DANH MỤC HÌNH, HÌNH, BẢN ĐỒ, ẢNH Hình 1.3 Mô hình sử lý rác thải sinh hoạt tại thôn Lai Xá, xã Kim Hình 1.4 Mô hình quy trình quản lý rác thải tại thôn Lai Xá, xã Kim Hình 3.4 Tổng lượ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
NGUYỄN THỊ HỒNG LỢI
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RÁC THẢI
NÔNG THÔN TẠI THỊ XÃ PHÚ THỌ-TỈNH
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được xử dụng để bảo vệ một học vị nào;
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 11 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Lợi
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Tài nguyên môi trường, khoa sau đại học trường đại học Nông lâm Thái nguyên đã giúp đỡ tận tình trong quá trình tôi học tập và thực hiện đề tài;
Tôi xin cảm ơn UBND thị xã Phú Thọ, phòng TN&MT, phòng Quản lý
Đô thị, phòng Thống kê thị xã Phú Thọ, công ty cổ phần Môi trường Đô thị Phú Thọ và UBND các xã, phường trên địa bàn thị xã Phú Thọ đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi được học tập và thực hiện đề tài này;
Tôi xin chân thành cảm ơn tới tất cả đồng nghiệp, bạn bè và người thân
đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành bản luận văn này;
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hồng Lợi
Trang 4
MỤC LỤC
1.1.1Các khái niệm chung về quản lý môi trường 3 1.1.2.1Các công cụ dùng để quản lý môi trường 3 1.1.2.1Quản lý môi trường bằng pháp luật 3 1.1.2.2 Quản lý môi trường bằng kinh tế 4 1.1.2.3 Quản lý môi trường bằng công cụ quy hoạch 4 1.1.2.4 Các yêu cầu về quản lý rác thải nông thôn 5
1.4 Hiện trạng quản lý, xử lý rác thải nông thôn và một số mô
1.4.1 Hiện trạng quản lý rác thải nông thôn tại Việt Nam 16 1.4.2 Một số mô hình quản lý rác thải nông thôn tại Việt Nam 22 1.4.2.1 Mô hình quản lý rác thải tại xã Kim Chung, huyện Hoài
1.4.2.2 Mô hình quản lý rác thải ở thị trấn Hồ, huyện Thuận
Trang 51.5 Hiện trạng thu gom và xử lý rác thải tại tỉnh Phú Thọ 28
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.3.1 Điều tra, đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 33
2.4.5 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 34 2.4.6 Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu 35 2.4.7 Phương pháp XĐ khối lượng và thành phần rác thải 35
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CƯU VÀ THẢO LUẬN 39
Trang 63.1.2 Địa hình, địa chất tài nguyên 39
3.1.7 Hiện trạng sử dụng đất, không gian kiến trúc cảnh quan 44
3.2 Thực trạng về rác thải và công tác quản lý thu gom rác thải
3.2.1.1 Nguồn và khối lượng rác thải sinh hoạt 45 3.3.1.2 Nguồn và khối lượng rác thải nông nghiệp 50
3.2.2 Hiện trạng quản lý, thu gom, xử lý rác thải 56 3.2.2.1 Về nguồn nhân lực tại TX Phú Thọ 57 3.2.2.2 Hiện trạng thu gom, vận chuyển rác thải tại TX Phú Thọ 58 3.2.2.3 Hiện trạng xử lý rác thải tại TX Phú Thọ 60 3.2.2.4 Về kinh phí thanh toán cho công tác quản lý, thu gom
3.3.1 Đánh giá nhận thức của cộng đồng về ảnh hưởng của rác
3.3.2Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác quản lý, xử
lý và khả năng chi trả của hộ dân cho công tác quản lý rác thải 72
3.3.3 Những khó khăn, tồn tại trong công tác quản lý rác thải
3.3.3.1 Trên góc độ quản lý nhà nước ( thể chế, chính sách) 73
Trang 73.4 Định hướng công tác quản lý, thu gom 75
3.5 Đề xuất các giải pháp hợp lý tăng cường công tác quản lý rác
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt
TDMNBB Trung du miền núi Bắc bộ
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.11 Ước tính KLR được thu gom từ các xã, phường tại TX Phú
Thọ
58
Bảng 3.15 Kết quả hoạt động kinh doanh 2009,2010, 2011 của công ty
cổ phần môi trường đô thị Phú Thọ
66
Bảng 3.16 : Tổng hợp ý kiến của người dân về những ảnh hưởng của rác
thải đến môi trường
71
Trang 10DANH MỤC HÌNH, HÌNH, BẢN ĐỒ, ẢNH
Hình 1.3 Mô hình sử lý rác thải sinh hoạt tại thôn Lai Xá, xã Kim
Hình 1.4 Mô hình quy trình quản lý rác thải tại thôn Lai Xá, xã Kim
Hình 3.4 Tổng lượng rác thải phát sinh trên ngày tại khu vực TX Phú
Hình 3.8: Doanh thu sản phẩm công ích do UBND TX Phú Thọ thanh
toán cho công ty cổ phần môi trường đô thị Phú Thọ 67
Trang 11MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách trên toàn thế giới, đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam; tăng trưởng về kinh
tế, ổn định về chính trị và giữ môi trường bền vững là ba mục tiêu của tất cả các quốc gia trên thế giới
Ở Việt Nam, thực tế việc quản lý và xử lý rác thải mặc dù đã có nhiều tiến bộ, cố gắng nhưng chưa ngang tầm với nhu cầu đòi hỏi Hiện nay, tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại khu vực nông thôn vào khoảng 40 - 55% Theo thống kê có khoảng 60% số thôn hoặc xã tổ chức thu dọn định kỳ; trên 40% thôn, xã đã hình thành các tổ thu gom rác thải tự quản Việc thu gom rác còn rất thô sơ bằng các xe cải tiến Nhiều xã không có quy hoạch các bãi rác tập trung, không có bãi rác công cộng, không quy định chỗ tập trung rác, không
có người và phương tiện chuyên chở rác Do đó, các bãi rác tự phát đã hình thành ở rất nhiều nơi, làm cho tình trạng CTR sinh hoạt nông thôn trở thành vấn đề nan giải khó quản lý Trước kia rác ở nông thôn chỉ là rác hữu cơ dễ phân hủy là giấy hay lá dùng để gói hàng hóa; nhưng nay cùng với sự phát triển kinh tế xã hội rác thải khu vực này gồm nhiều chất vô cơ (chai, lọ nhựa, thủy tinh, túi ni lông, hộp thiếc ) rất khó xử lý, tái chế hay cần thời gian rất dài để phân hủy
Tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ vấn đề môi trường, quản lý và thu gom rác thải có những nét chung giống cả nước, song cũng có những nét đặc thù riêng Việc thu gom rác và xử lý rác thải do Công ty cổ phần dịch vụ môi trường đô thị đảm nhiệm Tuy nhiên Công ty cổ phần dịch vụ môi trường mới chỉ thực hiện công tác thu gom rác thải sinh hoạt được 3 phường nội thị và một phần phường Trường Thịnh, còn 6 xã vùng ngoại thị địa bàn rộng, mật
độ dân số thấp, nguồn kinh phí hạn hẹp… nên việc thu gom rác thải vẫn chưa
Trang 12được thực hiện Do những đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tập quán sinh sống, việc thu gom, xử lý rác thải nông thôn cần có chính sách hỗ trợ của Nhà nước, hướng dẫn cụ thể, phân công rõ trách nhiệm giữa các cấp
và cộng đồng dân cư; đồng thời có cơ chế, hành lang pháp lý rõ ràng để khuyến khích các cá nhân, doanh nghiệp tham gia xử lý môi trường, thu gom chất thải, rác thải nông thôn Chính vì vậy tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
Hiện trạng và giải pháp quản lý rác thải nông thôn tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ
Ý nghĩa của đề tài
- Về khoa học: Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để đề nghị các
giải pháp công nghệ, cơ chế chính sách hỗ trợ công tác quản lý rác thải cho các vùng nông thôn khu vực TDMNPB
- Về thực tiễn: Góp phần cải thiện môi trường nông thôn trên địa bàn
thị xã cũng như nâng cao nhận thức của cộng đồng và trách nhiệm cấp quản
lý địa phương
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học về quản lý môi trường
1.1.1 Các khái niệm chung về quản lý môi trường
- Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống
và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia
- Khái niệm quản lý môi trường dựa vào cộng đồng: Là phương thức
bảo vệ môi trường trên cơ sở một vấn đề môi trường cụ thể ở địa phương, thông qua việc tập hợp các cá nhân và tổ chức cần thiết để giải quyết vấn đề
đó Phương pháp này sử dụng các công cụ sẵn có để tập trung cải tạo hoặc bảo vệ một tài nguyên nào đó hay tạo ra lợi ích về môi trường như dự án tái tạo năng lượng, phục hồi lưu vực Và đồng thời quản lý tài nguyên đó thông qua sự hợp tác giữa các đối tác chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng dân cư
1.1.2 Các công cụ dùng để quản lý môi trường
1.1.2.1 Quản lý môi trường bằng pháp luật
Pháp luật là một công cụ được nhà nước sử dụng để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, xã hội trong đó có những vấn đề liên quan đến môi trường Pháp luật có ba chức năng chủ yếu:
- Chức năng điều chỉnh;
- Chức năng bảo vệ ;
- Chức năng tác động vào ý thức con người bằng giáo dục
Quản lý môi trường là một vấn đề rộng có phạm vi toàn cầu Do đó,
hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường không chỉ là luật, các văn bản quy phạm pháp luật trong nước mà còn là công ước, pháp luật quốc tế liên quan
Trang 14đến bảo vệ môi trường Đây là những công cụ để Nhà nước kiểm soát ô nhiễm
và bảo vệ môi trường thống nhất trong toàn quốc Mỗi cá nhân, tổ chức có trách nhiệm điều chỉnh mọi hành vi của mình trong quá trình sản xuất và tiêu
dùng (Lê Văn Khoa (2006), [22]
1.1.2.2 Quản lý môi trường bằng kinh tế
Công cụ kinh tế để kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ môi trường như thuế, phí để bồi hoàn chi phí tái tạo môi trường do người tiêu dùng và các nhà sản xuất gây ra ô nhiễm Bản chất của công cụ kinh tế được các cơ quan, tổ chức nhà nước sử dụng là dùng kinh tế để điều chỉnh hành vi cá nhân và tổ chức gây ô nhiễm, sử dụng nguồn vốn này để tái tạo lại hoặc sản xuất các hàng hóa, dịch vụ công cộng nhất định cho cộng đồng Thuế và phí ô nhiễm làm cho giá cả hàng hóa và dịch vụ tăng lên làm thay đổi thói quen sử dụng của người sản xuất và người tiêu dùng đối với các loại hàng hóa và dịch vụ gây nhiều ô nhiễm
Công cụ kinh tế được dùng phổ biến hiện nay là:
- Thuế môi trường hoặc các loại phí khác;
- Giấy phép buôn bán được {chỉ tiêu( cota) môi trường};
- Các hệ thống đặt cọc-hoàn trả (Đỗ Thị Lan và Cs, 2007)[23]
1.1.2.3 Quản lý môi trường bằng công cụ quy hoạch
Quy hoạch môi trường là một công cụ quan trọng trong hệ thống công
cụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường với mục đích là điều hòa sự phát triển của hệ thống Môi trường - Kinh tế - Xã hội đang tồn tại và hoạt động đảm bảo cho sự phát triển của hệ thống kinh tế xã hội phù hợp trong khả năng chịu đựng của hệ thống tự nhiên, bảo vệ được môi trường sống và làm cho chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn
Quy hoạch môi trường là sắp xếp, tổ chức không gian và sử dụng các thành phần môi trường và các yếu tố tài nguyên phù hợp với chức năng môi
Trang 15trường và điều kiện thiên nhiên, kinh tế xã hội của vùng lãnh thổ theo định
hướng bền vững (Nguyễn Ngọc Nông, 2009) [31]
1.1.2.4 Các yêu cầu về quản lý rác thải nông thôn
Nâng cao nhận thức người dân: Nâng cao nhận thức của chính quyền các cấp và nhân dân sống ở nông thôn về việc quản lý rác thải nông thôn Đây
là cơ sở quan trọng nhất góp phần nâng cao chất lượng môi trường nông thôn Hiện nay, phần lớn cư dân sống ở nông thôn còn thiếu hiểu biết, xem nhẹ coi thường vấn đề quản lý rác thải nông thôn Chính vì thế họ đang từng ngày sống chung với rác thải, với các nguy cơ gây hại từ rác thải Vì vậy, các hoạt động thông tin giáo dục, tuyên truyền có tầm quan trọng lớn đối với việc quản
lý rác thải nông thôn
Cải tiến tổ chức, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và nguồn nhân lực: Tổ chức phải thực hiện theo một số nguyên tắc chung, phân công trách nhiệm của từng cấp quản lý từ trung ương tới địa phương, gắn liền với các tổ chức cộng đồng phục vụ cho lĩnh vực này tăng cường hiệu lực của quản lý nhà nước
Phát triển nguồn nhân lực nhằm: Cung cấp đủ và xắp xếp cho hợp lý cán bộ nhân viên trong lĩnh vực cho phù hợp với nghề nghiệp và nhiệm vụ; bồi dưỡng cho cán bộ trung ương và địa phương về công tác quản lý rác thải nông thôn
Đổi mới cơ chế tài chính, huy động nhiều nguồn vốn để đầu tư xử lý rác thải: Cơ chế tài chính phát huy nội lực dựa trên nguyên tắc người sử dụng phải đóng góp phần lớn chi phí Quản lý rác thải nông thôn phục vụ cho việc nâng cao sức khỏe, giảm thiểu các bệnh tật do ô nhiễm môi trường Đây là sự nghiệp của toàn dân Vì vậy cần xã hội hóa công tác quản lý rác thải, đặc biệt
ở khu vực nông thôn
Trang 161.1.3 Cơ sở khoa học về chất thải
Theo điều 3 Nghị định 59/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 9 tháng 4
+ Hoạt động quản lý chất thải rắn: bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ
con người
+ Thu gom chất thải rắn: là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới thời điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận
+ Lưu giữ chất thải rắn: là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi cơ quan có thẩm quyền chấp nhận trước khi chuyển đến
cơ sở xử lý
+ Vận chuyển chất thải rắn: là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc chôn lấp cuối cùng
+ Xử lý chất thải rắn: là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn
+ Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh: là hoạt động chôn lấp phù hợp với
Trang 17các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh
+ Phân loại rác tại nguồn: là việc phân loại rác ngay từ khi mới thải ra hay gọi là từ nguồn Đó là một biện pháp nhằm thuận lợi cho công tác xử lý rác về sau
+ Rác: là thuật ngữ dùng để chỉ chất thải rắn hình dạng tương đối cố
định, bị vứt bỏ từ hoạt động của con người Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một bộ phận của chất thải rắn, được hiểu là các chất thải rắn
phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người (Trần Hiếu
Nhuệ và cs, 2001)[25]
+ Chất thải là sản phẩm được sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, dịch vụ, thương mại, sinh hoạt gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn Ngoài ra, còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao
thông, chất thải là kim loại hoá chất và từ các vật liệu khác (Nguyễn Xuân
thay đổi hình dạng vật lý, tính chất hóa học (Nguyễn Thế Chinh, 2003)[27]
1.1.3.1 Phân loại chất thải rắn
Có rất nhiều cách phân loại chất thải khác nhau Việc phân loại chất thải hiện nay chưa có những quy định chung thống nhất, tuy nhiên bằng những nhìn nhận thực tiễn của hoạt động kinh tế và ý nghĩa của nghiên cứu
quản lý đối với chất thải, có thể chia ra các cách phân loại sau đây:
- Phân loại theo nguồn gốc phát sinh:
Trang 18+ Chất thải công nghiệp: là các chất thải phát sinh từ các quá trình sản xuất, các sản phẩm phế thải của các hoạt động công nghiệp trong các nhà máy, xí nghiệp, các khu công nghiệp tập trung
+ Chất thải sinh hoạt: là chất thải rắn được sản sinh ra trong sinh hoạt hàng ngày của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, cơ quan, trường học, các Trung Tâm dịch vụ thương mại
+ Chất thải có nguồn gốc khác: chất thải rắn nông nghiệp, chất thải rắn làng nghề, chất thải rắn thương mại du lịch
Hình1.1: Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn
+ Rác thải sinh hoạt chiếm tỉ lệ lớn nhất trong các loại rác thải trên bởi
vì ta biết rằng lượng rác thải sinh hoạt thải ra phụ thuộc vào 2 yếu tố chính đó
là sự phát triển kinh tế và tỷ lệ tăng dân số
- Phân loại chất thải theo thuộc tính vật lý: chất thải rắn, chất thải lỏng,
Chất thải rắn
Cơ quan, trường
học
Nông nghiệp, hoạt động xử lý rác thải
Nơi vui chơi, giải trí
Bệnh viện,
cơ sở y tế
Khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp
Trang 19chất thải khí
- Phân loại chất thải theo tính chất hóa học: theo cách này người ta chia chất thải dạng hữu cơ, vô cơ hoặc theo đặc tính của vật chất như chất thải dạng kim loại, chất dẻo, thủy tinh, giấy, bìa…
- Phân loại theo mức độ nguy hại đối với con người và sinh vật: chất thải độc hại, chất thải đặc biệt
Mỗi cách phân loại có một mục đích nhất định nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu, sử dụng hay kiểm soát và quản lý chất thải có hiệu quả
1.1.3.2 Thành phần chất thải rắn
Thành phần lý, hóa học của chất thải rắn rất khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương vào các mùa khí hậu, vào điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác Có rất nhiều thành phần chất thải rắn trong các rác thải có khả năng tái chế, tái sinh Vì vậy mà việc nghiên cứu thành phần chất thải rắn là điều hết sức cần thiết Từ đó ta có cơ sở để tận dụng những thành phần có thể tái chế, tái sinh để phát triển kinh tế
Trang 20Đồ dùng bằng gỗ như bàn, ghế, đồ chơi, vỏ dừa
e.Chất dẻo Các vật liệu và sản phẩm
được chế tạo từ chất dẻo
Phim cuộn, túi chất dẻo, chai, lọ Chất dẻo, đầu vòi, dây điện f.Da và cao
su
Các vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ da và cao su
Bóng, giày, ví, băng cao su
2.Các chất không cháy
a.Các kim
loại sắt
Các vật liệu và sản phẩm được chế tạo từ sắt mà dễ bị nam châm hút
Vỏ hộp, dây điện, hàng rào, dao, nắp lọ
c.Thủy tinh Các vật liệu và sản phẩm
được chế tạo từ thủy tinh
Chai lọ, đồ đựng bằng thủy tinh, bóng đèn d.Đá và sành
sứ
Bất cứ các vật liệu không cháy ngoài kim loại và thủy tinh
Vỏ chai, ốc, xương, gạch, đá, gốm
3.Các chất
hỗn hợp
Tất cả các vật liệu khác không phân loại trong bảng này
Loại này có thể chưa thành hai phần: kích thước lớn hơn
5 mm và loại nhỏ hơn 5 mm
Đá cuội, cát, đất, tóc
Trang 211.2 Cơ sở pháp lý của đề tài
- Hiến pháp năm 1992 nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Luật BVMT, 2005 ban hành ngày 29/11/2005 có hiệu lực ngày 01/07/2006
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật BVMT, 2005
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của Chính phủ sửa đổi
bổ sung một số điều NĐ 80/2006
- Nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT
- Nghị định số 59/NĐ-CP ngày 9/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn
- Chỉ thị số 23/2005/CT-TTg ngày 21/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ
về thu gom và quản lý chất thải rắn đã ghi: “Khuyến khích 100% đô thị thực hiện công tác xã hội hóa công tác quản lý, xử lý chất thải rắn thông qua cơ chế đặt hàng hay đấu thầu dịch vụ trên cơ sở đảm bảo và an ninh môi trường’’
- Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí BVMT đối với chất thải
- Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 18/1/2007 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 67/2003
- Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí BVMT đối với chất thải rắn
- Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 25/12/2006 của Bộ Tài Nguyên và Môi trường về việc ban hành danh mục chất thải nguy hại
- Chỉ thị số 32-CT/TU ngày 25/5/2005 của tỉnh ủy Phú Thọ về việc triển khai thực hiện nghị quyết số 41-NQ/TW của bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Quyết định số 3485/QĐ-UBND ngày 25/8/2007 của UBND tỉnh Phú
Trang 22Thọ về việc quy định một số điểm cụ thể về bảo vệ môi trường và kiểm soát
ô nhiễm đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ và khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
- Nghị quyết số: 58/2008 /NQ- HĐND về chiến lược bảo vệ môi trường tỉnh Phú Thọ đến năm 2015, định hướng đến năm 2020
- Chỉ thị số 28-CT/TU ngày 5/9/2012 của tỉnh ủy Phú Thọ về tăng
cường công tác quản lý và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
1.3 Sơ lƣợc về quản lý rác thải trên thế giới
- Xu hướng của các nước trên thế giới là tăng cường tái chế các chất vô
cơ, áp dụng các biện pháp sinh học để xử lý rác thải hữu cơ làm phân bón hoặc thành khí đốt sinh học
- Rác thải có thể phân loại thành 2 nguồn: Tái chế và không tái chế hoặc rác vô cơ và rác hữu cơ
- Có hai cách phổ biến thu gom là: Tự nguyện đưa đến địa điểm thu gom
và thu gom tại nhà
- Theo Nguyễn Thị Anh Hoa (2006) [19], mức đô thị hóa cao thì lượng chất thải tăng lên theo đầu người, ví dụ cụ thể một số nước hiện nay như sau: Canada là 1,7kg/người/ngày; Australia là 1,6 kg/người/ngày; Thụy Sỹ là 1,3 kg/người/ngày; Trung Quốc là 1,3 kg/người/ngày Với sự gia tăng của rác thì việc thu gom, phân loại, xử lý rác thải là điều mà mọi quốc gia cần quan tâm Ngày nay, trên thế giới có nhiều cách xử lý rác thải như: công nghệ sinh học, công nghệ xử dụng nhiệt, công nghệ Seraphin Đô thị hóa và phát triển kinh tế thường đi đôi với mức tiêu thụ tài nguyên và tỷ lệ phát sinh chất thải rắn tăng lên tính theo đầu người Dân thành thị ở các nước phát triển phát sinh chất thải nhiều hơn ở các nước đang phát triển gấp 6 lần, cụ thể ở các nước phát triển là 2,8 kg/người/ngày; Ở các nước đang phát triển là 0,5 kg/người/ngày Chi phí quản lý cho rác thải ở các nước đang phát triển có thể lên đến 50%
Trang 23ngân sách hàng năm Cơ sở hạ tầng tiêu hủy an toàn rác thải thường rất thiếu thốn Khoảng 30 - 60% rác thải đô thị không được cung cấp dịch vụ thu gom
Tiêu chuẩn tạo rác trung bình theo đầu người đối với từng loại chất thải mang tính đặc thù của từng địa phương và phụ thuộc vào mức sống, văn minh, dân cư ở mỗi khu vực Tuy nhiên, dù ở khu vực nào cũng có xu hướng chung của thế giới là mức sống càng cao thì lượng chất thải phát sinh càng nhiều
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB,2004), tại các thành phố lớn như New York tỷ lệ phát sinh chất thải rắn là 1,8kg/người/ngày,
Singapore, Hồng Kông là 0,8 - 10 kg/người/ngày (WB,2004), [38]
Bảng 1.2 Lượng phát sinh chất thải rắn đô thị ở một số nước
(% tổng số)
LPSCTRĐT hiện nay (kg/người/ngày)
Trang 24- Trên thế giới, các nước phát triển đã có những mô hình phân loại và thu gom rác thải rất hiệu quả:
California: Nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiều thùng
rác khác nhau Kế tiếp rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế, rác được thu gom 3 lần/tuần với chi phí phải trả là 16,39 USD/tháng Nếu có những phát sinh khác nhau như: Khối lượng rác tăng hay các xe chở rác phải phục vụ tận sâu trong các tòa nhà lớn, giá phải trả sẽ tăng thêm 4,92 USD/tháng Phí thu gom rác được tính dựa trên khối lượng rác, kích thước rác, theo cách này có thể hạn chế được đáng kể lượng rác phát sinh Tất cả chất thải rắn được chuyển đến bãi rác với giá 32,38 USD/tấn Để giảm giá thành thu gom rác, thành phố cho phép nhiều đơn vị cùng đấu thầu việc thu
gom và chuyên chở rác (Offcial Jouiranal of ISWA, 1998) [37]
Nhật Bản: Các gia đình Nhật Bản đã phân loại chất thải thành 3 loại
riêng biệt và cho vào 3 túi với màu sắc khác nhau theo quy định: rác hữu cơ, rác vô cơ, giấy, vải, thủy tinh, rác kim loại Rác hữu cơ được đưa đến nhà máy xử lý rác thải để sản xuất phân vi sinh Các loại rác còn lại: giấy, vải, thủy tinh, kim loại, đều được đưa đến cơ sở tái chế hàng hóa Tại đây, rác được đưa đến hầm ủ có nắp đậy và được chảy trong một dòng nước có thổi khí rất mạnh vào các chất hữu cơ và phân giải chúng một cách triệt để Sau quá trình xử lý đó, rác chỉ còn như một hạt cát mịn và nước thải giảm ô nhiễm Các cặn rác không còn mùi sẽ được đem nén thành các viên gạch lát vỉa
hè rất xốp, chúng có tác dụng hút nước khi trời mưa (Dự án Danida, 2007) [13]
Mỹ: Hàng năm, rác thải sinh hoạt của các thành phố Mỹ lên tới 210
triệu tấn Tính bình quân mỗi người dân Mỹ thải ra 2kg rác/ngày Hầu như thành phần các loại rác thải trên đất nước Mỹ không có sự chênh lệch quá lớn về tỷ lệ, cao nhất không phải là thành phần hữu cơ như các nước khác
mà là thành phần chất thải vô cơ (giấy các loại chiếm đến 38%), điều này
Trang 25cũng dễ lý giải đối với nhịp điệu phát triển và tập quán của người Mỹ là việc thường xuyên xử dụng các loại đồ hộp, thực phẩm ăn sẵn cùng các vật liệu
có nguồn gốc vô cơ Trong thành phần các loại sinh hoạt thực phẩm chỉ chiếm 10,4% và tỷ lệ kim loại cũng khá cao là 7,7% Như vậy rác thải sinh hoạt các loại ở Mỹ có thể phân loại và xử lý chiếm tỉ lệ khá cao (các loại khó hoặc không phân giải được như kim loại, thủy tinh, gốm, sứ chiếm khoảng
20%) (Lê Văn Nhương, 2001) [25]
Pháp: Ở nước này quy định phải đựng các vật liệu, nguyên liệu hay
nguồn năng lượng nhất định để tạo điều kiện dễ dàng cho việc khôi phục lại các vật liệu thành phần Theo đó đã có các quyết định cấm các cách xử lý hỗn hợp mà phải xử lý theo phương pháp nhất định Chính phủ có thể yêu cầu các nhà chế tạo và nhập khẩu không sử dụng các vật liệu tận dụng để bảo vệ môi trường hoặc giảm bớt sự thiếu hụt một vật liệu nào đó Tuy nhiên cần phải tham khảo và thương lượng để có sự nhất trí cao của các tổ chức,
nghiệp đoàn khi áp dụng các yêu cầu này (Trần Hiếu Nhuệ và cs, 2001) [26]
Singapore: Đây là nước đô thị hóa 100% và là đô thị sạch nhất trên
thế giới Để có được kết quả như vậy, Singapore đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý đồng thời xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắc làm tiền đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn Rác thải ở Singapore được thu gom và phân loại bằng túi nilon Các chất thải có thể tái chế được, được đưa về các nhà máy tái chế còn các loại chất thải khác được đưa về nhà máy khác để thiêu hủy Ở Singapore có 2 thành phần chính tham gia vào thu gom và xử lý các rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và công ty, hơn 300 công ty tư nhân chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương mại Tất cả các công ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát kiểm tra trực tiếp của Sở Khoa học công nghệ và môi trường Ngoài
ra, các hộ dân và các công ty của Singapore được khuyến khích tự thu gom
Trang 26và vận chuyển rác thải cho các hộ dân vào các công ty Chẳng hạn, đối với các hộ dân thu gom rác thải trực tiếp tại nhà phải trả phí 17 đôla Singapore/tháng, thu gom gián tiếp tại các khu dân cư chỉ phải trả phí 7 đôla
Singapore/tháng (Lê Huỳnh Mai và cs, 2009) [24]
- Hiện nay có rất nhiều phương pháp khác nhau để xử lý rác thải Tỷ
lệ rác thải được xử lý theo phương pháp khác nhau của một số nước trên thế giới được giới thiệu ở bảng sau:
Bảng 1.3 Tỷ lệ CTR xử lý bằng các phương pháp khác nhau ở một số nước
(ĐVT:%)
STT Nước Tái chế Chế biến
phân vi sinh Chôn lấp Đốt
1.4.1 Hiện trạng quản lý, xử lý rác thải nông thôn tại Việt Nam
(Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2011) [7]
Dân số Việt Nam hiện nay phần lớn vẫn tập trung ở khu vực nông thôn,
chiếm gần 70% (TCTK, 2010) Trong những năm gần đây, ở khu vực nông
Trang 27thôn, mặc dù tỷ lệ dân số có giảm, nhưng vẫn ở mức cao Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động tương đối chậm, tuy nhiên cơ cấu ngành sản xuất ở nông thôn đang ngày càng đa dạng và được đẩy mạnh Sau gần 3 năm triển khai Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành TW Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, theo đánh giá của Chính phủ, các bộ, ngành, đời sống của người nông dân đã có nhiều chuyển biến tích cực, thu nhập của người nông dân năm 2010 tăng 34,5% so với năm 2008, tất cả các lĩnh vực sản xuất như trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, dịch vụ đều
có bước phát triển khá Song song với sự chuyển biến tích cực, nông thôn Việt Nam vẫn còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém: phát triển thiếu quy hoạch,
tự phát, có khoảng 23% xã có quy hoạch nhưng chất lượng quy hoạch chưa cao Kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội còn lạc hậu, vệ sinh môi trường nông thôn còn nhiều vấn đề bất cập Cả nước hiện còn hơn 400 nghìn nhà ở tạm bợ Hầu hết nhà ở nông thôn được xây không có quy hoạch, quy chuẩn Chính những hạn chế, yếu kém này kéo theo tình trạng ô nhiễm môi trường nông thôn đang ở mức báo động ở nhiều nơi. Dân số ngày càng tăng, điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu tiêu dùng của người dân ở các vùng nông thôn nói chung và khu dân cư nói riêng ngày càng phong phú và
đa dạng đây cũng là nguyên nhân chính làm gia tăng thành phần và tải lượng rác thải sinh hoạt nông thôn
Với dân số khoảng 60,703 triệu người (năm 2010) lượng chất thải phát sinh của người dân nông thôn khoảng 0,3 kg/người/ngày, ta có thể ước lượng rác thải phát sinh khoảng 18,21 tấn/ngày, tương đương với 6,6 triệu tấn/năm Hiện nay, tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại khu vực nông thôn vào khoảng 40 - 55% Theo thống kê có khoảng 60% số thôn hoặc xã tổ chức thu dọn định kỳ; trên 40% thôn, xã đã hình thành các tổ thu gom rác thải tự quản Việc thu gom rác còn rất thô sơ bằng các xe cải tiến Nhiều xã không có quy hoạch các
Trang 28bãi rác tập trung, không có bãi rác công cộng, không quy định chỗ tập trung rác, không có người và phương tiện chuyên chở rác Do đó, các bãi rác tự phát đã hình thành ở rất nhiều nơi, làm cho tình trạng CTR sinh hoạt nông thôn trở thành vấn đề nan giải khó quản lý Một số huyện, xã mặc dù đã có quy hoạch bãi rác, nhưng vẫn chưa có các cơ quan quản lý, biện pháp xử lý đúng kỹ thuật và người dân vẫn chưa có ý thức đổ rác theo quy định Toàn quốc chỉ có 12/ 63 tỉnh thành phố có bãi chôn lấp hợp vệ sinh hoặc đúng kỹ thuật ở nông thôn và phần lớn được xây dựng trong vòng 10 năm qua Hầu hết, các bãi chôn lấp chất thải nông thôn là các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh, chủ yếu là bãi rác hở và để phân hủy tự nhiên. (Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2011) [7]
Chất thải rắn nông nghiệp từ trồng trọt cũng là một nguồn thải đáng kể Với khoảng 7.5 triệu ha trồng lúa nước hằng năm lượng rơm rạ thải ra lên tới
76 triệu tấn tại các vùng nông thôn trồng điều, cà phê như Tây Nguyên lượng chất thải rắn phát sinh từ nguồn này là khá lớn Như tại đồng bằng sông Cửu Long, sản xuất lúa thải ra khoảng 39,4 triệu tấn/năm rơm rạ phế thải Trong trồng mía thải ra ngọn mía phế thải khoảng 2,47 triệu tấn/năm, lượng bã mía sau chế biến đường khoảng 1,42 triệu tấn/năm và bùn thải sản xuất mía đường khoảng 0,94 triệu tấn/năm
Chất thải rắn chăn nuôi: Theo tổng cục chăn nuôi, tổng cục thống kê hiện tại, ở nông thôn Việt Nam có khoảng 8,5 triệu hộ chăn nuôi với gần 6 triệu con bò, gần 3 triệu con trâu; 27 triệu con lợn; 300 triệu con gia cầm Riêng về nuôi lợn, từ 1-5 con chiếm 50% số hộ, nuôi 6-10 con chiếm 20%, từ
11 con trở nên chiếm 30% Tuy nhiên do phương thức chăn nuôi còn lạc hậu, quy mô nhỏ và chưa thực sự quan tâm đến xử lý chất thải Theo ước tính có khoảng 40-70% ( tùy theo từng vùng) chất thải rắn chăn nuôi được xử lý, số còn lại thải trực tiếp ra ao, hồ, kênh, rạch… nên làm cho môi trường nông
Trang 29thôn vốn đã ô nhiễm lại càng ô nhiễm hơn (Báo cáo hiện trạng môi trường
quốc gia năm 2011)[ 7]
Bảng 1.4 Khối lƣợng chất thải rắn chăn nuôi của Việt Nam
CTR bình quân (kg/ngày/1 con)
Nguồn : Tổng cục thống kê, cục chăn nuôi, 2011
- Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010.)[7]
Hình1.2: Tỷ lệ xử lý CTR chăn nuôi (Đặng Kim Chi ,2011)[8]
Chất thải chăn nuôi
Biogas 43%
Môi trường xung quanh 19%
ủ phân 22%
Nuôi cá 13%
Bán
13%
Trang 30Chất thải rắn nông nghiệp nguy hại chủ yếu phát sinh từ các hoạt động nông nghiệp (chai lọ đựng hóa chất BVTV và thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng, thuốc trừ nấm, thuốc trừ cỏ, vỏ bao phân bón hóa học….), hoạt động chăm sóc thú y (chai lọ đựng thuốc thú y, dụng cụ tiêm, mổ ) Theo số liệu của tổng cục môi trường, tổng cục thống kê, tổng cục hải quan từ năm 2000 đến năm 2005, mỗi năm Việt Nam sử dụng khoảng 35.000 đến 37.000 tấn hóa chất bảo vệ thực vật, đến năm 2006 tăng đột biến lên tới 71.345 tấn và đến năm 2008 tăng lên xấp xỉ 110.000 tấn Thông thường, lượng bao bì chiếm khoảng 10% so với lượng thuốc tiêu thụ , như vậy năm 2008 thải ra môi
trường 11.000 tấn bao bì các loại (Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia
năm 2011)[7]
Lượng phân bón hóa học xử dụng ở nước ta, bình quân 80-90kg/ha ( cho lúa 180kg/ha), việc xử dụng phân bón cũng phát sinh bao bì, túi đựng Năm 2008, tổng lượng phân bón vô cơ các loại được xử dụng 2,4 triệu tấn/năm Như vậy mỗi năm thải ra môi trường khoảng 240 tấn thải lượng bao
bì các loại
Bảng 1.5 Tổng hợp lƣợng CTR nông nghiệpphát sinh năm 2008, 2010
Chất thải rắn chăn nuôi Tấn/năm 80.450.000 2008
Nguồn : Viện Khoa học và Công nghệ môi trường, Đại học bách khoa Hà
Nội, 2010- Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010.[7]
Hiện các địa phương đều chưa có công nghệ xử lý bao bì thuốc bảo vệ thực vật, bao bì sau khi thu gom cùng với bao bì phân bón hóa học thường đem đốt hoặc chôn lấp ở xa khu dân cư Nhiều địa phương, người nông dân
Trang 31còn thu gom chung vỏ bao bì thuốc bảo vệ thực vật với rác thải sinh hoạt Tất
cả các cách làm trên đều chưa đảm bảo cho môi trường và con người (Báo
cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2011) [7]
Chất thải rắn làng nghề: gồm nhiều chủng loại khác nhau, phụ thuộc
nhiều vào nguồn phát sinh và mang đặc tính của loại hình sản xuất: như phế phẩm từ chế biến lương thực, thực phẩm, chai lọ thủy tinh, nhựa, vỏ bao bì đựng nguyên vật liệu gốm, sứ, gỗ, kim loại Theo bộ Tài nguyên và Môi trường hiện nay, cả nước có 1.324 làng nghề được công nhận và có 3.221 làng
có nghề Hoạt động sản xuất nghề nông thôn đã tạo ra việc làm cho hơn 11 triệu lao động thu hút khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn; đặc biệt có những địa phương đã thu hút được hơn 60% lao động của cả làng, đã và đang
có nhiều đóng góp cho ổn định đời sống nông dân, góp phần phát triển kinh tế nông thôn Làng nghề phân bố không đồng đều, giữa các vùng, các miền ( miền Bắc khoảng 60%, miềm Trung 30%, miền Nam 10%) Trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn ( trên 70%) vì vậy làng nghề đã và đang là nhân tố gây ô
nhiễm môi trường tại nông thôn (Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia
năm 2011) [7]
Công tác quản lý rác thải ở khu vực nông thôn đã bước đầu được Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền quan tâm, thể hiện ở các mặt sau:
- Đã có quan điểm và chủ trương của Chính phủ về BVMT và quản lý rác thải
- Bước đầu đã hình thành các tổ VSMT thu gom rác thải sinh hoạt ở các địa phương
Tuy nhiên trong công tác quản lý rác thải ở khu vực nông thôn cũng còn có rất nhiều các mặt tồn tại như:
Trang 32- Chưa có các giải pháp xử lý rác thải hợp vệ sinh, chủ yếu đổ lộ thiên hoặc thu gom trong khu dân cư đổ ra ven đường gây ô nhiễm thứ phát
- Chưa thực hiện chuyên môn hóa công tác thu gom, người thu gom chưa được đảm bảo quyền lợi của người lao động nặng và các chế độ bảo hiểm độc hại
- Chưa thể hiện được vai trò của cộng đồng và trách nhiệm của các cấp
trong quản lý rác thải ở nông thôn
1.4.2 Một số mô hình quản lý RTSH nông thôn tại Việt Nam
1.4.2.1 Mô hình quản lý rác thải tại xã Kim Chung, huyện Hoài
Đức, TP Hà Nội (Nguyễn Chí Tùng, 2009 )[34]
Để giải quyết vấn đề vệ sinh môi trường nông thôn, đã có nhiều cơ quan nghiên cứu giải quyết, trong đó có tổ chức từ thiện nước ngoài YWAM
có đề án giải quyết vệ sinh môi trường nông thôn ở Việt Nam Nguyên tắc của
tổ chức này là không đầu tư 100%, mà cần có sự đóng góp của chính quyền địa phương và người dân Để thực hiện dự án quản lý và xử lý rác thải tại thôn Lai Xá - xã Kim Chung cần khoản kinh phí đầu tư xây dựng và vận hành mô hình khoảng 400 - 500 triệu VN đồng (kể cả chi phí cho tuyên truyền và tập huấn)
Các bước tiến hành xây dựng mô hình
- Điều tra, khảo sát tình trạng ô nhiễm do rác thải sinh hoạt của địa phương
- Tuyên truyền vận động người dân và chính quyền hưởng ứng việc thu gom, xử lý rác
- Lên phương án khả thi về xây dựng và tổ chức thực hiện
- Dựa trên phương án khả thi, phân bổ nguồn kinh phí do Tổ chức ủng
hộ và phần kinh phí do tỉnh, huyện và nhân dân cần phải đóng góp để thực
Trang 33hiện dự án Địa phương dành 1.500m2 tương lai 3.000m2) để xây dựng mô hình tại địa điểm thích hợp xa nhà dân
- Tổ chức đội thu gom, vận chuyển và xử lý rác
Tuyên truyền, tập huấn cho người dân từ khâu phân loại khi bỏ rác vào thùng và có thói quen đổ rác như ở các thành phố
- Việc phân loại rác được tiến hành từ các gia đình, tại trạm tiếp tục lựa chọn, phân loại tiếp trong quá trình tập kết, đảo rác
- Xây dựng trạm xử lý rác cho nông thôn theo qui trình công nghệ của các nhà khoa học Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Quy trình quản lý
Rác thải của các hộ dân được phân loại sơ bộ ngay tại gia đình, mỗi gia đình có 2 thùng rác, một thùng đựng rác hữu cơ (thực phẩm thừa, lá cây ), một thùng đựng rác vô cơ các loại không phân hủy được (thủy tinh, nilon, vỏ
sò, vỏ ốc ) Hàng ngày công nhân của đội thu gom đi thu gom đưa về sân tập kết Ở đây, rác được tiếp tục phân loại để loại bỏ các chất vô cơ Phần hữu cơ được trộn lẫn với chế phẩm vi sinh BioMicromix rồi đưa vào bể ủ Chế phẩm
vi sinh BioMicromix là chế phẩm vi sinh vật ưa nhiệt, có tác dụng thúc đẩy nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ, làm nhanh mất mùi hôi, không có ruồi muỗi Mỗi bể ủ có thể tích từ 30-40m3
Thôn Lai Xá có khoảng 5.000 dân, lượng rác thải khoảng 3 tấn/ngày
Do kinh phí ít nên trạm xử lý rác không thể đầu tư máy móc qui mô lớn như
có băng truyền hoặc máy nén khí Do lượng rác thải hàng ngày ít, nên không
có hệ thống bơm khí cung cấp oxy làm cho quá trình phân hủy nhanh Để giải quyết lên men ủ rác với các vi sinh vật hiếu khí, chịu nhiệt, đảm bảo phân hủy rác triệt để, các giải pháp khắc phục như sau: xây 4 bể ủ rác, mỗi bể dung tích
30 - 40m3 Để làm đầy được 1 bể cần thời gian khoảng 10 - 12 ngày, rác được nạp dần dần có phối trộn BioMicromix, chiều cao của khối ủ khoảng 1,2 -
Trang 341,5m, có đảo trộn, tạo điều kiện cho vi sinh vật hiếu khí phát triển Thời gian lên men trong bể kéo dài từ 40 - 50 ngày, nghĩa là sau khi làm đầy 3 bể còn lại thì quay về bể đầu tiên Khi quá trình ủ đã kết thúc, đống ủ xẹp xuống, nhiệt độ xuống dưới 40o
rác được chuyển ra sân phơi cho khô, sau đó được đưa vào nghiền và sàng phân loại Phần hữu cơ (mùn) tận dụng làm phân bón Nước rác được thu gom vào bể chứa qua hệ thống rãnh, khi khối ủ bị khô dùng nước này để bổ sung
Các chất vô cơ được phân loại, phần có thể tái chế (thuỷ tinh, nilon, sắt thép ) được thu gom lại để bán cho các cơ sở tái chế; phần không tái chế được (sành sứ, vỏ ốc, ) được đem đi chôn lấp Gạch ngói vỡ dùng để san nền hay bê tông hóa, lát kè đường đi, xây mương Quy trình công nghệ xử lý rác thải ở quy mô làng xã có thể tóm tắt theo Hình dưới
Hình 1.3 Mô hình xử lý rác thải sinh hoạt ở thôn Lai Xá
xã Kim Chung huyện Hoài Đức - Hà Nội
Nguồn: (Nguyễn Chí Tùng, 2009 )[24]
Mô hình xử lý rác thải sinh hoạt ở thôn Lai Xá đã được xây dựng xong
và đi vào hoạt động từ tháng 5/2003 Mô hình trên đã được Tổ chức YWAM cùng chính quyền địa phương và nhân dân đánh giá rất tốt Mô hình hiện nay vẫn đang hoạt động bình thường
Trang 35Đây là mô hình tương đối hoàn chỉnh phục vụ cho việc xử lý rác ở qui
mô nhỏ Một mô hình xử lý rác sạch, không gây ô nhiễm môi trường, không tốn diện tích chôn lấp và tận dụng được nguồn phế thải hữu cơ để sản xuất
Hình 1.4 Qui trình quản lý rác thải ở thôn Lai Xá
xã Kim Chung huyện Hoài Đức - Hà Nội
Nguồn: (Nguyễn Chí Tùng, 2009 )[24]
phân bón phục vụ cho nông nghiệp Mô hình trên có thể triển khai và nhân rộng ra nhiều địa phương trong cả nước, tạo cho nông thôn có cảnh quan vào môi trường trong sạch Mô hình trên đã được nhân dân địa phương ủng hộ trong việc thu gom rác thải, giữ gìn vệ sinh làng xã sạch đẹp, không còn cảnh rác vứt bừa bãi Kinh phí đầu tư tương đối rẻ, phù hợp cho điều kiện nông thôn nay ở nước ta Với chi phí khoảng 400- 500 triệu đồng có thể xây dựng được một cơ sở xử lý rác với công suất từ 3-5tấn/ngày
dụng Rác gia
đình
Trang 36Từ kinh nghiệm xây dựng mô hình xử lý rác ở thôn Lai Xá cho thấy, để
mô hình có thể thực hiện thành công, thì công tác tuyên truyền cho nhân dân thay đổi thói quen vứt rác bừa bãi và công tác tổ chức thu gom là hết sức quan trọng, quyết định sự thành công của mô hình
1.4.2.2 Mô hình quản lý rác thải ở thị trấn Hồ, huyện Thuận
Thành, tỉnh Bắc Ninh (Vũ Quốc Chính, 2009) [11]
Thành lập HTX dịch vụ VSMT do UBND thị trấn quản lý Gồm 31 người Quản lý 05 người , tổ thu gom 18 người, tổ xử lý rác 04 người, tổ dịch
vụ vệ sinh môi trường 04 người Tổ chức tốt việc thu phí thu gom rác thải Tỷ
lệ thu phí đạt trên trên 88,9%
Thực hiện tốt các qui định về quản lý rác thải do UBND thị trấn ban hành như:
Thu gom rác thải hàng ngày theo giờ quy định, thực hiện thu gom, vận chuyển riêng 2 loại: Rác hữu cơ và các loại còn lại
Bố trí 3 trạm trung chuyển Thu gom, vận chuyển rác thải từ các tổ dân phố đến các trạm trung chuyển bằng xe thu gom Vận chuyển rác thải từ các trạm trung chuyển đến khu xử lý tập trung bằng xe cơ giới
Rác hữu cơ chiếm 2/3 khối lượng phát sinh, dễ bị thối rữa gây mùi hôi thối được thu gom hàng ngày Rác vô cơ chiếm 1/3 khối lượng rác mỗi ngày
và ít ô nhiễm hơn nên được thu gom 2-3 ngày/lần
Sử dụng loại xe kéo tay thùng cao do HTX tự cải tiến Thay thế dần bằng loại xe kéo tay có dung tích lớn > 0,8 m3 đã được cải tiến từ xe đẩy thu
gom rác Mua xe ô tô tải và cải tạo thành xe vận chuyển rác thải
Giải pháp công nghệ xử lý rác thải
Công nghệ xử lý rác hữu cơ
+ Bước 1: Rác thải hữu cơ sau khi được phân loại sẽ được xử lý sơ bộ
bằng chế phẩm vi sinh với định mức 30 lít dung dịch EM đã pha loãng cho 1
Trang 37tấn rác thải hoặc 10 – 15 lít cho 1m 3 rác thải
+ Bước 2: Đưa rác vào bể ủ có diện tích 15m2 Chiều cao rác thải là 1,5m Mỗi bể ủ chứa rác thải hữu cơ xử lý của 1 ngày Thời gian ủ từ 40-50 ngày Trong quá trình ủ kết hợp với đảo trộn theo định kỳ 7 ngày/lần Nước rác sinh ra trong quá trình ủ rác hữu cơ được sử dụng để tưới lên các hố ủ để giữ độ ẩm cho các hố ủ
+ Bước 3: Sau 40-50 ngày ủ, chuyển rác thải ra khỏi hố ủ, hong khô,
nghiền nhỏ và sàng phân loại để tách các chất lẫn
+ Bước 4: Rác tiếp tục được ủ chín trong thời gian 10-15 ngày bằng
cách ủ tự nhiên có kết hợp đảo trộn 7 ngày/ lần và giữ độ ẩm thích hợp Các VSV tiếp tục phân huỷ chất hữu cơ trong điều kiện ủ đống tĩnh có đảo trộn
+ Bước 5: Sau khi kết thúc ủ chín, mùn hữu cơ được sàng lại kiểm tra
chất lượng và đưa vào sử dụng hoặc dùng làm nguyên liệu để sản xuất phân vi sinh
- Công nghệ xử lý rác vô cơ:Rác vô cơ xử lý theo phương pháp chôn
lấp hợp vệ sinh Mỗi ô chôn lấp được tính toán và thiết kế để có thời gian đổ rác trong một năm Với điều kiện địa hình, địa chất khu vực xử lý chọn loại bãi chôn lấp nửa chìm, nửa nổi Rác thải đổ vào ô chôn lấp, đầm nén bằng thủ công, sau 3 tháng đổ 1 lớp đất phủ Sau khi ô chôn lấp đầy, tiến hành đóng ô chôn lấp và trồng cây lên trên Tiếp tục sử dụng ô thứ 2 theo kiểu cuốn chiếu
- Phương án thu hồi chất tái chế: Rác tái chế là nhựa, bìa cácton được
người thu gom phế liệu tự do mua Thành phần nilon sẽ do xã viên HTX phân loại tại khu xử lý tập trung, dùng máy cắt xé nhỏ, rửa sạch để bán cho các cơ
sở tái chế
- Phương án xử lý nước rác
Nước rác hữu cơ sẽ được tuần hoàn lại để tưới lên hố ủ, tạo độ ẩm cho rác phân hủy
Trang 38Nước rác từ các ô chôn lấp rác vô cơ được xử lý theo phương pháp sinh học theo Hình 1.5
Bơm
Hình 1.5: Phương pháp xử lý nước rác
Nguồn:Vũ Quốc Chính, 2009 [11]
1.5 Hiện trạng thu gom và xử lý rác thải tại tỉnh Phú Thọ (Báo cáo
hiện trạng môi trường tỉnh Phú Thọ, 2011) [2]
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có 2 công ty đảm nhận việc thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt đó là: Công ty cổ phần Môi trường và Dịch vụ Đô thị Việt Trì (Thành phố Việt Trì) và Công ty cổ phần Môi trường
Đô thị Phú Thọ (thị xã Phú Thọ) và có 1 công ty chuyên về xử lý chất thải đó
là Công ty TNHH Nhà nước một thành viên xử lý và chế biến chất thải Phú Thọ
Hầu hết các chất thải rác do đơn vị thu gom xuất phát chủ yếu từ nhà dân, cửa hàng, các cơ quan công sở, xí nghiệp, rác chợ, đường phố , phương tiện thu gom rác thải được thực hiện bằng xe rác, còn lại dùng các xe đẩy tay
Bãi lọc ngầm
Hồ sinh học
Chôn lấp cùng chất thải bỏ
Nước rác
Trang 39các bệnh viện xử lý bằng phương pháp đốt tiêu hủy tại chỗ Rác thải công nghiệp được các cơ sở phát thải tái chế và chôn lấp tự phát
Hiện có 1 nhà máy xử lý rác thải (thuộc Công ty TNHH Nhà nước một thành viên xử lý và chế biến chất thải Phú Thọ) với công suất thiết kế 120 tấn/ngày được xây dựng tại xã Vân Phú, thành phố Việt Trì Rác thải sinh hoạt được 2 công ty thu gom đưa về xử lý tại nhà máy này Rác thải hữu cơ được
xử lý làm phân hữu cơ, phần còn lại được xử lý đốt tiêu hủy Tuy nhiên nhà máy gặp rất nhiều khó khăn trong công tác xử lý vì rác thải chưa được phân loại từ đầu nguồn Hiện nhà máy đã hoạt động quá tải (160 tấn/ngày so với công suất thiết kế 120 tấn/ngày) Các huyện lỵ chưa có nhà máy xử lý rác, rác thải sinh hoạt được xử lý chôn lấp tại chỗ gây ô nhiễm môi trường
Theo quy hoạch chung của tỉnh Phú Thọ, ngoài nhà máy chế biến rác do công ty cổ phần Môi trường và Dịch vụ Đô thị Việt Trì hiện đang quản lý để
xử lý rác thải cho thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ và một số huyện khác thì tỉnh đã quy hoạch và đầu tư xây dựng khu xử lý chất thải tổng hợp cho toàn tỉnh xã Trạm Thản, huyện Phù Ninh nhưng do thiếu kinh phí đầu tư nên dự
án mới hoàn thành ở giai đoạn 1
Rác thải y tế ngoài một số bệnh viện tuyến tỉnh như: bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, bệnh viện Tâm thần, bệnh viện Lao và Bệnh phổi, bệnh viện đa khoa khu vực Phú Thọ được trang bị hệ thống xử lý nước thải và lò đốt rác Còn lại đa số các bệnh viện tuyến huyện chưa được xử lý theo quy chế quản
lý chất thải y tế Một phần được thu gom chôn lấp tập trung cùng rác thải sinh hoạt, một phần được xử lý chôn lấp tại cơ sở hoặc đốt thủ công Năm 2005, Tỉnh đã đầu tư xây dựng một ô xử lý, chôn lấp rác thải y tế diện tích 01 ha tại khu xử lý chất thải Trạm Thản, Phù Ninh, đồng thời trang bị cho Công ty cổ phần Môi trường và Dịch vụ Đô thị Việt Trì 01 xe chở rác y tế để thu gom vận chuyển rác thải y tế tại các bệnh viện trong Tỉnh về khu xử lý chôn lấp
Trang 40Nhưng do hệ thống xử lý nước rác của khu chôn lấp này chưa hoàn thiện nên việc xử lý chất thải y tế vẫn còn nhiều hạn chế
Vấn đề quản lý chất thải rắn công nghiệp ở tỉnh Phú Thọ đang là vấn đề nan giải đối với các cơ quan chức năng Tỉnh đã quy hoạch và đầu tư xây dựng khu xử lý chất thải tổng hợp tại xã Trạm Thản, huyện Phù Ninh để xử
lý chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp và chất thải nguy hại nhưng do thiếu kinh phí đầu tư nên dự án mới hoàn thành ở giai đoạn 1, hiệu quả sử dụng không cao Phần lớn rác thải công nghiệp được thu hồi và tái chế một cách tự phát, một phần được chôn lấp ngay tại các doanh nghiệp, một phần được thu gom chôn lấp tập trung cùng với rác sinh hoạt Tỷ lệ thu gom chất thải công nghiệp chỉ ở mức 30%
*/ Nguồn rác thải
- Rác thải từ sản xuất: 15,0 %, bao gồm:
+ Sản xuất nông nghiệp: 2,0 %
+ Rác thải từ chăn nuôi: 1,5 %
+ Rác thải trong sản xuất công nghiệp - TTCN: 6,5 %
+ Rác thải từ các hoạt động dịch vụ, hoạt động kinh doanh VL xây dựng: 5,0 %
- Rác thải từ sinh hoạt: 80,0 % : Là nguồn thải thường xuyên, liên tục
và có xu hướng ngày càng tăng dưới dạng chất thải rắn như các loại bao bì, rau củ, xương động vật và nước thải từ sinh hoạt
- Các rác thải khác: 5,0 %
Lá cây, rơm rạ, đất cát bụi, gia súc chăn thả không đúng quy định, gây
ô nhiễm môi trường trong khu vực dân cư nông thôn
Xác xúc vật chết, đồ cải táng không được chôn lấp, đóng, đốt gạch gây
ô nhiễm không khí