinh hoạt cho các bản: Tân Bình, bản Khá
Ngoài ra trên địa bàn xã còn nhiều khe suối khác như: Khe Tạc Điêng, khe Lọng Nghịu, khe Phiêng Ma Lông cung cấp nguồn nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho người dân đồng thời còn là nguồn cung cấp nước cho nhà máy thủy điện Thác Trắng, tạo cảnh quan để phát triển du lịch sinh thái hồ Pá Khoang
1.2.2.4 Nguồn tài nguyên rừng và những kết quả hoạt động chủ yếu
a Nguồn tài nguyên rừng
Theo kết quả điều tra sơ bộ Khu rừng di tích và cảnh quan môi trường đã thống kê được:
- Thực vật đặc hữu và quý hiếm : Trên địa phận khu có hàng chục loài t hực vật đặc hữu, quý hiếm như: Pơ mu, Thông tre, Đinh, Lim, Giổi, Sến mật, Gụ, Lát hoa, Trầm hương, Ba kích, Sa nhân
- Động vật đặc hữu và quý hiếm: Có hàng chục loài động vật đặc hữu, quý hiếm được xếp trong sách đỏ Việt Nam đang có nguy cơ tuyệt chủng, như: Cu li
nhỏ, Sói lửa, Gấu ngựa, Hổ, Hươu, Gà tiền mặt vàng, Gà lôi trắng, Rùa vàng, Rắn
hổ mang chúa
b Những kết quả hoạt động chủ yếu
Trong những năm qua trên địa phận Khu rừng DTLS&CQMT đã triển khai
Trang 33- Công tác quản lý bảo vệ rừng: Ban quản lý thường xuyên tổ chức các tổ, đội đi tuần tra, kiểm tra, phối kết hợp mở các lớp tuyên truyền bảo vệ rừng và cảnh quan môi trường, di tích lịch sử
- Hoạt động du lịch sinh thái và tuyên truyền giáo dục môi trường: Đã xây dựng các tuyến du lịch sinh thái Hàng năm, có hàng ngàn lượt người trong và ngoài nước đến du lịch sinh thái và thăm di tích lịch sử Nhiều nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh đã đến nghiên cứu và xây dựng dự án đầu tư du lịch song vẫn chưa được thực hiện do nhiều nguyên nhân khác nhau
1.2.3 Đặc điểm xã hội
1.2.3.1 Đặc điểm và phân bố dân cư
Theo kết quả điều tra gần nhất năm 2010 của Cục Thống kê tỉnh Điện Biên , tổng dân số các xã trên địa phận Khu rừng di tích lịc h sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng là 32.208 người, thuộc 6.920 hộ, chi tiết theo bảng 1-3
Bảng 1-3: Chi tiết dân số, dân tộc thuộc Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng
Tổng dân số Chia ra các thành phần dân tộc (người)
Số hộ Số
khẩu
Người DTTS Kinh Thái Mông
Khơ
mú Hoa
Dân tộc khác
Trang 34Sự phân bố dân cư , thành phần dân tộc trong khu vực nghiên cứu không đồng đều Người dân tộc thiểu số chiếm 95,65% tổng dân số trong khu vực Đa số nhân dân trong vùng (trong đó hầu hết là người dân tộc thiểu số ), sinh sống ven các cánh rừng, xa trung tâm xã ; điều kiện cuộc sống còn nhiều khó khăn , nguồn nước sinh hoạt chủ yếu từ các khe , suối; còn một số thôn bản chưa được sử dụng điện lưới quốc gia
134, chính sách trợ giá - trợ cước, các chính sách về nông lâm nghiệp… Nhân dân trong vùng đã được nhận khoán bảo vệ và trồng rừng mới phủ xanh đất trống đồi núi trọc nên diện tích rừng đã tăng đáng kể Cùng với các chính sách hỗ trợ về kinh tế-xã hội, chính sách tín dụng , các chính sách về giống và kỹ thuật đã giúp cho các
hộ gia đình có thêm thu nhập từ rừng , tự vươn lên xoá đói giảm nghèo Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ hơn 70% năm 2005 xuống còn hơn 30% năm 2010, nhưng nhìn chung, đời sống của nhân dân trong vùng còn nhiều khó khăn ; thu nhập của đa số nhân dân trong vùng chủ yếu dựa vào nông , lâm nghiệp Chi tiết về nghề nghiệp và số hộ nghèo của người dân tro ng Khu rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng được trình bày ở bảng 1-4
Trang 35Bảng 1-4: Nghề nghiệp và số hộ nghèo Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng
thống kê
Mường Phăng (hộ)
Nà Tấu (hộ)
Nà Nhạn (hộ)
Tà Lèng (hộ)
Thanh Minh (hộ)
Pú Nhi (hộ)
Ẳng cang (hộ)
Ẳng Nưa (hộ)
Tổng (hộ)
Tỷ lệ (%)
I Tổng số hộ 1.803 1.110 891 225 444 368 1.310 769 6.920 100%
(Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Điện Biên)
Đa số người dân tại xã vùng ven khu rừng DTLS&CQMT đều sống bằng nghề nông lâm nghiệp Với các hoạt động phổ biến cho sự mưu sinh hàng ngày của nhiều người dân sống ven rừng , như: khai thác gỗ, củi trái phép; khai thác lâm sản khác như măng, cây thuốc, mật ong, lấy nứa, cây cảnh; săn bắt động vật hoang dã ; chăn thả gia súc quá mức dưới tán rừng… đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới tài nguyên
rừng và cảnh quan khu rừng
1.2.3.3 Cơ sở hạ tầng và y tế, văn hóa - giáo dục
a Cơ sở hạ tầng
- Về giao thông , trên địa bàn huyện Điện Biên có đường quốc lộ 279 chạy qua, nối với quốc lộ 279 là các tuyến đường Nà Nghè – Mường Phăng, Nà Tấu – Pá Khoang, Nà Nhạn – Pá Khoang là các tuyến đường chính chạy vào khu rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng Đây là những tuyến đường giao thông chính cho việc đi lại , buôn bán, giao lưu hàng hóa giữa các xã trong huyện và với các huyện, tỉnh bạn, nước bạn Lào Riêng các tuyến đường liên xã vào khu rừng
Trang 36di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng hiện đang bị xuống cấp , đường dốc đèo , suối cắt ngang nên việc đi lại còn gặp nhiều khó khăn , nhất là vào mùa mưa lũ
Ngoài ra, các đường du lịch sinh thái hồ Pá Khoang , khu di tích , các đường liên thôn bản được đầu tư cải tạo và mở mới nhờ các dự án đầu tư của Nhà nước , đã cải thiện đáng kể trong việc lưu thông , vận chuyển, trao đổi hàng hóa của đồng bào trong vùng
- Nhờ có các chính sách đầu tư của nhà nước nên hầu hết các xã đều có trụ sở UBND được kiên cố hóa ; hệ thống hồ , đập và kênh mương dần được xây dựng và kiên cố hóa , tuy chưa đáp ứng được 100% nhu cầu Nhưng đã đảm bảo chủ động cung cấp nước tưới tiêu cho một số diện tích cấy lúa và hoa mầu trên địa bàn
- Điện sinh hoạt: Hệ thống điện lưới sinh hoạt đã kéo đến tận các thôn của
các xã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có thể dùng thắp sáng và sử dụng các phương tiện thông tin Tuy nhiên, còn nhiều hộ gia đình ở một vài thôn bản xa xôi , nhỏ lẻ, xa đường trục chính nên chưa thể kéo và mắc điện về nhà
b Y tế, Văn hóa – Giáo dục
- Về Giáo dục : Các trường Tiểu học và THCS tại trung tâm các xã đều được kiên cố hóa; các lớp cắm bản được mở và dần được xây dựng kiên cố , tạo điều kiện thuận lợi cho con em trong vùng đến lớp đúng độ tuổi qui định Cùng với các xã trên phạm vi toàn tỉnh , 7 xã trong phạm vi Khu rừng DTLS&CQMT đã hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học
- Về văn hóa: 100% các xã có Bưu điện văn hóa xã , tại các thôn, bản đều có Nhà văn hóa , trong đó có nhiều thôn , bản đã mở được hệ thống tủ sách Tạo điều kiện thuận lợi việc giao l ưu, học hỏi, tiếp cận khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất của người dân
- Về Y tế: Hầu hết trạm y tế các xã chưa có Bác sĩ , số lượng Y sĩ có trình độ chuyên môn còn thấp , tại hầu khắp các thôn , bản của các xã đều có c án bộ y tế thôn
Trang 37khám chữa bệnh; công tác phòng ngừa dịch bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân còn nhiều hạn chế
1.2.4 Nhận xét về khu vực nghiên cứu
Thông qua những đặc điểm cơ bản của khu vực Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng ở trên có thể thấy rằng:
- Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng là một khu rừng di tích lịch sử và
hệ sinh thái rừng - hồ còn tương đối nguyên vẹn, với quần thể sinh vật đa dạng và tài nguyên rừng phong phú Các điều kiện tự nhiên và các nhân tố sinh thái của khu vực phù hợp với sự sinh trưởng , phát triển của nhiều loài sinh vật khác nhau , trong đó có các loài nấm Đây là những kho dữ liệu và cơ sở quan trọng cho công tác bảo tồn, nghiên cứu về tài nguyên rừng
- Dân số sống trong khu vực bao gồm nhiều dân tộc khác nhau , mỗi dân tộc
có một bản sắc văn hoá riêng trong quản lý và sử dụng tài nguyên rừng Trong đó
có những phong tục truyền thống tích cực , cần phải được bảo tồn và phát huy Với những giá trị văn hóa đặc sắc , các nghề truyền thống riêng có của các dân tộc thiểu số trong khu vực sẽ là một trong những tiềm năng của du lịch di tích lịch sử , sinh thái và nhân văn của khu vực
- Đời sống của người dân trong khu bảo tồn còn phụ thuộc khá lớn vào nông lâm nghiệp, do đó tạo nên áp lực khá lớn vào rừng Vì vậy, để giải quyết vấn đề bảo tồn, phát triển rừng và đảm bảo cải thiện cuộc sống cho người dân là việc làm cấp thiết của chính quyền địa phương và Ban quản lý khu rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường
- Trong khu vực các xã thuộc địa phận khu rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường, có sự hoạt động của Nhà máy thủy điện , cộng với diện tích đất lâm nghiệp lớn, khu bảo tồn di tích lịch sử và hệ sinh thái đa dạng Đây là những điều kiện thuận lợi trong việc định hướng phát triển kinh tế , sản xuất hàng hóa , dịch vụ, thương mại và du lịch Qua đó góp phần giúp cho nhân dân trong vùng xóa đói , giảm nghèo bền vững
Trang 38CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu, đối tượng, giới hạn nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
- Mục tiêu của đề tài
+ Xác định được thành phần loài , một số đặc điểm sinh học cơ bản nấm KSCT tại Khu rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng huyện Điên Biên, tỉnh Điên Biên
+ Đề xuất biện pháp bảo tồn phát triển, sử dụng bền vững nguồn được liệu quí
trên địa bàn Khu rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng huyện Điên Biên, tỉnh Điên Biên
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loại nấm KSCT tại khu rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng huyện Điên Biên, tỉnh Điên Biên
- Giới hạn nghiên cứu
+ Về địa điểm: Đề tài chỉ nghiên cứu trên địa phận Khu rừng di tích lịch
sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng huyện Điên Biên, tỉnh Điên Biên
+ Về đối tượng nghiên cứu: Thành phần các loại nấm KSCT tại khu rừng di
tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng huyện Điên Biên, tỉnh Điên Biên Nghiên cứu đặc điểm sinh học trong nuôi cấy thuần khiết chỉ tiến hành với
loài nấm có giá trị dược liệu cao Cordyceps nutans
+ Về nội dung nghiên cứu: Chỉ tập trung nghiên cứu về thành phần loài, đặc
điểm sinh học, sinh thái loài nấm KSCT và đề xuất một số biện pháp quản lý, bảo
vệ và phát triển nguồn nấm này
- Ý nghĩa của đề tài
+ Ý nghĩa khoa học: Xác định được sự phân bố các loài nấm KSCT tại nước
Trang 39KSCT trên địa bàn Khu rừng di tích lịch sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng huyện Điên Biên, tỉnh Điên Biên
+ Ý nghĩa thực tiễn: Bổ sung vào danh mục nguồn gen các loài nấm KSCT tại
nước ta; đề xuất biện pháp bảo tồn phát triển, sử dụng bền vững nguồn dược liệu quí trong nước; tìm ra hướng đi mới trong việc phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, của đồng bào dân tộc thiểu số sống ven Khu rừng di tích lịch
sử và cảnh quan môi trường Mường Phăng
2.2 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nêu trên, đề tài đặt ra các nội dung nghiên cứu sau đây.
2.2.1 Điều tra thu mẫu và giám định nấm KSCT tại Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng
2.2.2 Đánh giá đa dạng sinh học các loài nấm KSCT tại Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng
- Đa dạng về thành phần loài, tần xuất xuất hiện;
- Đa dạng về phân bố;
- Đa dạng về ký chủ;
- Đa dạng về giá trị dược liệu
2.2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài nấm phổ biến nhất trong vùng
- Phân lập và đặc điểm của hệ sợi trong nuôi cấy thuần khiết;
- Ảnh hưởng của nhiêt độ không khí đến sự sinh trưởng của hệ sợi;
- Ảnh hưởng của độ ẩm không khí đến sự sinh trưởng của hệ sợi;
- Ảnh hưởng của pH môi trường đến sự sinh trưởng của hệ sợi;
- Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng đến sự sinh trưởng của hệ sợi
2.2.4 Đề xuất hướng bảo tồn, khai thác, sử dụng và phát triển một số loài nấm quý 2.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 402.3.1 Quan điểm và cách tiếp cận trong nghiên cứu
- Ngành nấm nói chung, các loài nấm KSCT nói riêng rất đa dạng và phong phú, vì vậy đề tài lấy quan điểm lịch sử và thực tiễn áp dụng trong nghiên cứu Việc
kế thừa các tài liệu nghiên cứu đã được công bố có một tầm quan trọng đặc biệt, để tiết kiệm và tránh sự chồng chéo trong nghiên cứu
- Căn cứ vào mục tiêu đặt ra, thông qua nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và giá trị sử dụng của các loài nấm KSCT trong khu vực, làm cơ sở cho việc đưa ra những giải pháp quản lý, khai thác Chú trọng đến việc đề ra hướng bảo
vệ, sử dụng và khai thác một số loài nấm quí Nhưng vẫn đảm bảo giá trị đa dạng sinh học, quản lý bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện có mà vẫn đáp ứng được nhu cầu của người dân địa phương trong sự phát triển theo hướng có lợi Đặt vấn đề ưu tiên sử dụng bền vững nguồn dược liệu quí trong khu vực nghiên cứu là nguyên tắc quan trọng khi đưa ra các giải pháp quản lý
- Đa dạng các loài nấm KSCT là sự thích ứng giữa các loài nấm với điều kiện ngoại cảnh, đa dạng côn trùng và tác động của con người Vì vậy nghiên cứu phải dựa vào sinh cảnh hiện có, các đặc điểm sinh vật học của loài và những thay đổi về sinh thái môi trường để xem xét
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu chung
Đề tài áp dụng phương pháp kế thừa về số liệu, phương pháp điều tra, các nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của nấm KSCT; giám định và phân lập nấm trong phòng thí nghiệm; tổng hợp, sử lý số liệu, vẽ biểu đồ trên phần mềm Exel
2.3.3 Công tác chuẩn bị
- Thu thập số liệu chung về vị trí địa lý , điều kiện tự nhiên , kinh tế - xã hội các xã nằm trong phạm vi khu vực nghiên cứu ; các tài liệu, báo cáo, các nghiên cứu khoa học về Khu rừng DTLS&CQMT Mường Phăng; các tài liệu về nấm KSCT
và những vấn đề có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu