Công tác quản lý nhà nước của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với hoạt động kinh doanh lữ hành .... - Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian: Nghiên cứu hoạt động của các đơn vị kinh do
Trang 1_
LÊ LONG
TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ HÀNH CỦA NGÀNH DU LỊCH TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là luận văn nghiên cứu độc lập của em, mọi tài liệu sử dụng đều có trích dẫn nguồn gốc
rõ ràng
Người cam đoan
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm luận văn em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của Khoa Đào tạo Sau Đại học của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh – Trường Đại học Thái Nguyên; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh, quý thầy, cô giáo đã tạo điều kiện hướng dẫn nội dung và cung cấp những thông tin, tài liệu cần thiết Mà đặc biệt là sự quan tâm của Cô TS Đỗ Thị Phương đã tận tình hướng dẫn để giúp cho em hoàn thành được Luận văn kinh tế này
Cho phép em được gửi đến quý Trường, Khoa, quý Cơ quan, quý Thầy - Cô, cùng gia đình lời cảm ơn sâu sắc và chân thành nhất
Học Viên
Lê Long
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt ……… ………… vii
Danh mục các bảng, sơ đồ - hình……… ……… viii
PHẦN MỞ ĐẦU……… 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ HÀNH……….………….… 5
1.1 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh lữ hành……… 5
1.1.1 Khái niệm kinh doanh lữ hành và hoạt động kinh doanh lữ hành 5
1.1.1.1 Khái niệm kinh doanh lữ hành 5
1.1.1.2 Hoạt động kinh doanh lữ hành 5
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh lữ hành 9
1.1.3 Vai trò của hoạt động kinh doanh lữ hành 11
1.1.4 Các mô hình hoạt động kinh doanh lữ hành 12
1.1.5 Sản phẩm của hoạt động kinh doanh lữ hành 15
1.2 Quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh lữ hành………… 16
1.2.1 Quản lý Nhà nước về kinh tế 16
1.2.1.1 Khái niệm 16
1.2.1.2 Các hình thức quản lý nhà nước về kinh tế 16
1.2.1.3 Các phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế 18
1.2.2 Tổ chức bộ máy, mục tiêu và các nội dung quản lý nhà nước về
du lịch 20
1.2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch 20
1.2.2.2 Mục tiêu của quản lý nhà nước về du lịch 22
Trang 51.2.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về kinh doanh lữ hành 22
1.2.2.4 Công tác quản lý nhà nước của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với hoạt động kinh doanh lữ hành 23
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 25
2.1 Các vấn đề đặt ra mà đề tài cần giải quyết……… 25
2.2 Các phương nghiên cứu……… 25
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 25
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 26
2.2.2.1 Bảng thống kê 26
2.2.2.2 Phương pháp đồ thị thống kê: 27
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 29
2.2.3.1 Phương pháp so sánh 29
2.2.3.2 Phương pháp dự báo 32
2.2.3.2.1 Chỉ tiêu dự đoán lượng khách dựa vào phương pháp hồi qui32 2.2.3.2.2 Chỉ tiêu dự đoán dựa vào lượng tăng ( hoặc giảm) tuyệt đối bình quân 33
2.2.3.2.3 Chỉ tiêu dự đoán dựa vào tốc độ phát triển trung bình 33
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ HÀNH CỦA NGÀNH DU LỊCH TỈNH QUẢNG NINH 34
3.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh du lịch và kinh doanh lữ hành của Quảng Ninh……… 34
3.1.1 Giới thiệu khái quát về tỉnh Quảng Ninh 34
3.1.2 Tình hình phát triển kinh doanh du lịch của tỉnh Quảng Ninh 37
3.1.3 Tình hình hoạt động kinh doanh lữ hành trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2007 -2011 38
3.1.3.1 Về nguồn khách 38
Trang 63.1.3.2 Các đơn vị kinh doanh lữ hành……… 44
3.2 Thực trạng công tác quản lý của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh đối với hoạt động kinh doanh lữ hành trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 52
3.2.1 Bộ máy quản lý nhà nước về du lịch 52
3.2.1.1 Hệ thống quản lý nhà nước về du lịch 52
3.2.1.2 Giới thiệu khái quát về Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch
Quảng Ninh 53
3.2.2 Thực trạng về công tác quản lý của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Quảng Ninh đối với hoạt động kinh doanh lữ hành trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh 59
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ HÀNH CỦA NGÀNH DU LỊCH TỈNH QUẢNG NINH……… 73
4.1 Định hướng phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 73
4.1.1 Quan điểm đổi mới và phát triển 73
4.1.2 Mục tiêu đổi mới và phát triển 74
4.1.2.1 Mục tiêu chung 74
4.1.2.2 Mục tiêu cụ thể 74
4.1.2.3 Phát triển không gian du lịch 75
4.1.3 Thị trường du lịch 75
4.1.3.1 Thị trường nước ngoài 75
4.1.3.2 Thị trường trong nước 76
4.1.4 Sản phẩm du lịch 76
4.1.4.1 Sản phẩm du lịch gắn với Vịnh Hạ Long 76
4.1.4.2 Sản phẩm du lịch gắn với tâm linh văn hóa phật giáo ở Yên Tử76 4.1.4.3 Các sản phẩm du lịch quan trọng khác 76
4.1.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật 77
Trang 74.1.5.1 Cơ sở lưu trú 77
4.1.5.2 Hệ thống phương tiện vận chuyển khách du lịch 77
4.1.5.3 Cơ sở vui chơi giải trí và thể thao 77
4.2 Các giải pháp ……… 78
4.2.1 Giải pháp về cơ chế quản lý 79
4.2.2 Đổi mới, tiếp tục thực hiện triệt để các nội dung quản lý 80
4.2.3 Tiếp tục hoàn thiện và đổi mới phương pháp quản lý 86
4.3 Các kiến nghị để thực hiện giải pháp……… 88
KẾT LUẬN……… 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 94
Trang 9Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu đội ngũ hướng dẫn viên theo ngoại ngữ 48 Biểu đồ 3.2 Cơ cấu đội ngũ hướng dẫn viên theo trình độ học vấn 49
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng quan trọng nhất của đời sống hiện đại, hiện là ngành kinh tế có mức tăng trưởng rất nhanh và có nguồn thu nhập cao trên thế giới Tại Việt Nam trong hơn một thập kỷ qua, du lịch Việt Nam đã đạt được những bước phát triển mạnh mẽ dưới tác động của các chính sách phát triển kinh tế, hội nhập với thế giới của Đảng và Nhà nước cùng tiềm năng du lịch phong phú và sự an toàn của môi trường xã hội Hoạt động du lịch phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, mang tính chất bùng nổ, đem lại không ít tác động tích cực như tăng thu ngân sách, tạo ra nguồn ngoại
tệ lớn góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo thêm việc làm và thu nhập cho người lao động từ đó hạn chế các vấn đề tiêu cực trong xã hội
Kinh doanh lữ hành là một thành phần có vai trò quan trọng bậc nhất trong toàn bộ các thành phần cấu thành của hoạt động kinh doanh du lịch Hoạt động kinh doanh du lịch nói chung và kinh doanh lữ hành nói riêng luôn biến đổi theo thời gian và vì vậy cũng luôn đòi hỏi những điều kiện đáp ứng phù hợp cho sự phát triển đó Một trong những điều kiện quan trọng phải được kể đến là vai trò của quản lý nhà nước về du lịch nói chung và kinh doanh lữ hành nói riêng Tầm quan trọng của quản lý nhà nước về du lịch nói chung và kinh doanh lữ hành nói riêng, được nhấn mạnh ở sự định hướng vĩ
mô, quản lý về hành chính và các biện pháp hỗ trợ nhằm thực hiện được các mục tiêu phát triển du lịch
Tỉnh Quảng Ninh, do đặc thù về địa lý và sự ưu đãi của thiên nhiên nên
đã trở thành điểm đến hấp dẫn thuộc vào bậc nhất ở Việt Nam Trong thời gian qua, du lịch Quảng Ninh nói chung và hoạt động kinh doanh lữ hành nói riêng đã có những bước phát triển mạnh mẽ Đóng góp vào sự phát triển đó,
có vai trò không nhỏ của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Quảng Ninh với tư
Trang 11cách là cơ quan quản lý nhà nước về du lịch của địa phương Tuy nhiên những biến động mạnh mẽ của các điều kiện phát triển du lịch đang đặt ra cho
Sở một trọng trách, đòi hỏi Sở phải có những hoạch định chính sách – công
cụ quản lý phù hợp mới có thể thúc đẩy được sự phát triển hiệu quả và bền vững du lịch Quảng Ninh
Để ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh thực sự trở thành ngành kinh tế động lực trong tương lai gần, đồng thời góp phần thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh là yêu cầu và nhiệm vụ cấp thiết Xuất phát từ
những vấn để nêu trên, việc lựa chọn đề tài: “Tăng cường công tác quản lý
nhà nước về hoạt động kinh doanh lữ hành của ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh” có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận và thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý nhà nước của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Quảng Ninh đối với hoạt động kinh doanh lữ hành trên địa bàn tỉnh
Trang 12- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Nghiên cứu hoạt động của các đơn vị kinh doanh lữ hành, công tác quản lý nhà nước của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Quảng Ninh đối với hoạt động kinh doanh lữ hành
+ Về thời gian: Nghiên cứu hoạt động kinh doanh lữ hành và công tác quản lý nhà nước của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Quảng Ninh đối với hoạt động kinh doanh lữ hành trên địa bàn Quảng Ninh từ năm 2007 đến năm
2011
+ Địa bàn : Tỉnh Quảng Ninh
+ Các giải pháp đề xuất liên quan tới công tác quản lý nhà nước của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Quảng Ninh đối với hoạt động kinh doanh lữ hành
4 - Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá lý luận cơ bản về hoạt động kinh doanh lữ hành, quản lý
nhà nước về du lịch, quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh lữ hành
- Phân tích, đánh giá có hệ thống và toàn diện thực trạng hoạt động quản lý nhà nước của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Quảng Ninh đối với hoạt động kinh doanh lữ hành trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
- Đề ra các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Quảng Ninh đối với hoạt động kinh doanh lữ hành
5 - Nội dung và kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục luận văn được kết cấu thành 4 chương
Trang 13Chương I: : Cơ sở lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh Lữ hành
Chương II: Phương pháp nghiên cứu
Chương III: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh Lữ hành của ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh
Chương VI: Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh Lữ hành của ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LỮ HÀNH
1.1 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh lữ hành
1.1.1 Khái niệm kinh doanh lữ hành và hoạt động kinh doanh lữ hành
1.1.1.1 Khái niệm kinh doanh lữ hành
Trên thế giới có nhiều cách tiếp cận hoạt động kinh doanh lữ hành khác nhau, do đó tồn tại những cách hiểu khác nhau về hoạt động kinh doanh lữ hành
Theo giáo trình quản trị kinh doanh lữ hành của Đại học kinh tế quốc dân: “Kinh doanh lữ hành (Tour Operation Business) là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hoặc gián tiếp qua các trung gian hoặc văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình
và hướng dẫn du lịch Các doanh nghiệp lữ hành đương nhiên được phép tổ chức mạng lưới đại lý lữ hành”(1)
Theo Luật du lịch của Việt Nam : “Lữ hành là việc xây dựng, bán,
tổ chức thực hiện một phần hoặc toàn bộ chương trình du lịch cho khách
du lịch”.(2)
1.1.1.2 Hoạt động kinh doanh lữ hành
Nội dung cơ bản của hoạt động kinh doanh lữ hành gồm có: Xây dựng, bán và thực hiện chương trình du lịch
a, Xây dựng chương trình du lịch
Việc xây dựng chương trình du lịch là khâu đầu tiên và có vai trò quan
(1) Nguyễn Văn Mạnh, Phạm Hồng Chương, Giáo trình quản trị kinh doanh lữ hành, NXB Đại học Kinh tế
Quốc dân, 2006, trang 47
(2) Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, Luật du lịch,2005, trang 5
Trang 15trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp lữ hành Các doanh nghiệp chỉ có thể kinh doanh hiệu quả khi xây dựng được các chương trình du lịch độc đáo, hấp dẫn, có mức giá hợp lý và có tính khả thi cao
Để có thể đạt được các tiêu chí đó, các doanh nghiệp lữ hành cần phải xây dựng chương trình du lịch theo quy trình sau:
- Nghiên cứu nhu cầu của thị trường (khách du lịch)
- Nghiên cứu khả năng đáp ứng Tài nguyên, các nhà cung cấp du lịch, mức độ cạnh tranh trên thị trường v…v
- Xác định khả năng và vị trí của doanh nghiệp lữ hành
- Xây dựng mục đích, ý tưởng của chương trình du lịch
- Giới hạn quỹ thời gian và mức giá tối đa
- Xây dựng tuyến hành trình cơ bản, bao gồm những điểm du lịch chủ yếu, bắt buộc của chương trình
- Xây dựng phương án vận chuyển
- Xây dựng phương án lưu trú
- Những điều chỉnh nhỏ, bổ sung tuyến hành trình Chi tiết hóa chương trình với những hoạt động tham quan, nghỉ ngơi, giải trí
- Xác định giá thành và giá bán của chương trình
- Xây dựng những quy định của chương trình
Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp có đội ngũ lao động có kinh nghiệm có thể không nhất thiết phải thực hiện tất cả các bước của quy trình khi xây dựng chương trình du lịch
Một trong những đặc điểm của chương trình du lịch là tính dễ sao chép
và bắt chước Nên có nhiều doanh nghiệp thường sao chép, không đầu tư cho quá trình nghiên cứu và xây dựng chương trình du lịch Việc làm này chỉ có
Trang 16thể hiệu quả với những chương trình du lịch đơn giản và có thời gian ngắn Ngoài tính dễ sao chép, chương trình du lịch còn có những đặc điểm: Tính vô hình, tính không đồng nhất, tính phụ thuộc vào uy tín của nhà cung cấp, tính thời vụ cao và luôn biến động, tính khó bán Do đó, nếu chỉ sao chép, doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình bán và thực hiện chương trình du lịch
b Tổ chức xúc tiến hỗn hợp, bán và thực hiện các chương trình du lịch b1 Tổ chức xúc tiến hỗn hợp chương trình du lịch
Thực chất của xúc tiến hỗn hợp là quá trình kết hợp truyền thông trong kinh doanh chương trình du lịch, nhằm mục đích truyền tin về sản phẩm là các chương trình du lịch cho nguời tiêu dùng trên thị trường mục tiêu Một mặt giúp họ nhận thức được các chương trình du lịch của doanh nghiệp, mặt khác thu hút người tiêu dùng mua sản phẩm và trung thành với sản phẩm của doanh nghiệp Hoạt động xúc tiến hỗn hợp bao gồm: Quảng cáo, tuyên truyền
và quan hệ công chúng, thúc đẩy bán, chào hàng trực tiếp Việc lựa chọn các hoạt động xúc tiến hỗn hợp phải dựa trên cơ sở phân tích các yếu tố sau: Bản chất, đặc điểm của chương trình du lịch, mục tiêu mà tham vọng truyền thông hướng tới, các giai đoạn trong chu kỳ sống của sản phẩm, tình huống mà doanh nghiệp phải đối mặt và xác định vị trí của mình trên thị trường mục tiêu, ngân quỹ có thể dùng cho hoạt động xúc tiến hỗn hợp
b2 Tổ chức bán các chương trình du lịch
Đây là giai đoạn có vai trò quyết định để đạt được mục đích kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, cần lựa chọn những phương pháp và phương tiện tối ưu nhằm tiêu thụ được khối lượng sản phẩm tối đa với chi phí tối thiểu Giai đoạn này gồm các công việc chính như lựa chọn kênh tiêu thụ, quản lý các kênh tiêu thụ Doanh nghiệp có thể lựa chọn các kênh tiêu thụ phù hợp với từng thị trường mục tiêu Thông thường có các kênh chủ yếu sau
Trang 17Sơ đồ 1.1 Hệ thống kênh phân phối sản phẩm là chương trình du lịch
b3.Tổ chức thực hiện các chương trình du lịch
Quá trình thực hiện các chương trình du lịch gồm hai mảng lớn
Mảng thứ nhất là toàn bộ những công việc từ chuẩn bị, bố trí, điều phối, theo dõi, kiểm tra v v của các phòng ban chức năng trong công ty Bộ phận điều hành có vai trò chủ đạo trong mảng công việc này
Mảng thứ hai gồm các công việc của hướng dẫn viên từ khi đón đoàn tới khi tiễn đoàn và kết thúc chương trình du lịch
Trong quá trình thực hiện chương trình du lịch, hướng dẫn viên có vai trò hết sức quan trọng Trong suốt quá trình thực hiện chương trình du lịch, hướng dẫn viên gần như là người duy nhất đại diện cho công ty tiếp xúc với khách Hơn nữa, hướng dẫn viên còn phải cung cấp rất nhiều dịch vụ như thông tin hướng dẫn, tổ chức v…v Chính vì vậy hướng dẫn viên có vai trò quan trọng đối với chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp lữ hành
b4.Tổ chức các hoạt động sau khi kết thúc chuyến đi của khách
Các hoạt động này được thực hiện sau khi chuyến du lịch kết thúc Mục tiêu của hoạt động này là nhằm làm cho khách trung thành với sản phẩm của doanh nghiệp
Đại
lý du lịch bán buôn
Đại
lý du lịch bán
lẻ Chi nhánh, văn phòng
đại diện
Trang 181.1.2 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh lữ hành
Hoạt động kinh doanh lữ hành có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Hoạt động kinh doanh lữ hành tạo ra những sản phẩm là các dịch
vụ tồn tại chủ yếu dưới dạng vô hình Đây là đặc điểm rất quan trọng, nó ảnh
hưởng tới hầu hết các công đoạn trong quá trình kinh doanh lữ hành Sản phẩm của hoạt động kinh doanh lữ hành bao gồm các chương trình du lịch, các dịch vụ trung gian, các dịch vụ bổ sung và các sản phẩm tổng hợp Do các sản phẩm này tồn tại dưới dạng vô hình nên chúng mang đặc trưng của dịch
vụ như tính không lưu kho, không nhận biết được sản phẩm trước khi tiêu dùng, không chuyển quyền sở hữu…
- Kết quả của hoạt động kinh doanh lữ hành phụ thuộc vào nhiều nhân tố và không ổn định Quá trình để tạo ra sản phẩm của hoạt động lữ
hành phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan như: Các nhà cung cấp, tài nguyên du lịch, điều kiện khí hậu, điều kiện cơ sở hạ tầng… Do vậy kết quả, chất lượng của sản phẩm của hoạt động kinh doanh lữ hành khó xác định trước và không ổn định Điều này gây rất nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc duy trì, đảm bảo chất lượng
- Quá trình sản xuất và tiêu dùng trong hoạt động kinh doanh lữ hành diễn ra cùng một lúc Các dịch vụ chỉ được thực hiện khi khách hành tiêu
dùng Các doanh nghiệp hầu như không thể biết trước được số lượng khách, khối lượng dịch vụ, doanh thu cũng như chi phí mà mình sẽ thực hiện trong một khoảng thời gian, chu kỳ kinh doanh Điều này làm cho việc lập kế hoạch của các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn
- Đối với sản phẩm do doanh nghiệp lữ hành tạo ra, người tiêu dùng rất khó cảm nhận được sự khác biệt trước khi tiêu dùng Do quá trình sản
xuất và tiêu dùng diễn ra cùng một lúc, đồng thời rào cản tiếp cận với các yếu
tố đầu vào của hoạt động kinh doanh lữ hành rất thấp nên hình thức, kết cấu
Trang 19sản phẩm của các doanh nghiệp lữ hành rất dễ bị sao chép cũng như khó tạo
ra được sự khác biệt Du khách rất khó có thể phân biệt được chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp lữ hành khác nhau và chỉ có thể thực sự cảm nhận được chúng khi đã tiêu dùng sản phẩm
- Hoạt động kinh doanh lữ hành thường được triển khai trên một phạm vi địa lý rộng lớn Đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm của cầu du
lịch Do cầu du lịch phân tán, đồng thời các dòng di chuyển của khách du lịch lại hướng tới các địa điểm khác nhau nên các doanh nghiệp lữ hành phải triển khai hoạt động của mình trên một phạm vi địa lý rộng lớn Điều này cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp lữ hành và thường làm tăng chi phí trong việc phân phối sản phẩm cũng như công tác điều hành sản xuất kinh doanh
- Hoạt động lữ hành mang tính thời vụ rõ nét đối với từng đoạn thị trường Cầu du lịch phụ thuộc rất nhiều vào thời gian nhàn rỗi, cách phân bố
sử dụng thời gian nhàn rỗi của dân cư cũng như điều kiện thời tiết, khí hậu Do vậy trong kinh doanh du lịch nói chung và lữ hành nói riêng, tính thời vụ đã trở thành hiện tượng phổ biến Để khắc phục tình trạng này các doanh nghiệp buộc phải đa dạng hoá sản phẩm, khai thác trên nhiều thị trường hoặc nhiều đoạn thị trường khác nhau, đồng thời sử dụng chính sách giá cả, chính sách sản phẩm một cách hợp lý
- Hoạt động kinh doanh lữ hành phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan thuộc môi trường vĩ mô, ngoài tầm kiểm soát của các doanh nghiệp
Các yếu tố của môi trường vĩ mô, bên cạnh những ảnh hưởng tới các doanh nghiệp lữ hành giống như các ngành khác còn là một thành tố tạo ra sản phẩm
lữ hành Do vậy, thị trường du lịch nói chung mang tính nhậy cảm rất cao đối với các yếu tố này Một sự biến động nhỏ (tính theo mức độ tác động chung) của môi trường vĩ mô cũng gây ra những thay đổi (đôi khi là rất lớn) trong
Trang 20tương quan cung, cầu du lịch, vì vậy ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp lữ hành
1.1.3 Vai trò của hoạt động kinh doanh lữ hành
Hoạt động kinh doanh lữ hành đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh du lịch Nguyên nhân chính là do mối quan hệ giữa cung và cầu trong du lịch tương đối phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố bên trong cũng như bên ngoài Mối quan hệ này có nhiều điểm bất lợi cho các nhà cung cấp các dịch vụ du lịch (cung) và khách du lịch (cầu) Do đó, tất yếu đòi hỏi phải có tổ chức trung gian làm nhiệm vụ liên kết cung và cầu trong du lịch
Kinh doanh lưu trú,
lữ hành
Khách
du lịch
Trang 21a Đối với các nhà cung cấp
Các hãng lữ hành chính là người làm công tác quảng cáo các dịch vụ của các nhà cung cấp Nhờ có các hãng lữ hành, các nhà cung cấp giảm bớt chi phí cho hoạt động xúc tiến hỗn hợp vì các hoạt động này được tập trung vào thị trường trung gian có chi phí nhỏ hơn nhưng thu được kết quả cao hơn
c Đối với điểm đến du lịch
Kinh doanh lữ hành mang lại cho điểm đến du lịch các lợi ích sau: Các nhà kinh doanh lữ hành tạo ra mạng lưới marketing du lịch quốc tế Thông qua mạng lưới marketing du lịch quốc tế mà khai thác được các nguồn khách, thu hút khách du lịch đến với các điểm đến du lịch Khi có khách du lịch đến một điểm đến nào đó nó sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các chủ thể ở tại điểm
đó đặc biệt là lợi ích về kinh tế
1.1.4 Các mô hình hoạt động kinh doanh lữ hành
Do điều kiện kinh doanh lữ hành có nhiều mô hình tổ chức kinh doanh khác nhau
Trang 22Căn cứ vào mức độ chuyên môn hoá có các mô hình: tổ chức kinh doanh
lữ hành độc lập phát triển chuyên sâu; kinh doanh lữ hành nằm trong công ty
du lịch; kinh doanh lữ hành trong tập đoàn kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực
Tổ chức kinh doanh lữ hành độc lập phát triển chuyên sâu có đặc
điểm là tập trung kinh doanh trong lĩnh vực lữ hành (chuyên ngành hẹp, phát triển sâu) theo cách làm đại lý cho các nhà cung cấp dịch vụ độc lập, kết nối thành sản phẩm du lịch hoàn chỉnh để bán cho khách hàng Khách hàng có thể
là người tiêu dùng cuối cùng và có thể là người kinh doanh Để phát triển sâu, nhà kinh doanh có thể: một là với sản phẩm đang lưu hành thâm nhập sâu vào thị trường đã có bằng các hoạt động marketing mạnh mẽ hơn; hai là mở rộng thị trường bằng cách đưa sản phẩm đang lưu hành vào các thị trường mới; ba
là cải tiến sản phẩm đang lưu hành Ưu điểm của mô hình này là tập trung được nhân tài, vật lực, chuyên môn hoá cao, không nhất thiết phải có lượng vốn lớn Hạn chế của mô hình này là nhà kinh doanh lữ hành phụ thuộc lớn vào nhà cung cấp sản phẩm, tính chủ động trong kinh doanh thấp, khép kín
Mô hình này thích hợp với các điều kiện sau: điều kiện quy mô thị trường không bị giới hạn, thường xuyên ổn định mà nhà kinh doanh chưa tận dụng hết những khả năng vốn có của sản phẩm và thị trường hiện tại của mình; điều kiện nhà kinh doanh lữ hành có uy tín, nổi tiếng, có mối quan hệ rộng
Tổ chức kinh doanh lữ hành nằm trong Công ty du lịch Mô hình này
bao gồm tất cả những hoạt động kinh doanh chính của du lịch như là kinh doanh dịch vụ vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí tại các điểm du lịch, khu du lịch, được hợp nhất vào một chủ thể kinh doanh Mô hình này có các đặc điểm sau: Thực hiện việc nắm quyền sở hữu, quyền quản lý hay thiết lập sự quản lý chặt chẽ các nhà cung ứng dịch vụ để tạo ra sản phẩm du lịch hoàn chỉnh (chương trình du lịch trọn gói) Thực hiện việc nắm quyền sở hữu, quyền quản lý hay thiết lập sự kiểm soát chặt chẽ hệ thống phân phối sản
Trang 23phẩm du lịch trọn gói tới tay người tiêu dùng cuối cùng Theo mô hình này sản phẩm chương trình du lịch do một bộ phận nằm trong sở hữu của một chủ
và được phân quyền quản lý Mô hình này có ưu điểm là tạo ra tính phối kết hợp cao, hỗ trợ kịp thời cho nhau giữa các bộ phận cung cấp các dịch vụ khác nhau để tạo ra sản phẩm du lịch hoàn chỉnh, kết hợp được cho nhau tránh lãng phí, kinh doanh du lịch tổng hợp phù hợp với tính tổng hợp của cầu du lịch,
có điều kiện để tạo ra lợi thế cạnh tranh về giá cả, kiểm soát được chất lượng Tuy nhiên mô hình này có những hạn chế như là khó khăn trong điều hành, quản lý nếu không có cơ chế phối hợp rõ ràng, tính độc lập thấp, không bảo đảm lợi ích và không bình đẳng giữa các bộ phận Mô hình này thích hợp khi nguồn vốn lớn, có bề dầy truyền thống, đội ngũ cán bộ quản lý điều hành có trình độ chuyên môn cao và tính hợp tác tốt, sở hữu một chủ Mô hình tổ chức kinh doanh lữ hành nằm trong công ty du lịch có quy mô lớn, chủ sở hữu chuỗi khách sạn, phương tiện vận chuyển với số lượng lớn các văn phòng đại diện, chi nhánh đặt ở những nơi có nguồn khách lớn và các khu du lịch được
áp dụng phổ biến tại các quốc gia có ngành du lịch phát triển
Tổ chức kinh doanh lữ hành trong tập đoàn kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực Mô hình này bảo đảm cung ứng cho thị trường du lịch nhiều chủng
loại sản phẩm khác nhau nhưng đều có thể đáp ứng cho việc thoả mãn một cách tổng hợp các nhu cầu khi đi du lịch của con người Cụ thể là nhà kinh doanh dịch vụ vận chuyển hàng không, đường sắt, đường thuỷ, đường bộ dễ dàng đầu tư mở thêm các cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, hàng thủ công mỹ nghệ, văn hoá phẩm, và có bộ phận kinh doanh lữ hành tổ chức xây dựng, bán và thực hiện các chương trình du lịch Mô hình này rất thích hợp trong việc tạo ra sản phẩm du lịch hoàn chỉnh chủ động bảo đảm dịch vụ mang tính cốt lõi của chương trình du lịch
Trang 24Căn cứ vào hình thức liên doanh trong nước có các mô hình: Liên doanh giữa các doanh nghiệp có kinh doanh lữ hành; liên doanh giữa doanh nghiệp kinh doanh lữ hành với các doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển, kinh doanh tại điểm du lịch, khu du lịch Mô hình liên doanh này tạo ra điều kiện thuận lợi cho tổ chức kinh doanh lữ hành gửi và nhận khách nội địa, mặt khác phối hợp được nguồn lực để tạo ra sức mạnh cạnh tranh trên thị trường du lịch Căn cứ vào hình thức liên doanh với nước ngoài có mô hình tổ chức kinh doanh lữ hành đa quốc gia Mô hình này được xây dựng trên cơ sở một chủ thể kinh doanh dịch vụ du lịch trong nước hợp tác liên doanh với các hãng lữ hành nước ngoài bằng các cách cho thuê, uỷ thác, đặc quyền phân phối, liên doanh Mô hình này có ưu điểm nhờ vào lợi thế hoạt động trực tiếp trên thị trường sở tại mà các hãng lữ hành nước ngoài có được thông tin đầy đủ về hành vi người tiêu dùng du lịch do đó họ tiêu thụ được nhiều sản phẩm hơn Mặt khác khắc phục được những cản trở do bất đồng về ngôn ngữ, phong tục tập quán, pháp luật, thủ tục hành chính, văn hoá truyền thống giữa nơi đi và nơi đến du lịch Trong kinh doanh du lịch hiện đại, phần lớn việc tiêu thụ sản phẩm du lịch được thực hiện thông qua các hãng lữ hành ngoài phạm vi biên giới quốc gia Các hãng lữ hành này sẽ là người tổ chức và cung cấp nguồn khách, làm cầu nối và nút buộc giữa du khách với nhà kinh doanh và điểm đến du lịch Đối với một nơi đến du lịch hay một doanh nghiệp du lịch cụ thể nào đó thì số lượng hãng lữ hành nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ, sự phân
bố rộng hay hẹp của mạng lưới này sẽ có ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu và thị phần Mô hình này thích hợp với kinh doanh lữ hành nhận và gửi khách quốc tế, thích hợp với loại chương trình du lịch có hướng dẫn viên tại các điểm đến (chương trình du lịch có hướng dẫn viên từng chặng)
1.1.5 Sản phẩm của hoạt động kinh doanh lữ hành
Sản phẩm của kinh doanh du lịch lữ hành được xác định là chương trình
Trang 25du lịch (tour) Chương trình du lịch là sản phẩm mang tính đặc trưng của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành để phân biệt nó với các loại doanh nghiệp kinh doanh khác trong ngành du lịch
Các loại chương trình du lịch
Có nhiều tiêu thức để phân loại các chương trình du lịch.Ví dụ như: Các chương trình du lịch nội địa, các chương trình du lịch quốc tế, các chương trình du lịch ngắn ngày, các chương trình du lịch dài ngày, các chương trình
du lịch văn hoá v.v
Có 3 loại tour du lịch trọn gói:
+ Tour du lịch độc lập: còn gọi là tour du lịch tối thiểu được thiết kế dành riêng cho những người muốn đi du lịch độc lập Phần lớn các tuyến du lịch này các dịch vụ không bắt buộc
+ Tour du lịch có đón tiếp từng chặng
+ Tour du lịch có hướng dẫn viên đi kèm
1.2 Quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh lữ hành
1.2.1 Quản lý Nhà nước về kinh tế
1.2.1.1 Khái niệm
Quản lý nhà nước về kinh tế, hay còn gọi là quản lý hành chính – kinh
tế, là sự quản lý của nhà nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực của nhà nước, thông qua pháp luật, chính sách, công cụ, môi trường, lực lượng vật chất, tài chính trên tất cả các lĩnh vực và bao gồm tất cả các thành phần kinh tế
1.2.1.2 Các hình thức quản lý nhà nước về kinh tế
Trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về kinh
tế nói riêng, các hoạt động quản lý được chia thành:
- Ra văn bản quản lý nhà nước
Trang 26Văn bản quy phạm pháp luật là căn cứ để các đối tượng quản lý thực hiện theo, cũng là tiêu chí để các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà lãnh đạo kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của các đối tượng quản lý, là căn cứ truy cứu trách nhiệm và xử lý theo pháp luật khi các đối tượng vi phạm
Ra văn bản quản lý là hình thức hoạt động chủ yếu của quản lý nhà nước và chiếm vị trí quan trọng nhất trong hoạt động quản lý nhà nước Nhà nước có quy định nghiêm ngặt với đối tượng, giới hạn, phạm vi và thẩm quyền Không cơ quan hay lãnh đạo nào được phép lợi dụng và lạm dụng
- Hội Nghị
Hội nghị là hình thức tập thể lãnh đạo ra quyết định Qua bàn bạc đưa
ra nghị quyết hội nghị và khi được thể hiện thành văn bản pháp quy mới có hiệu lực pháp lý Còn khi ghi trong biên bản hội nghị, chưa phải là văn bản pháp quy thì chưa có hiệu lực pháp lý
Với các cơ quan thẩm quyền thực hiện hoạt động quản lý nhà nước thì hội nghị là hình thức quan trọng và cần thiết Để tiến hành hội nghị một cách khoa học và có hiệu quả cao trong thời gian ngắn thì cần phải có sự chuẩn bị chu đáo từ triệu tập đối tượng, lập chương trình hội nghị và dự kiến nội dung thảo luận
- Sử dụng các phương tiện kỹ thuật trong quản lý nhà nước
Sử dụng các phương tiện kỹ thuật giúp thực hiện các công tác quản lý nhà nước được thực hiện nhanh chóng, chính xác, rút ngắn thời gian ra văn bản cũng như thông tin giữa các bên, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
- Phối kết hợp các đơn vị và cá nhân trong việc thực thi hoạt động quản
lý nhà nước, thực hiện các quyết định hành chính mang tính liên kết giữa các ngành, các địa phương, các cơ quan chức năng
Trang 27- Tác nghiệp xử lý công việc hàng ngày để thực hiện các kế hoạch quý, tháng, tuần của các cơ quan, viên chức nhà nước
- Kiểm tra việc thực hiện công việc được giao cho đơn vị, cá nhân để kịp thời nắm chắc tiến độ thực hiện nhiệm vụ, đồng thời xử lý kết quả để phát huy
ưu điểm, khắc phục kịp thời những thiếu sót trong thi hành công vụ
1.2.1.3 Các phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế
Các phương pháp hoạch định
Theo phương pháp này, nhà nước quản lý các hoạt động kinh tế thông qua việc xác định phương hướng, mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của ngành theo từng giai đoạn phát triển
Kế hoạch hóa chiến lược được xem là việc lựa chọn có căn cứ khoa học các mục tiêu lâu dài và cơ bản của sự nghiệp phát triển kinh tế, gắn liền với sự lựa chọn các phương tiện, biện pháp chủ yếu để đạt được mục tiêu đó Các quốc gia, bất luận có chế độ xã hội như thế nào, đều phải vạch ra các mục tiêu
kế hoạch cho nền kinh tế Trong cơ chế thị trường, đó là sự thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, phối hợp hoạt động của “bàn tay hữu hình” của quản lý nhà nước với “bàn tay vô hình” là các quy luật vận động của thị trường để thúc đẩy nền kinh tế hoạt động có hiệu quả Trong tổng thể kế hoạch chung, mỗi địa phương, mỗi ngành đều phải có kế hoạch, mục tiêu để chủ động cho hoạt động của mình Các kế hoạch chiến lược và các kế hoạch ngắn hạn hơn cần có sự thống nhất, trong đó kế hoạch ngắn hạn phải phù hợp với những định hướng của kế hoạch dài hạn Kế hoạch của địa phương, ngành phải tuân theo định hướng phát triển chung của đất nước
Kế hoạch của nhà nước luôn quán triệt ba yêu cầu cơ bản:
- Tính mềm dẻo: Tức là chỉ xác định những mục tiêu, những cân đối lớn
- Tính hướng dẫn, đảm bảo sự năng động, sáng tạo của các chủ thể thừa hành
- Tính hiện thực và khả thi
Trang 28Ngành du lịch là ngành mang tính tổng hợp cao, chỉ có thể phát triển mạnh khi các ngành liên quan phát triển và sau đó thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác Do đó, việc hoạch định phải có tính đồng bộ
Các phương pháp hành chính
Theo phương pháp này, nhà nước quản lý thông qua sự tác động trực tiếp bằng các quyết định có tính quyền lực nhà nước vào sự tổ chức và hành động của các đối tượng quản lý kinh tế
Các công cụ sử dụng bao gồm mhững quy định, những thủ tục hành chính buộc tất cả các chủ thể từ các cơ quan quản lý nhà nước đến các doanh nghiệp và hộ gia đình đều phải tuân thủ Những công cụ này nhằm giúp nhà nước cụ thể hóa khung pháp luật và các kế hoạch hướng dẫn thị trường, tác động trực tiếp vào các chủ thể (Chẳng hạn như các thủ tục cấp phép kinh doanh)
Các phương pháp giáo dục
Theo phương pháp này, nhà nước quản lý thông qua sự tác động vào nhận thức, tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình lao động của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ
Các phương pháp kinh tế
Theo phương pháp này, nhà nước thông qua các lợi ích kinh tế tác động vào các đối tượng quản lý, làm cho đối tượng đó lựa chọn phương án hoạt động
có hiệu quả cao nhất cho mình và cho toàn xã hội trong phạm vi được phép
Để thực hiện được phương pháp này, nhà nước sử dụng các chính sách kinh tế như: chính sách tài chính, tiền tệ, chính sách thương mại… nhằm can thiệp, tác động gián tiếp vào các chủ thể kinh doanh tạo nên đòn bẩy kinh tế Nếu sử dụng tốt thì đây là công cụ đắc lực nhất tạo nên cơ chế quản lý phù hợp với những quy luật vận động của thị trường, làm cho các đối tượng quản
lý hoặc tự giác, hoặc bắt buộc phải tuân thủ theo mà đảm bảo sự phát triển hài hòa các loại lợi ích trong xã hội
Có thể nói, đây luôn là phương pháp quan trọng và hiệu quả vì nó tác động trực tiếp tới lợi ích của đối tượng quản lý- là động cơ chính của mọi
Trang 29hoạt động kinh doanh
Trong thực tế, các phương pháp luôn được kết hợp với nhau để đạt hiệu quả cao nhất, bổ sung những ưu điểm cũng như khắc phục những nhược điểm của từng phương pháp và áp dụng tùy từng thời điểm, từng hoàn cảnh cho phù hợp
1.2.2 Tổ chức bộ máy, mục tiêu và các nội dung quản lý nhà nước về
du lịch
1.2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch
Bộ máy quản lý nhà nước về du lịch ở Việt Nam được chia thành hai cấp độ: quản lý nhà nước về du lịch cấp trung ương và quản lý về du lịch cấp địa phương Do tính chất tổng hợp của ngành du lịch nên quản lý nhà nước về du lịch ở Việt Nam được tổ chức theo sơ đồ dưới đây
* Quản lý nhà nước về du lịch cấp trung ương
Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp trung ương bao gồm Tổng cục
Ban chỉ đạo nhà nước
về du lịch
Tổng cục
du lịch
UBND tỉnh,TP
Sở Văn hóa Thể thao
Trang 30du lịch, các Bộ, ngành quản lý các lĩnh vực kinh tế - xã hội Tuy nhiên Tổng cục du lịch được xác định là cơ quan chủ chốt được trao thẩm quyền chuyên môn trong hoạt động quản lý nhà nước về du lịch Các cơ quan, Bộ, ban ngành khác có vai trò phối hợp để quản lý và tạo điều kiện cho các hoạt động chức năng của Tổng cục du lịch và các hoạt động kinh doanh du lịch của các
tổ chức kinh doanh du lịch
Tổng cục du lịch thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về du lịch của mình, trước hết tập trung vào các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch Các hoạt động này trước hết là lập quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của quốc gia và ban hành các chính sách chung cho toàn ngành du lịch
* Quản lý nhà nước về du lịch cấp địa phương
Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương xét về cơ cấu tổ chức cũng hoàn toàn tương tự như cấp trung ương, song nó chỉ có chức năng quản
lý ở địa bàn Cơ quan này, một mặt chịu sự quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cấp trung ương về chuyên môn, mặt khác chịu sự quản lý của UBND Tỉnh, Thành phố Tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở cấp địa phương có thể được tổ chức thành các
bộ phận sau:
- Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch
Đây là cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh, có nhiệm vụ tham mưu, giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn
- UBND phường, xã, thị trấn
Trong một số trường hợp, sự quản lý nhà nước về du lịch còn được thực hiện bởi UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi có tài nguyên du lịch được khai thác Nhiệm vụ quản lý nhà nước về du lịch của UBND xã, phường, thị trấn
do UBND tỉnh quyết định
Trang 311.2.2.2 Mục tiêu của quản lý nhà nước về du lịch
Huy động một cách có hiệu quả các nguồn lực xã hội nhằm phát triển ngành du lịch theo đúng định hướng của nhà nước; Đảm bảo các hoạt động du lịch được tiến hành theo đúng những quy định của pháp luật, góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và an ninh trật tự xã hội
1.2.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về kinh doanh lữ hành
Điều 17 của nghị định Số: 27/2001/NĐ-CP quy định nội dung quản lý nhà nước về kinh doanh lữ hành gồm:
1 Tổng cục Du lịch thực hiện việc quản lý nhà nước về kinh doanh lữ hành, hướng dẫn du lịch; đề xuất với Chính phủ các cơ chế chính sách về du lịch, ban hành theo thẩm quyền các văn bản hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về lữ hành, hướng dẫn du lịch, cung cấp thông tin về du lịch; phối hợp với các Bộ, ngành hướng dẫn các địa phương thực hiện quản lý nhà nước về du lịch, kiểm tra, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật
2 Tổng cục Du lịch công bố công khai các điều kiện và thủ tục cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế để doanh nghiệp có căn cứ xây dựng, tổ chức thực hiện các chương trình du lịch và đăng ký kinh doanh
3 Tổng cục Du lịch chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật hiện hành, kể cả rút giấy uỷ quyền cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch
4 Tổng cục Du lịch chủ trì cùng với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hoá - Thông tin quy định điều kiện và cơ sở đào tạo có thẩm quyền cấp chứng chỉ bồi dưỡng về hướng dẫn viên du lịch, chứng chỉ ngoại ngữ du lịch quy định tại khoản
3 và khoản 4 Điều 13 của Nghị định này
5 Bộ Giao thông vận tải chủ trì phối hợp với Tổng cục Du lịch và các ngành, địa phương có liên quan hướng dẫn cụ thể về tiêu chuẩn, điều kiện đối với phương tiện và người điều khiển phương tiện vận chuyển khách du lịch
Trang 326 Cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc quản lý hoạt động kinh doanh lữ hành, hành nghề hướng dẫn, vận chuyển khách du lịch trên địa bàn; hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật trên địa bàn
1.2.2.4 Công tác quản lý nhà nước của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với hoạt động kinh doanh lữ hành
Căn cứ vào đặc điểm của hoạt động kinh doanh lữ hành và chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các nội dung quản
lý của Sở đối với hoạt động lữ hành về cơ bản bao gồm:
- Tổ chức triển khai hướng dẫn, giám sát, kiểm tra việc thực hiện các chính sách, quy định của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh lữ hành
- Xây dựng các kế hoạch, chương trình, đề án, mục tiêu phát triển hoạt động kinh doanh lữ hành phù hợp với chiến lược phát triển của tỉnh, vùng và ngành trình UBND tỉnh và Tổng cục du lịch phê duyệt
- Nghiên cứu, đề xuất và kiến nghị với UBND tỉnh, Tổng cục du lịch sửa đổi, bổ sung, cụ thể hoá các chính sách, chế độ có liên quan tới hoạt động kinh doanh lữ hành
- Chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ; Chỉ đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức quản lý và chuyên môn nghiệp vụ cho cán
bộ, công chức, viên chức và người lao động ở địa phương, tổ chức khoá đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước thuộc quyền quản lý của Sở và phát triển nguồn nhân lực du lịch địa phương trong lĩnh vực lữ hành
- Trình UBND tỉnh và Tổng cục Du lịch duyệt các thủ tục xin cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế cho các đơn vị thuộc các thành phần kinh tế; tổ chức kiểm tra và cấp thẻ hướng dẫn viên theo phân cấp của Tổng cục du lịch
Trang 33- Tổ chức và triển khai các hoạt động quảng bá, tuyên truyền, xúc tiến đầu tư và mở rộng thị trường khách du lịch lữ hành Quản lý, sử dụng quỹ quảng bá xúc tiến du lịch theo đúng quy định của Nhà nước
- Chủ trì, phối hợp với các ban ngành, cơ quan chức năng khác giải quyết những vướng mắc trong kinh doanh lữ hành
Kết luận chung
Chương 1 đã trình bày những đặc điểm của hoạt động kinh doanh lữ hành, các mô hình kinh doanh lữ hành, sản phẩm của hoạt động kinh doanh lữ hành Những nội dung đã trình bày cho thấy hoạt động kinh doanh lữ hành có tính chất tương đối phức tạp và có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh du lịch nói riêng và đối với sự phát triển kinh tế quốc gia nói chung Do đó, để phát triển tốt hoạt động kinh doanh lữ hành là thách thức với
cả cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành Đồng thời, chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch trong hệ thống quản lý nhà nước về du lịch nói chung và kinh doanh lữ hành nói riêng cũng được nêu rõ để làm cơ sở phân tích thực trạng của công tác quản lý của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Quảng Ninh đối với hoạt động kinh doanh lữ hành trên địa bàn tỉnh
Trang 34CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Các vấn đề đặt ra mà đề tài cần giải quyết
Đề tài chủ yếu đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước
thông qua Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với hoạt động kinh doanh lữ hành trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Từ đó tìm ra những tồn tại bất cập trong hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh lữ hành trên địa bàn tỉnh Nhằm đạt được mục tiêu trên bản luận văn sử dụng phương pháp thống kê, so sánh và đối chiếu, phân tích để đánh giá thực trạng và tìm ra những nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại trên và đề ra những giải pháp kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với hoạt động kinh doanh lữ hành trên địa bàn tỉnh
2.2 Các phương nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp từ các bảng biểu, báo cáo sơ kết, tổng kết hàng năm của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Quảng Ninh, tổng hợp các thông tin từ các cơ quan, đơn vị trực thuộc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Quảng Ninh
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh : Báo cáo tổng kết công tác năm 2007
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh : Báo cáo tổng kết công tác năm 2008
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh : Báo cáo tổng kết công tác năm 2009
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh : Báo cáo tổng kết công tác năm 2010
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh : Báo cáo tổng kết công tác năm 2011
Trang 35Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh : Quy hoạch phát triển du lịch Quảng Ninh thời kỳ 2001 - 2010
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh : Báo cáo tóm tắt quy hoạch phát triển du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2011-2020
Số liệu thứ cấp có ưu điểm là có thể chia sẻ chi phí, do đó nó có tính kinh tế hơn, số liệu được cung cấp kịp thời hơn Tuy nhiên, dữ liệu thứ cấp thường là các thông tin cơ bản, số liệu đã được tổng hợp, đã qua xử lý cho nên không đầy đủ Số liệu thứ cấp thường ít được sử dụng để dự báo trong thống kê, số liệu này thường được sử dụng trong trình bầy tổng quan nội dung nghiên cứu, là cơ sở để phát hiện ra vấn đề nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin
2.2.2.1 Bảng thống kê
Sau khi tổng hợp các tài liệu điều tra thống kê, muốn phát huy tác dụng của nó đối với phân tích thống kê, cần thiết phải trình bầy kết quả tổng hợp theo một hình thức thuận lợi nhất cho việc sử dụng này
- Khái niệm:
Bảng thống kê là một hình thức trình bầy các tài liệu thống kê một cách
có hệ thống, hợp lý và rõ ràng, nhằm nêu lên các đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu Đặc điểm chung của tất cả các bảng thống kê là bao giờ cũng có những con số của từng bộ phận và có mối liên hệ mật thiết với nhau
Trang 36+ Về mặt nội dung: Bảng thống kê gồm 2 phần Phần chủ đề và phần giải thích
Phần chủ đề nói nên tổng thể được trình bầy trong bảng thống kê, tổng thể này được phân thành những đơn vị, bộ phận Nó giải đáp: đối tượng nghiên cứu là những đơn vị nào, những loại hình gì Có khi phần chủ đề phản ánh các địa phương hoặc các thời gian nghiên cứu khác nhau của một hiện tượng
Phần giải thích gồm các chỉ tiêu giải thích các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, tức là giải thích phần chủ đề của bảng
Phần chủ đề thường được đặt bên trái của bảng thống kê, còn phần giải thích được đặt ở phía trên của bảng
Cấu thành của bảng thống kê có thể biểu hiện bằng sơ đồ sau:
là một phương pháp trình bày các thông tin thống kê một cách khái quát và
Trang 37sinh động, chứa đựng tính mỹ thuật; thu hút sự chú ý của người đọc, giúp người xem dễ hiểu, dễ nhớ nên có tác dụng tuyên truyền cổ động rất tốt Đồ thị thống kê có thể biểu thị:
- Kết cấu của hiện tượng theo tiêu thức nào đó và sự biến đổi của kết cấu
- Sự phát triển của hiện tượng theo thời gian
- So sánh các mức độ của hiện tượng
- Mối liên hệ giữa các hiện tượng
- Trình độ phổ biến của hiện tượng
- Tình hình thực hiện kế hoạch
Trong công tác thống kê thường dùng các loại đồ thị: Biểu đồ hình cột, biểu đồ diện tích (hình vuông, hình tròn, hình chữ nhật), đồ thị đường gấp khúc
Biểu đồ hình cột được dùng để biểu hiện quá trình phát triển, phản ánh
cơ cấu và thay đổi cơ cấu hoặc so sánh cũng như biểu hiện mối liên hệ giữa các hiện tượng
b Biểu đồ diện tích
Biểu đồ diện tích là loại biểu đồ, trong đó các thông tin thống kê được biểu hiện bằng các loại diện tích hình học như hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn, hình ô van,
Biểu đồ diện tích thường được dùng để biểu hiện kết cấu và biến động cơ cấu của hiện tượng
Tổng diện tích của cả hình là 100%, thì diện tích từng phần tương ứng với mỗi bộ phận phản ánh cơ cấu của bộ phận đó
Trang 38Biểu đồ diện tích hình tròn còn có thể biểu hiện được cả cơ cấu, biến động cơ cấu kết hợp thay đổi mức độ của hiện tượng Trong trường hợp này số đo của góc các hình quạt phản ánh cơ cấu và biến động cơ cấu, còn diện tích toàn hình tròn phản ánh quy mô của hiện tượng
Trong một đồ thị đường gấp khúc, trục hoành thường được biểu thị thời gian, trục tung biểu thị mức độ của chỉ tiêu nghiên cứu Cũng có khi các trục này biểu thị hai chỉ tiêu có liên hệ với nhau hoặc lượng biến và các tần số (hay tần suất) tương ứng Độ phân chia trên các trục cần được xác định cho thích hợp vì có ảnh hưởng trực tiếp đến độ dốc của đồ thị Mặt khác, cần chú
ý là trên mỗi trục toạ độ chiều dài của các khoảng phân chia tương ứng với
sự thay đổi về lượng của chỉ tiêu nghiên cứu phải bằng nhau
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin
2.2.3.1 Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc) Tiêu chuẩn để so sánh thường là: Chỉ tiêu kế hoạch của một kỳ kinh doanh, tình hình thực hiện các kỳ kinh doanh đã qua, chỉ tiêu các doanh nghiệp tiêu biểu cùng ngành Điều kiện để so sánh là: Các chỉ tiêu so sánh phải phù hợp
về yếu tố không gian, thời gian, cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán
Trang 39* Phương pháp so sánh có hai hình thức: So sánh tuyệt đối và so sánh tương đối
- So sánh tuyệt đối:
+ Chỉ tiêu so sánh lượng tăng, giảm tuyệt đối liên hoàn: Là hiệu số giữa mức độ kỳ nghiên cứu (yi) và mức độ kỳ đứng liền trước nó (yi-1) Chỉ tiêu này phản ánh mức tăng, giảm tuyệt đối giữa hai thời gian liền
Công thức : i =y i - y i - 1
Trong бi là lượng tăng giảm tuyệt đối liên hoàn
yi là mức độ của hiện tượng ở thời gian i
yi - 1 là mức độ của hiện tượng ở thời gian i -1
+ Chỉ tiêu so sánh lượng tăng giảm tuyệt đối định gốc: Là hiệu số giữa mức độ kỳ nghiên cứu (yi)và mức độ một kỳ nào đó được chọn làm gốc( thường là mức độ đầu tiên trong dãy số (y1)) Chỉ tiêu này phản ánh mức tăng, giảm tuyệt đối trong những khoảng thời gian dài
Công thức tính: ∆ i =y i - y 1
Trong đó ∆i là lượng tăng giảm tuyệt đối định gốc
yi là mức độ của hiện tượng ở thời gian i
y 1 là mức độ đầu tiên trong dãy số
- So sánh tương đối :
+ Chỉ tiêu so sánh lượng tăng, giảm tương đối liên hoàn: Là thương số giữa mức độ kỳ nghiên cứu (yi) và mức độ kỳ đứng liền trước nó (yi-1) Chỉ tiêu này phản ánh mức tăng, giảm tương đối giữa hai thời gian liền
Trong đó: ti : lượng tăng giảm tương đối liên hoàn
Trang 40yi-1: mức độ của hiện tượng ở thời gian i-1
yi : mức độ của hiện tượng ở thời gian i
+ Chỉ tiêu so sánh lượng tăng giảm tương đối định gốc: Là thương
số giữa mức độ kỳ nghiên cứu (yi)và mức độ một kỳ nào đó được chọn làm gốc( thường là mức độ đầu tiên trong dãy số (y1))
Trong đó Ti: lượng tăng giảm tương đối định gốc
yi: mức độ của hiện tượng ở thời gian i
y1: mức độ đầu tiên của dãy số
Ưu nhược điểm của phương pháp so sánh
sự hiện diện của số liệu thống kê
- Kết quả của phương pháp phản ảnh thực tế, phản ảnh và đánh giá khách quan, dễ được mọi người chấp nhận, ngay cả các cơ quan pháp luật
*, Nhược điểm:
- Cần thiết phải có nhiều thông tin rõ ràng chính xác Nếu các thông tin giao dịch không chính xác, thì không sử dụng được phương pháp này
- Các thông tin cần sử lý thường khó đồng nhất đặc biệt là tính thời điểm do
đó, trong điều kiện thị trường biến động các thông tin nhanh chóng trở nên lạc hậu trong một thời gian ngắn