1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

84 665 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lợi ích đối với nhà nước và xã hội: Phục vụ thu thuế sử dụng đất, thuế tài sản, thuế sản xuất nông nghiệp, thuế chuyển nhượng; cung cấp tư liệu phục vụ các chương trình cải cách đất đai

Trang 1

s ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

VŨ NGỌC THUÝ

Tên đề tài:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ

HOẠT ĐỘNG CỦA VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG

ĐẤT HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành : Quản lý đất đai

Mã số : 60 85 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học : TS Hà Xuân Linh

Thái Nguyên, năm 2012

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của của môi trường sống Con người sinh ra và lớn lên nhờ đất, đất đai gắn bó máu thịt với con người và cả dân tộc, là sự sống còn của mỗi quốc gia

Việc đăng ký Nhà nước về đất đai có ý nghĩa: các quyền về đất đai được bảo đảm bởi nhà nước, liên quan đến tính tin cậy, sự nhất quán và tập trung, thống nhất của dữ liệu địa chính Đăng ký đất đai là một công cụ của nhà nước để bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích cộng đồng cũng như lợi ích của người sử dụng đất

Lợi ích đối với nhà nước và xã hội: Phục vụ thu thuế sử dụng đất, thuế

tài sản, thuế sản xuất nông nghiệp, thuế chuyển nhượng; cung cấp tư liệu phục

vụ các chương trình cải cách đất đai, bản thân việc triển khai một hệ thống đăng ký đất đai cũng là một cải cách pháp luật; giám sát giao dịch đất đai;

phục vụ quy hoạch; phục vụ quản lý trật tự trị an;

Lợi ích đối với công dân: Tăng cường sự an toàn về chủ quyền đối với

bất động sản; khuyến khích đầu tư cá nhân; mở rộng khả năng vay vốn (thế chấp); hỗ trợ các giao dịch về bất động sản; giảm tranh chấp đất đai

Hệ thống đăng ký đất đai hiện tại của Việt Nam đang chịu một sức ép ngày càng lớn, từ yêu cầu hỗ trợ sự phát triển của thị trường bất động sản và cung cấp khuôn khổ pháp lý để tăng thu hút đầu tư Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cơ bản hoàn thành, nhưng nhu cầu giao dịch đất đai thì ngày càng cao Một nguyên tắc cơ bản cho hệ thống đăng ký đất đai là đảm bảo tính pháp lý, liên quan đến tính tin cậy, sự nhất quán và tập trung, thống nhất của dữ liệu địa chính

Luật đất đai 2003 quy định tại điều 64: “Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương có VPĐKQSD đất là cơ quan dịch vụ công thực hiện chức năng quản

Trang 3

lý hồ sơ địa chính gốc, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính, phục vụ người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ”

Sự hình thành của hệ thống Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất

(VPĐKQSD đất) cùng với việc thực hiện chủ trương cải cách thủ tục hành

chính theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” đã góp phần đổi mới

nâng cao chất lược công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hướng công khai, minh bạch, giảm thời gian và chi phí cho các chủ sử dụng đất đã phát được huy hiệu quả góp phần nâng cao hiệu lực quản

lý Nhà nước về đất đai; Tuy nhiên hoạt động của VPĐKQSD đất còn nhiều bất cập, việc cung cấp các dịch vụ về đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện vẫn là một trong những vấn đề bức xúc, đặc biệt là khu vực đô thị có số lượng giao dịch bất động sản ngày càng cao

Đồng Hỷ có 18 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm: 3 thị trấn, 15 xã Trong những năm vừa qua, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ở huyện Đồng Hỷ đã dẫn đến nhiều biến động về sử dụng đất Nếu như bộ phận đăng

ký đất ở cấp huyện khắc phục tình trạng quá tải thì cấp xã, thị trấn đang trong tình trạng dồn việc, dồn hồ sơ có liên quan đến việc đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trước tình hình trên, trong khuôn khổ yêu cầu thực hiện luận văn tốt nghiệp cao học ngành Quản lý đất đai, trường Đại học Nông lâm Thái

Nguyên, tôi lựa chọn thực hiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao

hiệu quả hoạt động của VPĐKQSD đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”

nhằm nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của VPĐKQSD đất, góp phần cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn huyện

Trang 4

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của VPĐKQSD đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn tới

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đất đai, Bất động sản, Thị trường bất động sản

1.1.1 Đất đai

- Về mặt thổ nhưỡng (soil): đất là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập, được hình thành do kết quả tác động của nhiều yếu tố: khí hậu, địa hình, đá mẹ, sinh vật và thời gian Giá trị tài nguyên đất được đo bằng số lượng diện tích và

độ phì Winkler (1968) xem đất như một vật thể sống vì trong nó có chứa nhiều sinh vật: vi khuẩn, nấm, tảo, thực vật, động vật,… do đó đất cũng tuân thủ những quy luật sống, đó là: phát sinh, phát triển, thoái hóa và già cỗi Tùy thuộc vào thái độ của con người đối với đất mà đất có thể trở nên phì nhiêu hơn, cho năng suất cây trồng cao hơn hoặc ngược lại

Cũng cách nhìn nhận như vậy, các nhà sinh thái học còn cho rằng đất là một

“vật mang” (carrier) của tất cả các hệ sinh thái tồn tại trên trái đất Như vậy, đất

luôn luôn mang trên mình nó các hệ sinh thái và các hệ sinh thái này chỉ bền vững khi “vật mang” bền vững Con người tác động vào đất cũng chính là tác động vào các hệ sinh thái mà đất “mang” trên mình nó Một vật mang, lại có tính chất đặc thù, độc đáo của độ phì nhiêu nên đất là cơ sở cần thiết, vững chắc, giúp cho các hệ sinh thái tồn tại và phát triển [2]

- Về tài nguyên, tài sản: Đất đai là tài nguyên không thể tái tạo, là tài sản vô cùng quý giá của mỗi quốc gia với vai trò, ý nghĩa đặc trưng: đất đai là nơi ở, nơi xây dựng cơ sở hạ tầng của con người và là tư liệu sản xuất đặc biệt

- Định nghĩa về đất đai: “Đất là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các đặc tính sinh quyển ngay trên hay dưới bề mặt đó gồm có : Yếu tố khí

hậu gần bề mặt trái đất; các dạng thổ nhưỡng và địa hình, thủy văn bề mặt (gồm: hồ,

sông, suối và đầm lầy nước cạn); lớp trầm tích và kho dự trữ nước ngầm sát bề mặt

trái đất; tập đoàn thực vật và động vật; trạng thái định cư của con người và những thành quả vật chất do các hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại tạo ra”

Trang 6

1.1.2 Bất động sản

Bộ luật Dân sự năm 2005 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại

Điều 174 có quy định: “Bất động sản là các tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà ở, công

trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định”

Các quy định về bất động sản trong pháp luật của Việt Nam là khái niệm mở Bất động sản bao gồm đất đai, vật kiến trúc và các bộ phận không thể tách rời khỏi đất đai và vật kiến trúc Bất động sản có những đặc tính sau đây: có vị trí cố định, không di chuyển được, tính lâu bền, tính thích ứng, tính dị biệt, tính chịu ảnh hưởng của chính sách, tính phụ thuộc vào năng lực quản lý, tính ảnh hưởng lẫn nhau

TTBĐS theo nghĩa rộng không chỉ bao gồm các hoạt động liên quan đến giao dịch BĐS mà bao gồm cả các lĩnh vực liên quan đến việc tạo lập BĐS

TTBĐS là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường Thị trường Bất động sản liên quan chặt chẽ với các thị trường khác như: Thị trường hàng hoá, thị trường chứng khoán, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ

Thị trường BĐS có thể được định nghĩa là cơ thể trong đó hàng hoá và dịch vụ BĐS được trao đổi, trong đó có sự can thiệp của Chính phủ và hệ thống chính trị vào thị trường, cũng như nhu cầu và mong muốn của những người tham gia trên thị trường

Thị trường bất động sản chịu chi phối bởi các quy luật kinh tế hàng hoá

cơ bản như các quy luật cung - cầu, giá trị, cạnh tranh Thị trường BĐS cũng giống như mọi thị trường khác, phân bổ hàng hóa bằng sử dụng cơ chế giá cả

Trang 7

Việc thực hiện kiểm soát sử dụng đất trong những quy định liên quan đến các khu quy hoạch có thể được coi là một trong những loại phân bổ này.Thị trường BĐS kết nối cung và cầu đối với bất động sản Thị trường BĐS là tổng hoà các giao dịch BĐS đạt được tại một khu vực địa lý nhất định trong thời điểm nhất định

Thị trường BĐS bao gồm 3 thị trường nhánh: Thị trường mua bán; thị trường cho thuê BĐS; thị trường thế chấp và bảo hiểm BĐS Căn cứ vào thứ

tự thời gian mà BĐS gia nhập thị trường, thị trường BĐS có 3 cấp, gồm:

- Thị trường cấp 1: Là thị trường chuyển nhượng, giao hoặc cho thuê quyền sử dụng đất (Còn gọi là thị trường đất đai)

- Thị trường cấp 2: Là thị trường xây dựng công trình để bán, cho thuê

- Thị trường cấp 3: Là thị trường bán lại hoặc cho thuê lại (5)

1.2 Đăng ký đất đai, bất động sản

1.2.1 Khái niệm về đăng ký đất đai

Việc đăng ký nhà nước về đất đai có ý nghĩa đảm bảo các quyền về đất đai được nhà nước công nhận, liên quan đến tính tin cậy, sự nhất quán và tập trung, thống nhất của dữ liệu địa chính.Đem lại những lợi lợi ích không chỉ cho người sử dụng mà cả cho nhà nước và xã hội

Đăng ký nhà nước về đất đai được thể hiện thông qua các đặc điểm sau:

- Đăng ký đất đai thuộc chức năng, thẩm quyền của nhà nước, chỉ có cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật mới có thẩm quyền

1.2.2 Vai trò, lợi ích của đăng ký nhà nước về đất đai

Đăng ký đất đai là một công cụ của nhà nước để bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích cộng đồng cũng như lợi ích công dân Trong đó lợi ích đối với nhà nước và xã hội được thể hiện trong các lĩnh vực sau:

Trang 8

+ Phục vụ thu thuế sử dụng đất, thuế tài sản, thuế sản xuất nông nghiệp, thuế chuyển nhượng

+ Giám sát giao dịch đất đai, hỗ trợ hoạt động của thị trường BĐS;

+ Phục vụ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, giao đất, thu hồi đất

+ Cung cấp tư liệu phục vụ các chương trình cải cách đất đai, bản thân việc triển khai một hệ thống đăng ký đất đai cũng là một cải cách pháp luật; + Đảm bảo an ninh kinh tế, trật tự xã hội;

Đăng ký quyền sử dụng đất cũng đem lại những lợi ích đối với công dân như sau:

+ Tăng cường sự an toàn về chủ quyền đối với BĐS;

+ Khuyến khích đầu tư cá nhân

+ Mở rộng khả năng vay vốn xã hội

1.2.3 Cơ sở đăng đăng ký đất đai, bất động sản

1.2.3.1 Hồ sơ đất đai, bất động sản

Hồ sơ đất đai và bất động sản (gọi là hồ sơ địa chính) là tài liệu chứa đựng thông tin liên quan tới thuộc tính, chủ quyền và chủ thể có chủ quyền đối với đất đai, bất động sản Hồ sơ đất đai, bất động sản được lập để phục vụ cho lợi ích của nhà nước và phục vụ quyền lợi của công dân

- Đối với Nhà nước: để thực hiện việc thu thuế cũng như đảm bảo cho việc quản lý, giám sát, sử dụng và phát triển đất đai một cách hợp lý và hiệu quả

- Đối với công dân, việc lập hồ sơ đảm bảo cho người sở hữu, người sử dụng có các quyền thích hợp để họ có thể giao dịch một cách thuận lợi, nhanh

chóng, an toàn và với một chi phí thấp

1.2.3.2 Nguyên tắc đăng ký đất đai, bất động sản

Đăng ký đất đai, bất động sản dựa trên những nguyên tắc:

- Nguyên tắc đăng nhập hồ sơ;

- Nguyên tắc công khai;

- Nguyên tắc chuyên biệt hoá

Trang 9

Các nguyên tắc này giúp cho hồ sơ đăng ký đất đai, bất động sản được công khai, thông tin chính xác và tính pháp lý của thông tin được pháp luật bảo vệ Đối tượng đăng ký được xác định một cách rõ ràng, đơn nghĩa, bất biến về pháp lý

1.2.3.3 Đơn vị đăng ký đất đai

Đơn vị đăng ký đất đai là thửa đất Thửa đất được hiểu là một phần bề mặt trái đất, có thể liền mảnh hoặc không liền mảnh, được coi là một thực thể đơn nhất và độc lập để đăng ký vào hệ thống hồ sơ với tư cách là một đối tượng đăng ký có một số hiệu nhận biết duy nhất Việc định nghĩa một cách rõ ràng đơn vị đăng ký là vấn đề quan trọng cốt lõi trong từng hệ thống đăng ký

Trong các hệ thống đăng ký giao dịch cổ điển, đơn vị đăng ký - thửa đất không được xác định một cách đồng nhất, đúng hơn là không có quy định, các thông tin đăng ký được ghi vào sổ một cách độc lập theo từng vụ giao dịch Trong hệ thống đăng ký văn tự giao dịch, nội dung mô tả ranh giới thửa đất chủ yếu bằng lời, có thể kèm theo sơ đồ hoặc không

Các hệ thống đăng ký giao dịch nâng cao đã có đòi hỏi cao hơn về nội dung mô tả thửa đất, không chỉ bằng lời mà còn đòi hỏi có sơ đồ hoặc bản đồ với hệ thống mã số nhận dạng thửa đất không trùng lặp

1.2.4 Đăng ký đất đai, bất động sản

1.2.4.1 Đăng ký văn tự giao dịch

Giao dịch đất đai là phương thức mà các quyền, lợi ích và nghĩa vụ liên quan đến đất đai được chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác, bao gồm thế chấp, nghĩa vụ, cho thuê, quyết định phê chuẩn, tuyên bố ban tặng, văn kiện phong tặng, tuyên bố từ bỏ quyền lợi, giấy sang nhượng, và bất cứ sự bảo đảm quyền nào khác

Trên thực tế các giao dịch pháp lý về BĐS rất đa dạng trong khuôn khổ các phương thức chuyển giao quyền Đó có thể là một giao dịch thuê nhà đơn giản, thuê nhượng dài hạn, phát canh thu tô dài hạn, thuê danh nghĩa kèm thu lãi, cho quyền địa dịch, thế chấp và các quyền khác, đặc biệt là hình thức giao dịch phổ thông nhất là mua bán BĐS

Trang 10

Văn tự giao dịch là một văn bản viết mô tả một vụ giao dịch độc lập, nó thường là các văn bản hợp đồng mua bán, chuyển nhượng hoặc các thoả thuận khác về thực hiện các quyền hoặc hưởng thụ những lợi ích trên đất hoặc liên quan tới đất Các văn tự này là bằng chứng về việc một giao dịch nào đó đã được thực hiện, nhưng các văn tự này không phải là bằng chứng về tính hợp pháp của các quyền được các bên đem giao dịch Văn tự mua bán có thể không

có người làm chứng, có thể có người làm chứng, có thể do người đại diện chính quyền xác nhận Tuy nhiên, văn tự trên không thể là bằng chứng pháp lý về việc bên bán có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp đối với nhà và đất đem ra mua bán

Đăng ký văn tự giao dịch là hình thức đăng ký với mục đích phục vụ các giao dịch, chủ yếu là mua bán BĐS Hệ thống đăng ký văn tự giao dịch là một

hệ thống đăng ký mà đối tượng đăng ký là bản thân các văn tự giao dịch Khi đăng ký, các văn tự giao dịch có thể được sao chép nguyên văn hoặc trích sao những nội dung quan trọng vào sổ đăng ký

Do tính chất và giá trị pháp lý của văn tự giao dịch, dù được đăng ký hay không đăng ký văn tự giao dịch không thể là chứng cứ pháp lý khẳng định quyền hợp pháp đối với BĐS Để đảm bảo an toàn cho quyền của mình, bên mua phải tiến hành điều tra ngược thời gian để tìm tới nguồn gốc của quyền đối với đất mà mình mua

Hình thức đăng ký văn tự giao dịch thường được đưa vào sử dụng ở các nước theo xu hướng Luật La Mã và Luật Đức như Pháp, Ý, Hà Lan, Đức, Bỉ, Tây Ban Nha và các nước khác trên thế giới mà trong quá khứ chịu ảnh hưởng của các quốc gia trên như các nước Nam Mỹ, một phần Bắc Mỹ, một

số nước Châu Phi và Châu Á Hệ thống đăng ký đất đai hiện nay của Hà Lan

là một hệ thống đăng ký văn tự giao dịch điển hình đã được cải tiến và tự động hoá để nâng cao độ an toàn pháp lý và hiệu quả hoạt động

1.2.4.2 Đăng ký quyền

Quyền được hiểu và tập hợp các hành vi và các lợi ích mà người được giao quyền hoặc các bên liên quan được đảm bảo thực hiện và hưởng lợi

Trang 11

Trong hệ thống đăng ký quyền, không phải bản thân các giao dịch, hay các văn tự giao dịch mà hệ quả pháp lý của các giao dịch được đăng ký vào

sổ Nói cách khác, đối tượng trung tâm của đăng ký quyền chính là mối quan

hệ pháp lý hiện hành giữa BĐS và người có chủ quyền đối với BĐS đó

Đăng ký quyền dựa trên các nguyên tắc: Phản ánh trung thực; khép kín vào bảo hiểm

1.3 Hệ thống đăng ký đất đai ở Việt Nam

1.3.1 Giai đoạn trước khi có Luật đất đai

Chỉ thị 299 - TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ “về việc đo đạc và đăng ký thống kê ruộng đất” đã lập được hệ thống hồ sơ đăng ký cho toàn

bộ đất nông nghiệp và một phần diện tích đất thuộc khu dân cư nông thôn

1.3.2 Giai đoạn từ khi có Luật đất đai 1988 đến Luật đất đai 1993

- Luật Đất đai 1988 quy định “Khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho phép chuyển quyền sử dụng, thay đổi mục đích sử dụng hoặc đang sử dụng đất hợp pháp mà chưa đăng ký phải xin đăng ký đất đai tại cơ quan Nhà nước - Uỷ ban nhân dân quận, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn và UBND xã thuộc huyện lập, giữ sổ địa chính, vào sổ địa chính cho người SDĐ và tự mình đăng ký đất chưa sử dụng vào sổ địa chính”

-Tổng cục Quản lý ruộng đất đã ban hành Quyết định số 201 - ĐKTK ngày 14/7/1989 về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Thông tư số 302 - ĐKTK ngày 28/10/1989 hướng dẫn thực hiện Quyết định 201- ĐKTK đã tạo ra một sự chuyển biến lớn về chất cho hệ thống đăng ký đất đai của Việt Nam”

1.3.3 Giai đoạn từ khi có Luật đất đai 1993 đến Luật đất đai 2003

Luật đất đai năm 1993 quy định:

"Đăng ký đất đai, lập và quản lý sổ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"

"Người đang sử dụng đất tại xã, phường, thị trấn lập và quản lý sổ địa chính, đăng ký vào sổ địa chính đất chưa sử dụng và sự biến động về việc sử dụng đất"

Trang 12

Thời kỳ này đánh dấu sự chuyển đổi của nền kinh tế sau 7 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Vì vậy, đất đai (Quyền sử dụng đất) tuy chưa được pháp luật thừa nhận là loại hàng hoá nhưng trên thực tế, thị trường này

có nhiều biến động, việc chuyển đổi mục đích SDĐ trái pháp luật xảy ra thường xuyên, đặc biết là khu vực đất đô thị, đất ở nông thôn thông qua việc mua bán, chuyển nhượng bất hợp pháp không thực hiện việc đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Luật sửa đổi bổ sung Luật đất đai (1998-2001) tiếp tục phát triển các quy định về đăng ký đất đai của Luật đất đai 1993, công tác đăng ký đất đai được chấn chỉnh và bắt đầu có chuyển biến tốt Chính quyền các cấp ở địa phương

đã nhận thức được vai trò quan trọng và ý nghĩa thiết thực của nhiệm vụ đăng

ký đất đai với công tác quản lý đất đai, tìm các giải pháp khắc phục, chỉ đạo sát sao nhiệm vụ này

Theo quy định pháp luật đất đai hiện hành đất đai thuộc sở hữu toàn dân

do Nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình,

cá nhân sử dụng vào các mục đích; Nhà nước còn cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thuê đất Do vậy, ở nước ta đăng ký đất đai là quyền sử dụng đất Nhà nước giao, cho thuê

1.3.4 Giai đoạn từ khi có Luật đất đai 2003 đến nay

Luật Đất đai năm 2003 quy định cụ thể nhiệm vụ: “Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất” “Đăng ký quyền sử dụng đất là việc ghi nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với một thửa đất xác định vào hồ sơ địa chính nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất”

- Hệ thống Đăng ký đất đai có hai loại là đăng ký ban đầu và đăng ký biến động

+ Đăng ký ban đầu được thực hiện khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân;

+ Đăng ký biến động - đăng ký những biến động đất đai trong quá trình sử dụng do thay đổi diện tích (tách, hợp thửa đất, sạt lở, bồi lấp…), do thay đổi mục đích sử dụng, do thay đổi quyền và các hạn chế về quyền sử dụng đất

Trang 13

- Cơ quan đăng ký đất đai: Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương có VPĐKQSD đất là cơ quan dịch vụ công thực hiện chức năng quản lý hồ sơ địa chính gốc, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính, phục vụ người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ’’

1.4 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất

1.4.1 Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của Văn phòng đăng ký quyền

sử dụng đất

1.4.1.1.Chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước

về cải cách hành chính

Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX (tháng

4/2001): “Đổi mới và hoàn thiện thể chế, thủ tục hành chính, kiên quyết chống tệ cửa quyền, sách nhiễu, “xin - cho” và sự tắc trách vô kỷ luật trong công việc”

- Nghị quyết số 38/2004/NQ-CP ngày 04 tháng 5 năm 1994 của Chính phủ

về cải cách một bước thủ tục hành chính trong giải quyết công việc của công dân

và tổ chức

- Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 với mục tiêu xây dựng nền hành chính dân chủ trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, nhiệm vụ này được xác định là một trong 3 giải pháp cơ bản để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế

- Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg ngày 04 tháng 9 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế thực hiện cơ chế “một cửa” tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

1.4.1.2 Cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của VPĐKQSD đất

Trang 14

định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật (Điều 164); Việc đăng ký quyền sở hữu tài sản (điều 167); Thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản (điều 168); Các quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản (điều 173) Trên cơ sở đó, pháp nhân, thể nhân tự xác định quyền và nghĩa vụ của mình về bất động sản hợp pháp (trong đó có quyền SDĐ) đối với Nhà nước và cơ quan có thẩm quyền

- Luật đất đai năm 2003 quy định

"Việc đăng ký quyền sử dụng đất được thực hiện tại VPĐK trong các trường hợp: Người đang sử dụng đất chưa được cấp GCN; người sử dụng đất thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, nhận thừa kế, tặng cho, cho thuê lại quyền sử dụng đất; Thế chấp, bão lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; người sử dụng đất đã có GCN được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đổi tên, chuyển mục đích sử dụng đất, thay đổi đường ranh giới thửa đất; Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án, Quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành" (14)

"Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương có VPĐK là cơ quan dịch vụ công thực hiện chức năng quản lý HCĐC gốc, chỉnh lý thống nhất HSĐC, phục vụ người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ" (14)

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai quy định: UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Quyết định thành lập VPĐK thuộc Sở TN&MT và thành lập các chi nhánh của VPĐK tại các địa bàn cần thiết; UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh căn cứ vào nhu cầu đăng ký quyền sử dụng đất trên địa bàn Quyết định thành lập VPĐK thuộc Phòng TN&MT (6, tr17-18)

Như vậy, Nghị định đã quy định rất rõ sự phân cấp trong vịêc thành lập

cơ quan thực hiện việc cải cách các thủ tục hành chính về đất đai, giảm bớt những ách tắc trong quản lý nhà nước về đất đai

Trang 15

- Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT/BTNMT-BNV ngày 31/12/2004 (hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của VPĐK và tổ chức phát triển quỹ đất Trong đó quy định việc thành lập VPĐK khi chưa có đủ điều kiện về

cơ sở vật chất, thiết bị, nhân lực; hoạt động của tổ chức VPĐK gắn liền với công tác cải cách hành chính

- Thông tư số 30/2005/TTLT-BTC-BTNMT ngày 18/4/2005 hướng dẫn việc luân chuyển hồ sơ và trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc luân chuyền hồ sơ về nghĩa vụ tài chính, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách một bước thủ tục hành chính khi người sử dụng đất, thực hiện nghĩa vụ tài chính liên quan đến đất và nhà (nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất lệ phí trước bạ

và các khoản thu khác nếu có), liên Bộ Tài chính và Bộ TN&MT

- Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất Thông tư quy định phạm vi điều chỉnh, các trường hợp đăng

ký thế chấp, bảo lãnh tại VPĐK; Các quy định liên quan đến thẩm quyền, nhiệm vụ quyền hạn và trách nhiệm của VPĐK, quy trình thực hiện thủ tục đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người sử dụng đất

- Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT-BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh

Về tổng thể thì việc Nhà nước ban hành các quy định liên quan đến VPĐK trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tuy không nhiều nhưng được xem là tương đối đầy đủ Đây là căn cứ pháp lý ban đầu để thành lập và đưa các VPĐK đi vào hoạt động

Tuy nhiên, các văn bản pháp quy liên quan đến VPĐK còn những hạn chế như:

Trang 16

- Thông tư 38/2004/BTNMT-BNV quy định không rõ ràng (cho phép các địa phương có thể không thành lập VPĐK) vì vậy cơ chế bắt buộc phải thành lập mô hình VPĐK đang bị "bỏ ngỏ"

- Thiếu các quy định hướng dẫn tổ chức hoạt động của VPĐK và việc phổ biến, tổ chức tập huấn cho công tác này chưa được tiến hành đồng bộ

- Chính quyền các cấp chưa nhận thức đầy đủ vai trò, vị trí và tác dụng của tổ chức này đối với nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai

Tình hình trên cho thấy việc hoàn thiện cơ chế, chính sách đưa VPĐK đi vào hoạt động hiệu quả là nhiệm vụ bức thiết nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý,

sử dụng đất phục vụ phát triển kinh tế đất nước thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập

1.4.2 Chức năng, nhiệm vụ của VPĐKQSD đất

1.4.2.1 Chức năng của VPĐKQSD đất

Theo quy định của pháp luật hiện hành, VPĐK thành lập ở cấp tỉnh và cấp huyện là cơ quan dịch vụ công hoạt động theo loại hình sự nghiệp có thu, có chức năng tổ chức thực hiện đăng ký sử dụng đất, chỉnh lý thống nhất biến động

sử dụng đất và quản lý hồ sơ địa chính; tham mưu cho cơ quan tài nguyên và môi trường cùng cấp trong việc thực hiện thủ tục hành chính về quản lý, sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật

1.4.2.2 Nhiệm vụ của VPĐKQSD đất

- Giúp các cấp quản lý trực tiếp làm đầu mối thực hiện các thủ tục hành chính về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo thẩm quyền cho các đối tượng sử dụng đất ở địa phương;

- Đăng ký sử dụng đất và chỉnh lý biến động về sử dụng đất theo quy định của pháp luật khi thực hiện các quyền của người sử dụng đất;

- Lập và quản lý toàn bộ HSĐC gốc đối với tất cả các thửa đất thuộc phạm

vi địa giới hành chính;

Trang 17

- Chỉnh lý HSĐC gốc khi có biến động về sử dụng đất theo thông báo của

cơ quan tài nguyên và môi trường;

- Lưu trữ HSĐC, hệ thống thông tin đất đai

Như vậy, về chức năng nhiệm vụ, hoạt động của VPĐK có 3 chức năng chính là: Quản lý HSĐC gốc; chỉnh lý thống nhất HSĐC; phục vụ người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ

Với tư cách là tổ chức dịch vụ trong lĩnh vực đất đai, vai trò của VPĐK trong cơ cấu tổ chức của cơ quan quản lý đất đai ở địa phương là rất quan trọng vì những lý do sau đây:

Thứ nhất: Hoạt động của VPĐK đã tách bạch giữa hoạt động quản lý

Nhà nước với hoạt động của đơn vị sự nghiệp, trong đó trực tiếp, cụ thể là cơ quan chuyên môn trực thuộc Khác với các quy định trước đây, cơ quan Nhà nước ở địa phương (UBND cấp có thẩm quyền) chỉ thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai ở địa phương thông qua việc ký các Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền

sử dụng đất Còn lại, việc đăng ký quyền SDĐ, cấp GCN được giao cho cơ quan chuyên môn trực tiếp thực hiện

Thứ hai: Theo quy định của pháp luật, hiện nay VPĐK các cấp là tổ

chức xây dựng, chỉnh lý, quản lý và vận hành cơ sở dữ liệu địa chính giúp cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai Là mô hình tổ chức duy nhất thực hiện các thủ tục có liên quan đến GCN, đây là chứng thực pháp lý bảo đảm cho các hoạt động giao dịch quyền sử dụng đất, cơ sở pháp lý đảm bảo cho người SDĐ an tâm đầu tư trên thửa đất của mình Mặt khác, chỉ có VPĐK mới được quyền chỉnh lý, cập nhật, quản lý, lưu trữ HSĐC gốc dưới dạng giấy (hoặc dạng số) và cung cấp thông tin HSĐC cho các chủ thể có nhu cầu sử dụng đất

Thứ ba: Hoạt động của VPĐK đã và đang góp phần giảm thiểu những

vướng mắc, ách tắc trong việc đăng ký quyền SDĐ cũng như đăng ký giao dịch quyền SDĐ phục vụ cho quá trình phát triển của thị trường BĐS trong nền kinh tế thị trường, đáp ứng cung - cầu về đất đai cho đầu tư phát triển kinh tế thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế sau khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)

Trang 18

Thứ tư: Từ hoạt động của VPĐK, những năm gần đây cùng với việc

quản lý, điều chỉnh biến động đất đai theo yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế của từng địa phương, VPĐK đã có những đóng góp tích cực trong việc thực hiện nhiệm vụ cấp GCN, đưa tỷ lệ cấp giấy cho các đối tượng sử dụng đất tăng nhanh so với thời kỳ trước khi có Luật đất đai 2003, tạo môi trường đầu

tư lành mạnh và thu hút đầu tư trong nước và nước ngoµi vào Việt Nam

Thứ năm: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có vai trò quan trọng

trong quan hệ đất đai, nó không chỉ làm cầu nối trực tiếp giữa người SDĐ, nhà đầu tư với các cơ quan quản lý mà còn có tác dụng tăng cường các giao dịch đảm bảo đối với nguồn vốn từ đất đai giữa người SDĐ nói chung với các

tổ chức tín dụng, cơ quan thuế của Nhà nước thông qua các hoạt động thế chấp, bảo lãnh vay vốn, thu thuế, phí… góp phần tăng nguồn thu từ đất đai cho ngân sách Nhà nước

Thứ sáu: Hoạt động của VPĐK đòi hỏi phải chuyên môn hoá công tác

đăng ký quyền SDĐ So với trước đây, chuyên môn hoá trong hoạt động đăng

ký quyền SDĐ đã được áp dụng rộng rãi thông qua việc đầu tư, ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển chính phủ điện tử trong những năm tới Mặt khác, tính công khai, minh bạch được thể hiện đầy đủ, nghiêm túc trong hoạt động của VPĐK thông qua việc cải cách thủ tục hành chính

1.4.3 Mối quan hệ giữa VPĐKQSD đất với cơ quan đăng ký đất đai và chính quyền địa phương

Sự phối hợp giữa VPĐK cấp tỉnh với VPĐK cấp huyện (hoặc phòng TN&MT) còn lỏng lẻo, nhiều nơi còn lúng túng do chưa xây dựng được quy chế phối hợp giữa các cấp trong việc lập hồ sơ địa chính ban đầu hoặc lập bổ sung hồ sơ địa chính; giải quyết thủ tục chuyển quyền giữa cá nhân với tổ chức; việc tổ chức chỉnh lý thường xuyên hồ sơ địa chính

Mối quan hệ giữa VPĐKQSD đất với cơ quan đăng ký đất đai và chính quyền địa phương được thể hiện theo sơ đồ sau:

Trang 19

Sơ đồ 1.1: Vị trí của VPĐK trong hệ thống quản lý đất đai

1.5 Đăng ký đất đai, bất động sản ở một số nước trên thế giới

1.5.1 Tình hình tổ chức đăng ký đất đai, bất động sản ở Australia

Tại Australia việc đăng ký BĐS do các cơ quan chính phủ các Bang thực hiện Các cơ quan này là các cơ quan ĐKĐĐ, Văn phòng đăng ký quyền đất đai, cơ quan quản lý đất đai hoặc cơ quan thông tin đất đai

Văn phòng đăng ký quyền đất đai tại các bang ( ví dụ Northern Territory ) là một bộ phận của Văn phòng đăng ký trung ương, nhiệm vụ của Văn phòng thực hiện đăng ký quyền đất đai bao gồm cả các phương tiện tra cứu,

UBND cấp huyện

UBND cấp xã

Cán bộ địa chính

cấp xã

Trang 20

hệ thống thông tin đất đai và các nhiệm vụ đăng ký khác Hiện nay, tất cả BĐS đã đăng ký tại bang đều thuộc hình thức đăng ký quyền theo Torrens Trong hệ thống Torrens, sổ đăng ký là tập hợp của các bản ghi đăng ký và các bản ghi này lại là bản lưu của giấy chứng nhận quyền Các loại giao dịch phải đăng ký vào hệ thống là thế chấp, mua bán, cho thuê cũng được ghi trên các giấy chứng nhận này Từ 01/12/2000, bản lưu giấy chứng nhận không còn được in ra dưới dạng bản giấy mà lưu ở dạng điện tử trừ trường hợp chủ sở hữu yêu cầu in ra để phục vụ cho giao dịch thế chấp

Để phục vụ tra cứu, bên cạnh hồ sơ đăng ký, một bản mục lục tên người mua Mục lục này được lập dưới dạng sổ Hiện tại quy trình đăng ký đất đai đã được tin học hoá bằng hệ thống đăng ký quyền tích hợp năm 1999 Đây là hệ thống Torrens được tin học hoá đầu tiên trên thế giới Từ ngày 04/06/2001 mục lục tên chủ mua trên Microfiche được tích hợp lên hệ thống đăng ký tự động [8]

1.5.2 Tình hình tổ chức đăng ký đất đai, bất động sản ở Pháp

Chế độ pháp lý chung về đăng ký bất động sản được hình thành sau cách mạng tư sản Pháp Luật ngày 28 tháng 3 năm 1895 là đạo luật đầu tiên quy định một cách có hệ thống việc đăng ký tất cả các quyền đối với bất động sản,

kể cả những quyền không thể thế chấp (quyền sử dụng bất động sản liền kề, quyền sử dụng và quyền sử dụng làm chỗ ở) và một số quyền đối nhân liên quan đến bất động sản (thuê dài hạn) Luật này cũng quy định cơ chế công bố công khai tất cả các hợp đồng, giao dịch giữa những người còn sống về việc chuyển nhượng quyền đối với bất động sản

Văn phòng đăng ký đất đai đều phải tuân thủ bốn nguyên tắc chung:

- Hợp đồng, giao dịch phải do Công chứng viên lập.Đây là điều kiện tiên quyết Điều kiện này không những đảm bảo thực hiện tốt các thủ tục đăng ký

về sau mà còn đảm bảo sự kiểm tra của một viên chức công quyền đối với tính xác thực và hợp pháp của hợp đồng, giao dịch

- Tuân thủ dây chuyền chuyển nhượng Mọi hợp đồng, giao dịch đều không được phép đăng ký nếu như tờ giấy xác nhận quyền của sở hữu chủ trước đó chưa được đăng ký

Trang 21

- Thông tin về chủ thể Mọi hợp đồng, văn bản đem đăng ký đều phải ghi

rõ họ, tên, địa chỉ nơi cư trú, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, họ tên của vợ hoặc chồng, chế độ tài sản trong hôn nhân của các cá nhân tham gia vào hợp đồng, giao dịch, cho dù họ trực tiếp có mặt hay tham gia thông qua người đại diện

- Thông tin về bất động sản Để phân biệt bất động sản đó với các bất động sản khác thì những thông tin sau đây được coi là không thể thiếu: Tên xã nơi có bất động sản, số thửa trên bản đồ địa chính Bên cạnh các thông tin này, trong thực tiễn người ta còn ghi thêm; Tính chất của bất động sản, nội dung địa chính và tên thường gọi (ví dụ: nhà gốc đa, quán cây sồi…)

Pháp luật còn đưa ra một số quy định đặc biệt đối với các phần có thể phân chia của nhà chung cư, cũng như đối với các phần của bất động sản đã phân chia giữa nhiều chủ sở hữu, nhằm mục đích xác định rõ các phần đó Trong hợp đồng, giao dịch cần phải ghi rõ số lô của tài sản được giao dịch, bằng cách mô tả tình trạng phân chia của bất động sản chung nếu là nhà chung cư hoặc kèm theo hồ sơ chia lô (nếu là đất chia lô)

1.5.3 Tình hình tổ chức đăng ký đất đai, bất động sản ở Thuỵ Điển

Đăng ký đất đai được thực hiện ở Thuỵ Điển từ thế kỷ thứ 16 và đã trở thành một thủ tục không thể thiếu trong các giao dịch mua bán hoặc thế chấp

Hệ thống ĐKĐĐ ở Thuỵ Điển cơ bản được hoàn chỉnh từ đầu thế kỷ 20 nhưng vẫn tiếp tục phát triển và hiện đại hoá Về bản chất hệ thống này là hệ thống đăng ký quyền tương tự hệ thống Torrens

Về mô hình tổ chức, ĐKĐĐ và đăng ký BĐS do các cơ quan khác nhau thực hiện, cả hai hệ thống này hợp thành hệ thống địa chính Cơ quan đăng ký tài sản do Tổng cục quản lý đất đai thuộc Bộ Môi trường Thuỵ Điển Cơ quan đăng ký tài sản trung ương có 53 Văn phòng đăng ký BĐS đặt tại các địa phương khác nhau Ngoài ra còn có một số Văn phòng đăng ký tài sản trực thuộc chính quyền tỉnh

Để phối hợp đồng bộ thông tin về đất đai và tài sản trên đất, việc xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp được giao cho Ban quản lý dữ liệu BĐS trung ương trực thuộc Bộ tài nguyên môi trường Cơ quan này chịu trách nhiệm xây dựng và quản trị hệ thống ngân hàng dữ liệu đất đai, quản lý toàn bộ thông tin đăng ký BĐS và đăng ký đất đai

Trang 22

Các cơ quan ĐKĐĐ, đăng ký BĐS, cơ quan xây dựng và quản trị hệ thống ngân hàng thông tin đất đai đều hoạt động theo chế độ tự chủ tài chính dựa trên việc thu phí dịch vụ

Để thực hiện việc đăng ký, đất đai được chia thành các đơn vị đất, mỗi đơn vị đất có mã số duy nhất Việc xác định đơn vị đất như tách, hợp một phần diện tích đất, lập đơn vị đất mới thuộc trách nhiệm của Cục trắc địa - Bản đồ quốc gia Việc đăng ký quyền, đăng ký thế chấp, đăng ký chuyển quền… do cơ quan đăng ký đất đai thực hiện theo trình tự thủ tục chặt chẽ [8]

1.6 Khái quát về hoạt động của VPĐKQSD đất ở Việt Nam

1.6.1 Tình hình thành lập VPĐKQSD đất

Theo báo cáo của Cục Đăng ký thống kê - Tổng cục quản lý đất đai tính đến tháng 12 cả nước đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập VPĐK cấp tỉnh Trong đó Hậu Giang là tỉnh thành lập sớm nhất 06/9/2004, Điện Biên là tỉnh chậm nhất 28/03/2007 Có 39 tỉnh thành lập đúng thời hạn quy định tại Nghị định 181/2004/NĐ-CP (trước 01/7/2005)

Bảng 1.1 Tình hình thành lập VPĐK các cấp

VPĐK cấp tỉnh

VPĐK cấp huyện

Trang 23

Ở cấp huyện có 02 tỉnh chưa thành lập VPĐK cấp huyện là: Phú Thọ và Ninh Thuận do khối lượng giao dịch về đất đai ở địa phương chưa nhiều và khó khăn về kinh phí để duy trì bộ máy của VPĐK; sự lý giải này thể hiện sự nhận thức của chính quyền địa phương về mục đích, vai trò và nhiệm vụ của việc thành lập VPĐK còn hạn chế

Trong số các tỉnh đã thành lập VPĐK cấp huyện có 5 tỉnh đã thành lập xong VPĐK cho tất cả các huyện gồm Đà Nẵng, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu,

TP Hồ Chí Minh và Tiền Giang Có 7 tỉnh mới chỉ thành lập 1 văn phòng đăng ký tại đô thị gồm Cao Bằng, Thái Nguyên, Hải Dương, Ninh Thuận, Đắk Lắc Đắk Nông và Lâm Đồng

Một số VPĐK không trực thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường theo quy định mà trực thuộc UBND cấp huyện như huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình, Thành phố Vinh Thái Nguyên; Thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng đã dẫn đến

sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ trong tổ chức, chỉ đạo cấp GCN, sự phân tán trong quản lý hồ sơ địa chính; làm cho thủ tục cấp GCN thêm phức tạp, kéo dài do thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan này

1.6.2 Cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất

Theo báo cao của các địa phương, các văn phòng thuộc Sở đều tổ chức thành nhiều đơn vị trực thuộc, phổ biến là các Phòng, một số nơi tổ chức thành bộ phận hoặc tổ (dưới đây gọi chung là Phòng); Mỗi VPĐK thuộc Sở trung bình có từ 3 đến 4 phòng

Do có ít cán bộ nên đa số các VPĐK cấp huyện được tổ chức thành các

tổ, nhóm để triển khai thực hiện nhiệm vụ theo yêu cầu công việc của từng thời kỳ; nhiều VPĐK thực hiện việc phân công cán bộ quản lý theo địa bàn (mỗi cán bộ chịu trách nhiệm theo dõi, thực hiện một số xã) nên lực lượng bị phân tán Các VPĐK cấp huyện có nhiều cán bộ đã được tổ chức thành các tổ chuyên môn khác nhau; phổ biến là: Tổ Đăng ký đất đai (hoặc thẩm định hồ sơ); Tổ lưu trữ hồ sơ và cung cấp thông tin; Một số VPĐK do yêu cầu công việc còn có Tổ đăng ký giao dịch bảo đảm; đây là các tổ chuyên môn tối thiểu cần được thành lập và duy trì ổn định ở các địa phương [15]

Trang 24

1.6.3 Nguồn nhân lực của VPĐKQSD đất

* VPĐKQSD đất cấp tỉnh

Theo báo cáo Tổng Cục quản lý đất đai, số lượng lao động của các VPĐK cấp tỉnh hiện còn hạn chế, tổng số cán bộ của 63 VPĐK cấp tỉnh tính đến tháng 12 năm 2010 là 1.733 người, trung bình mỗi VPĐK cấp tỉnh có 27 người, cụ thể:

Bảng 2.2 Nguồn nhân lực của VPĐK của Nhà nước

Nguồn: Cục đăng ký và thống kê đất đai 2010

Trong tổng số lao động hiện có của VPĐK cấp tỉnh có 824 người trong biên chế Nhà nước (chiếm 47,62%) và có 909 người hợp đồng dài hạn (chiếm 52,38%)

Tuy nhiên kinh nghiệm chuyên môn của đội ngũ nhân viên VPĐK cấp tỉnh rất hạn chế; phần lớn (62,6%) mới được tuyển dụng khi thành lập VPĐK hoặc chỉ có từ 1-5 năm làm việc tại các đơn vị chuyên môn khác (chủ yếu là Trung tâm kỹ thuật) chuyển sang

Trang 25

* VPĐKQSD đất cấp huyện

Tổng số lao động của 537 VPĐK cấp huyện tính đến tháng 12 năm 2010

có 5.566 người, trung bình mỗi VPĐK có 10 người

Một số VPĐK cấp huyện có số lượng lao động năm 2007 giảm đi do địa phương khoán thu để trả lương nhưng năm 2007 Nhà nước miễn giảm phí, lệ phí cho người dân nên thu không đủ để trả lương (điển hình là Cần Thơ năm

2007 giảm 23 người so với năm 2006)

Một số VPĐK cấp huyện chỉ tuyển dụng hợp đồng ngắn hạn 3 tháng (điển hình như tại Hà Nội) làm cho lực lượng lao động không ổn định do không yên tâm công tác đã xin chuyển đi nơi khác

Về trình độ chuyên môn đội ngũ lao động tại các VPĐK cấp huyện hầu nết đều đã được đào tạo chuyên môn ở trình độ từ trung cấp trở lên; tuy nhiên chỉ có một phần nhỏ (khoảng 20%) lao động đã làm việc tại Phòng Tài nguyên và Môi trường; đại đa số (khoảng 85%) lao động mới được tuyển dụng chưa có kinh nghiệm công tác Đây là khó khăn lớn ảnh hưởng đến tiến

độ và chất lượng công việc chuyên môn của VPĐK

1.6.4 Về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, vai trò của VPĐKQSD đất

Theo quyết định thành lập thì hầu hết các VPĐK hiện nay đều có đầy đủ chức năng, nhiệm vụ theo hướng dẫn tại Thông tư số 38/2004/TTLT/BNV-BTNMT\; tuy nhiên trên thực tế, chức năng, nhiệm vụ của các VPĐK ở địa phương vẫn còn nhiều bất cập

1 Phần lớn các VPĐK các cấp sau khi thành lập đều đã đi vào hoạt động nhưng còn lúng túng, chưa triển khai thực hiện hết các nhiệm vụ được giao; chủ yếu mới thực hiện việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục cấp GCN cho các đối tượng thuộc thẩm quyền và thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai

2 Nhiều địa phương VPĐK cấp tỉnh còn có sự chồng chéo hoặc chưa phân định rõ chức năng, nhiệm vụ và những bất cập trong triển khai thực hiện như:

- Chồng chéo với Trung tâm thông tin Tài nguyên và Môi trường trong việc quản lý, lưu trữ hồ sơ địa chính

Trang 26

- Chồng chéo chức năng với các phòng chuyên môn của Sở trong việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính về đất đai; thậm chí có VPĐK của Sở (Hà Nội) còn thực hiện thủ tục biến động đất đai của hộ gia đình và cá nhân Một số tỉnh còn giao cho VPĐK một số nhiệm vụ khác như: Định giá khi thi hành án, tham gia thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng, lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, dịch vụ tư vấn (như Nam Định, Tiền Giang, Hậu Giang, Kiên Giang)

3 Nhiều VPĐK cấp huyện được thành lập nhưng chưa phân định rõ hoặc còn chồng chéo chức năng, nhiệm vụ với Phòng Tài nguyên và Môi trường Nhiều địa phương lãnh đạo TN&MT coi VPĐK như bộ máy giúp việc của Phòng để thực hiện tất cả các công việc quản lý Nhà nước vể đất đai

4 Một số VPĐK các cấp chưa thực hiện đúng chức năng xác nhận; chỉnh lý biến động trên GCN, có địa phương VPĐK cấp tỉnh làm thủ tục để Lãnh đạo Sở ký xác nhận (như Hà Nội); có địa phương VPĐK cấp tỉnh hoặc cấp huyện xác nhận cả những trường hợp thuộc thẩm quyền xác nhận của Sở hoặc Phòng Tài nguyên và Môi trường (trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất); Nguyên nhân có sự lẫn lộn này một phần là do quy định phân cấp chỉnh

lý GCN tại điều 57 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP hiện nay chưa hợp lý

1.6.5 Tình hình triển khai các nhiệm vụ của VPĐKQSD đất

1.6.5.1 Cấp tỉnh

Kết quả kiểm tra và báo cáo của các địa phương cho thấy các VPĐK cấp tỉnh hiện nay đều đã và đang tập trung triển khai thực hiện việc cấp GCN cho các tổ chức; thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm; thống kê và kiểm kê đất đai Nhiều địa phương VPĐK triển khai thực hiện việc hoàn thiện hồ sơ địa chính, chỉnh lý biến động cho một số cấp xã đã cấp GCN; tiếp nhận và quản

lý, lưu trữ hồ sơ địa chính Một số VPĐK các cấp tỉnh đã tham gia hỗ trợ cho các cấp huyện, xã tổ chức việc đăng ký cấp, cấp đổi GCN ở một số xã theo hình thức đồng loạt Tuy nhiên tình hình hoạt động của VPĐK cấp tỉnh còn một số tồn tại, hạn chế như sau:

Trang 27

- Việc cấp GCN cho các tổ chức ở một số địa phương thực hiện còn chậm do không làm theo hình thức tập trung đồng loạt mà chỉ thực hiện riêng

lẻ cho tổ chức có nhu cầu;

- Việc lập, chỉnh lý hồ sơ địa chính là nhiệm vụ chủ yếu của VPĐK cấp tỉnh; tuy nhiên công việc này hầu như mới thực hiện được ở một số xã đang tổ chức cấp mới hoặc cấp đổi đồng loạt GCN

- Việc kiểm tra, hướng dẫn VPĐK cấp huyện trong việc cập nhật, chỉnh

lý hồ sơ địa chính chưa được các VPĐK cấp tỉnh quan tâm thực hiện

- Việc quản lý, lưu trữ hồ sơ địa chính ở nhiều địa phương vẫn chưa được VPĐK cấp tỉnh triển khai thực hiện do trụ sở làm việc hiện chưa ổn định hoặc quá chật hẹp

Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do các VPĐK chưa có đủ năng lực thực hiện hết các nhiệm vụ được giao (còn rất thiếu nhân lực, thiết bị

và các điều kiện làm việc cần thiết); không được đầu tư đủ kinh phí để triển khai thực hiện; song bên cạnh đó còn do nguyên nhân chủ quan của VPĐK còn thiếu kinh nghiệm, chưa nhận thức đầy đủ về yêu cầu nhiệm vụ nên còn lúng túng về phương pháp, cách thưc triển khai

1.6.5.2 Cấp huyện

- Tương tự như VPĐK cấp tỉnh, các VPĐK cấp huyện đã thành lập đều mới tập trung triển khai thực hiện việc cấp GCN cho các hộ gia đình, cá nhân; thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm; thống kê và kiểm kê đất đai

- Việc cập nhật, chỉnh lý biến động, hoàn thiện hồ sơ địa chính đang quản lý ở hầu hết các VPĐK cấp huyện chưa được quan tâm thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ, nhiều VPĐK chưa thực hiện việc gửi thông báo cập nhật chỉnh lý hồ sơ địa chính theo quy định; việc kiểm tra, hướng dẫn cấp xã trong việc cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính chưa được các VPĐK cấp huyện quan tâm thực hiện

- Việc tổ chức cấp GCN cho các hộ gia đình cá nhân còn bị động giải quyết riêng lẻ theo yêu cầu của một số trường hợp mà chưa chủ động tổ chức làm đồng loạt cho từng xã nên tiến độ cấp GCN còn chậm so với yêu cầu phải hoàn thành

Trang 28

Việc thực hiện thủ tục cấp GCN và đăng ký biến động còn nhiều điểm chưa đúng quy định; hồ sơ vẫn được tiếp nhận thông qua bộ phận "một cửa",

kể cả trường hợp do UBND cấp xã tiếp nhận và chuyển lên nên không được kiểm tra khi tiếp nhận và có rất nhiều trường hợp chưa bảo đảm yêu cầu làm cho thủ tục kép dài, thông tin cấp GCN không đầy đủ

Việc quản lý, lưu trữ hồ sơ địa chính nhiều VPĐK chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đảm bảo yêu cầu, hồ sơ địa chính và các hồ sơ thủ tục hành chính về đất đai còn quản lý phân tán (thậm chí nhiều địa phương vẫn do cấp

xã quản lý, có địa phương có kho lưu trữ phải gửi tại xã; hầu hết các địa phương chưa thực hiện việc phân loại và lưu trữ hồ sơ địa chính theo quy định Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này là do năng lực thực hiện của hầu hết các VPĐK cấp huyện còn rất yếu (còn rất thiếu nhân lực, thiết bị, nhà làm việc và lưu trữ hồ sơ); không được đầu tư đủ kinh phí để thực hiện nhiệm vụ; ngoài ra còn do nguyên nhân chủ quan của VPĐK còn thiếu kinh nghiệm; chưa nhận thức đầy đủ về yêu cầu nhiệm vụ, không xây dựng kế hoạch hoạt động hàng năm và lập dự toán kinh phí trình UBND cấp huyện phê duyệt

1.6.6 Đánh giá chung về tình hình hoạt động của VPĐKQSD đất

1.6.6.1 Kết quả đạt được

Hệ thống VPĐK các cấp tỉnh, huyện mặc dù mới thành lập và hoạt động, còn rất nhiều khó khăn về điều kiện làm việc, kinh nghiệm hoạt động chưa nhiều nhưng kết quả hoạt động của hệ thống các VPĐK đã tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong tiến độ và kết quả thực hiện cấp GCNQSD đất trong 3 năm qua so với kết quả 15 năm trước (đất sản xuất nông nghiệp cấp được 1.491.440 giấy (tăng 12,2%); đất lâm nghiệp cấp được 346.853 giấy (tăng 45,3%); đất ở đô thị cấp được 864.258 giấy (tăng 43,8%); đất ở nông thôn cấp được 3.499.786 giấy (tăng 42,6%); đất chuyên dùng cấp được 33.052 giấy (tăng 85,1%) Kết quả đó là chứng minh đầy đủ nhất về sự đúng đắn của việc thành lập hệ thống VPĐK.[22]

Đạt được kết quả này trước hết là do với việc thành lập các VPĐK, lực

Trang 29

với trước đây và đã trở thành một lực lượng chuyên nghiệp, mang tính chuyên môn sâu, ít bị chi phối bởi các công việc mang tính sự vụ khác về quản lý đất đai của cơ quan Tài nguyên và Môi trường từng cấp; hơn nữa đã phân biệt các

rõ công việc mang tính sự nghiệp với công việc quản lý Nhà nước trong hoạt động đăng ký, cấp GCN; trên cơ sở đó phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết thủ tục cấp GCN và các thủ tục hành chính về đất đai và đã cải cách thủ tục theo hướng đơn giản, rút ngắn thời gian thực hiện cấp GCN hơn rất nhiều so với trước Luật Đất đai 2003 Việc hình thành hệ thống VPĐK cũng góp phần hỗ trợ rất tích cực cho cấp xã, nhất là các xã miền núi, trung du do sự thiếu hụt về nhân lực và hạn chế về năng lực chuyên môn trong việc triển khai thực hiện cấp GCN và quản

lý biến động đất đai ở địa phương

1.6.6.2 Các hạn chế

Việc thành lập hệ thống VPĐK các cấp ở các địa phương còn rất chậm so với yêu cầu nhiệm vụ thi hành Luật đất đai: VPĐK cấp tỉnh có 22 tỉnh thành lập chậm, VPĐK cấp huyện đến nay còn khoảng 46% số huyện chưa thành lập; một

số VPĐK đã thành lập sau một thời gian hoạt động đã xin giải thể

Chức năng nhiệm vụ của các VPĐK ở nhiều địa phương chưa được phân định rõ ràng, nhiều VPĐK cấp tỉnh còn có sự chồng chéo với một sè đơn vị khác của Sở, nhất là với Trung tâm Thông tin TN&MT, thậm chí một tỉnh còn chồng chéo chức năng với VPĐK (hoặc phòng TN&MT) cấp huyện

Việc tổ chức bộ máy các VPĐK các địa phương chưa thống nhất; chức năng nhiệm vụ của một số đơn vị trực thuộc VPĐK cấp tỉnh chưa phân định

rõ ràng, đôi khi còn chồng chéo, thiếu tính chuyên nghiệp, thậm chí có nơi các phòng làm việc chung cùng một công việc

Điều kiện nhân lực của hầu hết các VPĐK còn rất thiếu về số lượng, hạn chế về kinh nghiệm công tác, chưa đáp ứng được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ

mà Luật đất đai đã phân cấp; đây là nguyên nhân cơ bản của việc cấp GCN chậm và sự hạn chế, bất cập trong việc lập, chỉnh lý hồ sơ địa chính hiện nay

Trang 30

Điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật cần thiết cho thực hiện thủ tục hành chính về đất đai của VPĐK còn rất thiếu thốn, nhiều VPĐK chưa có máy

đo đạc để trích đo thửa đất, máy photocopy để sao hồ sơ; đặc biệt diện tích phòng làm việc chật hẹp và không có trang thiết bị bảo quản để triển khai việc lưu trữ hồ sơ địa chính phục vụ việc khai thác khi thẩm tra hồ sơ và cung cấp thông tin đất đai;

Không thống nhất về loại hình hoạt động giữa các địa phương; có địa phương VPĐK phải tự bảo đảm kinh phí để tồn tại và hoạt động, có địa phương VPĐK được bảo đảm bằng ngân sách Nhà nước cho một phần kinh phí hoạt động, cũng có địa phương VPĐK được bảo đảm bằng ngân sách Nhà nước cho toàn bộ kinh phí để hoạt động

Hoạt động của VPĐK chưa triển khai thực hiện hết các nhiệm vụ được giao, nhất là nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện, chỉnh lý hồ sơ địa chính; việc thực hiện thủ tục cấp GCN của VPĐK các cấp ở nhiều địa phương còn một số điểm chưa thực hiện đúng quy định.[23]

Trang 31

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động của VPĐKQSD đất cấp huyện

2.2.Phạm vi nghiên cứu

2.2.1 Về không gian nghiên cứu:

VPĐKQSD đất trực thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đồng Hỷ

2.2.2 Về thời gian nghiên cứu:

Thu thập số liệu, tài liệu từ sau khi thành lập VPĐKQSD đất (ngày

01/4/2009) đến nay

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

2.3.2 Thực trạng tình hình hoạt động của VPĐKQSD đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

- Tình hình hoạt động của VPĐKQSD đất;

- Đánh giá chung về hoạt động của VPĐKQSD đất

- Nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả hoạt động của VPĐKQSD đất

2.3.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của VPĐKQSD đất 2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập các số liệu thứ cấp

- Phòng Tài nguyên và Môi trường: Thu thập các tài liệu số liệu về hiện trạng sử dụng đất và tình hình quản lý sử dụng đất của huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và 18 xã, thị trấn nghiên cứu từ năm 2007 đến 2011

- Phòng Tài chính, Phòng Thống kê Thu thập các báo cáo về tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện, các xã thị trấn nghiên cứu, số liệu thống

kê về kinh tế xã hội từ năm 2009 đến 2011

Trang 32

- VPĐKQSD đất: Thu thập các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động của VPĐKQSD đất; các báo cáo về tình hình hoạt động, kết quả thực hiện nhiệm vụ qua các năm từ 1/4/2009 đến hết Quý IV năm 2011

2.4.2 Phương pháp điều tra các số liệu sơ cấp

- Khảo sát thực địa thu thập số liệu sơ cấp nhằm kiểm chứng các thông tin, số liệu đã thu thập được từ điều tra nội nghiệp Phỏng vấn trực tiếp các cán

bộ, điều tra phỏng vấn các hộ gia đình theo mẫu phiếu soạn sẵn Được thực hiện với 100 hộ trên địa bàn 03 thị trấn và 02 xã của huyện Đồng Hỷ

2.4.3 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu

Các thông tin thu thập thông qua phỏng vấn được xử lý chủ yếu theo hướng định tính Thông tin thu được từ điều tra xã hội học được xử lý chủ yếu theo hướng định lượng thông qua thống kê mô tả bằng phần mềm Excel Hệ thống hoá các kết quả thu được thành thông tin tổng thể, để từ đó tìm ra những nét đặc trưng, những tính chất cơ bản của đối tượng nghiên cứu

2.4.4 Phương pháp kế thừa các tài liệu có liên quan

Trên cơ sở các tài liệu, kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các báo cáo tổng kết của cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương và địa phương có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu của đề tài được chọn lọc và xử lý theo yêu cầu đề tài

2.4.5 Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình thực hiện luận văn, tổ chức hội thảo, trao đổi thông tin với các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực đăng ký đất đai trao đổi về cách nhìn nhận, đánh giá cũng như những gợi ý đề xuất và giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình này

Trang 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Đồng Hỷ

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lý:

Đồng Hỷ là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên với

15 xã và 3 thị trấn Tổng diện tích tự nhiên của Đồng Hỷ là 45.524,44 ha, có toạ độ địa lý từ 21032’ - 21051’ vĩ độ Bắc; 105046’ - 106004’ kinh độ Đông với vị trí tiếp giáp như sau:

Phía Bắc giáp huyện Võ Nhai và tỉnh Bắc Kạn;

Phía Nam giáp huyện Phú Bình - thành phố Thái Nguyên;

Phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang;

Phía Tây giáp huyện Phú Lương - thành phố Thái Nguyên

Huyện Đồng Hỷ có vị trí khá thuận lợi, nằm sát trung tâm thành phố Thái Nguyên và các khu công nghiệp lớn của tỉnh, với hệ thông giao thông đường bộ khá phát triển (Quốc lộ 1B, tỉnh lộ 269 nối huyện với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang ) tạo điều kiện thuận lợi cho Đồng Hỷ trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội cũng như việc tiếp cận các thành tựu khoa học, kỹ thuật và góp phần thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Đó chính là động lực để Đồng Hỷ có thể phát triển kinh tế đa dạng với các ngành: Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch

và nông lâm nghiệp

3.1.1.2 Địa hình

Mang đặc điểm chung của vùng đồi núi, địa hình của huyện nhìn chung chia cắt phức tạp, có xu hướng thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, có độ cao trung bình 80 m so với mặt nước biển và phân thành 3 vùng khá rõ rệt: Vùng Đông Bắc: Là vùng có địa hình núi cao, chia cắt mạnh, tạo ra nhiều khe suối hiểm trở; Vùng Tây Nam: Có địa hình núi, đồi thấp, xen kẽ là những cánh đồng; Vùng ven sông Cầu: Là vùng có địa hình thấp, tương đối bằng phẳng, với nhiều cánh đồng rộng lớn, thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp

Trang 34

3.1.1.5 Các nguồn tài nguyên

- Tài nguyên nước:

Nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong huyện được khai thác chủ yếu từ nguồn nước mặt bởi các hệ thống sông, suối bao gồm hệ thống sông Cầu, suối Linh Nham, suối Thác Zạc, suối Ngàn Me và hàng trăm sông suối, ao hồ, đập chứa, kênh mương khác Tuy nhiên, phần lớn mặt nước các sông suối đều thấp hơn mặt bằng đất canh tác và các khu dân cư khá lớn gây hạn chế đáng kể tới khả năng khai thác sử dụng vào sản xuất và đời sống

- Tài nguyên rừng và thảm thực vật: Hiện tại toàn huyện có 21.210 ha

diện tích đất lâm nghiệp có rừng Độ che phủ của rừng đạt 46,09% song phân

bố không đồng đều giữa các khu vực trên địa bàn huyện Nhìn chung, thảm

Trang 35

thực vật trên địa bàn huyện Đồng Hỷ khá phong phú và đa dạng về chủng loại, có điều kiện để xây dựng hệ thống rừng phòng hộ và rừng kinh tế có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên những năm trước đây, rừng bị chặt phá, khai thác khá nhiều Do vậy, hiện tại rừng Đồng Hỷ phần lớn là rừng nghèo, trữ lượng lâm sản ít

- Tài nguyên khoáng sản: Đồng Hỷ nằm trong vùng sinh khoáng Đông

Bắc Việt Nam, thuộc vành đai sinh khoáng Thái Bình Dương Trên địa bàn huyện có nhiều mỏ và các điểm quặng:

Quặng sắt là loại khoáng sản có trữ lượng lớn nhất của huyện bao gồm: + Cụm mỏ sắt Trại Cau có trữ lượng lớn khoảng 20 triệu tấn với hàm lượng 58.8 - 61.8% được xếp vào loại chất lượng tốt

+ Cụm mỏ sắt Linh Sơn - Tiến Bộ nằm trên trục đường tỉnh lộ 259 gồm nhiều mỏ có quy mô trung bình từ 1 - 3 triệu tấn Tổng trữ lượng quặng phong hoá đạt trên 30 triệu tấn

+ Quặng chì kẽm làng Hích, làng Mới và các điểm quặng nhỏ phân bố không tập trung Quặng vàng sa khoáng phân bố rải rác khắp các vùng phía Đông và phía Bắc huyện, trữ lượng nhỏ Quặng Phốt pho rít tập trung tại Làng Mới, trữ lượng khoảng 20 - 30 vạn tấn

Có thể nói tài nguyên khoáng sản ở Đồng Hỷ rất phong phú có trữ lượng lớn như sắt, vật liệu xây dựng thuận lợi cho việc phát triển ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp vật liệu xây dựng

* Tài nguyên nhân văn: Trên địa bàn huyện có nhiều dân tộc với bản sắc

đa dạng, khác nhau cùng sinh sống, hiện nay có 8 dân tộc anh em trên địa bàn huyện; trong đó: Kinh chiếm 63.75%; Nùng chiếm 13.6%; Sán Dìu chiếm 21.7%; H’Mông chiếm 1.7%; Hoa chiếm 0.17% và một số dân tộc khác

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

3.1.2.1 Tình hình tăng trưởng kinh tế

Cơ cấu kinh tế của huyện đã chuyển dịch theo hướng tích cực; tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng, dịch vụ; tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp giảm trong GDP Năm 2011 cơ cấu kinh tế đạt được như sau: công nghiệp - xây

dựng 48,74%; dịch vụ 30,69%; nông lâm nghiệp, thuỷ sản 20,57%

Trang 36

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế của huyện Đồng Hỷ

(Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu huyện Đồng Hỷ lần thứ XVIII)

Trong năm 2011, dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương các cấp, với sự phấn đấu nỗ lực của các doanh nghiệp doanh nhân và nhân dân các dân tộc trong huyện, Đồng Hỷ đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức và đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 Nhiều chỉ tiêu chủ yếu đã đạt và vượt kế hoạch đề ra, cụ thể:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn ước đạt 21,87%, bằng 168,23% KH

- Thu nhập (GDP) bình quân đầu người đạt 24,58 triệu đồng, bằng 109,2% KH (tăng 7,03 triệu đồng/ người so với năm 2010)

- Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng c ơ bản trên địa bàn (theo giá cố định 1994) đạt 1.450 tỷ đồng (tăng trên 300

tỷ so với năm 2010)

- Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 2,5 triệu USD, bằng 100% kế hoạch, tăng 19% so với cùng kỳ (trong đó chủ yếu là sản phẩm chè búp khô)

Trang 37

- Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản (theo giá cố định 1994) đạt 307 tỷ đồng, bằng 97,7% kế hoạch, tăng 8,1% so với cùng kỳ

4.1.2.1 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập:

Theo số liệu thống kê toàn huyện năm 2011 có khoảng 59.230 lao động, chiếm 45,95% dân số Trong đó lao động phi nông nghiệp chiếm gần 15% tổng số lao động; lao động nông nghiệp vẫn là chủ yếu chiếm trên 85% tổng

số lao động Qua điều tra hàng năm lao động huyện mới chỉ sử dụng hết 78% quỹ thời gian lao động do thiếu việc làm Hiện nay có khoảng 3,6% lao động thường xuyên không có việc làm và khoảng 30% lao động nông nghiệp nhàn rỗi Số lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ gần 85% tổng số lao động Có thể nói nguồn lao động của huyện khá dồi dào song trình độ còn hạn chế Trong thời gian tới cần có các chính sách phát triển việc làm cho người dân Cùng với sự phát triển chung của tỉnh, đời sống nhân dân huyện Đồng Hỷ trong những năm qua đã được cải thiện Mức thu nhập của người dân trên địa bàn huyện Đồng Hỷ được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu phản ánh mức thu nhập của người dân trên địa

bàn huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2009 - 2011

0,513 1,252

0,568 1,4369

0,814 1,7551

565

27.611

1.368 4,95

345

28.177

7.027 24,94

360

(Phòng Thống kê huyện Đồng Hỷ)

Nhìn chung, tình hình thu nhập và mức sống hiện nay của cộng đồng các dân tộc trong huyện còn ở mức thấp so với mức bình quân chung của cả nước Bình quân thu nhập trên đầu người năm 2011 đạt 17.600.000 đồng và mức

Trang 38

thu nhập phân bố cũng không đồng đều giữa các vùng, đặc biệt là giữa khu vực nông thôn với thành thị

3.1.2.3 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, văn hóa,

y tế, giáo dục:

- Giao thông: Mạng lưới giao thông của huyện trong những năm qua

không ngừng phát triển Hiện tại trên địa bàn huyện có gần 800 km đường giao thông, mật độ đường giao thông khoảng 1,74 km/km2

(chưa kể giao thông nội đồng), bao gồm: tuyến Quốc lộ 1B chạy qua địa bàn huyện dài 73,5 km; tuyến tỉnh lộ 259 dài 27,3 km; 11 tuyến đường huyện lộ dài 91,3 km chạy qua các xã và gần 600 km đường giao thông đô thị, nông thôn

- Thuỷ lợi: Tính đến năm 2011, toàn huyện đã xây dựng được 10

hồ, đập chứa nước và hàng trăm kilômét kênh mương nội đồng Nhìn chung, cơ bản đáp ứng nước tưới cho diện tích gieo trồng lúa Ngoài ra còn góp phần tưới ẩm cho hàng trăm hécta cây công nghiệp, cây ăn quả, kết hợp nuôi trồng thuỷ sản và cung cấp nước sinh hoạt cho một bộ phận khá lớn dân cư khu vực nông thôn

- Thông tin liên lạc: Hệ thống thông tin liên lạc trên địa bàn huyện ngày

càng được hiện đại hoá Đến nay, 100% số xã đã được phủ sóng điện thoại, toàn huyện có 7.100 máy điện thoại cố định; 19,25 máy di động/100 dân; 18/18 xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hoá

- Hệ thống điện: Mạng lưới điện Đồng Hỷ nằm trong hệ thống điện Miền Bắc, bao gồm 06 tuyến lưới điện 35 KV; 4 tuyến lưới điện 6 KV và hàng trăm

km điện lưới 0,4 KV Mức độ điện khí hoá trên địa bàn huyện nhìn chung còn thấp, khả năng cung cấp và sử dụng hạn chế, chi phí tổn thất lớn Hiện tại các

xã, thị trấn trong huyện đã được sử dụng điện lưới quốc gia Tỷ lệ số hộ được dùng điện là 92,5%

- Về giáo dục và đào tạo: Tiếp tục thực hiện tốt các cuộc vận động và

phong trào thi đua lớn của ngành; Duy trì nề nếp, kỷ cương trong các nhà trường; tăng cường công tác bồi dưỡng, ứng dụng công nghệ thông tin, thanh kiểm tra, hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ năm học 2010-2011, đảm bảo các kỳ thi tổ chức an toàn và nghiêm túc Kết quả học sinh hoàn

Trang 39

thành chương trình tiểu học đạt 99,88%; tốt nghiệp THCS đạt 99,6%; tốt nghiệp THPT đạt 97,85%, hệ bổ túc THPT đạt 95,43% Toàn huyện có 320

em học sinh đỗ đại học nguyện vọng 1 (tăng 69 em so với năm học trước) Duy trì và giữ vững phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS; xây dựng được 5/6 trường đạt chuẩn quốc gia, đưa tổng số trường đạt chuẩn quốc gia lên 39/62 trường, bằng 62,9% Tổ chức đào tạo nghề cho 1.515 người, đạt 101% KH

- Y tế: Đến nay, trên địa bàn huyện có 1 bệnh viện trung tâm, 1 phân

viện Trại Cau, 01 phòng khám khu vực; 16 đội y tế xã, thị trấn; 56 cơ sở hành nghề y - dược - y học cổ truyền, có 215 cán bộ biên chế và hơn 300 nhân viên

y tế thôn, bản Bình quân trong toàn huyện khoảng 2.224 dân có 1 bác sỹ Mỗi trạm y tế đều có 4 - 6 giường bệnh và 4 - 6 cán bộ y tế phục vụ tại các trạm

- Văn hoá - Thể thao: Toàn huyện có 223 nhà văn hoá xóm (bản, tổ dân

phố) được xây dựng khang trang; 15/18 xã, thị trấn đã quy hoạch được khu trung tâm văn hoá thể thao cơ sở; 04 xã; 27 xóm; tổ dân phố có tủ sách; 18/18

xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hoá; 300 cụm loa FM xóm, bản; 06 trạm truyền thanh cơ sở; 01 trạm truyền thanh nội thị và hàng trăm đội văn nghệ, thể thao, chiếu phim, thông tin lưu động

3.2 Tình hình quản lý đất đai trên địa bàn huyện Đồng Hỷ

3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất đai

Theo kết quả thống kê đất đai năm 2011, tổng diện tích tự nhiên toàn huyện tính đến hết 12/2009 là 45.524,44ha được phân bố theo 15 đơn vị hành chính xã và 03 thị trấn, trong đó:

- Đất nông nghiệp: 37689.64 ha, chiếm 82,79% diện tích tự nhiên;

- Đất phi nông nghiệp: 4843.32ha, chiếm 10,64% diện tích tự nhiên;

- Đất chưa sử dụng: 2991.48 ha, chiếm 6,57% diện tích tự nhiên

Như vậy, hiện tại quỹ đất đai của huyện đã được đưa vào sử dụng các mục đích phát triển kinh tế - xã hội khá triệt để chiếm 93.43%

Trang 40

Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất huyện Đồng Hỷ năm 2011

Thứ tự Mục đích sử dụng đất Mã đất Diện tích

(ha)

Tỷ lệ (%) Tổng diện tích tự nhiên 45524.44

1 Đất nông nghiệp NNP 37689.64 82.79 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp SXN 15262.48 33.53 1.1.1 Đất trồng cây hàng năm CHN 8806.29 19.34

1.1.1.2 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi COC 21.66 0.05 1.1.1.3 Đất trồng cây hàng năm khác HNK 2891.56 6.35 1.1.2 Đất trồng cây lâu năm CLN 6456.19 14.18

2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 77.89 0.17 2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng SMN 969.04 2.13

3 Đất chƣa sử dụng CSD 2991.48 6.57

3.3 Núi đá không có rừng cây NCS 2003.71 4.40

Ngày đăng: 15/11/2014, 22:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Tổng cục quản lý đất đai (2009), "Báo cáo đánh giá tình hình hoạt động của hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất các cấp trong cả nước", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tình hình hoạt động của hệ thống Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất các cấp trong cả nước
Tác giả: Tổng cục quản lý đất đai
Năm: 2009
17. Tổng cục Quản lý đất đai (2009), "Tài liệu hội thảo đăng ký đất đai ở Pháp", Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội thảo đăng ký đất đai ở Pháp
Tác giả: Tổng cục Quản lý đất đai
Năm: 2009
3. The New Swedish Land Registration (http://.www.landregistration.ie/uploadefiles/conference 20071/papers/s2p1.pdf) Link
1. Báo VietNamnet (2004), "cải cách hành chính đang vướng ở đâu, cải cách hành chính phải gắn với thực tiễn và chiến lược phát triển kinh tế&#34 Khác
2. Bộ giáo dục và Đào tạo (2000), Khoa học Môi trường, NXB giáo dục, Hà Nội Khác
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ (2004), Thông tư liên tịch số 38/2004/TTLT-BTNMT-BNV hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Khác
4. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nội vụ, Bộ Tài Chính (2010), Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT-BTNMT-BNV-BTC hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, biên chế và cơ chế tài chính của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Khác
5. Bộ Tài chính, Bộ tài nguyên và môi trường (2005), Thông tư liên tịch số 30/2005/TTLT-BTC-BTNMT hướng dẫn việc luân chuyển hồ sơ của người sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính Khác
6. TS. Nguyễn Đình Bồng, Tôn Gia Huyên (2007), quản lý đất đai và thị trường bất động sản, NXB bản đồ Khác
7. Chính phủ (2001), nghị định số 181/2004/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Luật đất đai, Hà Nội Khác
8. Chính phủ (2001), Quyết định 93/2007/QĐ-TTg ban hàng quy chế thực hiện một cửa, một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương Khác
9. ThS. Nguyễn Văn Chiến (2006), nghiên cứu các mô hình và phương thức hoạt động của tổ chức đăng ký đất đai của một số nước trong khu vực và một số nước phát triển Khác
10. PGS.TS Nguyễn Thanh Trà, TS Nguyễn Đình Bồng (2005), giáo trình quản lý thị trường bất động sản, NXB nông nghiệp Khác
11. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, năm 1992 Khác
14. Luật đất đai năm 1988, năm 1998, năm 1993, Luật đất đai sửa đổi bổ sung một số điều năm 1998, năm 2001 Khác
15. Luật đất đai năm 2003, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
18. Uỷ ban nhân dân huyện Đồng Hỷ (2011), Quy trình thực hiện giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường- Áp dụng hệ thống quản lý nhà nước (gọi tắt là Quy trình ISO) Khác
19. Uỷ ban nhân dân huyện Đồng Hỷ (2009), Quyết định số 284/QĐ-UBND ngày 10/3/2009 về việc thành lập Văn phòng đăng ký đất trực thuộc phòng TN&MT huyện Đồng Hỷ Khác
20. Uỷ ban nhân dân huyện Đồng Hỷ (2009), Quyết định số 647/QĐ-UBND về việc ban hành "Quy chế tổ chức và hoạt động của văn phòng đăng ký đất huyện Đồng Hỷ&#34 Khác
21. Uỷ ban nhân dân huyện Đồng Hỷ (2011) Báo cáo thuyết minh kết quả kiểm kê đất đai năm 2011 trên địa bàn huyện Đồng Hỷ Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Vị trí của VPĐK  trong hệ thống quản lý đất đai - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Sơ đồ 1.1 Vị trí của VPĐK trong hệ thống quản lý đất đai (Trang 19)
Bảng 1.1. Tình hình thành lập VPĐK các cấp - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 1.1. Tình hình thành lập VPĐK các cấp (Trang 22)
Bảng 2.2. Nguồn nhân lực của VPĐK của Nhà nước. - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 2.2. Nguồn nhân lực của VPĐK của Nhà nước (Trang 24)
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế của huyện Đồng Hỷ   giai đoạn 2009 -  2011 - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu phát triển kinh tế của huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2009 - 2011 (Trang 36)
Bảng 3.3: Hiện  trạng sử dụng đất huyện Đồng Hỷ năm 2011 - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất huyện Đồng Hỷ năm 2011 (Trang 40)
Sơ đồ 3.1: Tổ chức bộ máy hoạt động của VPĐKQSD đất huyện Đồng Hỷ - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Sơ đồ 3.1 Tổ chức bộ máy hoạt động của VPĐKQSD đất huyện Đồng Hỷ (Trang 43)
Bảng 3.4. Thực trạng trình độ cán bộ địa chính của huyện Đồng Hỷ - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.4. Thực trạng trình độ cán bộ địa chính của huyện Đồng Hỷ (Trang 45)
Bảng 3.5: Thời gian giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến đất  đai thuộc thẩm quyền của VPĐKQSD đất huyện Đồng Hỷ - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.5 Thời gian giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến đất đai thuộc thẩm quyền của VPĐKQSD đất huyện Đồng Hỷ (Trang 48)
Bảng 3.6 : Kết quả cấp GCNQSD đất trên địa bàn huyện Đồng Hỷ tính đến  hết năm 2011 - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.6 Kết quả cấp GCNQSD đất trên địa bàn huyện Đồng Hỷ tính đến hết năm 2011 (Trang 49)
Bảng 3.7. Tiến độ cấp GCNQSD đất lần đầu trên địa bàn    huyện Đồng Hỷ 2007 – 20011 - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.7. Tiến độ cấp GCNQSD đất lần đầu trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 2007 – 20011 (Trang 51)
Bảng 3.8. Tiến độ cấp GCNQSD đất do chuyển quyền sử dụng đất trên địa  bàn  huyện Đồng Hỷ 2007 - 20011 - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.8. Tiến độ cấp GCNQSD đất do chuyển quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 2007 - 20011 (Trang 52)
Bảng 3.9: Kết quả thực hiện quyền thế chấp, bảo lãnh bằng quyền QSD đất  tại huyện Đồng Hỷ từ năm 2007- 20011 - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.9 Kết quả thực hiện quyền thế chấp, bảo lãnh bằng quyền QSD đất tại huyện Đồng Hỷ từ năm 2007- 20011 (Trang 53)
Bảng 3.10 . Hiện trạng hệ thống bản đồ địa chính huyện Đồng Hỷ - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.10 Hiện trạng hệ thống bản đồ địa chính huyện Đồng Hỷ (Trang 55)
Bảng 3.11. Tổng hợp hiện trạng hệ thống bản đồ địa chính huyện Đồng Hỷ - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.11. Tổng hợp hiện trạng hệ thống bản đồ địa chính huyện Đồng Hỷ (Trang 56)
Bảng 3.12. Tình hình lập hồ sơ địa chính huyện Đồng Hỷ - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.12. Tình hình lập hồ sơ địa chính huyện Đồng Hỷ (Trang 57)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w