Trong ngôn ngữ học Xô Viết Liên Xô cũ, lí thuyết kết trị đã được nghiên cứu trong các công trình của S.D.Kasneson, S.M.Kibardina, M.D.Stepanova…Trên cứ liệu của các ngôn ngữ đơn lập như
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN MINH TUẤT
SỰ HIỆN THỰC HÓA KẾT TRỊ BẮT BUỘC CỦA ĐỘNG TỪ TIẾNG VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Thái nguyên, năm 2012
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN MINH TUẤT
SỰ HIỆN THỰC HÓA KẾT TRỊ BẮT BUỘC CỦA ĐỘNG TỪ TIẾNG VIỆT
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60 22.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Lộc
Trang 3LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn Thạc sỹ
Ngôn ngữ học với đề tài: “Sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt”
Để thực hiện được luận văn này, ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi đã được sự dạy bảo, động viên, giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp và gia đình
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Văn Lộc- người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
để hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo Khoa Ngữ văn, Khoa Sau Đại học - Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên cùng các thầy giáo ở Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và người thân, xin cảm ơn anh em, bạn bè đồng nghiệp đã động viên khích lệ tôi để hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012
Tác giả luận văn
Trần Minh Tuất
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết
quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được đồng các tác giả cho phép
sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả
Trần Minh Tuất
Trang 6MỤC LỤC
Trang Trang bìa phụ i
Lời cảm ơn ii
Lời cam đoan iii
Danh mục viết tắt iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Lịch sử vấn đề 3
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Những đóng góp mới của đề tài 5
7 Bố cục luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Động từ 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Cách xác định 8
1.1.3 Phân loại 10
1.2 Lý thuyết kết trị và kết trị của động từ tiếng Việt 12
1.2.1 Thuật ngữ kết trị 12
1.2.2 Khái niệm nút, nút động từ, diễn tố (actant), chu tố (circonstant 12
1.2.3 Khái niệm kết trị và các kiểu kết trị 15
1.2.3.1 Khái niệm kết trị 15
1.2.3.2 Các kiểu kết trị 16
Trang 71.3 Khái niệm hiện thực hóa kết trị và các nhân tố chi phối sự hiện thực hoá
kết trị động từ 20
1.3.1 Khái niệm hiện thực hóa kết trị của động từ 20
1.3.2 Các nhân tố chi phối sự hiện thực hóa kết trị của động từ 21
1.4 Các kiểu hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ 26
1.4.1 Nhận xét chung 26
1.4.2 Hiện thực hóa đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ 27
1.4.3 Hiện thực hóa không đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ 27
1.5 Tiểu kết 28
Chương 2: HIỆN THỰC HÓA ĐẦY ĐỦ KẾT TRỊ BẮT BUỘC CỦA ĐỘNG TỪ 30
2.1 Nhận xét chung 30
2.2 Các kiểu hiện thực hoá đầy đủ kết trị bắt buộc 31
2.2.1 Hiện thực hoá đầy đủ với mô hình cơ bản 31
2.2.2 Hiện thực hoá đầy đủ với mô hình không cơ bản 46
2.3 Tiểu kết 68
Chương 3: HIỆN THỰC HÓA KHÔNG ĐẦY ĐỦ KẾT TRỊ BẮT BUỘC CỦA ĐỘNG TỪ 70
3.1 Nhận xét chung 70
3.2 Tỉnh lược diễn tố chủ thể 73
3.2.1 Kiểu tỉnh lược bị qui định bởi văn cảnh 74
3.2.2 Kiểu tỉnh lược bị qui định bởi hoàn cảnh, tình huống nói năng 83
3.2.3 Kiểu tỉnh lược diễn tố chủ thể do nghĩa của động từ vị ngữ qui định 86
3.3 Tỉnh lược diễn tố đối thể 88
3.3.1 Kiểu tỉnh lược bị qui định bởi văn cảnh 88
3.3.2 Kiểu tỉnh lược bị qui định bởi hoàn cảnh, tình huống nói năng 91
Trang 8
3.4 Tỉnh lƣợc cả diễn tố chủ thể lẫn diễn tố đối thể 92
3.4.1 Tỉnh lược bị qui định bởi văn cảnh 92
3.4.2 Tỉnh lược cả diễn tố chủ thể lẫn diễn tố đối thể bị qui định bởi hoàn cảnh, tình huống nói năng 92
3.5 Giá trị, tác dụng của việc tỉnh lƣợc diễn tố và vấn đề xác định, khôi phục lại lƣợc tố 93
3.5.1 Giá trị, tác dụng của việc tỉnh lược diễn tố 93
3.5.2 Vấn đề xác định và khôi phục lại lược tố 96
3.6 Vấn đề phân biệt câu trong đó có hiện tƣợng tỉnh lƣợc diễn tố với câu không trọn vẹn 100
3.7 Tiểu kết 102
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
NGUỒN TRÍCH DẪN 108
Trang 91.2 Việc nghiên cứu động từ được tiến hành ở nhiều góc độ với những công
trình khác nhau như: Động từ trong tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản, Cụm động
từ tiếng Việt của Nguyễn Phú Phong, Vị từ hành động và các tham tố của nó của
Nguyễn Thị Quy, Kết trị của động từ tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc…Từ những
công trình đó, ta thấy diện mạo của động từ ngày càng trở nên rõ ràng hơn Tuy nhiên, việc nghiên cứu động từ từ góc độ kết trị còn ít được chú ý đến và cho đến nay vẫn là một vấn đề tương đối mới mẻ
1.3 Lí thuyết kết trị là một trong những lí thuyết quan trọng, một thành tựu lớn của ngôn ngữ học thế kỉ XX Sau khi ra đời, lí thuyết này đã được phát triển, ứng dụng rộng rãi vào việc nghiên cứu ngữ pháp, ngữ nghĩa của các ngôn ngữ, trong đó
có các ngôn ngữ đơn lập và ngày càng trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu Ở Việt Nam, lí thuyết kết trị đã được nghiên cứu trong công trình
chuyên khảo Kết trị của động từ tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc Kết quả nghiên
cứu của công trình này đã mở ra một hướng nghiên cứu mới mẻ và rất thiết thực với ngữ pháp tiếng Việt Tuy nhiên, trong công trình này, vấn đề hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt mới chỉ được tác giả đề cập một cách khái quát 1.4 Việc nghiên cứu sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt, theo chúng tôi, là một hướng nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng cả về lí luận lẫn thực tiễn
Về lí luận, việc nghiên cứu sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ góp phần làm sáng tỏ, làm phong phú thêm lý thuyết kết trị về động từ, trong đó có vấn
Trang 10đề mối quan hệ giữa tiềm năng cú pháp và sự hiện thực hóa tiềm năng này ở động
từ, qua đó, góp phần soi sáng thêm vấn đề mối quan hệ giữa mô hình câu như là đơn vị trừu tượng, khái quát của cú pháp với sự làm đầy các vị trí của mô hình trong lời nói vốn chịu sự chi phối của nhiều nhân tố khác nhau
Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng để biên soạn giáo trình, các tài liệu phục vụ cho việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt nói chung, động từ tiếng Việt nói riêng trong nhà trường
Việc nghiên cứu sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt có ý nghĩa lí luận và thực tiễn quan trọng như vậy nhưng đến nay, vấn đề này vẫn chưa
được nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống và chuyên sâu
Vì những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Sự hiện thực hóa kết trị
bắt buộc của động từ tiếng Việt
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài này hướng tới mục đích:
- Vận dụng những thành tựu của lý thuyết kết trị vào việc nghiên cứu làm rõ
một số khía cạnh lý thuyết về hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ trong tiếng Việt hiện đại
- Phân tích, miêu tả làm rõ các kiểu hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt
- Góp phần thúc đẩy, nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc nghiên cứu và dạy học ngữ pháp tiếng Việt theo quan điểm hiện đại
Để đạt được mục đích trên đây, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài (những vấn đề lý luận chung về động
từ, lý thuyết kết trị, hiện thực hóa kết trị và các nhân tố chi phối sự hiện thực hóa, các kiểu hiện thực hóa kết trị của động từ tiếng Việt)
- Phân tích các kiểu hiện thực hóa đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt
Trang 11- Phân tích các kiểu hiện thực hóa không đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt
3 Lịch sử vấn đề
Có thể nói động từ là từ loại có số lượng lớn và có đặc tính hết sức phức tạp Chính vì vậy, khi nghiên cứu từ loại tiếng Việt, các nhà nghiên cứu đã dành nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu về động từ và việc nghiên cứu động từ theo quan điểm kết trị là hướng đi mới và có nhiều triển vọng
Trên thế giới, L.Tesniène, nhà ngôn ngữ học Pháp, được coi là người sáng lập ra
lý thuyết kết trị với công trình“Các yếu tố của cú pháp cấu trúc”
Trong ngôn ngữ học Xô Viết (Liên Xô cũ), lí thuyết kết trị đã được nghiên cứu trong các công trình của S.D.Kasneson, S.M.Kibardina, M.D.Stepanova…Trên cứ liệu của các ngôn ngữ đơn lập như tiếng Hán, tiếng Việt, thuộc tính kết trị của động từ và sự hiện thực hóa kết trị của động từ trong câu đã được xem xét trong
các công trình của N.I.Tjapkina
Ở Việt Nam, từ cuối thế kỷ XIX đến đầu những năm sáu mươi của thế kỷ XX,
việc nghiên cứu về động từ tiếng Việt chưa đạt được những kết quả lớn Trong suốt thời kỳ này, chưa có công trình chuyên khảo về động từ Chỉ từ giữa những năm sáu mươi cho đến nay, việc nghiên cứu về động từ mới thực sự đi vào chiều sâu Trong giai đoạn này, bên cạnh những công trình chung về ngữ pháp trong đó
thường đề cập đến động từ, đã xuất hiện một số chuyên luận đáng chú ý như:
- Cụm động từ tiếng Việt của Nguyễn Phú Phong (1973)
- Các động từ chỉ hướng trong tiếng Việt của Nguyễn Lai (1976)
- Động từ trong tiếng Việt của Nguyễn Kim Thản (1977)
- Ngữ nghĩa và cấu trúc của động từ của Vũ Thế Thạch (1984)
Trong các công trình kể trên đây, một số nghiên cứu tương đối toàn diện các đặc điểm ngữ pháp của động từ Thuộc số này là các công trình của Nguyễn Phú Phong và Nguyễn Kim Thản Một số công trình đi sâu vào nghiên cứu từng mặt
Trang 12hoặc từng nhóm động từ Chẳng hạn, Nguyễn Lai đi vào nhóm động từ chỉ hướng, còn Vũ Thế Thạch đi vào mặt ngữ nghĩa
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về mặt kết trị của động từ thì chưa có nhiều công trình Ở Việt Nam, Nguyễn Văn Lộc là người đầu tiên nghiên cứu động từ theo lý
thuyết kết trị với công trình chuyên khảo Kết trị của động từ tiếng Việt (1995)
Trong công trình này, tác giả đã phân loại, mô tả khá tỉ mỉ kết trị bắt buộc của động từ với hai kiểu diễn tố cơ bản là diễn tố chủ thể (chủ ngữ theo ngữ pháp học truyền thống) và diễn tố đối thể (bổ ngữ theo ngữ pháp học truyền thống)
Ngoài các công trình kể trên, gần đây, một số tác giả đã vận dụng lý thuyết kết trị vào việc nghiên cứu động từ, kết trị của động từ tiếng Việt Chẳng hạn, trong
luận văn thạc sỹ của Gia thị Đậm “Động từ chủ động trong tiếng Việt” (2010), khi
nghiên cứu đặc điểm chung của động từ chủ động trong tiếng Việt, tác giả đã phân tích khả năng kết hợp của động từ chủ động với bổ ngữ mục đích và bổ ngữ chỉ
công cụ, phương tiện Còn trong luận văn thạc sỹ “Phân tích và phân loại câu theo
lý thuyết kết trị” (2010) của Nguyễn Mạnh Tiến, tác giả đã vận dụng lý thuyết kết
trị vào việc phân tích, phân loại câu tiếng Việt Qua việc phân tích, phân loại câu theo lý thuyết kết trị, tác giả xác định, làm rõ ranh giới giữa câu đơn và câu ghép, đồng thời cho phép xác lập và miêu tả bằng thủ pháp mô hình hóa các mô hình câu
phổ biến trong tiếng Việt Trong luận văn thạc sỹ “Kết trị tự do của động từ tiếng
Việt” (2011), tác giả Nguyễn Thùy Dương lại đi sâu phân tích, miêu tả các kiểu kết
tố tự do của động từ, qua đó làm rõ đặc điểm, bản chất của mối quan hệ giữa động
từ và thành phần phụ tự do (chu tố)
Bên cạnh những công trình chuyên sâu về động từ, các công trình nghiên cứu chung về ngữ pháp tiếng Việt cũng đều đề cập động từ ở các mức độ khác nhau
Chẳng hạn, trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt Tiếng Từ ghép Đoản ngữ H, 1975,
khi miêu tả đoản ngữ có động từ làm trung tâm (động ngữ), Nguyễn Tài Cẩn đã xác định hai kiểu thành tố phụ sau của động từ là bổ tố (thành tố phụ riêng hay
Trang 13Nhưng tác giả chưa có điều kiện đi sâu phân tích miêu tả tỉ mỉ các điều kiện chi phối sự xuất hiện của các thành tố phụ này
Trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt của Diệp Quang Ban, Hoàng Trọng Phiến và một số tác giả khác, đặc điểm ngữ pháp của động từ cũng
đã được đề cập ở các mức độ khác nhau
Tóm lại, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về động từ theo các bình diện lý thuyết khác nhau Trong đó đáng chú ý là hướng nghiên cứu động từ theo
lý thuyết kết trị Tuy nhiên, việc nghiên cứu về sự hiện thực hóa kết trị của động từ
tiếng Việt còn ít được chú ý Trong chuyên khảo Kết trị của động từ tiếng Việt
(1995), sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ có được Nguyễn Văn Lộc đề cập đến nhưng chỉ ở mức độ khái quát
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các kiểu hiện thực hóa đầy đủ và không đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt trong tiếng Việt hiện đại
5 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu xác định trên đây, luận văn này chủ yếu
sử dụng phương pháp miêu tả
Phương pháp miêu tả được sử dụng để phân tích, miêu tả sự hiện thực hóa kết
trị bắt buộc của động từ tiếng Việt qua các tác phẩm văn học, báo chí và một số văn bản của các tác giả có uy tín Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng những
phương pháp khác: so sánh, đối chiếu,… Những phương pháp này dùng kết hợp để
triển khai thực hiện đề tài
Cùng với các phương pháp trên đây, luận văn kết hợp sử dụng các thủ pháp như:
lược bỏ, bổ sung, thay thế, cải biến…(Bởi tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn
lập) Các thủ pháp nói trên giúp cho việc miêu tả và phân tích ngữ pháp của một
Trang 14ngôn ngữ đơn lập như tiếng Việt hạn chế được sự chủ quan, cảm tính nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra
6 Những đóng góp mới của đề tài
Việc nghiên cứu sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt có những đóng góp sau:
- Về lí luận:
+ Góp phần làm rõ những vấn đề lí thuyết liên quan đến sự hiện thực hóa kết trị của động từ như: khái niệm hiện thực hóa kết trị, các nhân tố chi phối sự hiện thực hóa kết trị, khái niệm các kiểu hiện thực hóa kết trị
+ Làm rõ các kiểu hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt, vấn
đề khôi phục diễn tố bị tỉnh lược, mối quan hệ giữa câu không trọn vẹn với câu trong đó có hiện tượng tỉnh lược diễn tố
- Về thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt cung cấp một tài liệu cần thiết cho việc biên soạn giáo trình và các tài liệu phục vụ cho việc dạy học ngữ pháp tiếng Việt trong nhà trường
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm ba
chương
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Sự hiện thực hóa đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt
Chương 3: Sự hiện thực hóa không đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ tiếng Việt
Trang 15CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Động từ
1.1.1 Khái niệm
Cũng như trong các ngôn ngữ khác, trong tiếng Việt, động từ là một trong hai
từ loại cơ bản Với một số lượng lớn trong từ vựng, động từ có vai trò ngữ pháp hết sức quan trọng trong việc tổ chức, cấu tạo câu của tiếng Việt Phạm vi hoạt động ngữ pháp của động từ khá rộng, đa dạng và cũng rất phức tạp Chính vì vậy, khi nghiên cứu về từ loại tiếng Việt, các nhà nghiên cứu đều dành nhiều công sức của mình cho việc nghiên cứu động từ Vai trò của động từ đã được Nguyễn Kim Thản khẳng định: “Trong câu, động từ gần như là trung tâm của các mối quan hệ của các từ, nó không những có quan hệ tường thuật với từ chỉ chủ thể, mà còn có quan hệ chính – phụ với những từ chỉ đối tượng, chỉ hoàn cảnh, trạng thái… đặt sau nó”.[41; 97]
Theo Từ điển tiếng Việt, động từ là “từ chuyên biểu thị hành động, trạng thái
hay quá trình, thường làm vị ngữ trong câu” [51; 346]
Trong cuốn Từ loại tiếng Việt hiện đại, Lê Biên có nêu khái quát: “Động từ là những từ chỉ quá trình, các dạng vận động của sự vật, thực thể có sự vật tính” [7;
70]
Tác giả Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam văn phạm có nêu ra định nghĩa
về động từ như sau: “Động từ là tiếng biểu diễn cái dụng của chủ từ ”.[41; 14]
Trong cuốn Ngữ pháp Việt Nam, Nguyễn Lân cho rằng: “Động từ là thứ tự
dùng để biểu diễn một tác động, một hành vi, một ý nghĩ hoặc một cảm xúc, một trạng thái hoặc sự phát triển, sự biến hóa của một trạng thái” (Dẫn theo [16;19]) Theo Diệp Quang Ban: “Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình – Ý nghĩa thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể Đó là ý nghĩa hành động, ý nghĩa trạng thái được khái quát hóa trong mối liên hệ với vận động của thực thể trong không gian và thời gian” [3; 90]
Trang 16Như vậy, căn cứ vào các định nghĩa về động từ của các tác giả nêu trên, ta có
thể đưa ra cách hiểu khái quát về động từ như sau: Động từ là một loại thực từ
dùng để chỉ hoạt động (hành động và trạng thái) của sự vật, hiện tượng
1.1.2 Cách xác định
1.1.2.1 Dựa vào ý nghĩa
Động từ là từ loại dùng để chỉ hoạt động (hành động, trạng thái) của sự vật, hiện tượng Nghĩa hoạt động đặc trưng cho động từ là nghĩa ngữ pháp Hoạt động
mà động từ biểu thị hiểu theo nghĩa ngữ pháp có thể không trùng với hoạt động cụ
thể Chẳng hạn, các động từ như trở thành, trở nên, được, bị …không chỉ hoạt
động cụ thể nào trong thực tế mà chỉ các hoạt động trừu tượng, hoạt động hiểu theo nghĩa ngữ pháp Vì vậy, nghĩa ngữ pháp hoạt động được coi là nghĩa đặc trưng cho tất cả các động từ, kể cả các động từ- thực từ lẫn động từ ngữ pháp
1.1.2.2 Dựa vào khả năng kết hợp
* Động từ có khả năng kết hợp với các phụ từ (phó từ) để biểu thị các ý nghĩa quan hệ có tính tình thái giữa quá trình với cách thức và quá trình với các đặc trưng vận động của quá trình trong không gian, thời gian và trong hiện thực Cụ thể là:
- Động từ có khả năng kết hợp về phía trước với các phụ từ thời thể như: đã,
sẽ, đang, hãy, chớ, đừng…
Thí dụ: Anh hãy làm thinh chớ nói nhiều
Để nghe dưới đáy nước hồ reo
Trang 17Đi xuống, trèo lên, leo ra…
+ Các thành tố phụ chỉ kết quả: xong, rồi……
Thí dụ:
Làm xong, ăn rồi
* Động từ kết hợp với các thực từ để phản ánh các quan hệ trong nội dung vận động của quá trình
1.1.2.3 Dựa vào chức năng cú pháp
Động từ có khă năng giữ nhiều chức năng ngữ pháp khác nhau, nhưng chức
năng quan trọng nhất của động từ là chức năng làm vị ngữ Theo Nguyễn Kim Thản, 88% vị ngữ trong câu do động từ đảm nhiệm Ngoài ra, động từ còn tham gia đảm nhiệm nhiều chức năng khác trong câu như: bổ ngữ, chủ ngữ, định ngữ, trạng ngữ Cụ thể là:
Lao động là vinh quang
Học tập là quyền và nghĩa vụ của công dân
Khóc là nhục Rên, hèn Van, yếu đuối (Tố Hữu)
- Động từ có khả năng làm định ngữ
Thí dụ:
Ngày lên đường đã đến
Hàng mới về chưa có giá bán
- Động từ có khả năng làm trạng ngữ
Thí dụ:
Nghe vợ nói, anh chồng chỉ im lặng
Trang 18Nhìn bạn bè xách đồ ra xe về tết, tôi thấy lòng xốn xang
Tóm lại, động từ là loại thực từ cơ bản trong kho từ vựng của bất kỳ một ngôn ngữ nào Ý nghĩa khái quát của động từ là chỉ hoạt động của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan cũng như trong đời sống tinh thần của con người Động
từ có khả năng kết hợp về phía trước với các phụ từ thời thể, về phía sau với các phụ từ chỉ hướng, chỉ sự hoàn thành, kết thúc để tạo thành nhóm Chức năng ngữ
pháp cơ bản của động từ là làm vị ngữ trong câu
1.1.3 Về phân loại động từ
Động từ là một từ loại lớn, bao gồm hàng vạn từ và rất không thuần nhất Nghiên cứu về động từ, có thể phát hiện những tiểu loại, những nhóm đối lập với nhau theo những đặc trưng nhất định Vấn đề phân loại động từ đã có nhiều chuyên khảo đề cập đến Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ xin trình bày một cách khái quát những ý kiến chính về vấn đề phân loại động từ
Thứ nhất: Cách phân loại dựa vào ý nghĩa và hình thức ngữ pháp (khả năng kết
hợp và chức năng cú pháp) của động từ Với cách phân loại này, động từ được chia thành hai nhóm lớn: động từ - thực từ và động từ ngữ pháp (động từ bán thực từ) * Động từ - thực từ là những động từ có ý nghĩa cụ thể, chân thực, có khả
năng thay thế bằng từ nghi vấn (làm gì?, làm sao?) và có khả năng độc lập làm vị ngữ (thí dụ: đi, chạy, nhảy, ăn, đọc, viết…) Cũng có tác giả gọi những động từ
thuộc nhóm này là những động từ điển hình
* Động từ ngữ pháp là những động từ không có ý nghĩa cụ thể, chân thực, Đó
là những động từ như: trở nên, trở thành, bị, được….Đây là nhóm động từ đã bị hư
hóa, rất trống nghĩa từ vựng, chúng chỉ các hoạt động trừu tượng, khái quát Do đó, các động từ này hầu như không có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn (khả năng
độc lập trả lời câu hỏi) Động từ ngữ pháp được chia thành động từ tình thái (có
thể, nên, cần, toan, định ) và động từ quan hệ (là, khiến, bị, được, trở nên…) * Các động từ - thực từ được chia tiếp thành động từ chủ động (chỉ hoạt động
Trang 19mình Thí dụ: đi, ăn, chạy, đứng, ngồi…) và động từ không chủ động (chỉ hoạt
động không xuất phát từ chủ thể và chủ thể không điều khiển được họat động theo
ý muốn của mình Như: tan, cháy, đổ, vỡ…) Tiếp tục phân chia các động từ chủ
động, ta có được hai nhóm động từ: động từ tác động (biểu thị những hoạt động mà kết quả những hoạt động đó làm cho đối tượng bị thay đổi về phương diện nào đó
(nảy sinh hoặc tiêu biến): ăn, đập, phá…và động từ không tác động, như: chạy,
bơi, đi, nhảy…Trong động từ tác động, có hai diện đối lập: động từ tạo tác (chỉ
những hoạt động tạo ra đối tượng, như: đào, nặn, đắp, xây, vẽ…) và động từ chuyển tác (chỉ những hoạt động làm chuyển biến đối tượng về mặt nào đó: đánh,
đốt, phá, chặt…) Còn động từ không tác động cũng được chia tiếp thành: động từ
chỉ hoạt động chuyển động (đi, chạy, nhảy…) và động từ chỉ hoạt động không chuyển động (ngủ, nghĩ….) Như vậy, căn cứ vào ý nghĩa và hình thức ngữ pháp,
ta có thể chia động từ thành nhiều tiểu loại với những dấu hiệu hình thức đặc trưng cho từng tiểu loại
Thứ hai: Phân loại động từ dựa vào đặc điểm chi phối
Sự chi phối của động từ, theo cách hiểu chung, (áp dụng cho cả ngôn ngữ biến hình và ngôn ngữ không biến hình) là khả năng của động từ đòi hỏi sự có mặt và qui định đặc tính (ý nghĩa và hình thức) của các bổ ngữ
Theo cách phân loại này, động từ được chia thành hai loại chính: động từ nội hướng (nội động) và động từ ngoại hướng (ngoại động) Động từ nội hướng là
động từ không chi phối bổ ngữ Thí dụ: nằm, đứng, ngủ, thức… còn động từ ngoại hướng là động từ có khả năng chi phối bổ ngữ Thí dụ: ăn, đánh, vẽ, viết, đọc, đào,
nặn…Tuy nhiên, cũng như sự đối lập giữa các nhóm động từ phân loại theo ý
nghĩa và hình thức ngữ pháp, sự đối lập giữa động từ nội hướng và động từ ngoại hướng trong cách phân loại này không hẳn rõ ràng và dứt khoát Bằng chứng là
giữa hai nhóm động từ này vẫn tồn tại nhóm động từ trung tính Thí dụ: có, còn,
tan, cháy, lắc, gật…
Thứ ba: Phân loại động từ theo kết trị
Trang 20Ra đời muộn hơn nhưng có tính khái quát cao hơn là cách phân loại động từ
theo kết trị Cách phân loại này cho phép bao quát đầy đủ hơn thuộc tính kết hợp
cú pháp của động từ Đây là cách phân loại dựa vào số lượng và đặc tính của các diễn tố có bên động từ Theo cách phân loại này, động từ được chia thành: động từ
vô trị (động từ không đòi hỏi diễn tố: mưa, nắng, sáng, tối…), động từ đơn trị (động từ đòi hỏi một diễn tố: thức, ngủ, đi, đứng, ngồi, nằm ), động từ song trị (đòi hỏi hai diễn tố: ăn, đọc, đánh…), động từ tam trị (đòi hỏi ba diễn tố: trao,
tặng, biếu, cho…)
Cách phân loại động từ theo kết trị rất gần với cách phân loại động từ theo đặc điểm chi phối nhưng có tính khái quát cao hơn Trong cách phân loại theo đặc điểm chi phối, thuộc tính cú pháp được chú ý chỉ là khả năng kết hợp về phía sau của động từ (khả năng kết hợp với bổ ngữ) Còn trong cách phân loại theo kết trị, thuộc tính cú pháp được chú ý gồm cả khả năng kết hợp về phía trước của động từ (khả năng kết hợp với chủ ngữ)
Theo chúng tôi, ba cách phân loại trên đây đều có cơ sở khoa học và đều có giá trị thực tiễn Việc chọn cách phân loại nào là tùy thuộc vào quan điểm, mục đích của người nghiên cứu, giảng dạy, học tập ngữ pháp Phù hợp với mục đích nghiên cứu của mình, trong luận văn này, chúng tôi tạm dựa vào cách phân loại thứ ba, nhưng vẫn ủng hộ và sử dụng kết quả của cách phân loại thứ nhất và thứ hai
1.2 Lý thuyết kết trị và kết trị của động từ tiếng Việt
1.2.1 Thuật ngữ kết trị
Thuật ngữ kết trị (hóa trị, ngữ trị, tiếng Pháp: valence, tiếng Nga: valentnost)
vốn được dùng trong hóa học để chỉ thuộc tính kết hợp của các nguyên tử với một
số lượng xác định các nguyên tử khác Thuật ngữ này mới chỉ được dùng rộng rãi trong ngôn ngữ học từ cuối những năm bốn mươi của thế kỉ XX để chỉ khả năng
kết hợp của các lớp từ hoặc các lớp hạng đơn vị ngôn ngữ nói chung
1.2.2 Khái niệm nút, nút động từ, diễn tố (actant), chu tố (circonstant)
Trang 21Theo quan niệm của L.Tesniène, mỗi yếu tố chính mà ở nó có một hay một vài
yếu tố phụ lập thành cái ông gọi là nút (tiếng Pháp: noeut, tiếng Nga: uzel) Nút được L.Tesniène xác định là : “tập hợp bao gồm từ chính và tất cả các từ trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào nó [54- 25] Nút được tạo thành bởi từ thu hút vào mình, trực tiếp hay gián tiếp, tất cả các từ của câu gọi là nút trung tâm Trong ý nghĩa nhất định, nó đồng nhất với cả câu [54, 26] Nút trung tâm thường được cấu tạo bởi động từ Về nguyên tắc, chỉ các thực từ mới có khả năng tạo nút Phù hợp
với các loại thực từ, L.Tesniène phân biệt bốn kiểu nút: nút động từ, nút danh từ,
nút tính từ và nút trạng từ
Nút động từ là nút mà trung tâm của nó là động từ, thí dụ: Alfred frappe
Bernard (Alfred đánh Bernard)
Nút danh từ là nút mà trung tâm của nó là danh từ, thí dụ: six forts chevaux
(sáu con ngựa khỏe)
Nút tính từ là nút có tính từ là trung tâm, thí dụ: extremement jeune (cực kì
là động từ, actanst (diễn tố, bổ ngữ) và circonstants (chu tố, trạng ngữ) Động từ
biểu thị quá trình (frappe - đánh trong Alferd frappe Bernard) Các diễn tố chỉ
người hay vật tham gia vào quá trình với tư cách bất kì (chủ động hay bị động),
chẳng hạn, trong câu trên, các diễn tố là Alfed và Bernard [54; 117] Các diễn tố
(actanst) có những đặc điểm chung là; a) Đều phụ thuộc vào động từ, là kẻ thể hiện kết trị của động từ, kể cả diễn tố chủ thể (chủ ngữ) b) Đều có tính bắt buộc, nghĩa
là sự xuất hiện của chúng do nghĩa của động từ đòi hỏi và việc lược bỏ chúng sẽ
Trang 22làm cho nghĩa của động từ trở nên không xác định c) Về hình thức, chúng được biểu hiện bằng danh từ hoặc các yếu tố tương đương (Các yếu tố này theo L.Tesniere, gồm đại từ, động từ nguyên dạng và mệnh đề phụ bổ ngữ mà ông gọi
là mệnh đề phụ diễn tố)
L.Tesniène phân loại các diễn tố (actants) dựa vào chức năng khác nhau mà chúng thực hiện theo mối quan hệ với động từ Dựa vào số lượng chức năng (và cũng là số lượng tối đa diễn tố có thể có bên động từ), L.Tesniène xác định ba kiểu
diễn tố mà ông gọi tên theo thứ tự : diễn tố thứ nhất, thứ hai và thứ ba Về nguyên
tắc, số thứ tự của diễn tố không bao giờ vượt quá số lượng diễn tố phụ thuộc vào động từ Chẳng hạn, động từ không diễn tố không thể chi phối diễn tố, động từ một diễn tố không thể chi phối diễn tố thứ hai và thứ ba, động từ hai diễn tố không thể chi phối diễn tố thứ ba Như vậy, diễn tố thứ nhất có thể gặp trong câu có một, hai
và ba diễn tố Diễn tố thứ hai có thể gặp trong câu có hai và ba diễn tố còn diễn tố thứ ba chỉ có thể gặp trong câu có ba diễn tố [54 ;23]
Diễn tố thứ nhất từ góc độ ngữ nghĩa, chính là diễn tố chỉ kẻ hành động và chính vì vậy, trong ngữ pháp học truyền thống, nó được gọi là chủ thể (sujet)
L.Tesniène đề nghị giữ lại thuật ngữ này Trong câu Alfred parle (Alfred nói),
Anphret từ góc độ cú pháp là diễn tố thứ nhất, từ góc độ ngữ nghĩa, chỉ chủ thể của
hành động nói
Diễn tố thứ hai về cơ bản, phù hợp với bổ ngữ đối thể trong ngữ pháp học truyền thống L.Tesniène đề nghị gọi đơn giản là đối thể Chẳng hạn, trong câu
Alfred frappe Bernard (Anphret đánh Bécna), Bécna về mặt cấu trúc là diễn tố thứ
hai, về mặt nghĩa chỉ đối thể của hành động Khi so sánh diễn tố chủ thể (chủ ngữ) với diễn tố chỉ đối thể (bổ ngữ), L.Tesniène lưu ý rằng chúng chỉ đối lập nhau về ngữ nghĩa, còn về mặt cấu trúc (cú pháp), giữa chúng không có sự đối lập [54 ;124] Tác giả nhấn mạnh rằng: “ Trên thực tế, từ góc độ cấu trúc, không phụ thuộc vào chỗ trước chúng ta là diễn tố (actant) thứ nhất hay thứ hai, yếu tố bị phụ
Trang 23thuộc luôn luôn là bổ ngữ ” [54 ;124] Xuất phát từ cách nhìn nhận đó, L.Tesniène đề nghị khi sử dụng các thuật ngữ truyền thống mà không có sự điều
chỉnh, cần khẳng định rằng diễn tố thứ nhất (chủ ngữ truyền thống) chính là bổ
ngữ cũng như những bổ ngữ khác [54 ;124]
Diễn tố thứ ba, từ góc độ ngữ nghĩa đó là diễn tố mà hành động được thực hiện
có lợi hay gây thiệt hại cho nó Diễn tố này về cơ bản, tương ứng với bổ ngữ gián
tiếp trong ngữ pháp học truyền thống Chẳng hạn, trong câu Alfred donne le livre à
Charles (Anphret đưa cuốn sách cho Sáclơ), diễn tố thứ ba là Sác lơ Như vậy, ở
câu có ba diễn tố, cả ba loại diễn tố: thứ nhất, thứ hai, thứ ba đều xuất hiện Lược
đồ của câu ba diễn tố trên như sau:
Donne (đưa)
Alfred le livre (cuốn sách) à Charles
(actant 1) (actant 2) (actant 3)
Cùng nằm trong thành phần cấu trúc của động từ, bên cạnh các diễn tố còn có các chu tố (circonstant) Về nghĩa, các chu tố biểu thị hoàn cảnh (thời gian, vị trí,
phương thức ) trong đó quá trình được mở rộng Chẳng hạn trong câu: Alfred
fourve toujours son nez partout (Anphrét ở đâu cũng luôn ngoáy cái mũi của mình), có hai chu tố là toujours (luôn luôn) và partout (ở mọi nơi) Về cấu tạo, các
chu tố luôn là trạng từ (thời gian, vị trí, phương thức ) hoặc yếu tố tương đương (trong đó có các mệnh đề phụ); ngược lại, trong câu, các trạng từ luôn đảm nhiệm chức năng chu tố [54 ;111]
Chẳng hạn, trong câu Alfred parl bien (Anphoret nói hay), từ bien (hay) là chu
tố Lược đồ của câu này như sau:
Parl
Trang 24
Alfred bien
Về chức năng, cũng như diễn tố, chu tố phụ thuộc trực tiếp vào động từ Quan
niệm này của L.Tesniène khác với quan niệm truyền thống coi trạng ngữ là thành phần phụ cho cả nòng cốt câu (chủ ngữ, vị ngữ)
1.2.3 Khái niệm kết trị và các kiểu kết trị
1.2.3.1 Khái niệm kết trị
Kết trị của động từ, theo cách hiểu hẹp, thường được hiểu là thuộc tính kết hợp
cú pháp bắt buộc của động từ, tức là khả năng của động từ kết hợp vào mình các thành tố bắt buộc của câu (chủ ngữ và bổ ngữ truyền thống) Theo cách hiểu rộng thì kết trị của động từ là toàn bộ thuộc tính kết hợp cú pháp của động từ (gồm cả khả năng kết hợp bắt buộc lẫn tự do) Nói cách khác: kết trị của từ là khả năng của các từ loại thực từ tạo ra xung quanh mình các vị trí mở cần hoặc có thể làm đầy bởi các thành tố cú pháp nhất định và khả năng làm đầy các vị trí mở được tạo ra bởi các từ loại thực từ khác Trong luận văn này, chúng tôi tạm thời hiểu kết trị theo cách hiểu rộng
Kết trị của động từ theo cách hiểu trên đây sẽ được phân biệt với:
1 Khả năng kết hợp từ vựng của từ
Nói đến khả năng kết hợp từ vựng của từ là nói đến khả năng kết hợp của từ với
tư cách là cá thể hoặc đại diện của nhóm chủ đề Khả năng kết hợp từ vựng bị quy định bởi ý nghĩa từ vựng riêng của từ Còn nói đến kết trị của từ là nói đến khả năng kết hợp của từ với tư cách là đại diện của từ loại hoặc tiểu loại nhất định được đặc trưng bởi ý nghĩa từ vựng - ngữ pháp hoặc ý nghĩa ngữ pháp chung nhất định
2 Khả năng kết hợp của thực từ với các hư từ
Sự kết hợp của thực từ với các hư từ (thí dụ: đã, sẽ, đang…) tạo thành một tổ
hợp đặc biệt dùng trong vai trò tương đương với một thực từ Trong những tổ hợp
Trang 25hiện thực hoá thuộc tính kết trị của thực từ, chúng không phải là thành tố cú pháp thực sự
3 Khả năng kết hợp cú pháp bắt buộc của từ
Kết trị của từ theo cách hiểu trên đây không chỉ là khả năng kết hợp của từ với các thành tố cú pháp bắt buộc mà còn là khả năng kết hợp của từ với các thành tố
thường được xác định theo đặc điểm về ý nghĩa cú pháp (các nghĩa kiểu như: chủ
thể, đối thể, công cụ, nguyên nhân…) của các diễn tố, chu tố và gắn chặt với ý
nghĩa của từ mang kết trị Vì kết trị nội dung gắn chặt với ý nghĩa của từ nên sự thay đổi ý nghĩa (nghĩa từ vựng – ngữ pháp) của từ luôn kéo theo sự thay đổi kết trị nội dung của nó
Chẳng hạn, kiểu kết trị điểm đến chỉ có ở động từ chuyển động (ra, vào, lên,
xuống, về…), kiểu kết trị chỉ kẻ nhận chỉ có ở động từ ban phát (cho, gửi, trao, tặng, biếu…) Vì kết trị nội dung phụ thuộc chặt chẽ vào động từ nên sự thay đổi
nghĩa từ vựng - ngữ pháp của động từ luôn kéo theo sự thay đổi kết trị nội dung
của nó Động từ “chạy” trong tiếng Việt vốn có nghĩa nội hướng và khi được dùng với nghĩa này không thể có kết trị đối thể Thí dụ: Nó đang chạy trên đường Nhưng khi được dùng với ý nghĩa ngoại hướng, “chạy” hoàn toàn có thể có kết trị đối thể như các động từ ngoại hướng khác Thí dụ: Nó chạy thóc vào nhà
b Kết trị hình thức
Kết trị hình thức của từ là mối quan hệ (sự kết hợp) về hình thức giữa từ mang kết trị và các diễn tố hoặc chu tố Khác với kết trị nội dung chỉ gắn với mặt nghĩa của từ, kết trị hình thức gắn với mặt hình thức ngữ pháp của từ Sự đối lập giữa kết
Trang 26trị nội dung và kết trị hình thức của từ được bộc lộ đặc biệt rõ rệt trong ngôn ngữ biến hình Chẳng hạn, trong tiếng Nga, hình thức động từ “chitaju” về mặt kết trị nội dung, đòi hỏi hai kết tố bắt buộc là chủ thể và đối thể hoạt động Nhưng khi xác định các yếu tố làm đầy các vị trí bên hình thức động từ này, không thể chỉ chú
ý đến ý nghĩa từ vựng- ý nghĩa của từ Chỉ có thể nói “Ja chitaju Knigu” chứ không thể nói “On chitaju kaniga” Cấu trúc sau sở dĩ không chấp nhận được là vì giữa các từ không có sự phù hợp về hình thức ngữ pháp, tức là thiếu kết trị hình thức Đối với các ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt, tiếng Hán…vì trong thành phần cấu tạo của từ không có các yếu tố hình thái dùng để biểu thị quan hệ
cú pháp (quan hệ hình thức) giữa các từ nên có thể cho rằng hình thức ngữ pháp theo nghĩa hẹp không có ở từ trong các ngôn ngữ này Tuy nhiên, từ thực tế này, không ai lại nghĩ rằng khi kết hợp từ trong các ngôn ngữ không biến hình, chỉ cần chú ý đến ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa từ vựng – ngữ pháp của từ là đủ Động từ
“ăn” trong tiếng Việt về kết trị nội dung cũng đòi hỏi hai diễn tố bắt buộc là chủ thể và đối thể hoạt động và các từ “tôi”, “cơm” về mặt từ vựng – ngữ pháp có thể làm đầy các vị trí mở bên động từ này Nhưng nếu nói “tôi cơm ăn” thì ta chỉ có
một chuỗi từ hỗn độn vì ở các cấu trúc trên đây không có sự phù hợp về hình thức
ngữ pháp (vị trí) giữa các từ Trong câu “Trong cuộc sống của mỗi con người đều
mong muốn được sung sướng hạnh phúc”, ta dễ dàng nhận thấy người viết có ý
định đặt nhóm danh từ “mỗi con người” thành chủ ngữ (diễn tố chủ thể) của động
từ vị ngữ “mong muốn”, tức là muốn xác lập mối quan hệ chủ vị giữa “mong
muốn” và nhóm danh từ trên (Sự tương hợp về nghĩa giữa chúng cho thấy rõ ý
định này) Nhưng bất chấp ý định của người viết, mối quan hệ chủ vị ở đây đã không thể hiện thực hóa Nhân tố cản trở sự hiện thực hóa mối quan hệ chủ vị ở đây rõ ràng không phải là ý nghĩa từ vựng – ngữ pháp của từ mà là hình thức ngữ pháp của từ (trong tiếng Việt, chủ ngữ (diễn tố chủ thể) về hình thức ngữ pháp, không những phải chiếm vị trí trước vị ngữ mà còn phải không được dẫn nối bởi
Trang 27ngữ nghĩa) mà không chú ý đến kết trị hình thức (sự phù hợp về hình thức ngữ pháp) của từ nên người viết đã phạm sai lầm như trên đây
Xác nhận vai trò của mặt hình thức trong tổ hợp của từ trong tiếng Việt, các sách ngữ pháp khi nói về sự phù hợp của hai thành tố A và B nào đó thường không chỉ đặt ra và trả lời câu hỏi: “A và B có khả năng kết hợp với nhau không?” mà còn đặt ra và trả lời câu hỏi khác nữa: “Nếu A và B kết hợp được với nhau thì kết hợp theo trật tự nào (A đứng trước hay B đứng trước?)”, kết hợp theo phương thức nào? (Kết hợp trực tiếp hay gián tiếp)? Đề cập đến trật tự kết hợp và phương thức kết hợp thực chất chính là đề cập đến mặt hình thức ngữ pháp của từ theo nghĩa rộng, tức là đề cập đến kết trị hình thức của từ
1.2.3.2.2 Kết trị bắt buộc và kết trị tự do
a Kết trị bắt buộc
Kết trị bắt buộc là khả năng của các từ loại tạo ra xung quanh mình các vị trí
mở cần làm đầy bởi các diễn tố
Đặc điểm của diễn tố là:
Về nghĩa: Nghĩa của các diễn tố phụ thuộc chặt chẽ vào nghĩa của động từ
Chẳng hạn, trong cấu trúc “Nam đọc sách ở thư viện”, nghĩa chủ thể và đối thể hoạt động của các diễn tố “Nam” và “sách” chỉ được xác định trong mối quan hệ với nghĩa của động từ “đọc”
Về vai trò đối với việc tổ chức cấu trúc, các diễn tố quan trọng hơn hẳn chu tố
Sự xuất hiện của các diễn tố là do nghĩa của động từ đòi hỏi Việc lược bỏ diễn tố chỉ cho phép trong điều kiện ngữ cảnh hoặc tình huống nói năng nhất định
Về mặt phân bố (vị trí), diễn tố vì gắn với động từ chặt chẽ hơn nên thường đứng sát động từ
Trang 28Về nghĩa: Chu tố độc lập tương đối với động từ Như thí dụ ở trên, trong cấu
trúc “Nam đọc sách ở thư viện” thì nghĩa vị trí của chu tố “ở thư viện” có thể được xác định một cách độc lập với nghĩa nghĩa của động từ “đọc”
Về vai trò đối với việc tổ chức cấu trúc, các chu tố không quan trọng bằng các diễn tố Sự xuất hiện của các chu tố chỉ phản ánh khả năng của động từ được xác định rõ thêm về nghĩa và phụ thuộc chủ yếu vào mục đích giao tiếp
Về mặt phân bố (vị trí), chu tố thường không gắn chặt chẽ với động từ như diễn
tố và nếu sau động từ xuất hiện cả diễn tố lẫn chu tố thì chu tố thường đứng sau diễn tố, tức là đứng xa động từ hạt nhân hơn
1.2.3.2.3 Kết trị chủ động và kết trị bị động
a Kết trị chủ động
Kết trị chủ động là khả năng kết hợp của từ với tư cách là thành tố chính, thành
tố giữ vai trò chi phối
b Kết trị bị động
Kết trị bị động là khả năng của từ tham gia vào mối quan hệ cú pháp với tư cách
là thành tố phụ thuộc, thành tố bị chi phối
1.3 Khái niệm hiện thực hóa kết trị và các nhân tố chi phối sự hiện thực hóa kết trị của động từ
1.3.1 Khái niệm hiện thực hóa kết trị của động từ
Trước hết, chúng ta hiểu, kết trị (khả năng kết hợp) của động từ là tiềm năng cú pháp hàm chứa trong ý nghĩa của từ Đó là thuộc tính của động từ với tư cách là đơn vị của ngôn ngữ tạo ra các “vị trí mở” hay các “ô trống”
Hiện thực hóa kết trị của động từ là sự làm đầy các vị trí mở hay các ô trống khi động từ hoạt động trong lời nói, trong câu Vậy hiện thực hóa kết trị của động từ là
sự kiện của lời nói
Hiện thực hóa kết trị của động từ là sự làm đầy trong lời nói các vị trí mở có thể
có ở động từ bởi các diễn tố hoặc chu tố cụ thể.[28, 154]
Trang 29Nam đọc sách
Phân tích thí dụ trên ta thấy, bên động từ “đọc” có hai vị trí mở, và cả hai vị trí này đã được làm đầy bởi các diễn tố cụ thể Như vậy, trong cấu trúc trên, động từ
“đọc” đã hiện thực hóa cả kết trị chủ thể lẫn đối thể của mình
Bên cạnh đó, ta thấy cũng như ngôn ngữ với đặc tính “mở” của mình không bao giờ hiện thực hóa mọi tiềm năng của mình trong lời nói, động từ khi hoạt động trong lời nói cũng không hiện thực hóa đồng thời mọi tiềm năng kết hợp của mình
Số lượng kết trị được hiện thực hóa phụ thuộc vào số lượng kết trị có thể có của động từ, nhưng giữa mặt tiềm năng và mặt hiện thực hóa kết trị của động từ không
có sự trùng nhau hoàn toàn Trên thực tế, số lượng kết trị được hiện thực hóa chỉ bằng (tối đa) hoặc ít hơn số lượng kết trị mà động từ có So sánh:
Tôi tìm dấu vết nạn lụt Vẫn còn (Phan Tứ Gia đình má Bảy)
A phủ hốt hoảng gọi vợ Rồi lại quay vào gọi người lạ (Tô Hoài Vợ
chồng A Phủ)
Trong hai câu trên đây, kết trị chủ thể của động từ không được hiện thực hóa
Sở dĩ có hiện tượng trên là do sự hiện thực hóa kết trị của động từ trong lời nói luôn phải chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau
Cũng do sự tác động của nhiều nhân tố mà sự làm đầy các vị trí mở được thực hiện theo nhiều kiểu khác nhau
1.3.2 Các nhân tố chi phối sự hiện thực hoá kết trị động từ tiếng Việt
Nhân tố chi sự hiện thực hóa kết trị động từ tiếng Việt được hiểu là những yếu
tố giữ vai trò tác nhân trực tiếp chi phối, quy định hoặc ảnh hưởng, tác động đến sự hiện thực hóa kết trị của động từ tiếng Việt Những nhân tố này trên thực tế rất phức tạp Theo kết quả khảo sát bước đầu, chúng tôi tạm xác định những nhân tố chính sau đây:
- Ý nghĩa và hình thức của động từ trong lời nói
- Văn cảnh
- Hoàn cảnh, tình huống nói năng
Trang 30- Đặc điểm cú pháp, ngữ nghĩa của câu và các thành phần câu
- Cấu trúc thông tin của câu
- Phong cách ngôn ngữ, loại hình văn bản
- Đặc điểm loại hình của ngôn ngữ
1.3.2.1 Ý nghĩa và hình thức của động từ trong lời nói
Như đã biết, động từ với tư cách là đơn vị của ngôn ngữ, về bản chất, có tính trừu tượng vì nó được khái quát từ toàn bộ các biến thể của mình trong lời nói Các biến thể lời nói của động từ (có tác giả gọi là các hình thức chức năng của động từ), cùng với sự khác nhau về ý nghĩa và hình thức, có sự khác nhau về thuộc tính kết trị Trong các ngôn ngữ biến hình, chẳng hạn, trong tiếng Nga, động từ nguyên dạng, về nguyên tắc, không có khả năng hiện thực hóa kết trị chủ thể Trong tiếng Việt, động từ với ý nghĩa và hình thức phi thời thể, nhìn chung không có khả năng
hiện thực hóa kết trị chủ thể
So sánh:
Chúng tôi treo cờ trên nóc đồn địch (1)
Treo cờ trên nóc đồn địch là nhiệm vụ rất khó khăn (2)
Xét (1) và (2), ta thấy treo đều là động từ nhưng chỉ trong (1) nó mới có khả
năng hiện thực hóa đầy đủ các kết trị bắt buộc
1.3.2.2 Văn cảnh
Văn cảnh, xét trong quan hệ với đơn vị ngôn ngữ nào đó là một ngữ đoạn giữ vai trò bối cảnh mà nhờ đó đơn vị ngôn ngữ này thực hiện được chức năng của mình
Trong các nhân tố chi phối sự hiện thực hóa kết trị động từ tiếng Việt, văn cảnh được coi là nhân tố có vai trò hàng đầu Văn cảnh vừa là điều kiện cho phép sự hiện thực hóa kết trị động từ vừa là bối cảnh mà dựa vào đó có thể hiểu ngữ đoạn
có yếu tố bị lược và khôi phục lại thành phần bị lược bỏ Chẳng hạn, trong chuỗi câu: “Bố Rít vẫn không nói không rằng Sáng sáng vẫn lên nương” (Văn nghệ số
Trang 3115) Câu thứ nhất là văn cảnh, tức là bối cảnh cần thiết để hiểu câu thứ hai, cụ thể
là để xác định diễn tố chủ thể trong câu thứ hai
Ngữ đoạn giữ vai trò văn cảnh và ngữ đoạn có yếu tố tỉnh lược có thể là những câu khác nhau (như ở thí dụ trên) nhưng có thể thuộc cùng một câu Thí dụ: “Hắn sung sướng vì đã nghĩ ra điều ấy” (Nam Cao Tuyển tập) “Thị cười vì nghĩ
đến đàn con” (Nam Cao Tuyển tập) Về vị trí, ngữ đoạn giữ vai trò văn cảnh
thường đứng trước ngữ đoạn có yếu tố bị tỉnh lược (như ở các thí dụ trên) nhưng
cũng có thể đứng sau Thí dụ:
Tuy ngủ ít nhưng ông tỉnh táo lắm
Đương nói dở câu, anh Dậu ngập ngừng rồi lại thôi (Ngô Tât Tố Tắt đèn)
Văn cảnh càng gần, thì sự chi phối khả năng tỉnh lược càng lớn nhưng việc khôi phục lại yếu tố bị tỉnh lược gặp nhiều khó khăn vì chủ tố và lược tố ở gần nhau Ngược lại, văn cảnh càng xa, sự chi phối khả năng tỉnh lược có phần hạn chế hơn nhưng khôi phục lại thành phần bị tỉnh lược thường dễ dàng hơn vì chủ tố và lược
tố ở cách xa nhau
1.3.2.3 Hoàn cảnh, tình huống nói năng
Khác với văn cảnh, hoàn cảnh tình huống nói năng là những nhân tố ngoài
ngôn ngữ Hoàn cảnh tình huống nói năng bao gồm các yếu tố cụ thể như đặc điểm
cá nhân và xã hội, tâm lí và sinh lí của người nói, mối quan hệ giữa người nói và người nghe, tính chất, mục đích của giao tiếp…Sự chi phối của nhân tố hoàn cảnh tình huống nói năng đối với sự hiện thực hóa kết trị của từ là sự chi phối rất mạnh Chính nhờ có hoàn cảnh, tình huống nói năng mà vô số những câu thường được gọi là câu không đầy đủ (diễn tố cụ thể không hiện diện) mới có thể tồn tại và thực
hiện được chức năng của mình Thí dụ: Cháy! (thông báo về hỏa hoạn, trong tình huống thấy lửa khói bốc lên từ một ngôi nhà) Chạy đi! (thông báo khi có tình
huống nguy hiểm) Bông, băng, cồn! (thông báo của bác sĩ trong ca mổ)
Trang 32Vị thế của người tham gia giao tiếp cũng góp phần quy định sự hiện thực hóa kết trị của từ Nhìn chung, khi nói với người thuộc vai dưới hoặc ngang vai, người nói có nhiều khả năng, cơ hội sử dụng các câu tỉnh lược diễn tố
Chẳng hạn, đây là lời của ông chủ nói với đầy tớ:
Cầm lấy mà cút đi cho rảnh Rồi làm lấy mà ăn chứ ăn bám người ta mãi à? (Nam Cao Chí Phèo)
Ngược lại, khi nói với người thuộc vai trên, do cần thể hiện sự tôn trọng, người nói thường phải dùng những câu có chủ thể Đối với người nói thuộc vai dưới, lối nói "trống không" bị coi là thiếu lễ độ Chẳng hạn, học trò không thể chào thầy
(cô) bằng những câu kiểu như "Lên lớp à? Còn giờ không? Đi đâu đấy?" Khi
chào hỏi người trên, thường phải sử dụng những câu có chủ thể
Thí dụ:
Con nói với mẹ:
U đã về ạ? (Ngô Tất Tố Tắt đèn)
Mẹ có mệt lắm không (Tập đọc lớp 1, 1990)
1.3.2.4 Đặc điểm ngữ nghĩa, cú pháp của diễn tố hoặc của động từ
Ý nghĩa và thuộc tính kết trị của từ trong câu có quan hệ mật thiết với khả năng hiện thực hóa kết trị của động từ tiếng Việt Việc khảo sát cho thấy:
a Những diễn tố được biểu thị bởi cấu trúc có các từ trống nghĩa (thí dụ: lúc, khi,
việc, điều ) làm trung tâm trong nhiều trường hợp, có thể dễ dàng lược bỏ các từ
trống nghĩa mà không làm ảnh hưởng đến ý nghĩa của câu So sánh:
Việc anh về muộn khiến mẹ lo lắng
Anh về muộn khiến mẹ lo lắng
Điều quan trọng là anh phải nói thật
Quan trọng là anh phải nói thật
Trang 33b Các động từ hạt nhân là các động từ trống nghĩa (được, bị, là, khiến) thường
không cho phép lược bỏ diễn tố đối thể bên chúng Chẳng hạn, nói chung không thể gặp những câu lược kiểu như:
Anh Nam là (-)
Anh Nam trở thành (-)
Điều đó khiến (-)
c Khi động từ chỉ hoạt động mà chủ thể hoàn toàn xác định (thí dụ: mưa, nắng,
sáng, tối) hoặc dễ dàng xác định nhờ ngữ cảnh (thí dụ: có thể, cần, phải ) thì diễn
tố chủ thể bên chúng cũng dễ dàng bị lược bỏ
Chẳng hạn, có thể gặp phổ biến những câu kiểu như: Sáng rồi (1); Tối rồi (2); Mưa rồi (3); Nắng rồi(4); Để hiểu biết, cần phải học tập(5); Từ những điều trình bày trên đây, có thể rút ra ba kết luận(6) Trong đó, những câu (5),
(6) diễn tố chủ thể thường chỉ người nói, hoặc cả người nói lẫn người nghe
1.3.2.5 Cấu trúc thông tin của câu
Sự chi phối của cấu trúc thông tin của câu đối với khả năng hiện thực hóa kết trị của động từ tiếng Việt được thể hiện ở chỗ về nguyên tắc, chỉ yếu tố chứa đựng thông tin cũ mới có khả năng lược bỏ
So sánh:
Bao giờ anh đi Hà Nội?
Ngày mai tôi đi Hà Nội
Ngày mai tôi đi (+)
Ngày mai đi (+)
Ngày mai (+)
Tôi đi Hà Nội (-)
Đi Hà Nội (-)
Hà Nội (-)
Trang 34Từ thực tế trên đây, cần thấy rằng tính bắt buộc về ngữ pháp không phải luôn trùng với tính bắt buộc về thông tin Chẳng hạn, trong trường hợp trên đây, kết tố
tự do (ngày mai) tuy không phải là thành phần cú pháp bắt buộc của câu nhưng lại
có tính bắt buộc vì lí do thông tin
1.3.2.6 Nhân tố phong cách chức năng, loại hình văn bản
Trong phong cách ngôn ngữ văn chương (nhất là trong ca dao, thơ) có thể gặp rất phổ biến những câu lược bỏ thành phần, đặc biệt là câu lược bỏ diễn tố chủ thể Thí dụ:
Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu
Đã nghe nước chảy lên non
Đã nghe núi chuyển thành con sông dài
Đã nghe gió ngày mai thổi lại
Đã nghe hồn thời đại bay cao
Trong phong cách hành chính hay chính luận, khoa học, do đòi hỏi phải bảo đảm chặt chẽ, chính xác, hiện tượng lược bỏ các diễn tố cần hạn chế hơn rất nhiều
1.3.2.7 Nhân tố đặc điểm loại hình ngôn ngữ
Như đã biết, trong tiếng Việt cũng như trong các ngôn ngữ đơn lập, không có quan hệ phù hợp và chi phối theo nghĩa hẹp Đặc điểm loại hình này cũng chi phối khả năng hiện thực hóa kết trị của động từ tiếng Việt Chẳng hạn, bên các động từ ngoại động của tiếng Việt, trong nhiều trường hợp, bổ ngữ (thành phần bắt buộc) hầu như không xuất hiện khi nghĩa của nó đã rõ ràng nhờ ngữ cảnh Trong khi đó,
ở các cấu trúc tương ứng trong ngôn ngữ biến hình, bên động từ ngoại động, việc dùng bổ ngữ là bắt buộc (với tiếng Nga) hoặc được coi là một trong những cách dùng chuẩn (trong tiếng Anh) So sánh:
Tiếng Việt: Cuốn sách tôi vừa mua rất hay
Tiếng Anh: The book which I have just bought very interesting
Trang 35Tiếng Nga: Книга, которую я только что купил, интересная.
Tương tự như vậy, nếu trong tiếng Anh, những mệnh đề phụ tính ngữ (định ngữ) mà chủ ngữ (tương liên về nghĩa với danh từ trung tâm) được biểu hiện bằng
that/ which/ who rất phổ biến và được coi là hình thức chuẩn thì trong cách diễn
đạt tương ứng của tiếng Việt, những mệnh đề phụ có đặc điểm như vậy, nói chung, thường không được cấu tạo (vì tiếng Việt luôn có khuynh hướng tránh sự lặp lại tạo ra sự dư thừa về nghĩa và rườm rà về hình thức) So sánh:
Tiếng việt: Cậu học sinh đang đọc sách là em tôi
Tiếng Anh: The boy who is reading a book is my brother
Tiếng Nga: Ученик, который читает книгу, мой брат
Như vậy, có thể thấy rằng phạm vi tỉnh lược một diễn tố nào đó trong tiếng Việt có phần rộng hơn trong các ngôn ngữ biến hình Đặc điểm này là hệ quả trực tiếp của ý thức, thói quen "tiết kiệm đến cao độ" trong sử dụng ngôn ngữ của người Việt như Nguyễn Kim Thản đã nhận xét Còn nguyên nhân sâu xa dẫn đến hiện tượng này chính là đặc điểm loại hình quan trọng của tiếng Việt: tính không biến hình của từ
1.4 Các kiểu hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ
1.4.1 Nhận xét chung
Khi xem xét sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ, chúng ta cần phân biệt hai trường hợp: trường hợp động từ có khả năng hiện thực hóa đầy đủ kết trị bắt buộc (đó là động từ ở dạng cơ bản, tức là động từ trong hình thức và ý nghĩa thời thể) và trường hợp động từ không có khả năng hiện thực hóa đầy đủ kết trị bắt buộc (đó là trường hợp động từ ở dạng không cơ bản, tức là động từ trong hình thức và ý nghĩa phi thời thể, trong biến thể này, động từ có nét gần với danh từ hoặc tính từ) Trường hợp sau còn được gọi là trường hợp mất kết trị ở động từ Với trường hợp động từ có khả năng hiện thực hóa đầy đủ kết trị bắt buộc, có thể xác định hai kiểu hiện thực hóa cở bản: hiện thực hóa đầy đủ kết trị bắt buộc (diễn tố chủ thể, đối thể có sự hiển minh) và hiện thực hóa không đầy đủ kết trị bắt
Trang 36buộc (diễn tố chủ thể, đối thể không hiển minh) Trường hợp sau còn được gọi là trường hợp tỉnh lược diễn tố
1.4.2 Hiện thực hóa đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ
Hiện thực hóa đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ là sự làm đầy trong lời nói tất
cả các vị trí mở bắt buộc có thể có đặc trưng cho kết trị bắt buộc của động từ Trường hợp động từ có khả năng hiện thực hóa đầy đủ kết trị bắt buộc là trường hợp động từ hoạt động trong lời nói với tư cách là biến thể điển hình (động từ thời thể), mà chức năng cơ bản của nó là vị ngữ
Thí dụ:
Nam đang đọc sách
Ở thí dụ trên, bên động từ “đọc” có hai vị trí mở bắt buộc và cả hai vị trí này đều
được làm đầy bởi các diễn tố cụ thể
1.4.3 Hiện thực hóa không đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ
Hiện thực hóa không đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ hay còn gọi là hiện tượng tỉnh lược diễn tố là hiện tượng một kết trị bắt buộc nào đó ở động từ không hiện thực hóa trong lời nói, tức là một trong các vị trí mở không được làm đầy bởi diễn tố
Thí dụ:
Nam bảo đã đọc xong cuốn sách ấy
Ở thí dụ trên, bên động từ “đọc” cũng có hai vị trí mở bắt buộc, trong đó một vị
trí (vị trí sau) đã được làm đầy bởi diễn tố cụ thể, còn ở vị trí kia tuy không có sự hiện diện của diễn tố cụ thể nhưng, vị trí này có thể được làm đầy bởi một diễn tố nhất định, tức là có thể khôi phục lại diễn tố bị tỉnh lược Trường hợp này được gọi
là trường hợp hiện thực hóa không đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ
1.5 Tiểu kết chương 1
Chương 1 trình bày bốn vấn đề chính: động từ, lí thuyết kết trị và sự hiện thực hóa kết trị, các nhân tố chi phối sự hiện thực hóa kết trị và các kiểu hiện thực hóa
Trang 37Động từ là một từ loại thực từ dùng để chỉ hoạt động (hành động và trạng thái)
của sự vật, hiện tượng Động từ có thể được xác định dựa vào ý nghĩa, khả năng kết hợp (về phía trước với các phụ từ thời thể; về phía sau với các phụ từ khác để tạo thành nhóm động từ) và dựa vào chức năng cú pháp (động từ có khả năng làm
vị ngữ, bổ ngữ, chủ ngữ, trạng ngữ, định ngữ…) Về phân loại động từ, có thể dựa vào: ý nghĩa và hình thức ngữ pháp; đặc điểm chi phối; và dựa vào thuộc tính kết trị
Kết trị được hiểu là thuộc tính kết hợp cú pháp của từ Đó là khả năng của các thực từ tạo ra xung quanh mình các vị trí mở cần hoặc có thể làm đầy bởi các thực
từ khác (kết trị chủ động) hoặc đó là khả năng của các thực từ làm đầy các vị trí
mở được tạo ra bởi các thực từ khác (kết trị bị động) Ở kết trị chủ động, các thực
từ, kẻ mang kết trị, là yếu tố chính tập hợp quanh mình một hay một số yếu tố phụ lập thành cái được gọi là nút (noeut) Nút được cấu tạo bởi từ chi phối trực tiếp hay gián tiếp tất cả các từ của câu được gọi là nút trung tâm Nút trung tâm trong ý nghĩa nhất định đồng nhất với cả câu Trong phần lớn các ngôn ngữ, nút trung tâm thường được cấu tạo bởi động từ
Trong nút động từ, bên cạnh động từ trung tâm (hạt nhân) có các yếu tố phụ bắt buộc (diễn tố) và tự do (chu tố) Diễn tố được chia thành diễn diễn tố thứ nhất (chủ thể hay chủ ngữ truyền thống), diễn tố thứ hai (về cơ bản, phù hợp với đối thể trực tiếp hay bổ ngữ trực tiếp truyền thống), diễn tố thứ ba (về cơ bản, phù hợp với đối thể gián tiếp hay bổ ngữ gián tiếp truyền thống) Đối lập giữa diễn tố chủ thể (chủ ngữ) với diễn tố đối thể (bổ ngữ) chỉ đơn thuần ở mặt ngữ nghĩa và hình thức cú pháp chứ không phải ở mặt cấu trúc, chức năng Diễn tố có thể biệt lập về hình thức Chu tố được biểu hiện bằng trạng từ hoặc các yếu tố tương đương Chu tố luôn luôn là yếu tố phụ của động từ dù chúng được cấu tạo như thế nào
Kết trị của động từ được chia thành các kiểu: kết trị nội dung và kết trị hình thức; kết trị bắt buộc và kết trị tự do; kết trị chủ động và kết trị bị động
Trang 38Hiện thực hóa kết trị của động từ là sự làm đầy các vị trí mở hay các ô trống khi động từ hoạt động trong lời nói, trong câu
Các nhân tố chi phối hiện thực hóa kết trị bao gồm: ý nghĩa và hình thức của
động từ trong lời nói; văn cảnh; hoàn cảnh, tình huống nói năng; đặc điểm cú pháp, ngữ nghĩa của câu và các thành phần câu; cấu trúc thông tin của câu; phong cách
ngôn ngữ, loại hình văn bản; đặc điểm loại hình của ngôn ngữ
Xem xét sự hiện thực hóa kết trị bắt buộc của động từ, cần phân biệt hai kiểu: trường hợp động từ có khả năng hiện thực hóa đầy đủ kết trị bắt buộc và trường hợp động từ không có khả năng hiện thực hóa đầy đủ kết trị bắt buộc Trường hợp động từ có khả năng hiện thực hóa đầy đủ kết trị bắt buộc được chia thành: hiện thực hóa đầy đủ (tất cả các ô trống đều được làm đầy) và hiện thực hóa không đầy
đủ (một trong các ô trống không được làm đầy) Hiện thực hóa không đầy đủ kết trị bắt buộc còn được gọi là hiện tượng tỉnh lược diễn tố
Trang 39CHƯƠNG 2 HIỆN THỰC HOÁ ĐẦY ĐỦ KẾT TRỊ BẮT BUỘC CỦA ĐỘNG TỪ
2.1 Nhận xét chung
Hiện thực hóa đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ là sự làm đầy trong lời nói tất
cả các vị trí mở bắt buộc có thể có đặc trưng cho kết trị bắt buộc của động từ Việc khảo sát cho thấy khả năng hiện thực hóa đầy đủ kết trị chỉ có ở động từ ở dạng điển hình (động từ với ý nghĩa và hình thức thời thể) Động từ có khả năng hiện thực hóa đầy đủ kết trị bắt buộc trong ngữ pháp học truyền thống được gọi là động
từ - vị ngữ Theo quan niệm của ngữ pháp học truyền thống thì vị ngữ cũng là một phạm trù chức năng như chủ ngữ, bổ ngữ, định ngữ Nhưng cách hiểu như vậy có thể phải xem xét lại hoặc cần được bổ sung thêm Nếu hiểu chức năng là “sự phụ thuộc bị qui định bởi mối quan hệ ngữ pháp của một từ nhất định vào từ khác” thì như V.S.Panfilov khẳng định, vị ngữ truyền thống không phải là một phạm trù chức năng thực sự.[Dẫn theo 28;157] Theo cách hiểu về phạm trù chức năng như trên đây thì trong câu hoặc trong cấu trúc động từ (nút trung tâm), mỗi thực từ về nguyên tắc, chỉ giữ một chức năng cú pháp duy nhất Nếu vị ngữ quả là một phạm trù chức năng thực sự thì động từ giữ vai trò vị ngữ không thể đồng thời giữ một chức năng khác và ngược lại, động từ khi đã giữ một chức năng nhất định không thể giữ vai trò vị ngữ Nhưng thực tế trong tiếng Việt cho thấy, trong nhiều trường hợp, khi đã giữ các chức năng nhất định, động từ vẫn không mất đi kết trị chủ thể, tức là khả năng giữ vai trò vị ngữ So sánh:
(1a) Cuốn sách vừa mua rất hay
(1b) Cuốn sách tôi vừa mua rất hay
(2a) Lúc qùy trước cái chết lại là lúc chị thấy yêu hơn sự sống (Anh Đức
Hòn đất)
(2b) Lúc chị qùy trước cái chết lại là lúc chị thấy yêu hơn sự sống
Trang 40(3a) Trọng bị hỏi đột ngột về một vấn đề không dính dấp gì đến những cái
đang suy nghĩ trong đầu (Đào Vũ Cái sân gạch)
(3b).Trọng bị hỏi đột ngột về một vấn đề không dính dấp gì đến những cái anh
đang suy nghĩ trong đầu
(4a) Tôi ngỡ đang đứng trên hai chiếc cọc lung lay
(4b) Tôi ngỡ mình đang đứng trên hai chiếc cọc lung lay (Nguyễn Đức Thuận Bất khuất)
(5a) Tiền bạc cưới thì bố tôi bảo đã đưa cho bố cả rồi (Tô Hoài Vợ chồng
A Phủ)
(5b) Tiền bạc cưới thì bố tôi bảo bố tôi đã đưa cho bố cả rồi
(6a) Thị cười vì nghĩ đến đàn con (Tuyển tập Nam Cao)
(6b) Thị cười vì thị nghĩ đến đàn con
(7a) Hắn sung sướng vì đã nghĩ ra điều ấy (Tuyển tập Nam Cao)
(7b) Hắn sung sướng vì hắn đã nghĩ ra điều ấy
Từ các thí dụ trên, ta thấy, các động từ được in nghiêng khi đã giữ chức năng cú pháp nhất định (chức năng định ngữ ở các thí dụ 1a, 2a, 3a; chức năng bổ ngữ ở các thí dụ 4a, 5a; chức năng trạng ngữ ở các thí dụ 6a, 7a vẫn không mất đi kết trị chủ thể (các thí dụ b tương ứng).[Dẫn theo 28, 157-158]
Thực tế trên đây chứng tỏ điều mà V.S.Panjilov và một số tác giả đã nhận xét:
vị ngữ truyền thống không phải là một phạm trù chức năng thực sự mà chính là hạt nhân duy nhất của câu hoặc cấu trúc vị từ.[28;159]
Đi sâu vào phân tích sự hiện thực hóa đầy đủ kết trị bắt buộc của động từ ở dạng điển hình, cần phân biệt:
Trường hợp kết trị bắt buộc được hiện thực hóa đầy đủ, thí dụ: “Kha xé cái phong bì” (Nguyễn Đình Thi) và trường hợp kết trị bắt buộc không hiện thực hóa đầy đủ, thí dụ: “ Đương nói dở câu, anh Dậu ngập ngừng lại thôi” (Ngô Tất Tố) Trường hợp sau, như đã nói ở trên, chúng tôi sẽ gọi là trường hợp tỉnh lược diễn tố