Từ những hiểu biết và suy nghĩ như vậy, bản thân chọn đề tài: “ Nghiên cứu đặc điểm lâm sinh một số mô hình làm giàu rừng tại Trạm thực hành thực nghiệm trường Cao Đẳng Nông Lâm Đông Bắc
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN NGỌC LONG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SINH MỘT SỐ MÔ HÌNH LÀM GIÀU RỪNG TẠI TRẠM THỰC HÀNH THỰC NGHIỆM TRƯỜNG CAO ĐẲNG NÔNG LÂM
ĐÔNG BẮC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN NGỌC LONG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SINH MỘT SỐ MÔ HÌNH LÀM GIÀU RỪNG TẠI TRẠM THỰC HÀNH THỰC NGHIỆM TRƯỜNG CAO ĐẲNG NÔNG LÂM
ĐÔNG BẮC
Chuyên ngành: LÂM HỌC
Mã số: 60.62.0201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐẶNG KIM VUI
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Ngọc Long
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đặng Kim Vui người
thầy đã tận tình chu đáo và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa sau Đại học, Khoa Lâm
Nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận
lợi cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài
Cùng với sự biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn Ban Giám
hiệu, Trạm thực hành thực nghiệm, Khoa Khoa học cơ bản Trường Cao
Đẳng Nông Lâm Đông Bắc - Phường Minh Thành Thị xã Quảng Yên và
bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ và động viên em trong quá trình học tập
và nghiên cứu của mình
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012
Tác giả
Nguyễn Ngọc long
Trang 5MỘT SỐ KÍ HIỆU VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Số lượng cây/1ha Đường kính thân cây ở vị trí 1,3m (cm)
Chiều cao dưới cành (m) Đường kính tán cây (m)
Ô tiêu chuẩn
Ô dạng bản Công thức tổ thành Thứ tự
Số thứ tự
Kỹ thuật lâm sinh Trạm thực hành thực nghiệm
Trang 6
MỤC LỤC
Nội dung
LỜI NÓI ĐẦU………
Chương I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU………
1.1 Trên thế giới………
1.2 Những nghiên cứu trong nước………
Chương II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………
2.1 Mục tiêu nghiên cứu………
2.1.1 Mục tiêu chung………
2.1.2 Mục tiêu cụ thể………
2.2 Đối tượng nghiên cứu………
2.3 Nội dung nghiên cứu………
2.3.1 Phân tích, đánh giá kết quả các hoạt động phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt khu rừng thực hành thực nghiệm trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc………
2.3.2 Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sinh rừng làm giàu, khu thực hành thực nghiệm của trường Cao Đẳng Nông Lâm Đông Bắc………
2.3.3 Những ý kiến đánh giá chung………
2.4 Phương pháp nghiên cứu………
2.4.1 Quan điểm và phương pháp luận………
2.4.2 Phương pháp cụ thể………
Chương III ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU………
3.1 Điều kiện tự nhiên………
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội………
Trang 01 02 10 11 11 11 11 11 12 12 12 12 12 12 17 18
18
Trang 74.1 Các hoạt động phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt………
4.1.1 Những nét chính về làm giàu rừng khu thực hành thực nghiệm trường Cao Đẳng Nông Lâm Đông Bắc………
4.1.2 Đánh giá thực trạng các mô hình làm giàu rừng năm 2012 khu thực hành thực nghiệm trường Cao Đẳng Nông Lâm Đông Bắc……
4.1.2.1 Mô hình làm giàu theo rạch………
4.1.2.2 Mô hình làm giàu theo đám………
4.2 Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sinh rừng làm giàu, khu thực hành thực nghiệm của trường Cao Đẳng Nông Lâm Đông Bắc………
4.2.1 Quy luật tương quan D - H rừng tự nhiên làm giàu khu thực hành thực nghiệm trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc………
4.2.2 Quy luật phân bố cây theo cỡ kính………
4.2.3 Cấu trúc tổ thành tầng cây cao rừng làm giàu………
4.2.4 Cấu trúc tổ thành tầng tái sinh ở rừng làm giàu………
4.2.4.1 Mật độ tái sinh………
4.2.4.2 Chất lượng tái sinh………
4.2.4.3 Quy luật phân bố tái sinh theo cấp chiều cao………
4.2.4.4 Đánh giá triển vọng tái sinh………
4.2.4.5 Công thức tổ thành và chỉ số ưu thế tầng tái sinh………
4.2.4.6 Tính đa dạng loài………
4.2.4.7 Phân bố cây tái sinh trên mặt đất………
4.2.5 Các chỉ tiêu thuyết minh đặc điểm lâm sinh rừng làm giàu bằng các loài cây bản địa khu thực hành thực nghiệm trường Cao đẳng Nông Lâm đông Bắc ………
4.3 Những ý kiến đánh giá chung………
Chương V KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ………
5.1 Kết luận………
21 22 24 32 49 49 52 55 58 58 59 60 63 63 64 65 67
68
70
Trang 85.2 Tồn tại………
5.3 Kiến nghị………
TÀI LIỆU THAM KHẢO………
Phụ bảng 01 – phụ bảng 19………
72
76
77
80 - 101
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
Với sự hiểu biết của mình, tôi nhận thấy rằng trong nhiều năm vừa qua ngành Lâm nghiệp Việt Nam đã có những chiến lược cụ thể nhằm bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Bằng nhiều nỗ lực của toàn ngành và sự giúp đỡ của các tổ chức Quốc tế, Nhà nước đã quan tâm đầu tư khá lớn tiền của để trồng rừng, phục hồi rừng tự nhiên và quản lý bảo vệ tài nguyên rừng thông qua các Chương trình mục tiêu quốc gia như Chương trình 327, Dự án Trồng mới 5 triệu ha rừng và nhiều Chương trình, Dự án khác trên phạm vi cả nước Mặc dù đã có nhiều cố gắng để nâng cao độ che phủ của rừng, diện tích trồng rừng được mở rộng, song chất lượng và năng suất của rừng vẫn chưa được cải thiện nhiều để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong công cuộc Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đất nước cũng như phát triển nông thôn mới
Về mặt lý luận và thực tế, ai cũng biết rằng rừng tự nhiên đóng vai trò hết sức quan trọng Tuy vậy trong một thời gian khá dài tốc độ khai thác lợi dụng rừng quá mạnh cộng với nạn phá rừng và sử dụng rừng sai mục đích đã làm cho rừng tự nhiên giảm sút nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng
Vì vậy, hiện nay toàn ngành nói chung đã và đang quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu và chọn lựa nhóm cây bản địa ưu thế để trồng rừng và làm giàu rừng tự nhiên
Từ những hiểu biết và suy nghĩ như vậy, bản thân chọn đề tài:
“ Nghiên cứu đặc điểm lâm sinh một số mô hình làm giàu rừng tại Trạm thực hành thực nghiệm trường Cao Đẳng Nông Lâm Đông Bắc”
Trang 10Chương I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới:
Nghiên cứu phục hồi rừng tự nhiên bằng giải pháp làm giàu rừng đã được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm từ rất sớm Từ những năm 1932 tại Cốt-đi voa, theo đề xuất của giáo sư Aubreville, người ta đã thí nghiệm làm giàu rừng trên quy mô 13.000ha bằng cách trồng cây theo rạch Ngay thời gian này, các nhà khoa học đã nhận thức rằng mở rạch trồng cây phải tạo ra điều kiện tốt nhất để cây trồng trên rạch nhận được ánh sáng trực tiếp từ mặt trời, phần còn lại được che chở trong hoàn cảnh ẩm mát của rừng Không nên phá bỏ toàn bộ rừng để xây dựng mới hoàn toàn vì việc làm này tốn kém, chỉ cần tuyển chọn vài trăm cây trồng bổ sung sẽ tạo ra một trữ lượng gỗ tập trung theo mục đích kinh tế
Ở Đông Dương, theo tác giả P.Maurand, vào những năm 1920 người ta
đã thực hiện giải pháp làm giàu rừng bằng việc trồng dặm hoặc gieo hạt thẳng các loài cây giá trị kinh tế Song kết quả không theo mong muốn vì tỷ lệ cây sống thấp lại phải cạnh tranh với dây leo cây bụi (tài liệu tham khảo của Nguyễn sơn Tùng về làm giàu rừng trên tạp chí lâm nghiệp số 7 năm 1987) H.C.Dawkins một chuyên gia lâm nghiệp nhiệt đới đã tổng kết phương pháp và xây dựng một bảng tiêu chuẩn kỹ thuật làm giàu rừng Bảng tiêu chuẩn kỹ thuật này đã được FAO chấp nhận và ấn hành trên nhiều sách kỹ thuật lâm nghiệp nhiệt đới
Nghiên cứu về đối tượng làm giàu rừng, tác giả J.Wyatt-Smit (1995) cho rằng làm giàu rừng là trồng bổ sung những loài cây có giá trị kinh tế vào những nơi thiếu hụt những cây có giá trị kinh tế ở rừng sau khai thác đã phục hồi lớp cây che phủ thứ sinh
Trang 11timber trees in Peninsular Malaysia-a review” đã tổng quan những kinh nghiêm trồng rừng gỗ lớn ở bán đảo Malaysia, tiến trình lịch sử và cuộc tranh luận lớn về quản lý rừng tự nhiên và rừng trồng, bao gồm cả những sai lầm về cơn sốt cây nhập nội mọc nhanh; các tác giả đã thảo luận về các nguyên tắc sử dụng các loài cây tiềm năng cho trồng rừng; trong cuốn sách này, hơn 40 loài cây đã được hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng lấy gỗ Mayhew, J.E và Newton, AQ.C (1998) trong cuốn sách “The silviculture of Mahogany” đã trình bày các tiến bộ KTLS trong kinh doanh cây gỗ thương mại nỗi tiếng được gọi là
Mahogany (Swietenia macrophylla) Những khó khăn trong việc trồng rừng
gỗ lớn mọc nhanh, đặc biệt đối với cây bản địa đã được các tác giả nêu lên từ rất sớm Trong đó những khó khăn chủ yếu thường là: việc lựa chọn loài cây thích hợp cho vùng lập địa, vấn đề cung cấp và bảo quản hạt giống, vấn đề cây con đem trồng (đa số cây trồng nhiệt đới không sống được bằng stump (trong khi đó một trong những nguyên nhân thành công của việc trồng Teak chính là khả năng trồng stump của loài này); KTLS đặc biệt là kỹ thuật tạo môi trường và điều khiển ánh sáng
Năng suất sinh khối của rừng phụ thuộc vào mật độ lâm phần, tức là số cây cá thể sinh trưởng trên một đơn vị diện tích Mật độ tối ưu là sô cây trên đơn vị diện tích sản xuất được lượng sinh khối cao nhất, chính là khi mà mỗi cây cá thể có một không gian sinh trưởng hợp lý nhất để khai thác tối đa các điều kiện lập địa (ánh sáng, dinh dưỡng, nước, ) Nếu mật độ quá cao, một số cây cá thể sẽ thiếu không gian sinh trưởng, chúng phải cạnh tranh với các cây xung quanh và làm giảm sinh trưởng dẫn đến năng suất sinh khối của lâm phần cũng giảm theo Ngược lại, nếu mật độ quá thấp, các cây cá thể sinh trưởng cao nhưng do số lượng cây trong lâm phần thấp nên năng suất sinh khối trên đơn vị diện tích giảm Do đó, xác định mật độ tối ưu cho rừng trồng
là nhiệm vụ quan trọng của người trồng rừng Nhiều tác giả đã xác định mật
Trang 12độ tối ưu bằng tổng diện tích tán trên mặt bằng diện tích Những nghiên cứu
về mật độ đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm từ rất sớm Các thí nghiệm xác định mật độ thích hợp trồng rừng cũng đã được tiến hành Ví dụ Evans, J (1992), đã bố trí 4 công thức mật độ trồng rừng khác nhau (2985,
1680, 1075, 750cây/ha) cho Bạch đàn (E deglupta) ở Papua New Guinea sau
5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ, nhưng tổng trữ lượng cây gỗ đứng của rừng
vẫn nhỏ hơn các công thức mật độ cao Khi nghiên cứu về Thông (P
caribeae) ở Qeensland (Australia) thí nghiệm với 5 công thức mật độ khác
nhau (2200, 1680, 1330, 750 cây/ha), sau 9 năm trồng cũng đã thu được kết quả tương tự
2.2 Những nghiên cứu trong nước:
Ở Việt nam, ngay từ những năm đầu của thập niên 60, vấn đề khoanh nuôi phục hồi rừng đã được quan tâm chỉ đạo với quan điểm khoanh núi nuôi rừng Tuy nhiên còn ít chú ý về giải pháp kỹ thuật lâm sinh trong phục hồi rừng nên hiệu quả còn rất hạn chế
Năm 1960, Cục Điều tra quy hoạch rừng áp dụng cách phân loại các loại hình rừng của Loschau để đề xuất các biện pháp lâm sinh Rừng được chia làm 4 loại hình:
- Loại I: gồm những đất hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, loại này cần gây trồng rừng
- Loại II: gồm những rừng non, cần khoanh nuôi hay làm giàu rừng
- Loại III: gồm những loại rừng bị khai thác mạnh trở nên nghèo kiệt, cần nuôi dưỡng, làm giàu rừng
- Loại IV: những rừng còn bị ít tác động hay chưa bị tác động
Giai đoạn 1980-1985 đã tập trung các nghiên cứu về các giải pháp kỹ
Trang 13Nguyễn Văn Trương (1984) với các công trình “Một số biện pháp lâm sinh trong thiết kế kinh doanh rừng tự nhiên hỗn giao lá rộng”, “Nghiên cứu về trúc phục vụ công tác khai thác nuôi dưỡng” đã đề suất các mô hình cấu trúc chuẩn làm căn cứ cho khai thác và nuôi dưỡng rừng Vũ Đình Phương (1988)
“Nghiên cứu xác định cấu trúc quần thể phù hợp cho từng đối tượng và mụctiêu điều chế” đã nêu lên quan điểm là phải tìm trong thiên nhiên các cấu trúc mẫu có năng suất cao đáp ứng mục tiêu kinh tế cho từng khu vực và hướng rừng theo các mẫu chuẩn đó Bảo Huy (1993) đã vận dụng lý thuyết mẫu chuẩn tự nhiên để lựa chọn thiết lập các mô hình cấu trúc N/D1,3 chuẩn cho các đơn vị phân loại của rừng bằng lăng Tây Nguyên và đề xuất điều chỉnh cấu trúc N/D1,3 theo cấu trúc chuẩn
Nuôi dưỡng rừng sau khai thác cũng đã được đặt ra khá lâu nhưng chỉ sau năm 1975 và thập kỷ 80 mới có các nghiên cứu sâu về cấu trúc của rừng làm nền tảng cho các biện pháp lâm sinh trong đó có kỹ thuật nuôi dưỡng và làm giàu rừng
Về nghiên cứu phân loại rừng ở Việt nam đã được nhiều tác giả ngoài nước quan tâm từ rất sớm Thái Văn Trừng (1978) [25] công bố hệ thống phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam Đây là công trình phân loại rừng hoàn chỉnh và có nhiều căn cứ xác đáng Ông đã phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam và chia thành 14 kiểu thảm thực vật Trong 14 kiểu rừng, kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới là kiểu phong phú nhất
Về các biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng tự nhiên ở nước
ta, rất nhiều phương thức đã được nghiên cứu từ khoanh nuôi đơn giản chỉ tiến hành bảo vệ tới các phương thức có tác động tích cực hơn tra dặm thêm hạt giống, trồng bổ sung Thời gian này cũng là thời gian thử nghiệm nhiều phương thức cải tạo rừng mà sau này gọi là làm giầu rừng Một số loài cây kinh tế của rừng tự nhiên đã được nghiên cứu kỹ thuật gây trồng và đưa vào
Trang 14các mô hình làm giầu theo băng, rạch Các thử nghiệm cũng đã được tiến hành với qui mô khá lớn nhưng kết quả còn nhiều hạn chế do chưa có các nghiên cứu cơ bản về đặc tính lâm học của loài Quan hệ tương tác giữa các loài trong các nhóm sinh thái cũng chưa được biết đến do vậy một số loài được trồng chỉ sinh trưởng trong giai đoạn đầu sau đó không phát triển được Tuy vậy cũng đã có một vài mô hình có triển vọng với chế độ chăm sóc và
mở tán kịp thời cho cây trồng làm giầu rừng
Trong chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước 1990-1995 về
“Khôi phục rừng và phát triển lâm nghiệp” gồm 14 đề tài trong đó một số đề tài đã đi sâu giải quyết các vấn đề cơ bản như đánh giá tiềm năng đất lâm nghiệp đã nêu lên các nguyên tắc phân chia và sử dụng đất (Đỗ Đinh Sâm) Nghiên cứu xác định cơ sở khoa học thâm canh rừng cây gỗ lớn (Vũ Biệt Linh) với việc xác định các nhóm loài sinh thái trong rừng tự nhiên ở một số vùng Công tác phục hồi rừng tự nhiên với kỹ thuật nuôi dưỡng và làm giầu rừng đã có cơ sở và được thí nghiệm ở một số vùng trọng điểm trong đó có
mô hình tại Câù Hai rất có triển vọng
Với mục tiêu phát triển rừng và nghề rừng bền vững, các nhà lâm nghiệp Việt nam đã quan tâm nhiều đến các giải pháp lâm sinh thông qua các hoạt động nghiên cứu, thực nghiệm Năm 1992 Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã tổng kết và ban hành quy phạm kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng gỗ và tre nứa
Từ các kết quả nghiên cứu và tổng kết thực tế đã khẳng định những giải pháp kỹ thuật lâm sinh đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt và dễ áp dụng, vì vậy năm 1998 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành quy phạm về khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung để làm giàu rừng
Trang 15Để khai thác và phục hồi rừng tự nhiên có định hướng, các nghiên cứu liên quan đến làm giàu rừng tập trung vào việc nghiên cứu cấu trúc rừng trước
và sau khai thác nhằm mục tiêu xây dựng cấu trúc rừng chuẩn như nghiên cứu của Thái văn Trừng (1978), Trần ngũ Phương (1970)[17]về cấu trúc sinh thái Nguyễn văn Trương (1983) nghiên cứu về cấu trúc rừng hỗn loài… Tuy vậy những nghiên cứu trên thường thiên về mô hình hóa quy luật cấu trúc, ít đề cập đến các nhân tố tác động trực tiếp đến cây trồng
Khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt nam, Thái Văn Trừng (1978) [25] đã nhấn mạnh vai trò và ý nghĩa của điều kiện ngoại cảnh đến các giai đoạn phát triển cây tái sinh, đặc biệt là nhân tố ánh sáng
Nhìn chung khi nghiên cứu về tái sinh rừng tự nhiên, các tác giả đều nhận định rằng thảm cỏ và lớp cây bụi ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng cây tái sinh của các loài cây thân gỗ Những lâm phần qua khai thác, thảm cỏ và cây bụi có điều kiện phát triển mạnh là nhân tố ảnh hưởng xấu đến tái sinh rừng
Tác giả Nguyễn văn Trương (1985) nghiên cứu phương pháp làm giàu rừng theo rạch đã đưa ra những cơ sở khoa học về trồng cây theo rạch như việc xử lý chiều cao tầng rừng, phát quang các rạch trồng cây, phương pháp chăm sóc cây trồng trong 3 năm đầu
Nguyễn sơn Tùng (1987) đã ứng dụng những kỹ thuật làm giàu rừng của FAO và nhấn mạnh 2 nguyên tắc cơ bản trong làm giàu là: kỹ thuật xử lý rừng cũ trước khi trồng và việc chọn loài cây làm giàu
Giai đoạn 1990 – 1995 Viện khoa học Lâm nghiệp Việt nam đã tiến hành nghiên cứu thâm canh rừng tự nhiên vào đối tượng rừng tự nhiên nghèo kiệt ở Phú thọ và Tây nguyên Nghiên cứu đã chú ý đến vấn đề chọn loài cây
có giá trị kinh tế và khả năng sinh trưởng của chúng, vấn đề hạ thấp tầng cây cao ở băng chừa và bề rộng băng trồng cây Sau 5 năm nghiên cứu, các tác giả
Trang 16đã rút ra nhận xét như sau: Một trong những khâu quan trọng nhất của kỹ thuật làm giàu rừng là kỹ thuật xử lý thảm thực vật và thời điểm xử lý
Hồ đức Soa (1997 – 2000) nghiên cứu về phục hồi nuôi dưỡng rừng tự nhiên lá rộng vùng Bắc Tây nguyên bằng giải pháp ken chặt 40% - 70% cây không có giá trị kinh tế và thí nghiệm làm giàu theo băng chặt 7m và 8m bằng các loài Giổi nhung, Sao đen…với mật độ 300 cây/ha Kết quả đã phục hồi rừng nghèo cả về chất lượng và trữ lượng gỗ
Kết quả nghiên cứu của trường Trung học Lâm nghiệp I TW từ những năm 1995 về giải pháp làm giàu rừng theo lỗ trống trong rừng tự nhiên nghèo kiệt ở khu rừng thực nghiệm nghiên cứu khoa học của trường bằng những loài lim xẹt, dẻ bốp, ràng ràng mít đã cho kết quả sinh trưởng của 3 loài cây này đều phù hợp với điều kiện lập địa ở Quảng ninh
Giai đoạn 2001 – 2005 Nguyễn quang Khải và các cộng sự của tác giả đã nghiên cứu phục hồi hệ sinh thái rừng thoái hóa bằng biện pháp kỹ thuật lâm sinh làm giàu rừng theo băng 10m, theo đám và theo lỗ trống bằng nhiều loài cây bản địa ở vùng núi phía Bắc Việt Nam Dự án kết hợp mô hình nông lâm bước đầu đã thu được kết quả tốt Mô hình có tỷ lệ sống cao
Trong lĩnh vực cải thiện giống, nổi bật là công trình nghiên cứu của Lê Đình Khả và các cộng sự (2003) đã chọn lọc cây trội, xây dựng vườn giống, nghiên cứu cải thiện giống các loài Bạch đàn, Thông caribê, Thông ba lá, Thông nhựa, Thông đuôi ngựa,… Đặc biệt là đã chọn được các dòng Keo lai sinh trưởng nhanh, được sử dụng rộng rãi trong sản xuất trên phạm vi cả nước Gần đây Trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng đã nghiên cứu lai giống nhân tạo cho các loài keo, bạch đàn và thông, tạo ra được một số tổ hợp lai rất
có triển vọng Đó chính là cơ sở tiền đề để tiến hành công việc chọn giống tiếp theo Tuy nhiên, các nghiên cứu về cải thiện giống cây bản địa vẫn còn
Trang 17Sản xuất cây con là một công đoạn quan trọng góp phần quyết định sự thành công của trồng rừng và làm giàu rừng Số lượng và chất lượng cây con phụ thuộc rất nhiều vào nguồn giống, chất lượng hạt giống và phương pháp tạo cây con Do đó, các kỹ thuật thu hái, bảo quản, xử lý cũng như các kỹ thuật vườn ươm là các vấn đề mà các nhà lâm học phải quan tâm Đối với các loài cây nhập nội mọc nhanh như Keo, Bạch đàn … công nghệ nhân giống bằng hom và nuôi cấy mô đã tạo ra những tiến bộ vượt bậc Không kể các vườn ươm công nghệ cao qui mô nhỏ, có công suất hàng triệu cây con /năm trên các vùng Bắc, Trung, Nam
Nghiên cứu xác định các nhân tố ảnh hưởng của các biện pháp kỹ thuật tác động đến sinh trưởng và năng suất cây trồng còn nhiều vấn đề cần giải quyết và làm rõ hơn đối với các loại cây trồng trên từng điều kiện lập địa Trồng cây là giải pháp được sử dụng để tạo rừng mới và /hoặc trồng bổ sung làm giàu rừng Trước hết, nói về phương thức trồng rừng: có nhiều phương thức khác nhau: (i) Trồng rừng thuần loài đồng tuổi: đây là phương thức trồng độc canh một loài duy nhất trên một diện tích nhất định, phương thức này thường áp dụng cho rừng công nghiệp với các loài mọc nhanh (Thông, Bạch đàn, Keo, Mỡ …) Ưu điểm của phương thức này là cho năng suất cao, hiệu quả kinh tế, dễ quản lý … Nhưng nhược điểm của phương thức này là kém bền vững về sinh thái, rất dễ bị sâu bệnh và các rủi ro khác; (ii) Trồng rừng hỗn loài đồng tuổi: đây là phương thức trồng cùng một lúc từ hai đến nhiều loài trên cùng một diện tích Phương pháp hỗn giao có thể theo hàng, theo đám, theo băng … Ưu điểm của phương thức này là bền vững về mặt sinh thái, tránh được dịch bệnh và các rủi ro, nhược điểm là khó thiết lập và quản lý; (iii) Phương thức trồng rừng dưới tán: đây là phương thức tạo ra rừng nhiều tầng, khác tuổi bằng cách trồng một loài hoặc nhiều loài vào các thời điểm khác nhau Ưu điểm là tạo ra rừng bền vững gần tự nhiên nhưng kỹ
Trang 18thuật phức tạp và tốn kém hơn Các thành tựu trong nghiên cứu và ứng dụng
về phương thức trồng rừng trong những năm qua là rất khả quan Đặc biệt là những tiến bộ trong phương thức tạo rừng hỗn loài bằng cây bản địa Các kỹ thuật tạo áo, điều chỉnh ánh sáng đã được phát triển và áp dụng thành công cho nhiều loài như Trám, Giổi, Sao đen, các loài họ Dầu …Các kỹ thuật trồng rừng cũng có nhiều thành tựu và tiến bộ trong nghiên cứu và thực tiễn, đặc biệt là các thành tựu trong kỹ thuật trồng rừng thâm canh với suất đầu tư cao
để nâng cao năng suất và chất lượng rừng
Có thể đánh giá một cách tổng quan vấn đề phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt bằng các giải pháp kỹ thuật lâm sinh như: Nuôi dưỡng và thâm canh rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, làm giàu rừng ở Việt nam
đã được toàn ngành quan tâm chỉ đạo từ rất nhiều năm nay Trong giải pháp làm giàu rừng đã thực hiện các nội dung cụ thể như làm giàu rừng theo đám, theo băng, theo rạch…Loài cây làm giàu rừng cũng rất phong phú Đối tượng làm giàu rừng chủ yếu là rừng nghèo kiệt sau khai thác Vùng thực hiện nhiều nhất là các tỉnh miền trung và Tây nguyên
Mặc dù đã đạt nhiều thành công nhất định song trong kỹ thuật làm giàu rừng vẫn còn nhiều vấn đề phức tạp và hạn chế khi áp dụng trong thực tiễn nhất là khâu xử lý thảm thực bì trước khi trồng cây, vấn đề chọn loài cây làm giàu và tổng kết kinh nghiệm từ thực tế để bổ sung hoàn thiện và nhân rộng
mô hình
Một mô hình làm giàu rừng có hiệu quả về mặt kinh tế và kỹ thuật đòi hỏi phải có thời gian cần thiết để theo dõi, phát hiện vấn đề và bổ sung kịp thời để tổng kết đánh giá Vấn đề này chưa được chú ý nhiều nhất là công tác quản lý bảo vệ mô hình sau khi thời gian nghiên cứu kết thúc
Những kết quả nghiên cứu trong nước và trên thế giới về phục hồi rừng
Trang 19cơ sở khoa học để xem xét, phân tích, và tổng kết những mô hình làm giàu rừng của Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc trên diện tích gần 1000ha rừng và đất rừng nhà trường quản lý từ nhiều năm nay
Trang 20
Chương II MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Góp phần vào nghiên cứu cơ bản về đặc điểm lâm sinh của rừng làm giàu, qua đó làm sáng tỏ cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn của giải pháp khoanh nuôi, phục hồi và làm giàu rừng tự nhiên sau nương rẫy và khai thác kiệt
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
+ Đánh giá được những đặc điểm lâm sinh của rừng làm giàu thông qua
sự tác động của con người bằng giải pháp kỹ thuật lâm sinh làm giàu rừng bằng các loài cây bản địa trên cơ sở khoa học về cấu trúc rừng
+ Kết quả nghiên cứu và đánh giá từ thực tiễn là cơ sở khoa học để bổ sung, đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh cụ thể tác động vào đối tượng rừng tự nhiên nghèo kiệt nhằm phục hồi lại những khu rừng đang bị tác động
do con người và thiên nhiên gây ra
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Là rừng tự nhiên đã qua tác động của con người trong công tác khoanh nuôi và làm giàu rừng bằng những loài cây bản địa
Do thời gian có hạn, đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu ở 01 địa bàn là khu rừng thực hành thực nghiệm của trường Cao Đẳng Nông Lâm Đông Bắc tại phường Bắc Sơn, thành phố Uông Bí với diện tích gần 1000ha rừng và đất rừng
2.3 Nội dung nghiên cứu:
Đề tài sẽ tập trung vào những vấn đề chính sau đây:
Trang 21+ Phân tích, đánh giá kết quả về kỹ thuật làm giàu rừng bằng một số loài cây bản địa của trường Cao Đẳng Nông Lâm Đông Bắc đã thực hiện trong nhiều năm qua
+ Nghiên cứu những đặc điểm lâm sinh của rừng làm giàu thông qua việc xem xét một số quy luật cấu trúc rừng như: Quy luật tương quan giữa đường kính với chiều cao, quy luật phân bố cây theo cấp kính, quy luật tái sinh…
2.3.1 Nội dung nghiên cứu
2.3.2 Phân tích, đánh giá kết quả các hoạt động phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt khu rừng thực hành thực nghiệm trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc
Nội dung cụ thể bao gồm:
+ Hiện trạng rừng khu thực hành thực nghiệm trường Cao Đẳng Nông Lâm Đông bắc
+ Các hoạt động phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt
2.3.3 Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sinh rừng làm giàu, khu thực hành thực nghiệm của trường Cao Đẳng Nông Lâm Đông Bắc
+ Quy luật tương quan D - H rừng tự nhiên làm giàu khu thực hành thực nghiệm trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc
+ Quy luật phân bố cây theo cỡ kính
+ Cấu trúc tổ thành tầng cây cao rừng làm giàu
+ Cấu trúc tổ thành tầng tái sinh ở rừng làm giàu
+ Các chỉ tiêu thuyết minh đặc điểm lâm sinh một số mô hình làm giàu tại trạm thực hành thực nghiệm trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc
2.3.4 Những ý kiến tham gia và đề xuất mới
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Quan điểm và phương pháp luận
Trang 22Mỗi một loài cây trong quá trình sinh trưởng và phát triển từ khi hạt giống nảy mầm đến khi chết đi đều ở một vị trí nhất định Do thích ứng lâu dài với hoàn cảnh sinh thái cụ thể đã tạo nên vùng phân bố riêng của mình và tạo nên hệ sinh thái rừng Mỗi loài cây khác nhau có những đặc tính sinh thái khác nhau nên kỹ thuật gây trồng khác nhau Đây chính là quan điểm khi xem xét, đánh giá về các mô hình làm giàu rừng
Quan điểm chung về nghiên cứu và xây dựng các giải pháp kỹ thuật lâm sinh trong đó có giải pháp kỹ thuật làm giàu rừng đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước đề cập và tổng kết thành nguyên lý cơ bản Khoa học đã chứng minh và khẳng định rừng thứ sinh nghèo kiệt sau thời gian dài được phục hồi bằng những giải pháp kỹ thuật lâm sinh tích cực sẽ làm thay đổi cấu trúc rừng, và tất nhiên rừng phục hồi sẽ có những đặc điểm lâm sinh khác biệt với rừng nghèo kiệt trước đó
Xuất phát từ những nhận thức như vậy, hướng nghiên cứu của đề tài dựa trên phương pháp luận sau đây:
- Lấy không gian thay thế thời gian Trong giới hạn khoảng thời gian cho phép và địa điểm thực hiện đề tài, cần khai thác triệt để các mô hình mà đơn vị đã thực hiện mà bản thân đã biết như: mô hình làm giàu rừng theo băng, theo các lỗ trống trong rừng tự nhiên, làm giàu rừng theo đám hoặc trên diện tích tập trung ở đối tượng rừng lùm bụi không có khả năng phục hồi thành rừng để phân tích đánh giá thực trạng của rừng
- Phương pháp kế thừa và nhất quán trong quá trình thu thập tài liệu ngoại nghiệp cũng như xử lý tài liệu Sử dụng các phần mềm Excel để xử lý thống kê toán học trong lâm nghiệp trong việc nghiên cứu tìm hiểu các quy luật cấu trúc rừng
- Trên quan điểm tổng hợp, phân tích đánh giá kết quả thực tế, nêu rõ
Trang 23đẳng Nông Lâm Đông Bắc và tham gia đóng góp ý kiến nhằm mục tiêu nhân rộng những mô hình có hiệu quả về kinh tế và kỹ thuật
2.4.2 Phương pháp cụ thể
a Phương pháp điều tra thu thập số liệu nghiên cứu
- Kế thừa các tài liệu điều tra cơ bản và những kết quả nghiên cứu của trường về những giải pháp kỹ thuật làm giàu rừng
- Phương pháp chọn và lập ô tiêu chuẩn điển hình và ô dạng bản: Lập ô tiêu chuẩn điển hình tạm thời, diện tích ô là 1000m2 (20m x 50m), các ô tiêu chuẩn bố trí trên 3 điều kiện địa hình khác nhau (chân, sườn, đỉnh) Mỗi ô tiêu chuẩn lập 5 ô dạng bản (ở 4 góc và chính giữa) diện tích ô dạng bản 25m2
(5m x 5m)
- Điều tra thu thập số liệu:
Đo đếm toàn diện những cây trong ô tiêu chuẩn về đường kính 1m3, đường kính tán và chiều cao vút ngọn Đo đường kính 1m3 thân cây bằng thước đo đường kính, lấy đến 0,1cm; đo chiều cao vút ngọn bằng thước đo cao hoặc sào đo cao, lấy đến 0,1m Đo đường kính tán cây 2 chiều vuông góc với nhau bằng cách xác định hình chiếu đứng tán cây trên mặt đất và đo trực tiếp bằng thước dây
Kết quả đo đếm được phân loại theo 3 cấp chất lượng:
Cây tốt: là cây có tán phát triển đều xanh tốt, thân thẳng, không bị khuyết tật, không sâu bệnh
Cây trung bình: tán lá phát triển bình thường, có khuyết tật nhưng không đáng kể
Cây xấu: là cây tán lệch nhiều, thân hình cây cong queo, nhiều khuyết tật
và sâu bệnh
Điều tra tái sinh, cây bụi, thảm tươi:
Trang 24+ Đo toàn bộ chiều cao cây tái sinh có đường kính dưới 6 cm, xác định
rõ tên cây tái sinh và thống kê theo những nội dung sau:
Thống kê theo 3 cấp chất lượng: cây tốt: là cây có tán phát triển đều
xanh tốt, thân thẳng, không bị khuyết tật, không sâu bệnh Cây trung bình: tán
lá phát triển bình thường, có khuyết tật nhưng không đáng kể Cây xấu: là cây
tán lệch nhiều, thân hình cây cong queo, nhiều khuyết tật và sâu bệnh
Thống kê theo nguồn gốc tái sinh (tái sinh hạt hay chồi)
Thống kê theo 4 cấp chiều cao: Cấp I: < 0,5m, Cấp II: từ 0,5m – 1m, Cấp
III: từ 1m – < 2m, Cấp IV: > 2m
+ Điều tra cây bụi, thảm tươi: chỉ tiêu thống kê bao gồm: tên cây bụi, số
lượng và chiều cao bình quân Tên và số lượng dây leo Mục trắc độ che phủ
của thảm tươi (%)
+ Trên diện tích ô dạng bản, các cây tái sinh phân bố ngẫu nhiên , chọn
ngẫu nhiên 1 điểm P và đo các khoảng cách r từ điểm P đến các cây tái sinh
gần nhất, gần thứ 2, , gần thứ 5 để nghiên cứu mô hình phân bố cây tái sinh
trên mặt đất
b Phương pháp xử lý và tính toán số liệu:
- Tổng hợp số liệu đo đếm tầng cây cao cho tất cả các ô tiêu chuẩn, tính
các trị số bình quân về chiều cao theo cấp kính
- Mô phỏng mối quan hệ tương quan giữa chiều cao vút ngọn và cấp
kính theo mô hình toán: H = a + b logd
Quy luật phân bố giảm số cây theo cỡ kính bằng hàm Meyer: y= x
e
.
với sự trợ giúp của phần mềm Exel và các bước tính theo trình lệnh Tools –
Data Analysis – Regression
Đánh giá mức độ phù hợp của phương trình theo tiêu chuẩn
Trang 252 1
2 1
n
S n S
x x
S : là 2 phương sai của 2 mẫu
n1 và n2: là dung lượng quan sát của 2 mẫu
Nếu U > 1,96 thì 2 số trung bình mẫu có sự sai khác rõ rệt và ngược lại
- Tính toán xác định các đặc trưng mẫu theo trình lệnh Tools – Data
1
Ki là hệ số tổ thành của loài thứ I, được tính theo công thức:
Ki =
i n
n
x 10 Trong đó: ni: là số cá thể của loài i nào đó; n i : là tổng số cây Một loài nào đó có tần suất lớn hơn hoặc bằng 5% thì loài đó được
tham gia vào công thức tổ thành Ngược lại, những loài có tần suất nhỏ hơn
5% thì loài đó không tham gia vào công thức tổ thành
n
- Xác định tính đa dạng loài thông qua chỉ số Simpon tính theo công
thức sau:
Trang 26+ Đối với mẫu không giới hạn: D = 1 -
m
i i P
n n
1
Với:
ni : là số lượng cá thể của loài thứ i
N : là tổng số cây của các loài
Pi : là tần suất của loài thứ i
- Để nghiên cứu mô hình phân bố cây tái sinh trên mặt đất, dùng tiêu chuẩn U của Clark và Evans theo công thức:
26136 , 0
* 5 , 0
Với:
r: là giá trị khoảng cách bình quân của n lần quan sát
: là Mật độ tái sinh trên một đơn vị diện tích (m2
) n: là dung lượng mẫu
Nếu:
U 1,96 thì phân bố tái sinh trên mặt đất là phân bố ngẫu nhiên
U > 1,96 thì phân bố tái sinh trên mặt đất là phân bố cách đều
U - 1,96 thì phân bố tái sinh trên mặt đất là phân bố cụm
Trang 27Chương III
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Điều kiện tự nhiên ;
Khu rừng thực hành thực nghiệm của trường thuộc địa phận của 2 phường Bắc Sơn và Vàng Danh Thành phố Uông Bí, cách xa trường 15 km
Ở vị trí 21,03 đến 21,06 vĩ độ bắc, 106,09 độ kinh Đông Ranh giới tự nhiên được xác định như sau:
Phía Bắc: Giáp các khoảnh 46, 47 và 50 thuộc phân trường 5 Công ty lâm nghiệp Uông Bí
Phía Nam: Giáp phường Bắc Sơn
Phía Đông: Giáp xã Bằng Cả huyện Hoành Bồ
Phía Tây: Giáp các khoảnh 51, 66 phân trường 5 Công ty lâm nghiệp Uông Bí
Khu rừng thực hành thực nghiệm gồm 8 khoảnh với tổng diện tích tự nhiên: 979,6 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên : 540,9 ha phân bố ở cả 8 khoảnh
Địa hình địa thế tổng quát được bao quanh bởi 2 dãy núi chính chạy theo hướng Bắc Nam Dãy thứ nhất có đỉnh cao 495m ở phía Đông Dãy thứ hai có đỉnh cao 360m ở phía Tây Giữa khu rừng có một đường trục chính dài khoảng 6km chạy quanh co men theo suối đá có nước chảy quanh năm
Về đất đai: Sơ bộ đánh giá có 7 loại đất chính thuộc hai nhóm đất hình tại chỗ và bồi tụ, phát triển trên đá mẹ sa thạch và cuội sạn kết Độ sâu trung bình tầng đất từ 0,5 đến 1m, độ phì đất trung bình
Về khí hậu thủy văn: Có hai mùa rõ rệt Mùa khô hanh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 với lượng mưa trung bình
từ 1700 đến 2000 mm
Hướng gió hại chính đến sinh trưởng cây trồng là gió mùa Đông Bắc
Trang 28Nhiệt độ trung bình năm từ 18 đến 210C, tháng nóng nhất thường vào tháng 6-7 với nhiệt độ > 300C và những tháng mùa khô độ ẩm dưới 70%
3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội:
Dân cư quanh khu rừng tập trung ở 2 khu vực chính Khu Đồng Bống ở phía Bắc thuộc phường Vàng Danh với hơn 100 nhân khẩu Nghề nghiệp chính của họ là làm nông nghiệp và ảnh hưởng không nhỏ đến tác động tiêu cực vào rừng Khu vực thứ 2 là phường Bắc Sơn mật độ dân cư đông đúc, đời sống người dân còn nghèo, nguồn sống chính là buôn bán nhỏ
Về hiện trạng rừng: Một số diện tích rừng trồng sau 4 năm chăm sóc
và bảo vệ nhưng chất lượng rừng thấp, cây sinh trưởng kém, bị chết nhiều, mật độ còn lại chỉ bằng 60% so với mật độ trồng ban đầu, nhiều cây bụi thảm tươi xâm lấn vào các khoảng trống hình thành kiểu rừng như trạng thái Ic Nếu tiếp tục nuôi dưỡng thì hiệu quả sử dụng đất không cao
Rừng phục hồi sau khai thác chất lượng tầng cây cao kém, mật độ không đảm bảo để nuôi dưỡng kinh doanh thành rừng gỗ nhỏ (chỉ đạt trung bình 200 cây/ha, thậm chí có những lô không còn tầng cây cao) Mật độ cây tái sinh có triển vọng (trên 2m) dưới 500 cây/ha Xếp loại trạng thái Ic (rừng cây bụi xen lẫn tái sinh)
Rừng hỗn loại tự nhiên không đều tuổi trạng thái IIIa1 nghèo kiệt sau khai thác chọn thô nhiều lần, những cây còn lại chất lượng kém, mật độ thấp, tầng tái sinh mật độ không đảm bảo để thay thế tầng cây cao, tán rừng bị phá
vỡ và tạo nhiều khoảng trống trong rừng (có nơi khoảng trống hay thực bì chỉ
là cây bụi, dây leo rộng đến vài ha) Thực vật rừng rất phong phú với trên 100 loài khác nhau Theo số liệu phúc tra năm 2011 của trường, có ít nhất 20 loài chiếm ưu thế thuộc các họ sồi giẻ (Fagaceae), họ long não (Lauraceae), họ vang (Caesalpiniaceae)
Trang 30Chương IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Các hoạt động phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt
4.1.1 Những nét chính về làm giàu rừng khu thực hành thực nghiệm trường Cao Đẳng Nông Lâm Đông Bắc
Có thể nhận thấy rừng tự nhiên khu thực hành thực nghiệm của trường Cao Đẳng Nông Lâm Đông Bắc gồm 3 kiểu trạng thái điển hình là:
+ Rừng Ic
+ Rừng IIa
+ Rừng IIIa1 nghèo kiệt, chất lượng tầng cây cao kém
Để phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt, từ những năm 1990, nhà trường
đã tiến hành 3 giải pháp kỹ thuật chính sau:
+ Khoanh nuôi bảo vệ
+ Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp với trồng bổ sung
+ Làm giàu rừng
Các đối tượng làm giàu rừng, hầu hết tầng cây cao chất lượng kém được khai thác, chiều cao bình quân của tán rừng còn lại từ 5 – 10m, rừng được luỗng phát triệt để dây leo có hại và xử lý các gốc chặt do khai thác không hợp lý lâu ngày Đồng thời với bước hạ tán tầng cây cao và phát luỗng rừng là công việc mở rạch, xử lý các băng chừa, phát dọn thực bì trên các khoảng trống trong rừng để trồng bổ sung các loài cây bản địa làm giàu rừng
Về nguyên tắc kỹ thuật:
Tôn trọng và tận dụng sự hỗ trợ của nền rừng cũ, trồng bổ sung cây làm giàu tạo thành rừng hỗn loài với cây rừng đã có sẵn, trong đó cây làm giàu chiếm ưu thế
Trang 31Cây trồng làm giàu rừng là những loài cây địa phương hoặc được dẫn giống từ nơi khác có đặc điểm sinh thái phù hợp với nơi làm giàu rừng, đặc biệt quan tâm chọn những loài dễ trồng, sinh trưởng nhanh về chiều cao, sẵn
có về nguồn giống
Tiêu chuẩn cây giống trong công tác trồng rừng nói chung, đặc biệt trong làm giàu rừng có vị trí quan trọng đến chất lượng và sự thành công của rừng làm giàu sau này Nhìn chung cây trồng làm giàu rừng phải có cỡ bầu to hơn (nếu trồng cây bằng bầu), chiều cao thường lớn hơn gấp 2 đến 3 lần cây trồng rừng toàn diện
Công tác phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt bằng những giải pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung những loài cây bản địa hoặc làm giàu rừng bằng phương thức mở rạch, trồng theo đám… đòi hỏi việc lựa chọn và chuẩn bị cây giống đảm bảo và luôn chủ động để trồng cây đúng thời vụ Trong những năm qua nhà trường đã chọn nhiều loài cây bản địa khác nhau như: Sồi phảng, Lim xẹt, Táu ruối, các loài cây trong họ sồi giẻ, cây nhập ngoại như Lát Mêxico, Giổi bắc, Mễ lao bài, một số dòng bạch đàn cao sản của Trung Quốc…Nhà trường đã thành công trong việc gieo ươm một
số giống mới như Lát Mêxico, Giổi bắc Nhiều mô hình làm giàu rừng đã đem lại hiệu quả thiết thực về kỹ thuật và kinh tế Nhiều loài cây bản địa khác nhau được trồng bổ sung vào rừng tự nhiên thuộc đối tượng cần phục hồi đã góp phần không nhỏ làm thay đổi diện mạo và cấu trúc rừng
4.2 Đánh giá thực trạng các mô hình làm giàu rừng tại khu thực hành thực nghiệm trường Cao Đẳng Nông Lâm Đông Bắc
Trong kinh doanh lâm nghiệp, bất kỳ một giải pháp kỹ thuật nào khi tác động vào rừng, người ta đều lấy hiệu quả về kinh tế và môi trường làm mục tiêu để lựa chọn
Trang 32Làm giàu rừng, hiểu theo nghĩa rộng là sự vận dụng tổng hợp và khôn khéo các giải pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm định hướng cho rừng phát triển theo đúng quy luật tự nhiên của nó Từ những số liệu tổng hợp của nhà trường
và số liệu điều tra đo đếm bổ sung, đề tài tiến hành phân tích kết quả các mô hình làm giàu rừng trên các khía cạnh sau đây:
- Phân tích về nội dung kỹ thuật thực hiện các mô hình cụ thể
- Phân tích và so sánh tình hình sinh trưởng của các loài cây làm giàu rừng, xác định được những nhân tố ảnh hưởng tích cực và bất lợi đến khả năng sinh trưởng của cây trồng làm giàu rừng
- Phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình
4.2.1 Mô hình làm giàu theo rạch
Hầu hết các mô hình làm giàu rừng theo rạch được thực hiện từ những năm 1995 đến năm 2000 không còn tồn tại nguyên vẹn, do nhiều nguyên nhân khác nhau:
Về nguyên nhân chủ quan:
Sau khi kết thúc đề tài, đơn vị không có điều kiện về kinh tế để tiếp tục theo dõi, quản lý và đánh giá tình hình sinh trưởng và phát triển của cây trồng làm giàu trên các rạch
Một số mô hình làm giàu theo rạch trên phạm vi lớn bằng các loài bạch đàn đến tuổi 9 đã khai thác toàn diện và trồng lại rừng theo dự án 661
Chủ nhiệm các đề tài thay đổi vị trí công tác vì thế đề tài không được quan tâm theo dõi và đề xuất hướng phát triển, đặc biệt là những mô hình làm giàu rừng theo rạch bằng loài lim xẹt và sồi phảng
Về nguyên nhân khách quan:
Khu thực hành thực nghiệm của trường chịu sức ép không nhỏ của người dân địa phương, nhiều lô rừng tự nhiên khoanh nuôi xúc tiến tái sinh
Trang 33được đầu tư để luỗng phát vệ sinh rừng càng thuận tiện để người dân ra vào rừng lựa chọn khai thác vì mục đích kinh tế
Vì vậy trên các rạch trồng lim xẹt và sồi phảng ở độ tuổi 6 -7 năm đa phần đã đạt đường kính từ 10 – 15 cm bị khai thác làm gỗ mỏ hoặc làm gỗ hoành nhà
Có mô hình không thành công do yếu tố kỹ thuật xử lý rạch trồng cây
và các băng chừa lại cũng như việc lựa chọn đất chưa phù hợp theo đặc tính sinh thái của loài, như mô hình trồng theo rạch bằng cây lát Mêxico năm
1996
Mô hình này đã được tổng kết và đánh giá năm 2003 của đề tài gieo ươm gây trồng thử nghiệm cây Lát Mêxico; được Hội đồng khoa học của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn phân tích cho rằng: Cây Lát Mêxico không thích hợp trồng rừng toàn diện, không thích hợp với điều kiện đất chua nghèo dinh dưỡng
Lát Mêxico là loài có hệ rễ bàng phát triển rất mạnh vì thế nhiều khuyến cáo cho rằng tạo cây rễ trần nuôi trong vườn từ 1 - 3 năm đánh đem trồng hiệu quả sẽ tốt hơn cây trồng tạo bầu nhỏ như hiện nay Loài cây này chỉ thích hợp với điều kiện trồng cây phân tán ở công sở, trồng theo mô hình nông lâm kết hợp với chè, cà phê, cao su… ở vùng đất đỏ Ba zan
Quan sát và đo đạc những cây Lát Mêxico trồng phân tán tại khu làm việc Trạm thực hành thực nghiệm Miếu Trắng của trường trồng năm 1996, kết quả sau 16 năm như sau:
Trang 34Đường kính bình quân 1m3 đạt 27,2 cm, cao 17,3 m
Xin trích dẫn một số hình ảnh gieo ươm và trồng cây phân tán loài Lát Mêxico từ báo cáo tổng kết nghiên cứu khoa học đề tài:
“ Gieo ươm trồng thử nghiệm Lát Mêxico” năm 2003 như sau:
Ảnh chụp 4.1:Vườn ươm cây Lát Mêxico rễ trần 4 tháng tuổi năm 2000
tại Trạm thực hành thực nghiệm
Trang 35Ảnh chụp 4.2: cây con tạo trong bầu và cây con rễ trần 4 tháng tuổi Mặc dù các mô hình làm giàu theo phương pháp mở rạch không còn nguyên vẹn đến năm 2012, song căn cứ vào kết quả trồng thử nghiệm theo phương thức mở rạch đối với 6 loài bạch đàn cao sản năm 2001 của trường thì sau 9 năm, mô hình đã đem lại những hiệu quả tốt về mặt kỹ thuật và kinh tế
Đề tài xin trích dẫn tóm tắt kết quả nghiên cứu trồng thử nghiệm theo rạch các loài bạch đàn cao sản Trung Quốc và Brasil năm 2001 của trường Cao đẳng Nông Lâm đông Bắc như sau:
Loài cây trồng theo rạch:
loài bạch đàn mô của Trung Quốc mang ký hiệu GU 108 và 4 dòng bạch đàn mô của Brasil (E.Hybrit) mang ký hiệu: 1407, 414, 411, 101 Cả 5 công thức này được so sánh với bạch đàn mô của Phù Ninh Vĩnh phú mang
ký hiệu PN2
Trang 36Mô hình được thiết kế theo phương pháp mở rạch rộng 2m, trồng một hàng ở giữa, cây cách nhau 1,5m Tâm rạch này cách tâm rạch kia 6m Như vậy mật độ trồng là 1.100 cây/ha
Diện tích mô hình 3 ha được triển khai tháng 5 năm 2001
Giống do Trung tâm nghiên cứu giống cây trồng Phù Ninh cung cấp, tiêu chuẩn đạt chiều cao 25cm trở lên
Trồng theo phương thức hỗn giao theo hàng, mỗi loài được lặp lại 3 lần (có 3 hàng với số cây 130 – 140 cây/loài)
Trồng có bón lót 0,2 kg NPK mỗi cây
Chăm sóc 2 lần trong năm và liên tục trong 3 năm
Kết quả sau 2 năm theo số liệu trong báo cáo khoa học của trường thể hiện ở bảng 4.1 dưới đây:
Bảng 4.1: Sinh trưởng các dòng Bạch đàn được sử dụng làm giàu rừng năm 2001
D1.3(cm)
H (m)
DTán(m)
Dgốc(cm)
D1.3(cm)
H (m)
DTán(m) Bạch đàn mô GU 108 (TQ) 4,7 3,5 4,3 1,8 8,8 6,6 8,6 2,3 Bạch đàn mô 1407 Brasil 4,0 3,0 3,2 1,5 5,7 5,4 6,3 2,2 Bạch đàn mô 414 Brasil 3,2 2,4 2,7 1,3 6,9 5,0 6,0 2,2 Bạch đàn mô 411 Brasil 3,5 2,5 2,9 1,4 6,0 4,5 5,9 2,2
Trang 37Bạch đàn mô PN2 Vĩnh phú 4,3 3,2 3,7 1,7 8,1 6,2 7,5 2,5
Kết quả trên cho thấy:
Cả 6 dòng bạch đàn cao sản trồng thử nghiệm ở khu thực hành thực nghiệm của trường trong điều kiện lập địa và phương pháp trồng mở rạch ở trạng thái rừng Ic như trên, trong 2 năm đầu cho kết quả khá tốt
Bạch đàn mô 411 và 101 của Brasil có thấp hơn các dòng bạch đàn khác nhưng cũng đạt > 2cm/năm về đường kính và xấp xỉ 3m/năm về chiều cao
Bạch đàn mô GU 108 của Trung Quốc sinh trưởng trội hơn cả so với các dòng bạch đàn khác cùng trồng thử nghiệm về giá trị tuyệt đối Song có nhược điểm cơ bản là hình thân không đều, cây thường cong ở phần gốc
Theo kết quả tính toán một số chỉ tiêu thống kê về sinh trưởng đường kính của 6 dòng bạch đàn cao sản trồng thử nghiệm năm 2001 của trường (bảng 4.2) thì:
Bảng 4.2 : Một số chỉ tiêu thống kê về sinh trưởng đường kính của 6 dòng
Bạch đàn cao sản trồng thử nghiệm năm 2001 (sau 2 năm)
108
1407 Brasil
414 Brasil
411 Brasil
101 Brasil
PN2V.Phú Đường kính bình quân D (cm) 6,6 5,4 5,0 4,5 4,0 6,2 Sai số của số bình quân D (Sd) 0,168 0,106 0,156 0,148 0,137 0,096 Sai tiêu chuẩn mẫu (S) 1,528 0,970 1,434 1,356 0,916 0,870 Phương sai mẫu (S2
) 2,336 0,942 2,056 1,839 0,839 0,757
Độ lệnh phân bố (r3) -0,3 -1,3 -0,2 0,2 -0,8 -0,6
Trang 38Bạch đàn mô PN2 Vĩnh Phú, (theo thông tin của Trung tâm nghiên cứu giống cây trồng Phù Ninh Vĩnh Phú), đã được trồng khảo nghiệm ở nhiều vùng sinh thái khác nhau và đạt hiệu quả cao về chất lượng và kinh tế Mặc
dù Bạch đàn mô PN2 Vĩnh Phú có thấp hơn so với Bạch đàn GU 108 của Trung Quốc về đường kính song không đáng kể và không có ý nghĩa về phương diện thống kê Để khẳng định điều này, chúng tôi đã tiến hành kiểm tra sai dị giữa 2 số trung bình bằng tiêu chuẩn U như sau:
2
2 2
1
2 1
2 1
n
S n S
x x
2 , 6 6 , 6
=
297 , 0
4 , 0
= 1,346 < 1,96
Giả thuyết H0 được chấp nhận, nghĩa là sự sai khác giữa 2 số trung bình mẫu về đường kính không rõ rệt
Trong công thức trên: x1, x2 là đường kính trung bình của Bạch đàn GU
108 của Trung Quốc và Bạch đàn PN2 Vĩnh Phú; S21, S22 là phương sai của 2
ô mẫu; n1, n2 là dung lượng của 2 ô mẫu
Hệ số biến động về đường kính của 6 dòng bạch đàn trồng thử nghiệm trên các rạch là thấp (13 – 23%), cho thấy mức độ phân hoá về đường kính hay chiều cao rất ít Điều này chứng tỏ tính ưu việt của cây tạo mô
Trang 39Độ lệch của phân bố cây theo đường kính tính được < 0, biểu thị đường phân bố lệch phải so với số trung bình
Độ nhọn thấp nghĩa là đường phân bố cao và nhọn, phù hợp với kết quả tính toán về hệ số biến động (Hệ số biến động càng nhỏ, đường phân bố càng nhọn và ngược lại)
Hiện nay mô hình này không còn, theo thông tin của Trạm thực hành thực nghiệm thuộc trường cho biết, mô hình đã được khai thác vào năm 2009 (rừng trồng 9 tuổi) và được thay thế bằng rừng trồng keo tai tượng của Dự án
661
Tại thời điểm khai thác, đường kính bình quân đạt 17cm – 18cm, chiều cao bình quân đạt 25m - 27m Mật độ còn khoảng 700 cây/ha Uớc tính trữ lượng cây đứng khoảng 170 m3
/ha
Với kết quả trên, có thể đánh giá mô hình thành công về phương diện
kỹ thuật Sau 8 năm đã đem lại hiệu quả kinh tế cao
Trang 40Ảnh chụp 4.3: Mô hình trồng khảo nghiệm 6 dòng bạch đàn cao sản
của Trung quốc, Brasil và Vĩnh phú 2 tuổi
(Nguồn: Tài liệu nghiên cứu gieo ươm gây trồng khảo nghiệm một số giống cây rừng đã được cải thiện của Trung Quốc và Brasil của trường Cao Đẳng
Nông Lâm Đông Bắc năm 2003)
Mô hình trồng cây Lim xẹt (Peltophorum Pterocarpum) trên rạch năm
2002 tại khoảnh 48 và khoảnh 61 của nhà trường đến nay đã được 10 năm, một số cây còn xót lại trên một số rạch đã trồng được đo đếm và tổng hợp như