1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ

106 718 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi xin chân thành cảm ơn UBND xã Gia Thanh, huyện Phù Ninh; Chi cục Bảo vệ thực vật Phú Thọ đã xây dựng thuyết minh và được UBND tỉnh Phú Thọ phê duyệt tại Quyết định số 3118/QĐ-UBND ng

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG THỊ THU HÀ

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ MỘT

SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG HỒNG KHÔNG HẠT

GIA THANH HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn: “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biên pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ” là do tôi nghiên cứu và thực hiện, dưới sự

hướng dẫn khoa học của thầy giáo TS Nguyễn Thế Huấn Mọi số liệu nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng bảo vệ bất cứ một công trình khoa học nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái nguyên, tháng 10 năm 2012

HỌC VIÊN CAO HỌC

Hoàng Thị Thu Hà

i

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Phòng quản lý đào tạo Sau Đại học, Khoa Nông học, các thầy giáo, cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Thế Huấn

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và hoàn thành luận văn này

Tôi xin trân trọng cảm ơn tới Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện, các phòng ban chuyên môn huyện Phù Ninh, đặc biệt là phòng Nông nghiệp

&PTNT huyện Phù Ninh nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện về thời gian

để Tôi hoàn thành khoá học cũng như thực hiện đề tài nghiên cứu Tôi xin chân thành cảm ơn UBND xã Gia Thanh, huyện Phù Ninh; Chi cục Bảo vệ thực vật Phú Thọ đã xây dựng thuyết minh và được UBND tỉnh Phú Thọ phê duyệt tại Quyết định số 3118/QĐ-UBND ngày 22 tháng 11 năm 2007, với tên

đề tài: "Nghiên cứu, ứng dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp bệnh thán thư trên giống Hồng Gia Thanh ở Phú Thọ", và các đơn vị cơ quan: Trung tâm Nghiên cứu cây ăn quả Phú Hộ - Viện nghiên cứu Rau quả - Bộ Nông nghiệp

&PTNT; Viện Khoa học thuỷ lợi - Bộ Nông nghiệp &PTNT là cơ quan chuyển giao công nghệ thuộc chương trình “xây dựng mô hình ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn và miền núi giai đoạn 2005-2010”, đơn vị chuyển giao công nghệ thực hiện dự án “Xây dựng mô hình trồng và thâm canh giống hồng Gia Thanh trên đất đồi sau khai thác cây bạch đàn tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ” Trong quá trình thực hiện đề tài, có nhiều thông tin cùng kết quả nghiên cứu, phân tích của cơ quan đơn vị tôi đã được kế thừa sử dụng, xin trân trọng cảm ơn

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới bạn bè, đồng nghiệp, cơ quan, các hộ gia đình trong vùng dự án của huyện và gia đình của tôi đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Thái nguyên, tháng 10 năm 2012

HỌC VIÊN CAO HỌC

Hoàng Thị Thu Hà

ii

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH x

MỞ ĐẦU Er ror! Bookmark not defined 1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI 3

3 YÊU CẦU VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4

1.1.1 Cơ sở khoa học của biện pháp cắt tỉa 4

1.1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón qua lá 7

1.1.2.1 Biện pháp sử dụng phân bón qua lá 7

1.1.2.2.Hiệu quả của biện pháp sử dụng phân bón qua lá 8

1.1.2.3 Ưu điểm, nhược điểm của việc sử dụng phân bón qua lá 8

1.1.2.4 Các nghiên cứu về việc sử dụng phân bón qua lá 9

1.1.3 Cơ sở khoa học của việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng 10

1.1.3.1.Cơ sở khoa học của biện pháp sử dụng chất điều hoà sinh trưởng 10

1.1.3.2 Vai trò sinh lý của chất điều tiết sinh trưởng 12

1.1.3.3 Phân loại chất điều tiết sinh trưởng 12

1.1.3.4 Sử dụng chất điều tiết sinh trưởng trong sản xuất cây ăn quả 13

iii

Trang 5

1.1.3.5 Các kết quả nghiên cứu sử dụng chất điều tiết sinh trưởng cho cây trồng và

cây ăn quả 13

1.2 NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT HỒNG

ĂN QUẢ 14

1.2.1 Nguồn gốc và phân loại 14

1.2.2 Tình hình phân bố và sản xuất hồng ăn quả 18

1.2.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới 18

1.2.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 20

1.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC LIÊN QUAN ĐẾN PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI 27

1.3.1 Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học cây hồng 27

1.3.1.1.Đặc điểm rễ và hệ rễ 27

1.3.1.2.Đặc điểm thân cành hồng 28

1.3.1.3 Đặc điểm về lá 29

1.3.1.4 Đặc điểm về hoa 29

1.3.1.5 Đặc điểm về quả và hạt 30

1.3.2 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh cây hồng 32

1.3.2.1 Nhiệt độ 32

1.3.2.2 Ẩm độ và mưa 32

1.3.2.3 Yêu cầu về ánh sáng 33

1.3.2.4 Yêu cầu về đất đai 34

1.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng và kỹ thuật bón phân cho hồng 35

1.3.4 Nguồn gốc, đặc tính một số chất điều hoà sinh trưởng và phân bón qua lá sử dụng trong nghiên cứu của đề tài 36

1.3.5 Một số đặc điểm của giống hồng Gia Thanh 38

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 40

iv

Trang 6

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 40

2.2 ĐỊA ĐIỂN VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 40

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 40

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, tình hình sản xuất cây ăn quả và cây hồng tại huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ 40

2.4.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh học 41

2.4.3 Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất giống hồng không hạt hồng Gia Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ 41

2.5 CÁC CHỈ TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42

2.5.1 Theo dõi đặc điểm sinh học của giống hồng Gia Thanh 42

2.5.2 Nghiên cứu các giai đoạn ra hoa, đậu quả, năng suất, chất lượng quả 43

2.5.3 Các chỉ tiêu về chất lượng quả 44

2.6 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU VÀ TÍNH TOÁN 44

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, THẢO LUẬN 45

3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT HỒNG TẠI XÃ GIA THANH HUYỆN PHÙ NINH TỈNH

PHÚ THỌ 45

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 45

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 46

3.1.3 Tình hình sản xuất hồng tại huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ 49

3.1.4 Tình hình áp dụng các biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc 52

3.2 NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG HỒNG GIA THANH 53

3.2.1 Những nghiên cứu về đặc điểm hình thái 53

3.2.1.1 Đặc điểm thân, cành, dạng tán 53

3.2.1.2.Đặc điểm lá hồng 54

v

Trang 7

3.2.1.3 Các đợt lộc sinh trưởng 55

3.2.1.4 Động thái tăng trưởng chiều dài các đợt lộc năm 2012 57

3.2.2 Quá trình ra hoa, đậu quả 58

3.2.3 Đặc điểm hình thái và năng suất quả 60

3.3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT HẠN CHẾ HIỆN TƯỢNG RỤNG QUẢ 61

3.3.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến năng suất chất lượng hồng 61

3.3.1.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến năng suất 61

3.3.1.2 Ảnh hưởng của biện pháp cắt tỉa đến chất lượng quả hồng 64

3.3.2 Kết quả nghiên cứu tác dụng của chế phẩm điều tiết sinh trưởng và phân bón qua lá đến khả năng ra hoa đậu quả. 65

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 72

1 KẾT LUẬN 72

2 ĐỀ NGHỊ 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

I TIẾNG VIỆT 74

II TIẾNG ANH 77

vi

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NS

SL

DT PTNT CAQ TGST Cành TT

: Năng suất : Sản lượng : Diện tích : Phát triển nông thôn : Cây ăn quả

: Thời gian sinh trưởng : Cành thành thục

vii

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bả ng 1.1: Sả n lượng trồ ng hồ ng củ a mộ t số nước trên thế giới nă m 2005 -

2008 18

Bả ng 1.2: Sự phân bố và sử dụ ng củ a các loà i thuộ c chi Diospyros 19

Bả ng 1.3: Diệ n tích, sả n lượ ng hồ ng ở Việ t Nam đ ế n nă m 2000 20

Bả ng 1.4: Diệ n tích hồ ng củ a mộ t số tỉ nh trong cả nước nă m 2004 21 Bả ng 1.5: Lượ ng phân bón cho hồ ng ở các cấ p tuổ i (kg/cây) 36

Bả ng 3.1: Kế t quả phân tích đ ấ t 45

Bả ng 3.2 Diễ n biế n khí hậ u trung bình nă m 2012 trong thờ i gian nghiên cứu tạ i huyệ n Phù Ninh tỉ nh Phú Thọ 47

Bả ng 3.3: Hiệ n trạ ng sử dụ ng đ ấ t nông nghiệ p tạ i huyệ n Phù Ninh 49

Bả ng 3.4: Diệ n tích, nă ng suấ t, sả n lượ ng mộ t số cây ă n quả chính

nă m 2006-2008 50

Bả ng 3.5: Số hộ , tỷ lệ hộ áp dụ ng các biệ n pháp kỹ thuậ t chă m sóc hồ ng 52

Bả ng 3.6: Đặ c đ iể m thân, cà nh 53

Bả ng 3.7: Đặ c đ iể m lá củ a giố ng hồ ng Gia Thanh 54

Bả ng 3.8: Đặ c đ iể m và khả nă ng sinh trưở ng lộ c xuân nă m 2012 55

Bả ng 3.9: Đặ c đ iể m và khả nă ng sinh trưở ng lộ c hè nă m 2012 56

Bả ng 3.10: Đặ c đ iể m và khả nă ng sinh trưởng lộ c thu nă m 2012 57

Bả ng 3.11: Độ ng thái tă ng trưởng chiề u dà i các đ ợt lộ c nă m 2012 58

Bả ng 3.12: Quá trình ra hoa, đ ậ u quả củ a hồ ng Gia Thanh 59

Bả ng 3.13: Mộ t số chỉ tiêu liên quan đ ế n nă ng suấ t, chấ t lượ ng quả hồ ng Gia Thanh 60

Bả ng 3.14: Biệ n pháp cắ t tỉ a ả nh hưởng củ a đ ế n khả nă ng ra hoa, đ ậ u quả , nă ng suấ t 62

viii

Trang 10

Bả ng 3.15: Ảnh hưởng củ a biệ n pháp cắ t tỉ a đ ế n nă ng suấ t, kích thước

quả 63

Bả ng 3.16: Ảnh hưở ng củ a biệ n pháp cắ t tỉ a đ ế n chấ t lượng quả 64

Bả ng 3.17: Hiệ u quả kinh tế củ a biệ n pháp cắ t tỉ a 65

Bả ng 3.18: Ảnh hưở ng củ a GA3 và phân bón dinh dưỡng qua lá đ ế n

tình hình ra hoa và đ ậ u quả 67

Bả ng 3.19: Ảnh hưở ng củ a GA3 và phân bón dinh dưỡng qua lá đ ế n

kích thướ c và nă ng suấ t quả 68

Bả ng 3.20: Ảnh hưở ng củ a phun GA3 kế t hợp phân bón dinh dưỡng qua lá đ ế n chấ t lượng hồ ng 70

Bả ng 3.21: Sơ bộ hạ ch toán hiệ u quả kinh tế khi phun GA3 kế t hợ p phân bón dinh dưỡng qua lá cho hồ ng 71

ix

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Đồ thị so sánh lượ ng mưa và nhiệ t đ ộ giữa các tháng 47Hình 3.2: Đồ thị tỷ lệ các loạ i lộ c củ a giố ng hồ ng Gia Thanh 57Hình 3.3: Biể u đ ồ anh hưởng củ a biệ n pháp cắ t tỉ a đ ế n số quả và nă ng

suấ t 63Hình 3.4: Biể u đ ồ ả nh hưởng phun GA3 kế t hợp phân bón qua lá đ ế n

nă ng suấ t củ a hồ ng Gia Thanh 69

x

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cây hồng (Diospyros Kaki L), thuộc họ thị (Ebenaceae) là một trong

những loại cây ăn quả quan trọng nhất của các nước châu Á thuộc miền ôn đới như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên… Người châu Âu đánh giá quả hồng khá cao, chỉ sau đào, lê, táo tây, bơ, Ở châu Âu hồng được trồng nhiều ở vùng Địa Trung Hải

Hồng ở Việt Nam được coi là một trong những loại cây ăn quả truyền thống, được xếp trong nhóm cây ăn quả quan trọng Hồng là loại cây ăn quả lâu năm có nguồn gốc Á Nhiệt Đới, có khả năng chịu rét và chịu hạn tốt, có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế Hồng có vị ngọt, không chua nên rất hợp với khẩu vị của người Á đông và được đánh giá cao với một số lý do sau:

Hồng không chỉ nổi tiếng là loại quả chứa nhiều đường 12 - 16%, trong

đó chủ yếu là đường glucoza và fructoza, vì thế hồng thuộc loại quả ăn kiêng Lượng axit 0,1% (ít khi tới 0,2%) Trong 100g thịt quả chín (phần ăn được) chứa 16 mg vitamin C, 0,16 mg caroten; Ngoài ra còn có Vitamin PP; B1, B2,…, các hợp chất hữu cơ, sắt và chất chát (tanin) có 0,25 - 0,3%

Ngoài giá trị cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể con người, quả Hồng và các bộ phận của cây hồng còn là những vị thuốc quý Quả chín được sử dụng

để ăn tươi, chữa bệnh táo bón, bệnh trĩ, giảm sốt, chống say rượu, bớt căng thẳng, khi qua chế biến được sử dụng để chữa bệnh tiêu chảy

Cây Hồng có nhiều ưu điểm hơn so với các cây trồng khác như: dễ trồng, chịu được khô hạn, ít sâu bệnh, sinh trưởng khỏe, lá to, tán rộng có thể trồng để thu hoạch quả hoặc sử dụng như cây trồng tạo cảnh quan, trồng rừng, năng suất ổn định, phẩm chất quả ngon Bởi vậy trồng hồng cho thu nhập cao hơn so với một số cây ăn quả khác, với những ưu điểm trên có thể coi cây

Trang 13

hồng là một trong những cây trồng quan trọng góp phần xóa đói giảm nghèo ở vùng nông thôn, trung du miền núi phía Bắc

Huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ có giống hồng không hạt Gia Thanh, hồng Gia Thanh là loại quả đặc sản mới đang được biết đến trong vài năm gần đây Huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Phú Thọ, dọc trên đường quốc lộ

số 2, phía bắc giáp huyện Đoan Hùng và tỉnh Tuyên Quang; phía Nam giáp huyện Lâm Thao và thành phố Việt Trì; phía Tây giáp huyện Thanh Ba và thị

xã Phú Thọ; phía Đông có sông Lô bao bọc, là địa giới với huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc, rất thuận lợi về giao thông thuỷ bộ

Đối với các vùng miền trên cả nước người dân biết đến sản phẩm này chưa nhiều vì sản phẩm mới chỉ dừng lại ở mức độ đã và đang nghiên cứu và giới thiệu, thậm chí các tài liệu viết về cây hồng này cũng rất ít Giống hồng không hạt Gia Thanh khi chín quả có mầu vàng nhạt, thịt quả khi ăn có mùi thơm đặc trưng, vị ngọt và rất giòn ), quả chín vào đúng dịp tết trung thu hàng năm (đáp ứng nhu cầu thị trường ngày rằm tháng tám) và có thời gian thu hoạch bảo quản tương đối dài Do vị trí địa lý, kinh tế xã hội, tập quán canh tác Đặc biệt là giao thông liên thôn và thông tin thị trường làm hạn chế rất nhiều đến sự phát triển của giống hồng này Bên cạnh đó hiện nay do người dân chưa đầu tư nhân lực, vật lực để phát triển nên sản phẩm hồng Gia Thanh chưa được biết đến rộng rãi trên thị trường cả nước, phần lớn diện tích Hồng không hạt Gia Thanh chưa được người dân đầu tư thâm canh, thiếu chăm sóc, bón phân không đầy đủ, cân đối, kịp thời nên tỷ lệ hoa và quả rụng nhiều, cây thiếu dinh dưỡng, chậm phát triển Việc phát triển cây hồng còn nhiều hạn chế so với tiềm năng của giống và ưu thế về điều kiện tự nhiên - xã hội của vùng miền Vì vậy, với mong muốn phát triển vùng trồng sản phẩm hồng Gia Thanh tại xã Gia Thanh huyện Phù Ninh thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung, đáp ứng thị trường người tiêu dùng và phát huy lợi thế của

Trang 14

vùng, tăng thu nhập cho người dân thì việc nghiên cứu và áp dụng biện pháp

kỹ thuật thâm canh hợp lý để phát triển cây hồng không hạt Gia Thanh trở thành cây hàng hoá, và tiến tới xây dựng thương hiệu cho sản phẩm, tạo ra vùng sản xuất hàng hóa, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:

"Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ"

3 YÊU CẦU VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

- Xác định một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển liên quan đến năng suất, chất lượng của giống hồng không hạt Gia Thanh tại xã Gia Thanh huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ

- Xác định hiệu quả của một số biện pháp kỹ thuật: cắt tỉa, tủ gốc giữ

ẩm, bón phân qua lá, sử dụng chất điều hoà sinh trưởng, phân bón qua lá, liên quan đến tỷ lệ đậu quả, năng suất và chất lượng quả hồng không hạt Gia Thanh, từ kết quả nghiên cứu tìm ra biện pháp tốt nhất để ứng dụng vào thực tiễn sản xuất

- Đề tài tài góp phần bổ sung vào quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc

cây hồng không hạt Gia Thanh

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Cơ sở khoa học của biện pháp cắt tỉa

Bên cạnh công tác chọn giống thích hợp với vùng sinh thái và mục đích sử dụng, việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất

và chất lượng cây ăn quả nói chung và cây hồng nói riêng có ý nghĩa quan trọng đối với người trồng trọt và các nhà khoa học

Cây hồng sinh trưởng và phát triển tốt khi nó nhận được đầy đủ dinh dưỡng từ 2 nguồn:

- Dinh dưỡng nuôi cây được hút thông qua bộ rễ

- Dinh dưỡng cung cấp cho cây từ bộ lá do quá trình quang hợp

Sự cân đối giữa hai nguồn dinh dưỡng trên giúp cho cây sinh trưởng phát triển tốt từ đó con người tác động vào cây để có tỷ lệ C/N thích hợp (C

là nguồn cacbon, N là nguồn đạm) Tỷ lệ C/N cao thường xảy ra ở cây già bộ

rễ hoạt động kém nên cung cấp nhựa nguyên không đủ, trong khi bộ khung tán lớn, lá nhiều quang hợp cũng không tốt do vậy việc vận chuyển nhựa gặp nhiều khó khăn Tỷ lệ C/N thấp thì nhựa luyện ít do quang hợp yếu, lá quá dày hơn nữa thường xảy ra vào trường hợp cây còn non bộ rễ sung sức, hút các chất dinh dưỡng mạnh và bón quá nhiều phân nhất là đạm

Cũng như các loại cây ăn quả khác cây hồng đều trải qua hai giai đoạn

đó là:

- Giai đoạn kiến thiết cơ bản

- Giai đoạn kinh doanh

Cắt tỉa ở giai đoạn kiến thiết cơ bản để tạo cho cây có bộ khung tán vững chắc, cành phân bố đều còn cắt tỉa ở giai đoạn kinh doanh (cây đã cho

Trang 16

thu hoạch quả) là một biện pháp kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất, phẩm chất, khắc phục được hiện tượng ra quả cách năm, kéo dài thời gian thu hoạch và làm tăng hiệu quả kinh tế

Cắt tỉa tạo cho cây khoẻ mạnh sung sức và bồi dưỡng được nhiều cành

mẹ tốt, dinh dưỡng không bị phân tán, nhằm điều chỉnh cân đối giữa quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và quá trình sinh trưởng sinh thực tạo điều kiện cho cây ra hoa đậu quả tốt Trích dẫn Nguyễn Kim Đương, (2006) [7] theo Giáo sư Trần Thế Tục và cộng sự (1998) [29] Cắt tỉa là biên pháp kỹ thuật quan trọng và cần thiết được tiến hành thường xuyên, giúp cho cây phân bố thân, cành một cách đồng đều, hợp lý để tận dụng không gian, rút ngắn độ cao, tăng chiều rộng tán Làm cho cây thông thoáng, quang hợp tốt, tránh được sâu bệnh và tránh những cành ra không có hiệu quả mất nhiều dinh dưỡng không cần thiết Tuy nhiên hiện nay người làm vườn vẫn chưa nhận thức đầy đủ về biện pháp cắt tỉa, mới chỉ tập trung vào khâu bón phân và phòng trừ sâu bệnh

Tuỳ thuộc vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, trong chu

kỳ sống một năm cây hồng thường ra 2 - 3 đợt lộc là xuân, hè, thu Phạm Văn Côn (2002) [5], Vũ Công Hậu, (1980) [9], Vũ Công Hậu, (1999) [11], Trần Như Ý và cộng sự [34], [35] Các đợt lộc có liên quan chặt chẽ với nhau, quá trình ra lộc của năm trước là tiền đề cho sự ra hoa kết quả của năm sau Nắm bắt được quy luật trên để có các biện pháp kỹ thuật thích hợp điều khiển quá trình ra lộc sẽ hạn chế ra hoa đực, hạn chế hiện tượng ra quả cách năm, bồi dưỡng cành mẹ của cành quả năm sau, điều chỉnh cân đối giữa các bộ phận dưới mặt đất, hạn chế sâu bệnh, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng quả hồng [3], [4], [9], [11] Chính vì những ưu điểm trên việc nghiên cứu quá trình ra các đợt lộc trong năm trên cây hồng Gia Thanh là rất cần thiết và là tiền đề để xây dựng các biện pháp kỹ thuật

Trang 17

Theo Phạm Văn Côn (2004) [6], Trần Thế Tục (1994) [28], người làm vườn cần phải tác động tích cực để tạo dựng hệ thống cành, khung, nửa khung và cành nhánh của cây cho phù hợp với cấu trúc của vườn và mục đích kinh doanh Trong kỹ thuật làm vườn hiện tại việc đốn, cắt tỉa là khâu kỹ thuật then chốt, cần có kiến thức, kinh nghiệm và tay nghề

Hiện nay, nhiều biện pháp đốn tỉa, tạo hình cho cây hồng rất được quan tâm Thông thường mới đem trồng phải tạo hình ngay, chỉ giữ một thân chính cao 80 - 100cm Các cành cắt cụt hết để cây bật ra những cành khoẻ hơn Chọn trên thân chính 3 cành khoẻ mọc ra 3 hướng khác nhau để làm cành khung Cuối năm thứ nhất, chủ yếu là cắt ngắn các cành khung cấp I để cây ra cành khung cấp II trên mỗi cành khung cấp I chỉ để 2 - 3 cành khung cấp II ở các vị trí thích hợp sao cho các cành hướng ra phía ngoài Nếu cây khoẻ có thể gây thêm một cành khung cấp I thứ 4 ở phía ngọn cây Cuối năm thứ 2 chủ yếu là cắt ngắn các cành khung cấp II và năm thứ 3 chủ yếu là cắt ngắn cành khung cấp III Hết năm thứ 3 coi như tán cây hồng đã ổn định, cây hồng bắt đầu bói quả và bắt đầu bước sang thời kỳ đốn tạo quả [5], [6], [9], [10], [11]

Cành quả chỉ sinh ra trên cành mẹ mọc từ năm trước Cành mẹ thường sinh ra cành quả ở mắt thứ nhất đến mắt thứ 3 tính từ ngọn xuống Do vậy, các tác giả trên đã đưa ra nguyên tắc cơ bản của đốn tỉa tạo quả là không đốn hớt ngọn vì dễ làm mất những mắt sinh ra cành quả, mà cắt từ chân loại bỏ hẳn những cành mẹ cành quả nào quá yếu, quả tập trung Cành đã ra quả do dinh dưỡng tập trung nuôi quả nên sinh trưởng yếu đi, do vậy cũng cần đốn,

kỹ thuật cắt tỉa như sau: cắt tận chân nếu cành yếu, cắt phía trên, nơi đã có quả, để lại một, hai mầm, những mầm này năm sau sẽ phát triển thành cành

mẹ cành quả và sẽ chọn ở gốc cành một hai cành mẹ cành quả khoẻ nhất

Những cành mẹ cành quả năm nay nếu được đốn tỉa hợp lý, năm sau sẽ sinh ra những cành quả khoẻ với số lượng phù hợp ở những vị trí cần thiết

Trang 18

[4], [5], [6], [9], [10], [11] Như vậy việc nghiên cứu các biện phát cắt tỉa có ý nghĩa quan trọng trong sản xuất hồng

1.1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón qua lá

1.1.2.1 Biện pháp sử dụng phân bón qua lá

Nhiều kết quả nghiên cứu về phân phức hợp hữu cơ vi sinh tăng năng suất cây trồng cho thấy: thường sau khi hoa nở rộ hoặc hoa đã tàn lúc này cây đang ở tình trạng thiếu dinh dưỡng trầm trọng [23], [30] Ở thời điểm này bộ

rễ ở dưới đất phát triển yếu vì bị ức chế do hoa nở rộ, nếu bón phân vào đất rễ cũng chưa có điều kiện hấp thu được ngay Nguyễn Ngọc Nông (1997) [14]

Do vậy, phải kịp thời phun dinh dưỡng lên cây để bổ sung dinh dưỡng và làm bớt rụng quả sinh lý Trần Văn Uyển (1995) [30]

Lá là một bộ phận quan trọng của cây trồng, nhiệm vụ của lá là quang hợp hấp thu dinh dưỡng cho cây Tất cả quá trình này được diễn ra trên cơ quan ở mặt lá đó là lỗ khí khổng Tuy nhiên sự hấp thu các nguyên tố khoáng dưới dạng ion từ dung dịch gặp phải khó khăn hơn vì tầng cultin ở lớp ngoài cùng của lá, tầng cultin này có thể dày hay mỏng thuỳ theo từng loại cây trồng và tuổi của cây

Lỗ khí khổng có kích thước trung bình 100µm2

(dài 7-10µm, rộng 12µm), số lượng khá lớn, có thể chiếm tới 1% diện tích lá Lỗ khí khổng phân bố ở cả mặt trên và mặt dưới của lá Số lượng lỗ khí khổng của từng loại cây rất khác nhau như: số lượng lỗ khí khổng/1mm2

lá ở lá ngô là 120; ở

lá cà chua là 142; đặc biệt ở những cây thân gỗ số lượng lỗ khí khổng rất lớn

từ 300 - 400 Điều đáng chú ý là muốn cho phân bón qua lá mang lại hiệu quả cao nhất thì nó phải được phun lên bề mặt lá có nhiều lỗ khí khổng Phương pháp dinh dưỡng qua lá đặc biệt có hiệu quả trong điều kiện đất nghèo dinh dưỡng và sự hấp thụ dinh dưỡng của cây ở đất bị hạn chế Do vậy, việc áp dụng bón phân qua lá từ 2 - 3 lần ở những thời điểm thích hợp là hoàn toàn

Trang 19

có thể đáp ứng được nhu cầu của cây và cải thiện được năng suất cây trồng Horst (1993) [46]

1.1.2.2.Hiệu quả của biện pháp sử dụng phân bón qua lá

Bón phân qua lá được xác định là biện pháp có hiệu suất sử dụng phân bón cao nhất, kinh tế nhất, cây trồng hấp thu được tới 95% lượng phân bón vào Nguyên nhân chính là do phân bón qua lá được sản xuất với nguyên liệu tinh khiết trong sạch đến 99,9% Trong quá trình sản xuất, phân bón lá được kết hợp với nhiều nguồn Enzim (enzymes) chiết xuất từ động vật, thực vật, sinh vật, vi khuẩn hoặc vi nấm, các vi lượng cần thiết giúp cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt hơn, Horst (1993) [46]

1.1.2.3 Ưu điểm, nhược điểm của việc sử dụng phân bón qua lá

- Đất bị khô hạn không thể cung cấp dinh dưỡng vào đất

Sử dụng phân bón qua lá là phương pháp rất phổ biến với các nguyên

tố trung lượng như Magiê, S và các nguyên tố vi lượng được yêu cầu với liều lượng nhỏ Phương pháp này hoàn toàn có thể thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng của cây Điều chỉnh sự mất cân bằng dinh dưỡng của cây khi chuyển giai đoạn từ sinh trưởng sinh dưỡng sang sinh trưởng sinh thực Lúc này các chất dinh dưỡng được tập trung vào hình thành cơ quan sinh sản làm giảm sinh trưởng bộ rễ, giảm hút khoáng chất dẫn đến mất cân bằng nên bổ sung dinh dưỡng qua lá sẽ khắc phục được tình trạng này [55], [56]

Sử dụng phân bón qua lá rất có hiệu quả khi trong đất có hiện tượng đối kháng ion Trong điều kiện đất giàu K+

và Mg2+, hàm lượng K lớn hơn

Trang 20

300 mg/kg đất và lớn hơn 160 mg Mg2+/kg đất Sự hấp thu Mg bị ngăn cản

do hiện tượng đối kháng ion, cây có biểu hiện thiếu Mg nếu bón Mg cho cây vào đất sẽ làm cho cây mất cân bằng dinh dưỡng và chết do ngộ độc Mg, trong khi đó bón Mg qua lá lại giúp cây hấp thu và sinh trưởng tốt [55]

* Nhược điểm:

- Chỉ một lượng nhỏ chất khoáng có thể hút qua lá Đối với các nguyên

tố đa lượng chỉ khoảng 10% là được đồng hoá qua lá Vì thế phương pháp này không được sử dụng phổ biến với các nguyên tố đa lượng, với các nguyên tố này thì dinh dưỡng qua lá được xem như là một biện pháp hỗ trợ cho các phương pháp dinh dưỡng vào đất trong điều kiện cần thiết và chỉ phổ biến với các nguyên tố trung lượng và vi lượng

- Phân bón qua lá rất dễ bị trôi khỏi lá, vì thế khi sử dụng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết

- Dung dịch dinh dưỡng sau khi phun đòi hỏi phải tạo thành một lớp phin mỏng trên bề mặt lá với thời gian tồn tại lâu, vì vậy, khi phun phải chọn lúc trời râm mát, phun vào chiều tối và thường kết hợp với các chất hoạt động bề mặt [55], [56]

1.1.2.4 Các nghiên cứu về việc sử dụng phân bón qua lá

Khi nghiên cứu về phân phức hợp hữu cơ vi sinh tăng năng suất cây trồng, Lê Văn Trí (2000) [23], Trần Văn Uyển (1995) [30] nhận thấy: thông thường sau khi hoa nở rộ hoặc hoa đã tàn cây trồng ở trong tình trạng thiếu dinh dưỡng trầm trọng Lúc này bộ rễ ở dưới đất phát triển yếu vì bị ức chế

do hoa nở rộ, đất thiếu nước nếu bón phân vào đất rễ cũng chưa có điều kiện hấp thu được ngay Nguyễn Ngọc Nông (1997) [14]

Theo Nguyễn Bảo Vệ, Trần Văn Hậu (2004) [32] cho biết: xử lý hoa xoài Châu Hạng Võ bằng cách phun Thioure nồng độ 0,5% hoặc phun Nitratkali nồng độ 1,5% (sau khi kích thích tượng mầm hoa bằng tưới

Trang 21

Paclobutrazol ở nồng độ 1 gam a.i/1m đường kính tán cây) không làm ảnh hưởng đáng kể đến thời gian nhú hoa và nở hoa, thời gian từ khi trổ đến thu hoạch và cũng không làm ảnh hưởng đến phẩm chất của trái Nhưng biện pháp xử lý ra hoa này có tác dụng mạnh mẽ đến tỷ lệ đợt ra hoa và năng suất trái so với cách xử lý ra hoa của nông dân Đặc biệt là phun Thioure cho năng suất trái cao nhất, cao hơn gấp đôi cách xử lý của nông dân (phun Dola 0,2e) Như vậy, phun Thioure nồng độ 0,5% sau tưới Paclobutrazol 1gam a.i/1m đường kính tán giúp xoài Châu Hạng Võ ra hoa nhiều và có năng suất cao mà không ảnh hưởng đến phẩm chất trái Do vậy, phun dinh dưỡng qua lá kịp thời là biện pháp quan trọng để bổ sung dinh dưỡng và làm giảm bớt rụng quả sinh lý, Trần Văn Uyển (1995) [30]

1.1.3 Cơ sở khoa học của việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng

1.1.3.1.Cơ sở khoa học của biện pháp sử dụng chất điều hoà sinh trưởng

Các tác giả: Hoàng Minh Tấn và cộng sự (1994) [17], Hoàng Minh Tấn

và cộng sự (1996) [18] cho rằng: chất điều hoà sinh trưởng ngày nay đã và đang được sử dụng rộng rãi trong trồng trọt như là một phương tiện điều chỉnh hoá học quan trọng Nó có nhiều ứng dụng như kích thích nhanh sinh trưởng của cây, điều khiển sự ngủ nghỉ của hạt, củ, điều khiển sự ra hoa của cây, điều chỉnh giới tính của hoa, tăng hiệu quả và tạo quả không hạt, điều chỉnh sự chín của quả

Quả được hình thành sau khi sảy ra quá trình thụ phấn, thụ tinh hợp tử phát triển thành phôi Phôi sinh trưởng là trung tâm sinh ra các chất kích thích sinh trưởng có bản chất auxin và giberelin Các chất này khuyếch tán vào bầu kích thích sự lớn lên của quả Vì vậy, nếu không có quá trình thụ phấn, thụ tinh thì hầu hết hoa sẽ rụng [16], [17], [18], [23], [33]

Nếu chúng ta sử dụng auxin và gibberelin ngoại sinh cho hoa trước khi thụ phấn, thụ tinh chúng sẽ thay thế được nguồn gốc phyohormon nội sinh từ

Trang 22

hạt và quả sẽ được hình thành, nhưng không qua thụ tinh và sẽ không có hạt Việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng tăng sự đậu quả và tạo quả không hạt được sử dụng rất rộng rãi và có hiệu quả cao trong sản xuất với các đối tượng như; nho, bầu, bí, cà chua, táo [17], [18], [19], [23]

Hiện nay năng suất quả hồng thu hoạch chưa cao, không ổn định và chịu tác động của nhiều yếu tố như giống, trình độ và kỹ thuật canh tác cũng như mức độ đầu tư sản xuất Năng suất thấp và không ổn định của cây hồng chủ yếu là do rụng quả Tỷ lệ đậu quả của hồng khá cao nhưng tỷ lệ rụng quả của hồng cũng tương đối lớn Mức độ rụng quả hồng tuỳ thuộc vào giống, khí hậu và điều kiện chăm sóc Nhìn chung cây hồng rụng quả khá nhiều, tỷ lệ cao nhất tới 70% trong đó giống hồng vuông có tỷ lệ rụng quả cao nhất (Lưu Vinh Quang 1995) [15] Nguyên nhân rụng quả ở cây hồng

có thể chia thành 3 loại:

- Sự rụng quả sinh lý

- Tác hại của sâu bệnh

- Nguyên nhân cơ giới

Trong đó rụng quả sinh lý là nguyên nhân chủ yếu làm giảm năng suất của cây hồng Rụng quả sinh lý bao gồm: quả không thụ tinh, hoa nở muộn, thiếu nắng, mất cân đối về các chất dinh dưỡng, mất cân đối về chất điều hoà sinh trưởng Để khắc phục nguyên nhân này có thể dùng một số chất điều hoà sinh trưởng phun lên cây nhằm giảm tỷ lệ rụng quả Phun chất điều hoà sinh trưởng không những thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát triển của cây, mà còn làm chậm lại việc hình thành tầng rời, bảo đảm cho việc vận chuyển các chất dinh dưỡng vào nuôi quả, do đó giảm được tỷ lệ rụng quả [21], [22], [23], [24] Như vậy, việc nghiên cứu phun chất điều tiết sinh trưởng cho hồng

để tăng tỷ lệ đậu quả là rất cần thiết trong điều kiện sản xuất hiện nay

Trang 23

1.1.3.2 Vai trò sinh lý của chất điều tiết sinh trưởng

Chất điều tiết sinh trưởng còn được gọi hoocmon thực vật, nó có tác dụng tham gia điều chỉnh các quá trình sinh trưởng phát triển của cây trồng Các hoocmon thực vật là các chất hữu cơ được tổng hợp với lượng nhỏ trong các bộ phận nhất định của cây và vận chuyển đến các bộ phận khác để điều hoà các hoạt động sinh lý, các quá trình sinh trưởng phát triển và duy trì mối quan hệ hài hoà giữa các cơ quan, bộ phận thành một thể thống nhất Do chức năng điều chỉnh sự hình thành các cơ quan sinh sản và cơ quan dự trữ nên hoocmon thực vật có vai trò quyết định đến quá trình hình thành năng suất thu hoạch của cây hồng Bằng việc xử lý các chất điều tiết sinh trưởng ngoại sinh cho các đối tượng cây trồng khác nhau con người có thể nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm cây hồng Phạm Văn Côn (2004) [6], Hoàng Minh Tấn và cộng sự (1993) [16], Lê Văn Tri [21], [22];

1.1.3.3 Phân loại chất điều tiết sinh trưởng

Để sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng có hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp, việc quan trọng nhất là phân loại và tìm hiểu tính năng tác dụng của chúng với cây trồng và môi trường

Căn cứ vào nguồn gốc người ta chia chất điều tiết sinh trưởng làm 2 nhóm là các phytohormon và chất điều tiết sinh trưởng tổng hợp

Căn cứ vào hoạt tính sinh lý: chia làm 2 nhóm đối kháng nhau về mặt sinh lý là: + Các chất kích thích sinh trưởng: Gồm các nhóm chất Auxin, Gibberellin và Xytokynin được sản sinh ra từ các cơ quan non như lá non, chồi non, quả non ở nồng độ thấp chúng kích thích quá trình sinh trưởng của cây và chi phối sự sinh trưởng hình thành các cơ quan dinh dưỡng

+ Các chất ức chế sinh trưởng: Gồm Axit abxixic, Erthylen, các phenol được hình thành và tích luỹ chủ yếu trong các cơ quan trưởng thành, cơ quan sinh sản, cơ quan dự trữ Chúng ức chế quá trình sinh trưởng, thúc đẩy cây

Trang 24

chuyển hoá nhanh vào gian đoạn hình thành cơ quan sinh sản, cơ quan dự trữ, gây già hoá và chết

1.1.3.4 Sử dụng chất điều tiết sinh trưởng trong sản xuất cây ăn quả

Nguyên tắc sử dụng:

- Nồng độ: Hiệu quả của chất điều tiết sinh trưởng đối với cây phụ thuộc vào nồng độ Thông thường, nếu nồng độ quá thấp thì hiệu quả sinh lý kém, nồng độ sử dụng ở mức thấp sẽ gây hiệu quả kích thích sinh trưởng, nồng độ cao lại có tác động ức chế, nồng độ quá cao phá huỷ và dẫn đến huỷ diệt mô cây Vì vậy, tuỳ theo mục đích tác động mà chọn nồng độ sử dụng khác nhau

- Phối hợp: Chất điều tiết sinh trưởng không phải là chất dinh dưỡng, chúng chỉ có tác dụng hoạt hoá quá trình trao đổi chất Vì vậy, để nâng cao hiệu quả kinh tế thì cần phải phối hợp giữa việc xử lý chất điều tiết sinh trưởng với việc thoả mãn nhu cầu về nước và dinh dưỡng cho cây trồng

- Đối kháng sinh lý giữa các chất xử lý ngoại sinh và các chất nội sinh trong cây: Sự đối kháng sinh lý này sẽ triệt tiêu tác dụng của nhau Chẳng hạn, sự đối kháng sinh lý giữa Auxin ngoại sinh và Ethylen nội sinh trong phòng ngừa rụng hoa, quả; sự đối kháng giữa GA ngoại sinh và ABA nội sinh trong việc phá ngủ nghỉ; sự đối kháng giữa Auxin và Xytokinin trong phân hoá rễ và chồi

- Chọn lọc: Mỗi loại chất điều tiết sinh trưởng chỉ có hiệu quả đối với một số giống, loài cây nhất định hoặc với một số vùng nhất định Do vậy, muốn sử dụng chất điều tiết sinh trưởng có hiệu quả cần phải nghiên cứu cụ thể, khi có kết quả chắc chắn mới mở rộng ra sản xuất đại trà

1.1.3.5 Các kết quả nghiên cứu sử dụng chất điều tiết sinh trưởng cho cây trồng và cây ăn quả

* Ở Ấn Độ, nhiều công trình nghiên cứu cho biết khi xử lý chất Paclobutrazol (PBZ) có tên thương mại là Cultar 10g/cây cho xoài đã có tác

Trang 25

dụng làm xoài ra hoa sớm hơn đối chứng không xử lý là 20 - 25 ngày, với tỷ

lệ cây ra hoa 76 - 85% và năng suất trung bình đạt 68,3 - 76,9 kg/cây so với đối chứng 13,3 kg/cây (gấp 5 - 6 lần)

* Cooper (1942) đã sử dụng chất điều tiết sinh trưởng NAA nồng độ 5

- 10ppm phun cho dứa làm cho dứa ra hoa sớm hơn đối chứng không phun

* Vanoverbach (1946) đã sử dụng 2,4 D và NAA nồng độ 5 - 10ppm phun cho cây dứa giống Cabenzonna liên tục trong các tháng trong năm đều cho ra hoa 100% (Thí nghiệm với cây dứa 14 tháng tuổi)

Theo nghiên cứu của Yung Kyung Choi, Jung Hokim (1972) [36]; để chống rụng quả hồng, ngoài thụ phấn bổ khuyết còn có thể phun hoá chất (NAA 10ppm; 2,4 D; 2,45 T phun 2 - 3 lần) và kết hợp bón phân đạm vào lúc thích hợp có tác dụng chống rụng quả tốt cho cây hồng

Theo Trần Thế Tục [25], [26], [27] biện pháp tăng tỷ lệ đậu quả tốt nhất là phun các chất điều hoà sinh trưởng như GA3, NAA, Axit Boric, Sunphát đồng, các chất này có thể dùng riêng rẽ với các nguyên tố vi lượng

Theo tác giả Nguyễn Thị Kim Thanh (2003) [20] cho biết: khi phun Ethrel cho hồng vào thời kỳ rụng lá tự nhiên 80% đã làm cho lá hồng rụng nhanh hơn, lộc ra muộn hơn so với đối chứng không phun, nhưng lộc lại ra tập trung hơn, nâng cao tỷ lệ cành mang hoa cái

Tác giả Phạm Văn Côn (2004) [6] cho rằng: khi phun NAA nồng độ 10 ppm và GA3 nồng độ 30 ppm vào thời kỳ sau hoa nở rộ có tác dụng làm giảm tỷ lệ rụng hoa, quả rõ rệt đặc biệt là GA3

1.2 NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT HỒNG ĂN QUẢ

1.2.1 Nguồn gốc và phân loại

* Nguồn gốc:

Cây hồng có nguồn gốc từ Trung Quốc (nguyên sản ở lưu vực sông Trường Giang), phân bố tự nhiên ở 320

- 370 vĩ độ Bắc Từ Trung Quốc hồng

Trang 26

được đưa đến trồng tại Địa Trung Hải, cũng từ đây hồng được đưa sang Mỹ từ năm 1856, được nhập vào châu Âu năm 1789 Vũ Công Hậu [9], [10], [11]

Hồng là cây trồng á nhiệt đới khởi nguyên từ Trung Quốc và cũng là cây trồng có nguồn gốc ở Hàn Quốc (cây bản địa) Việc trồng hồng được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, ngoài ăn quả còn được sử dụng để chữa các bệnh như: bệnh liệt, tê cóng, bỏng và làm ngưng chảy máu vì trong lá của hồng có rất nhiều chất tanin, phenol, axit hữu cơ, chlorophyl nhưng tanin là nguyên tố chủ yếu [38]

Theo một số tác giả: khi nghiên cứu về nguồn gốc của cây hồng

phương Đông đều cho rằng một số nhóm hồng thuộc loài hồng dại Diospyros kaki tồn tại trong những khu rừng của Trung Quốc Tài liệu của cây hồng

xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ V, VI [43], [49], [59]

Cây hồng được nhập từ Trung Quốc đến châu Âu vào năm 1789 và di chuyển san châu Mỹ vào năm 1856 [3], [4], [5], [10], [11], [12]

Ở Việt Nam, cây hồng được nhập từ Trung Quốc qua miền Bắc Việt Nam rồi đến Đà Lạt Việt Nam [36]

1000 loài hồng Cây hồng được trồng phổ biến ở các nước có khí hậu ôn hoà

thuộc châu Á, bắc Mỹ và chỉ có 4 loài được trồng để lấy quả đó là: Diospyros kaki linn: D oleifera Cheng: D virginiana Linn: D lotus Linn

Chi Diospyros gồm 400 loài, chủ yếu phân bố ở vùng á nhiệt đới châu

Á, châu Phi và nam Mỹ, một số loài trong đó có hồng phương đông phân bố rộng trên các vùng ôn đới [41], [42], [58]

Trang 27

Cây hồng (Diospyros kaki linn) được trồng rộng rãi ở Trung Quốc,

Nhật Bản, Hàn Quốc và một số vùng khí hậu ôn hoà, cận nhiệt đới như Califonia (Mỹ), Italia, Israen, Braxin, Niudilân, Úc có hai nhóm hồng chính

là hồng chát và hồng không chát

Cũng theo tác giả Yung Kyung Choi, Jung Hokim (1972) [36] trích dẫn kết quả nghiên cứu cho biết: Mori (1953) chia hồng thành 4 nhóm là:

+ Nhóm 1: Nhóm PCNA (Pollination constant Non-Astringnt): những

giống không chát và không biến đổi với sự thụ phấn, gồm các giống Fuju, Jiro, Gosh, Suruga, thịt quả gồm những đốm tanin sẫm

+ Nhóm 2: nhóm PVNA (Pollination Variant Non-Astringnt): những

giống không chát và biến đổi với sự thụ phấn, gồm các giống: Zenjimaru, Shogatsu, Mizushima, Anahya kume, thịt quả có những đốm tanin sẫm và khi không có hạt thì thịt quả có vị chát

+ Nhóm 3: nhóm PCA (Pollination constant Astringent): những giống

chát, không biến đổi với sự thụ phấn, gồm những giống: Yokomo, Yotsumizo, Shakokaski, Hagakushi, Hachiya, Ghionho, thịt quả không có những đốm tanin sẫm

+ Nhóm 4: nhóm PVA (Pollination Variant Astringnt): những giống

chát biến đổi với sự thụ phấn, gồm các giống: Azumi Shirazu, Emon, Kosshuhya kume, Hiratanenashi, có thể chát khi được thụ phấn và có một vài đốm tanin sẫm xung quanh hạt [51], [60]

Ở Việt Nam, những điều tra ban đầu từ năm 1990 về cây hồng đã phát hiện 3 loài hồng sau:

+ Hồng lông (D Tokinensis L) được phân bố rải rác khắp nơi ở miền

Bắc.Thân cao to thường có màu trắng tro, cây phân cành ngang, tạo nhiều tầng cành, tán hình tròn Lá thuôn dài, mặt trên màu sẫm, có lông vàng màu xanh, mặt dưới màu xanh nhạt, có lông màu hơi vàng Quả to tròn hoặc tròn

Trang 28

dẹt; khi còn xanh, mặt ngoài quả có lông tơ màu xanh, khi chín, lông màu vàng nhạt, trong quả có nhiều hạt (6 - 9 hạt), to dày, màu vàng nâu

Sơ đồ 1: Phân loại hồng theo Mori 1953

(Nguồn: Đào Thanh Vân (2002)

+ Hồng cậy (D lotus L) được trồng rải rác ở các tỉnh phía Bắc Việt

Nam như Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình Thân cây cao to, tán lớn, lá nhỏ hẹp, mặt trên màu xanh đậm nhẵn nhưng không bóng, mặt lá màu xanh trắng có ít lông Quả hình tròn dẹt, bé, chiều cao quả trung bình 2,2

cm, đường kính quả trung bình 2,6cm Hiện nay, nông dân thường thu hoạch quả chín để lấy hạt gieo làm gốc ghép

+ Hồng trơn có lá nhẵn (D kaki L) được trồng nhiều ở các tỉnh phía

Bắc và vùng Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng Thân cây thường có màu nâu, cành hẹp, tán hình tròn hoặc hình tháp, lá hình bầu dục hoặc elip, mặt trên màu xanh sẫm, nhẵn, mặt dưới có lông màu xanh nhạt hoặc trắng Quả to, nhỏ tuỳ giống, khi còn xanh vỏ nhẵn, trơn màu xanh lục, khi chín màu vàng đỏ Trong quả có ít hạt hơn 2 loài trên (0 - 6 hạt) Hạt nhỏ, mỏng màu nâu cánh gián (Phạm Văn Côn (2002) [5])

Thụ phấn bất biến

Thụ phấn biến đổi

Trang 29

1.2.2 Tình hình phân bố và sản xuất hồng ăn quả

1.2.2.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Trong lịch sử phát triển cây hồng, theo Yung Kyung Choi và Jung Hokim (1972) [36] cho biết: Từ Trung Quốc hồng được đưa sang Nhật Bản, Triều Tiên sang châu Âu rồi đến Mỹ

Theo Grubov, U.I (1967) [44]: Hiện nay những nước trồng hồng và xuất khẩu nổi tiếng nhát là: Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên và các nước á nhiệt đới miền Nam Liên Xô cũ

Theo Vũ Công Hậu [11] hiện nay Trung Quốc là nước trồng hồng nhiều nhất, khắp lãnh thổ của nước này, trừ mấy tỉnh biên giới như: Hắc Long Nam, Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng; còn hầu hết các tỉnh đều trồng hồng

Theo tác giả Đào Thanh Vân (2002) [57]: Ở Hàn Quốc hồng là một trong những cây ăn quả quan trọng đang được chú ý phát triển, chỉ sau 5 năm, sản lượng hồng của Hàn Quốc đã tăng gần gấp đôi (từ 167.671 tấn năm 1994 lên 273.846 tấn năm 1999)

Bảng 1.1: Sản lượng trồng hồng của một số nước trên thế giới năm 2005 - 2008

Trang 30

Qua bảng 1.1 ta thấy, mặc dù năng suất của Trung Quốc không cao nhưng do có diện tích lớn nhất thế giới nên sản lượng hồng của Trung Quốc vẫn đứng đầu thế giới với 2.212.152 tấn năm 2005 tăng lên 2.533.899 tấn năm 2008 tỷ lệ tăng đạt 14,54%, chiếm 69,85% sản lượng toàn thế giới, tiếp đến vẫn là Hàn Quốc và Nhật Bản là ba nước đứng đầu trong danh sách những nước có sản lượng lớn nhất thế giới

Mỗi loại cây trồng đều có một biên độ sinh thái nhất định Khi được trồng trong điều kiện sinh thái phù hợp, cây trồng đó sẽ sinh trưởng phát triển

tốt và cho năng suất cao Các loài thuộc chi Diospyos có các vùng phân bố

khác nhau nhưng tập trung chủ yếu ở Châu Á và Bắc Mỹ Tuỳ đặc điểm của các loài khác nhau mà hướng sử dụng khác nhau (bảng 1.2)

Bảng 1.2: Sự phân bố và sử dụng của các loài thuộc chi Diospyros

Diospyros kaky Linn Nhật Bản, Trung Quốc,

Hàn Quốc, Việt Nam Ăn tươi và chế biến

Diospyros lotus linn Châu Á Sản xuất tanin, làm

gốc ghép

Deospyros virginiana Linn Bắc Châu Mỹ Ăn tươi, làm gốc

ghép Diospyros oleifera Cheng Trung Quốc Sản xuất tanin

(Nguồn: Đào Thanh Vân (2002) Loài D.kali phân bố chủ yếu ở 4 nước: Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam Vì loài Diospyros kaki có thịt quả mềm nên có thể dùng để chế biến

Về mặt tiêu thụ và chế biến: Quả hồng chủ yếu được ăn tươi với thị trường tiêu thụ là các nước Châu Á Ở Trung Quốc và Nhật Bản, hồng là một trong những món tráng miệng chính trong khẩu phần ăn hàng ngày Sản phẩm hồng khô chế biến được sản xuất nhiều ở các nước Nhật Bản, Trung Quốc,

Trang 31

Triều Tiên Các sản phẩm chế biến từ hồng tiêu thụ mạnh ở thị trường Châu

Âu Người Châu Âu ở vùng Địa Trung Hải đã quen với cây hồng và cho rằng quả hồng chín rất ngọt, hương vị đậm đà Phạm Văn Côn (2002) [5], Vũ Công Hậu (1999) [11]

Ở Mỹ, hồng trước đây chưa phát triển rộng được là do người ta chưa quen cách ăn quả hồng chín Những điều này lí giải các ý kiến cho rằng hồng rất khó xuất khẩu sang thị trường Châu Mỹ Vũ Công Hậu (1999) [11]

1.2.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Ở Việt Nam chưa xác định được nguồn gốc và xuất xứ của cây hồng, tuy nhiên hiên nay hồng được trồng nhiều ở các tỉnh phía Bắc và vùng cao của miền Nam như Đàt Lạt - Lâm Đồng Theo Mai Xuân Lương (1994) [13]; Yung Kyung Choi và Jung Hokim (1972) [36] cây hồng được trồng từ rất lâu đời ở Việt Nam, đây là một trong những cây ăn quả quan trọng trong sản xuất nông nghiệp bởi khả năng thích ứng rộng với các vùng sinh thái, năng suất cao và ổn định, chất lượng quả tốt, hiệu quả kinh tế cao phù hợp với khẩu vị của người phương Đông

Theo Đào Thanh Vân (2002) trong những năm gần đây, cây ăn quả nước ta đang được chú trọng phát triển trong đó có cây hồng nên diện tích và sản lượng hồng đã tăng lên đáng kể và được thể hiện qua bảng 1.3

Bảng 1.3: Diện tích, sản lượng hồng ở Việt Nam đến năm 2000

(ha)

Năng suất (kg/ha)

Sản lượng (tấn)

Trang 32

Qua số liệu bảng 1.3 cho ta thấy diện tích và sản lượng hồng ở nước ta

đã tăng lên gấp đôi sau 4 năm (1998 - 2002) Do cây hồng có khả năng thích nghi rộng, chủng loại phong phú nên hồng được trồng ở rất nhiều tỉnh trong

cả nước, nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc và tỉnh Lâm Đồng

Bảng 1.4: Diện tích hồng của một số tỉnh trong cả nước năm 2004

Nguồn: Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn các tỉnh

Mỗi giống hồng đều có vùng phân bố riêng, khả năng mở rộng diện tích trồng hồng còn phụ thuộc vào điều kiện sinh thái nơi trồng Những nơi có điều kiện sinh thái gần tương tự nhau đều có thể trồng cùng một giống hồng Nhìn chung, các giống hồng chính ở Việt Nam được trồng chủ yếu ở các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc và một số tỉnh đồng bằng Hồng Thạch Thất là giống có diện tích trồng lớn nhất (chiếm 25,1% diện tích trồng của cả nước), trồng chủ yếu ở Thái Nguyên, hồng Nhân Hậu là giống có diện tích trồng lớn thứ 2 (sau hồng Thạch Thất)

Trang 33

Hầu hết các tác giả nghiên cứu và điều tra về cây ăn quả đều thống nhất nhận xét ở Việt Nam hiện nay có nhiều vùng trồng hồng và các giống hồng rất phong phú, có những giống hồng rất nổi tiếng [3], [9], [28], [31]

Dưới đây là một số giống hồng được trồng phổ biến:

+ Hồng trứng lốc

Đặc điểm: Quả hình vuông, cân đối, quả khi chín có màu hồng, bóng láng Cây có tán rất lớn, năng suất cao, có thể đạt 5 - 6 tạ/cây/năm, có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh, dễ trồng Đây là một trong những giống hồng được ưa chuộng nhất hiện nay Quả khi chín ăn rất ngọt, vừa giòn vừa dẻo, thích hợp cho vận chuyển đi xa, thời gian thu hoạch từ tháng 6 - 8 dương lịch

+ Hồng trứng muộn

Đặc điểm: Quả hình trứng, khi chín có màu hồng, bóng Cây có tán trung bình, năng suất cao, chống chịu tốt, quả khó rụng khi gió lớn Mặc dù chất lượng không bằng hồng trứng lốc, nhưng vì chín muộn (thu hoạch hàng năm vào tháng 10 - 11) nên giá hồng tươi rất cao Thông thương cây 7 - 8 năm tuổi có thể cho thu hoạch 3 - 4 tạ/năm

+ Hồng Pome tròn

Đặc điểm: Quả tròn to, mã quả rất đẹp, năng suất tương đối cao, trung bình 1tạ/cây/năm Cây bắt đầu cho thu hoạch từ năm thứ 7 - 8 sau trồng Quả chín có màu đỏ son, phẩm chất tốt, rất được ưa chuộng Mùa thu hoạch hàng năm vào tháng 9 - 10

+ Hồng chén

Đặc điểm: Cây có tán lá trung bình, cành yếu nên thường phải chống

đỡ khi có quả Lá nhiều, thường che khuất quả, năng suất trung bình, quả to, hơi dẹt về phía cuống, phẩm chất tốt, được người tiêu dùng ưa chuộng Mùa thu hoạch hàng năm vào tháng 9 - 10

Trang 34

+ Hồng ăn liền

Đặc điểm: Cây có tán lá thấp bé, có thể trồng với mật độ dày Quả tròn dẹt, khi chín màu vàng đỏ, có thể ăn ngay khi quả ở trạng thái cứng, thịt quả giòn, ngọt, khối lượng 1 quả trung bình 200 - 250 g, không có hạt

+ Hồng Nhật

Đặc điểm: Cây có tán lá trung bình, có thể trồng tương đối dày, nhanh cho quả, có thể thu hoạch quả sau 3 năm kể từ khi trồng Chất lượng quả trung bình, có nhiều nước, khó vận chuyển Tuy nhiên do có năng suất cao nên giống này được đánh giá là một trong số các giống có giá trị kinh tế cao nhất Nhược điểm của nó được khắc phục bằng cách chế biến thành hồng sấy khô để tiêu thụ trên thị trường Mùa thu hoạch hàng năm vào tháng 10 - 11 Ngoài các giống kể trên, còn nhiều giống hồng với số lượng không nhiều như: hồng quê hương, hồng gạch, hồng son, hồng hoả tiễn, hồng giòn, hồng Lạng Sơn, hồng xà, hồng nước

+ Hồng vuông không hạt

Đặc điểm: Cây cao trung bình 9,5 m, đường kính tán cây 9,2 m, thân không to lắm (đường kính gốc khoảng 27 cm, tán cây hình dù Lá to, hơi bầu, dài 15 cm, rộng 11 cm, mặt trên xanh đậm và bóng, mặt dưới có màu xanh nhạt và có lông màu vàng mọc dày theo gân lá Quả hình vuông có khía sâu dọc quả, chiều cao và đường kính quả khoảng 6,3 cm, trọng lượng quả 160 g,

tỷ lệ phần ăn được 93%, tỷ lệ chất khô 15%, tỷ lệ đường 9,5%, tỷ lệ axit 0,3% Vỏ quả hơi dày, bóng, dễ bóc, vỏ khi chín có màu đỏ vàng, ít xơ, thịt quả có màu đỏ hồng, được nhiều người ưa thích Năng suất trung bình có thể đạt 400 - 500 kg/cây

+ Hồng tròn

Đặc điểm: Cây cao trung bình 10,5 m, tán rộng 8,3 m , hình cầu, đường kính gốc thân 27 cm Lá hình bầu dục, dài 14 cm, rộng 10,5 cm, mặt trên xanh

Trang 35

bóng, mặt dưới có lông tơ màu vàng nhưng thưa hơn so với lá hồng vuông không hạt Quả hình tròn, đỉnh quả tròn, vỏ dày và bóng khi chín có màu vàng, thịt quả có màu vàng nhạt, không có sơ, ăn ngọt Trọng lượng quả trung bình 120 g, chiều cao 6,0 cm, đường kính quả cũng khoảng 6,0 cm Tỷ lệ phần ăn được: chất khô 18,7%, đường 11%, axit 0,2%, có 0,5 hạt/quả

+ Hồng cậy vuông

Đặc điểm: Cây cao trung bình 6,4 m, tán cây rộng 7,5 m, hình bán nguyệt Lá hơi tròn dài, to trung bình, đầu lá nhọn, mặt trên bóng nhẵn, mặt dưới xanh nhạt có lông tơ màu nâu tập trung ở gân lá Quả hình vuông, đỉnh quả bằng hoặc hơi lõm Khi chín vỏ quả màu đỏ, vỏ mỏng giòn, có ít phấn ở gần cuống lá Tai quả nhỏ, vểnh lên, gốc quả lõm ít, thịt quả có màu đỏ Chiều cao quả 3,3 cm, đường kính quả 4,2cm Trọng lượng quả trung bình 50 g, số hạt trong quả 0,4, tỷ lệ thịt quả 71,5% Một cây cho khoảng 80 kg quả

+ Hồng nứa

Đặc điểm: Cây cao trung bình 8,2 m, tán rộng khoảng 9 m, hình cầu Lá

to màu xanh nhạt, đầu lá tròn, mặt dưới lá có lông tơ màu vàng mọc theo gân

lá Quả hình trụ dài, đỉnh quả bằng, khi chín có màu đỏ, vỏ quả không bóng, phần trên quả (tai quả) có rãnh dọc Thịt quả màu vàng, ít sơ Tai quả to và vểnh lên Trọng lượng quả trung bình 90 g Chiều cao quả 5,2 cm, đường kính quả 4,8 cm, số hạt trong quả 1,5 hạt, tỷ lệ thịt quả 88,1% Một cây có thể cho thu hoạch tới 100 kg quả

+ Hồng tiên

Đặc điểm: Cây cao trung bình 6 m (thấp cây), tán rộng 6 m, hình tháp

Lá to nhẵn, mặt trên lá hơi vàng, có độ bóng, mặt dưới lá màu xanh trắng có lông tơ màu vàng xung quanh gân lá Quả thuộc dạng quả to, đỉnh quả lõm, nhìn dọc theo quả thì hơi vuông, nhưng nhìn ngang thì dài, khi chín có màu

đỏ, vỏ quả dày, trơn, vỏ quả không có vân, có ít phấn ở đỉnh quả, gốc và tai

Trang 36

quả lõm sâu Trọng lượng quả trung bình 85g, chiều cao quả 5,0 cm, đường kính quả 4,7 cm Số hạt trong quả 0,5, tỷ lệ thịt quả 89% Một cây cho khoảng 65 kg quả

+ Hồng tròn dài

Đặc điểm: Cây cao khoảng 7 m, tán rộng 6,7 m hình đống rơm Lá to, đầu nhọn, mặt trên lá xanh bóng, mặt dưới có lông tơ màu vàng, mọc thưa Quả mọc thành chùm 1 - 3 quả, khi chín có màu đỏ, không hạt Quả hình tròn dài, chóp quả bằng, vỏ quả dày, trơn, hơi có khía, gốc quả lõm, tai quả cong lên, thịt quả màu đỏ Trọng lượng quả trung bình 80g Chiều cao quả 4,9 cm, đường kính quả 4,7 cm Tỷ lệ thịt quả 90%, tỷ lệ đường 10,5%, tỷ lệ axit 0,2% Năng suất 1 cây khoảng 142 kg

+ Hồng gáo

Đặc điểm: Cây cao trung bình 6,2m, tán rộng 5,8 - 6,4 m, lá to dài, đầu lá nhọn màu xanh nâu không nhẵn Quả có dạng quả tim, vai quả to, dưới thắt lại, chôn quả nhọn, tai ôm vào quả, vỏ quả màu vàng bóng Quả nặng trung bình 63,6

g, có 2,5 hạt

+ Hồng chuối

Đặc điểm: Cây cao trung bình 6,0m, tán rộng 6,2 -6,5 m, phiến lá nhỏ hình bầu dục Quả có dạng tròn dài, đáy quả thắt lại, rốn quả tròn, tai quả cong lên, vỏ quả màu vàng bóng Quả nặng trung bình 70,6 g có 5,1 hạt

+ Hồng Nhân Hậu

Đặc điểm: Thân cây màu xám, cành bánh tẻ màu nâu, tán cây hình bán nguyệt, độ cao phân cành trên 1m Lá to, hình bầu dục, màu xanh đậm; trên mặt lá bóng láng, mặt có lông tơ màu nâu vàng, chiều dài lá 15,8 cm, chiều rộng lá 10,4 cm Quả hình trái tim, khi chín có màu đỏ thắm, chín vào trung tuần tháng 8 âm lịch, vỏ quả mỏng, thịt quả dẻo, ít hạt Trọng lượng quả 150 -200g

Trang 37

+ Hồng Văn Lý

Đặc điểm: Thân cây màu xám, cành bánh tẻ màu xám sáng, tán cây thường

có hình dù, độ phân cành 60 - 70 cm Lá to trung bình, hình bầu dục, mặt trên hơi ráp, chiều dài lá 14,4 cm, chiều rộng lá 7,5 cm Quả hình trụ, chôn quả tròn, khi chín có màu đỏ vàng, không hạt Trọng lượng quả trung bình 70 - 90 g, chín vào giáp tết âm lịch

+ Hồng Yên Thôn

Đặc điểm: Thân cây màu xám, cành bánh tẻ màu nâu, tán cây hình tròn hoặc ô van, độ cao phân cành khoảng 65 cm Lá to hình bầu dục, màu xanh đậm Mặt trên lá bóng, phản quang, mặt dưới có lông tơ màu nâu vàng Chiều dài lá 16 cm, chiều rộng 9,3 cm Quả hình trụ, chôn quả hơi lồi, khi chín có màu đỏ vàng, thường chín vào tháng 11 - 12; thịt quả nát, nhiều nước Quả nặng 150 - 250 g, có 2 - 3 hạt

+ Hồng Hạc Trì

Đặc điểm: Cây cao trên 9 m, tán rộng trên 7 m, sinh trưởng khoẻ Lá hình elíp rộng, mặt trên có màu xanh hơi vàng, không bóng, mặt dưới màu xanh trắng, có lông màu vàng Quả hình trụ, chôn quả hơi tù, có 4 cạnh rõ rệt Trọng lượng quả 100 - 150 g, không hạt Khi chín có màu vàng đỏ, thịt quả màu vàng, ăn giòn, có cát, chín vào tháng 9 (thường thu hoạch đồng loạt vào trước 15/8 âm lịch, ngâm sau 2 - 3 ngày là ăn được)

+ Hồng Tiến

Đặc điểm: Cây cao trên 10 m, tán rộng trên 8 m Lá to hình bầu dục, mặt trên màu xanh đậm, không bóng, mặt dưới màu trắng xanh có nhiều lông

tơ Quả hình trụ vuông, trên và dưới quả đều bằng Quả năng trung bình 120 -

160 g, không có hạt hoặc có 1 - 2 hạt bé dẹt Chín vào tháng 10, khi chín quả

có màu đỏ hồng, thịt quả màu đỏ Vỏ quả nhẵn đẹp, giấm 3 ngày thì chín, nếu quả chín trên cây vẫn ăn được ngay

Trang 38

+ Hồng Thạch

Đặc điểm: Cây cao trên 10 m, tán rộng trên 8 m Lá to hình bầu dục, mặt trên màu xanh thẫm, không bóng, mặt dưới màu trắng xanh có lông màu vàng Quả hình trụ tròn, chôn quả lồi Quả nặng trung bình 150 - 200 g, có 1 - 2 hạt, ít khi có 3 hạt Chín vào đầu tháng 9, khi chín vỏ quả màu đỏ vàng, thịt màu đỏ hồng, giấm 4 ngày

là chín

+ Hồng ngâm quả hình trứng

Đặc điểm: Thân cây bé, cây cao trên 9 m, tán rộng trên 6 m (thuộc loại tán hẹp) Lá thuôn dài, mặt trên màu xanh đậm, bóng, mặt dưới xanh trắng có lông thưa Quả hình trứng nặng 100 - 150 g có 1 - 3 hạt dài và dày Chín vào tháng 9, khi chín vỏ quả màu vàng nhạt Ngâm khoảng 3 ngày là ăn được

+ Hồng ngâm quả hình trụ dài

Đặc điểm: Cây không lớn (cao khoảng 7 m), tán lá rộng 4 m Lá thuôn dài, mặt trên xanh bóng, mặt dưới màu xanh có lông tơ thưa màu vàng Quả hình trụ dài nặng trung bình 100 - 150g, chín vào tháng 9, khi chín quả có màu vàng không đều, phía tai quả màu xanh, phía chôn quả màu vàng có 1 - 2 hạt, có quả không hạt

1.3 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC LIÊN QUAN ĐẾN PHẠM VI CỦA ĐỀ TÀI

1.3.1 Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học cây hồng

1.3.1.1.Đặc điểm rễ và hệ rễ

Sự phân bố của rễ theo chiều sâu và chiều ngang phụ thuộc vào giống

và các loại đất khác nhau Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Côn cho thấy giống hồng Thạch Thất có hệ rễ tập trung nhất ở tầng đất 20 - 30 cm, giống hồng Hạc Trì có tầng rễ tập trung chủ yếu ở tầng đất 30 - 40 cm Việc xác định được tầng rễ tập trung nhất là yếu tố quan trọng để quyết định biện pháp

Trang 39

bón phân hợp lý thúc đẩy sinh trưởng phát triển của cây hồng Phạm Văn Côn [5], [6]; Vũ Công Hậu [9], [10], [11]; Trần Thế Tục [25], 26], [28]

Nhiệt độ thích hợp cho bộ rễ hoạt động là 12 - 250

C Trong mùa lá rụng, rễ hồng hầu như không hoạt động, hấp thu dinh dưỡng rất chậm, từ mùa xuân rễ hồng mới bắt đầu hoạt động Hoạt động mạnh nhất vào 2 thời kỳ cuối tháng 6 - 7 và giữa tháng 9 đầu tháng 10 Rễ hồng chứa nhiều tanin, cường độ

hô hấp yếu, nhu cầu về hàm lượng oxy trong đất thấp, vì vậy cây hồng có thể chịu úng tốt Phạm Văn Côn [4], [5]; Vũ Công Hậu [9], [10], [11]; Trần Thế Tục [25], [26], [28]; Trần Như Ý và cộng sự [34], [35]

1.3.1.2.Đặc điểm thân cành hồng

Hồng là loại cây ăn quả thân gỗ lâu năm, tán cây có dạng hình tròn mâm xôi hoặc hình tháp, tốc độ sinh trưởng chậm, thường một cây hồng 30 tuổi đường kính thân chỉ đạt 25 - 30 cm [34], [35] Hồng là cây thay lá hàng năm về mùa đông, có thời gian ngủ nghỉ rõ rệt Trong các loại cây thay lá, hồng ưa nhiệt độ tương đối cao, vì vậy rụng lá sớm và nảy mầm muộn

Ở miền Bắc nước ta, hồng bắt đầu rụng lá vào đầu tháng 10, đến giữa tháng 2 mới ra lộc, thời gian ngủ nghỉ khoảng 2 - 3 tháng Vũ Công Hậu [11]

Thời gian ra lộc của hồng phụ thuộc vào nhiệt độ, nơi nào có nhiệt độ cao hồng sẽ ra lộc sớm hơn, nơi nào có nhiệt độ thấp sẽ ra lộc muộn hơn Vũ Công Hậu [9], [10], [11] Trong một năm hồng ra 3 - 4 đợt lộc tuỳ thuộc vào tuổi cây Cây ở giai đoạn kinh doanh chỉ ra một đợt cành chủ yếu là cành xuân Cây ở giai đoạn kiến thiết cơ bản một năm có thể ra 3 - 4 đợt cành Nhưng các đợt cành sau có số lượng cành ít hơn Vũ Công Hậu [9], [10], [11]

Theo Trần Như Ý và các cộng sự [35], hồng có các đợt cành chính sau:

- Cành xuân: Nảy đồng loạt vào trung tuần tháng 2 đến tháng 3, trên cành lúc này có cả cành hoa và cành dinh dưỡng

- Cành hè: Nảy lộc vào tháng 6, tháng 7

Trang 40

- Cành thu: Nảy lộc và tháng 8, tháng 9 Cần chú ý đợt cành này để đảm bảo số lượng cành mẹ cho vụ quả năm sau

Đối với những cây đã ra hoa kết quả trong đợt cành xuân thường có 3 loại cành; cành sinh trưởng, cành mang hoa đực và cành mang hoa cái (cành quả) Phạm Văn Côn (2002) [5], [6]

+ Cành sinh trưởng: Là những cành không mang hoa quả, chỉ mang lá làm nhiệm vụ tăng khối lượng cành, cây, lá và tích luỹ dinh dưỡng nuôi quả

+ Cành mang hoa đực: Loại cành này thường nhỏ, mọc từ gốc cành năm trước, sinh trưởng yếu, là nguồn cung cấp phấn cho hoa nhờ côn trùng

+ Cành mang hoa cái và hoa lưỡng tính: Là những cành mang quả, phần lớn phát sinh ở phần trên gần ngọn của cành sinh trưởng năm trước chưa

ra quả học từ chồi nách thứ 1 - 2 của cành mẹ

1.3.1.3 Đặc điểm về lá

Lá là bộ phận quan trọng của cây Nhiệm vụ chính của lá là quang hợp tạo ra chất hữu cơ cho cây Lá thường xuất hiện vào mùa xuân, sau khoảng 1 tháng thì phát triển đầy đủ, lúc này màu lá đã chuyển dần từ xanh lục sang xanh đậm, cây sung sức bước vào thời kỳ hoạt động mạnh, một số giống mặt dưới lá có nhiều lông tơ màu vàng xanh, lá có hình elíp đến tròn ovan Cuối tháng 10, lá bắt đầu chuyển sang màu vàng rồi chuyển sang màu đỏ rồi rụng, tháng 12 - 1 trên cây hoàn toàn không có lá Trần Như Ý

và cộng sự [34], [35]

1.3.1.4 Đặc điểm về hoa

Khoảng 30 - 40 ngày sau khi ra lộc thì hoa bắt đầu nhú, thông thường hoa ở nách lá thứ 3 - 8 tính từ chân cành quả đến ngọn Vì lộc nảy vào tháng 2, hoa xuất hiện sau khoảng 1 tháng tức là vào cuối tháng

3, thời kỳ ra hoa kéo dài 20 - 25 ngày

Ngày đăng: 15/11/2014, 22:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Phạm Văn Côn (1995), “Điều tra đánh giá, tuyển chọn một số giống hồng tốt ở các địa phương miền Bắc Việt Nam”, Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra đánh giá, tuyển chọn một số giống hồng tốt ở các địa phương miền Bắc Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Côn
Năm: 1995
7. Nguyễn Kim Đương (2006), “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng của giống nhãn Hương Chi tại Thái Nguyên”, Luận án thạc sỹ khoa học nông nghiệp, Trường đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh học và một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng của giống nhãn Hương Chi tại Thái Nguyên”
Tác giả: Nguyễn Kim Đương
Năm: 2006
8. Nguyễn Thế Huấn (2006), “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và biện pháp nâng cao tỷ lệ đậu quả của một số giống hồng ở Thái Nguyên, Bắc Kạn”, Luận án tiến sỹ Khoa học nông nghiệp, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và biện pháp nâng cao tỷ lệ đậu quả của một số giống hồng ở Thái Nguyên, Bắc Kạn
Tác giả: Nguyễn Thế Huấn
Năm: 2006
12. Đỗ Tất Lợi (1986), Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam
Tác giả: Đỗ Tất Lợi
Nhà XB: Nxb Khoa học kỹ thuật
Năm: 1986
13. Mai Xuân Lương (1994), “Điều tra, thu thập, bảo tồn và đánh giá một số cây ăn quả đặc sản (hồng, bơ) ở Đà Lạt và các vùng lân cận”, Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, thu thập, bảo tồn và đánh giá một số cây ăn quả đặc sản (hồng, bơ) ở Đà Lạt và các vùng lân cận
Tác giả: Mai Xuân Lương
Năm: 1994
20. Nguyễn Thị Kim Oanh (2003), “Ảnh hưởng của Ethrel đến sự rụng lá, phát lộc, phát dục của giống hồng Thạch Thất”, Tạp chí khoa học và kỹ thuật Nông nghiệp, 1 (1), tr. 100 - 103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của Ethrel đến sự rụng lá, phát lộc, phát dục của giống hồng Thạch Thất
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Oanh
Năm: 2003
32. Nguyễn Bảo Vệ, Trần Văn Hau (2004), “Ảnh hưởng của Paclobutrazol, Thioure và Nitratkali đến sự ra hoa xoài Châu Hạng Võ”, Tạp chí Nông nghiệp & phát triển nông thôn, (số 4), tr.507-509 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của Paclobutrazol, Thioure và Nitratkali đến sự ra hoa xoài Châu Hạng Võ
Tác giả: Nguyễn Bảo Vệ, Trần Văn Hau
Năm: 2004
37. Ashworth E. N., Wisniewski M. E., (1991), Response of peuit tree tissues to freezing temperatures, Hort. Sci. 26, p, 501-504 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Response of peuit tree tissues to freezing temperatures
Tác giả: Ashworth E. N., Wisniewski M. E
Năm: 1991
38. Bean. W., (1981), Trees and Shrubs Hardy in Geat Britain. Vol I-4 and Spplement, Murray Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trees and Shrubs Hardy in Geat Britain. Vol I-4 and Spplement
Tác giả: Bean. W
Năm: 1981
39. Bianchini. F., Corbetta. F and pistoia. M. Fruits of the Eaeth, Lovely pictures, a very readble book Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fruits of the Eaeth
40. Bird. R. (Editor) Focus on Plants. volume 5. (formerly “Growing from seed”) Thompson and Morgan (1991) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) Focus on Plants. volume 5. (formerly “Growing from seed
41. Ronquist A, (1981), An intergrated syetem of classification of flowering plants. Columbia Univ, Press, New York. p. 499-501 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An intergrated syetem of classification of flowering plants. Columbia Univ
Tác giả: Ronquist A
Năm: 1981
42. De Winter. B. (1963), Ebenaceae. p. 54-99. In: RA. Dyer, L. E.Codd, and H. B. Rycroft (eds) Flora of Southern Africa, vol. 26, Government printer, Pretoria, South Africa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ebenaceae
Tác giả: De Winter. B
Năm: 1963
43. Dirr. M. A. and Heuser. M. W., (1987), The Reference Manual of Woody Plant Propagation. Athens Ga, Varsuty Press ISBN 0942375009. A very detailed book on propagating trees. Not for the casual reader Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Reference Manual of Woody Plant Propagation
Tác giả: Dirr. M. A. and Heuser. M. W
Năm: 1987
45. Hong S. K., Hwang J., (1980), Differrence in freezing resistance between common and sweet persimon (in Korean with English abstract).J. Kor. Sci.48. p. 25 - 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Differrence in freezing resistance between common and sweet persimon (in Korean with English abstract
Tác giả: Hong S. K., Hwang J
Năm: 1980
46. Horst. n. J. (1993), Nitrogen nutrion for higher plant, Mineral Nutrx (2). p. 243-245 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nitrogen nutrion for higher plant
Tác giả: Horst. n. J
Năm: 1993
47. Huxley. A., (1992), The new RHS Dictionary of gardening. 1992. MacMillan Prees ISBN 0-333-47494-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The new RHS Dictionary of gardening
Tác giả: Huxley. A
Năm: 1992
48. Kajiura, M. (1914), Studies on physiological fruit drop in persimmon. II. relationships between fruit drop and pollination and parthenocarpic ability (in Japanese). J. Japan. Soe. Hort. Sci. 12: 247 - 283 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Studies on physiological fruit drop in persimmon. II. "relationships between fruit drop and pollination and parthenocarpic ability
Tác giả: Kajiura, M
Năm: 1914
1. Võ Văn Chí, Dương Đức Tiến (1978), Phân loại thực vật, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp Khác
2. Vũ Văn Chuyên (1971), Thực vật học, (tập 2), Nxb y học, Hà Nội. cứu khoa học, (quyển 7), tr.143 - 146, Nxb Nông nghiệp, Hà nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Phân loại hồng theo Mori 1953 - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ
Sơ đồ 1 Phân loại hồng theo Mori 1953 (Trang 28)
Bảng 1.1: Sản lượng trồng hồng của một số nước trên thế giới năm 2005 - 2008 - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ
Bảng 1.1 Sản lượng trồng hồng của một số nước trên thế giới năm 2005 - 2008 (Trang 29)
Bảng 1.4: Diện tích hồng của một số tỉnh trong cả nước năm 2004 - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ
Bảng 1.4 Diện tích hồng của một số tỉnh trong cả nước năm 2004 (Trang 32)
Bảng 1.5: Lƣợng phân bón cho hồng ở các cấp tuổi (kg/cây)                 Năm tuổi - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ
Bảng 1.5 Lƣợng phân bón cho hồng ở các cấp tuổi (kg/cây) Năm tuổi (Trang 47)
Bảng 3.1: Kết quả phân tích đất  Tên - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.1 Kết quả phân tích đất Tên (Trang 56)
Bảng 3.2. Diễn biến khí hậu trung bình năm 2012 trong thời gian nghiên  cứu tại huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.2. Diễn biến khí hậu trung bình năm 2012 trong thời gian nghiên cứu tại huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ (Trang 58)
Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tại  huyện Phù Ninh - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Phù Ninh (Trang 60)
Bảng 3.4: Diện tích, năng suất, sản lƣợng một số cây ăn quả   chính năm 2009 - 2011 - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.4 Diện tích, năng suất, sản lƣợng một số cây ăn quả chính năm 2009 - 2011 (Trang 61)
Bảng 3.6: Đặc điểm thân, cành - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.6 Đặc điểm thân, cành (Trang 64)
Bảng 3.7: Đặc điểm lá của giống hồng Gia Thanh - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.7 Đặc điểm lá của giống hồng Gia Thanh (Trang 65)
Bảng 3.9: Đặc điểm và khả năng sinh trưởng lộc hè năm 2012  STT  Chỉ tiêu nghiên cứu  Đơn vị - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.9 Đặc điểm và khả năng sinh trưởng lộc hè năm 2012 STT Chỉ tiêu nghiên cứu Đơn vị (Trang 67)
Hình 3.2: Đồ thị tỷ lệ các loại lộc của giống hồng Gia Thanh - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ
Hình 3.2 Đồ thị tỷ lệ các loại lộc của giống hồng Gia Thanh (Trang 68)
Bảng 3.10: Đặc điểm và khả năng sinh trưởng lộc thu năm 2012  STT  Chỉ tiêu nghiên cứu  Đơn vị   Kết quả   Sai số - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.10 Đặc điểm và khả năng sinh trưởng lộc thu năm 2012 STT Chỉ tiêu nghiên cứu Đơn vị Kết quả Sai số (Trang 68)
Bảng 3.11: Động thái tăng trưởng chiều dài các đợt lộc năm 2012           Chỉ tiêu - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.11 Động thái tăng trưởng chiều dài các đợt lộc năm 2012 Chỉ tiêu (Trang 69)
Bảng 3.12: Quá trình ra hoa, đậu quả của hồng Gia Thanh   STT  Chỉ tiêu nghiên cứu  Đơn vị - Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hồng không hạt Gia Thanh huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.12 Quá trình ra hoa, đậu quả của hồng Gia Thanh STT Chỉ tiêu nghiên cứu Đơn vị (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm