Với mục tiêu giúp địa phương nhìn nhận đánh giá kết quả quản lý thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Hoành Bồ mà cụ thể là thị trấn Trới, phân tích, đánh giá nhữn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
VŨ XUÂN VƢỢNG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUY HOẠCH,
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THỊ TRẤN TRỚI, HUYỆN HOÀNH BỒ, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái nguyên - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYấN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NễNG LÂM
VŨ XUÂN VƢỢNG
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CễNG TÁC QUY HOẠCH,
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THỊ TRẤN TRỚI, HUYỆN HOÀNH BỒ, TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NễNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học:
1 (TS HOÀNG VĂN HÙNG)
Thỏi nguyờn - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bài luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực
sự của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát và phân tích từ thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hoàng Văn Hùng Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào, phần trích dẫn và tài liệu tham khảo đều được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012
Tác giả
Vũ Xuân Vƣợng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành tại khoa Sau đại học, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên dưới sự hướng dẫn khoa học, nghiêm túc và chu đáo của TS Hoàng Văn Hùng Tác giả xin chân thành cảm ơn đến thầy – người đã thường xuyên dạy bảo, khuyến khích hiện thực hóa những cố gắng của bản thân trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn tới cán bộ thuộc UBND thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
Do thời gian có hạn, năng lực chuyên môn còn hạn chế và bản thân mới bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, nên luận văn không khỏi những thiếu sót, kính mong quý thầy cô và các bạn quan tâm góp ý để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2012
Tác giả
Vũ Xuân Vƣợng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Yêu cầu của đề tài 2
4 Ý nghĩa của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái niệm và đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất 3
1.1.1 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội 3
1.1.2 Quy hoạch sử dụng đất đai - cơ sở khoa học để nhà nước thống nhất quản lý 4
1.2 Một số lý luận về sử dụng đất hợp lý 13
1.2.1 Đất đai và chức năng của đất đai 13
1.2.2 Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất 14
1.2.3.Những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất 14
1.2.4 Sử dụng đất và các mục đích kinh tế, xã hội, môi trường 16
1.2.5 Quản lý bền vững tài nguyên đất 17
1.3 Tình hình nghiên cứu và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng trên thế giới và trong nước 18
1.3.1 Tình hình quy hoạch sử dụng đất đai trên thế giới 18
1.3.2 Tình hình quy hoạch sử dụng đất đai ở trong nước 19
1.3.3 Tình hình quy hoạch sử dụng đất đai ở tỉnh Quảng Ninh 20
1.3.4 Tình hình quy hoạch sử dụng đất đai ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh 22
1.3.5 Tình hình triển khai quy hoạch, kế hoạch sự dụng đất của thị trấn Trới - huyện Hoành Bồ - tỉnh Quảng Ninh 23
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 24
Trang 62.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 24
2.2 Nội dung nghiên cứu 24
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ giai đoạn 2006 – 2010 24
2.2.2 Đánh giá công tác quản lý, sử dụng đất đầu kỳ trước kỳ quy hoạch 24
2.2.3 Đánh giá công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010 24
2.2.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 25
2.3 Phương pháp nghiên cứu: 25
2.3.1 Phương pháp 1: Điều tra, thu thập thông tin thứ cấp 25
2.3.2 Phương pháp 2: Thu thập số liệu sơ cấp 26
2.3.3 Phương pháp 3: Minh họa bằng biểu đồ, bản đồ, sơ đồ và đồ thị 26
2.3.4 Phương pháp 4: Điều tra, khảo sát thực địa 26
2.3.5 Phương pháp 5: Phân tích, tổng hợp 26
2.3.6 Phương pháp 6: Chuyên gia 26
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ giai đoạn 2006 – 2010 27
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 27
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
3.2 Đánh giá công tác quản lý, sử dụng đất đầu ký trước kỳ quy hoạch 35
3.2.1 Tình hình quản lý đất đai 35
3.2.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất đầu kì quy hoạch thị trấn Trới 38
3.3 Đánh giá công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010 41
3.3.1 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và biến động sử dụng đất thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ cuối kỳ quy hoạch 41
3.3.2 Đánh giá công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong kỳ quy hoạch thị trấn Trới giai đoạn 2006 – 2010 48
3.3.3 Đánh giá công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất trong kỳ quy hoạch thị trấn Trới giai đoạn 2006 - 2010 48
3.3.4 Đánh giá công tác thực hiện kế hoạch sử dụng đất thị trấn Trới giai đoạn 2007 – 2010 57
3.3.5 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất các dự án trên địa bàn thị trấn Trới giai đoạn 2006 – 2010 63
Trang 73.3.6 Đánh giá sự hiểu biết về công tác QHSDĐ và ý kiến của người dân trên địa bàn
về tình hình thực hiên QHSDĐ giai đoạn 2006 – 2010 70
3.3.7 Đánh giá thông qua ý kiến của cán bộ TN và MT về những khó khăn, thuận lợi khi thực hiện QHSDĐ và áp dụng các văn bản mới liên quan đến đất đai hiện nay 75
3.4 Giải pháp nâng cao hiệu qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 77
3.4.1 Nguyên nhân những tồn tại chủ yếu trong sử dụng đất 77
3.4.2 Các giải pháp thực hiện quy hoạch 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80
1 Kết luận 80
2 Đề nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ năm 2010 41 Bảng 3.2: Biến động sử dụng đất thị trấn Trới giai đoạn 2006 – 2010 43 Bảng 3.3 : Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp thị trấn Trới đến năm 2010 49 Bảng 3.4 : Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp thị trấn Trới đến năm 2010 51 Bảng 3.5: Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất chưa sử dụng thị trấn Trới đến năm 2010 54 Bảng 3.6: Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối của thị trấn Trới đã được phê duyệt giai đoạn 2007 - 2010 58 Bảng 3.7: Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của các dự án trên địa bản thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ 64
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Hiện trạng sử dụng đất thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ năm 2005 38 Hình 3.2: Các yếu tố liên quan đến quy hoạch sử dụng đất huyện Hoàng Bồ 72 giai đoạn 2006-2010 Qua đồ thị trên ta thấy các yếu tố có mối quan hệ và tác động đến quy hoạch sử dụng đất chia làm 2 nhóm: 72 Hình 3.3 : Tuổi, nghề nghiệp, trình độ quan hệ và tác động đến quy hoạch 72
sử dụng đất 72 Hình: 3.4: Mối quan hệ giữa lợi ích của quy hoạch đối với người dân và các yếu tố liên quan đến quy hoạch 74
Trang 10DANH MỤC VIẾT TẮT
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam bản chất là Nhà nước xã hội chủ nghĩa đã xác định “Đất đai thuộc
sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý” Trong giai đoạn hiện nay, nền
kinh tế của chúng ta đang đi theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Vì thế, phải có
sự đối chiếu sử dụng hợp lý giữa Các kiểu sử dụng đất và loại hình sử dụng đất để đạt được hiệu quả cao đồng thời bảo vệ được hệ sinh thái và môi trường sống Thị trấn Trới là một đơn vị hành chính cấp xã ở trung tâm huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh Với vị trí như vậy, Các vấn đề liên quan đến đất đai của thị trấn cũng diễn ra hết sức phức tạp và nhạy cảm đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải có chủ trương, chính sách phù hợp cho từng giai đoạn, từng thời kỳ
Vấn đề thực tiễn cấp thiết khiến chúng ta phải tự đề ra mục tiêu sử dụng đất cho mình đó là: Sử dụng đất phải vừa hợp lý, tiết kiệm, khoa học vừa phải đạt hiệu quả cao Như vậy, để đáp ứng mục tiêu đó, chúng ta phải quy hoạch sử dụng đất hợp lý và tổ chức thực hiện quy hoạch đó một cách hiệu quả
Vậy, quy hoạch sử dụng đất là gì? Về thực chất, quy hoạch sử dụng đất là sự
bố trí, phân bổ, các loại đất sao cho sử dụng phù hợp với yêu cầu của cuộc sống con người, nâng cao hiệu quả sử đụng đất và luôn chú ý tới việc bảo vệ và bồi dưỡng quỹ đất Nhưng trên thực tế, việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất lại đang gặp nhiều khó khăn, trở ngại dẫn đến quy hoạch không thực hiện được theo kế hoạch, không đạt được mục đích đề ra
Với mục tiêu giúp địa phương nhìn nhận đánh giá kết quả quản lý thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện Hoành Bồ mà cụ thể là thị trấn Trới, phân tích, đánh giá những kết quả đã đạt được và những tồn tại bất cập trong quá trình quản lý thực hiện phương án quy hoạch sử dụng dất đến năm 2010;
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tính khả thi của phương án quản lý quy hoạch
sử dụng đất; khắc phục những nội dung chưa phù hợp của công tác quản lý phương
án quy hoạch sử dụng đất không theo kịp những biến động trong phát triển kinh tế -
xã hội, trên cơ sở yêu cầu thực tiễn của địa phương, tôi thực hiện đề tài nghiên cứu:
“Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh ”
Trang 122 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá đúng thực trạng công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đề xuất giải pháp để việc quy hoạch, kees hoạch sử dụng đất của thị trấn Trới có tính khả thi cao và hiệu quả
3 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá đầy đủ, khách quan, đúng thực trạng và phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 4 năm (2006 - 2010) của thị trấn
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và biến động đất đai trong thời kỳ
2006-2010
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo hài hoà các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
4 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học
+ Sử dụng kiến thức đã học áp dụng vào thực tế nâng cao tính thực tiễn, chiều sâu của kiến thức ngành học cho bản thân
+ Nghiên cứu vấn đề còn tồn tại trong thực tiễn để tìm ra cái mới cho lý thuyết
từ đó quay trở lại áp dụng cho thực tiễn
- Ý nghĩa thực tiễn
- Làm cơ sở để UBND tỉnh Quảng Ninh nghiên cứu, xem xét xây dựng phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong những giai đoạn tiếp theo cho phù hợp với đặc thù của tỉnh và các huyện thị trong tỉnh
- Đóng góp những cơ sở khoa học minh chứng cho những tồn tại làm cơ sở đưa ra các giải pháp có tính thiết thực trước tiên là cho thị trấn Trới tiến hành nghiên cứu
- Đóng góp cơ sở khoa học cho các cơ quan ban ngành, UBND tỉnh Quảng Ninh nghiên cứu trong quá trình xây dựng phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong những giai đoạn tiếp theo
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm và đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
1.1.1 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội
1.1.1.1 Khái niệm đất đai
Đất đai là một tặng vật vô giá mà tạo hoá đã ban tặng cho con người, là nguồn gốc của mọi của cải vật chất xã hội, là tư liệu sản xuất không thể thay thế, là thành phần quan trọng hàng đầu cuả sự sống, là nguồn tài nguyên không tái tạo trong nhóm tài nguyên hạn chế của mỗi quốc gia Đất đai là địa bàn phân bố của các khu dân cư,
là nền tảng xây dựng các ngành, các công trình phục vụ cho sản xuất, đời sống và sự nghiệp phát triển văn hoá, an ninh quốc phòng của mỗi đất nước Nhận thấy tầm quan
trọng của đất đai C.Mác đã khái quát rằng: “Đất là mẹ, sức lao động là cha sản sinh
là vấn đề mang tính quốc sách [11]
1.1.1.2 Vai trò và ý nghĩa của đất đai
Luật đất đai năm 1993 đã khẳng định:
- Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá
- Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt
- Đất đai là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống
Trang 14- Đất đai là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng[11]
Trong các điều kiện vật chất cần thiết, đất đai giữ vị trí và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Là điều kiện đầu tiên, là cơ sở thiên nhiên của mọi quá trình sản xuất
Là nơi tìm được công cụ lao động, nguyên liệu lao động và là nơi sinh tồn của xã hội con người
Tuy nhiên, vai trò của đất đai đối với từng ngành kinh tế rất khác nhau:
(1) Đối với ngành phi nông nghiệp:
Đất đai giữ vai trò thụ động đối với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, sản xuất Là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản) Quá trình sản xuất là sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đăc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất
tự nhiên sẵn có của đất
(2) Đối với các ngành nông - lâm nghiệp:
Đất đai là yếu tố tích cực trong quá trình sản xuất, là điều kiện vất chất cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động và là công cụ hay phương tiện lao động Quá trình sản xuất nông lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu
và quá trình sinh học tự nhiên của đất
1.1.2 Quy hoạch sử dụng đất đai - cơ sở khoa học để nhà nước thống nhất quản lý
1.1.2.1 Khái niệm và quan điểm về quy hoạch sử dụng đất đai
Hiện nay, có nhiều ý kiến, định nghĩa, khái niệm khác nhau về quy hoạch sử dụng đất Mặc dù có rất nhiều cách diễn đạt khác, nhưng nhìn chung đều cho rằng quy hoạch sử dụng đất phải đảm bảo sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và đảm bảo về mặt môi trường
Quy hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh tế - xã hội có tính chất đặc thù Đây là một hoạt động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý của một hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh tế, xã hội, có những đặc trưng của tính phân dị giữa các cấp vùng lãnh thổ theo quan điểm tiếp cân hệ thống để hình thành các
phương án tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo pháp luật của nhà nước (Vũ Thị Bình, 2010)[5] Bản thân nó được coi là các giải pháp định vị cụ thể các tổ chức
phát triển kinh tế, xã hội trên vùng lãnh thổ nhất định, cụ thể là đáp ứng nhu cầu mặt bằng sử dụng đất hiện tại và tương lai của các ngành các lĩnh vực cũng như nhu cầu sinh hoạt của mọi thành viên xã hội một cách tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả cao
Trang 15Quy hoạch sử dụng đất là một hoạt động vừa mang tính kỹ thuất kinh tế, vừa mang tính pháp chế
Cũng có thể đưa ra khái niệm về quy hoạch sử dụng đất như sau:
Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước về tổ chức sử dụng đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả thông qua việc phân phối và tái phân phối lại quỹ đất của Nhà nước, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất đặc biệt nhằm nâng cao hiệu quả xã hội, tạo điều kiện bảo
vệ đất và bảo vệ môi trường
Về thực chất quy hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất, đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, kết hợp bảo vệ đất và bảo vệ môi trường
1.1.2.2 Nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất đai
Các hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực phân phối và sử dụng tài nguyên đất tuân theo quy luật phát triển kinh tế khách quan Quyền sở hữu Nhà nước về đất đai là cơ sở để bố trí các ngành, là một trong những yếu tố quan trọng nhất để đưa nền kinh tế thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, thúc đẩy và mở rộng sản xuất Nhà nước thực hiện chức năng phân phối và tái phân phối quỹ đất nhằm đáp ứng nhu cầu về đất sử dụng cho các ngành, đơn vị, cá nhân sử dụng đất và điều chỉnh các mối quan
hệ đất đai thông qua quy hoạch Như vậy, quy hoạch sử dụng đất thực hiện đồng thời 2 chức năng: điều chỉnh mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt được xây dựng dựa trên những nguyên tắc sau:
Một là, chấp hành quyền sở hữu Nhà nước về đất đai
Nguyên tắc này là cơ sở của mọi hoạt động và biện pháp có liên quan tới quyền sử dụng đất, là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động quy hoạch
Quy hoạch sử dụng đất nước ta là hệ thống các biện pháp của Nhà nước nhằm quản lý, sử dụng đất đai đầy đủ, hợp lý và hiệu quả Nó có mối quan hệ chặt chẽ với chủ trương, chính sách và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Trong công tác quản lý đất đai, quy hoạch sử dụng đất có ý nghĩa to lớn, giúp cho quản lý đất đai chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả và các chỉ tiêu, chủ trương của Nhà nước được thực hiện tốt
Luật pháp bảo vệ quyền bất khả xâm phạm quyền sử dụng đất và tính ổn
Trang 16định của mỗi đơn vị sử dụng đất vì đó là cơ sở quan trọng nhất để phát triển sản xuất Khi lập quy hoạch sử dụng đất, người ta xác định phạm vi quyền lợi của mỗi chủ sử dụng đất Do đó, quy hoạch sử dụng đất có vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa các hành vi xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của các đơn vị sử dụng đất Mỗi chủ sử dụng đất chỉ có quyền sử dụng đất mà Nhà nước cho phép chứ không có quyền sở hữu đất[11]
Hai là, sử dụng đất tiết kiệm, bảo vệ đất và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là điều kiện tồn tại cơ bản, gắn liền với hoạt động của con người, của các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước, có vai trò quan trọng đối với con người và khác mọi tư liệu sản xuất khác là nếu được
sử dụng đúng và hợp lý thì chất lượng đất ngày càng tốt lên Mặt khác, chúng ta đều biết, đất đai có hạn về diện tích, trong khi đó, dân số không ngừng tăng nhanh, gây
áp lực lớn đối với đất đai Điều này đòi hỏi việc sử dụng đất phải tiết kiệm và hiệu quả Sử dụng đất tiết kiệm tức là phải bố trí hài hòa giữa nhu cầu sử dụng đất của các ngành, hạn chế tối đa việc sử dụng đất canh tác có hiệu quả sang các mục đích phi nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, thỏa mãn nhu cầu nông sản phẩm cho toàn xã hội và nguyên liệu cho công nghiệp, đồng thời cân đối quỹ đất thích hợp với nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao chất lượng đất và mở rộng diện tích Điều này khẳng định tầm quan trọng của quy hoạch
sử dụng đất, ngoài ra rất cần có quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết có giá trị thực tiễn cao đến cấp xã, cần gắn liền quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch các ngành công nghiệp và dịch vụ như du lịch, chế biến nông sản, phát triển ngành nghề thủ công mà thị trường đòi hỏi, đồng thời có những biện pháp bảo vệ đất, đảm bảo cho sử dụng đất bền vững Chống suy thoái và ô nhiễm đất là một trong những biện pháp bảo vệ đất[11]
Việt Nam, với đặc điểm là đất đồi núi chiếm 3/4 lãnh thổ toàn quốc, lại nằm ở vùng nhiệt đới, mưa nhiều và tập trung, nhiệt độ không khí cao, các quá trình khoáng hóa diễn ra mạnh trong đất nên dễ bị rửa trôi, xói mòn, nghèo chất hữu cơ
và chất dinh dưỡng dẫn đến thoái hóa Quan trọng hơn nữa là do hậu quả của việc chặt phá, đốt rừng bừa bãi, sử dụng đất không bền vững qua nhiều thế hệ nên đất bị thoái hóa ngày càng nghiêm trọng, nhiều nơi mất khả năng sản xuất và xu hướng hoang mạc hóa ngày càng tăng Do đó, mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là phải coi trọng diện tích phủ xanh bằng cây rừng, có chính sách và xây dựng quan điểm toàn dân bảo vệ rừng nhất là rừng đầu nguồn, chăm sóc, tu bổ, phục hồi rừng, trồng
Trang 17cây phủ xanh đất trống đồi núi trọc, khôi phục, cải thiện môi trường sống theo quan điểm cân bằng sinh thái bền vững
Những năm gần đây, do áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ và kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nên Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Tuy nhiên, sự thâm canh nông nghiệp với sử dụng nhiều phân bón hàm lượng và cách thức không hợp lý đã làm đất sản xuất nông nghiệp ngày càng ô nhiễm Ngoài ra, với sự phát triển ồ ạt của ngành công nghiệp trong giai đoạn qua đã làm đất bị ô nhiễm trầm trọng bởi chất thải của các nhà máy công nghiệp Đây là một thử thách lớn cho các nhà quy hoạch cũng như các nhà quản lý trong giai đoạn nước ta đang thực hiện tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa: khôi phục các làng
nghề truyền thống và tạo điều kiện thuận lợi cho công nghiệp phát triển
Ba là, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Khi phân bổ quỹ đất cho các ngành, cần đảm bảo nguyên tắc tổ chức sử dụng tài nguyên đất vì lợi ích của nền kinh tế quốc dân nói chung và từng ngành nói riêng, trong đó ưu tiên cho ngành nông nghiệp[11]
Sự phát triển của các ngành nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, thủy điện, dầu khí đều đòi hỏi phải có đất Việc bố trí công trình của các ngành trên thường được dự kiến trước trong kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân dài hạn với tiêu chí: những khoanh đất giao cho các nhu cầu phi nông nghiệp nên lấy từ đất không sử dụng hoặc sử dụng kém hiệu quả trong nông nghiệp Với trường hợp giao đất cho nhu cầu khai thác khoáng sản, người ta thường phải lường trước mọi hậu quả có thể xảy ra cho các đơn vị mất đất và đề xuất biện pháp khắc phục hậu quả giảm bớt những ảnh hưởng xấu của nó Dựa trên thực trạng, vấn đề bức xúc
mà ngành đang vấp phải và xu thế phát triển của từng ngành kinh tế để xây dựng quy hoạch sử dụng đất đai trên cơ sở hợp thành của các quy hoạch ngành Có như vậy, quy hoạch sử dụng đất mới đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Bốn là, tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ hợp lý
Quy hoạch sử dụng đất được tiến hành theo kế hoạch chung của Nhà nước, của ngành và của từng đơn vị sử dụng đất cụ thể Việc bố trí giữa các ngành đòi hỏi phải có sự phân bố hợp lý, tạo điều kiện cho sự phát triển tổng hợp Các đơn vị sản xuất nông nghiệp căn cứ vào nghĩa vụ giao nộp cho Nhà nước và các nhu cầu tiêu dùng nội bộ mà xác định quy mô diện tích trồng từng loại cây, số đầu gia súc từng
Trang 18loại Bên cạnh đó, việc sử dụng đất có ảnh hưởng đến việc phát triển và bố trí các ngành nghề, việc tổ chức lao động và năng suất lao động, đến tư liệu sản xuất Quy hoạch sử dụng đất phải có sự kết hợp hài hòa nhu cầu sử dụng đất của các ngành, tổ chức lãnh thổ hợp lý mới giúp cho việc phát triển các ngành cân đối theo chỉ tiêu và nhu cầu sử dụng đất đã định[11]
Năm là, phải phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Mỗi vùng khác nhau có các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau nên phương án quy hoạch xây dựng phù hợp cho từng vùng cũng khác nhau Thực
tế cho thấy, các cơ sở sản xuất nông nghiệp thường đầu tư lớn cho các công trình liên quan: nhà ở, thủy lợi, giao thông và những công trình này khai thác hết công suất nếu vị trí xây dựng của chúng là hợp lý Bên cạnh đó, để tăng năng suất cây trồng phải xác định cơ cấu sử dụng đất thích hợp và cơ cấu luân canh hợp lý trên địa bàn lãnh thổ đó Vì vậy, khi quy hoạch sử dụng đất cần phải tính toán sao cho chúng sử dụng có hiệu quả nhất cả hiện tại và tương lai lâu dài Qua những lý luận trên cho thấy, khi xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất phải tuân theo những nguyên tắc trên mới đảm bảo phương án đó có tính khả thi và tạo điều kiện sử dụng đất hợp lý, hiệu quả và bền vững, thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển[11]
1.1.2.3 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất đai
Có nhiều quan điểm khác nhau về cách phân loại quy hoạch sử dụng đất đai Tuy nhiên, mọi quan điểm đều dựa trên những căn cứ hoặc cơ sở chung như: nhiệm
vụ đặt ra đối với quy hoạch, số lượng và thành phần đối tượng nằm trong quy hoạch, phạm vi lãnh thổ quy hoạch (cấp vị lãnh thổ hành chính), Thông thường
hệ thống quy hoạch sử dụng đất đai được phân loại theo nhiều cấp vị khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ cụ thể về sử dụng đất đai từ tổng thể đến chi tiết Có hai loại hình quy hoạch chính, đó là:
- Quy hoạch sử dụng đất theo ngành, như: quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp; quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp; quy hoạch sử dụng đất giao thông, thủy lợi[11]…
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là diện tích đất đai thuộc quyền sử dụng và diện tích dự kiến cấp thêm cho ngành Quy hoạch sử dụng đất đai giữa các ngành có quan hệ chặt chẽ với quy hoạch sử dụng đất
- Quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ: tại Việt Nam, Luật Đất đai năm 2003, tại Điều 25 quy định: quy hoạch sử dụng đất được tiến hành theo 4 cấp lãnh thổ:
Trang 19quy hoạch sử dụng đất đai cả nước; quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh; quy hoạch
sử dụng đất đai cấp huyện; quy hoạch sử dụng đất đai chi tiết cấp xã[12]
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tự nhiên của lãnh thổ Tuỳ thuộc vào cấp vị lãnh thổ hành chính quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau và được thực hiện theo nguyên tắc: từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến bộ phận, từ cái chung đến cái riêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý các bước
Khác với Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 không quy định cụ thể quy hoạch sử dụng đất theo các ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp, khu dân cư nông thôn, đô thị, chuyên dùng) Quy hoạch sử dụng đất của các ngành này đều nằm trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính Đối với quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh được quy
Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất theo các cấp lãnh thổ hành chính,
đó là: đáp ứng nhu cầu đất đai (tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả) cho hiện tại và tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân; cụ thể hoá một bước quy hoạch sử dụng đất đai của các ngành và đơn vị hành chính cấp cao hơn; làm căn cứ,
cơ sở để các ngành (cùng cấp) và các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai quy hoạch sử dụng đất đai của ngành và địa phương mình; làm cơ sở để lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm (căn cứ để thu hồi, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất theo thẩm quyền được quy định trong Luật Đất đai); phục vụ cho công tác thống nhất quản lý Nhà nước
Có thể hiểu mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ và quy hoạch sử dụng đất theo ngành, như sau: trước tiên, Nhà nước căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và hệ thống thông tin tư liệu về điều kiện đất đai hiện có để xây dựng quy hoạch tổng thể sử dụng các loại đất Các ngành chức năng căn cứ vào quy hoạch tổng thể sử dụng các loại đất để xây dựng quy hoạch sử dụng đất cụ thể cho từng ngành phù hợp với yêu cầu và nội dung sử dụng đất của ngành Như vậy, để đảm bảo sự thống nhất, tránh hiện tượng trồng chéo thì quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và có tính định hướng cho quy hoạch sử dụng đất theo ngành
1.1.2.4 Tầm quan trọng của việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ cho trước mặt mà còn cho lâu dài Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy
Trang 20hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết của mình, xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai, làm cơ sở để tiến hành giao đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ nhu cầu
dân sinh, văn hoá - xã hội (Nguyễn Đình Bồng, 2010)[6]
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của nhà nước nhằm
tổ chức lại việc sử dụng đất đai đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông nghiệp, lâm nghiệp Ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế xã hội và các hậu quả khó lường về sự bất ổn trong chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường
1.1.2.5 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai
Quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch có tính lịch sử - xã hội, tính khống chế vĩ mô, tính chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát triển xã hội và kinh tế quốc dân.Theo Viện Điều tra Quy hoạch Đất đai, Tổng cục Địa chính (1998) các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện cụ thể như sau:
* Tính lịch sử-xã hội
Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng đất đai Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất của xã hội thể hiện theo 2 mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong quy hoạch sử dụng đất đai, luôn nẩy sinh quan hệ giữa người với đất đai - là sức tự nhiên, cũng như quan hệ giữa người với người Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan
hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất
Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất đai mang tính tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về mặt pháp Ở nước ta, quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ nhu cầu của người sử dụng đất và quyền lợi của toàn xã hội; góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; nhằm sử dụng, bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng đất đai góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nẩy sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau
Trang 21* Tính tổng hợp
Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất đai biểu hiện chủ yếu ở hai mặt: đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân; quy hoạch sử dụng đất đai đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như: khoa học tự nhiên, khoa học
xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi trường sinh thái
Với đặc điểm này, quy hoạch lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng đất; điều hoà các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực; xác định và điều phối phương hướng, phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát
triển bền vững, đạt tốc độ cao và ổn định
* Tính dài hạn
Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế xã hội quan trọng, từ đó xác định quy hoạch trung và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng năm và ngắn hạn
Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất để phát triển lâu dài kinh tế - xã hội Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn của quy hoạch
sử dụng đất đai thường từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc xã hơn
* Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô
Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ dự kiến trước được các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất
Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất của các ngành như:
- Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trong vùng;
- Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành
- Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng
- Phân định ranh giới và các hình thức quản lý việc sử dụng đất đai trong vùng
- Đề xuất các biện pháp, chính sách lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng đất
Trang 22Do khoảng thời gian dự báo tương đối dài, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố kinh tế - xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hóa, quy hoạch
sẽ càng ổn định
* Tính chính sách
Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính sách
xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế
- xã hội; tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái
* Tính khả biến
Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất đai không còn phù hợp Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch Quy hoạch sử dụng đất đai luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc “quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện ” với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao[2]
1.1.2.6 Những văn bản quy định về quy hoạch sử dụng đất
- Luật đất đai 1993
- Công văn số 503 CV - TCĐC ngày 29/04/1995 của tổng cục địa chính (nay là
Bộ Tài nguyên và Môi trường) và công văn số 862 CV - TCĐC ngày 12/10/1998 của
Tổng cục địa chính về việc hướng dẫn quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Luật đất đai 2003
- Nghị định của Chính phủ số 68/2001/NĐ ngày 01/10/2001 về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Nghị định số 181/2004/NĐ - CP ngày 29/10/2004 của Thủ tướng chính phủ
về việc hướng dẫn thi hành Luật đất đai 2003[7]
- Thông tư 30/2004/TT - BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất[1]
Trang 23- Chỉ thị số 05/2006/CT - TTg ngày 22/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ về khắc phục những yếu kém, sai phạm, tiếp tục đấy mạnh Luật đất đai
- Thông tư 19/2009/TT - BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy đinh về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 30/2004/TT - BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về lập,điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất[3]
- Văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện Hoành Bồ nhiệm kỳ 2006 - 2010
- Định hướng phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa huyện Hoành Bồ - tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020
- Các văn bản liên quan đến công tác quản lý nhà nước về đất đai, quy hoạch
sử dụng đất đai Hoành Bồ và tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006 - 2010
1.2 Một số lý luận về sử dụng đất hợp lý
1.2.1 Đất đai và chức năng của đất đai
Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm
và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại Các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và sinh tồn của xã hội loài người được thể hiện theo các mặt sau: sản xuất; môi trường sự sống; cân bằng sinh thái; điều tiết khí hậu; tàng trữ và cung cấp nguồn nước; dự trữ; kiểm soát ô nhiễm
và chất thải; Không gian sự sống; bảo tồn - bảo tàng sự sống; phân dị lãnh thổ[9;10]
Đất đai đóng vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là
cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất Các Mác đã nhấn mạnh “Đất là
mẹ, lao động là cha, sản sinh ra mọi của cải vật chất”
Đối với các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò là cơ sở không gian để thực hiện các quá trình lao động, là kho tàng dự trữ các tài nguyên trong lòng đất Trong nông nghiệp, đất đai tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất và làm ra sản phẩm phục vụ đời sống của con người và xã hội Năng suất và chất lượng của sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất Đất nông nghiệp là yếu tố đầu vào quan trọng tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản
Trang 241.2.2 Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất
Đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người Điều này có nghĩa - thiếu khoảnh đất thì không một ngành nào, xí nghiệp nào có thể bắt đầu công việc và hoạt động được Nói khác đi – không có đất sẽ không có sản xuất cũng như không có sự tồn tại Đất đai giữ vai trò tích cực trong quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất, cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động và công cụ hay phương tiện lao động Quá trình sản xuất nông nghiệp liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất[9;10]
Lợi ích của việc sử dụng đất rất đa dạng, song có thể chia thành 3 nhóm lợi ích
cơ bản sau:
- Sử dụng đất làm tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt để thoả mãn nhu cầu sinh tồn và phát triển của con người;
- Dùng đất làm cơ sở sản xuất và môi trường hoạt động;
- Đất cung cấp không gian môi trường cảnh quan mỹ học cho việc
Trong các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng
là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất
1.2.3.Những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất
Phạm vi, cơ cấu và phương thức sử dụng đất vừa bị chi phối bởi các điều kiện
và quy luật sinh thái tự nhiên vừa bị chi phối bởi các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật Theo nghiên cứu của Viện Điều tra Quy hoạch đất đai Tổng cục Địa chính có 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất, bao gồm: điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội và nhân tố không gian
1.2.3.1 Nhân tố điều kiện tự nhiên
Quá trình sử dụng đất đai cần phải chú ý đến các đặc tính và tính chất đất đai
để xác định yếu tố hạn chế hay tích cực cho việc sử dụng đất hợp lý như chế độ nhiệt, bức xạ, độ ẩm, yếu tố địa hình, thổ nhưỡng, xói mòn Các đặc tính, tính chất này được chia làm 2 loại: Điều kiện khí hậu và Điều kiện đất
- Điều kiện khí hậu:
Khí hậu là một thành phần rất quan trọng của hệ sinh thái đồng ruộng Nó cung cấp năng lượng chủ yếu cho quá trình tạo thành chất hữu cơ, mang lại năng
Trang 25suất cho cây trồng Có đến 90 - 95% chất hữu cơ của cây là do quá trình quang hợp với sự cung cấp năng lượng của ánh sáng mặt trời Cây trồng tận dụng cao nhất điều kiện khí hậu sẽ cho tổng sản phẩm và giá trị kinh tế[14]
Điều kiện đất đai:
Các yếu tố địa hình, địa mạo, độ cao, độ dốc, hướng dốc, mức độ xói mòn thường dẫn tới sự khác nhau về đất đai và khí hậu, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất
và hoạt động của các ngành
Mỗi vùng đất khác nhau có các điều kiện tự nhiên khác nhau, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sử dụng đất: khả năng sản xuất, xây dựng công trình, phát triển các ngành Do đó, để có phương án sử dụng đất hợp lý cần phải tuân thủ theo quy luật tự nhiên, tận dụng tối đa những thuận lợi, khắc phục những hạn chế để sử dụng đất mang lại hiệu quả cao nhất
1.2.3.2 Nhân tố kinh tế - xã hội
Các nhân tố kinh tế - xã hội bao gồm các thể chế, chính sách, thực trạng phát triển các ngành, điều kiện cơ sở hạ tầng: giao thông, thủy lợi, xây dựng , trình độ phát triển khoa học kỹ thuật, trình độ dân trí, dân số, lao động, việc làm và đời sống văn hóa, xã hội
Các điều kiện tự nhiên là cơ sở để xây dựng phương án sử dụng đất nhưng các nhân tố kinh tế - xã hội sẽ quyết định phương án đã lựa chọn có thực hiện được hay không Phương án sử dụng đất được quyết định bởi khả năng của con người và các điều kiện kinh tế - xã hội, kỹ thuật hiện có
Điều kiện kinh tế - xã hội có tác động không nhỏ tới việc sử dụng đất đai, thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình sử dụng đất hiệu quả của con người Vì vậy, khi lựa chọn phương cách sử dụng đất, ngoài việc dựa vào quy luật tự nhiên thì các nhân tố kinh tế xã hội cũng không kém phần quan trọng
1.2.3.3 Nhân tố không gian
Tính chất không gian bao gồm: vị trí địa lý, địa hình, hình dạng, diện tích Đất đai không thể di dời từ nơi này đến nơi khác Đất đai phải khai thác tại chỗ, không thể chia cắt mang đi Trong thực tế, bất kỳ ngành sản xuất nào (nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, khai thác khoáng sản ) đều cần đến đất đai là điều kiện không gian cho các hoạt động Do đó, không gian là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của việc sử dụng đất, các nhân tố không gian có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sử dụng đất, nó sẽ gián tiếp quyết định
Trang 26Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, các yếu tố điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội tạo ra nhiều tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai
Tuy nhiên, mỗi yếu tố giữ vị trí và có tác động khác nhau Trong đó, điều kiện
tự nhiên là yếu tố cơ bản để xác định công dụng của đất đai, có ảnh hưởng trực tiếp,
cụ thể và sâu sắc, nhất là đối với sản xuất nông nghiệp; Điều kiện kinh tế sẽ ảnh hưởng tác động của con người trong việc sử dụng đất; Điều kiện xã hội tạo ra những khả năng khác nhau cho các yếu tố kinh tế và tự nhiên tác động tới việc sử dụng đất Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội để nghiên cứu, xử lý mối
quan hệ giữa các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội trong lĩnh vực sử dụng đất đai
Sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân loại Trong mỗi phương thức sản xuất xã hội nhất định, việc sử dụng đất theo yêu cầu của sản xuất
và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai Với ý nghĩa là nhân tố của sức sản xuất,
các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất được thể
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất;
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, hình thành
1.2.4 Sử dụng đất và các mục đích kinh tế, xã hội, môi trường
Trong giai đoạn hiện nay việc sử dụng đất luôn hướng tới mục tiêu kinh tế, nhằm đạt được lợi nhuận tối đa trên một đơn vị diện tích đất nhất định, bên cạnh đó
là một phần diện tích đất không nhỏ được sử dụng để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, ăn
ở cũng như thỏa mãn đời sống tinh thần của con người
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng đất, các mục đích sử dụng đất nêu trên luôn nẩy sinh mâu thuẫn làm cho mối quan hệ giữa người và đất ngày càng căng thẳng, những sai lầm liên tục của con người trong quá trình sử dụng đất dẫn đến huỷ hoại môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng, làm cho một số chức năng của đất bị yếu đi
Những xung đột giữa 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường rất đa dạng:
Trang 27- Đất sản xuất nông nghiệp đối lập với quá trình đô thị hoá
- Phát triển thủy lợi đối lập với việc phân chia các nguồn tài nguyên nước cho
đô thị và phát triển công nghiệp
- Phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển đối lập với việc bảo vệ hệ sinh thái ven biển
- Sản xuất thuốc phiện đối lập với sản xuất lương thực thực phẩm ở một số địa phương
- Quyền lợi của người bản địa và những người di cư
- Bảo vệ các giá trị sinh thái đối lập với nhu cầu về thực phẩm hoặc nông sản khác
- Các chủ sử dụng đất nhỏ mâu thuẫn với việc canh tác quy mô lớn
- Sử dụng đất và mục tiêu kinh tế
Việc sử dụng đất như một thể thống nhất tạo ra điều kiện để giảm thiểu những xung đột, tạo ra hiệu quả sử dụng cao và liên kết được sự phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ và nâng cao môi trường Sử dụng đất hợp lý, bền vững là hài hoà được các mục tiêu kinh tế - xã hội và môi trường, giải quyết mâu thuẫn, sung đột và hài hòa giữa 3 lợi ích
1.2.5 Quản lý bền vững tài nguyên đất
Quản lý bền vững tài nguyên đất là quy trình được xây dựng trên nền tảng kiến thức giúp tích hợp quản lý đất đai, nước sạch, đa dạng sinh học và môi trường để đáp ứng nhu cầu thực phẩm và vải vóc đang tăng lên trong khi vẫn duy trì các dịch
vụ hệ sinh thái, quản lý bền vững tài nguyên đất là cần thiết để đáp ứng các yêu cầu dân số đang gia tăng Cách quản lý đất không hợp lý có thể dẫn đến thoái hóa đất và giảm năng lực sản xuất và dịch vụ[15]
- Duy trì và phát huy tiềm năng sản xuất của đất trồng trọt, đất rừng và các bãi chăn thả
- Duy trì năng lực của đất rừng sản xuất và các nguồn dự trữ rừng thương mại
và phi thương mại tiềm năng
- Duy trì tính nguyên vẹn của các thác nước để vừa cung cấp nước và đáp ứng nhu cầu thủy điện, đồng thời duy trì các khu vực trữ nước
- Duy trì năng lực của các tầng ngập nước đề đáp ứng nhu cầu trồng trọt và các hoạt động sản xuất khác
Trang 28- Quản lý bền vững tài nguyên đất còn bao gồm các hoạt động nhằm chấm dứt
và cải thiện tình trạng suy thoái đất hoặc ít ra là giảm thiểu những tác động bất lợi
từ những cách thức sử dụng không hợp lý trước đó
Các hoạt động sử dụng đất đã làm biến đổi một phần lớn diện tích đất trên bề mặt trái đất Với việc phát quang các khu rừng nhiệt đới, sản xuất nông nghiệp để sinh tồn, tập trung sản xuất trang trại, mở rộng trung tâm thành thị, con người đang biến đổi cảnh quan thế giới
1.3 Tình hình nghiên cứu và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng trên thế giới và trong nước
1.3.1 Tình hình quy hoạch sử dụng đất đai trên thế giới
Trên thế giới công tác quy hoạch sử dụng đất đai đã được tiến hành hoàn chỉnh từ nhiều năm trước vì thế họ đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu Hiện nay, công tác này đang được chú trọng và phát triển, nó vẫn chiếm vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp[13]
Nhìn chung có hai loại hình quy hoạch tiêu biểu sau:
+ Tiến hành quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội đảm bảo các mục tiêu một cách hài hoà, sau đó mới đi sâu vào nghiên cứu quy hoạch chuyên ngành, như các nước Đức, Anh, Úc v.v
+ Tiến hành quy hoạch nông nghiệp là nền tảng, sau đó làm quy hoạch cơ bản, lập sơ đồ phát triển và phân bố lực lương sản xuất yêu cầu của cơ chế, kế hoạch hoá tập trung Lao động và đất đai là yếu tố cơ bản của vấn đề nghiên cứu, như Liên Bang Nga và các nước Đông Âu
Ngoài ra, ở các nước khác các phương pháp quy hoạch đất đai mang tính đặc thù và riêng biệt như: Ở Bun - ga - ry quy hoạch lãnh thổ đất đai được phân thành các vùng đặc trưng gắn liền với bảo vệ thiên nhiên và môi trường Ở Pháp quy hoạch sử dụng đất được xây dựng theo hình thức mô hình hoá nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao trong việc sử dụng tài nguyên và lao động, áp dụng bài toán quy hoạch tuyến tính có cấu trúc hợp lý tăng hiệu quả sản phẩm của xã hội[13]
Ở Thái Lan việc quy hoạch phân theo 3 cấp: Cấp quốc gia, cấp vùng và cấp địa phương Quy hoạch nhằm thể hiện cụ thể những chương trình kinh tế - xã hội của Hoàng gia Thái Lan, gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý nhà nước, phối hợp với tổ chức chính phủ và chính quyền địa phương Dự án phát triển Hoàng gia đã xác định vùng nông nghiệp chiếm một vị trí quan trong về kinh tế - xã hội, chính trị
Trang 29ở Thái Lan Các dự án đều tập trung vào vấn đề như: đất đai, nông nghiệp và lao động v.v
Để có phương pháp chung làm cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch đất đai trên phạm vi toàn thế giới, năm 1993 tổ chức FAO đã đưa ra quan điểm quy hoạch đất đai nhằm sử dụng một cách có hiệu quả, bền vững và đáp ứng tốt các nhu cầu của hiện tại mà vẫn đảm bao phát triển cho tương lai Phương pháp quy hoạch đất đai được áp dụng ở 3 cấp: Quốc gia, tỉnh, địa phương (FAO, 1993)[13]
Tổ chức FAO đưa ra phương pháp này áp dụng cho từng quốc gia (có bổ sung
và chỉnh sửa cho phù hợp với điều kiện của từng quốc gia) Đối với các quốc gia đang phát triển thì quy hoạch đất đai chủ yếu cho việc phát triển sản xuất nông nghiệp đảm bảo an toàn lương thực Còn đối với các nước phát triển thì quy hoạch đất đai chủ yếu phục vụ môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên và phát triển du lịch Hiện nay, trên thế giới có nhiều quốc gia đã và đang áp dụng phương pháp quy hoạch đất đai của FAO và đã đạt hiệu quả cao về kinh tế - xã hội và môi trường[13]
1.3.2 Tình hình quy hoạch sử dụng đất đai ở trong nước
1.3.2.1 Thời kỳ trước Luật đất đai 1993
Trước khi Luật đất đai năm 1993 ban hành, Nhà nước đã ban hành các quy định về công tác quản lý Nhà nước về đất đai như Nghị định 210/CP, Chỉ thị số 299/TTg của Thủ tướng Chính phủ và Luật Đất đai 1997 làm cơ sở cơ bản cho công tác quản lý đất đai
Trong thời kỳ này, nhìn chung việc quản lý đất đai chưa được chặt chẽ nguyên nhân là do hệ thống văn bản pháp luật chưa thực chất bám sát với thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai, đất đai chưa được phân định ranh giới rõ ràng nên hiện tượng tranh chấp, khiếu nại về đất đai, sử dụng sai mục đích v.v diễn ra ở một
số khu vực Diện tích đất chưa sử dụng còn nhiều Tình trạng không cải tạo đầu tư cho đất và hiện tượng để hoang hoá đất đai còn diễn ra ở nhiều nơi gây ra hiện tượng thoái hoá đất diễn ra nhanh chóng
Trang 30ngành và các tỉnh Quy hoạch đất đai theo lãnh thổ hành chính đã đang triển khai ở hầu hết các tỉnh trong toàn nước Vấn đề quy hoạch sử dụng đất đai ngày càng được Nhà nước quan tâm, vì vậy hàng loạt các văn bản liên quan đến quy hoạch sử dụng đất đã ra đời
Ngày 12/10/1998, Tổng cục địa chính ra công văn số 1814/CV - TCĐC về công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Ngày 01/10/2001, Chính phủ ban hành Nghị định 64/ND - CP của Chính phủ
về việc triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở 4 cấp hành chính Ngay sau đó Tổng cục địa chính đã ban hành Thông tư 1842/ 2001/TT - TCĐC ngày 1/11/2001 kèm theo quyết định số 424a, 424b, Thông tư 2074/2001/TT - TCĐC ngày 14/02/2001 để hướng dẫn các địa phương thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo Nghị định 64/ NĐ - CP
1.3.2.3 Từ Luật đất đai 2003 đến nay
Ngày 01/07/2004 Luật đất đai 2003 chính thức có hiệu lực, Luật này đã quy định rõ về công tác quản lý Nhà nước về đất đai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là
1 trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai
Luật đất đai năm 2003 quy định rõ về nội dung về việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của từng cấp Kỳ quy hoạch sử dụng đất là 10 năm, kế hoạch
sử dụng đất là 5 năm, UBND các cấp có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho địa phương mình
Ngày 01/11/2004 Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 30//2004/TT - BTNMT về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh, thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất[1]
Ngày 02/11/2009 Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 19/2009/TT - BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy đinh về sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 30/2004/TT - BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất [3]
1.3.3 Tình hình quy hoạch sử dụng đất đai ở tỉnh Quảng Ninh
Từ năm 2006, vị thế của Quảng Ninh đã được khẳng định rất rõ trong quyết định phê duyệt quy hoạch điều chỉnh, bổ sung tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006-2010 của Thủ tướng Chính phủ, đó là xây dựng thành địa bàn động lực, cửa ngõ giao thông quan trọng của Vùng kinh tế trọng điểm
Bắc Bộ đối với khu vực và quốc tế Và Quảng Ninh đã thực hiện khá tốt các mục
Trang 31tiêu đề ra theo quy hoạch này, tuy nhiên, trong bối cảnh mới, yêu cầu cần phải có những bước hoạch định phù hợp với xu thế phát triển chung đòi hỏi Quảng Ninh phải lập lại “quy hoạch mềm” này làm cơ sở cho việc triển khai thực hiện các quy hoạch cứng
Thực hiện Quy hoạch điều chỉnh bổ sung năm 2006 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hầu hết các mục tiêu chính đều đã được tỉnh triển khai thực hiện khá tốt, tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn này đạt 12,7%/năm Đến năm 2010, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP, giá so sánh 1994) ước đạt 13.314 tỷ đồng, gấp 1,84 lần so với năm 2005, cao hơn so với mục tiêu đặt ra đối với cả Vùng đồng bằng sông Hồng Tuy nhiên, những bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện quy hoạch này
đã bộc lộ, đó là các đề án quy hoạch chưa được đảm bảo chất lượng do thiếu sự phối hợp trong công tác lập quy hoạch của các ngành, các địa phương Khi có được
ý kiến tham gia đóng góp của các ngành, các địa phương đều mong muốn lôi kéo phát triển cho ngành mình, địa phương mình mà quên đi cái nhìn tổng thể Do đó ngay bản thân trong quy hoạch tổng thể đã bị mâu thuẫn, chồng chéo Tính cục bộ
đã làm triệt tiêu hiệu quả chung, hiệu quả tổng thể của quy hoạch Đối với các mục tiêu và giải pháp trong quy hoạch được đề ra lại nhận được rất ít sự quan tâm của các sở, ban, ngành và các địa phương cho nên chưa phát huy hết được trí tuệ tập thể trong quy hoạch Hầu hết các quy hoạch được xây dựng với quá nhiều các dự án, trong khi các dự án then chốt có tác động, ảnh hưởng, tạo sức lan toả quyết định đến việc huy động nguồn lực và sự tham gia thực hiện của các thành phần kinh tế trong
và ngoài nước thì chưa đáp ứng yêu cầu Nhiều quy hoạch đã được phê duyệt song
ít được sử dụng hoặc không được sử dụng, một số quy hoạch cấp huyện lại hao hao giống nhau và chưa cụ thể hoá được từ quy hoạch tổng thể và quy hoạch ngành cấp tỉnh Các dự án then chốt trong quy hoạch có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển
và liên quan đến việc hoàn thành các mục tiêu đề ra thì lại được thay thế bằng các
dự án mới, không đúng mục tiêu nên quy hoạch đã dần bị phá vỡ
Quảng Ninh hiện đang có rất nhiều lợi thế, mà nổi trội nhất là Vịnh Hạ Long được bầu chọn là 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới Do vậy, việc xây dựng các quy hoạch quan trọng cần đặt ở tầm nhìn rộng hơn, dài hơn và phù hợp với xu thế phát triển của các nước trong khu vực và quốc tế Đồng chí Trần Đức Lâm, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư cho biết: Do trước đây, các quy hoạch đều đưa ra quá nhiều các chỉ tiêu trong khi các thông số để lựa chọn các mục tiêu thực hiện lại chưa đầy đủ Vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu trong công tác chỉ đạo điều
Trang 32hành phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nay cần nghiên cứu xem xét lựa chọn mục tiêu phát triển theo 3 nhóm đó là “tăng trưởng kinh tế; việc làm và môi trường” Còn lại các mục tiêu khác như quy mô GDP, GDP/người, giảm nghèo, giảm mức độ
ô nhiễm môi trường… đó chỉ là hệ quả khi những mục tiêu quan trọng được giải quyết Giải pháp trong quy hoạch phát triển cần có sự tập trung cao, đi thẳng vào những khâu quan trọng nhất để tạo sự đột phá, tạo sức lan toả và kích thích phát triển Để làm được việc đó, trong bối cảnh tiềm năng có nhưng nguồn lực thì hạn chế, vậy để có giải pháp tốt đòi hỏi cần phải có sự nghiên cứu, sự tham gia đóng góp hiệu quả của các chuyên gia trong và ngoài nước Đây là lý do vì sao trong thời gian qua tỉnh liên tục có các buổi làm việc với các đơn vị tư vấn quốc tế để từ đây
có sự lựa chọn nhà tư vấn tốt nhất, đảm bảo chất lượng, hiệu quả của quy hoạch mới
Trong tiến trình của sự phát triển, việc xác định hướng đi chiến lược, xác định các mục tiêu, giải pháp cụ thể là điều đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa quyết định mức độ thành công trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Vì vậy, việc xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh trong giai đoạn này chính là làm mới để đột phá [20]
1.3.4 Tình hình quy hoạch sử dụng đất đai ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
Trong những năm qua thực hiện đường nối của đảng và nhà nước Các cấp đảng Ủy, chính quyền từ huyện đến cơ sở luôn có sự quan tâm đến vấn đề quy hoạch sử dụng đất Đã huy động nhiều nguồn lực để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu cho vùng nông thôn, đô thị như hệ thống giao thông; điện; công trình thủy lợi; trường học; trạm xá, xóa nhà tạm, dột nát … Hỗ trợ cho nông dân chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng xuất lao động, tăng giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân Vì vậy đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, diện mạo nông thôn,
đô thị được đổi mới rõ rệt, hệ thống chính trị ở nông thôn có sự chuyển biến tiến bộ, dân chủ ở cơ sở được phát huy, trật tự an toàn được giữ vững
Huyện và các xã đã có quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 – 2015 để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ chưa có quy hoạch hạ tầng thiết yếu phục vụ cho sự phát triển của các ngành
Huyện chưa có quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội – môi trường theo
Trang 33tiêu chuẩn mới
Huyện đã có quy hoạch phát triển các khu dân cơ mới như Tây Cầu Trới, Bắc sông Trới, tái định cư Bắc cửa lục chưa có quy hoạch chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tại các xã
Đến nay 100% số xã chưa đạt tiêu chí về quy hoạch và thực hiện quy hoạch, cần phải xây dựng mới các quy hoạch theo bộ tiêu chí quy định [17]
1.3.5 Tình hình triển khai quy hoạch, kế hoạch sự dụng đất của thị trấn Trới - huyện Hoành Bồ - tỉnh Quảng Ninh
Thị trấn Trới là đô thị loại V, là trung tâm chính trị, kinh tế - văn hóa xã hội của huyện Hoành Bồ có quốc lộ 279 và tỉnh lộ 326 chạy qua, đặc biệt thị trấn còn
có giao thông đường thủy, có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội theo hướng công nghiệp, dịch vụ cũng như phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá Sau khi quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 -2010 được UBND tỉnh phê duyệt tại quyết định số 515 ngày 27/2/2009 UBND thị trấn đã tổ chức triển khai
thực hiện quy hoạch
Việc triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn Thị
trấn đã đạt được những thành quả nhất định, quá trình sử dụng đất đều dựa trên những quan điểm khai thác sử dụng triệt để quỹ đất đai, đảm bảo sử dụng hợp lý và hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, nông thôn phù hợp với quan điểm phát triển chung của huyện và cả tỉnh, các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch luôn đảm bảo đúng với các chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước hiện hành Xuất phát từ tình hình thực tế của địa phương nhằm đáp ứng những yêu cầu phát triển trong sự đổi mới nền kinh tế của xã nói riêng và toàn thành phố nói chung nên trong quá trình triển khai và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cũng có những phát sinh, dẫn đến một số chỉ tiêu sử dụng đất thực hiện vượt so với chỉ tiêu được duyệt Đồng thời cũng do nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm cho một số chỉ tiêu kết quả thực hiện đạt còn thấp hơn so với chỉ tiêu theo quy hoạch, kế hoạch được duyệt Vấn đề này đòi hỏi cần có sự nghiên cứu sâu hơn, đặc biệt là vấn đề
quy hoạch[8]
Trang 34CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ giai đoạn 2006 - 2010
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu thực hiện trong phạm vi địa giới hành chính thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ giai đoạn 2006 – 2010
2.2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.2.2 Đánh giá công tác quản lý, sử dụng đất đầu kỳ trước kỳ quy hoạch
2.2.2.1 Tình hình quản lý đất đai
2.2.2.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất đầu kỳ quy hoạch thị trấn Trới
2.2.3 Đánh giá công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010
2.2.3.1 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và biến động sử dụng đất thị trấn Trới,
huyện Hoành Bồ cuối kỳ quy hoạch
- Hiện trạng sử dụng đất của thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ năm 2010
- Biến động đất đai thị trấn Trới giai đoạn 2006 - 2010
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất và biến động, sử dụng đất của thị trấn Trới năm
2010
2.2.3.2 Đánh giá công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong kỳ quy hoạch
thị trấn Trới giai đoạn 2006 – 2010
2.2.3.3 Đánh giá công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất trong kỳ quy hoạch thị
trấn Trới giai đoạn 2006 – 2010
- Kết quả thực hiện công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất thị trấn Trới giai đoạn
2006 – 2010
- Đánh giá công tác thực hiện quy hoạch sử dụng đất thị trấn Trới giai đoạn 2006 –
2010
Trang 352.2.3.4 Đánh giá công tác thực hiện kế hoạch sử dụng đất thị trấn Trới giai đoạn
2007 – 2010
- Kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối của thị trấn Trới từ năm 2007 – 2010
- Đánh giá công tác thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối của thị trấn Trới từ năm
2007 – 2010
2.2.3.5 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất các dự án trên địa bàn
thị trấn Trới giai đoạn 2006 – 2010
- Kết quả thực hiện quy hoạch của các dự án
- Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch của các dự án
2.2.3.6 Đánh giá sự hiểu biết về công tác QHSDĐ và ý kiến của người dân trên địa bàn về tình hình thực hiên QHSDĐ giai đoạn 2006 – 2010
2.2.3.7 Đánh giá thông qua ý kiến của cán bộ TN và MT về những khó khăn, thuận lợi khi thực hiện QHSDĐ và áp dụng các văn bản mới liên quan đến đất đai hiện nay
2.2.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
2.2.4.1 Nguyên nhân những tồn tại chủ yếu trong sử dụng đất
2.2.4.2 Các giải pháp thực hiện quy hoạch
2.3 Phương pháp nghiên cứu:
2.3.1 Phương pháp 1: Điều tra, thu thập thông tin thứ cấp
- Thu thập những thông tin liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến quá trình nghiên cứu của đề tài đó được công bố chính thức ở các cấp, các ngành, thông tin số liệu chủ yếu bao gồm: các kết quả nghiên cứu có liên quan đó tiến hành trước đó, thông tin số liệu liên quan đến tình hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ giai đoạn 2006 – 2010
- Thông tin số liệu được thu thập chủ yếu từ các nguồn sau:
+ Các công trình khoa học và các nghiên cứu liên quan đến Tình hình quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở trong và ngoài nước
+ Sổ sách, tài liệu tại UBND thị trấn Trới, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hoành Bồ, Trung kỹ thuật đo đạc bản đồ thuộc sở Tài nguyên và Môi trường của tỉnh
+ Các thông tin trực tiếp từ cán bộ địa chính, người dân trong địa bàn thị trấn Trới
Trang 362.3.2 Phương pháp 2: Thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp sẽ được thu thập thông qua phát phiếu điều tra, phỏng vấn 100 người dân trên địa bàn thị trấn Trới huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh về tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của thi trấn Trới, huyện Hoành Bồ giai đoạn 2006 – 2010
2.3.3 Phương pháp 3: Minh họa bằng biểu đồ, bản đồ, sơ đồ và đồ thị
- Sử dụng phần mềm MicroStation để minh họa bản đồ, sơ đồ hiện trạng sử dụng đất trước khi quy hoạch, bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và bản
đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 của thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
- Sử dụng Microsoft Office Excel để biểu thị các hình biểu đồ đồ thị
2.3.4 Phương pháp 4: Điều tra, khảo sát thực địa
-Sử dụng bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 cùng đối soát với bản
đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 và các bản đồ quy hoạch chi tiết của từng dự
án
2.3.5 Phương pháp 5: Phân tích, tổng hợp
-Áp dụng đối với các số liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập được trên địa bàn thị trấn Trới
- Sử dụng phần mềm Primer 5.0 để thể hiện mối quan hệ giữa các chỉ tiêu có
mối quan hệ với nhau, các yếu tố liên quan đến công tác quy hoạch sẽ tập trung gần sát nhau hoặc chồng ghép lên nhau
2.3.6 Phương pháp 6: Chuyên gia
- Sử dụng khi đi điều tra ngoài thực địa
- Gặp gỡ các chuyên gia trong lĩnh vực quy hoạch để tham khảo ý kiến nhằm đưa ra những giải pháp hiệu quả nhất
Trang 37CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của thị trấn Trới, huyện Hoành Bồ giai đoạn 2006 – 2010
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Thị trấn Trới là đô thị loại V, là trung tâm chính trị, kinh tế - văn hóa xã hội của huyện Hoành Bồ có vị trí địa lý như sau:
Phía Tây, Bắc giáp xã Sơn Dương
Phía Đông Bắc giáp xã Lê Lợi
Phía Nam giáp phường Việt Hưng thành phố Hạ Long
Thị trấn Trới là trung tâm của huyện Hoành Bồ có quốc lộ 279 và tỉnh lộ 326 chạy qua, đặc biệt thị trấn còn có giao thông đường thủy Với vị trí như vậy, Thị trấn có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội theo hướng công nghiệp, dịch vụ cũng như phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá [18]
3.1.1.2 Địa hình - địa mạo:
Trới là thị trấn có địa hình phần lớn là đồi núi bao quanh, xen kẽ là những dải đồng bằng và thung lũng nhỏ hẹp nằm ở 2 phía sông Trới Địa hình đồi núi có độ cao trung bình 50m-100m Hướng dốc chính của địa hình từ Tây Bắc hướng về Đông Nam, độ dốc địa hình đồi núi từ 20 -100 Có vùng đất bằng nhỏ hẹp là đất bồi
tụ chân núi và bãi bồi ven sông Vùng đất thấp nên đa số bị nhiễm mặn [18]
Nhìn chung địa hình của thị trấn Trới tương đối phức tạp, đồng bằng và đồi núi đan xen chia tách nhau nên ảnh hưởng nhiều cho việc tổ chức, quản lý, giao lưu giữa các khu
3.1.1.3 Khí hậu:
Nhiệt độ không khí trung bình hàng năm khoảng 22,80C dao động từ 160C-
290C Nhiệt độ trung bình cao nhất 34,90C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối đạt tới trị số
380C Về mùa đông, nhiệt độ trung bình thấp nhất 13,50C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối tới 50
C [18]
3.1.1.4 Thuỷ văn:
Thị trấn Trới có hệ thống sông ngòi chính chảy qua địa bàn, là sông Trới Ngoài ra còn có các dải suối nhỏ chạy dọc theo các sườn núi
Trang 38Nhìn chung hệ thống sông ngòi của Thị trấn nhỏ và ngắn, lưu lượng nước không nhiều phân bố không đều trong năm, vào mùa mưa do địa hình sườn dốc nên mức nước dâng cao nhanh sau đó lại thoát nhanh [18]
3.1.1.5 Các nguồn tài nguyên theo bản đồ thổ nhưỡng nông hóa tỉnh Quảng Ninh xây dựng năm 2005:
Căn cứ vào đặc điểm địa hình, sự hình thành và cấu tạo của đất, đất đai Thị trấn Trới được phân thành các loại đất chính sau
- Nhóm đất mặn (M): Diện tích 55,5 ha chiếm 4,55% diện tích tự nhiên
- Nhóm đất phù sa (P): Diện tích 2,5 ha chiếm 0,2% diện tích tự nhiên
- Nhóm đất vàng đỏ mặn (F): Diện tích 325,0 ha chiếm 26,67% diện tích tự nhiên
- Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi (HV): Diện tích 5,50 ha chiếm 0,45% diện tích tự nhiên
- Nhóm đất nhân tác (NT): Diện tích 10,5 ha chiếm 0,86% diện tích tự nhiên [18]
3.1.1.6 Các loại tài nguyên khác:
+) Tài nguyên nước:
Thị trấn Trới năm trong vùng có lượng mưa lớn trong năm, địa hình dốc, các sông suối nhỏ và ngắn, nước từ trên núi cao chảy xuống sông trới và đổ ra vùng cửa lục nên nguồn nước mặt phụ thuộc rất lớn vào các mùa trong năm [18]
+) Tài nguyên rừng:
Thị trấn Trới có 650,56 ha rừng, chiếm 53,39% diện tích đất tự nhiên, trong đó đất có rừng trồng sản xuất 647,22 ha chủ yếu ở khu vực núi Nồi Đồng, đất có rừng phòng hộ tự nhiên sú vẹt 3,34 ha ở hai bên sông Trới
Ngoài những loại cây thân gỗ ra ở Thị trấn còn có nhiều loại hệ động, thực vật sống xen kẽ với cây rừng tạo ra những sản phẩm dược liệu và lâm sản quý…[18]
+) Tài nguyên nhân văn:
Thị trấn Trới là đô thị loại V, nhân dân có truyền thống lịch sử lâu đời trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, giữ nước của dân tộc Việt Nam Có nền văn hoá phong phú mang đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc và mang sắc thái riêng của Hoành
Bồ Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quan tâm của Nhà nước, nhân dân trên địa bàn Thị trấn đoàn kết, tiếp thu những khoa học, công nghệ mới áp dụng vào sản xuất, xoá đói giảm nghèo xây dựng quê hương từng bước phát triển giàu mạnh, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần cho nhân dân [18]
Trang 39+) Cảnh quan môi trường:
Thị trấn Trới nằm bên cạnh di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long mà thiên nhiên đã ban tặng Ngoài những cánh rừng sản xuất, rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng đặc dụng phục vụ nghiên cứu, các hồ chứa nước vừa phục vụ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt của nhân dân, vừa tạo nên môi trường sinh thái trong làn [18]
3.1.1.7 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường
* Thuận lợi
Tuy là đô thị loại V, nhưng thị trấn Trới có những lợi thế là nằm gần các khu trung tâm phát triển của thành phố Hạ Long như cảng nước sâu Cái Lân, khu du lịch Bãi Cháy, khu du lịch quốc tế Tuần Châu Có nguồn Tài nguyên đa dạng, phong phú như mỏ sét, cát để sản xuất gạch ngói và làm vật liệu xây dựng; Tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển…cho phép phát triển sản xuất công nghiệp - du lịch dịch vụ- nông lâm- ngư nghiệp một cách tổng hợp, đa dạng, nhằm đáp ứng nhu cầu nội địa và xuất khẩu Có hệ thống giao thông là đường quốc lộ 279, tỉnh lộ 326, đường Trới Vũ Oai, đường biển nên rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế và trao đổi hàng hoá với các khu vực Có nguồn nhân lực dồi dào, đây là thế mạnh để phát triển kinh tế về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ du lịch và nông nghiệp Môi trường tự nhiên trong sạch chưa bị ảnh hưởng nhiều do chất thải của các ngành công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp và sinh hoạt Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho phát triển trồng trọt theo mô hình kinh tế vườn đồi kết hợp du lịch sinh thái
* Khó khăn
Là nơi rất thuận lợi cho nhiều ngành kinh tế phát triển đồng thời cũng là nơi nảy sinh ra nhiều mâu thuẫn giữa lợi ích của các ngành với lợi ích chung, nhất là sự mâu thuẫn giữa sự phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường
Địa hình phức tạp, quỹ đất xây dựng hạn chế, trong khi tồn tại những bất hợp
lý của việc phát triển thiếu quy hoạch trước đây để lại, gây khó khăn rất lớn cho việc tiếp tục cải tạo phát triển, tạo thêm mặt bằng xây dựng các dự án, khu đô thị
Do quá trình khai thác than trong quá khứ và nạn khai thác trái phép hiện nay, đều gây tác động tiêu cực đến môi trường như: Ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước, làm biến đổi cảnh quan môi trường, huỷ hoại thảm thực vật, suy giảm
hệ động vật
Trang 40Trong sản xuất nông nghiệp việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng còn chậm, vẫn chưa quan tâm phát triển trồng cây hàng hoá và mô hình trồng rau sạch, đất canh tác bình quân trên đầu người thấp, khả năng mở rộng diện tích đất canh tác không còn
Cơ sở hạ tầng còn hạn chế, vốn đầu tư còn thiếu chưa đồng bộ, địa hình bị phân cách và
nhiều đồi núi
Mùa đông chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc, nhiệt độ hạ thấp đột ngột kéo dài, ảnh hưởng đến cây trồng, vật nuôi
Mùa mưa có lượng nước mưa lớn, kết hợp với nước dồn từ thượng nguồn xuống dễ gây hiện tượng lụt, xói mòn đất
Đây cũng là thách thức lớn về việc sử dụng tài nguyên đất đai trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thị trấn trước mắt cũng như lâu dài
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
+) Dân số:
Dân số toàn Thị trấn tính hết năm 2010 là 10653 nhân khẩu với 2204 hộ, số
người 4,8/ hộ, mật độ dân số 874/ km2
Trong đó : Nam 5714 người chiếm 53,64% dân số toàn Thị trấn
Nữ 4939 người chiếm 46,36% dân số toàn Thị trấn
Độ tuổi từ 15 tuổi trở xuống là 2865 người bằng 26,89%
Độ tuổi từ 16 đến 60 tuổi là 6724 người bằng 63,12%
Độ tuổi trên 60 tuổi là 1064 người bằng 9,99%
- Lao động nông nghiệp 4295 người chiếm 63,87% tổng lao động
- Lao động công nghiệp, thương mại - dịch vụ : 1897 người chiếm 28,21% Lao động làm trong các cơ quan HCSN (giáo dục, y tế, quản lý nhà nước,…) khoảng 532 người chiếm 7,92% tổng lao động
Cùng với sự gia tăng dân số, lực lượng lao động không ngừng tăng lên, số lao động tham gia vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn hiện nay chưa hợp lý