1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

111 765 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ cấu kinh tế của một vùng hay một quốc gia là tổng thể những mối liên hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế của vùng đó hay quốc gia đó, bao gồm các lĩnh vực sản xuất, phân phối, t

Trang 1

––––––––––––––––––––––––

BÙI THANH BÌNH

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH

CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG

CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA

Ở HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp

Mã số: 60.34.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thanh Minh

THÁI NGUYÊN - 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chính xác Những kết quả của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình!

Tác giả luận văn

Bùi Thanh Bình

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn TS Nguyễn Thanh Minh đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện Tôi xin trân thành cảm ơn Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học - Trường ĐH Kinh tế

và QTKD đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khoá học và trình bày luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp đã chia sẻ nhiều tư liệu và kinh nghiệm quý báu liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận văn Tôi xin cảm ơn sự hợp tác các đơn vị, cơ quan trên địa bàn Huyện Chợ Đồn, Bắc Kạn đã giúp tôi thực hiện thành công luận văn

Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Bùi Thanh Bình

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC BẢNG BIỂU viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Những đóng góp mới của luận văn 4

5 Bố cục của luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6

1.1 Cơ sở lý luận về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 6

1.1.1 Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Công nghiệp hóa - hiện đại hóa 6

1.1.4 Xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa 29

1.2 Cơ sở thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 33

1.2.1 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của một số nước trên thế giới và một số địa phương trong nước 33

1.2.2 Những bài học kinh nghiệm cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 44

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 47

2.1 Cơ sở phương pháp luận 47

2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 47

2.2.1 Phương pháp chọn địa bàn nghiên cứu 47

Trang 5

2.2.2 Phương pháp thu thập tài liệu 47

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 48

2.2.4 Phương pháp chuyên môn 48

2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 50

Chương 3: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA Ở HUYỆN CHỢ ĐỒN - TỈNH BẮC KẠN 52

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 52

3.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Chợ Đồn 52

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Chợ Đồn 55

3.1.3 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Chợ Đồn 58

3.1.4 Thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Chợ Đồn - Bắc Kạn 61

3.2 Thực trạng chuyển dịch cơ cấu chung của huyện Chợ Đồn 62

3.2.1 Đánh giá chung về hoạt động nông nghiệp 64

3.2.2 Đánh giá ngành trồng trọt 68

3.2.3 Đánh giá ngành chăn nuôi 72

3.2.4 Đánh giá ngành lâm nghiệp 74

3.2.5 Đánh giá ngành thủy sản 76

3.3 Đánh giá chung về kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 78

3.3.1 Những kết quả đạt được trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn 78

3.3.2 Những hạn chế, tồn tại trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Chợ Đồn 79

Trang 6

3.4 ( Mô hình SWOT) phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, Những cơ hội và thách thức trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

nghiệp theo hướng CNH-HĐH 82

Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA - HIỆN ĐẠI HÓA Ở HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN 86

4.1 Quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đến năm 2015 86

4.1.1 Quan điểm phát triển 86

4.1.2 Mục tiêu tổng quát 87

4.1.3 Mục tiêu cụ thể 87

4.2 Định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đến năm 2015 88

4.2.1 Về Nông nghiệp 89

4.2.2 Về Chăn nuôi 89

4.2.3 Về Lâm nghiệp 89

4.3 Các giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đến năm 2015 90

4.3.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển hệ thống dịch vụ nông thôn và phát triển cơ sở chế biến nông lâm thủy sản 90

4.3.2 Chuyển dịch cơ cấu trồng trọt theo hướng tăng trưởng cây trồng đặc sản 91

Trang 7

4.3.3 Chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi theo hướng tăng trưởng vật nuôi đặc sản có giá trị kinh tế cao 92 4.3.4 Xây dựng và phát triển những vùng sản xuất tập trung gắn với công nghiệp và thị trường 94 4.3.5 Đầu tư phát triển khoa học và công nghệ phục vụ nông nghiệp, tăng cường công tác khuyến công, khuyến nông 95 4.3.6 Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp tư nhân ở nông thôn nhằm nâng cao liên kết giữa doanh nghiệp và người dân 96

KẾT LUẬN 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CNH Công nghiệp hóa

HĐH Hiện đại hóa

CCKT Cơ cấu kinh tế

ATK An toàn khu

GDP Tổng sản phẩm nội địa (viết tắt của Gross Domestic Product) DNNN Doanh nghiệp nhà nước

BVTV Bảo vệ thực vât

HTX Hợp tác xã

RAT Rau an toàn

XDCB Xây dựng cơ bản

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Cơ cấu sử dụng đất huyện Chợ Đồn giai đoạn từ năm 2009 - 2011 55

Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động của huyện Chợ Đồn giai đoạn từ năm 2009 - 2011 56

Bảng 3.3: Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế năm 2005 so với năm 2010 của huyện Chợ Đồn 63

Bảng 3.4 Giá trị sản xuất của các ngành năm 2005 so với năm 2010 64

Bảng 3.5 Thống kê giá trị sản xuất nông nghiệptheo ngành kinh tế huyện Chợ Đồn 66

Bảng 3.6 Chỉ số phát triển ngành nông nghiệp huyện Chợ Đồn 67

Bảng 3.7 Thống kê giá trị sản xuất ngành trồng trọt huyện Chợ Đồn qua các năm 68

Bảng 3.8 Tỉ lệ phần trăm giá trị sản xuất các loại cây trồng trong tổng giá trị sản xuất ngành trồng trọt 70

Bảng 3.9 Diện tích các loại cây trồng 71

Bảng 3.10 Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi 72

Bảng 3.11 Kết quả ngành chăn nuôi 73

Bảng 3.12 Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp huyện Chợ Đồn 74

Bảng 3.13 Giá trị sản xuất ngành thủy sản huyện Chợ Đồn 76

Bảng 3.14 Thống kê diện tích, sản lượng ngành thủy sản 77

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thông điệp đầu năm mới (2012): của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng có đoạn

“Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn Đưa công nghiệp và khoa học công nghệ tác động vào nông nghiệp trên tất cả các công đoạn từ nuôi trồng, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản, chế biến đến phân phối Gắn việc áp dụng khoa học công nghệ với tổ chức sản xuất, phát triển các mô hình sản xuất lớn, từng bước hình thành các tổ hợp nông công nghiệp công nghệ cao; gắn kết các công đoạn của quá trình tái sản xuất trong một chuỗi giá trị bảo đảm phân phối hài hòa lợi ích giữa các công đoạn trong chuỗi giá trị đó Đây là con đường cơ bản để phát triển nông nghiệp bền vững

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng là vấn đề quan tâm hiện nay của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Mấu chốt là tìm các giải pháp có hiệu quả khả thi đưa vào thực tiễn để chuyển dịch cơ cấu đạt kết quả nhanh và có tính bền vững cao Sự hưng thịnh của mỗi quốc gia đều được lấy kinh tế làm thước đo tiêu chuẩn “dân giầu nước mạnh - xã hội phồn vinh” Trong cơ cấu nền kinh tế, nông nghiệp là một ngành quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế không chỉ đối với nước ta mà với nhiều nước trên thế giới Muốn phát triển kinh tế thì nông nghiệp là một trong những vấn đề cần đặc biệt quan tâm và “nhận thức đúng vai trò của nó trong chiến lược phát triển kinh tế và thực hiện đồng bộ hàng loạt những vấn đề liên quan đến nông

nghiệp” Việt Nam là một nước nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp

Năm 2000 “trong GDP tỷ trọng nông nghiệp vẫn chiếm 24,3%”, chiếm đến 80% dân số sống ở nông thôn và có khoảng trên 70% dân số sống, lao động

Trang 11

làm việc trong ngành sản xuất nông nghiệp Nên đây là một vấn đề đang được, các ngành các cấp quan tâm, coi đó là một giải pháp quan trọng, cơ bản

để đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá, hiện đại hoá nông thôn Tuy nhiên trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao, sản xuất chủ yếu vẫn là tập trung vào trồng trọt, lĩnh vực chăn nuôi và các dịch vụ trong nông nghiệp vẫn còn chưa được chú trọng Như vậy để nhanh chóng làm thay đổi bộ mặt của kinh tế nông nghiệp đòi hỏi cấp bách phải có các giải pháp chủ yếu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Đây là một yêu cầu quan trọng và có tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay

Chợ Đồn là huyện miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Bắc Kạn gồm 21 xã

và một thị trấn Kinh tế huyện Chợ Đồn lấy nông nghiệp làm chủ đạo, do địa hình thuộc vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên khả năng phát triển về công nghiệp và dịch vụ còn hạn chế Thực trạng hiện nay đời sống của nhân dân còn gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào sản xuất Nông - Lâm nghiệp theo hướng tự cung tự cấp là chính, cây trồng chủ yếu là các loại cây lương thực như: Lúa, ngô, đậu tương…Đặc biệt các thôn ở vùng cao thuần nông, đường giao thông rất khó khăn nên các ngành nghề và dịch vụ không có, các sản phẩm mang tính hàng hóa không đáng kể, chỉ là sản phẩm khai thác từ rừng nghèo kiệt trong vùng Theo số liệu nguồn niên giám thống kê huyện Chợ Đồn năm

2010, trong lĩnh vực ngành nông nghiệp: ngành trồng trọt chiếm 71,44%; ngành chăn nuôi chiếm 28,28%; ngành dịch vụ trong nông nghiệp chiếm 0,28% Vì vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ, công nghệ sinh học, đưa thiết bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại vào các khâu sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của

Trang 12

nông sản hàng hóa trên thị trường là mục tiêu mà Đảng bộ và nhân dân huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn đang quyết tâm thực hiện

Tuy đã có nhiều cố gắng trong công cuộc đổi mới, song nền kinh tế của huyện vẫn chuyển biến chậm, chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh sẵn

có Từ những lý do trên, tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu tìm ra một số giải pháp chủ yếu, nhằm khai thác tốt các tiềm năng, thế mạnh Đồng thời hạn chế những khó khăn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012-2015 và những năm tiếp theo

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa những vấn đề có tính chất lý luận và thực tiễn về cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa của một đơn vị hành chính

- Đánh giá thực trạng và nêu những nguyên nhân chủ yếu gây cản trở đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa

- hiện đại hóa ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn trong những năm qua

- Xác định tiềm năng, thế mạnh phát triển sản xuất, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa của huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

- Xác định phương hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương phát triển sản xuất nông nghiệp đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012-2015 và những năm tiếp theo

Trang 13

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

- Về nội dung: Phân tích thực trạng kinh tế, các tiềm năng thế mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện Chợ Đồn, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm đáp ứng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2012-2015 Nguồn số liệu chủ yếu dựa trên nguồn số liệu thống kê về tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Chợ Đồn giai đoạn 2007-2011 Kế hoạch và

số liệu định hướng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2012-2020

4 Những đóng góp mới của luận văn

Đề tài góp phần cung cấp các luận cứ để xây dựng một số giải pháp, bổ sung và hoàn thiện chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Đề xuất những giải pháp mới sát với thực tế có hiệu quả và bền vững, nhằm nâng cao khả năng áp dụng vào thực tiễn ở địa phương

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Trang 14

Chương 2: Phương pháp và chỉ tiêu nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

Chương 4: Định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn

Trang 15

1.1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế

a Khái niệm cơ cấu kinh tế

Hiện nay có nhiều quan niệm về cơ cấu của nền kinh tế (hay nói gọn lại

là cơ cấu kinh tế) Vấn đề quan trọng trong nhận thức về cơ cấu kinh tế là nhất thiết phải thể hiện rõ được bản chất của một hệ thống kinh tế, hệ thống này hợp thành bởi các bộ phận hay phân hệ của kinh tế

Theo quan điểm duy vật biện chứng và lý thuyết hệ thống, cơ cấu kinh

tế là thuộc tính của hệ thống kinh tế, biểu thị nội dung, cách thức liên kết, phối hợp giữa các phần tử cấu thành nên hệ thống kinh tế Nó phản ánh tính chất và trình độ phát triển của hệ thống kinh tế luôn luôn vận động và phát triển có sự điều khiển của con người Trong những điều kiện kinh tế cụ thể, các bộ phận hợp thành có mối quan hệ tương tác, hữu cơ; số lượng và chất lượng của các bộ phận và quan hệ giữa chúng bị chi phối bởi yêu cầu phát triển trong từng thời kỳ của đất nước nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định

Sự liên kết, phối hợp các bộ phận hợp thành hệ thống càng chặt chẽ, tương tác giữa các bộ phận hợp thành ở trình độ càng cao thì sự phát triển hài hòa được bảo đảm, hệ thống càng phát triển và cơ hội đem lại kết quả càng cao, hiệu quả càng lớn Vì vậy, có thể thấy rằng, cơ cấu kinh tế là tổng thể những mối quan hệ về chất lượng (được đo bằng mức độ chặt - lỏng của mối quan hệ tương tác giữa các phần tử cấu thành) và số lượng (được đo bằng tỷ lệ phần trăm của mỗi phần tử) giữa các bộ phận cấu thành đó trong một thời gian và trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định [4], [9], [10]

Trang 16

Cơ cấu của hệ thống phải được nhìn nhận là một thực thể gồm rất nhiều phần tử hay phân hệ; có cấu trúc theo các kiểu cách nhất định Khi thay đổi kiểu cách kết cấu hay thay đổi cấu trúc thì hệ thống sẽ thay đổi cả về hình dạng, tính chất và trình độ Hệ thống lớn bao gồm nhiều hệ thống con, đến lượt mình

hệ thống con lại có nhiều phần tử nhỏ hơn Phần tử nhở hơn đó lại có cơ cấu riêng Trong một hệ thống tồn tại tập hợp các phần tử theo một trật tự và quan

hệ tỷ lệ nhất định Mỗi phần tử có vị trí trong trật tự cơ cấu và có vai trò khác nhau Cơ cấu chuyển động và biến đổi không ngừng và làm cho tính chất, trình

độ của hệ thống thay đổi theo Nói cách khác, cơ cấu kinh tế được hiểu là cách thức kết cấu của các phần tử cơ cấu tạo nên hệ thống kinh tế [10], [19]

Cơ cấu kinh tế là thuộc tính của hệ thống kinh tế, một phạm trù kinh tế, thể hiện cả tính kinh tế, tính xã hội và tính lịch sử cũng như cả tính chất của quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất Cơ cấu kinh tế là sản phẩm trực tiếp của phân công lao động xã hội Những ngành, lĩnh vực và lãnh thổ chủ đạo và

có ý nghĩa động lực, mũi nhọn giữ vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của cơ cấu kinh tế Khi nói về cơ cấu kinh tế phải nói cả về mặt số lượng (được

đo bằng tỷ lệ phần trăm của các phần tử trong toàn bộ hệ thống) và mặt chất lượng (được đo bằng mức độ chặt hay lỏng của mối liên kết giữa các phần tử hợp thành hệ thống và kết quả hoạt động của hệ thống kinh tế) [4], [9], [19]

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữa cơ tương đối ổn định hợp thành” [15]

Khi xem xét cơ cấu kinh tế để thấy rõ bản chất của nó, chúng ta chia các phần tử cơ cấu thành hai nhóm [3], [10]:

Nhóm các phần tử cơ cấu: Đây là những phần tử (ngành, lãnh thổ,

thành phần) có ý nghĩa quyết định tính chất, trình độ phát triển của cơ cấu kinh tế Vị trí, vai trò của những phần tử cơ cấu là rất lớn

Trang 17

Nhóm các phần tử phi cơ cấu: Đây là những phần tử ít hoặc không có ý

nghĩa quyết định đến cơ cấu của nền kinh tế Khi phân tích cơ cấu cần có sự hiểu biết các phần tử này để làm cho chúng không cản trở sự phát triển của các phần tử cơ cấu khác cũng như toàn bộ hệ thống

Cơ cấu kinh tế của một vùng hay một quốc gia là tổng thể những mối liên hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế của vùng đó hay quốc gia đó, bao gồm các lĩnh vực (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng ); các ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải ); các thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, tư nhân ); các vùng lãnh thổ kinh tế Ngành, lĩnh vực cùng với thành phần kinh tế và vùng lãnh thổ là ba bộ phận hợp thành quan trọng nhất của nền kinh tế Đến lượt mình, mỗi vùng, mỗi ngành lại có cơ cấu kinh tế riêng trong từng thời kỳ phát triển tùy theo các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cụ thể

Từ phân tích trên có thể khái quát: cơ cấu kinh tế là một tổng thể các

bộ phận hợp thành nền kinh tế của mỗi nước Các bộ phận đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và biểu hiện ở các quan hệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, nhằm đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao [12]

b Phân loại cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế ngành [4], [8]: Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp ngành

kinh tế được hình thành trên các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành với nhau và phản ánh trình độ phân công lao động xã hội của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Cơ cấu ngành kinh tế quyết định cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế Cơ cấu lãnh thổ là sự hợp lý hóa cơ cấu ngành trên mỗi vùng lãnh thổ, kết hợp giữa chúng một cách tối ưu, cơ cấu thành phần kinh tế là sự vận động của từng loại thành phần kinh

Trang 18

tế trong quá trình phát triển các ngành và các vùng lãnh thổ nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh kinh tế của từng vùng và toàn bộ nền kinh tế Việc nghiên cứu cơ cấu ngành kinh tế là nhằm tìm ra những cách thức duy trì

tỷ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực

có hạn của quốc gia trong mỗi thời kỳ, thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất

Biểu thị cơ cấu ngành kinh tế bằng vị trí, tỷ trọng của mỗi ngành trong

hệ thống kinh tế quốc dân Cơ cấu ngành kinh tế là biểu hiện quan trọng nhất

và đặc trưng nhất của cơ cấu kinh tế Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cần căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và vai trò của từng ngành trong phát triển kinh tế - xã hội, căn cứ vào điều kiện thực tế để phát triển chúng

Thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ cơ cấu ngành là nét đặc trưng của nền kinh tế nước ta cũng như nhiều nước đang phát triển khác

Một số đặc trưng của cơ cấu ngành kinh tế bao gồm: Bị chi phối bởi các quy trình kỹ thuật, công nghệ và yêu cầu thị trường, bị ràng buộc bởi tính hệ thống và yêu cầu cân đối (hay ở chừng mực nào đó là yêu cầu đồng bộ); đan xen tính hiện đại và tính lạc hậu; bị chi phối bởi các yếu tố chính trị - xã hội

Để xem xét số lượng các ngành tạo nên nền kinh tế và chất lượng các mối quan hệ giữa chúng với nhau ra sao, người ta thường chia nền kinh tế thành các nhóm ngành để quan sát Về mặt định lượng, cơ cấu ngành kinh tế bao gồm số ngành kinh tế và tỷ trọng mỗi ngành đó trong tổng thể nền kinh tế quốc dân; về mặt định tính, cơ cấu ngành thể hiện mối quan hệ giữa các ngành kinh tế và vị trí của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân Trong mối quan hệ giữa các ngành kinh tế thường biểu hiện hai mối quan hệ chủ yếu, gồm: ngành có quan hệ trực tiếp, trong đó các ngành có quan hệ ngược chiều, các ngành có quan hệ xuôi chiều và ngành quan hệ gián tiếp [9], [10]

Cơ cấu theo ba nhóm ngành lớn [10]: Nhóm ngành nông lâm ngư

nghiệp hay còn gọi là khu vực I (ngành nông nghiệp), gồm các ngành trồng

Trang 19

trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và ngư nghiệp; Nhóm ngành công nghiệp, xây dựng hay còn gọi là khu vực II (ngành công nghiệp), gồm các ngành công nghiệp chế biến, công nghiệp khai thác, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng

và xuất khẩu, công nghiệp lọc dầu, ngành xây dựng; Nhóm ngành dịch vụ hay còn gọi là khu vực III, gồm các ngành thương mại, du lịch, giao thông vận tải, tài chính ngân hàng, bưu điện và các ngành dịch vụ khác

Việc phân tích cơ cấu của nền kinh tế theo các khu vực dựa trên cơ sở phân công lao động xã hội, tuy nhiên vẫn chưa thể thấy rõ những hạt nhân cần

có của chính cơ cấu Không phải khi nào tỷ trọng công nghiệp cao cũng nói lên

cơ cấu kinh tế hiện đại hoặc cơ cấu kinh tế có hiệu quả Chẳng hạn, khi tỷ trọng công nghiệp chiếm trong GDP lớn và tỷ lệ nông, lâm thủy sản qua chế biến tuy cao nhưng năng suất lao động thấp, ngân sách thu được ít, để tạo ra một đơn vị GDP cần mức tiêu hao điện năng lớn thì cơ cấu kinh tế đó không hiệu quả

Cơ cấu theo hai nhóm ngành dựa trên phương thức, công nghệ sản xuất: Nông nghiệp và phi nông nghiệp Việc phân chia cơ cấu kinh tế thành hai nhóm ngành này để quan sát trình độ của cơ cấu, yếu tố quan trọng để thúc đẩy

sự tăng trưởng kinh tế Khi phân tích theo hai nhóm ngành này, chúng ta cần quan sát phương thức, công nghệ tạo ra sản phẩm Khi nhóm ngành phi nông nghiệp càng phát triển và chiếm tỷ trọng lớn thì nền kinh tê càng phát triển ở trình độ cao Nhóm ngành nông nghiệp gồm các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp; nhóm ngành phi nông nghiệp gồm các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Đối với các nước đang phát triển thì việc xem xét cơ cấu kinh tế theo cách này có ý nghĩa to lớn Việc chuyển dân cư nông nghiệp sang sống tại các độ thị và chuyển lao động nông nghiệp sang làm việc trong các khu vực phi nông nghiệp là vấn đề có tính quy luật tiến tới sự hiện đại; sự chuyển dịch này đến một mức nào đó thì nền kinh tế được coi là đã phát triển

Ở các nước đang phát triển các ngành nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, khi đó công nghệ của nền kinh tế chưa cao

Trang 20

Để xác định một quốc gia đã thuộc vào nhóm các nước phát triển hay chưa, chúng ta cần dựa trên kết quả phân tích cơ cấu giữa các nhóm ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp Theo nhiều nhà kinh tế, một nước khi các ngành phi nông nghiệp chiếm trên 85% lao động xã hội và tạo ra khoảng 80% GDP thì nước đó được coi là quốc gia phát triển

Trong cách phân loại theo phương thức sản xuất, người ta còn chia các ngành thành 2 nhóm sau đây:

Thứ nhất, Cơ cấu giữa các doanh nghiệp theo quy mô Tức là cơ cấu giữa doanh nghiệp quy mô nhỏ, vừa và doanh nghiệp quy mô lớn Trong điều kiện kinh tế thị trường, doanh nghiệp nhỏ và vừa thích ứng nhanh nhạy, kịp thời với những biến động kinh tế trong một quốc gia hay trên phạm vi toàn thế giới Nhờ đó có thể giảm thiểu tổn thất cho đầu từ và cho sản xuất Mặt khác, một vấn đề quan trọng cần chú ý trong bối cảnh toàn cầu hóa là luôn tồn tại sự cạnh tranh khốc liệt Những tập đoàn kinh tế lớn mạnh có điều kiện cạnh tranh tốt hơn vì thế bên cạnh việc khuyến khích phát triển những doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần đặc biệt chú ý tạo dựng những tập đoàn kinh tế lớn

Thứ hai, Cơ cấu giữa doanh nghiệp có công nghệ trình độ cao với các doanh nghiệp có công nghệ trình độ trung bình Dù hiển nhiên là những doanh nghiệp có công nghệ cao sẽ quyết định sự phát triển của cơ cấu kinh tế nhưng trong khi lao động cần việc làm có số lượng lớn và lực lượng lao động

có chất lượng không cao thì việc phát triển các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động vô cùng cần thiết Nó không chỉ góp phần giải quyết việc làm mà còn có ý nghĩa toàn dụng lao động để tăng trưởng kinh tế

Cơ cấu theo hai nhóm ngành dựa vào tính chất sản phẩm cuối cùng [10]: Nhóm ngành sản xuất sản phẩm vật chất và nhóm ngành sản xuất sản

phẩm dịch vụ Việc phân chia cơ cấu kinh tế theo hai nhóm ngành này nhằm nghiên cứu về mức độ hài hòa giữa các ngành trong nền kinh tế quốc dân

Trang 21

Trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế không thể không quan sát quan hệ giữa hai khối ngành này Dịch vụ phát triển được coi như làm “trơn tru” các quá trình phát triển sản xuất kinh doanh Nếu khu vực sản xuất phát triển mà khu vực dịch vụ không phát triển thì sản xuất cũng sẽ bị ngưng trệ Sự hài hòa giữa hai khối ngành này là rất cần thiết

Nếu xét theo hành vi tăng trưởng (hành vi tham gia tăng trưởng) thì các ngành sản xuất ra các sản phẩm vật chất và các ngành sản xuất sản phẩm dịch vụ

có quan hệ khăng khít với nhau theo một tương quan nhất định Đặc trưng tiêu biểu nhất là các ngành dịch vụ phải tăng nhanh hơn các ngành sản xuất vật chất

Khi xem xét cơ cấu ngành kinh tế, chúng ta cũng phải chú ý đến tỷ trọng hay mức đóng góp của các sản phẩm chủ lực cho nền kinh tế, cũng như của các sản phẩm chứa hàm lượng công nghệ cao, hàm lượng chất xám cao Nếu như các sản phẩm này chiếm tỷ trọng càng lớn thì nền kinh tế càng tốt và ngược lại Một nền kinh tế được xem là phát triển phải có các ngành chế tác chiếm tỷ trọng lớn trong GDP (trên 30%) Mặt khác, chú ý đến cơ cấu nội bộ của các ngành kinh tế Tính hợp lý trong nội bộ của các ngành và cơ cấu ngành kinh tế sẽ bảo đảm tính hiệu quả cho sự phát triển nền kinh tế Cơ cấu giữa hai nhóm ngành sản xuất vật chất và khối sản xuất sản phẩm dịch vụ cần được nghiên cứu kỹ nhằm phát huy toàn diện, đầy đủ mối quan hệ giữa chúng làm cho nền kinh tế có sức mạnh tổng hợp, phát triển cân đối, hài hòa giữa các mặt, giữa đầu vào và đầu ra

Cơ cấu kinh tế lãnh thổ [8], [10]: Việc phân loại cơ cấu của nền kinh tế

theo lãnh thổ là để xem có bao nhiêu lãnh thổ tạo nên cấu trúc lãnh thổ của nền kinh tế và các lãnh thổ liên kết với nhau ra sao, lãnh thổ nào có ý nghĩa động lực Các xí nghiệp được “sắp xếp” theo lãnh thổ và chúng gắn với nhau tạo nên sức mạnh kinh tế của mỗi lãnh thổ Ở đâu có những xí nghiệp quan trọng, có ý nghĩa then chốt, đột phá thì ở đó lãnh thổ có vai trò động lực

Trang 22

Cơ cấu kinh tế lãnh thổ là kết quả của phân công lao động xã hội theo lãnh thổ Nếu có cấu ngành kinh tế được hình thành từ quá trình thực hiện chuyên môn hóa sản xuất thì cơ cấu lãnh thổ hình thành từ việc phân bố sản xuất theo không gian địa lý Cơ cấu lãnh thổ và cơ cấu ngành kinh tế là hai mặt của cơ cấu kinh tế Bản chất của chúng đều là kết quả của sự phân công lao động xã hội Cơ cấu lãnh thổ hình thành đồng thời với cơ cấu ngành và thống nhất trong vùng kinh tế Trong một vùng cụ thể, cơ cấu lãnh thổ phản ánh sự biểu hiện của cơ cấu ngành trong điều kiện lãnh thổ đó

Hiện nay, chính sách phát triển kinh tế lãnh thổ thông thường là chính sách phát triển nhiều mặt, tổng hợp, có ưu tiên một số ngành trọng điểm, gắn liền với hình thành sự phân bố dân cư nói chung và phân bố hệ thống đô thị nói riêng Đối với một nước, chúng ta phải chia lãnh thổ thành những vùng có quy mô lớn để hoạch định chiến lược, chính sách phát triển Các vùng lớn đó

có ý nghĩa như những khung sườn để các địa phương nằm trong đó làm căn

cứ hoạch định chính sách phát triển cho địa phương mình

Sự phát triển hài hòa giữa thành thị và nông thôn sẽ đem lại tiền đề cần thiết cho quá trình phát triển của đất nước cũng như của vùng lãnh thổ Quá trình đô thị hóa, trình độ phát triển đô thị minh chứng cho sự phát triển của nền kinh tế, sự văn minh của đất nước và của vùng lãnh thổ Đô thị được coi

là khu nhân của vùng lãnh thổ và giữa vai trò động lực cho sự phát triển Nông thôn được coi là hậu phương của khu vực thành thị Nhiều vấn đề như việc làm, nhu cầu thực phẩm của thành thị phải được giải quyết từ nông thôn, ngược lại những vấn đề như công nghệ, lao động có đào tạo, thị trường của nông thôn phải được giải quyết từ đô thị Đô thị hóa phải phát triển trên cơ sở đòi hỏi của sự phát triển kinh tế, đây chính là quá trình chuyển nền sản xuất nông nghiệp truyền thống sang nền sản xuất công nghiệp và dịch vụ [9]

Trang 23

Như vậy có thể thấy cơ cấu lãnh thổ có thể xem xét dưới các góc độ: (1) Cơ cấu lãnh thổ phát triển và lãnh thổ chậm phát triển; (2) Cơ cấu giữa các lãnh thổ động lực và các lãnh thổ còn lại Đây là các dạng lãnh thổ cần được phân tích để có được chính sách phát triển hài hóa giữa các vùng lãnh thổ Do nhiều nguyên nhân khác nhau đã dấn đến sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng Trình độ phát triển của các vùng được thể hiện bằng một trong những chỉ tiêu tổng hợp là GDP bình quân đầu người

Một số đặc trưng chủ yếu của cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ bao gồm: bị chi phối bởi sức chứa của lãnh thổ; được quyết định bởi hiệu quả tổng thể kinh tế, xã hội, môi trường; bị ảnh hưởng của các vùng khác; dễ bị tổn thương

do lao động và con người di chuyển giữa các vùng

Một cơ cấu lãnh thổ được coi là hợp lý phải đạt được ba nhóm mục tiêu [3]: (1) Đạt được những mục tiêu toàn vùng: Phải hoàn thành những nhiệm vụ kinh tế quốc dân, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lực khác có trong vùng, hoàn thành cơ cấu kinh tế của vùng để phát triển tối ưu kinh tế vùng trước mặt cũng như lâu dài, tạo cơ sở vật chất kỹ thuât, những điều kiện kinh tế - xã hội khác cho việc phát triển nhanh chóng kinh tế, nâng cao đời sống của nhân dân trong vùng, bảo vệ môi trường; (2) Đạt được những mục tiêu của ngành: Hoàn thành nhiệm vụ sản xuất những sản phẩm chủ yếu, đáp ứng nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, giảm đến mức thấp nhất chi phí sản xuất, phối hợp hài hóa với các bộ phận khác trong và ngoài ngành nằm ở các vùng khác; (3) Đạt được những mục tiêu của nền kinh tế cả nước: thể hiện đúng chiến lược phát triển quốc gia

Do các nguồn tài nguyên thiên nhiên, lao động, kết cấu hạ tầng của mỗi quốc gia không được phân bố đồng đều nên có những vùng có nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho phát triển so với các vùng khác; việc đầu tư phân tán cho các vùng sẽ không đem lại hiệu quả kinh tế cao Trước thực tế đó, nhiều

Trang 24

quốc gia đã lựa chọn phướng thức đầu tư tập trung cho các vùng có nhiều thuận lợi hơn, các vùng vốn đã có sự phát triển hơn so với các vùng lãnh thổ khác để tạo điều kiện cho các vùng này phát triển nhanh hơn, mạnh hơn và trở thành những trọng điểm phát triển, những đầu tàu tạo gia tốc phát triển chung cho toàn bộ nền kinh tế Với lý do đó, nhiều học giả cho rằng chính sách đầu

tư có trọng điểm theo lãnh thổ luôn góp phần quan trọng trong chiến lược phát triển cơ cấu lãnh thổ của nền kinh tế [7]

Lý thuyết cực phát triển do các nhà kinh tế và địa lý kinh tế phương Tây, trong đó có Francois Perroux đề xướng vào nửa đầu của thế kỷ XX đã chú trọng đến những thay đổi trong một vùng lãnh thổ, tạo ra sự tăng trưởng kinh tế của lãnh thổ Công nghiệp và dịch vụ có vai trò to lớn đối với sự tăng trưởng kinh tế của vùng Các ngành công nghiệp then chốt phát triển, hưng thịnh theo do số lượng công ăn việc làm tăng lên, các ngành công nghiệp mới

và các hoạt động phát triển bị thu hút vào vùng đó ngày càng nhiều hơn Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ và phát triển có trọng điểm được diễn tả như một đường cong có dạng hình chuông (mô hình đường cong hình chuông của Alonso) Tại một điểm nào đó của quá trình phát triển, sự tăng trưởng đạt tới điểm cong (hay điểm uốn), sự tập trung hóa về lãnh thổ đạt tới đỉnh cao nhất và sau đó bắt đầu tự đổi chiều Quá trình đô thị hóa không còn bị hạn chế ở một số ít trung tâm lớn mà lan tỏa ra trong một khoảng không gian rộng lớn, khi có sự hòa nhập kinh tế cả nước, các cơ hội phát triển mới bắt đầu xuất hiện ở nhiều địa phương Tunen và Weber đều coi thành phố

là những nút, những trọng điểm của lãnh thổ do sức lan tỏa ảnh hưởng của chúng rất lớn [3], [6]

Nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan cho thấy, các quốc gia này thường lấy các vùng có lợi thế so sánh để tập trung đầu tư, lập các trọng điểm công nghiệp như khu công

Trang 25

nghiệp tập trung, khu công nghiệp cao, khu chế xuất, khu mậu dịch tự do, khu công nghiệp cảng nhằm tạo hướng đột phá trong phát triển lãnh thổ để từ đó

có sức lan tỏa phát triển các lãnh thổ khác (những lợi thế so sánh của vùng gồm: vị trí đường giao thông, ven biển, gần các đô thị, có điều kiện phát triển

và mở rộng giao lưu kinh tế với bên trong và bên ngoài, có khả năng tiếp cận

và hòa nhập nhanh chóng vào các thị trường hàng hóa, dịch vụ) [6], [7]

Các nghiên cứu gần đây đã khẳng định phát triển kinh tế có trọng điểm theo lãnh thổ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là hướng đi đúng, phù hợp với hoàn cảnh của nhiều nước đang phát triển Chủ trương phát triển các lãnh thổ trọng điểm ở Việt Nam đã được nêu trong nghị quyết các kỳ đại hội và đã hình thành các vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, miền Trung và phía Nam [5]

Cơ cấu thành phần kinh tế: Việc phân loại cơ cấu của nền kinh tế là để

xem có bao nhiêu loại hình kinh tế tồn tại, phát triển trong hệ thống kinh tế đươi góc độ sở hữu; trong đó loại hình kinh tế nào có ý nghĩa quyết định đối với nền kinh tế Ở nước ta, trên cơ sở Cương lĩnh và Hiến pháp, đồng thời thông qua tổng kết thực tiễn đổi mới ở các kỳ đại hội, Đảng ta đã chỉ rõ: “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức

sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các

tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển Trong các hình thức sở hữu hỗn hợp đó, chủ yếu là các doanh nghiệp cổ phần, cần khuyến khích phát triển để các hình thức tổ chức kinh doanh này trở thành phổ biến trong nền kinh tế, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu Phải tăng cường tiềm lực

và nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô , phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở

Trang 26

thành một trong những động lực của nền kinh tế Khuyến khích kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển theo quy hoạch ” [10]

Trong điều kiện toàn cầu hóa, việc phân định các loại hình kinh tế có thể theo hai loại hình kinh tế nhà nước và kinh tế phi nhà nước Trong khu vực kinh tế phi nhà nước thì bộ phận kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có ý nghĩa riêng cần được xem xét thấu đáo

Khi coi phân công lao động là cơ sở hình thành cơ cấu ngành, cơ cấu lãnh thổ, thì chế độ sở hữu lại là cơ sở hình thành cơ cấu thành phần kinh tế Một cơ cấu thành phần kinh tế hợp lý phải dựa trên cơ sở hệ thống tổ chức tinh tế và chế độ sở hữu có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự phân công lao động xã hội và quan hệ sản xuất làm biến đổi các hiện tượng và quá trình kinh tế của từng vùng cũng như trên phạm vi cả nước

Cơ cấu thành phần kinh tế cũng là nhân tố tác động đến cơ cấu ngành kinh tế và cơ cấu lãnh thổ Sự tác động đó là một biểu hiện sinh động của mối quan hệ hữu cơ giữa các loại cơ cấu trong nền kinh tế Trong đó, cơ cấu ngành kinh tê có vai trò quan trọng hơn cả Cơ cấu ngành và thành phần kinh

tế chỉ có thể được chuyển dịnh đúng đắn trên phạm vi không gian lãnh thổ và trên phạm vi cả nước Mặt khác, việc phân bố không gian lãnh thổ một cách hợp lý có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy phát triển các ngành và thành phần kinh tế trên từng lãnh thổ nói riêng và cả nước nói chung [3]

Một số đặc trưng của cơ cấu thành phần kinh tế bao gồm: bị chi phối mạnh bởi yếu tố chính trị; hình thức và bản chất của cơ cấu thành phần kinh

tế bị chi phối bởi chế độ sở hữu và quyền sở hữu; trong nội bộ cơ cấu thành phần kinh tế có sự chuyển hóa cho nhau tương đối mạnh mẽ với chiều hướng kinh tế ngoài nhà nước ngày càng tăng

Trong quá trình phát triển kinh tế chắc chắn sẽ tồn tại và phát triển các hình thức sở hữ đối với của cả và tài sản xã hội Mọi hoạt động kinh tế và kết

Trang 27

quả của nó đều có chủ Sự phân định cơ cấu loại hình kinh tế có sự khác biệt theo ngành Trong công nghiệp, kinh tế nhà nước giữa vai trò chủ đạo; trong nông nghiệp kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân chiếm vị trí quan trọng hơn; trong thương mại kinh tế ngoài nhà nước có vai trò lớn Các loại hình kinh tế liên kết chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau cùng phát triển, tạo ra những điều kiện tốt nhất để giải phóng triệt để sức sản xuất của đất nước

1.1.1.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp

Nền kinh tế quốc dân là một tổ hợp đa ngành, đa lĩnh vực Trên góc độ

không gian lãnh thổ của mỗi nước, người ta phân chia ra thành kinh tế nông thôn và kinh tế thành thị Sự phân biệt giữa kinh tế nông thôn và kinh tế thành thị dựa vào sự khác nhau về địa lý, gắn liền với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội và đặc thù của các ngành Khu vực nông thôn bao gồm một không gian rộng lớn, ở đó cộng đồng dân cư sinh sống và hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp (theo nghĩa rộng) với các hoạt động kinh tế - xã hội gắn liền với lĩnh vực đó Kinh tế nông thôn là một tổng thể các ngành kinh tế trong khu vực nông thôn Kinh tế nông thôn gồm các ngành liên quan mật thiết với nhau: Nông nghiệp, lầm nghiệp, ngư nghiệp và bao gồm cả công nghiệp và dịch vụ trong nông nghiệp

Các ngành kinh tế đó quan hệ chặt chẽ với nhau theo tỷ lệ nhất định về

số lượng và liên quan chặt chẽ về mặt chất lượng Cơ cấu kinh tế nông nghiệp

là một bộ phận của hệ thống cơ cấu kinh tế quốc dân, phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế quốc dân, nhưng nó cũng mang tính độc lập tương đối Vì vậy cơ cấu

kinh tế nông nghiệp được hiểu: Cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tổng thể các mối quan hệ theo tỷ lệ về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế xã hội liên quan đến sản xuất nông nghiệp trong một khoảng thời gian và không gian nhất định

Cơ cấu kinh tế phản ánh quá trình phát triển, sự phù hợp, hợp lý trong phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi ngành và mỗi thành phần kinh tế

Trang 28

Muốn có cơ cấu kinh tế hợp lý cần có những biện pháp cụ thể nhằm chuyển dịch cơ cấu đúng hướng để khai thác tối đa những lợi thế và khai thác tối đa những tiềm năng của từng vùng, từng ngành và từng địa phương

1.1.1.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa

- hiện đại hóa

Cơ cấu kinh tế thay đổi theo từng thời kỳ phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cấu kinh tế không cố định và biến đổi Sự thay đổi về cơ cấu các ngành hoặc sự thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mất của một số ngành và do tốc độ tăng trưởng giữa các yếu tố cấu thành cơ cấu kinh tế là không đồng đều Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế phản ánh trình độ phát triển của sức sản xuất xã hội, biểu hiện chủ yếu trên hai mặt: (1) Lực lượng sản xuất càng phát triển càng tạo điều kiện cho quá trình phân công lao động xã hội trở nên sâu sắc; (2) Sự phát triển của phân công lao động xã hội đến lượt nó lại càng làm cho các mối quan hệ kinh tế (cơ chế kinh tế thị trường) càng củng cố và phát triển Như vậy, sự thay đổi về số lượng và chất lượng của cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu ngành (bao gồm tất cả các cấp độ phân ngành) phản ánh trình độ phát triển của sức sản xuất xã hội Trong thời kỳ CNH - HĐH nó phản ánh mức độ đạt được (kết quả) của quá trình CNH [4]

Thấy được vai trò quan trọng, mang tính chất quyết định của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các nhà kinh tế học không ngừng nghiên cứu và đưa ra các quan niệm của riêng mình Các quan niệm được xem xét dựa trên các góc độ khác nhau đều tập trung chủ yếu vào xu hướng chuyển dịch hiệu quả nhất cho nền kinh tế Quá trình CNH-HĐH ở Viêt Nam hiện nay diễn ra trong bối cảnh chịu tác động mạnh mẽ của quá trình chuyển đổi thể chế ở bên trong, lại vừa chịu chi phối của quá trình toàn cầu hóa mà một trong những nội dung kinh tế chủ chốt là kinh tế tri thức và thị trường hóa toàn cầu Những

Trang 29

nhân tố mới này đã quyết định sự đổi mới quan niệm về CNH - HĐH, do đó cách tiếp cận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng phải thay đổi Theo cách hiểu thông thường “chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi trạng thái cơ cấu của nền kinh tế từ thời điểm này sang thời điểm khác” Tuy nhiên, khái niệm như trên chưa phản ánh được bản chất (về số lượng, chất lượng của cơ cấu kinh tế) và chưa nêu ra được mục đích của quá trình chuyển dịch (vì đây không phả là quá trình vận động tự thân mà là quá trình có sự điều khiển chủ quan của con người) [4], [19]

Theo tác giả Ngô Doãn Vịnh “chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi

tỷ lệ thành phần trong cơ cấu kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác nhằm có được sự phát triển tốt hơn, hiệu quả hơn” Khái niệm này vừa khắc phục được điểm yếu ở khái niệm trên, đồng thời đa đưa ra được mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế [10]

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế không đơn thuần là sự thay đổi vị trí, mà là quá trình tích lũy về lượng, dẫn đến sự biến đổi về chất của cơ cấu kinh tế Quá trình này diễn ra trên ba khía cạnh: theo ngành, theo lãnh thổ và theo thành phần kinh tế Cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ đơn giản đến phức tạp (tức

là số ngành, số sản phẩm ngày càng nhiều; phạm vi liên kết ngày càng rộng:

từ ít đến nhiều, trong trong nước ra ngoài nước), từ trạng thái có trình độ thấp sang trạngt hái có trình độ cao hơn (trình độ công nghệ và quy mô, chất lượng sản xuất hàng hóa ngày một cao) nhằm đem lại lợi ích lớn hơn như mong muốn của con người qua các thời kỳ phát triển

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo yêu cầu và phương hướng tiến bộ hơn mang tính quy luật trong điều kiện toàn cầu hóa, khu vực hóa và biểu hiện cụ thể là sự thay đổi tỷ lệ và mối tương quan giữa các ngành cơ bản: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ; giữa các khu vực khác nhau: khu vực thành thị và nông thôn; ngành công cộng và tư nhân, khu vực nội địa và khu vực định hướng xuất khẩu [13]

Trang 30

Chuyển dịch cơ cấu theo ngành kinh tế phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, vai trò của từng ngành, vào điều kiện thực tế Quá trình này sẽ diễn

ra theo hướng giảm tỷ trọng của khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng của khu vực phi nông nghiệp; tỷ trọng các ngành có năng suất lao động cao, chứa đựng hàm lượng công nghệ cao và chất xám ngày càng lớn, tỷ trọng các ngành có năng suất lao động thấp giảm đi trong toàn bộ bức tranh phân công lao động xã hội Xu hướng này nếu diễn ra càng nhanh càng tốt

Chuyển dịch cơ cấu theo lãnh thổ kinh tế sẽ diễn biến theo hướng các lãnh thổ có ý nghĩa động lực phát triển ngày càng lớn, lan tỏa mạnh mẽ và các lãnh thổ kém phát triển thì càng bị thu hẹp [8], [3]

Chuyển dịch cơ cấu theo thành phấn kinh tế sẽ diễn biến theo hướng tỷ trọng của bộ phận kinh tế tư nhân ngày càng tăng, tỷ trọng kinh tế nhà nước

có thể giảm xuống một cách tương đối, song vai trò then chốt và chủ đạo của

nó trong nền kinh tế vẫn được bảo đảm Hình thức kinh tế hỗn hợp mà tiêu biểu là kinh tế cổ phần sẽ trở nên thịnh hành [8]

1.1.1.4 Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn [24]

Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn được thế giới định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Theo Tổ chức phát triển Công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIPO) đã ra định nghĩa “Công nghiệp hóa là quá trình phát triển kinh tế trong đó một bộ phận nguồn lực quốc gia ngày càng lớn được xây dựng để huy động cơ cấu kinh tế nhiều ngành với công nghệ hiện đại để chế tạo ra các phương tiện sản xuất, hàng tiêu dùng có khả năng đảm bảo nhịp độ tăng trưởng cao trong toàn nền kinh tế và bảo đảm sự tiến bộ kinh tế và xã hội”

Đảng và Nhà nước ta xác định: Công nghiệp hóa là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một

Trang 31

cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao

Khái niệm công nghiệp hóa trên được Đảng ta xác định rộng hơn những quan điểm trước đó bao hàm cả về hoạt động sản xuất kinh doanh, cả

về dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội, được sử dụng bằng các phương tiện và các phương pháp tiên tiến hiện đại cùng với kỹ thuật và công nghệ cao Như vậy, công nghiệp hóa theo tư tưởng mới không bó hẹp trong phạm vi trình độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khí như quan niệm trước đây

Theo tinh thần các kỳ đại hội Đảng, quan niệm công nghiệp hóa nông thôn được Đảng và Nhà nước ta xác định là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế gắn với việc đổi mới căn bản về công nghệ và kỹ thuật ở nông thôn, tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế ở nông thôn, góp phần phát triển bền vững kinh tế quốc dân với tốc độ cao

CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn là quá trình phức tạp không đơn giản, vì vậy Đảng và Nhà nước phải đưa ra những chiến lược bước đi cụ thể và hiệu quả Bước đầu tiên của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phải đưa phương pháp sản xuất công nghiệp, máy móc thiết bị vào sử dụng trong nông nghiệp và sản xuất ở nông thôn để thay thế lao động thủ công Nông thôn Việt Nam luôn mang nặng tính thủ công trong sản xuất nông nghiệp vì vậy để thay đổi tập quán, cách làm của nông dân là bước đi vô cùng khó, phải thực hiện theo từng bước đi từ từ chậm chạp Đưa dần phương pháp sản xuất bằng máy móc để con người dần tiếp nhận phương pháp sản xuất này.Không thể đột ngột thay thế phương pháp sản xuất thủ công bằng phương pháp máy móc ngay được như thế sẽ gây ra sự lúng túng của người sử dụng cũng như người hướng dẫn sử dụng Người cần sử dụng máy móc lại không biết cách sử dụng hoặc

Trang 32

lúng túng trong cách sử dụng vì vậy gây nên sự lãng phí máy móc thiết bị Sau khi đưa máy móc thiết bị vào sử dụng cũng cần phải có phương pháp quản lý hiện đại tương ứng với các loại công nghệ và thiết bị Máy móc khoa học là những thành tựu sáng tạo của con người, chúng không tự bảo quản, không chống lại sự hao mòn vì vậy phải có bàn tay con người bảo quản cho nó Ngoài

ra quản lý, sử dụng máy móc sao cho hợp lý tiết kiệm tiền của, tránh lãng phí cũng cần phải học, phải có phương pháp khoa học hiện đại Đó là cả một quá trình đào tạo chính quy và có quy mô Nhưng khi có máy móc hiện đại, trang thiết bị được quản lý tốt mà cơ sở vật chất nghèo không phù hợp thì cũng không có hiệu quả Vì vậy phải tạo ra hệ thống cơ sở hạ tầng thích hợp với việc đưa máy móc thiết bị mới vào nông thôn

Như vậy, công nghiệp hoá nông thôn không có nghĩa là chỉ phát triển công nghiệp ở nông thôn mà bao gồm cả việc phát triển toàn bộ các hoạt động, các lực lượng sản xuất dịch vụ và đời sống văn hoá tinh thần ở nông thôn và cả nước nói chung

Công nghiệp hoá nông nghiệp là một bộ phận của công nghiệp hoá nông thôn Nội dung chủ yếu là đưa máy móc thiết bị, ứng dụng các phương pháp sản xuất kiểu công nghiệp, các phương pháp và hình thức tổ chức kiểu công nghiệp và các lĩnh vực của sản xuất nông nghiệp Công nghiệp hoá nông thôn còn bao hàm cả việc tạo ra sự gắn bó chặt chẽ giữa sản xuất công nghiệp với sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác triệt để lợi thế của nông nghiệp, nâng cao hàm lượng chế biến sản phẩm của nông nghiệp để tăng giá trị và mở rộng thị trường cho sản phẩm

Hiện đại hoá là quá trình liên tục nâng cao trình độ khoa học, kỹ thuật

và công nghệ vào sản xuất và đời sống ở nông thôn, cải thiện tổ chức sản xuất

và hoàn thiện đời sống ở nông thôn, tạo ra một nền sản xuất trình độ ngày càng cao, cuộc sống ngày càng văn minh, tiến bộ Hiện đại hoá nông thôn

Trang 33

không chỉ bao gồm công nghiệp hoá, nâng cao trình độ kỹ thuật - công nghệ

và tổ chức trong các lĩnh vực khác của sản xuất vật chất ở nông thôn mà con bao gồm cả việc không ngừng nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần, phát triển

hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội hệ thống giáo dục đào tạo y tế, các dịch vụ phục

vụ đời sống khác ở nông thôn.Về bản chất, hiện đại hoá là quá trình phát triển toàn diện có kế thừa ở nông thôn Hiện đại hoá hoàn toàn không có nghĩa là xoá bỏ toàn bộ những gì đã tạo dựng trong quá khứ cũng không có nghĩa là phải đưa toàn bộ công nghệ, thiết bị tiên tiến và hiện đại vào nông thôn ngay một lúc mà là tận dụng, cải tiến, hoàn thiện từng bước nâng cao trình độ khoa học - kỹ thuật - công nghệ, trình độ tổ chức và quản lý sản xuất nông nghiệp lên ngang tầm với trình độ thế giới

Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá có liên quan mật thiết với nhau, chúng tương tác với nhau, sự khác nhau giữa chúng chỉ mang tính tương đối, vì chúng có nội dung đan xen vào nhau, bổ sung cho nhau để mục đích cuối cùng

là đưa kinh tế nông thôn phát triển đi lên ngang tầm với thế giới

1.1.2 Đặc trưng của cơ cấu kinh tế nông nghiệp [12]

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính khách quan: Cơ cấu kinh tế

nông nghiệp tồn tại và phát triển phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Mỗi một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và phân công lao động tương ứng với một cơ cấu kinh tế nông nghiệp cụ thể C.Mác nói “Trong phân công lao động xã hội thì con số

tỷ lệ là tất yếu không ai tránh khỏi, một sự tất yếu thầm kín, yên lặng” Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và cơ cấu kinh tế cụ thể trong hệ thống kinh tế nông nghiệp cũng như xu hướng chuyển dịch của chúng ra sao là tùy thuộc vào những điều kiện kinh tế - xã hội những điều kiện tự nhiên nhất định mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người Tuy nhiên, các quy luật kinh tế lại được biểu hiện và vận động thông qua hoạt động của con người Vì vậy,

Trang 34

con người phải nhận thức đầy đủ các quy luật kinh tế cũng như các ngành tự nhiên để từ đó góp phần vào việc hình thành, biến đổi và phát triển cơ cấu kinh tế nông nghiệp sao cho cơ cấu đó ngày càng hợp lý và đem lại hiệu quả cao Trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế giới hiện nay, cơ cấu kinh tế còn bị chi phối bởi sự phát triển kinh tế chung của vùng và của thế giới Như vậy, việc hình thành và vận động của cơ cấu kinh tế nông nghiệp đòi hỏi phải tôn trọng khách quan và không được áp đặt chủ quan, duy y chí

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp không cố định mà luôn luôn vận động và biến đổi: Sự vận động của cơ cấu kinh tế nông nghiệp luôn gắn liền với điều

kiện kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên và tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới Sự tác động của các điều kiện đó làm cho các bộ phận kinh tế trong

hệ thống kinh tế nông nghiệp biến đổi, tác động lẫn nhau, tạo ra một cơ cấu kinh tế nông nghiệp mới Cơ cấu ấy vận động và phát triển, đến lượt nó phải nhường chỗ cho một cơ cấu mới khác ra đời Tuy vậy, để đảm bảo cho quá trình hình thành, vận động và phát triển của cơ cấu kinh tế nông nghiệp một cách khách quan, yêu cầu đặt ra là cơ cấu nông nghiệp phải đảm bảo tương đối ổn định Nếu cơ cấu kinh tế nông nghiệp thường xuyên thay đổi, xáo trộn

sẽ làm cho các quá trình sản xuất kinh doanh không ổn định, quá trình đầu tư lúng túng, lưu thông hàng hóa trở ngại, làm cho kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển què quặt và phiến diện, gây lãng phí, tổn thất cho nền kinh tế

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp mang tính hợp tác và cạnh tranh: Trong

việc lựa chọn một cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý, có hiệu quả cao phải xem xét đầy đủ các yếu tố từ bên ngoài ảnh hưởng đến việc hình thành cơ cấu kinh tế và mối liên hệ giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài Sự gắn

bó được bieru hiện trong quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, trong việc bố trí sản xuất, hoạch định các chính sách, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh chế biến và tiêu thụ sản phẩm

Trang 35

1.1.3 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa

1.1.3.1 Nhóm các nhân tố khách quan [9]

(1) Nhóm các yếu tố tự nhiên như: vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên

thiên nhiên Nhóm các yếu tố này quyết định lợi thế nguồn lực tự nhiên của từng vùng, từng địa phương, chúng co mối quan hệ đan xen với nhau, ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên đến quá trình phát triển kinh tế của vùng, địa phương Trước hết, phải làm rõ các yếu tố này để thấy được những thuận lợi, khó khăn trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Vị trí địa lý là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình phát triển của vùng Nếu một vùng là đầu mối giao thông, có cảng biển chính, cửa khẩu quan trọng sẽ có điều kiện phát triển nhanh hơn các vùng khác không có những lợi thế đó Vị trí địa lý tạo khả năng giao lưu mạnh giữa các vùng nằm trong cùng một nước, thông qua trao đổi hàng hóa, sản phẩm, các nguồn lực (lao động, vốn, tài nguyên, khoa học kĩ thuật, trình độ quản lý )

- Tài nguyên thiên nhiên bao gồm tài nguyên đất, khí hậu, khoáng sản, tài nguyên biển, tài nguyên rừng Tài nguyên thiên nhiên, môi trường là đầu vào của các quá trình sản xuất công nghiệp và nông nghiệp Quy mô, sự giàu

có, chất lượng, điều kiện khai thác các nguồn tài nguyên sẽ ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấu kinh tế Nơi đâu nghèo tài nguyên thiên nhiên thì cơ cấu kinh tế ở

đó khó có thể đa dạng

(2) Nhóm các yếu tố kinh tế xã hội bên trong của mỗi quốc gia, gồm:

nhu cầu thị trường, dân số, nguồn lao động, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, trình độ quản lý và hoàn cảnh lịch sử Quy mô, chất lượng dân số có

ý nghĩa lớn đối với sự hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế Dân số càng đông, chất lượng dân số cao thì có điều kiện tốt để hình thành, phát triển cơ cấu kinh tế đa dạng, có chất lượng với những ngành, lĩnh vực có khả năng bứt

Trang 36

phá, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao Các điều kiện cư trú của con người quyết định tính chất, quy mô nhu cầu tiêu dùng Nhà nước có thể đưa ra những chính sách tiêu dùng mang tính khuyến khích hoặc hạn chế nhu cầu tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng đến quy mô sản xuất kinh doanh

Sự phát triển của nền kinh tế tri thức có ảnh hưởng rất lớn đến sự biến đổi của cơ cấu kinh tế và phân công lao động xã hội, làm thay đổi vị trí của các ngành trong nền kinh tế quốc dân Tiến bộ khoa học công nghệ và tốc độ cải tiến công nghệ tác động trực tiếp, có tính chủ đạo đến sự hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế, làm cho quy mô, chất lượng phát triển của các ngành thay đổi và dẫn tới cơ cấu kinh tế thay đổi; làm cho các lãnh thổ được kéo lại gần nhau hơn và cùng bị cuốn hút vào các quá trình sản xuất - kinh doanh Những công nghệ mũi nhọn như công nghệ sinh học, công nghệ đại dương, gen và vật liệu mới; công nghệ thông tin đặc biết có ý nghĩa đối với nước có trình độ phát triển thấp như nước ta [13]

(3) Nhóm các yếu tố bên ngoài như quan hệ kinh tế đối ngoại và hợp tác phân công lao động quốc tế [9], [13] Môi trường quốc tế thuận lợi sẽ

thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước Trong trao đổi quốc tế mỗi nước đều phát huy lợi thế so sánh của mình trên cơ sở chuyên môn hóa các ngành, lĩnh vực có chi phí tương đối thấp, do đó, thúc đẩy quá trình phân công lao động xã hội phát triển, kết quả là làm biến đổi cơ cấu kinh tế Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cơ cấu kinh tế của một nước còn chịu tác động của cơ cấu kinh tế nước khác trong khu vực Những mặt tích cực, tiêu chực của toàn cầu hóa, hợp tác quốc tế và việc cải cách cơ cấu kinh tế của các nước có liên quan phải được cân nhắc kỹ trước khi lựa chọn cơ cấu kinh tế cho quốc gia, vùng lãnh thổ và cho từng địa phương Điều này có ý nghĩa khi nước ta trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Đối với một vùng, cơ cấu kinh tế chịu sự chi phối bởi cơ cấu kinh tế cả nước và

Trang 37

các vùng khác, của các địa phương trong vùng Vì vậy, các vùng, địa phương khi lựa chọn cơ cấu kinh tế cho mình phải tính đến mối liên kết với các vùng, địa phương khác

1.1.3.2 Nhóm các nhân tố chủ quan [9]

Nhóm các yếu tố chủ quan bao gồm đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong từng thời kỳ Tính hoàn thiện của bộ máy nhà nước, luật pháp và thể chế kinh tế sẽ là điều kiện có tính quyết định đến sự hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế có hiệu quả Sự ổn định, minh bạch, đồng bộ của thể chế kinh tế (nhất là các chính sách đầu tư, tài chính) sẽ góp phần phát triển cơ cấu kinh tế theo chiều hướng tốt Những yếu tố chủ quan cũng có vai trò quan trọng trong việc làm giảm hoặc làm tăng lên các tác động tích cực và tiêu cực đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Cơ chế quản lý sẽ tác động lên cơ cấu sản xuất, cơ cấu dân cư, tạo nên sự cân đối lực lượng lao động và thu nhập giữa các vùng, giảm bớt khoảng cách chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn

Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan khoa học, tính lịch sử xã hội, nhưng các tính chất đó của cơ cấu kinh tế lại chịu sự chi phối của nhà nước Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào cơ cấu kinh tế nhưng có thể tác động gián tiếp thông qua định hướng phát triển và các công cụ điều tiết thể chế, chính sách, pháp luật Định hướng phát triển kinh tế không chỉ nhằm khuyến khích mọi lực lượng sản xuất xã hội đạt được mục tiêu đề ra mà còn đưa ra các dự án để thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia; đưa các ngành, lĩnh vực

và thành phần kinh tế cùng phát triển; bảo đảm tính cân đối và đồng bộ giữa các bộ phận hợp thành của nền kinh tế Nhà nước miễn, giảm thuế hoặc quy định mức thuế suất thấp để người sản xuất có lợi nhuận cao nhằm khuyến khích các ngành, sản phẩm; đối với các ngành, lĩnh vực không khuyến khích, Nhà nước sẽ thông qua các chính sách để hạn chế đầu tư sản xuất Nhà nước

Trang 38

cũng có thể khuyến khích lao động đến các nơi có tài nguyên thiên nhiên, có nhu cầu sử dụng lao động thông qua các chính sách kinh tế - xã hội, ngược lại muốn hạn chế việc di dân ồ ạt vào các đô thị lớn thì phải đầu tư phát triển các thị xã, thị trấn và nông thôn Trong một số trường hợp, nhà nước phải trực tiếp tổ chức sản xuất, bảo đảm sự cân đối giữa các sản phẩm, các ngành, lĩnh vực và các lãnh thổ trong nền kinh tế [8], [9]

1.1.4 Xu thế chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa [22]

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là hướng đi tất yếu để phát triển kinh

tế, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta có những bước phát triển mạnh mẽ, kinh tế tăng trưởng liên tục với tốc độ khá cao, kim ngạch xuất khẩu tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh

tế, thu nhập bình quân đầu người được nâng lên Tuy nhiên, nền kinh tế nước

ta vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức Sự suy thoái nặng nền của nền kinh tế thế giới đã thu hẹp thị trường xuất khẩu, thị trường vốn và tác động tiêu cực đến kinh tế - xã hội nước ta Trước tình hình đó, Chính phủ đã đề ra nhiều chính sách, giải pháp nhằm thực hiện mục tiêu tổng quát của Nghị quyết kỳ họp thứ 4 - Quốc hội Khóa XII là: Tiếp tục kìm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, bền vững, chủ động ngăn ngừa suy giảm, bảo đảm an sinh xã hội; đẩy mạnh hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế một cách chủ động và hiệu quả; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội; tạo điều kiện thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

Trên cơ sở phân tích thực trạng chuyển dịch CCKT nước ta trong những năm qua cùng xu thế phát triển tất yếu của kinh tế thế giới, 3 phương

Trang 39

thức được chỉ ra để đạt được các mục tiêu trong chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH ở nước ta là:

- Thứ nhất, bằng phương thức tác động trực tiếp, Nhà nước có thể tác động tới quá trình chuyển dịch CCKT Nhà nước dùng vốn ngân sách đầu tư vào các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) để phát triển các ngành, các sản phẩm mà Nhà nước mong muốn Ngoài ra, Nhà nước cũng có thể dùng mệnh lệnh hành chính buộc các DNNN tiến hành đầu tư vào các lĩnh vực theo sự chỉ đạo của mình, yêu cầu các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại nhà nước cho các doanh nghiệp, hộ gia đình vay ưu đãi để thực hiện một số dự án phát triển kinh tế cụ thể

Phương thức này bước đầu có thể mang lại hiệu quả chuyển dịch CCKT nhanh chóng theo kế hoạch của Nhà nước Tuy nhiên, thực tiễn đã chứng tỏ, sự tăng trưởng đạt được bằng cách làm này thường không bền vững, bởi vì các quyết định đầu tư dựa trên nguyên tắc mệnh lệnh hành chính thường không mang lại hiệu quả kinh tế như mong muốn Nhà nước chỉ nên

sử dụng phương thức này để phát triển các ngành mà vốn đầu tư lớn, khả năng rủi ro cao mà khu vực kinh tế tư nhân không muốn làm Sau khi hoàn thành sứ mệnh tiên phong, gánh chịu rủi ro ban đầu, Nhà nước có thể tiến hành cổ phần hoá, chuyển giao các doanh nghiệp này cho khu vực kinh tế tư nhân để Nhà nước thu hồi vốn, rồi tiếp tục đầu tư vào các công nghệ, sản phẩm mũi nhọn khác

- Thứ hai, Nhà nước có thể dùng phương thức tác động gián tiếp thông qua việc tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi Cụ thể là: sự ổn định về chính trị, an ninh, quốc phòng; ổn định về kinh tế vĩ mô; một hệ thống thị trường đồng bộ, hoàn thiện; môi trường pháp lý thông thoáng và minh bạch;

bộ máy hành chính hoạt động hiệu quả, trong sạch; môi trường thông tin đa dạng, đầy đủ, chính xác và kịp thời, đặc biệt là các thông tin về chính sách và

Trang 40

thị trường Đây có thể coi là phương thức tác động cơ bản, lâu dài và hiệu quả nhất của Nhà nước đối với quá trình chuyển dịch CCKT

- Thứ ba, là phương thức tác động gián tiếp tới quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế thông qua việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển khoa học công nghệ, giáo dục, y tế Những lĩnh vực này lại ít hấp dẫn với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, vì đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn và thời gian thu hồi vốn chậm Nhưng vì đây là những lĩnh vực đóng vai trò chiến lược trong sự phát triển của mỗi quốc gia, nên Nhà nước cần tập trung nguồn lực

để đầu tư vào những lĩnh vực này

Các phương thức tác động trên đây cần được phối hợp thực hiện bằng một hệ thống chính sách đồng bộ Sự phối hợp giữa các phương thức phải đặt trên một nguyên tắc rõ ràng và nhất quán đó là: phương thức tác động gián tiếp thông qua việc tạo lập môi trường là phương thức quan trọng nhất, hai phương thức còn lại là phương thức bổ sung, hỗ trợ cho phương thức này Thông qua việc tạo lập môi trường, Nhà nước làm và để cho cơ chế thị trường hoạt động có hiệu quả Bằng các quy luật kinh tế thị trường, các tiềm năng sẽ được khai thác, các nguồn lực sẽ được phân bổ, quá trình chuyển dịch CCKT

sẽ diễn ra một cách hiệu quả mà không cần có sự can thiệp thô bạo của “bàn tay” Nhà nước

Trong quá trình phát triển kinh tế, xu hướng chuyển dịch CCKT theo hướng CNH được thực hiện theo các mô hình có tính quy luật Đó là:

- Mô hình CNH Tư bản chủ nghĩa theo cơ chế thị trường tự do - thường được gọi là mô hình CNH cổ điển với các đặc trưng: Cách mạng trong lĩnh vực nông nghiệp xảy ra trước, trở thành một trong những tiền đề tiên quyết của cách mạng công nghiệp; Chuyển dịch CCKT diễn ra theo trình tự: công nghiệp nhẹ, công nghiệp nặng, nông, lâm, ngư nghiệp, và cuối cùng là lĩnh vực dịch vụ; Chuyển dịch CCKT diễn ra một cách chậm chạp và kéo dài hàng trăm năm

Ngày đăng: 15/11/2014, 22:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế xã hội 2006-2010 và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015 của huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế xã hội 2006-2010 và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2011-2015 của huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
3. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (1995), nghiên cứu xác định cơ cấu kinh tế lãnh thổ theo hướng phát triển có trọng điểm, Chương trình khoa học cấp nhà nước “Đổi mới và hoàn thiện các chính sách kinh tế và cơ chế quản lý”, Đề tài KX.03.20, nghiệm thu tháng 12, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghiên cứu xác định cơ cấu kinh tế lãnh thổ theo hướng phát triển có trọng điểm
Tác giả: Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
Nhà XB: Chương trình khoa học cấp nhà nước “Đổi mới và hoàn thiện các chính sách kinh tế và cơ chế quản lý”
Năm: 1995
6. Lê Thu Hoa (1997), Đầu tư có trọng điểm và vấn đề hình thành cơ cấu kinh tế lãnh thổ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 18, tháng 5-6, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư có trọng điểm và vấn đề hình thành cơ cấu kinh tế lãnh thổ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá
Tác giả: Lê Thu Hoa
Nhà XB: Tạp chí Kinh tế và Phát triển
Năm: 1997
12. Phạm Nguyệt Thương (2008), Giải pháp chủ yếu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường ĐH Kinh tế và QTKD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp chủ yếu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa của tỉnh Nghệ An
Tác giả: Phạm Nguyệt Thương
Nhà XB: Trường ĐH Kinh tế và QTKD
Năm: 2008
14. Thủ tướng Chính phủ (1997), Quyết định số 747/TTg ngày 11/9/1997 về phương phướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 747/TTg ngày 11/9/1997 về phương phướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1997
15. Trung tâm biên soạn từ điển quốc gia (1995), Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách khoa Việt Nam
Tác giả: Trung tâm biên soạn từ điển quốc gia
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
16. UBND huyện Chợ Đồn, Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng giai đoạn 2006-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng giai đoạn 2006-2010
Tác giả: UBND huyện Chợ Đồn
17. UBND huyện Chợ Đồn, Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng năm 2010-2011; Nhiệm vụ trọng tâm năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng năm 2010-2011; Nhiệm vụ trọng tâm năm 2012
Tác giả: UBND huyện Chợ Đồn
Năm: 2012
18. Văn kiện đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ X - Nhiệm kỳ 2010 - 2015, Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Bắc Kạn lần thứ X - Nhiệm kỳ 2010 - 2015
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn
19. Viện Chiến lược phát triển (2004), Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Viện Chiến lược phát triển
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
2. Báo cáo chính trị trình đại hội đại biểu đảng bộ huyện lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2010 - 2015, Huyện ủy Chợ Đồn, Bắc Kạn Khác
4. Bùi Tất Thắng (2006), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Khác
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đến XI, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
7. Lê Thu Hoa (2001), Một số vấn đề lỳ luận và thực tiễn phát triển có trọng điểm theo lãnh thổ, chuyên đề cấp tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, tháng 7, Hà Nội Khác
8. Ngô Đình Giao (1997), Một số vấn đề về thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế (ngành, vùng, thành phần) trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đề tài khoa học xã hội 0104, Chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước KHXH02, nghiệm thu tháng 12, Hà Nội Khác
9. Ngô Doãn Vịnh (2005), Bàn về phát triển kinh tế (nghiên cứu con đường dẫn tới giàu sang), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
10. Ngô Doãn Vịnh (2006), Những vấn đề chủ yếu về kinh tế phát triển, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
13. Tatyana P.Soubbotina (2005), Không chỉ là tăng trưởng kinh tế, Nhập môn về phát triển bền vững, NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.4. Giá trị sản xuất của các ngành năm 2005 so với năm 2010 - Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.4. Giá trị sản xuất của các ngành năm 2005 so với năm 2010 (Trang 73)
Bảng 3.5. Thống kê giá trị sản xuất nông nghiệp - Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.5. Thống kê giá trị sản xuất nông nghiệp (Trang 75)
Bảng 3.7. Thống kê giá trị sản xuất ngành trồng trọt - Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.7. Thống kê giá trị sản xuất ngành trồng trọt (Trang 77)
Bảng 3.8. Tỉ lệ phần trăm giá trị sản xuất các loại cây trồng - Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.8. Tỉ lệ phần trăm giá trị sản xuất các loại cây trồng (Trang 79)
Bảng 3.9. Diện tích các loại cây trồng - Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.9. Diện tích các loại cây trồng (Trang 80)
Bảng 3.10. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi - Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.10. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi (Trang 81)
Bảng 3.11. Kết quả ngành chăn nuôi - Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.11. Kết quả ngành chăn nuôi (Trang 82)
Bảng 3.14. Thống kê diện tích, sản lƣợng ngành thủy sản - Thực trạng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Bảng 3.14. Thống kê diện tích, sản lƣợng ngành thủy sản (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w