vẫn chưa có những nghiên cứu, đánh giá để rút kinh nghiệm một cách đầy đủ và toàn diện nhằm đảm bảo cho quỹ đất đai của huyện được quản lý chặt chẽ, khai thác có hiệu quả và bền vững Xuấ
Trang 1
Đại học Thái Nguyên
Trường Đại học Nông lâm
TRẦN THỊ BÌNH
HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT GIAI ĐOẠN 2006 -2010
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG ĐẤT HIỆU QUẢ TẠI ĐỊA BÀN HUYỆN CHIÊM HÓA,
TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên - năm 2012
Trang 2MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Từ thủa xa xưa con người đã nhận thức rằng: “Đất đai và lao động là nguồn gốc sinh ra của cải cần thiết cho cuộc sống” Nhà triết học LucRe Xiuyt sống ở thế kỷ I trước Công nguyên đã viết: “Đất là mẹ của muôn loài, không có cái gì không từ lòng mẹ đất mà ra” Thế kỷ XIX nhà Bác học Phan Huy Chú của nước ta cũng có câu: “ Cái quý nhất của một đất nước không gì bằng đất đai, nhân dân và mọi của cải đều do đấy mà ra”
Chính vì vai trò cực kỳ quan trọng của đất đai nên tất cả các nhà nước xưa và nay đều rất coi trọng Ở nước ta, các đại triều Đinh, Lý, Trần, Lê… tuy
có những chính sách về đất đai khác nhau nhưng đều hết sức quan tâm đến việc quản lý và sử dụng đất Quy hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, tại Chương II, Điều 18 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật nhằm đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu qủa” [4] Luật Đất đai năm
2003 đã dành 10 điều, từ Điều 21 đến Điều 30 quy định về nguyên tắc, nội dung, trình tự, thẩm quyền lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp [7]
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất, nhiều địa phương trong cả nước đã nghiêm túc tổ chức triển khai công tác này Đến nay, đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (100%), 505/753 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (67%) và 6.865/12.588 xã, phường, thị trấn (54,5%) hoàn thành công tác lập quy hoạch sử dụng đất Nhiều địa phương đã và đang triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đến năm
2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu giai đoạn 2011-2015 [2]
Về mặt số lượng có thể thấy, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng với sự nỗ lực rất lớn của các địa phương, việc lập quy hoạch sử dụng đất đã
Trang 3được triển khai trên diện rộng và khá đồng bộ, đặc biệt là ở cấp tỉnh và cấp huyện Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, công tác lập quy hoạch, tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch, quản lý và giám sát quy hoạch ở nhiều địa phương chưa được quan tâm đúng mức; kết quả của nhiều dự án quy hoạch đạt được là rất thấp; tình trạng quy hoạch “treo”, quy hoạch “ảo” đang là tâm điểm chú ý của dư luận xã hội Vì vậy việc đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch để kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm chấn chỉnh lại công tác quy hoạch, nâng cao khả năng thực thi của các dự án quy hoạch sử dụng đất hiện nay là việc làm bức thiết
Đối với tỉnh Tuyên Quang thì huyện Chiêm Hóa là một trong bảy đơn
vị hành chính cấp huyện, là huyện phát triển, trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế- xã hội nằm ở phía Bắc của tỉnh Thực hiện Luật Đất đai năm 2003; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Huyện Chiêm Hóa đã lập quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2006 - 2010 và đã được UBND tỉnh Tuyên Quang phê duyệt tại Quyết định số 389/QĐ-UB ngày 15/8/2008, nhưng cho đến nay việc tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch đó ra sao, kết quả đạt được thế nào, còn tồn tại những vấn đề gì, nguyên nhân do đâu, cần phải có giải pháp nào khắc phục vẫn chưa có những nghiên cứu, đánh giá để rút kinh nghiệm một cách đầy đủ và toàn diện nhằm đảm bảo cho quỹ đất đai của huyện được quản lý chặt chẽ, khai thác có hiệu quả và bền vững
Xuất phát từ những vấn đề trên, việc thực hiện đề tài "Đánh giá kết
quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 -2010 và đề xuất giải pháp sử dụng đất hiệu quả tại địa bàn huyện Chiêm hóa, tỉnh Tuyên Quang” là cần thiết
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trang 4Đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu phương án quy hoạch sử dụng đất huyện Chiêm Hóa giai đoạn 2006 - 2010, đồng thời chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại trong việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất huyện Chiêm Hóa trong các năm tới
- Đánh giá phải chính xác, khách quan;
- Đánh giá theo nhiều góc độ khác nhau: Đánh giá theo từng nhóm đất; theo số liệu thứ cấp, theo số liệu sơ cấp;
- Các giải pháp đề xuất phải phù hợp với thực tế ở địa phương và có tính khả thi cao
4 Ý nghĩa của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Góp phần bổ sung kiến thức về c ơ sở lý luận quy hoạch ; quản lý quy hoạch nâng cao nhận thức về nội dung, phương pháp đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của một đơn vị hành chính cấp huyện
- Tạo lập cơ sở khoa học cho việc đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực thi quy hoạch sử dụng đất của một đơn vị hành chính cấp huyện trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất của nước ta
4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Làm tài liệu tham khảo phục vụ cho các nhà quản lý ở huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát và tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch sử dụng đất của huyện
Trang 5Chương I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
Việc đánh giá, tổng kết một nội dung công việc cụ thể được thực hiện ở giai đoạn trước là thực sự cần thiết Bởi vì, tổng kết và đánh giá mặt đạt được
và mặt còn hạn chế cho phép chúng ta rút ra kinh nghiệm và đề ra những mục tiêu, kế hoạch để tiếp tục thực hiện trong thời gian tiếp theo đảm bảo tính hiệu quả và sát với thực tế Trong quản lí đất đai cũng vậy, khi lập quy hoạch sử dụng đất phải đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch ở giai đoạn trước Hơn nữa, quy hoạch sử dụng đất là việc sắp xếp, phân bổ quỹ đất cho tương lai nên khó có thể thực hiện được đúng tất cả theo phương án quy hoạch đã xây dựng
Vì vậy, phải tiến hành đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất của địa phương
1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Theo quy định của Luật Đất đai 2003, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 Việc đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất được báo cáo định kỳ hàng năm Tổng kết công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở để triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho giai đoạn tiếp theo Tuyên Quang là một tỉnh đang trên đà phát triển, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã xác định thời kỳ 2006 - 2010, tỉnh đặc biệt chú trọng đến việc phát triển công nghiệp – dịch vụ, hạ tầng cơ sơ, phấn đấu đưa thị xã Tuyên Quang trở thành đô thị loại III và thành phố trực thuộc tỉnh Điều này cho thấy việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-2010 ở các huyện của tỉnh cũng trở nên khó khăn và nhiều thách thức, đòi hỏi sự nỗ lực hết mình của toàn Đảng, toàn dân tộc tỉnh Tuyên Quang Vì vậy, đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-
2010 của huyện Chiêm Hoá là hết sức cần thiết
Trang 61.1.3 Cơ sở pháp lí của đề tài
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992, tại điều 18, chương II đã khẳng định „„Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất đai cho các tổ chức,
cá nhân sử dụng ổn định lâu dài‟‟[4];
Điều 13, Luật Đất đai năm 1993 nêu rõ: Quy hoạch và kế hoạch hoá việc
sử dụng đất đai là một trong 7 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai'
Điều 6, Luật Đất đai năm 2003 ghi nhận: Quy hoạch, kế hoạch hoá việc sử dụng đất là một trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai;
Điều 19 Luật Đất đai 2003 khẳng định: “Căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê đất là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt”;
Điều 21 đến Điều 30 Luật Đất đai 2003 quy định rõ về công tác quy hoạch
Quyết định số 100/2008/QĐ-TTg ngày 25 tháng 7 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Tuyên Quang đến năm 2020;
Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
Trang 7Thông tư số 06/2010/TT-BTNMT ngày 15/3/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Ban hành Định mức kinh tế, kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
Thông tư số 04/2006/BT-NMT ngày 22 tháng 5 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn phương pháp tính đơn giá dự toán, xây dựng
dự toán kinh phí thực hiện lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
Quy hoạch sử dụng đất tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết số 08/NQ-CP ngày 26/5/2006; Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực của tỉnh đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.Các báo cáo và quy hoạch của các ngành ở tỉnh có liên quan đến huyện Chiêm Hoá;
Quyết định số: 389/QĐ-UBND ngày 15/8/2008 của UBND tỉnh Tuyên Quang
về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất huyện Chiêm Hóa thời kỳ 2006-2010
1.2 Khái quát về quy hoạch sử dụng đất
1.2.1 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất
Theo Fresco và ctv (1992) Quy hoạch sử dụng đất như dạng hình của quy hoạch vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng đất tốt nhất về đất đai trên quan điểm chấp nhận những mục tiêu và những cơ hội về môi trường xã hội và những vấn đề hạn chế khác [17]
Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp của Nhà nước (thể hiện đồng thời 3 tính chất, kinh tế, kỹ thuật và pháp chê) về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ (mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng theocác mục đích nhất định), hợp lý (đặc điểm tính chất tự nhiên, vị trí, diện tích phù hợp với yêu cầu và mục đích sử dụng), khoa học (áp dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật và các biện pháp tiên tiến) và có hiệu quả nhất (đáp ứng đồng bộ cả 3 lợi ích kinh tế
- xã hội - môi trường), thông qua việc phân bố quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất [18]
Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp của Nhà nước về tổ chức, quản lý nhằm sử dụng hiệu quả tối đa tài nguyên đất, bảo vệ môi trường
Trang 8để phát triển bền vững trên cơ sở phân bố quỹ đất vào các mục đích phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của cả nước, các vùng và theo đơn vị hành chính các cấp [24]
1.2.2 Bản chất của quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất (các giải pháp sử dụng cụ thể), nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường [5]
Về thực chất, quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai
và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường
1.2.3 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện cụ thể như sau:
1.2.3.1 Tính lịch sử - xã hội
Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch sử dụng đất đai Mỗi hình thái KT-XH đều có một phương thức sản xuất của xã hội thể hiện theo 2 mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong quy hoạch
sử dụng đất đai, luôn nẩy sinh quan hệ giữa người với đất đai cũng như quan hệ giữa người với người về quyền sở hữu và sử dụng đất đai Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện đồng thời vừa là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của xã hội
1.2.3.2 Tính tổng hợp
Tính tổng hợp của QHSDĐĐ biểu hiện chủ yếu ở hai mặt: Đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ toàn bộ tài nguyên đất đai cho
Trang 9nhu cầu nền kinh tế quốc dân; QHSDĐĐ đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như: Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi trường sinh thái
1.2.3.3 Tính dài hạn
Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế
xã hội quan trọng, xác định quy hoạch trung và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất ngắn hạn
Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để thực hiện chiến lược phát triển KT-XH Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn của quy hoạch sử dụng đất đai thường từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc xa hơn
1.2.3.4 Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô
Với đặc tính trung và dài hạn, QHSDĐĐ chỉ dự kiến trước các xu thế thay
đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất (mang tính đại thể,
không dự kiến được các hình thức và nội dung cụ thể, chi tiết của sự thay đổi)
Vì vậy, QHSDĐĐ mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, tính phương hướng và khái lược về sử dụng đất
kế hoạch kinh tế - xã hội; tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân
số, đất đai và môi trường sinh thái
1.2.3.6 Tính khả biến
Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện khác nhau, QHSDĐĐ chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh
Trang 10tế trong một thời kỳ nhất định Khi xã hội phát triển , khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của QHSDĐĐ không còn phù hợp Việc điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch là biện pháp thực hiện và cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch, QHSDĐĐ luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc "quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện " với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao.[3]
1.2.4 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất
1.2.4.1.Quy hoạch sử dụng đất theo ngành
- Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp;
- Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp;
- Quy hoạch sử dụng đất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp;
- Quy hoạch sử dụng đất giao thông, thủy lợi…
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là diện tích đất đai
thuộc quyền sử dụng và diện tích dự kiến cấp thêm cho ngành (trong phạm vi
ranh giới đã được xác định rõ mục đích cho từng ngành ở các cấp lãnh thổ tương ứng) Quy hoạch sử dụng đất đai giữa các ngành có quan hệ chặt chẽ
với quy hoạch sử dụng đất của vùng và cả nước [6]
1.2.4.2 Quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ
- Quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai cả nước;
- Quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh;
- Quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện;
- Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã
Đối tượng của Quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tự nhiên của lãnh thổ Tuỳ thuộc vào cấp vị lãnh thổ hành chính, quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau
và được thực hiện theo nguyên tắc: từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến
bộ phận, từ cái chung đến cái riêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý bước trước
Trang 11Mục đích của quy hoạch sử dụng đất đai theo các cấp lãnh thổ hành chính là: Đáp ứng nhu cầu đất đai cho hiện tại và tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân; cụ thể hoá một bước Quy hoạch sử dụng đất đai của các ngành và đơn vị hành chính cấp cao hơn; làm căn cứ, cơ sở để các ngành
(cùng cấp) và các đơn vị hành chính cấp dưới triển khai Quy hoạch sử dụng
đất đai của ngành và địa phương mình; làm cơ sở để lập kế hoạch sử dụng đất
5 năm (căn cứ để giao cấp đất, thu hồi đất theo thẩm quyền được quy định
trong Luật Đất đai); phục vụ cho công tác thống nhất quản lý Nhà nước về
đất đai
+ Quy hoạch sử dụng đất cả nước: Được xây dựng căn cứ vào nhu cầu
của nền kinh tế -xã hội, trong đó xác định phương hướng, mục tiêu và nhiệm
vụ sử dụng đất cả nước nhằm điều hòa quan hệ sử dụng đất giữa các ngành, các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương; đề xuất các chính sách, biện pháp, điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và thực hiện quy hoạch
+ Quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh: Xây dựng căn cứ vào Quy
hoạch sử dụng đất đai toàn quốc và quy hoạch vùng; cụ thể hóa các chỉ tiêu chủ yếu của quy hoạch cả nước kết hợp với đặc điểm đất đai và yêu cầu phát triển KT-XH trong phạm vi tỉnh
+ Quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện: Xây dựng trên cơ sở định
hướng của Quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh nhằm giải quyết các mâu thuẫn về quan hệ đất đai Căn cứ vào đặc điểm nguồn tài nguyên đất, mục tiêu dài hạn phát triển kinh tế - xã hội và các điều kiện cụ thể khác của huyện, đề xuất các chỉ tiêu và phân bổ các loại đất; xác định các chỉ tiêu định hướng về đất đai đối với quy hoạch ngành và xã, phường trên phạm vi của huyện
+ Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã: Xã là đơn vị hành chính cấp cuối
cùng Vì vậy, trong quy hoạch cấp xã vấn đề sử dụng đất đai được giải quyết rất cụ thể, gắn chặt với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của xã và các quan hệ ngoài xã Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã là quy hoạch vi mô, được xây dựng dựa trên khung chung các chỉ tiêu định hướng sử dụng đất cấp
Trang 12huyện Kết quả của Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã còn là cơ sở để bổ sung Quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện và là căn cứ để giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài,
để tiến hành dồn điền đổi thửa nhằm thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh cũng như các dự án cụ thể.[7]
1.2.5 Mối quan hệ của quy hoạch sử dụng đất
1 2.5.1 Quan hệ giữa các loại hình quy hoạch sử dụng đất đai
Quy hoạch sử dụng đất đai cả nước và Quy hoạch sử dụng đất đai các cấp lãnh thổ hành chính địa phương cùng hợp thành hệ thống Quy hoạch sử dụng đất đai hoàn chỉnh Quy hoạch của cấp trên là cơ sở và chỗ dựa cho quy hoạch sử dụng đất đai của cấp dưới; quy hoạch của cấp dưới là phần tiếp theo, cụ thể hoá quy hoạch của cấp trên và là căn cứ để điều chỉnh các quy hoạch vĩ mô
Quy hoạch sử dụng đất đai toàn quốc và quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh là quy hoạch chiến lược, dùng để khống chế vĩ mô và quản lý kế hoạch sử dụng đất Quy hoạch cấp huyện phải phù hợp và hài hoà với quy hoạch cấp tỉnh Quy hoạch cấp huyện là giao điểm giữa quy hoạch quản lý vĩ mô và vi mô, quy hoạch cấp xã
là quy hoạch vi mô và làm cơ sở để thực hiện quy hoạch thiết kế chi tiết
1.2.5.2 Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với dự báo chiến lược dài hạn sử dụng tài nguyên đất
Dự báo cơ cấu đất đai (cho lâu dài) liên quan chặt chẽ với chiến lược sử
dụng tài nguyên đất đai, với dự báo sử dụng tài nguyên nước, rừng, dự báo phát triển các công trình thuỷ lợi, thuỷ nông, cơ sở hạ tầng, Chính vì vậy việc dự báo sử dụng đất với mục tiêu cơ bản là xác định tiềm năng để mở rộng diện tích và cải tạo đất nông - lâm nghiệp, định hướng sử dụng đất cho các mục đích chuyên dùng khác phải được xem xét một cách tổng hợp cùng với các dự báo
về phát triển khoa học kỹ thuật, dân số, xã hội trong cùng một hệ thống thống nhất về dự báo phát triển kinh tế - xã hội của cả nước
Dự báo sử dụng tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dự báo tài nguyên đất
Trang 13và các dự báo khoa học kỹ thuật khác cũng như các số liệu về quản lý đất đai là
cơ sở để lập quy hoạch, kế hoạch và thiết kế công trình Tuy nhiên cần hạn chế
sự chồng chéo các biện pháp khi lập dự báo, xây dựng quy hoạch, kế hoạch cũng như trong công tác điều tra khảo sát Việc phức tạp hoá vấn đề sẽ làm nảy sinh các chi phí không cần thiết về lao động và vật tư, đồng thời gây cản trở cho việc thực hiện các dự án quan trọng và bức xúc hơn trong cuộc sống
1.2.5.3 Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là một trong những tài liệu tiền kế hoạch cung cấp căn cứ khoa học cho việc xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Trong đó, có đề cập đến dự kiến sử dụng đất đai ở mức độ phương hướng với một số nhiệm vụ chủ yếu Còn đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai là tài nguyên đất Nhiệm vụ chủ yếu của nó là căn cứ vào yêu cầu của phát triển kinh tế và các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội điều chỉnh cơ cấu và phương hướng sử dụng đất; Xây dựng phương án quy hoạch phân phối sử dụng đất đai thống nhất và hợp lý Như vậy, quy hoạch sử dụng đất đai là quy hoạch tổng hợp chuyên ngành, cụ thể hoá quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, nhưng nội dung của nó phải được điều hoà thống nhất với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội
1.2.5.4 Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch các ngành
- Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất đai với quy hoạch phát triển nông nghiệp
Quy hoạch phát triển nông nghiệp là một trong những căn cứ chủ yếu của quy hoạch sử dụng đất đai Quy hoạch sử dụng đất đai tuy dựa trên quy hoạch và dự báo yêu cầu sử dụng đất của các ngành trong nông nghiệp, nhưng chỉ có tác dụng chỉ đạo vĩ mô, khống chế và điều hoà quy hoạch phát triển nông nghiệp Hai loại quy hoạch này có mối quan hệ qua lại vô cùng mật thiết
và không thể thay thế lẫn nhau
- Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất đai với quy hoạch đô thị
Trang 14Căn cứ vào yêu cầu của kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế - xã hội và phát triển của đô thị, quy hoạch đô thị sẽ định ra tính chất, quy mô, phương châm xây dựng đô thị, các bộ phận hợp thành của đô thị, sắp xếp một cách hợp lý toàn diện, bảo đảm cho sự phát triển đô thị được hài hoà và có trật tự, tạo ra những điều kiện có lợi cho cuộc sống và sản xuất Tuy nhiên, trong quy hoạch đô thị cùng với việc bố trí cụ thể khoảnh đất dùng cho các dự án, sẽ giải quyết cả vấn đề tổ chức và sắp xếp các nội dung xây dựng Quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm xác định chiến lược dài hạn về vị trí, quy
mô và cơ cấu sử dụng toàn bộ đất đai cũng như bố cục không gian (hệ thống
đô thị) trong khu vực quy hoạch đô thị
- Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất đai với quy hoạch các ngành sử dụng đất phi nông nghiệp khác
Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất đai với quy hoạch các ngành là quan hệ tương hỗ vừa phát triển vừa hạn chế lẫn nhau Quy hoạch các ngành
là cơ sở và bộ phận hợp thành của quy hoạch sử dụng đất đai , nhưng lại chịu
sự chỉ đạo và khống chế của quy hoạch sử dụng đất đai Quan hệ giữa chúng
là quan hệ cá thể và tổng thể, cục bộ và toàn bộ, không có sự sai khác về quy
hoạch theo không gian và thời gian ở cùng một khu vực cụ thể (có cả quy
hoạch ngắn hạn và dài hạn) Tuy nhiên chúng có sự khác nhau rất rõ về tư
tưởng chỉ đạo và nội dung: Một bên là sự sắp xếp chiến thuật, cụ thể, cục bộ
(quy hoạch ngành); Một bên là sự định hướng chiến lược có tính toàn diện và toàn cục (quy hoạch sử dụng đất đai )
1.2.6 Nhiệm vụ và nội dung quy hoạch sử dụng đất
Nôi dung quy hoạch sử dụng đất của cả nước theo quy định tại Nghị định
số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai , bao gồm:
- Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội trên địa bàn thực hiện quy hoạch
- Đánh giá hiện trạng và biến động SD đất trong kỳ quy hoạch trước theo
Trang 15- Xây dựng các phương án phân bổ DT các loại đất cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong kỳ quy hoạch
- Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của từng phương án phân
1.2.7 Thẩm quyền lập và quyết định xét duyệt phương án quy hoạch
sử dụng đất
1.2.7.1 Thẩm quyền lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Chính phủ tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước
- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương
Trang 16- Uỷ ban nhân dân huyện thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của thị trấn thuộc huyện
Uỷ ban nhân dân huyện, quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương,
Uỷ ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các đơn vị hành chính cấp dưới, trừ xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị
- Uỷ ban nhân dân xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị trong kỳ quy hoạch sử dụng đất tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương [7]
1.2.7.2 Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước do Chính phủ trình
- Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp
- Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất của xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị [7]
1.2.8 Quy trình lập phương án quy hoạch sử dụng đất cấp huyện
Bước 1: Điều tra, thu thập các thông tin, dữ liệu và bản đồ
Bước 2: Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và biến đổi khí hậu, các chỉ tiêu quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực tác động đến việc sử dụng đất
Bước 3: Phân tích, đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất, biến động
sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ trước và tiềm năng đất đai
Bước 4: Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất
Trang 17Bước 5: Xây dựng kế hoạch sử dụng đất
Bước 6: Xây dựng báo cáo thuyết minh tổng hợp, hoàn chỉnh tài liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trình thông qua, xét duyệt và công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
1.3 Sơ lƣợc về quy hoạch sử dụng đất trên thế giới, tại Việt Nam và tỉnh Tuyên Quang
1.3.1 Quy hoạch sử dụng đất trên thế giới
Công tác quy hoạch sử dụng đất đã được tiến hành từ nhiều năm trước đây với đầy đủ cơ sở khoa học, một số quốc gia ngay từ những năm trước công nguyên họ đã có quy hoạch xây dựng quốc gia mình theo những mô hình hoá Ở một số nước như: Anh, Pháp, Liên Bang Nga đã xây dựng cơ sở
lý luận của ngành quản lý đất đai tương đối hoàn chỉnh và ngày càng tiến bộ Các dự án phát triển vùng đều tiến hành trên sơ đồ cơ cấu kiến trúc – quy hoạch vùng gắn với quy hoạch sử dụng đất, dựa trên phương hướng mục tiêu phát triển của vùng vĩ mô Theo tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), quy hoạch sử dụng đất là bước kế tiếp của phương pháp đánh giá đất Kết quả của việc đánh giá đất sẽ đưa ra một loại hình hợp lý nhất đối với đất đai trong vùng Phương pháp quy hoạch đất đai tuỳ thuộc vào đặc điểm đất đai của từng nước Công tác quy hoạch sử dụng đất tại một số nước trên thế giới như sau:
1.3.1.1 Quy hoạch sử dụng đất đô thị ở Anh
Để bắt tay vào công việc xây dựng lại sau chiến tranh, năm 1947 chính phủ Anh đã sửa đổi và công bố Luật kế hoạch đô thị và nông thôn, trong đó điều thay đổi quan trọng nhất là xác lập chế độ quốc hữu về quyền phát triển và xây dựng chế độ cho phép khai thác Quy định mọi loại đất đều phải đưa vào chế độ quản lý, mọi người nếu muốn khai thác đất đai, trước hết phải được cơ quan quy hoạch địa phương cho phép khai thác, cơ quan quy hoạch địa phương căn cứ vào quy định của quy hoạch phát triển để xem liệu có cho phép hay không Chế độ cho phép khai thác trở thành biện pháp
Trang 18chủ yếu của chế độ quản lý quy hoạch đất đai
1.3.1.2 Quy hoạch sử dụng đất ở Cộng hoà liên bang Đức
Ở Cộng hoà Liên bang Đức, vị trí của quy hoạch sử dụng đất được xác
định trong hệ thống quy hoạch phát triển không gian (theo 4 cấp): Liên bang,
vùng, tiểu vùng và đô thị Trong đó, quy hoạch sử dụng đất được gắn liền với quy hoạch phát triển không gian ở cấp đô thị
Trong quy hoạch sử dụng đất ở Cộng hoà Liên bang Đức, cơ cấu sử dụng đất: Đất nông nghiệp và lâm nghiệp vẫn là chủ yếu, chiếm khoảng 85% tổng diện tích; diện tích mặt nước, đất hoang là 3%; đất làm nhà ở, địa điểm làm việc, giao thông và cơ sở hạ tầng cung cấp dịch vụ cho dân chúng và nền kinh tế - gọi chung là đất ở và đất giao thông chiếm khoảng 12% tổng diện tích toàn Liên bang Tuy nhiên, cũng giống như bất kỳ quốc gia công nghiệp nào có mật độ dân số cao, diện tích đất ở và giao thông ở Đức đang ngày càng gia tăng Diện tích đất giao thông tăng đặc biệt cao từ trước tới giữa thập kỷ
80, trong khi đó, diện tích nhà chủ yếu tăng trong hai thập kỷ vừa qua, đặc biệt là đất dành làm địa điểm làm việc như thương mại, dịch vụ, quản lý hành chính phát triển một cách không cân đối Quá trình ngoại ô hoá liên tục và tốn kém về đất đai cũng góp phần quan trọng vào thực tế này
1.3.1.3 Quy hoạch sử dụng đất ở Cộng hoà liên bang Nga
Quy hoạch sử dụng đất đai ở Cộng hòa Liên bang Nga chú trọng việc
tổ chức lãnh thổ, các biện pháp bảo vệ và sử dụng đất với các nông trang và các đơn vị sử dụng đất nông nghiệp Quy hoạch sử dụng đất của Nga được chia thành hai cấp: quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết
Quy hoạch chi tiết với mục tiêu cơ bản là tổ chức sản xuất lãnh thổ trong các xí nghiệp hàng đầu về sản xuất nông nghiệp như các nông trang, nông trường Nhiệm vụ cơ bản của quy hoạch chi tiết là tạo ra những hình thức tổ chức lãnh thổ sao cho đảm bảo một cách đầy đủ, hợp lý, hiệu quả việc
sử dụng từng khoanh đất cũng như tạo ra những điều kiện cần thiết để làm tăng tính khoa học của việc tổ chức lao động, việc sử dụng những trang thiết
Trang 19bị sản xuất với mục đích là tiết kiệm thời gian và tài nguyên
Quy hoạch chi tiết đưa ra phương án sử dụng đất nhằm bảo vệ và khôi phục độ phì của đất, ngăn chặn hiện tượng xói mòn đất, ngăn chặn việc sử dụng đất không hiệu quả, làm tăng điều kiện lao động, điều kiện sinh hoạt, điều kiện nghỉ ngơi của người dân
1.3.1.4 Quy hoạch sử dụng đất ở Canada
Chính phủ Liên bang đã can thiệp vào quy hoạch cấp trung gian và đưa
ra mục tiêu chung ở cấp quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích các hoạt động lập quy hoạch ở các bang Ngoài ra Chính phủ còn hỗ trợ để có sự tham gia ở các lĩnh vực khác nhau có liên quan tới quá trình lập quy hoạch bao gồm các ngành nông nghiệp, công nghiệp; nhất là vấn đề môi trường ngày càng được quan tâm và bảo vệ
sử dụng đất chi tiết Nội dung của quy hoạch này không quá đi vào chi tiết từng loại đất mà chỉ khoanh định cho các loại đất lớn như: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư, đất cơ sở hạ tầng, đất khác
- Quy hoạch sử dụng đất chi tiết được xây dựng cho vùng lãnh thổ nhỏ hơn tương đương với cấp xã Thời kỳ lập quy hoạch chi tiết là 5-10 năm về nội dung quy hoạch chi tiết rất cụ thể, không những rõ ràng cho từng loại đất, các thửa đất và các chủ sử dụng đất, mà còn có những quy định chi tiết cho các loại đất như về hình dáng, quy mô diện tích, chiều cao xây dựng… Đối với quy hoạch sử dụng đất chi tiết ở Nhật Bản hết sức coi trọng đến việc tham
Trang 20gia ý kiến của các chủ sử dụng đất, cũng như tổ chức thực hiện phương án khi
đã được phê duyệt Do vậy tính khả thi của phương án cao và người dân cũng chấp hành quy hoạch sử dụng đất rất tốt
1.3.1.6 Quy hoạch sử dụng đất đô thị ở Hàn Quốc
Năm 1972 “Luật Sử dụng và Quản lý đất đai quốc gia” chia toàn bộ đất đai cả nước thành 10 loại phân khu sử dụng Đồng thời chỉ định các khu hạn chế phát triển, gọi là đai xanh, trong khu hạn chế này ngoài những vật kiến trúc cần phải duy trì ra, cấm tất cả mọi khai thác Ý đồ dùng sự ngăn cách của các đai xanh để khống chế sự phát triển nhảy cóc, bảo vệ đất nông nghiệp và các điều kiện nghỉ ngơi, giải trí; đảm bảo cung ứng đất làm nhà ở một cách hợp lý “Kế hoạch 10 năm về phát triển tổng hợp toàn quốc”, mục đích là phân tán nhân khẩu của đô thị lớn, đồng thời phối hợp với “phương án phát triển khu vực” để kích thích tăng trưởng của vùng sâu, vùng xa, thu hút nhân khẩu quay về Theo “kế hoạch quản lý khu vực thủ đô” của Nam Hàn đưa ra năm 1981, thì cấm tiến hành khai thác quy mô lớn ở thủ đô để tránh việc nhân khẩu ồ ạt đổ vào, sau đó là dùng phương thức chế độ quản lý tổng ngạch khống chế số lượng chiêu sinh đại học khu vực Hán Thành Trên thực tế, Hàn Quốc sau gần 30 năm nỗ lực, cuối cùng vẫn đối mặt với thất bại Dùng “chính sách đai xanh” lại làm cho giá nhà tăng cao, tạo thành tiền bồi thường đất đai quá cao, việc thu hồi đất đai để xây dựng công trình công cộng của chính phủ gặp khó khăn và bế tắc
1.3.1.7 Quy hoạch sử dụng đất ở Trung Quốc
Trung Quốc là nước nằm trong vùng Đông Á có diện tích tự nhiên là 9.597 nghìn km2, dân số hơn 1,2 tỷ người Trung Quốc coi trọng việc phát triển kinh tế - xã hội bền vững, công tác bảo vệ môi trường luôn được quan tâm lồng ghép và thực hiện đồng thời với phát triển kinh tế - xã hội Trong kế hoạch hàng năm, kế hoạch dài hạn của Nhà nước, của các địa phương đều được dành một phần hoặc một chương mục riêng về phương hướng, nhiệm vụ
và biện pháp để phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sử dụng tiết kiệm và
Trang 21hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tài nguyên đất Đến nay Trung Quốc đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất từ tổng thể đến chi tiết cho các vùng và địa phương theo hướng phân vùng chức năng (khoanh định
sử dụng đất cho các mục đích) gắn với nhiệm vụ bảo vệ môi trường
1.3.1.8 Quy hoạch sử dụng đất ở Malaysia
Quy hoạch phát triển kinh tế lãnh thổ được tiến hành mạnh từ năm
1972, Quốc hội phê chuẩn thành lập 7 vùng Cùng với sự chỉ đạo của Bộ Tài nguyên đất và phát triển vùng ở Trung ương, mỗi vùng có cơ quan phát triển vùng chỉ đạo trực tiếp các trọng điểm, soạn thảo chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đưa ra các quyết định ngân sách đảm bảo thực thi các dự án như một động lực thúc đẩy mọi hoạt động sản xuất, lưu thông phân phối trong công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và kết cấu hạ tầng xã hội, gắn kết các đô thị lớn thành mạng lưới các cực tăng trưởng trong phát triển vùng và các điểm dân cư ở các vùng biên giới
1.3.1.9 Quy hoạch sử dụng đất ở Thái Lan
Quy hoạch sử dụng đất ở nước này được tiến phân theo 3 cấp đó là: cấp quốc gia, cấp vùng, cấp địa phương Quy hoạch nhằm cụ thể hoá các trường kinh tế xã hội của Hoàng gia Thái Lan, gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý nhà nước phối hợp với chính phủ và chính quyền địa phương [19]
1.3.2 Quy hoạch sử dụng đất tại Việt Nam
1.3.2.1 Khái quát chung về tình hình quy hoạch sử dụng đất
Ở nước ta công tác quy hoạch phân bổ sử dụng đất đai là một ngành non trẻ, kinh nghiệm thực tế còn ít, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật và công tác thiết kế xây dựng các đồ án quy hoạch còn hạn chế Tuy nhiên trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã quan tâm chú trọng đầu tư cho công tác quy hoạch đáp ứng nhu cầu đòi hỏi thực tế sản xuất, chúng ta đã và đang từng bước tiến hành khắc phục những khó khăn để quy hoạch phân bố vùng lãnh thổ
Trang 22Miền Bắc quy hoạch sử dụng đất đai xúc tiến từ năm 1962 cho ngành chủ quản và cấp tỉnh, huyện tiến hành và được đan xen vào công tác phân vùng quy hoạch nông lâm nghiệp cho vùng lãnh thổ, nhưng thiếu sự phối hợp của các ngành
có liên quan, chủ trương của quy hoạch đất đai là xác định phương hướng phát triển ngành nông nghiệp - lâm nghiệp cho vùng lãnh thổ chỉ được ngành chủ quản thông qua Trong công tác quy hoạch thì về khía cạnh pháp lý không được đặt ra và cũng không được thực hiện Vấn đề xây dựng quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo một cách chặt chẽ bằng các văn bản pháp luật và coi như là một luận chứng cho phát triển của nền kinh tế đất nước, điều này thể hiện rõ trong từng giai đoạn
- Thời kỳ 1975 - 1980
Sau năm 1975, trong cơ chế bao cấp, công tác quy hoạch sử dụng đất
đã được đẩy mạnh gắn liền với việc hợp tỉnh huyện và xây dựng thành pháo đài Cả nước đi vào sắp xếp lại đất nước, tạo ra các vùng kinh tế lớn
Hội đồng chính phủ đã thành lập ban chỉ đạo phân vùng quy hoạch nông lâm nghiệp Trung ương để triển khai công tác này trên phạm vi cả nước Kết quả là đến cuối 1978 các phương án phân vùng nông lâm nghiệp công nghệ chế biến nông sản của cả nước trong 7 vùng kinh tế và của tất cả các tỉnh đã lập và được chính phủ phê duyệt, trong các phương án trên đều đề cập đến quy hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp và coi đó là một luận chứng quan trọng để phát triển ngành
Tuy nhiên do mục đích đề ra ngay từ đầu là chỉ để phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp cho nên các loại đất khác chưa đề cập đến và còn khoảng 3 triệu ha ở miền núi cao chưa tiến hành phân bổ sử dụng, mặt khác do còn thiếu nhiều tài liệu điều tra cơ bản, thổ nhưỡng và chưa tính được khả năng đầu tư nên tính khả thi của các phương án còn thấp
- Thời kỳ 1981- 1986
Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V đã chỉ rõ: „„xúc
tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập tổng hợp sơ đồ phát triển và phân
Trang 23bố lực lượng sản xuất nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạch triển vọng để chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm lần thứ 4 (1986 - 1990)‟‟
Chủ tịch hội đồng bộ trưởng đã yêu cầu các ban ngành, các địa phương, các
cơ quan khoa học tập trung chỉ đạo triển khai chương trình tổng hợp sơ đồ phát triển
và phân bố lực lượng sản xuất ở Việt Nam đến 1986 - 1990 cũng như trong thời kỳ này hầu hết các của cả nước đã tiến hành xây dựng quy hoạch tổng thể huyện
Một trong những mục đích và yêu cầu đặt ra đối với tổng sơ đồ phải là
cơ sở cho việc tiến hành quy hoạch xây dựng vùng như xây dựng khu công nghiệp, khu du lịch, xây dựng thành phố, thị xã, thị trấn
Để đáp ứng yêu cầu trên đòi hỏi quy hoạch sử dụng đất đai phải đi trước một bước về nội dung và cơ sở khoa học trong tổng sơ đồ phát triển Xuất phát từ cơ sở lý luận đó Quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ hành chính đã được đề cập đến ở huyện, tỉnh và cả nước mặc dù chưa đầy đủ Còn quy hoạch sử dụng đất cấp xã chưa được đề cập đến ở thời kỳ này chủ yếu là quy hoạch hợp tác xã nông nghiệp
- Thời kỳ Luật đất đai đầu tiên năm 1987 đến trước Luật đất đai 1993
Năm 1987, Luật Đất đai lần đầu tiên được ban hành và có hiệu lực từ
1988 Trong đó có một số điều nói về quy hoạch đất đai Tuy nhiên Luật Đất đai 1988 chưa nêu ra nội dung quy hoạch Ngày 15/04/1991 Tổng cục Quản
lý ruộng đất đã đưa ra Thông tư số 106 QHKH/RĐ hướng dẫn lập quy hoạch
sử dụng đất đai Đây là thông tư đầu tiên của Tổng cục kể từ khi thành lập quy hoạch sử dụng đất đai một cách tương đối cụ thể
Công tác nói chung của quy hoạch sau một thời kỳ triển khai tương đối rầm rộ, công tác quy hoạch cũng chưa được xúc tiến theo luật đã quy định Tình hình này do nền kinh tế nước ta đang đứng trước những khó khăn và thử thách lớn Khi chuyển sang cơ chế thị trường thì công tác quy hoạch này có cần nữa hay không là một vấn đề cần đặt ra
Đây là thời kỳ công cuộc đổi mới nông thôn diễn ra sâu sắc cùng với việc giảm vai trò quản lý tập trung của HTX sản xuất nông nghiệp, tăng quyền tự chủ cho hộ nông dân
Trang 24và thực thi các chính sách đổi mới khác, công tác quy hoạch sử dụng đất đai ở xã là vấn đề cấp bách về giao đất, cấp đất giãn dân và một số nơi có xu hướng đô thị hoá rõ rệt
Đây là mốc đầu tiên triển khai quy hoạch sử dụng đất đai ở cấp xã diễn ra hầu hết khắp phạm vi cả nước nhưng còn nhiều hạn chế về nội dung
và phương pháp
- Thời kỳ sau Luật Đất đai 1993 đến Luật Đất đai 2003 ra đời
Ngày 14/07/1993 Luật Đất đai được công bố Trong luật này các điều khoản nói về quy hoạch đã được cụ thể hoá hơn so với Luật Đất đai 1988, và từ năm 1993 trở đi công tác quy hoạch đã được chú trọng nhiều hơn
Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai ngày 02/12/1988 và luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai ngày 29/06/2001 cũng như công tác ban hành Các điều khoản trong luật này đã khẳng định công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai là cần thiết
+ Nghị định số 04/2000/NĐ-CP quy định về thi hành luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai ban hành ngày 02/12/1998
+ Sau đại hội Đảng lần thứ VII năm 1992, nhà nước ta triển khai công tác nghiên cứu chiến lược phát triển, quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội ở hầu hết 53 tỉnh, thành phố trực thuộc TW, 8 vùng kinh tế, các vùng trọng điểm và quy hoạch phát triển ngành ở hầu hết các bộ, ngành
+ Các công trình nghiên cứu này tính đến 2020 phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong vòng 10 - 15 năm tới Việc nghiên cứu triển khai quy hoạch sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước đang là vấn đề bức xúc của các ngành các cấp và mọi thành viên xây dựng hưởng ứng
+ Đây là cái mốc bắt đầu của thời kỳ công tác quản lý đất đai vào nề nếp, sau một thời gian dài tuyệt đối hoá về công hữu đất đai ở miền Bắc và buông lỏng công tác này ở các tỉnh phía nam dẫn đến tình trạng quá nhiều diện tích đất không có chủ sử dụng đất
- Thời kỳ sau Luật Đất đai 2003 đến nay
Sau khi Luật Đất đai 2003 được công bố đã có rất nhiều các văn bản dưới
Trang 25Luật ra đời, hướng dẫn thi hành Luật như :
Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành luật đất đai 2003;
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP, ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT, ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
1.3.2.2 Việc lập, quản lý và thực hiện quy hoạch sử dụng đất
* Quy hoạch sử dụng đất cả nước
- Chính phủ đã lập Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2005 của cả nước trình Quốc hội Khóa XI, Kỳ họp thứ 5 và được thông qua tại Nghị quyết số 29/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004; kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2006 - 2010 của cả nước đã được Quốc hội Khóa XI, Kỳ họp thứ 9 thông qua tại Nghị quyết số 57/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006
- Cả nước chỉ có 7 tỉnh, thành phố cơ bản hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất ở 3 cấp xã, huyện, tỉnh; ngoài ra còn có 13 tỉnh đang hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở 2 cấp xã, huyện Có 16 tỉnh đã triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã nhưng kết quả đạt được còn thấp (dưới 50% số xã) gồm Lai Châu, Yên Bái, Cao Bằng, Hà Nội, Hà Nam, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng
Trang 26- Đối với đất quốc phòng, an ninh: Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài nguyên
và Môi trường phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiến hành rà soát quy hoạch sử dụng đất đối với tất cả các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, đến nay đã hoàn thành trên phạm vi cả nước
* Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh
Trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước, các tỉnh đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm của địa phương Đến nay cả nước đã có 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm
2010 được Chính phủ xét duyệt
* Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện
- Cả nước có 531/681 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là huyện) hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 (chiếm 77,97%); 98 huyện đang triển khai (chiếm 14,4%); còn lại
52 huyện chưa triển khai (chiếm 7,64%), phần lớn là các đô thị (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh)
- Cả nước có 20 tỉnh đã hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện Một số tỉnh triển khai chậm như Phú Thọ, Gia Lai, Bình Định, Đồng Tháp, An Giang và thành phố Cần Thơ
* Quy hoạch sử dụng đất cấp xã
Cả nước có 7.576/11.074 xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã) đã lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 (đạt 68,41%); 1.507 xã đang triển khai (đạt 13,61%); còn lại 1.991 xã chưa triển khai (chiếm 17,98%)
Như vậy, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp thực hiện còn chậm so với yêu cầu của Luật Đất đai, đặc biệt là công tác lập quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất cấp huyện và cấp xã [1]
1.3.3 Công tác quy hoạch sử dụng đất tỉnh Tuyên Quang
1.3.3.1 Tình hình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp
Trang 27Trước khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn tỉnh triển khai rất chậm: Quy hoạch
sử dụng đất cấp tỉnh triển khai lập từ năm 2001 nhưng chưa hoàn thành; Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện chưa được triển khai; Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết cấp xã mới triển khai lập ở 20/145 xã, phường, thị trấn (Chiêm Hoá 5 xã, Hàm Yên 5 xã, Yên Sơn 5 xã, Sơn Dương 5 xã) nhưng mới được phê duyệt 05 xã trên địa bàn huyện Hàm Yên
Thực hiện Luật Đất đai năm 2003, tỉnh Tuyên Quang đã tập trung chỉ đạo hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã giai đoạn đến năm 2010 Tình hình triển khai cụ thể như sau:
- Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh:
Tỉnh Tuyên Quang được Tổng cục Địa chính trước đây phê duyệt Dự án và
Tổng dự toán Dự án lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Tuyên Quang đến
2010 tại Quyết định số 359/QĐ-TCĐC ngày 18/9/2000 và Quyết định số TCĐC ngày 18/9/2000 Tổng kinh phí thực hiện là 310 triệu đồng do đơn vị tư vấn (Trung tâm Quy hoạch đất đai thuộc Tổng cục Địa chính) thực hiện
360/QĐ-Trong quá trình tổ chức thực hiện có sự sửa đổi, bổ sung của hệ thống pháp luật về đất đai, trong đó có thay đổi về nội dung và trình tự lập quy hoạch sử dụng đất Do vậy, ngày 16/8/2005 Uỷ ban nhân dân tỉnh có Tờ trình
số 31/TTr-UBND trình Chính phủ phê duyệt quy hoạch sử dụng đất tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010 và đã được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết
số 08/2006/NQ-CP ngày 26/5/2006
- Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp xã:
Thực hiện Nghị quyết số 08/2006/NQ-CP ngày 26/5/2006 của Chính phủ
Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo và bố trí kinh phí 12.472 triệu đồng từ nguồn ngân sách tỉnh, phân bổ cho các huyện, thị xã và các xã phường, thị trấn để thực hiện việc lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp xã giai đoạn đến 2010
Theo chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân huyện, thị xã
và Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn thuộc tỉnh đều quyết định thành lập
Trang 28Ban chỉ đạo lập quy hoạch sử dụng đất và ký hợp đồng với đơn vị tư vấn có
đủ năng lực và tư cách pháp nhân để triển khai thực hiện
Đến năm 2008 toàn bộ phương án quy hoạch sử dụng đất của 6/6 huyện, thị
xã, 21/21 phương án quy hoạch, kế hoạch chi tiết của các xã, phường, thị trấn thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị và 118/118 xã không thuộc khu vực phát triển đô thị (riêng thị trấn Tân Bình, huyện Yên Sơn có diện tích tự nhiên trùng diện tích đất nhà máy Z113 là đất quốc phòng do vậy không lập quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất chi tiết đến 2010) đã được phê duyệt
1.3.3.2 Việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn đến năm 2010 không lập được kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 Quá trình thực hiện, phương án quy hoạch đã đảm bảo phù hợp và đáp ứng được tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phưong nên không phải điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong kỳ quy hoạch
1.3.3.3 Tình hình quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Việc bố trí tổ chức và cán bộ làm công tác lập quy hoạch sử dụng đất: + Đối với cấp tỉnh: Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập Ban chỉ đạo lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; giao Sở Tài nguyên và Môi trường phân công cán bộ chuyên trách theo dõi công tác quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất; Thành lập Trung tâm Đo đạc bản đồ và Quy hoạch đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường có đủ năng lực để thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
+ Đối với cấp huyện, cấp xã: Uỷ ban nhân dân huyện thành lập Ban chỉ đạo và Ban Quản lý dự án lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện, thị xã để triển khai việc lập và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật; Uỷ ban nhân dân xã, phường thị trấn thành lập Ban chỉ đạo lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã, phường, thị trấn; giao nhiệm vụ cho cán bộ địa chính xã theo dõi và quản lý chặt chẽ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt
Trang 29- Công tác thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Quá trình triển khai thực hiện, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện nghiêm công tác thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai Việc thẩm định hồ sơ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã đảm bảo hiệu quả của phương án quy hoạch sử dụng đất, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương
1.3.3.4 Một số chỉ tiêu chính trong phương án quy hoạch sử dụng đất tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010
Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tốc độ đô thị hoá và nhu cầu sử dụng đất phát triển các ngành lĩnh vực trên địa bàn Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010 phân bổ những chỉ tiêu chính như sau:
* Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp:
- Đất sản xuất nông nghiệp: Hiện trạng năm 2005 có 70.194,82ha, quy hoạch năm 2010 có 48.273,00 ha
- Đất lâm nghiệp được quy hoạch theo 3 loại rừng (Rừng sản xuất, rừng phòng phòng hộ và rừng đặc dụng) Theo đó đến năm 2010 cơ cấu đất lâm nghiệp của tỉnh Tuyên Quang như sau:
+ Đất rừng sản xuất: Tổng diện tích là 171.012 ha, trong đó diện tích đã
có rừng 155.489 ha; đất khoanh nuôi, trồng rừng sản xuất 15.523 ha
+ Đất rừng phòng hộ: Tổng diện tích là 159.098 ha, trong đó diện tích
đã có rừng 130.261 ha; diện tích khoanh nuôi, trồng rừng phòng hộ 28.837 ha
+ Đất rừng đặc dụng: Tổng diện tích là 115.034 ha
- Đất nuôi trồng thuỷ sản: Quy hoạch đến năm 2010 có 1.910 ha chuyên nuôi trồng thủy sản gồm diện tích các ao hồ lớn nhỏ trong nhân dân Ngoài ra sẽ chuyển 900 ha đất trồng lúa 2 vụ lầy thụt sang trồng 1 vụ lúa và nuôi 1 vụ cá Sử dụng mặt nước hồ thủy điện khoảng 8.000 ha và diện tích sông suối để nuôi thủy sản kết hợp
- Đất nông nghiệp khác: Quy hoạch năm 2010 có 4.342 ha
Trang 30* Quy hoạch đất phi nông nghiệp:
- Đất ở nông thôn: Hiện trạng đất khu dân cư nông thôn năm 2005 là 24.120 ha Chỉ tiêu quy hoạch đến năm 2010 là 23.940 ha, trong đó trong kỳ quy hoạch, đất khu dân cư nông thôn chuyển sang đất đô thị tổng số 1.449 ha
do việc mở rộng nội thị xã Tuyên Quang và thành lập mới thị trấn huyện lỵ Yên Sơn, chuyển sang đất chuyên dùng 409 ha chủ yếu do ngập lòng hồ thuỷ điện Tuyên Quang
- Quy hoạch sử dụng đất ở tại đô thị: Hiện trạng (2003) đất ở tại đô thị toàn tỉnh có 363 ha, chiếm 4% diện tích đất đô thị, bình quân đầu người đạt 54 m2 Riêng thị xã Tuyên Quang, đất ở chiếm 33,96% diện tích đất đô thị và bình quân đầu người là 52 m2 Quy hoạch đến năm 2010, đất ở đô thị toàn tỉnh 918 ha, chiếm 5,80% diện tích đất đô thị, bình quân đầu người là 51 m2 Riêng thị xã Tuyên Quang, đất ở chiếm 9,43% diện tích đất đô thị và bình quân đầu người đạt 51,5 m2 So với năm 2003, đất ở đô thị năm 2010 tăng 555 ha, trong đó đất ở nông thôn được đô thị hoá 313 ha, diện tích đất bố trí mới 242 ha
- Đất chuyên dùng
+ Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp: Quy hoạch đến năm 2010
có 330 ha, tăng 50 ha so với hiện trạng năm 2003 Trong kỳ quy hoạch bố trí tăng thêm 59 ha để xây dựng thêm các công trình trên địa bàn các cấp lãnh thổ trong toàn tỉnh
+ Đất quốc phòng, an ninh: Hiện trạng năm 2003 có 1.989 ha, quy hoạch năm 2010 là 2.613 ha, tăng 624 ha so với hiện trạng, cụ thể: Đất quốc phòng 2.317 ha, Đất an ninh 296 ha
+ Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp: Năm 2003 có 821 ha, quy hoạch năm 2010 là 3.499 ha, tăng 2.678 ha so với hiện trạng Đất khu công nghiệp 1184 ha Đất cơ sở sản xuất kinh doanh 835 ha
+ Đất cho hoạt động khoáng sản: Diện tích đất khai thác khoáng sản đến năm 2010 phân theo huyện: Sơn Dương 550 ha; Yên Sơn 258 ha; thị xã Tuyên Quang 59 ha; Chiêm Hoá 44 ha,
Trang 31+ Đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ: Năm 2010 có 531 ha, tăng
+ Đất để chuyển dẫn năng lượng, truyền thông: Hiện trạng năm 2003
có 37 ha, quy hoạch năm 2010 là 54 ha;
+ Đất cơ sở văn hoá: Hiện trạng năm 2003 có 82 ha, quy hoạch đến năm 2010 là 211 ha
+ Đất cơ sở y tế: Hiện trạng năm 2003 có 66,00 ha; quy hoạch năm 2010 là 49,23 ha + Đất cơ sở giáo dục - đào tạo: Hiện trạng năm 2003 có 557 ha, quy hoạch năm 2010 có 639 ha
+ Đất cơ sở thể dục - thể thao: Hiện trạng năm 2003 là 189 ha, bình quân đầu người 2,67 m2; Quy hoạch đến năm 2010 là 284 ha, bình quân đầu người 3,7 m2
+ Đất chợ: Hiện trạng năm 2003 có 21 ha, quy hoạch năm 2010 có 59 ha + Đất di tích, danh thắng: Hiện trạng năm 2003 có 31 ha, quy hoạch năm 2010 là 206 ha
+ Đất bãi thải, xử lý chất thải: Quy hoạch năm 2010 loại đất này có 79
ha phân bố ở nhiều nơi, chủ yếu để giải quyết rác thải và nước thải sinh hoạt của các đô thị Riêng nhu cầu loại đất này đối với TX Tuyên Quang bố trí một vị trí rộng khoảng 50 ha cách xa trung tâm (khu vực xã Nhữ Hán - Nhữ Khê, huyện Yên Sơn)
+ Đất tôn giáo, tín ngưỡng: Đất tôn giáo, tín ngưỡng trong kỳ quy hoạch giữ nguyên hiện trạng là 16 ha
+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa: Diện tích năm 2003 có 838 ha, quy hoạch đến năm 2010 có 927 ha
+ Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng: Hiện trạng năm 2003, đất
Trang 32sông suối và mặt nước chuyên dùng (có 440 hồ) có 17.194 ha Quy hoạch đến năm 2010 có 21.902 ha
+ Đất phi nông nghiệp khác: Đến năm 2010, đất phi nông nghiệp khác toàn tỉnh có 68 ha
* Quy hoạch đất chưa sử dụng:
Năm 2003 đất chưa sử dụng có 31.159 ha Quy hoạch đến năm 2010 còn 21.010 ha, trong đó: Đất đồi núi chưa sử dụng 16.773 ha, chiếm 79,83% diện tích đất chưa sử dụng; đất núi đá không có rừng cây 4.237 ha, chiếm 20,17%
1.3.4 Đánh giá công tác quy hoạch sử dụng đất tại một số dự án trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang
Trong kỳ quy hoạch một số tổ chức được nhà nước giao đất, cho thuê đất
để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền, hoặc tiến độ sử dụng chậm hơn 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư
mà không được cơ quan có thẩm quyền cho phép, cụ thể:
1.3.4.1 Công ty cổ phần bò sữa Tuyên Quang
Công ty cổ phần sữa Tuyên Quang được Tổng Công ty sữa Việt Nam phê duyệt dự án tại Quyết định số 682/QĐ-DA ngày 02 tháng 6 năm 2006 với thời gian khởi công xây dựng quý IV năm 2006 đến quý IV năm 2007 Quy hoạch nhà máy chế biến sữa nằm trong quy hoạch tổng thể cụm công nghiệp Long - Bình - An Với quy mô như sau:
- Tổng diện tích dự án: 40.000 m2
- Vị trí, địa điểm: Tại thôn khe xoan và thôn Khe Cua, xã Đội Cấn, huyện Yên Sơn Tại Quyết định số 286/QĐ-UBND ngày 08 tháng 9 năm 2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc thu hồi và giao đất xây dựng Nhà máy chế biến sữa Tuyên Quang tại cụm các khu công nghiệp - dịch vụ - đô thị Long - Bình - An,
xã đội cấn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tổng diện tích thu hồi, giao đất 40.000 m2 Giao công ty cổ phần bò sữa Tuyên Quang quản lý để sử dụng vào mục đích xây dựng Nhà máy chế biến sữa Tuyên Quang Thời hạn giao là 50 năm
Nhưng hiện tại Công ty cổ phần bò sữa Tuyên Quang không còn nhu cầu
Trang 33sử dụng và có báo cáo số 01/BC-CTCPBSTQ ngày 15 tháng 01 năm 2008 về việc đề nghị xin trả lại diện tích trên cho UBND tỉnh quản lý và phân bổ sử dụng theo quy định hiện hành
Nhu vậy, việc sử dụng đất của Công ty cổ phần bò sữa Tuyên Quang tại khu đất có vị trí thôn khe xoan và thôn Khe cua, xã Đội Cấn, huyện Yên Sơn với diện tích đã được giao 40.000 m2 theo Quyết định số 286/QĐ-UBND ngày 08 tháng 9 năm 2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang nay đã quá thời hạn
12 tháng liền Công ty cổ phần bò sữa Tuyên Quang không đầu tư xây dựng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép Hành vi trên vi phạm điều 15 luật đất đai năm 2003 “những hành vi bị nghiêm cấm…”
1.3.4.2 Khu dân cư Đội 6, xã Đội Cấn, huyện Yên Sơn (UBND huyện Yên Sơn làm chủ đầu tư)
Uỷ ban nhân dân huyện Yên Sơn phê duyệt quy hoạch chi tiết tổng mặt bằng xây dựng khu dân cư Đội 6, xã Đội Cấn, huyện Yên Sơn tại Quyết định số 984/QĐ-CT ngày 01 tháng 4 năm 2007 Với quy mô như sau:
- Tổng diện tích quy hoạch: 34.086 m2
- Vị trí, địa điểm: tại Đội 6, xã đội cấn, huyện yên sơn
- Thời giann thực hiện hết quý IV năm 2008
Nhưng đến tháng 11 năm 2009 chủ đầu tư mới thực hiện được việc san nền trên diện tích đất được giao xây dựng khu dân cư là 10.300 m2 Chưa đầu tư xây dựng công trình Lý do:
Tại quyết định số 294/QĐ-UBND ngày 16 tháng 9 năm 2007 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc phê duyệt quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp - dịch vụ -
đô thị Long Bình An, khu đất quy hoạch để xây dựng khu dân cư Đội 6, xã Đội Cấn do UBND huyện Yên Sơn làm chủ đầu tư đã nằm trong khu 1, thuộc các khu công nghiệp Long Bình An được bố trí xây dựng các nhóm nhà máy: sản xuất tấm lợp, xà gồ thép kim loại đồ dùng nox, nhà máy triết nạp ga, nhà máy sản xuất bao bì, nhà máy sản xuất gạch lát ngoài trời Vì vậy, việc quy hoạch xây dựng khu dân cư Đội 6, xã Đội Cấn của UBND huyện Yên Sơn không còn phù hợp và không thể thực hiện
Trang 341.3.4.3 Nhà máy xi măng công xuất 200.000 tấn clinke/năm (chủ đầu tư Công ty cổ phần công nghiệpTtuyên quang)
Nhà máy xi măng công xuất 200.000 tấn clinke/năm được Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang phê duyệt quy hoạch tổng mặt bằng xây dựng nhà máy tại Quyết định số 52/QĐ-UB ngày 22 tháng 4 năm 2006, giao cho Công ty đường (nay là Công ty phát triển công nghiệp Tuyên Quang) làm chủ đầu tư Với quy mô như sau:
- Tổng diện tích dự án: 252.870 m2
- Vị trí, địa điểm: tại xóm 1, 2 xã nông tiến, thị xã tuyên quang
- Thời gian thực hiện: hết quý IV năm 2007
Theo báo cáo số 01/BC-CTPTCN ngày 23 tháng 06 năm 2008 của Công
ty phát triển công nghiệp Tuyên Quang thì chủ trương đầu tư xây dựng nhà máy vào năm 2006-2007;
Tại Quyết định số 57/2003/QĐ-UB ngày 03 tháng 5 năm 2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc thu hồi và thuê đất xây Nhà máy xi măng công xuất 200.000 tấn clinke/năm, tại xã nông tiến, thị xã Tuyên Quang, tổng diện tích thu hồi đất 252.870 m2 giao cho Công ty phát triến công nghiệp Tuyên Quang thuê trong thời hạn 50 năm Đến tháng 8 năm 2009 Công ty phát triển công nghiệp Tuyên Quang không còn nhu cầu sử dụng khu vự đất được thuê với diện tích 252.870m2
và đã có báo cáo số 01/BC-CTPTCN ngày 23 tháng 8 năm 2009 về việc báo cáo tình hình quản lý và sử dụng đất tại khu vực xây dựng Nhà máy xi măng công suất 200.000 tấn clinke/năm, tại xã nông tiến, thị xã Tuyên Quang đồng thời đề nghị xin trả lại diện tích trên cho UBND tỉnh quản lý và phân bổ sử dụng theo quy định hiện hành
Như vậy, Công ty phát triển công nghiệp Tuyên Quang không đầu tư xây dựng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đã quá thời hạn 24 tháng liền hành vi trên vi phạm điều 15 luật đất đai năm 2003
“những hành vi bị nghiêm cấm…”
Trang 35Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu việc thực hiện các tiêu chí trong phương án quy hoạch sử dụng đất tại huyện Chiêm Hóa đến năm 2010 (giai đoạn 2006- 2010), thể hiện trên toàn bộ diện tích tự nhiên và các loại đất trong địa giới hành chính huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Trong phạm vi địa giới hành chỉnh của huyện
Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang;
- Phạm vi về nội dung: Các chỉ tiêu về thực hiện quy hoạch theo các loại đất;
các chỉ tiêu về hiệu quả của việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành từ tháng 7 năm
2011 đến tháng 10 năm 2012
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại huyện Chiêm
Hoá, tỉnh Tuyên Quang và hoàn thiện tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
2.3 Nội dung nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất huyện Chiêm Hóa đến năm 2010 (giai đoạn 2006 – 2010) đối với từng loại đất cụ thể, từ đó rút ra những ý kiến xác thực về nội dung hoàn thành các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã đề ra, mức độ hợp lý hay bất hợp lý trong các chỉ tiêu kế hoạch đã đề xuất điều chỉnh một số nội dung của phương
án quy hoạch sử dụng đất không theo kịp những biến động trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Do đó nội dung của đề tài sẽ tập trung phân tích các vấn đề sau:
2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Chiêm Hoá
* Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường:
Trang 36- Điều kiện tự nhiên;
- Các nguồn tài nguyên;
- Thực trạng môi trường
* Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội:
- Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế;
- Thực trạng phát triển các ngành kinh tế;
- Dân số, lao động, việc làm và thu nhập;
- Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn
* Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội;
- Những thuận lợi, lợi thế;
- Những khó khăn, hạn chế
2.3.2 Tình hình quản lí và sử dụng đất của huyện Chiêm Hoá
* Thực trạng bộ máy, cán bộ ngành quản lí đất đai của huyện Chiêm Hoá
* Hiện trạng sử dụng đất huyện Chiêm Hoá năm 2011
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2011, chia ra các nhóm đất: Nhóm đất nông nghiệp; Nhóm đất phi nông nghiệp; Nhóm đất chưa sử dụng
* Tình hình quản lí đất đai của huyện Chiêm Hoá trong thời kỳ thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất
2.3.3 Đánh giá công tác thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-2010 h uyện Chiêm Hóa
2.3.3.1.Tóm tắt về quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006-2010
- Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp
+ Đất sản xuất nông nghiệp
+ Đất lâm nghiệp
+ Đất nuôi trồng thuỷ sản
+ Đất nông nghiệp khác
- Quy hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp
- Quy hoạch sử dụng đất chưa sử dụng:
2.3.3.2 Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất
2.3.3.3 Đánh giá hiệu quả của việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất
- Hiệu quả về mặt kinh tế;
- Hiệu quả về mặt xã hội;
Trang 37- Hiệu quả về bảo vệ môi trường
2.3.3.4 Đánh giá công tác quản lý trong kỳ quy hoạch
* Đánh giá việc công khai quy hoạch sử dụng đất
- Đánh giá việc công khai quy hoạch
- Đánh giá việc công khai quy hoạch theo phiếu điều tra
* Đánh giá việc kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch sử dụng đất
- Đánh giá việc kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch
- Đánh giá việc kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch theo phiếu điều tra
2.3.3.5 Những thuận lợi, khó khăn, nguyên nhân và giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất
- Giải pháp nâng cao chất lượng phương án quy hoạch sử dụng đất;
- Giải pháp về khoa học, kỹ thuật
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
* Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Điều tra, thu thập các số liệu, tài liệu, bản đồ có liên quan đến điều kiện tự
nhiên, kinh tế xã hội, hiện trạng sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch sử
dụng đất và các tài liệu, số liệu khác có liên quan đến đánh giá kết quả thực hiện
quy hoạch sử dụng đất huyện Chiêm Hoá từ các cơ qua hữu quan như: Phòng
Tài nguyên và Môi trường huyện Chiêm Hóa, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở
Kế hoạch Đầu tư, Sở Tài chính, Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang…
* Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
Trang 38- Điều tra ở các xã, thị trấn trong huyện, mỗi đơn vị điều tra 3 nhóm là: + Nhóm 1: Cán bộ công chức
+ Nhóm 2: Người dân phi nông nghiệp
+ Nhóm 3: Người dân nông nghiệp
Mỗi nhóm điều tra 30 người
- Phỏng vấn những người có trách nhiệm về quản lý quy hoạch, giám sát quy hoạch, triển khai thực hiện quy hoạch ở địa phương Qua đó tìm hiểu những mặt được và chưa được cũng như những nguyên nhân, giải pháp khắc phục cho những tồn tại công tác triển khai thực hiện quy hoạch
* Phương pháp chuyên gia
Tranh thủ tham vấn ý kiến của những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm (Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây dựng, Lãnh đạo UBND huyện, cán bộ lãnh đạo các ban ngành của huyện, cán
bộ địa chính các xã phường) trong lĩnh vực lập quy hoạch, quản lý quy hoạch
và giám sát quy hoạch để trao đổi về cách nhìn nhận, đánh giá cũng như những gợi ý đề xuất về giải pháp
2.4.2 Phương pháp tổng hợp, xử lí, đánh giá và phân tích số liệu
* Phương pháp thống kê và phân tích, xử lý số liệu:
Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập được, cập nhật các số liệu đã được tổng kết, sử dụng và đã được phê duyệt, tiến hành phân nhóm, thống kê diện tích, công trình, dự án đã thực hiện theo quy hoạch, hoặc chưa thực hiện theo quy hoạch; tổng hợp phân tích các yếu tố tác động đến kết quả triển khai thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất Số liệu được xử lý trên Excel để loại bỏ những số liệu không cần thiết để có số liệu đúng với thực tế và đúng với hiện trạng sử dụng đất; đối chiếu với các quy định hiện hành
* Phương pháp minh họa bằng biểu, bản đồ:
Thực trạng sử dụng đất và kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất sẽ được
trình bày dưới dạng những biểu đồ
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIẾN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Chiêm Hóa
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường
3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Huyện Chiêm Hoá nằm ở phía Bắc tỉnh Tuyên Quang nằm trong toạ độ địa lý từ 21o58‟21” đến 22o30‟56” vĩ độ Bắc và từ 104o58‟21” đến 105o31‟33” kinh độ Đông, có vị trí địa lý như sau:
- Phía Đông giáp huyện Chợ Đồn - tỉnh Bắc Kạn;
- Phía Bắc giáp huyện Na Hang;
- Phía Tây Bắc giáp huyện Bắc Quang - tỉnh Hà Giang;
- Phía Tây Nam giáp huyện Hàm Yên;
- Phía Nam giáp huyện Yên Sơn
Diện tích tự nhiên toàn huyện là 145.896,65ha, chiếm 24,88% diện tích
* Địa hình, địa mạo
Địa hình mang đặc trưng của khu vực miền núi phía Bắc và chủ yếu là đồi núi trung bình với độ cao bình quân 120m so với mặt nước biển, địa hình
bị chia cắt nhiều bởi các dãy núi cao, hệ thống sông, suối lớn Đồi, núi thấp dần theo hướng Đông - Nam, xen kẽ đồi bát úp tạo điều kiện cho việc trồng cây nguyên liệu giấy và các cánh đồng phù sa nhỏ ven sông
* Khí hậu, thuỷ văn
Trang 40- Khí hậu
Khí hậu của huyện mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9 Theo kết quả thống kê của Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang trong 10 năm trở lại đây cho thấy lượng mưa cả năm của huyện là 1.504,2mm, độ ẩm trung bình các tháng trong năm là 84%, nhiệt độ trung bình năm 23,40C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 29,10C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất từ 15,80
C [10]
- Thuỷ văn
Huyện Chiêm Hoá có một hệ thống sông chính đó là sông Gâm, suối Quẵng, đây là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho hầu hết các xã trong huyện Vì vậy ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống của nhân dân trong huyện Bên cạnh đó là hệ thống các suối lớn, nhỏ có độ dốc lớn dễ tạo ra các đợt lũ làm ách tắc giao thông cục bộ, gây thiệt hại hoa màu, cây trồng, vật nuôi Hết mùa mưa, một số dòng suối bị cạn hoặc lưu lượng nước nhỏ không đủ cung cấp cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt của nhân dân
3.1.1.2 Các nguồn tài nguyên
* Tài nguyên đất
Kết quả nghiên cứu xây dựng bản đồ đất tỉnh Tuyên Quang tỷ lệ 1: 100000 năm 2001, cho thấy trên địa bàn huyện Chiêm Hoá có các nhóm đất chủ yếu với quy mô diện tích và phân bố như sau:
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa (Fl): Có 2.600,55 ha, chiếm 1,71% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố chủ yếu ở các xã Ngọc Hội, Xuân Quang, Yên Nguyên, Tân An, Trung Hà, Phúc Sơn,
- Đất phù sa ngòi suối (Py): Có 360,32 ha, chiếm 0,25% tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố rải rác ở các xã Linh Phú, Tri Phú, Kiên Đài, Bình Phú, Phần lớn loại đất này được sử dụng trồng 1 vụ lúa hoặc 2 vụ lúa, năng suất trung bình thấp
- Đất vàng nhạt trên đá cát (Fq): Có 22.565,45 ha, chiếm 15,45% tổng diện tích tự nhiên của huyện Loại đất này phân bố ở nơi có độ dốc cao (Các xã: Yên Lập, Hồng