1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hướng dẫn học sinh lớp 9 đọc hiểu Bến Quê qua ba tầng cấu trúc của văn bản văn học

99 922 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 635,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đấy là sự hữu hạn của một đời người, là bài học cho những ai từng thờ ơ với quê hương, với những gì đã gắn bó và gần gũi nhất quanh mình” [31] Nguyễn Thị Thanh Thủy trong “Biện pháp hướn

Trang 1

LÝ THỊ THANH SƠN

HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 9 ĐỌC - HIỂU “BẾN QUÊ”

QUA BA TẦNG CẤU TRÚC CỦA VĂN BẢN VĂN HỌC

Chuyên ngành: LL&PPDH Văn – Tiếng Việt

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Hoàng Hữu Bội

Thái Nguyên - năm 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa có ai công

bố trong một công trình nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lý Thị Thanh Sơn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới TS Hoàng Hữu Bội -

người thầy đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

và hoàn thành luận văn

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, Phòng

đào tạo - Nghiên cứu khoa học Trường Đại học sư phạm - Đại học Thái

Nguyên đã tận tình giúp đỡ, khích lệ em trong quá trình nghiên cứu và học tập

tại trường

Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Sở giáo dục và đào tạo tỉnh

Thái Nguyên, Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trong tổ Văn Trường THCS

Đồng Bẩm và Trường THCS Túc Duyên thành phố Thái Nguyên, bạn bè

đồng nghiệp cùng những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện cho tôi

trong suốt thời gian qua

Thái Nguyên, ngày 20 tháng 8 năm 2012

Tác giả

Lý Thị Thanh Sơn

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

1.1 Về mặt lý luận 1

1.2 Về mặt thực tiễn 2

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Mục đích nghiên cứu 5

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5.1 Nghiên cứu vấn đề trên bình diện lý thuyết 5

5.2 Khảo sát thực tiễn 5

5.3 Thực nghiệm sư phạm 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

6.1 Phương pháp khảo sát 6

6.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp 6

6.3 Phương pháp thực nghiệm 6

7 Cấu trúc luận văn 6

PHẦN NỘI DUNG 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7

1.1 Cơ sở lý luận 7

1.1.1 Bản chất của văn chương 7

1.1.2 Cấu trúc của văn bản văn chương 10

1.2 Cơ sở thực tiễn 26

1.2.1 Nhiệm vụ khảo sát và nội dung khảo sát 26

1.2.2 Phương pháp và địa bàn khảo sát 27

1.2.3 Kết quả khảo sát 27

1.2.4 Những kết luận rút ra từ việc khảo sát thực trạng 34

Tiểu kết chương 1 35

Trang 5

Chương 2: VẬN DỤNG LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VĂN BẢN

VĂN HỌCVÀO DẠY HỌC “BẾN QUÊ” CHO HỌC SINH LỚP 9 37

2.1 Sáng tác của Nguyễn Minh Châu từ sau 1975 và tác phẩm “Bến quê” 37

2.1.1 Sáng tác của Nguyễn Minh Châu từ sau 1975 37

2.1.2 Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm “Bến quê” 39

2.2 Hướng dẫn học sinh đọc và xác định bố cục, kết cấu văn bản “Bến quê” 42

2.2.1 Hoạt động đọc 42

2.2.2 Hướng dẫn học sinh xác định bố cục, kết cấu 43

2.3 Hướng dẫn học sinh đọc hiểu tầng ngôn từ 45

2.4 Hướng dẫn học sinh đọc hiểu tầng hình tượng 50

2.4.1 Cảnh sắc thiên nhiên trong “Bến quê” 50

2.4.2 Hình tượng nhân vật 51

2.5 Hướng dẫn học sinh đọc hiểu tầng hàm nghĩa 56

Tiểu kết chương 2 58

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 60

3.1 Mục đích và nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 60

3.1.1 Mục đích 60

3.1.2 Nhiệm vụ 60

3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 60

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 60

3.2.2 Địa bàn thực nghiệm 61

3.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 62

3.3.1 Nội dung thực nghiệm 62

3.3.2 Phương pháp thực nghiệm 62

3.4 Cách thức tiến hành thực nghiệm 63

3.5 Thiết kế giáo án thực nghiệm 64

3.6 Kết quả thực nghiệm 81

Trang 6

3.6.1 Các chỉ tiêu đánh giá 81

3.6.2 Kết quả thực nghiệm 83

3.6.3 Đánh giá chung về thực nghiệm sư phạm 84

Tiểu kết chương 3 87

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tâm lý của học sinh với tác phẩm Bến quê 28

Bảng 2.2 Năng lực cảm thụ tác phẩm Bến quê của học sinh THCS 31

Bảng 3.1 84

Bảng 3.2 84

Trang 8

Tầng hình tượng được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ, trước hết bao gồm “hình ảnh ngôn từ”, “biểu tượng” tạo thành bởi các phép tu từ Thứ hai, hình tượng văn học còn bao gồm những cấu tạo siêu ngôn từ được kể và miêu

tả ra như sự kiện, nhân vật, môi trường, hoàn cảnh

Tầng hàm nghĩa được khái quát hóa từ hai tầng cấu trúc trên mà thành Tầng hàm nghĩa của văn bản văn học không thể tách rời cấu trúc ngôn ngữ và tầng cấu trúc hình tượng nghệ thuật mà tồn tại được nhưng nó lại vượt qua chúng để biến thành trạng thái ưu tư không dứt, tác động sâu xa đến tâm hồn con người

Có thể nói: Tầng cấu trúc ngôn ngữ, tầng cấu trúc hình tượng nghệ thuật là sự chuyển hóa từ nội dung sang hình thức Tiếp theo đó là tầng cấu trúc tư tưởng thẩm mĩ lại là sự chuyển hóa từ hình thức nghệ thuật ngôn từ và hình tượng thành nội dung tư tưởng và ý vị nhân sinh của tác phẩm văn chương

Trang 9

Từ cơ sở trên, chúng tôi nhận thấy, có thể chọn nội dung lý luận về ba tầng cấu trúc của văn bản văn học vào dạy tác phẩm văn chương để tìm ra một hướng khám phá mới khi dạy học văn trong nhà trường phổ thông

1.2 Về mặt thực tiễn

Các nhà biên soạn Sách giáo khoa đã đưa một số tác phẩm của nhà văn

Nguyễn Minh Châu vào Sách giáo khoa ngữ văn ở trường trung học như Bức

tranh, Chiếc thuyền ngoài xa, Bến quê, Mảnh trăng cuối rừng… Những tác

phẩm đó đều hàm chứa những triết lý sâu sắc, những trải nghiệm trường đời rất thấm thía Nhưng người dạy và người học đều chưa trải nghiệm vậy việc dạy học những tác phẩm đó như thế nào cho có hiệu quả? Giáo viên làm thế nào để vượt qua thử thách đó?

Tác phẩm Bến quê là một trong những tác phẩm khá tiêu biểu của ông

được lựa chọn giảng dạy trong chương trình Ngữ văn 9 Cũng như nhiều

truyện ngắn khác, truyện ngắn Bến quê chứa đựng những triết lý sâu sắc về

cuộc đời con người mang tính trải nghiệm:

- Cuộc đời con người chứa đầy những nghịch lý, vượt ra ngoài mọi dự định và ước muốn, cả những toan tính của người ta

- Trong cuộc đời, con người khó tránh được những điều vòng vèo hoặc chùng chình

- Con người ta, đến khi sắp từ giã cuộc đời mới thấm thía vẻ đẹp của những thứ gần gũi quanh mình, mới thấu hiểu được người vợ tần tảo, giàu tình yêu và đức hi sinh

Vậy mà người dạy và người học chưa có sự trải nghiệm về cuộc đời Vì vậy, vấn đề đặt ra ở đây là cần giải quyết vấn đề đó như thế nào? Giáo viêm cần lựa chọn phương thức dạy học ra sao để phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh? Luận văn chúng tôi muốn tìm ra một phương thức tiếp cận tác phẩm mới để làm sáng tỏ điều này

Trang 10

Những nội dung trên của tầng hàm nghĩa đều ẩn chứa ở tầng ngôn từ và tầng hình tượng Vậy, phải dạy học như thế nào để học sinh khám phá ra điều đó?

Từ những lý do nêu trên chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Hướng dẫn học

sinh lớp 9 đọc - hiểu “Bến quê” qua ba tầng cấu trúc của văn bản văn học”

2 Lịch sử vấn đề

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tác giả Nguyễn Minh Châu và

những tác phẩm của ông nói chung và về tác phẩm Bến quê nói riêng Chúng

tôi có thể kể đến một vài bài viết, Luận văn tiêu biểu nghiên cứu về tác phẩm

Bến quê trên cả phương diện phê bình lý luận lẫn phương pháp dạy học

Trần Đình Sử trong bài viết “Bến quê, một phong cách nghệ thuật giàu

chất triết lý” đã viết: Đặc sắc của Bến quê chủ yếu là “sự thể nghiệm của một

hướng trần thuật có chiều sâu….Nguyễn Minh Châu hướng ngòi bút của anh vào việc phát hiện ra các hiện tượng của đời sống trong chiều sâu triết học và lịch sử, thể hiện nhu cầu tự chiêm nghiệm, đối thoại với chính mình và ý thức của mình Bến quê là những kinh nghiệm có tính chất tổng kết đời người” [9,191]

Lê Văn Tùng trong “Không gian Bến quê, một sự nhận thức đau đớn

sáng ngời của con người” đã nhận xét “Bến quê là một trong vài truyện ngắn

ngắn nhất của Nguyễn Minh Châu Đây là một truyện ngắn có thi pháp độc đáo, chất chứa một dung lượng nghệ thuật vượt cái tầm bến… quê Không gian trong “Bến quê” là một không gian tìm tòi, là sự phát hiện cả một thế

giới mới lạ đầy sức sống….Với Nguyễn Minh Châu, không gian Bến quê

cũng là không gian văn hóa thẩm mĩ mới mẻ anh phát hiện trong những tác phẩm sau 1980” [9,198]

Dương Viết Minh trong “Sự đổi mới hướng tiếp cận hiện thực của

Nguyễn Minh Châu trong các truyện ngắn viết sau năm 1975” đã đánh giá

“Bến quê miêu tả con người đi khắp nơi nhưng lại chưa đến bến quê ngay

Trang 11

cạnh nhà mình, cuối đời ao ước thực hiện mà không được Đấy là sự hữu hạn của một đời người, là bài học cho những ai từng thờ ơ với quê hương, với những gì đã gắn bó và gần gũi nhất quanh mình” [31]

Nguyễn Thị Thanh Thủy trong “Biện pháp hướng dẫn đọc hiểu Bến

quê của Nguyễn Minh Châu cho học sinh Khơ Me tỉnh Vĩnh Long” (Luận văn

thạc sĩ khoa học giáo dục, 2006) đã có nhận xét “Bến quê có một cốt truyện được xây dựng từ những sinh hoạt thế sự hướng tới những chiêm nghiệm lẽ đời, hướng tới sự cảnh tỉnh kín đáo với lối sống tự nhiên, vô ý thức, không lường trước hậu quả của thói quen, nếp thông tục hàng ngày” [42]

Nguyễn Minh Hoài trong “Dạy học tác phẩm Bến quê trong chương

trình ngữ văn 9 theo quan điểm tích hợp (Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục,

2006, Đại học sư phạm Hà Nội) “Bến quê là chiêm nghiệm về lẽ đời, tình người trong dòng độc thoại nội tâm khiến người đọc phải nghiền ngẫm, trăn trở trước những vấn đề của chính mình và cuộc sống” [20]

Cao Xuân Hải “Trữ tình và triết lý trong Bến quê của Nguyễn Minh

Châu” cũng đã đưa ra những ý kiến của mình “Nguyễn Minh Châu là người

đọc say sưa với những trang miêu tả tâm lý nhạy cảm, phát hiện ra bề sâu khôn cùng của một thế giới bí ẩn, thầm kín của con người” [12]

Như vậy, qua các trang viết của mình các tác giả đã đánh giá truyện

ngắn Bến quê ở nhiều khía cạnh, góc độ nhưng tựu trung lại đều khám phá,

khai thác, so sánh những biến chuyển đổi mới của ngòi bút Nguyễn Minh

Châu trước và sau 1975 Qua truyện ngắn Bến quê tác giả đề cập đến nhiều

vấn đề về đổi mới cách nhìn, về thi pháp truyện ngắn mới mẻ của Nguyễn Minh Châu (giọng điệu, điểm nhìn trần thuật, tình huống truyện….) qua đó khẳng định vai trò người mở đường của Nguyễn Minh Châu

Tuy nhiên, chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ,

sâu sắc Dạy học tác phẩm Bến quê bằng con đường dẫn dắt học sinh lớp 9 đọc

Trang 12

hiểu qua ba tầng cấu trúc của một văn bản văn học Vì vậy, với Luận văn này, chúng tôi hi vọng sẽ tìm ra biện pháp tốt nhất để hướng dẫn học sinh khám

phá tầng hàm nghĩa trong truyện ngắn Bến quê một cách phù hợp nhất nhằm

góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Phương thức hoạt động dạy và học của thầy và trò đối với việc dạy học

truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu bằng con đường hướng dẫn học

sinh lớp 9 đọc hiểu qua ba tầng cấu trúc của văn bản

4 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này nghiên cứu nhằm mục đích sau:

Tìm ra phương án dạy học có hiệu quả khi dạy văn bản truyện ngắn

Bến quê của Nguyễn Minh Châu để học sinh lớp 9 có thể cảm hiểu được các

nội dung trong tầng ngôn từ và tầng hình tượng để từ đó rút ra tầng hàm nghĩa của tác phẩm

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, Luận văn có nhiệm vụ:

5.1 Nghiên cứu vấn đề trên bình diện lý thuyết

- Lý thuyết về bản chất của văn chương

- Lý thuyết về cấu trúc văn bản văn học

5.2 Khảo sát thực tiễn

- Giáo viên đối với việc dạy học truyện ngắn Bến quê

- Học sinh đối với việc học truyện ngắn Bến quê

5.3 Thực nghiệm sư phạm

- Thiết kế bài dạy

- Tổ chức dạy học thực nghiệm

6 Phương pháp nghiên cứu

Từ nhiệm vụ nghiên cứu trên, Luận văn sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Trang 13

6.1 Phương pháp khảo sát

Để thấy được những khó khăn của học sinh khi cảm thụ truyện ngắn

Bến quê và tình hình dạy học tác phẩm này của giáo viên giúp cho việc

nghiên cứu đề tài này, đáp ứng được đòi hỏi của tình hình thực tiễn, góp phần

nâng cao hiệu quả trong quá trình dạy học truyện ngắn Bến quê

6.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Đọc, tập hợp, xếp loại, thống kê các tư liệu để tìm ra nội dung trong các

tầng cấu trúc của văn bản Bến quê

6.3 Phương pháp thực nghiệm

Dạy thực nghiệm một số giờ học tại một số trường THCS trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn này

được triển khai thành ba nội dung lớn tương ứng với ba chương sau đây:

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 2: Phương án dạy học truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu bằng con đường hướng dẫn học sinh đọc hiểu ba tầng cấu trúc của văn bản

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Bản chất của văn chương

Theo giáo sư Nguyễn Văn Hạnh trong bài viết “Về bản chất của văn

chương” đăng trên báo văn nghệ số 27 ra ngày 4/7/1995 thì bản chất văn

chương từ xưa đến nay đều được xem xét trên cả ba bình diện: bản chất tư tưởng, bản chất nghệ thuật và bản chất ngôn từ nhưng đối với mỗi một thời kì, một giai đoạn, một trào lưu sáng tác người ta lại nhấn mạnh đến những mặt khác nhau

Việc chú trọng đến bản chất tư tưởng của văn chương đã có từ xa xưa

Có thể nhận thấy điều này trong quan niệm của Khổng Tử và các nhà nho về

“văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí”, trong nhận thức về sự bất phân giữa văn và

sử, văn và triết ở thời kỳ đầu sự phát triển của văn chương Những người mác xít cũng đặc biệt nhấn mạnh bản chất tư tưởng của văn chương, coi văn chương và nghệ thuật nói chung là một hình thái ý thức xã hội, một công cụ

nhận thức, một “vũ khí tư tưởng” …Văn chương đưa đến cho người đọc

những suy nghĩ, chiêm nghiệm về cuộc sống về lẽ đời, tình người Bản chất tư tưởng của văn chương là phương diện vô cùng quan trọng của một tác phẩm văn học Nó khẳng định được vị trí, tên tuổi cũng như sức sống của tác phẩm cũng như của nhà văn đó với thời gian Một tác phẩm dù hoa mĩ, tráng lệ đến đâu nhưng không chứa đựng trong nó những tư tưởng mà tác giả gửi gắm thì sớm muộn gì cũng sẽ bị đào thải

Một hướng tiếp cận khác chú trọng bản chất nghệ thuật của văn

chương, mối liên hệ mật thiết giữa văn chương và nghệ thuật, coi văn chương

Trang 15

là một loại hình nghệ thuật Đây là cách xem xét của Aristote trong quyển Thi

học (có lúc gọi là Nghệ thuật thơ ca) Đặc biệt ở các nhà mỹ học Đức từ cuối

thế kỷ XVIII, ở Kant và Hegel, bản chất nghệ thuật của văn chương càng được nhấn mạnh, và họ coi nghiên cứu văn chương, thi học là một bộ phận của mỹ học Theo hướng tiếp cận này, người ta lưu ý nhiều đến mối liên hệ giữa văn chương với âm nhạc, với nghệ thuật tạo hình, với kiến trúc, và gần đây là với nghệ thuật điện ảnh, đề cao giá trị thẩm mỹ của văn chương, xem xét, đánh giá văn chương theo yêu cầu của cái đẹp, sự hài hòa, sự sống

Việc chú trọng đến bản chất ngôn ngữ của văn chương gắn với ngôn ngữ học hiện đại Roman Jakobson trong một tiểu luận nổi tiếng Ngôn ngữ

học và thi học (1960) xem nghiên cứu thi ca, thi học là một ngành của ngôn

ngữ học Đối tượng của thi học, theo ông, trước tiên là phải trả lời câu hỏi: cái

gì làm cho một thông điệp bằng lời nói biến thành một công trình nghệ thuật?

Và ông cho rằng có thể tìm lời giải đáp trong chức năng thi ca của ngôn ngữ

Dù đặt trọng tâm chú ý vào đâu, dù xuất phát từ điểm nhìn nào, từ tư

tưởng, nghệ thuật hay ngôn ngữ, thì trong thực tiễn sáng tác hay nghiên cứu

văn chương hiện nay, cả ba mặt bản chất của văn chương là tư tưởng, nghệ

thuật và ngôn ngữ cần được quan tâm theo cách này hay cách khác, ở mức độ

này hay mức độ khác Chúng ta không ngạc nhiên là những nhà văn lớn xưa nay là những nhà tư tưởng lớn, đồng thời là những nghệ sĩ tài ba và là những bậc thầy về ngôn ngữ Đại thi hào Nguyễn Du là một ví dụ điển hình cho một

tài năng lớn về văn chương với tác phẩm Truyện Kiều Tác phẩm là một minh

chứng rõ nét cho sự kết hợp nhuần nhuyễn cho cả bản chất tư tưởng, bản chất nghệ thuật và bản chất ngôn ngữ của văn chương Ngay cả những người cầm bút bình thường, muốn phát huy được sức mạnh riêng, sức mạnh tổng hợp của văn chương, cũng phải biết khai thác cả ba mặt tư tưởng, nghệ thuật và ngôn ngữ của nó

Trang 16

Đi vào văn chương, dù là sáng tác hay nghiên cứu, mà không dựa vào ngôn ngữ, không có sự hiểu biết phong phú, tinh tường về ngôn ngữ thì chắc chắn không thể nào tiến hành công việc có kết quả tốt được Nhưng trong tác phẩm văn chương cụ thể, ngôn ngữ dù có mặt sáng tạo riêng rất quan trọng, trước hết vẫn là phương tiện để biểu đạt nội dung như một số nhà thi pháp khẳng định Hoặc theo một số nhà nghiên cứu khác, văn chương là nghệ thuật ngôn ngữ làm phương tiện biểu đạt, là nghệ thuật ngôn từ Muốn hiểu được nội dung ý nghĩa của tác phẩm trước hết ta phải đi tìm hiểu ngôn ngữ của tác phẩm đó, qua lớp ngôn ngữ mới hiểu được những tư tưởng mà nhà văn muốn

gửi gắm Chẳng hạn, dòng miêu tả về nhân vật Thúy Kiều “Hoa ghen thua

thắm, liễu hờn kém xanh”, qua những từ như “hoa ghen”, “liễu hờn” tác giả

như muốn báo trước, dự cảm một cuộc đời trôi nổi, sóng gió, đầy bất trắc sẽ

đến với nàng Kiều Hay với những từ “tót” trong “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”;

“lẻn” trong “Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào” tác giả đã “giết chết” hai

nhân vật của mình là Mã Giám Sinh và Sở Khanh Dường như mọi bản chất con buôn, tráo trở của chúng đã được tác giả thể hiện rõ qua ngôn ngữ

Nếu quan niệm một cách đúng đắn văn chương là nghệ thuật ngôn từ, nếu hiểu rõ đặc trưng mà chất liệu ngôn từ có thể tạo nên ở loại hình nghệ thuật đặc biệt này, thì sẽ không thể nào không nhận thấy sức mạnh tư tưởng tiềm ẩn của nó Tất nhiên tư tưởng ở đây phải được quan niệm một cách đúng đắn và rộng rãi, bao quát không chỉ vấn đề chính nghĩa và phi nghĩa, thiện và

ác ở đời này, mà toàn bộ nhận thức, suy nghĩ, tình cảm, thái độ của con người đối với cuộc sống, trong quan hệ với tự nhiên, xã hội và với chính bản thân

Vì vậy, khi đọc, cảm nhận hay dạy học sinh một tác phẩm văn chương việc hướng tới tư tưởng là công việc vô cùng quan trọng Như vậy, ý nghĩa tư tưởng có vai trò vô cùng quan trọng trong tác phẩm văn chương Nhờ ý nghĩa

tư tưởng, qua văn chương, con người cảm nhận và ý thức được cái đẹp, sự hài

Trang 17

hòa, sự sống, tiếp cận và tự nâng mình lên với những tư tưởng, tình cảm cao đẹp, sâu sắc, tinh tế, được bồi dưỡng về ngôn ngữ, thứ ngôn ngữ phong phú,

sinh động, giàu sức biểu cảm nhất của dân tộc Khi dạy học tác phẩm Bến quê

của Nguyễn Minh Châu, nói gì thì nói nhưng cái đích cuối cùng cần đạt được chính là ở chỗ phải đưa học sinh đến được với những ý nghĩa sâu xa, đến tư tưởng

mà nhà văn muốn gửi gắm đó là ở đời nhiều khi con người ta thường khó tránh những vòng vèo, chùng chình đồng thời thức tỉnh về những giá trị và vẻ đẹp đích thực của đời sống ở những cái gần gũi, bình thường mà bền vững

Có thể nói, trong sự vận động của nó, văn chương đích thực dù biến

hóa muôn hình nghìn vẻ vẫn luôn đứng trên một cái thế chân kiềng tư tưởng,

nghệ thuật, ngôn ngữ, nó là một hợp chất tư tưởng - nghệ thuật - ngôn ngữ, và

đòi hỏi người sáng tác cũng như người nghiên cứu có cách khai thác có hiệu quả nhất các mặt bản chất đó, tùy theo yêu cầu của thời đại và tài năng, sở trường của mỗi người Đương nhiên văn chương cũng như nghệ thuật không thể thay thế cho kinh tế, chính trị và những lĩnh vực quan trọng khác của đời sống xã hội Nhưng, ngược lại, cũng không một lĩnh vực nào có thể thay thế được văn chương trong việc giúp con người hiểu cuộc sống và hiểu chính mình, sống có tình thương, có đạo lý, có văn hóa, vượt qua cái tầm thường, phàm tục, giả dối, để thăng hoa, để ước mơ, vươn đến chân, thiện, mỹ

1.1.2 Cấu trúc của văn bản văn chương

Theo giáo trình Lý luận văn học của Trần Đình Sử (chủ biên) thì cấu

trúc của văn bản văn học được phân chia thành: Tầng ngôn từ, tầng hình tượng và tầng hàm nghĩa

1.1.2.1 Tầng ngôn từ

Văn học là nghệ thuật ngôn từ, ngôn từ là phương tiện vật chất cấu thành hệ thống hình tượng, truyền đạt thông tin thẩm mĩ Ngôn từ chi phối nhà văn trong toàn bộ quá trình sáng tác Ngôn từ gắn bó mật thiết với quá

Trang 18

trình thai nghén, phát triển, trưởng thành của hình tượng nghệ thuật, cuối cùng, đem những ý tưởng thẩm mĩ bất định, tản mạn ngưng kết thành một thể thống nhất, làm cho nó được định hình hóa, sáng rõ, trở thành sự tồn tại khách quan mang hình thái vật hóa - văn bản văn học Trong kết cấu văn bản, tầng ngôn từ có hai chức năng: một mặt, nó là phương tiện truyền đạt ý thức thẩm

mĩ của tác phẩm, cấu thành nên cái bên ngoài mà độc giả có thể cảm nhận được, tức là hình thức bên ngoài; mặt khác, bản thân nó có giá trị thẩm mĩ tương đối độc lập, cũng là thể thống nhất giữa nội dung và hình thức

Tầng ngôn từ trong văn bản văn học bao gồm từ ngữ, câu văn, lời kể, giọng kể

* Từ ngữ trong văn học thường đặc thù trong các phương thức kết hợp,

tổ chức, cắt tỉa, cấu tạo lại Người ta gọi đó là ngôn từ lạ hóa, tức là ngôn từ được tạo ra bằng thủ pháp “gây trở ngại” nhằm chống lại cơ chế “tự động hóa” của cảm thụ Lạ hóa làm cho người ta cảm thụ sự vật được nói tới như lần đầu Ví dụ, Nguyễn Du đảo trật tự từ mà tạo ý nghĩa mới rất thú vị

Nay hoàng hôn đã lại mai hôn hoàng Không phải chỉ hiệp vần mà đảo hoàng hôn thành hôn hoàng Hôn hoàng là một từ vô nghĩa, nhưng đối lập với hoàng hôn, nó thông báo cuộc sống chỉ là hoàng hôn lặp đi lặp lại, không hề thay đổi Trong văn xuôi, cách cấu tạo từ đặc biệt thường thể hiện trong nhan đề: Bữa rượu máu, Tờ hoa, Bến quê, Người ngựa ngựa người….các cụm từ ấy diễn tả không chỉ giản đơn một

sự vật, mà là sự vật trong cảm nhận, thể nghiệm của con người Cách cấu tạo của chúng phải lạ hóa, gây ấn tượng mới lạ cho người đọc

Từ ngữ trong văn học thường có tính chất đa nghĩa, tính chất mơ hồ Bao gồm nghĩa bề mặt và nghĩa bề sâu Nghĩa bề mặt là nghĩa đen, rõ ràng, khá xác định Nghĩa bề sâu là nghĩa ngoài lời hoặc nghĩa bị che dấu, chúng thường là hàm súc, kín đáo không xác định, co giãn, thậm chí nhiều nghĩa, giải thích thế nào cũng có vẻ thông, nhưng k loại trừ nhau

Trang 19

* Lời văn: Ngôn từ của tác phẩm văn học là một hiện tượng nghệ thuật Bất kì một tác phẩm văn học nào cũng được viết hoặc được kể bằng lời Ở phương diện thể loại văn học có lời thơ, lời văn Ở phương diện chức năng và các thành phần cấu tạo của lời văn nghệ thuật có lời tác giả, lời nhân vật, lời trực tiếp, lời gián tiếp….gọi chung là lời văn Lời văn là hình thức ngôn từ nghệ thuật của tác phẩm văn học

Lời văn vận dụng toàn bộ khả năng và phương tiện biểu đạt của ngôn ngữ toàn dân thuộc các phương diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp… Các phương tiện từ vựng như đồng nghĩa, phản nghĩa, từ cổ, từ mới, từ tục, từ thanh…Các phương tiện ngữ pháp như câu cảm thán, câu đặc biệt, câu nghi vấn, phép đảo ngữ Các phương thức chuyển nghĩa như ẩn dụ, so sánh, phúng dụ…Các phương diện ngữ âm như thanh điệu, nhịp điệu, tiết tấu…

Lời văn nghệ thuật thường được tổ chức theo các nguyên tắc sau đây:

Cụ thể hóa có định hướng đối tượng được miêu tả Lời văn trong tác phẩm văn học có chức năng tái hiện đời sống, thể hiện sự lý giải, đánh giá, cảm hứng đối với nó Do đó, nó thường phải làm cho đối tượng ngày một cụ thể hơn, lớn lên, bắt rễ vào tâm tư người đọc Ví dụ, những lời văn miêu tả

Liên trong Bến quê “Liên vẫn không đáp và biết chồng đang nghĩ gì Chị đưa

những ngón tay gầy guộc âu yếm, vuốt ve bên vai chồng…” [40,101] Các câu văn này cụ thể hóa đối tượng được miêu tả ở đây là Liên, từ sự miêu tả này, nhà văn muốn nói tới những phẩm chất tốt đẹp bên trong con người Liên

đó là sự tế nhị, dịu dàng, thương yêu chăm sóc chồng Qua đó tác giả dẫn dắt

vào chủ đề: Bến quê sẽ là truyện về những điều bình dị mà thiêng liêng trong

cuộc đời mỗi con người

Đồng thời với sự cụ thể hóa có hướng là sự tỉnh lược, sự cố tình và thường xuyên im lặng một số phương diện nào đó của nhân vật Chẳng hạn

trong Bến quê, nhà văn bỏ qua chân dung, trang phục nhân vật Nhĩ, bỏ qua

Trang 20

cuộc sống của Nhĩ ở những ngày còn mạnh khỏe Bên cạnh việc tỉnh lược, nhà văn lại tập trung khắc họa tâm trạng, cảm xúc của nhân vật Nhĩ trong những ngày cuối đời, gắn chặt vào giường bệnh Cách tỉnh lược này giúp lời văn hàm súc, lời chật ý rộng, bỏ qua những chi tiết không phục vụ cho chủ đề tác phẩm

Cùng với hai nguyên tắc trên, lời văn nghệ thuật còn truyền cho người đọc một điểm nhìn cá thể hóa mang cá tính sáng tạo của người trần thuật hoặc

của nhân vật hoặc kết hợp cả hai Trong Bến quê điểm nhìn, vai kể (qua đó

hình tượng của tác phẩm được miêu tả, kể lại, hiện lên) được chuyển đổi khá linh hoạt: từ nhân vật Nhĩ (là chủ yếu), rồi vợ anh - Liên; người kể chuyện; ông cụ giáo Khuyến, và nghệ thuật trần thuật như vậy làm cho hình tượng cuộc sống, con người trong văn bản trở nên sinh động gần gũi, trở nên “thật” hơn, gây ấn tượng hơn, thuyết phục hơn Điểm nhìn của Nhĩ là điểm nhìn của con người trong những ngày cuối đời - đó là điểm nhìn có chiều sâu của con người từng trải, nhận ra nhiều chân lý của cuộc đời Với điểm nhìn ấy, văn

Bến quê tràn đầy cảm giác da diết, dằn vặt mà cũng đầy trữ tình, khắc khoải

* Giọng văn: giọng văn trong văn bản thể hiện cái giọng điệu riêng mang thái độ tình cảm và đánh giá của tác giả Trong tác phẩm văn xuôi, giọng điệu thể hiện qua giọng của người kể, người kể ấy có thể là nhân vật (xưng tôi) hay người kể vô hình nhưng cũng thể hiện kín đáo cái tôi thứ hai của tác giả Giọng điệu thể hiện ở cách xưng hô, cách dùng từ ngữ nhằm biểu hiện tình cảm thành kính, thân mật hay xa lạ, khinh bỉ, châm biếm, giễu nhại… Ví dụ, nổi bật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là giọng điệu trào lộng, hài hước; nổi bật trong truyện Nguyễn Minh Châu là giọng trữ tình, triết lý…

Tóm lại, kết hợp sự truyền đạt tầng ngôn ngữ, chức năng biểu hiện phong cách và tạo hình đã sáng tạo ra hệ thống hình tượng rõ ràng, tươi mới mang đậm cá tính Độc giả trong khi cảm nhận vẻ đẹp ngôn từ bất giác đạt

Trang 21

được hình tượng mà quên ngôn ngữ, do đó đã thâm nhập vào tầng thứ hai của văn bản, tức là tầng hiện tượng cấu thành của hình tượng nghệ thuật

1.1.2.2 Tầng hình tượng

Tầng ngữ âm của văn bản không phải là cái gì đó trống rỗng mà bao giờ cũng bao hàm ngữ nghĩa Cũng như vậy, tầng ngôn ngữ chỉnh thể của văn bản cũng không phải là cái gì đó trống rỗng, nó bao hàm hiện tượng vô cùng

đa dạng phong phú mang tính phát hiện của văn bản văn học, những điều này được gọi là tầng hình tượng Nói một cách đơn giản, tầng hình tượng của văn bản văn học là nội dung của văn bản văn học, do hệ thống hình tượng của chỉnh thể tác phẩm tạo thành, như nhân vật, sự kiện, cốt truyện, hoàn cảnh, cảnh vật… Tầng hình tượng của văn bản văn học biểu hiện ra hoặc là hoàn chỉnh hoặc là phiến đoạn cụ thể, tình cảnh cuộc sống cụ thể, cảm tính, chính bối cảnh cuộc sống ấy cấu thành thế giới hư cấu thẩm mĩ đầy đủ, độc lập

Tầng hình tượng của văn bản tự sự được tạo dựng lên nhờ các yếu tố

như sự kiện, cốt truyện, nhân vật, hoàn cảnh… Trong đó sự kiện và cốt truyện

mang đến phạm vi và bối cảnh quy định sự hiển thị, phát triển của tính cách,

số phận, tâm lí nhân vật; nhân vật là nguyên nhân vận động nội tại, biến hóa phát triển của cốt truyện và tình tiết, cũng là trung tâm của văn bản; hoàn cảnh chính là bối cảnh cụ thể để nhân vật hoạt động, là quan hệ giữa người và người, bối cảnh lớn của lịch sử và thời đại

* Sự kiện (biến cố) và cốt truyện:

Theo giáo trình Lý luận văn học thì “Sự kiện nói chung là những hành

vi (việc làm) của nhân vật hay sự việc xảy ra đối với nhân vật dẫn đến hậu quả, làm biến đổi hay bộc lộ một ý nghĩa nào đó” [35 ] Ví dụ, Kiều cùng các

em đi chơi xuân gặp mả Đạm Tiên, tiếp theo đó gặp Kim Trọng và quyến luyến với chàng Hai sự kiện đó ảnh hưởng tới toàn bộ cuộc đời Kiều

Sự kiện có hai đặc trưng cơ bản: thứ nhất là giữa các sự kiện trong biến

cố có quan hệ nhân quả, có nguyên nhân này mới có kết quả kia, có mâu

Trang 22

thuẫn xung đột như thế này mới dẫn đến sự thay đổi tình huống kia Ví dụ, hệ

thống sự kiện trong Chí Phèo của Nam cao được xây dựng theo mối quan hệ

nhân quả Bao gồm 7 sự kiện sau: sự kiện 1 là: Chí Phèo chửi đổng, tiếng chửi tuy vu vơ nhưng lại quy tụ vào một điểm chửi kẻ đã làm đời hắn khổ Tiếp theo là sự kiện quá khứ (sự kiện 2): 18 năm Chí làm tá điền cho nhà ông

Lý, bị ông lý Kiến ghen cho đi ở tù Sự kiện 3: Sau 8 năm ở tù Chí trở về hoàn toàn thay đổi: hắn xách vỏ chai ăn vạ nhà Bá Kiến Sự kiện 4: Chí cầm dao đến nhà Bá Kiến đòi đi tù, Bá Kiến biến Chí Phèo thành kẻ gây sự phục

vụ cho lợi ích cho hắn Sự kiện 5: cuộc tình của Chí với Thị Nở và ước vọng làm người lương thiện của hắn Sự kiện 6: Thị Nở từ chối Chí Phèo Sự kiện 7: Chí Phèo tuyệt vọng cầm dao giết Bá Kiến và tự sát Các sự kiện trên vừa

có tính liên tục, vừa có tính nhân quả, thể hiện một cuộc đời, một số phận của nhân vật Thứ hai là sự kiện của biến cố phát sinh, phát triển tuần tự theo dòng thời gian tuyến tính, có trước, có sau, lần lượt tiếp diễn, dựa vào sự tuần

tự mà bày ra Ví dụ, các sự kiện trong Bến quê phát triển tuần tự theo dòng

thời gian tuần tự, bao gồm các sự kiện: Sự kiện 1: Nhĩ nhìn ra cửa sổ ngắm hàng cây bằng lăng, con sông Hồng trong nắng sớm và bãi bồi bên kia sông Hồng Sự kiện 2: Nhĩ trò chuyện với vợ, bày tỏ lòng biết ơn vợ Sự kiện 3: Nhĩ sai con trai đi sang bãi bồi bên kia sông Hồng thay mình, nhưng con trai anh lại sà vào một đám người chơi phá cờ thế trên hè phố Sự kiện 4: Lũ trẻ con hàng xóm sang giúp Nhĩ trở người dậy Sự kiện 5: Nhĩ lại nghĩ đến người

vợ, thức tỉnh về vẻ đẹp tâm hồn của vợ Sự kiện 6: Ông giáo Khuyến sang thăm, hoảng hốt trước vẻ mặt bất thường của Nhĩ và Nhĩ cố đu người ra ngoài, “giơ một cánh tay gầy guộc ra phía ngoài cửa sổ khoát khoát”

Cốt truyện và sự kiện có quan hệ mật thiết, nhưng không phải là một

Sự kiện là tổ hợp sự kiện cuộc sống đã qua sự lựa chọn, có quan hệ nhân quả, phát triển tuần tự theo thời gian, cung cấp tài liệu cho trần thuật, còn cốt truyện lại là sự “trần thuật” về sự kiện, là sự kiện được xuất hiện thông qua sự

Trang 23

trần thuật, là sự gia công nghệ thuật và cấu tạo lại đối với sự kiện, khiến cho quá trình phát triển của sự kiện hiện ra tuần tự, có ý vị thẩm mĩ Vì vậy, cốt

truyện và biến cố không giống nhau Ví dụ, hệ thống sự kiện của Bến quê được trình bày như trên, nhưng cốt truyện của Bến quê có thể tóm tắt như sau:

Bến quê kể về người đàn ông “đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ”, nhưng cái bãi bồi bên kia sông Hồng, sát bến đò ngang gần nhà mình lại chưa

hề đặt chân tới Cuối đời lại bị căn bệnh hiểm nghèo nằm liệt trên giường, phải trông cậy vào vợ con và hàng xóm chăm sóc Trong những ngày cuối đời, nằm trên giường bệnh, người đàn ông đó mới chiêm nghiệm ra bao điều: cuộc sống và số phận con người chứa đầy những điều bất thường, nghịch lý, ngẫu nhiên, vượt ra ngoài những dự định và ước muốn, cả những hiểu biết toan tính khôn ngoan; “con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình”; thức tỉnh vẻ đẹp của đời sống ở những cái bình dị, gần gũi, thân thuộc như một “bến quê”, như bãi bồi bên kia sông Hồng; thức tỉnh về vẻ đẹp tâm hồn của người vợ “vẫn giữ nguyên vẹn những nét tần tảo, chịu đựng, hi sinh từ bao đời xưa”

Cốt truyện là hình thức tổ chức sơ đẳng nhất của truyện Bất cứ truyện lớn, nhỏ, cốt truyện nói chung bao gồm các thành phần chính: thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút Ngoài ra, phần mở đầu là điều kiện, bối cảnh để mâu thuẫn xung đột phát sinh và là tình huống để nhân vật xuất hiện trước khi xung đột chính thức bắt đầu; vĩ thanh lại là tình huống sau khi kết thúc sự kiện cơ bản liên quan đến nhân vật chính Hai bộ phận này không thuộc bộ

phận cơ bản của cốt truyện Ví dụ trong truyện Người coi trạm của Puskin bao

gồm các thành phần chính như sau: Phần mở đầu: người coi trạm có cô con gái đẹp Đunha Phần thắt nút: một chàng kị binh thấy cô đẹp, giả vờ ốm, xin ở lại Phần phát triển: chàng kị binh bắt cóc cô con gái đẹp mang đi Phần cao trào: người coi trạm tìm con gái khắp nơi mà không được Phần mở nút:

Trang 24

người coi trạm buồn chán, uống rượu trúng độc chết Phần vĩ thanh: người con gái về thăm bố, lúc này đã trở thành bà quý tộc

Điều đáng lưu ý là cốt truyện không nhất thiết lúc nào cũng bao hàm đầy đủ, tách bạch các thành phần nói trên Cấu trúc cốt truyện phụ thuộc vào

quan hệ thẩm mĩ của tác giả đối với hiện thực Trong tiểu thuyết Tắt đèn khi

chị Dậu vùng chạy ra ngoài thì “trời tối đen như mực và như cái tiền đồ của chị” Đó là kết cấu để ngỏ chứ chưa phải mở nút, vì chưa có sự kiện xóa bỏ

xung đột Tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao thì hầu như không có đỉnh

điểm và mở nút Điều này do nhà văn không nhìn thấy hoặc không viết ra được kết cục cuối cùng hoặc cố nhường quyền giải quyết cho độc giả, để mặc độc giả tưởng tượng Ngoài ra, các bộ phận cấu thành cốt truyện còn có thể đảo ngược, như đem phần mở nút đặt trước phần thắt nút, hoặc đặt phần mở đầu sau phần thắt nút Tóm lại, kết cấu truyện khác nhau tạo ra những biểu đạt thẩm mĩ khác nhau, thể hiện những nỗ lực vượt qua truyền thống, truy tìm kĩ xảo trần thuật của những nhà văn hiện đại và đương đại; vì vậy, nguyên nhân căn bản nhất dẫn đến việc phá vỡ hình thức trần thuật cũ, truy tìm phương thức biểu đạt mới là do nhu cầu nội tại của việc biểu đạt thẩm mĩ

* Nhân vật:

Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội, là chủ thể cuộc sống xã hội Khi nắm bắt hiện thực, phản ánh cuộc sống từ tóc độ quan hệ thẩm mĩ, cái mà nhà văn đặc biệt chú ý tái hiện và biểu hiện chính là con người hành động trong những mối quan hệ xã hội phức tạp, là thế giới tinh thần phong phú, là tình cảm, tâm hồn tinh tế của con người Dưới ngòi bút của nhà văn, tất cả những điều đó đều thấm đẫm tình cảm và ý thức con người Vì vậy, trong tầng hình tượng của văn bản tự sự, nhân vật tất yếu nằm ở vị trí trung tâm của toàn bộ hệ thống hình tượng Hoàn cảnh được thiết lập chẳng qua cũng vì nhân vật, sự cố và cốt truyện là cái khung, là điều kiện của sự biến

Trang 25

đổi, phát triển của tính cách, tâm hồn, tình cảm nhân vật, chúng đều thuộc về

sự sáng tạo hình tượng nhân vật Sự sáng tạo hình tượng nhân vật thường quyết định thành công thất bại của toàn bộ tác phẩm Thông thường, hình tượng nhân vật có tính hình tượng, tính tình cảm và tính điển hình Sáng tạo hình tượng nhân vật điển hình thường là mục tiêu tối cao mà các nhà văn muốn đạt tới

Nhân vật là phương tiện để khái quát hiện thực

Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểu biết, những ước ao kì vọng về con người Nhà văn sáng tạo nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và quan niệm

về các cá nhân đó Nói cách khác, nhân vật là phương tiện khái quát các tính

cách, số phận con người và các quan niệm về chúng Trong Số đỏ của Vũ

Trọng Phụng, với nhân Vật Xuân tóc đỏ - một nhân vật mang tính cách đa diện của con người thời Âu hóa và có số phận may mắn lạ lùng Vũ Trọng Phụng có thể thâu tóm thần tình bản chất của cả một xã hội mà ông định nghĩa bằng hai từ “chó đểu” trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng Theo chân hắn, tác giả và tiếp sau là người đọc, khám phá dần biết bao xó tối, biết bao ung nhọt của xã hội thượng lưu trong một thời buổi Âu Á, Tây Tàu lẫn lộn, lai căng, pha tạp

Nội dung khái quát của nhân vật không chỉ là tính cách xã hội lịch sử, mảng đời sống gắn liền với nó, mà còn là quan niệm nghệ thuật của nhà văn

về thế giới và con người Tìm hiểu nhân vật Huấn Cao trong Chữ người tử tù

của Nguyễn Tuân, nếu chỉ thấy ở đó hình ảnh một con người khí phách, tài hoa, có thiên lương trong sáng thì hoàn toàn chưa đủ Huấn Cao là Huấn Cao mà cũng là Nguyễn Tuân - một kẻ “ngông” ở thái độ tự tôn, sự tôn sùng cái đẹp tuyệt đối, ở việc sẵn sàng đưa ra một bảng giá trị riêng

để đánh giá con người

Trang 26

Người ta chia ra nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật song hành (Binh Chức, Năm Thọ, Chí Phèo), nhân vật tư tưởng (ông giáo trong tác phẩm Lão Hạc, Nhĩ trong Bến quê…), nhân vật tính cách (Qùy trong Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Lý trong Mùa lá rụng trong vườn…), đặc biệt phải chú ý đến nhân vật trung tâm của tác phẩm

Nhân vật tính cách là một kiểu nhân vật phức tạp Nhân vật tính cách thường có những mâu thuẫn nội tại, những nghịch lý, những chuyển hóa, chính vì vậy tính cách thường có một quá trình phát triển, nhân vật không đồng nhất, giản đơn với chính nó ví dụ như Kiều, AQ…

Nhân vật tư tưởng là loại hình nhân vật nghiêng về triển khai quá trình tâm lí bên trong, biểu hiện một loại thể nghiệm tinh thần nào đó Đối với nhân vật tư tưởng, tác giả không chú trọng miêu tả diện mạo bên ngoài, cũng không chú trọng khắc họa tính cách, mà chỉ hướng tới thể hiện thế giới nội tâm, một thể nghiệm nhân sinh sâu sắc nào đó thông qua miêu tả cảm nhận của nhân vật đối với thế giới bên ngoài Vì vậy, đặc trưng tính cách và những biểu hiện cảm tính bên ngoài của loại nhân vật này đều mơ hồ, nhưng sự triển khai quá trình tâm lí bên trong lại rất cụ thể, tinh tế, sự biểu hiện thể nghiệm chủ quan lại cực kì sâu sắc, có thể thức dậy sự cộng hưởng, chấn động mãnh liệt trong các tầng thứ tâm lí của độc giả Những nhân vật của Nguyễn Minh Châu trong thời kì đổi mới là một ví dụ điển hình, minh chứng cho kiểu nhân vật tư tưởng

đó là Qùy (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành); là “Tôi” (Bức tranh); là Nhĩ (Bến quê)… Ngoài ra một số tác giải thường sử dụng thủ pháp dòng ý

thức Lý Biên Cương, Nguyễn Ngọc Tư… Các nhà văn này đều miêu tả và làm hiển hiện thế giới tâm hồn, cảm nhận tâm lí và diễn biến phức tạp của dòng ý thức tạo nên những nhân vật tâm lí rất điển hình Từ thời kì mới, một số nhà văn đã mượn thủ pháp dòng ý thức, chú trọng biểu hiện cảm thụ, tình cảm bên trong của nhân vật, tiến hành thâm nhập vào hiện thực tâm lí nhân vật

Trang 27

* Tình huống truyện

Nhà văn Nguyễn Minh Châu cho rằng: “Với truyện ngắn và với một tác giả có kinh nghiệm viết, tôi nghĩ rằng đôi khi người ta nghĩ ra được một cái tình thế xảy ra chuyện, thế là coi như xong một nửa…Những nhà văn có tài đều là những người có tài tạo ra những tình thế xảy ra chuyện vừa rất cá biệt vừa mang tính phổ biến hoặc tượng trưng” và “…những người cầm bút có cái biệt tài có thể chọn ra trong cái dòng đời xuôi chảy một khoảnh khắc thời gian

mà ở đó cuộc sống đậm đặc nhất, chứa đựng nhiều ý nghĩa nhất, một khoảnh khắc cuộc sống…nhưng bắt buộc con người ở vào một tình thế phải bộc lộ ra cái phần tâm can nhất, cái phần ẩn náu sâu kín nhất, thậm chí có khi là khoảnh khắc chứa đựng cả một đời người, một đời nhân loại” [2,285]

Nhà văn Nguyên Ngọc khi bàn về truyện ngắn đã đặc biệt chú ý đến vấn đề tình huống: “Truyện ngắn dẫu sao cũng phải ngắn, do đó thủ thuật chủ yếu của truyện ngắn là thủ thuật điểm huyệt […] Truyện ngắn điểm huyệt

thực hiện bằng cách nắm bắt trúng những tình huống cho phép phơi bày cái

chủ yếu nhưng lại bị che giấu trong muôn mặt cuộc sống hàng ngày” [41,114]

Từ một số ý kiến trên, có thể khái quát về tình huống truyện như sau: Đối với truyện ngắn, tình huống giữ vai trò là hạt nhân của cấu trúc thể loại,

nó chính là cái hoàn cảnh riêng được tạo nên bởi một sự kiện đặc biệt khiến cho tại đó, cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất và ý đồ tư tưởng của tác giả cũng được bộc lộ sắc nét nhất

Có thể phân chia tình huống truyện thành

Tình huống hành động: Là loại sự kiện đặc biệt mà trong đó nhân vật bị đẩy tới một tình thế (thường là éo le) chỉ có thể giải quyết bằng hành động Tình huống này thường hướng tới một kiểu nhân vật: Nhân vật hành động Tức là loại nhân vật chủ yếu được hiện lên bằng hệ thống hành vi, hành động

Trang 28

của nó, các bình diện khác ít được quan tâm Do đó, nó quyết định đến diện mạo của toàn truyện: truyện ngắn giàu kịch tính Tình huống bao trùm toàn bộ câu chuyện là sự kiện lớn: cuộc gặp gỡ oái oăm giữa Huấn Cao và Quản ngục

Tình huống tâm trạng: Đó là sự kiện đặc biệt của đời sống mà ở đó nhân vật rơi vào một tình thế làm nảy sinh một biến động nào đó trong thế giới tình cảm Tình huống này thường dẫn tới một kiểu nhân vật là: con người

tình cảm Ví dụ tình huống trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của

Nhân vật này rơi vào tình huống đặc biệt: trong một trận đánh, Việt bị thương phải nằm lại giữa chiến trường Anh nhiều lần ngất đi rồi tỉnh lại, tỉnh lại rồi ngất đi Trong những lúc tỉnh lại ngất đi đó, bao nhiêu kí ức về gia đình, về đồng đội, về bản thân cứ mồn một hiện về lung linh sống động trong tâm trí Việt

Tình huống nhận thức: Đó là sự kiện đặc biệt của đời sống mà tại đó nhân vật được đẩy tới một tình thế bất thường: đối mặt với một bài học nhận thức, bật lên một vấn đề (về nhân sinh, về nghệ thuật) cần phải vỡ lẽ, giác ngộ Kiểu nhân vật của dạng tình huống này đương nhiên là: nhân vật tư tưởng Nghĩa là kiểu nhân vật được khai thác chủ yếu ở đời sống nhận thức lí

tính của nó Ví dụ, tình huống truyện trong Bến quê của Nguyễn Minh Châu,

đó là tình huống nghịch lý Nhĩ làm một công việc đã tạo điều kiện cho anh đi khắp mọi nơi trên trái đất Nhưng về cuối đời, anh mắc phải một căn bệnh quái ác - liệt toàn thân Nằm trên giường bệnh, qua ô cửa sổ nhà mình, Nhĩ đã nhận ra được vẻ đẹp lạ lùng của bãi bồi bên kia sông, nhận ra được gia đình là chỗ dựa chính của cuộc đời mỗi con người Anh nảy ra một khao khát được đặt chân sang bãi bồi bên kia sông, nhưng anh không thể thực hiện được Anh

đã nhờ Tuấn - con trai anh sang thực hiện thay mình Nhưng đứa con không hiểu và đã để lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày Từ tính huống truyện này mà

ý đồ tư tưởng của tác giả được làm sáng rõ

Trang 29

Sự hình thành tâm lí, số phận, tính cách nhân vật không tách rời hoàn cảnh, tình huống nhất định Do vậy, hoàn cảnh là tổng hòa điều kiện bên ngoài bao quanh nhân vật, tạo nên số phận hoặc tâm lí nhân vật, thúc đẩy nhân vật hành động Hoàn cảnh là môi trường sống bao quanh nhân vật, bao gồm hoàn cảnh nhỏ và hoàn cảnh lớn Hoàn cảnh nhỏ là những quan hệ người

và sự phát triển của nó, là những điều kiện sinh hoạt vật chất; hoàn cảnh lớn bao gồm bối cảnh xã hội, thời đại cùng xu thế lịch sử thẩm thấu vào trong hoàn cảnh cụ thể Hai loại hoàn cảnh này thống nhất với nhau tạo thành yếu tố chủ yếu của tầng hình tượng của văn bản

Hoàn cảnh và nhân vật có mối quan hệ mật thiết không thể tách rời, đây cũng là sự thăng hoa nghệ thuật của quan hệ giữa hai đối tượng trong hiện thực cuộc sống Con người trong hiện thực cuộc sống được xác lập trong vai trò và quan hệ tương tác với hoàn cảnh Vì thế, nhà văn muốn viết về con người cũng nên viết trong mối quan hệ giữa con người và hoàn cảnh Một mặt phải viết ra ảnh hưởng, quy định của hoàn cảnh đối với con người để tạo ra môi trường hoạt động cho con người, làm rõ nguyên nhân, căn cứ tạo nên tính cách, vận mệnh, trạng thái tâm lí của nhân vật, mặt khác phải viết về tính năng động trong việc cải tạo hoàn cảnh của nhân vật, viết về những phản ứng, đấu tranh của nhân vật đối với hoàn cảnh, từ đó làm nổi bật nội hàm phong phú và phát triển biến hoá của thế giới tinh thần nhân vật

Trong mối quan hệ giữa nhân vật và hoàn cảnh, trọng điểm của nhà văn đặt ở nhân vật, miêu tả hoàn cảnh chủ yếu là để cấp một không gian lịch sử và môi trường sống cụ thể cho tính cách nhân vật, vận mệnh, trạng thái tâm lí

Trong Bến Quê thông qua hoàn cảnh đặc biệt của nhân vật Nhĩ là đặt anh vào

những ngày cuối đời, và chính trong hoàn cảnh này hàng loạt những cảm nhận, thể nghiệm, lý giải của nhân vật đối với cuộc sống, con người, quê hương với những gì gần gũi, thân quen nhất mới được biểu hiện đầy đủ

Trang 30

Trong mối quan hệ qua lại giữa nhân vật và hoàn cảnh còn có thể thấy được khuynh hướng sáng tác và ý đồ thẩm mĩ của các nhà văn

Như vậy, từ tất cả các phương tiện, các yếu tố trên nhà văn xây dựng được những hình tượng đặc sắc trong thế giới nghệ thuật của mình Hình tượng nghệ thuật được hiểu theo nghĩa khái quát là toàn bộ thế giới nghệ thuật của tác phẩm hay được hiểu theo từng sự vật, hình ảnh, con người cụ thể như

hình tượng tổ quốc, hình tượng quê hương, hình tượng làng quê (Làng của Kim Lân), hình tượng ánh trăng (Ánh trăng của Nguyễn Duy), hình tượng bến quê trong Bến quê của Nguyễn Minh Châu….đến hình tượng nhân vật như chị

Dậu, Chí Phèo, Nhĩ…

Đi vào hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm cần hướng dẫn học sinh phân biệt các loại hình tượng trên và phải tập trung đi vào tìm hiểu hình tượng con người qua nhân vật của tác phẩm

Tầng hàm nghĩa trong tác phẩm văn chương là nội dung tư tưởng, ý nghĩa xã hội của tác phẩm xuất phát từ giá trị thẩm mĩ của tác phẩm, có giá trị thiết thực, lâu dài với đời sống con người, biểu hiện qua nhiều phương diện, nhiều khía cạnh của đời sống con người

Có tìm ra hàm nghĩa ta mới hiểu được những điều nhà văn muốn tâm

sự, những thể nghiệm về cuộc sống, những quan niệm về đạo đức xã hội, những hoài bão…Đó là những “tấc lòng” mà nhà văn muốn kí thác cho đời

Trang 31

Hàm ý của văn bản có thể phân ra các tầng thứ khác nhau, từ thấp đến cao, gồm: tầng vi mô và tầng vĩ mô Tầng vi mô là những tình cảm, quan niệm cụ thể tương đối minh xác được truyền đạt thông qua nội dung xã hội lịch sử nhất định của tầng hiện tượng Tầng vĩ mô là những suy tư triết học và thể nghiệm tinh thần vượt lên trên nội dung lịch sử xã hội nhất định, mang tính toàn nhân loại, phổ biến và vĩnh cửu, là những tìm tòi truy vấn ý nghĩa lớn lao về cuộc đời Vì vậy tầng vĩ mô tương đối trừu tượng, mang đậm sắc thái tư biện, nhưng nó không biểu hiện ra tư tưởng tĩnh tại, mà là sự dung hoà

cao độ giữa tình cảm mãnh liệt và triết lí sâu sắc Ví dụ ẩn ý trong Hồng lâu

mộng, từ góc độ tầng vĩ mô ta thấy ẩn ý của nó là những cảm nhận bi kịch có

được do bốn đại gia tộc trong sự thịnh suy của xã hội hội phong kiến mạt kì

và sự thể hiện của vận mệnh nhân vật trong tác phẩm; thông qua bi kịch gia tộc, tác phẩm đã chỉ ra một xu hướng lịch sử là xã hội phong kiến tất yếu đi đến diệt vong, cũng thể hiện ra tâm sự tiếc hận của tác giả muốn “giúp trời”

mà không thể về trời; thông qua bi kịch tình yêu của nhân vật, “thiên hạ hữu tình” tác giả muốn khẳng định giá trị của chữ Tình, theo đuổi lí tưởng thẩm

mĩ giải phóng chữ Tình và sự thương tiếc hoài niệm “mối hận này mãi mãi không thôi” Tại ý nghĩa vi mô, bi kịch gia tộc và bi kịch ái tình của nhân vật đều nằm trong giai đoạn lịch sử nhất định, bi kịch thời đại, bi kịch xã hội nằm

ở sự xung đột giữa nhu cầu tất yếu của lịch sử và cơ sở hiện thực không cho

phép thực hiện nhu cầu đó, vì vậy chúng ta có thể xem Hồng lâu mộng là hình

ảnh thu nhỏ của xã hội phong kiến

Chủ đề chính là ẩn ý hạt nhân, không còn nghi ngờ gì nữa, nó chính là

chủ đề về tư tưởng, như cho rằng “chủ đề là tư tưởng chủ yếu được tác giả biểu hiện thông qua đề tài” [35], “là tư tưởng trung tâm bao trùm toàn bộ tác phẩm được biểu hiện ra thông qua miêu tả đời sống xã hội trong tác phẩm văn

Trang 32

học” [35] Cách giải thích này không thể nói là không hoàn toàn có lí, nhưng

nó không phân biệt được sự khác nhau giữa chủ đề của văn bản văn học và chủ đề của văn bản phi văn học, không chỉ ra được tính quy định về chất mang tính đặc thù, tia sáng tư tưởng lấp lánh trong văn bản văn học Do vậy, chúng tôi định nghĩa chủ đề văn bản văn học là: loại hàm nghĩa bão hoà tình cảm thẩm mĩ của tác giả, hoà làm một với hình tượng nghệ thuật, cũng chính

học có thể phân thành nhân tố cấu thành ba phương diện dưới đây: một là ý thức thẩm mĩ mà tác giả muốn thông qua văn bản để biểu hiện ra, tức là ý cơ bản khi tác giả đặt bút viết; Hai là ý nghĩa thẩm mĩ mà người tiếp nhận phát hiện và nói rõ ra từ văn bản; ba là ý nghĩa thẩm mĩ bao hàm trong hình tượng văn bản chưa được nói rõ ra

Mục đích dạy học của tác phẩm văn chương là góp phần hình thành và phát triển nhân cách học sinh về tư tưởng, đạo đức, lối sống, thẩm mĩ Dạy tác phẩm văn chương chính là dạy nhân cách làm người bởi tác phẩm văn chương

là những thông điệp về nghệ thuật về cách nhìn nhận về con người và cuộc đời một cách đa diện, nhiều chiều Vì vậy, dạy tác phẩm văn chương chính là nhấn mạnh tới tầng hàm nghĩa của tác phẩm, tới những ý nghĩa nhân sinh sâu

xa mà tác giả gửi gắm vào trong tác phẩm Dạy học sinh nội dung ý nghĩa nhân sinh sâu xa trong tác phẩm chính là dạy học sinh cách làm người và phải luôn gắn với cuộc sống con người, nhằm mục đích phục vụ cho cuộc sống con người tốt đẹp hơn trong hiện tại và lâu dài

Trong dạy học tác phẩm văn chương thì trọng tâm là giúp học sinh khai thác, phát hiện, đánh giá tầng hàm nghĩa trong tác phẩm Để từ đó hình thành

và điều chỉnh nhân cách của mình Văn học gắn với cuộc sống nên tầng hàm nghĩa trong tác phẩm văn học cũng gắn với cuộc sống, thể hiện quan niệm mới, cách nghĩ mới về con người, về mối quan hệ giữa con người với con

Trang 33

người, giữa con người với thiên nhiên và với chính mình Tầng ẩn ý xuất phát

từ giá trị tác phẩm, thể hiện sự quan tâm của xã hội đối với số phận mỗi con người, tôn trọng con người, đề cao những giá trị bình dị, gần gũi với cuộc sống con người…góp phần quan trọng trong hình thành và phát triển nhân cách của học sinh

Như vậy, giáo viên không chỉ giúp học sinh chiếm lĩnh tầng hàm nghĩa trong tác phẩm văn chương, mà người giáo viên còn giúp học sinh tự giáo dục bằng các tri thức tiếp nhận từ văn học: lòng yêu nước, tinh thần nhân văn, lý tưởng sống cao đẹp, thị hiếu thẩm mĩ cao, lành mạnh, có văn hóa, có cá tính tích cực để từng bước hình thành nhân cách con người

Ở trên chúng tôi từ góc độ phân tích trạng thái tĩnh để phân biệt một cách tương đối rõ ràng về ba tầng diện cấu thành văn bản văn học, là tầng ngôn ngữ, tầng hình tượng và tầng ẩn ý Ba tầng diện này tự nó phân biệt thành hệ thống, đồng thời giữa chúng lại có sự tương tác nội ngoại, tầng tầng lớp lớp, thẩm thấu và chuyển hoá lẫn nhau, như cách nói của nhà bình luận văn học Trung Quốc cổ đại: ngôn minh tượng, tượng xuất ý(lời nói làm sáng

rõ hình tượng, hình tượng thể hiện hàm ý) Nhưng đối với văn bản văn học mang tính chỉnh thể hữu cơ, “ngôn”, “tượng”, “ý” lại là “tam vị nhất thể”, không thể tách rời

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Nhiệm vụ khảo sát và nội dung khảo sát

* Nhiệm vụ của Luận văn đã nêu rõ: khảo sát thực tiễn của việc dạy và

học Bến quê của Nguyễn Minh Châu để nắm bắt hiện trạng một cách chính

xác Vì vậy, mục đích của việc khảo sát là phát hiện những khó khăn trong

việc nắm bắt tầng hàm nghĩa của tác phẩm Bến quê của học sinh cũng như

những khó khăn của giáo viên khi dạy học sinh cảm thụ, lĩnh hội tác phẩm này Từ đó đề xuất những biện pháp nhằm khắc phục khó khăn trong việc dạy

và học tác phẩm Bến quê

Trang 34

* Nội dung khảo sát

- Về phía học sinh

Chúng tôi tìm hiểu tâm lý của học sinh khi học tác phẩm Bến quê cũng như những khó khăn khi cảm thụ, tiếp nhận tác phẩm Bến quê và nguyên

nhân của vấn đề này

- Về phía giáo viên

Chúng tôi cũng tiến hành khảo sát những khó khăn của giáo viên gặp

phải khi dạy tác phẩm Bến quê cho học sinh, những cố gắng của giáo viên

trong việc truyền đạt những ý nghĩa sâu xa của văn bản phù hợp với sự tiếp nhận của học sinh

1.2.2 Phương pháp và địa bàn khảo sát

* Phương pháp khảo sát

- Quan sát dự giờ

- Tọa đàm, phỏng vấn, trò chuyện, trao đổi với giáo viên và học sinh

- Phát phiếu điều tra

* Địa bàn khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát thực tế dạy và học tác phẩm Bến quê của

Nguyễn Minh Châu ở hai trường trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đó là trường trung học cơ sở Túc Duyên và trường trung học cơ sở Đồng Bẩm thuộc địa bàn thành phố Thái Nguyên

Ngoài việc khảo sát các trường trung học cơ sở trên, chúng tôi còn tiến hành trao đổi, trò chuyện, phát phiếu điều tra với các giáo viên ở các trường trên

1.2.3 Kết quả khảo sát

1.2.3.1 Những khó khăn của học sinh khi học Bến quê của Nguyễn Minh Châu

* Bằng phương pháp điều tra chúng tôi tiến hành khảo sát tâm lý học

sinh lớp 9 ở hai trường trung học cơ sở đối với việc học tác phẩm Bến quê của

Nguyễn Minh Châu

Trang 35

Phiếu khảo sát với câu hỏi như sau:

Câu hỏi: em có thích học tác phẩm Bến quê của Nguyễn Minh Châu

trong tác phẩm ngữ văn 9 tập 2 không? Vì sao?

Học sinh viết vào phiếu điều tra của mình, kết quả thu được như sau:

Bảng 1.1 Tâm lý của học sinh với tác phẩm Bến quê

66,7%

15 33,3%

58%

18 42%

73%

12 17%

69%

13 31%

70,7%

77 29,3%

Từ các con số trên chúng tôi nhận thấy phần lớn học sinh trung học cơ

sở đều thích học Bến quê của Nguyễn Minh Châu (70,7%)

Qua phiếu điều tra và qua tâm sự trao đổi trực tiếp với các em học sinh

chúng tôi thấy các em khá hứng thú khi được học tác phẩm Bến quê của

Nguyễn Minh Châu

Em Nguyễn Mai Chi (học sinh lớp 9A trường THCS Túc Duyên) cho

biết: em rất thích học tác phẩm Bến quê vì thông qua tác phẩm em được giáo

Trang 36

dục lòng yêu quê hương, gia đình và biết trân trọng những giá trị gần gũi, bình dị nhưng lại rất thiêng liêng

Em Lê Anh Tuấn (học sinh 9C trường THCS Đồng Bẩm) viết: em thích

học tác phẩm Bến quê vì lời văn của tác phẩm nhẹ nhàng nhưng lại chứa đựng

trong đó bao tầng ý nghĩa sâu xa, nó giúp em biết yêu và trân trọng những vẻ đẹp, giá trị của cuộc sống Tác phẩm cũng như thúc giục em hãy biết thực hiện những ước mơ của mình khi còn có thể

Qua một vài dẫn chứng trên, chúng tôi nhận thấy lời văn của các em có thể còn chưa mượt mà, mạch lạc nhưng tất cả đều cho thấy các em học sinh THCS đã nhận thức khá đúng đắn và sâu sắc về giá trị của tác phẩm Bến quê, đặc biệt là ở tấm lòng và thái độ của các em khi học xong tác phẩm Đây là

một thuận lợi cơ bản cho giáo viên khi dạy học tác phẩm “Bến quê”

* Những khó khăn của học sinh khi tiếp nhận văn bản Bến quê của

Nguyễn Minh Châu

Để tìm hiểu vấn đề trên đây của học sinh, chúng tôi tiến hành khảo sát bằng việc phát phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp với học sinh

Phiếu điều tra 1: Hãy nêu những khó khăn mà em gặp phải khi học và

phân tích tác phẩm “Bến quê”

Phiếu điều tra 2: Nhiều hình ảnh, chi tiết trong truyện ngắn “Bến quê”

mang ý nghĩa biểu tượng Hãy tìm và nêu ý nghĩa biểu tượng của chúng ?

Phiếu điều tra 3: Em hãy phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm

- Học sinh viết vào phiếu ý kiến và cảm nghĩ của mình

- Kết quả thu được như sau:

* Với phiếu điều tra 1:

Khi học và phân tích tác phẩm “Bến quê”, phần lớn học sinh trả lời gặp

phải những khó khăn sau:

Trang 37

- Văn bản “Bến quê” có nhiều hình ảnh, chi tiết mang ý nghĩa biểu

tượng như: những bông hoa bằng lăng, bến quê, bãi bồi bên sông…học sinh phần lớn không hiểu những chi tiết, hình ảnh này mang ý nghĩa gì hoặc nếu

có hiểu thì cũng rất hời hợt

- Truyện ngắn chứa đựng những chiêm nghiệm, triết lý về đời người cùng với những cảm xúc tinh nhạy, lời văn tinh tế Những đặc sắc ấy học sinh không dễ tiếp nhận vì các em chưa có sự từng trải Vì vậy hiểu cho hết, cho cặn kẽ tầng hàm nghĩa trong truyện đối với các em không phải là điều dễ dàng

Em Nguyễn Quỳnh Anh học sinh lớp 9B trường THCS Túc Duyên viết

“ trong văn bản câu mang ý nghĩa khái quát con người ta trên đường đời thật

khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình nhưng đối với bản

thân em - một học sinh lớp 9, chưa có sự trải nghiệm cuộc đời nên dường như

để hiểu được những cái vòng vèo, chùng chình dường như chỉ là lời cô giảng nên chỉ mang tính hình thức và áp đặt chứ chưa thực sự là hiểu tường tận”

- Những em học sinh ở nông thôn thì phần lớn chỉ có sách giáo khoa, những cuốn sách tham khảo hầu như không có nên khi soạn bài, tìm hiểu bài

ở nhà rất khó trả lời hết những câu hỏi trong sách giáo khoa, biết đến đâu trả lời đến đấy và phần lớn trả lời theo cảm tính bên cạnh đó thời gian học tập của các em là không nhiều vì phải tham gia lao động giúp đỡ gia đình

Trên đây là những khó khăn mà các em thường gặp khi tiếp cận với văn

bản Bến quê Những khó khăn này là một trở ngại không nhỏ cho việc dạy và học Bến quê của Nguyễn Minh Châu

* Với phiếu điều tra (2) và (3):

Các câu hỏi trong hai phiếu điều tra 2 và 3 là những câu hỏi buộc học sinh phải tiếp cận trực tiếp, làm việc trực tiếp về mặt nội dung và hình thức (cảm thụ trực tiếp) với tác phẩm Mục đích của chúng tôi trong hai phiếu khảo sát này là: tìm hiểu, kiểm nghiệm, xem xét, đánh giá cách tiếp cận của học

Trang 38

sinh với tác phẩm Bến quê ra sao? Khả năng và khó khăn của học sinh trong

việc tiếp cận của học sinh như thế nào?

- Học sinh viết bài

- Kết quả thu được như sau:

Bảng 2.2 Năng lực cảm thụ tác phẩm Bến quê của học sinh THCS

Tổng số học sinh

Học sinh Cảm thụ đúng, đầy đủ Cảm thụ chưa đúng,

Tuy nhiên

- Việc cảm thụ và lĩnh hội tác phẩm, học sinh thường cảm thụ các chi tiết và câu chuyện trong tác phẩm như các chi tiết và câu chuyện ngoài cuộc đời, ít chú ý đến chức năng và ý nghĩa nghệ thuật như là cơ sở, mục đích đã khiến tác giả hư cấu, sáng tạo ra các chi tiết và câu chuyện như vậy Phần lớn thiên về lối cảm thụ trực tiếp, nặng về cảm tính, còn yếu về cảm thụ lý tính, cảm thụ suy ngẫm, điều này thể hiện ở chỗ phần lớn các em học sinh mới chỉ cảm nhận và nhận ra phần nổi của hình tượng nhân vật Nhĩ, của hình tượng thiên nhiên, của những hình ảnh biểu tượng trong tác phẩm còn phần chìm, cái quan trọng nhất là những tình cảm, chiêm nghiệm, triết lý của tác giả thể

hiện trong Bến quê thì các em lại không nhận biết được

Trang 39

- Qua trao đổi với các em học sinh, các em cho biết thường các em chỉ đọc qua một hai lần rồi đi vào tìm hiểu các vấn đề nội dung, hình thức lẻ tẻ nhằm tìm ra cách trả lời cho những câu hỏi trong sách giáo khoa hoặc những câu hỏi giáo viên cho về nhà chứ ít khi đọc kĩ nhiều lần tác phẩm để khám phá ra những giá trị ý nghĩa của tác phẩm Khi cảm thụ tác phẩm thường bỏ qua rất nhiều từ ngữ và hình ảnh quan trọng của bài và cảm thụ theo cách hiểu riêng của mình Các em hiểu đến đâu thì trả lời đến đó, còn không biết thì bỏ qua không tìm hiểu nữa

- Cùng với hạn chế về mặt cảm thụ, chúng tôi còn thấy cách diễn đạt, biểu thị sự cảm thu bằng ngôn ngữ viết và nói của phần lớn học sinh là rất yếu Cách diễn đạt nhìn chung chưa trong sáng mượt mà còn lủng củng và thiếu mạch lạc

Trên đây là những thu thập và nhận định của chúng tôi về tình hình

thực tế việc tiếp nhận tác phẩm Bến quê của học sinh THCS, chúng tôi thấy

bên cạnh những điểm mạnh trong tiếp nhận như tiếp nhận trực tiếp nhanh nhạy, tưởng tượng, liên tưởng phong phú song bên cạnh đó là những điểm yếu, hạn chế, khó khăn lớn nhất trong cách tiếp nhận của học sinh là tiếp nhận thiếu chiều sâu lý tính các em khó có thể tiếp nhận và hiểu được tầng hàm nghĩa của tác phẩm một cách sâu sắc và trọn vẹn

1.2.3.2 Những khó khăn của giáo viên khi dạy truyện ngắn Bến quê

Bằng việc phát phiếu điều tra với câu hỏi: “Anh chị cho biết những khó khăn mà anh (chị) gặp phải trong việc dạy học sinh tìm hiểu tác phẩm

Bến quê?

Bằng việc trao đổi, trò chuyện với giáo viên, dự các buổi họp chuyên môn, các giờ góp ý thao giảng, dự giờ các tiết dạy Chúng tôi thấy những khó khăn mà giáo viên gặp phải khi hướng dẫn học sinh khám phá, lĩnh hội tác

phẩm Bến quê là như sau:

Trang 40

Các giáo viên giảng dạy tác phẩm Bến quê ở các trường trung học cơ sở

phần lớn đều là những giáo viên đã giảng dạy nhiều năm, có tay nghề tương đối vững (vì lớp 9 là lớp cuối cấp nên lãnh đạo các trường đều chọn các giáo viên có trình độ chuyên môn chắc chắc)

- Song qua phiếu điều tra và qua tâm sự, trò chuyện, nhiều giáo viên vẫn nói rằng họ vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận và cảm thụ tác

phẩm Bến quê của nhà văn Nguyễn Minh Châu bởi đây là tác phẩm mới, chứa

đựng nhiều tầng hàm nghĩa sâu sắc, nhiều giáo viên đi vào giảng dạy mà dường như mới chỉ giảng dạy ở phía bề nổi của vấn đề mà chưa đi sâu vào khai thác giá trị cốt lõi của tác phẩm Hoặc chưa khai thác triệt để những giá trị có trong tác phẩm, thực tế giảng dạy đã có rất nhiều giáo viên không hề quan tâm đến nhan đề của truyện Theo chúng tôi nhan đề tác phẩm cũng là một yếu tố rất đáng quan tâm tìm hiểu khi đọc hiểu văn bản

- Việc tổ chức dẫn dắt cho học sinh tự phát hiện ra, tự phát biểu, tự chiếm lĩnh những chiêm nghiệm, triết lý của nhân vật về những quy luật cuộc đời, về con người trong tác phẩm là việc làm không dễ dàng Song khó khăn hơn là việc tổ chức dẫn dắt để học sinh cũng cảm thụ như giáo viên là công việc còn khó khăn hơn nhiều so với khi người giáo viên cảm thụ Nhiều khi thấy bí thì giáo viên lại áp dụng việc dạy áp đặt, cứ nói ra cái điều mình nghĩ

để học sinh ghi và chép

- Tác phẩm Bến quê chứa đựng nhiều chiêm nghiệm của con người về

cuộc đời, nhiều giáo viên trẻ chưa cảm nhận được những triết lý đó Giáo viên cũng chưa có sự trải nghiệm nên để hiểu được ý nghĩa tác phẩm một cách trọn vẹn và sâu sắc nhất cũng là một khó khăn rất lớn

Bên cạnh những khó khăn khi dạy tác phẩm Bến quê thì giáo viên cũng

đã có nhiều cố gắng khi hướng dẫn học sinh khám phá những cái hay, cái đẹp, khám phá tầng hàm nghĩa sâu xa của tác phẩm Từ đó giáo dục các em biết

Ngày đăng: 15/11/2014, 22:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Minh Châu toàn tập - tập 3 (truyện ngắn), NXB Văn học, H, 2011 2. Nguyễn Minh Châu, Trang giấy trước đèn, NXB KHXH, H. 1994 3. Hoàng Hữu Bội: Thiết kế bài học ngữ văn 9 theo hướng tích hợp, NXBGD, H, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu toàn tập" - tập 3 (truyện ngắn), NXB Văn học, H, 2011 2. Nguyễn Minh Châu, "Trang giấy trước đèn", NXB KHXH, H. 1994 3. Hoàng Hữu Bội: "Thiết kế bài học ngữ văn 9 theo hướng tích hợp
Nhà XB: NXB Văn học
4. Trần Đình Chung: Hệ thống câu hỏi đọc - hiểu văn bản ngữ văn 9, NXB GD, H, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống câu hỏi đọc - hiểu văn bản ngữ văn 9
Nhà XB: NXB GD
5. Hà Minh Đức: “Văn học cần hướng thiện và hoàn thiện nhân cách con người”, Báo Văn nghệ số 10, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học cần hướng thiện và hoàn thiện nhân cách con người
6. Ngô Thị Thu Hà: Những biện pháp hướng dẫn học sinh nhận dạng và phân tích, bình luận giá trị nghệ thuật và nội dung của biểu tượng trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu ở trường trung học, Luận văn thạc sĩ khoa ngữ văn ĐHSP I Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biện pháp hướng dẫn học sinh nhận dạng và phân tích, bình luận giá trị nghệ thuật và nội dung của biểu tượng trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu ở trường trung học
7. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên): Từ điển thuật ngữ văn học, NXB GD, H, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB GD
8. Nguyễn Trọng Hoàn: Rèn luyện tư suy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương, NXB Giáo dục, H, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện tư suy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương
Nhà XB: NXB Giáo dục
9. Nguyễn Trọng Hoàn (giới thiệu và tuyển chọn): Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, H, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Châu về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Nguyễn Văn Hạnh: “Về bản chất văn chương”, Báo Văn nghệ số 27, 1995 11. Nguyễn Văn Hạnh: “Hội thảo về công trình “Văn chương lâm nguy”của Todorow”, Báo văn nghệ số 28, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về bản chất văn chương”, Báo Văn nghệ số 27, 1995 11. Nguyễn Văn Hạnh: “Hội thảo về công trình “Văn chương lâm nguy” của Todorow
12. Cao Xuân Hải: “Trữ tình và triết lý trong Bến quê của Nguyễn Minh Châu”, TCNN và ĐS, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trữ tình và triết lý trong Bến quê của Nguyễn Minh Châu
13. Đỗ Văn Hiểu: Tầng ngôn từ của văn bản văn học, dịch từ Lý luận văn học Trung Hoa, NXB ĐHSP Trung Hoa, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầng ngôn từ của văn bản văn học
Nhà XB: NXB ĐHSP Trung Hoa
14. Đỗ Văn Hiểu: Chức năng mĩ học của tầng ngôn từ, dịch từ Lý luận văn học Trung Hoa, NXB ĐHSP Trung Hoa, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng mĩ học của tầng ngôn từ
Nhà XB: NXB ĐHSP Trung Hoa
15. Đỗ Văn Hiểu: Tầng hình tượng của văn bản tự sự, dịch từ Lý luận văn học Trung Hoa, NXB ĐHSP Trung Hoa, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầng hình tượng của văn bản tự sự
Nhà XB: NXB ĐHSP Trung Hoa
16. Đỗ Văn Hiểu: Tầng ẩn ý, dịch từ Lý luận văn học Trung Hoa, NXB ĐHSP Trung Hoa, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tầng ẩn ý
Nhà XB: NXB ĐHSP Trung Hoa
17. Đỗ Văn Hiểu: Văn bản văn học, dịch từ Lý luận văn học Trung Hoa, NXB ĐHSP Trung Hoa, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản văn học
Nhà XB: NXB ĐHSP Trung Hoa
18. Đỗ Văn Hiểu: Kết cấu của văn bản văn học, dịch từ Lý luận văn học Trung Hoa, NXB ĐHSP Trung Hoa, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết cấu của văn bản văn học
Nhà XB: NXB ĐHSP Trung Hoa
19. Aristote, Lưu Hiệp: Nghệ thuật thơ ca, Văn tâm điêu long, NXB Văn học, H, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thơ ca, Văn tâm điêu long
Nhà XB: NXB Văn học
20. Nguyễn Minh Hoài: Dạy học tác phẩm Bến quê trong chương trình ngữ văn 9 theo quan điểm tích hợp, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, ĐHSP I Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tác phẩm Bến quê trong chương trình ngữ văn 9 theo quan điểm tích hợp
21. Trần Bá Hoành: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, NXB ĐHSP, H, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa
Nhà XB: NXB ĐHSP
22. Nguyễn Thanh Hùng: “Giáo án giảng văn - sự đồng hóa kiến thức tổng hợp của giáo viên”, Nghiên cứu giáo dục - số 10, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo án giảng văn - sự đồng hóa kiến thức tổng hợp của giáo viên
23. Nguyễn Thanh Hùng: Văn học và nhân cách, NXB Văn học, H, 1994 24. Tôn Phương Lan: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu, NXBKhoa học xã hội, H, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và nhân cách", NXB Văn học, H, 1994 24. Tôn Phương Lan: "Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: NXB Văn học

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tâm lý của học sinh với tác phẩm Bến quê - Hướng dẫn học sinh lớp 9 đọc hiểu Bến Quê qua ba tầng cấu trúc của văn bản văn học
Bảng 1.1. Tâm lý của học sinh với tác phẩm Bến quê (Trang 35)
Bảng 2.2. Năng lực cảm thụ tác phẩm Bến quê của học sinh THCS - Hướng dẫn học sinh lớp 9 đọc hiểu Bến Quê qua ba tầng cấu trúc của văn bản văn học
Bảng 2.2. Năng lực cảm thụ tác phẩm Bến quê của học sinh THCS (Trang 38)
Bảng 3.2  Số học - Hướng dẫn học sinh lớp 9 đọc hiểu Bến Quê qua ba tầng cấu trúc của văn bản văn học
Bảng 3.2 Số học (Trang 91)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w