So với sách giáo khoa Địa lí lớp 10 trước đây thì sách giáo khoa Địa lí lớp 10 hiện nay có nhiều thay đổi, các kiến thức trong sách được trình bày cụ thể là sử dụng nhiều kênh hình để mi
Trang 1PHAN THỊ THU HƯƠNG
SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 10 THPT – BAN CƠ BẢN
CHUYÊN NGÀNH: LL & PP DẠY HỌC ĐỊA LÍ
Mã số: 601410
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học TS: NGUYỄN PHƯƠNG LIÊN
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong Điều 2 Luật Giáo dục của nước CHXHCN Việt Nam 2005 có ghi :
“ Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức tri thức , sức khỏe thẩm mỹ và nghề nghiệp , trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [13, tr.1] Điều đó
thể hiện sự thay đổi trong cách đào tạo con người Việt Nam trong giai đoạn
mới Trước hết là sự đổi mới chương trình giáo dục, cụ thể tập trung vào đổi
mới chương trình giáo dục phổ thông (từ Tiểu học, Trung học cơ sở đến Trung học phổ thông) đổi mới từ mục tiêu, nội dung, phương pháp đến phương tiện giáo dục, cách xây dựng chương trình… từ quan niệm cho đến quy trình kỹ thuật và đổi mới hoạt động quản lý cả quá trình này
Như vậy, trong quá trình giảng dạy, ngoài kiến thức vững chắc thì người GV cũng phải đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với sự thay đổi đó Trước đây, GV được coi là “trung tâm” trong quá trình dạy học thì hiện nay HS được coi là “trung tâm” Khi ấy, GV không chỉ đóng vai trò cung cấp, truyền thụ các tri thức sẵn có cho HS mà trở thành người hướng dẫn, tổ chức cho HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc tiếp thu tri thức
HS không chỉ tiếp thu tri thức một cách thụ động, mà biết học tập tích cực, chủ động và sáng tạo trong việc tiếp thu tri thức
Sách giáo khoa địa lí lớp 10 THPT bao gồm các kiến thức về địa lí tự nhiên đại cương và địa lí kinh tế xã hội đại cương So với sách giáo khoa Địa
lí lớp 10 trước đây thì sách giáo khoa Địa lí lớp 10 hiện nay có nhiều thay đổi, các kiến thức trong sách được trình bày cụ thể là sử dụng nhiều kênh hình để minh họa cho kiến thức hơn Các kênh hình giúp HS hình thành các biểu
Trang 3thức sử dụng chúng làm phong phú hơn bài giảng, tạo hứng thú cho các em học tập, như vậy đã đem lại hiệu quả to lớn trong dạy và học
Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước và nhận thức được hiệu quả của việc sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí, phát huy tính tích
cực của kênh hình, tôi đã chọn đề tài “ Sử dụng kênh hình trong dạy học địa lí lớp 10 – ban cơ bản” nhằm đưa ra một số những kinh nghiệm của bản
thân, góp phần vào việc trao đổi làm phong phú phương pháp dạy học Địa lí nói chung và phương pháp dạy học Địa lí lớp 10 THPT nói riêng
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn của việc sử dụng kênh hình, phân tích hệ thống kênh hình trong SGK Địa lí lớp 10, đề xuất các phương pháp sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí lớp 10
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, đề tài thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng kênh hình trong SGK Địa lí lớp 10 – ban cơ bản
- Tìm hiểu các phương pháp sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí lớp
10 THPT – ban cơ bản
Trang 4sử dụng kênh hình theo hướng tích cực hóa hoạt động học của học sinh
3 Giới hạn nghiên cứu
Các phương pháp dạy học có nhiều, kênh hình cũng được sử dụng nhiều trong SGK Địa lí ở các cấp học, bậc học Song do thời gian và trình độ có hạn cho nên đề tài được tập trung vào việc sử dụng kênh hình trong chương trình SGK Địa lí lớp 10 – ban cơ bản ở một số trường THPT tại Thái Nguyên
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp phân tích hệ thống: Đem đối tượng nghiên cứu xem xét
nó trong một hệ thống hoàn chỉnh gồm những yếu tố có liên quan tới nhau theo một cấu trúc chặt chẽ
- Phương pháp phân tích tổng hợp lí thuyết : một mặt để tiến hành phân loại, xác lập các tài liệu hướng dẫn giảng dạy, SGK Địa lí lớp 10, các kênh hình cụ thể trong quá trình nghiên cứu, mặt khác tiến hành phân tích, tổng hợp, chọn lọc các tài liệu, các kiến thức cần thiết liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Trên cơ sở thu thập tài liệu của các ngành khoa học khác nhau như Tâm lí học, Lí luận và phương pháp dạy học, Địa lí học… để nghiên cứu
- Phương pháp lịch sử: Tất cả các hiện tượng, đối tượng nghiên cứu đều được xem xét trong quá trình phát triển và biến đổi của chúng theo thời gian Phương pháp này chủ yếu dùng các tài liệu, SGK, các hiện tượng đã có, đã xảy ra trong các giai đoạn lịch sử trước đây để nghiên cứu các vấn đề hiện tại
4.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp dự giờ: Dự các bài lên lớp của đồng nghiệp
- Phương pháp chuyên gia: Quan sát, rút kinh nghiệm từ quá trình dạy học trên lớp
Trang 5kênh hình trong dạy học địa lí nói riêng đã được các giáo viên và các nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu, và được đề cập qua các tài liệu như:
- Tiến sĩ Hoàng Việt Anh, Vận dụng phương pháp Graph vào giảng dạy địa lí lớp 6 và lớp 8, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, năm 1993
- PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, Phương pháp sử dụng các phương tiện dạy học địa lí ở trường phổ thông, NXB Giáo Dục, năm 1998
- PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, Phương tiện, thiết bị kĩ thuật trong dạy học địa lí, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2000
- Nguyễn Đức Vũ, Phạm thị Sen, Đổi mới phương pháp dạy học Địa lí
Trang 6hình trong sách giáo khoa địa lí 11, NXB Giáo Dục, năm 2010
- PGS-TS Lâm Quang Dốc, Nguyễn Quốc Lập, Hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa địa lí 12, NXB Giáo Dục, năm 2010…
Các công trình nghiên cứu và những đề tài trên đây đã giúp cho tôi về
cơ sở lí luận, những định hướng, những tư liệu quý giá, những gợi ý để xây dựng và thực hiện đề tài trên cơ sở kế thừa và phát triển kiến thức của những người đi trước, đặc biệt khi thực hiện giảm tải chương trình SGK nói chung
và SGK Địa lí nói riêng ở bậc THPT thì việc sử dụng kênh hình có hiệu quả
là cách tốt nhất để giúp HS khai thác sâu được kiến thức
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Phần mở đầu và phần kết luận Phần nội dung của đề tài gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng kênh hình trong
dạy học Địa lí lớp 10 – Ban cơ bản
Chương 2 Sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí lớp 10 – Ban cơ bản Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Phần 3 Kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 71.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm về kênh hình
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về kênh hình Hiện nay, khái niệm kênh hình vẫn chưa hoàn toàn thống nhất Một số tác giả coi kênh hình là phương tiện phục vụ cho dạy học địa lí Một số khác thì cho rằng đây là phương tiện trực quan, là các vật tượng trưng và các vật tạo hình được sử dụng để dạy Địa lí Lại có tác giả coi kênh hình là những mô hình vật chất được dựng lên một cách nhân tạo, giống đối tượng gốc về một số mặt nhất định, qua đó nó giúp ta nghiên cứu đối tượng khi không có điều kiện tri giác trực tiếp
Tuy nhiên, trong giới hạn nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu về sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí lớp 10 – BCB thì chúng ta có thể hiểu Kênh hình như sau:
“Kênh hình là một hệ thống các bản đồ, lược đồ, tranh ảnh, bảng số liệu thống kê, biểu đồ…bổ sung, minh họa cho các bài viết (kênh chữ) Nhiệm vụ chủ yếu của nó không chỉ là minh họa cho bài học mà có giá trị tương tương với kênh chữ, là một nguồn thông tin dưới dạng trực quan” [8]
Kênh hình trong SGK vừa là nguồn tài liệu minh họa vừa là nguồn tri thức quan trọng giúp cho quá trình dạy học đạt hiệu quả cao hơn
Trang 8Kênh hình là một kênh thông tin phong phú và đa dạng, có thể phân ra làm nhiều loại khác nhau Tuy nhiên dựa vào đặc điểm chung và hướng sử dụng ta có thể phân ra làm ba nhóm chính:
- Nhóm các loại bản đồ, lược đồ
- Nhóm các loại biểu đồ
- Nhóm các tranh ảnh, sơ đồ (hay người ta còn gọi là Graph), lát cắt
- Nhóm các mô hình, mẫu vật, các video địa lí
Mỗi một nhóm này lại được phân chia thành những loại khác nhau
Trong dạy học Địa lí, lại có các loại bản đồ sau:
+ Bản đồ giáo khoa treo tường: có nhiều kích cỡ và tỉ lệ khác nhau Thông thường các bản đồ này có kích thước từ 0,8m x 1,2 m; 1,0m x 1,5m; 1,5m x 2,0m Tỉ lệ từ 1: 6000000; 1: 2500000… Kích thước của bản đồ phải đủ lớn để học sinh ngồi ở bàn cuối cũng có thể nhìn thấy Tỉ lệ của bản đồ càng lớn thì việc thể hiện nội dung càng tốt, các đối tượng được thể hiện chi tiết hơn,
rõ ràng hơn Nếu lãnh thổ lớn thì bản đồ thường có tỉ lệ nhỏ, với tỉ lệ này thì các đối tượng và hiện tượng địa lí được thể hiện mang tính khái quát hơn
+ Các loại bản đồ câm và bản đồ trống: Là bản đồ chưa biểu hiện nội dung địa lí cụ thể Giáo viên có thể sử dụng loại bản đồ này để giảng bài mới hoặc cho
HS làm bài tập Kích thước của các loại bản đồ này phụ thuộc vào yêu cầu và mục đích sử dụng Nếu dùng cho GV và HS để vẽ các bản đồ chuyên đề dùng trên lớp thì chúng có kích thước bằng bản đồ treo tường, còn nếu để cho HS làm bài tập thì có kích thước nhỏ hơn, thường bằng tờ giấy khổ A4
Trang 9còn các nội dung chi tiết thường không được biểu hiện
Đối với các bản đồ trong SGK do khuân khổ thể hiện hạn chế về nội dung, thời lượng dạy học nên chúng được cấu tạo đơn giản, không triệt để tuân theo các nguyên tắc trong việc thành lập bản đồ Như vậy thực chất chúng chỉ là những lược đồ Do đó chúng thường không có tỉ lệ, thước tỉ lệ, khung bản đồ cũng thường đơn giản và cũng có tính chất tương đối về mặt khoa học
Bản đồ và lược đồ trong SGK thường có một số đặc điểm sau:
- Chỉ biểu hiện những đối tượng địa lí cần thiết, bỏ qua những đối tượng không liên quan tới bài, và thường dùng để minh họa cho các kiến thức nên bố cục bản đồ thường rất thoáng, dễ sử dụng, HS dễ dàng nhận biết các đối tượng địa lí được biểu hiện trên bản đồ
- Bản đồ trong SGK có số lượng khá lớn, có ở tất cả các khối lớp học
- Các kí hiệu chú giải của bản đồ bên cạnh việc đảm bảo tuân thủ theo những quy ước chung, có nhiều điểm tương đồng với các bản đồ treo tường
và Atlat thì một số yếu tố cũng được đơn giản hóa giúp cho bản đồ bớt rườm
rà và dễ đọc hơn
Từ những đặc điểm trên cho thấy các loại bản đồ có vai trò cực kì quan trọng, đã và đang phục vụ đắc lực cho việc dạy và học Địa lí Nó vừa là phương tiện dùng làm minh họa, chứng minh, vừa là nguồn tri thức Nó là kết
Trang 10được chất lượng của các hiện tượng Từ bản đồ cho biết được độ lớn, số lượng, sự phân bố của các hiện tượng, sự kiện địa lí Về mặt giảng dạy, giúp
HS lĩnh hội bài học một cách tích cực, vững chắc thông qua hoạt động tư duy
và lĩnh hội tri thức kết hợp với trí tưởng tượng Bản đồ còn là công cụ trung gian giúp HS tập sử dụng và tiến tới nắm chắc được cách sử dụng các bản đồ giáo khoa nói chung Bởi vậy khi lên lớp cần hướng dẫn cho HS cách khai thác, sử dụng bản đồ, lược đồ trong SGK, đối chiếu với bản đồ treo tường, kết hợp sử dụng Átlat để đem lại hiệu quả cao trong quá trình lĩnh hội tri thức
* Nhóm các loại biểu đồ
Biểu đồ: Là hình ảnh đồ họa dùng để biểu hiện một cách trực quan hóa các số liệu thống kê về quá trình phát triển của một hiện tượng, mối quan hệ
về thời gian và không gian của các hiện tượng
Hiện có rất nhiều loại biểu đồ, sự đa dạng dựa trên các tiêu chí phân loại khác nhau:
- Dựa vào bản chất của biểu đồ trong dạy học người ta phân loại biểu
đồ thành:
+ Biểu đồ cơ cấu: Thể hiện tỉ lệ cơ cấu thành phần trong một tổng thể hoặc nhiều tổng thể có cùng đại lượng Cách thể hiện có thể trình bày bằng hình tròn, hình vuông, hình tam giác, miền hoặc cột chồng
+ Biểu đồ so sánh: Có thể dùng để so sánh tương quan về quy mô, độ lớn giữa một số đại lượng Cách thể hiện là biểu đồ hình cột, hình tròn… + Biểu đồ trạng thái: thể hiện tiến trình động thái phát triển của các hiện tượng theo chuỗi thời gian Cách thể hiện có thể là hình đường hoặc biểu đồ kết hợp đường và cột…
- Dựa vào hình dạng của các loại biểu đồ, người ta chia ra làm biểu đồ cột (đơn, đôi – kép, nhóm cột, chồng, thanh ngang), đường biểu diễn (một
Trang 11- Động thái phát triển của một hiện tượng địa lí như: Biểu đồ thể hiện sản lượng lương thực thế giới qua các năm, thể hiện tốc độ tăng dân số…
- Thể hiện quy mô, độ lớn của một đại lượng nào đó như : Biểu đồ diện tích gieo trồng cây công nghiệp hàng năm và cây công nghiệp lâu năm của nước ta…
- Thể hiện tỷ lệ cơ cấu thành phần trong một tổng thể hoặc nhiều tổng thể có cùng một đại lượng
- So sánh tương quan về độ lớn giữa các đại lượng như: Biểu đồ cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế của một quốc gia, một khu vực…
- Thể hiện quá trình chuyển dịch cơ cấu thành phần qua một số năm như: Biểu đồ cơ cấu sử dụng năng lượng trên thế …
Tuy có nhiều loại biểu đồ khác nhau, nhưng đối với HS phổ thông, các biểu đồ được thể hiện trong SGK và dùng làm bài tập cho HS thường là các loại biểu đồ đường, biểu đồ cột, biểu đồ hình tròn, biểu đồ miền và biểu đồ kết hợp giữa cột và đường Mỗi loại biểu đồ đều có thể thể hiện được những yêu cầu nội dung riêng Ví dụ như biểu đồ đường biểu diễn (đồ thị) thường thể hiện tiến trình động thái phát triển của các hiện tượng theo chuỗi thời gian, còn biểu đồ hình cột lại thường thể hiện quy mô, khối lượng của một đại lượng So sánh tương quan về độ lớn giữa một số đại lượng Biểu đồ tròn và biểu đồ miền đều thể hiện cơ cấu thành phần trong một tổng thể và quy mô
Trang 12thể hiện được cả động thái phát triển của đối tượng qua nhiều thời điểm Do
đó tùy từng yêu cầu, mục đích thể hiện và nội dung của từng bài mà lựa chọn loại biểu đồ thích hợp nhất Như vậy, khi chuyển các số liệu thống kê thành biểu đồ bao giờ cũng có tính trực quan cao, HS dễ nhận thấy được các dấu hiệu bản chất của kiến thức địa lí qua biểu đồ, giúp HS tiếp thu tri thức được
dễ dàng, tạo hứng thú học tập cho các em
* Nhóm các tranh ảnh, sơ đồ (hay Graph), lát cắt
- Tranh ảnh có nội dung địa lí: Thường phản ảnh những hình ảnh thực
tế của các đối tượng, hiện tượng tự nhiên như núi non, hoang mạc, sông hồ hay các hiện tượng, đối tượng kinh tế - xã hội như nhà máy, bến cảng, các hoạt động sản xuất… giúp HS hình thành biểu tượng địa lí Ngoài ra còn giúp
HS phân tích các hiện tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội đó mà không cần phải trực tiếp đi tới nơi Đối với GV tranh ảnh trở thành phương tiện dạy học lôi cuốn, hấp dẫn HS GV thường sử dụng tranh ảnh trong khâu giảng bài mới hoặc giới thiệu bài học đều đem lại hiệu quả cao trong dạy học
- Sơ đồ: là các hình vẽ sơ lược thể hiện mối quan hệ của các đối tượng, hiện tượng địa lí trong không gian một cách đơn giản, đồng thời thể hiện các mối quan hệ của hiện tượng địa lí này với các hiện tượng địa lí khác
Trong SGK Địa lí lớp 10 BCB của NXB Giáo dục có rất nhiều sơ đồ minh họa cho bài học đồng thời thể hiện mối quan hệ nhân của các đối tượng, hiện tượng địa lí với nhau ví dụ như: Sơ đồ Sức ép dân số đối với việc phát triển kinh tế - xã hội và môi trường [20, tr.85]; Sơ đồ các bộ phận hợp thành
cơ cấu nền kinh tế [20, tr.101]…
Ngoài các sơ đồ trong SGK, GV còn có thể tự sơ đồ hóa bài học hoặc tóm tắt các nội dung trong bài học, các mối liên hệ bằng sơ đồ giúp học sinh
dễ học, dễ nhớ
Trang 13so sánh, lý giải những kiến thức lý thuyết
Như vậy, hệ thống kênh hình rất phong phú và đa dạng, không chỉ có trong SGK mà ở các kênh thông tin khác Chính vì thế, trong quá trình dạy học, GV nên triệt để khai thác những hình ảnh đã có trong SGK và khai thác
có chọn lọc những hình ảnh từ các kênh thông tin khác
1.1.3 Vai trò của kênh hình trong dạy học Địa lí
Hệ thống kênh hình là một bộ phận quan trọng trong nội dung môn học địa lí, là thành phần làm nên cấu trúc hoàn chỉnh của SGK Với ưu điểm có tính trực quan cao, dễ sử dụng nên số lượng kênh hình được dùng trong dạy học Địa lí khá phong phú Qua nghiên cứu, tác giả thấy hệ thống kênh hình trong SGK địa lí nói chung và SGK Địa lí lớp 10 THPT có những vai trò cơ bản sau:
1.1.3.1 Vai trò minh họa
Kênh hình là một dạng thông tin trực quan, sinh động nên nó thường được sử dụng để minh họa cho bài viết và làm cho những kiến thức được trình bày có tính thuyết phục cao hơn
Đối với GV, kênh hình là một phương tiện dạy học cần thiết cho việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực Ngoài ra, với những nội dung kiến thức liên quan đến nhiều hiện tượng tự nhiên như hiện tượng Mặt Trời chuyển động biểu kiến trong khoảng vĩ tuyến 23027’N lên 23027’B lại xuống 23027’N nếu không có kênh hình thì HS khó có thể hình dung Mặt Trời chuyển động biểu kiến là như thế nào
Trang 14Hình 1.1 – Đường biểu diễn chuyển động biểu kiến của Mặt Trời trong năm
(Nguồn : Hình 6.1 [20, tr 22])
Hình 1.2 – Hiện tượng uốn nếp và hình 1.3 – Nếp uốn của các lớp đá trầm
tích ở vùng núi đã minh họa rất tốt cho nội dung của bài 8 về hiện tượng lớp đất
đá trước và sau khi bị uốn thành nếp
Hình 1.2 – Hiện tượng uốn nếp (nguồn: Hình 8.1 [20, tr 30])
Trang 15Hình 1.3 - Nếp uốn của các lớp đá trầm tích ở vùng núi
(nguồn: Hình 8.2 [20, tr 30])
Đối với phần lớn HS miền núi, khi được học về gió biển và gió đất (bài
12 Sự phân bố khí áp Một số loại gió chính) [20], nếu không có hình minh họa kèm theo trong quá trình giảng dạy (hình 1.4 – Gió biển và gió đất) thì việc hình dung của HS về quá trình hình thành gió biển và gió đất sẽ khó khăn
vì các em rất ít được ra biển Cho nên, trong trường hợp này hình vẽ minh họa cho việc hình thành của gió biển và gió đất sẽ giúp HS hình dung cụ thể hơn các hiện tượng trên
Hình 1.4 – Gió biển và gió đất
(Nguồn: Hình 12.4 [20, tr.47])
Trang 16địa lí nào đó như sự gia tăng dân số, cơ cấu lao động theo khu vực kinh tế…
có kèm theo biểu đồ minh họa thì sẽ làm cho các số liệu trở nên sinh động
hơn, HS dễ nhận biết sự tăng giảm, quá trình phát triển… của các sự vật hiện
tượng địa lí và có được sự liên hệ rõ ràng hơn
1.1.3.2 Vai trò là nguồn tri thức
SGK THPT hiện nay nói chung và SGK Địa lí lớp 10 nói riêng có sự thay
đổi: Giảm bớt những thông tin mang tính thụ động, khuôn mẫu từ kênh chữ, thay
vào đó là hệ thống kênh hình phong phú, đa dạng, được chọn lọc, có tính giáo dục
cao, chứa đựng nhiều thông tin bổ ích và quan trọng kèm theo những câu hỏi định
hướng giúp học sinh có thể tự giác, tích cực làm việc với các nguồn tri thức để
khai thác các thông tin cần thiết trên cơ sở những kĩ năng, phương pháp đã được
hướng dẫn
Ví dụ 1 Khi dạy bài 15 Thủy quyển Một số nhân tố ảnh hưởng tới
chế độ nước sông Một số sông lớn trên Trái Đất Ở mục 2: Tuần hoàn của
nước trên Trái Đất (phần I Thủy quyển) [20, tr.56] ngoài hình 15 – Sơ đồ
tuần hoàn của nước thì ở mục này không có nội dung kiến thức được trình
bày bằng kênh chữ Lúc này GV hướng dẫn HS trả lời được câu hỏi phần chữ
in nghiêng trong SGK “ Dựa vào hình 15, hãy trình bày vòng tuần hoàn nhỏ
và vòng tuần hoàn lớn của nước trên Trái Đất”
Hình 1.5 – Sơ đồ tuần hoàn của nước
(Nguồn: Hình 15 [20, tr.56])
Trang 17một phần được rơi xuống đất và một phần tiếp tục được gió thổi lên cao gặp nhiệt độ thấp tạo thành tuyết rơi xuống đất nhưng một phần nước gặp tầng đá thấm nước tạo thành mạch nước ngầm, một phần hòa vào sông suối hay tạo thành các dòng chảy và đi ra biển… Như vậy thông qua việc quan sát hình ảnh,
HS đã tìm thấy những tri thức địa lí biểu hiện quy luật tuần hoàn của nước trên Trái Đất Còn nắm được bản chất của các vòng tuần hoàn nhỏ là vòng tuần hoàn khép kín, vòng tuần hoàn lớn là vòng tuần hoàn mở
Ví dụ 2 Bài 22 Dân số và sự gia tăng dân số Ở ý a Tỉ suất sinh thô ( phần II Gia tăng dân số, mục 1: Gia tăng tự nhiên) [20] GV hướng dẫn HS dựa vào hình để nhận xét tình hình tỉ suất sinh thô của thế giới Từ hình vẽ, GV hướng dẫn HS quan sát biểu đồ đặt những câu hỏi nhỏ HS trả lời để từ đó các em rút ra kết luận tỉ suất sinh thô của thế giới nhìn chung có xu hướng giảm nhưng có sự khác biệt giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển Các nước phát triển tỉ suất sinh thô giảm nhanh hơn các nước đang phát triển Tỉ suất sinh thô của các nước phát triển thấp hơn các nước đang phát triển…
Trang 18Hình 1.6 – Tỉ suất sinh thô thời kì 1950 – 2005 (Nguồn: Hình 22.1 [20, tr.83]
1.1.3.3 Vai trò phát triển tư duy địa lí
- Tư duy về không gian lãnh thổ là đặc trưng quan trọng hàng đầu
trong tư duy địa lí
Khi nói về không gian, cần phải hiểu đối tượng đó ở đâu (vị trí) bao gồm: ở các giới hạn vĩ tuyến nào, đới nào, phía nào… còn khi xét về tính lãnh thổ, chúng ta lại phải hiểu nó có quy mô rộng hay hẹp, kéo dài hay đều đặn…
GV trong quá trình dạy học địa lí phải hướng dẫn HS trả lời được các câu hỏi: Nằm ở đâu? Quy mô như thế nào? Dẫn tới nắm được các đặc điểm đặc trưng hay tính phân hóa, độc đáo của các đối tượng địa lí SGK địa lí nói chung và sách THPT nói riêng có rất nhiều kênh hình để giúp GV minh họa cho kiến thức địa lí này
Ví dụ: Bài 17 “Thổ nhưỡng quyển Các nhân tố hình thành thổ nhưỡng”
[20] hình 17 - Vị trí lớp phủ thổ nhưỡng ở lục địa - cho chúng ta biết vị trí của
lớp phủ thổ nhưỡng nằm ở bề mặt lục địa – nơi tiếp xúc với khí quyển, thạch quyển, sinh quyển
Trang 19Hình 1.7 – Vị trí lớp phủ thổ nhưỡng ở lục địa (Nguồn: Hình 17 [20, tr.63])
Bài 32 “Địa lí các ngành công nghiệp” [20], hình 32 4 - Phân bố sản lượng điện năng trên thế giới, thời kì 2000 – 2003 -cho biết sự phân bố tổng sản lượng điện năng trên thế giới và sản lượng điện theo đầu người Những nước có tổng sản lượng điện lớn hơn 3000 tỉ kw.h/năm là các nước Hoa Kì; từ
1002 – 3000 kw.h/năm là Trung Quốc và Nhật Bản; từ 501 – 1000 kw.h/năm
là Pháp, Đức, Liên Bang Nga và Ấn Độ; từ 201 – 500 kw.h/năm Tây Ban Nha, Anh và Hàn Quốc; dưới 200 kw.h/năm là Achentina, Mêhico Sản lượng điện theo đầu người trên 9000 kw.h/năm là các nước Canada, Hoa Kì và Oxtraylia; từ 3000 - 9000 kw.h/năm là Liên Bang Nga…Qua sự phân bố về sản lượng trên thì HS có thể biết những nước có tổng sản lượng điện lớn và sản lượng điện theo đầu người cao đều là những nước có nền kinh tế phát triển, nhu cầu tiêu dùng lớn
Trang 20Rừng lá rộng ôn đới - cho biết khu vực ôn đới vĩ độ trung bình có nhiệt ẩm dồi dào nên thảm thực vật xanh tốt, thân cao to, lá rộng còn hình 19.6 – Thảo nguyên ôn đới - lại cho biết cùng là khu vực ôn đới nhưng vì lượng ẩm ít nên
thảm thực vật ở đây là thân bụi, thấp… vì được phân bố khác nhau như vậy nên chúng có những đặc trưng khác nhau Nhiệm vụ của người GV giúp HS nắm được tư duy này
Trang 21Tư duy về mối quan hệ nhân quả là tư duy quan trọng trong dạy học địa
lí Bất kì một hiện tượng địa lí nào hình thành trên mặt đất đều do các thành phần có mối quan hệ tác động lẫn nhau Mối quan hệ được thể hiện giữa tự nhiên với tự nhiên, ví dụ: Bài 7 Cấu trúc của Trái Đất Thạch quyển Thuyết
kiến tạo mảng [19] hình 7.3 – Các mảng kiến tạo lớn của Thạch quyển - cho
chúng ta biết vì có những vận động kiến tạo xảy ra trong lòng đất mà vỏ Trái Đất đã tạo thành những mảng lớn khác nhau và xuất hiện các sống núi lửa…
Hình 1.11 – Các mảng kiến tạo lớn của Thạch quyển (Nguồn: Hình 7.3 [20, tr.27])
Trang 22Bài 9 Tác động của ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái Đất cũng có nhiều hình ảnh phát triển tư duy về mối quan hệ nhân quả cho HS
Hình 1.12 – Hang động - kết quả của sự hòa tan đá vôi do nước
(Nguồn: Hình 9.2 [20, tr.33]) Không chỉ thể hiện được mối quan hệ giữa tự nhiên với tự nhiên, mà cả mối quan hệ giữa tự nhiên với kinh tế, mối quan hệ kinh tế với kinh tế… Mối quan hệ nhân quả xảy ra rất phổ biến trong địa lí, và nó thường là cơ bản nên
để nắm được kiến thức Địa lí, trong quá trình giảng dạy, GV có thể sử dụng luôn hệ thống kênh hình hướng dẫn để HS giải quyết nhận thức trên cơ sở tư duy về mối quan hệ nhân quả
1.1.3.4 Vai trò giáo dục thế giới quan và nhân sinh quan
- Từ điển tiếng Việt định nghĩa “Thế giới quan là cách nhìn nhận
và giải thích các hiện tượng tự nhiên, xã hội thành một hệ thống quan điểm thống nhất”
Vậy thế giới quan là hệ thống tổng quát những quan điểm của con người về thế giới (toàn bộ sự vật và hiện tượng thuộc tự nhiên và xã hội), về
vị trí con người trong thế giới đó và về những quy tắc xử sự do con người đề
Trang 23lớn, đan xen với những thách thức không nhỏ đó là những mặt trái của nền kinh tế thị trường gây ra nhiều khó khăn ảnh hưởng xấu tới nhiều mặt trong đời sống xã hội Việt Nam Tác động không nhỏ tới thế giới quan và nhân sinh quan của chúng ta Ngành giáo dục không ngoại lệ Cũng đang phải đối mặt với không ít tình trạng HS vi phạm pháp luật; thiếu lễ độ với người lớn, với các thày cô giáo; ham chơi; nói tục; đặc biệt là tình trạng bạo lực học đường Trước thực trạng đáng quan tâm như đã nêu trên, các nhà giáo dục càng phải quan tâm tới nguồn lực con người, nhất là đối với HS – một nhân tố vô cùng
quan trọng xây dựng đất nước
Trong chương trình giáo dục, đã có rất nhiều hình thức, môn học nhằm giáo dục thế giới quan và nhân sinh quan đúng đắn cho HS như môn Giáo dục công dân, Văn học, Lịch sử…tất cả những môn học này ngoài việc cung cấp kiến thức cho HS thì thông qua đó phải coi trọng và đặt lên hàng đầu nhiệm
vụ giáo dục này
Môn Địa lí có nhiệm vụ cung cấp những tri thức về tự nhiên, kinh tế - xã hội, về mối quan hệ nhân quả của các sự vật hiện tượng địa lí với nhau Việc giáo dục, bồi dưỡng thế giới quan và nhân sinh quan theo lý tưởng cách mạng, truyền thống đạo đức và lối sống lành mạnh, có tình yêu quê hương, đất nước, bạn bè, có ý thức bảo vệ môi trường… không chỉ dừng lại ở những chương – điều trong sách vở mà quan trong là giáo dục bằng chính thực tế
Trang 2428 Địa lí ngành trồng trọt) [20], những người biên soạn SGK có đưa vào hình những thanh thiếu niên đang tích cực tham gia trồng rừng ngập mặn
Đây là một hình ảnh thực tế nói lên sự tích cực của thanh thiếu niên trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn gien sinh vật và tăng diện tích rừng… Điều đó cũng góp phần giáo dục tinh thần bảo vệ môi trường cho HS
Hình 1.13 – Thanh thiếu niên tích cực tham gia trồng rừng ngập mặn (Việt Nam) ( Nguồn: Hình 2.6 [20, tr 112])
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Đặc điểm chương trình địa lí 10
Địa lí là môn học cơ bản trong hệ thống các môn khoa học ở nhà trường phổ thông Môn Địa lí góp phần bồi dưỡng cho HS một khối lượng tri thức phong phú về tự nhiên, kinh tế - xã hội và những kĩ năng, kĩ xảo hết sức cần thiết cho cuộc sống Từ đó giúp cho HS biết cách nhìn nhận, đánh giá, phân tích, giải thích và có khả năng ứng xử với môi trường tự nhiên, xã hội sao cho phù hợp với yêu cầu của đất nước và xu thế thời đại Đồng thời còn góp phần đáng kể vào việc hình thành các năng lực cần thiết của người lao động trong thời kì toàn cầu hóa, hội nhập với thế giới
Trang 25- Khối THPT:
+ Lớp 10: Địa lí tự nhiên đại cương và Địa lí kinh tế - xã hội đại cương + Lớp 11: Địa lí Kinh tế thế giới, châu lục và khu vực, các nước + Lớp 12: Địa lí Việt Nam
Qua sự thống kê đó, ta thấy chương trình Địa lí có 2 mảng: Địa lí tự nhiên và Địa lí kinh tế - xã hội Chương trình thường được cấu tạo theo đường thẳng và vòng tròn đồng tâm nâng cao
- Cấu tạo theo đường thẳng là cấu tạo từ lớp thấp lên lớp cao, từ khái niệm chung đến khái niệm riêng; từ cái khái quát đến cụ thể, chi tiết; từ kiến thức về địa lí tự nhiên rồi mới đến các kiến thức về kinh tế - xã hội Kiến thức
về thế giới và các châu lục, khu vực được học trước sau mới đến Địa lí Tổ quốc Các kiến thức được trang bị dần cho HS theo hướng nâng cao từ bậc THCS đến THPT Chương trình cấu tạo theo đường thẳng là sự thể hiện lớp trước là cơ sở nhận thức của lớp sau Lớp sau là cái cụ thể của lớp trước Đi
từ dễ đến khó, từ khái niệm đơn giản đến khái niệm phức tạp Chính vì vậy mặc dù có sự tách biệt giữa tự nhiên và kinh tế - xã hội, giữa đại cương và khu vực nhưng các kiến thức luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau
- Cấu tạo theo vòng tròn đồng tâm: Thể hiện mối quan hệ ngang giữa các kiến thức địa lí tự nhiên, kinh tế Chúng ta có thể thấy rõ điều đó qua hình sau:
Trang 26Hình 1.14 – Cấu tạo chương trình địa lí theo vòng tròn đồng tâm
Theo sơ đồ 1.14, cấu tạo chương trình có 2 vòng tròn đồng tâm và nội dung từng đôi một có nhiều nét tương đồng :
- Lớp 6 và lớp 10 học về kiến thức địa lí đại cương
- Lớp 7, lớp 8 và lớp 11 học về địa lí thế giới
- Lớp 8, lớp 9 và lớp 12 học về địa lí Việt Nam
Ở lớp trước học trọng tâm cái gì thì lớp sau được học mở rộng hơn, sâu hơn Tính đồng tâm được thể hiện chủ yếu qua mối quan hệ ngang giữa cấp THCS với THPT Ví dụ như ở lớp 6 HS đã được tìm hiểu về thủy triều lên cao nhất và thấp nhất vào những ngày nào nhưng chưa được biết lúc đó Mặt Trăng nằm ở vị trí nào so với Trái Đất và Mặt Trời, chính vì vậy mà ở địa lí lớp 10 bổ sung cho những kiến thức đó
Tóm lại, tính đồng tâm của chương trình Địa lí là sự thể mối quan hệ giữa các khái niệm địa lí tự nhiên, KT – XH ở cấp THCS khái quát, rời rạc,
sơ lược thì ở cấp THPT đã được hoàn chỉnh và thâu tóm lại thành những vấn
đề quan trọng Do cấu tạo của chương trình vừa mang tính chất đường thẳng, vừa mang tính chất đồng tâm nên việc dạy cho HS nắm được nội dung và kĩ năng địa lí là rất quan trọng vì đó là cơ sở cho hoạt động sau này
Những kiến thức của Địa lí lớp 10 chủ yếu là những khái niệm chung
Chương trình THCS
Chương trình THPT
Trang 27cạnh đó còn rèn luyện cho HS một số kỹ năng (quan sát, nhận xét, phân tích tổng hợp, so sánh các sự vật hiện tượng địa lí; kỹ năng đọc và sử dụng bản đồ; kỹ năng thu thập, trình bày các thông tin địa lí; kỹ năng vận dụng kiến thức trong chừng mực nhất định để giải thích các hiện tượng địa lí trong thực
tế, gần gũi với HS…); hình thành ở HS tình yêu quê hương, đất nước, có ý thức và hành động thiết thực để bảo vệ môi trường, thấy rõ trách nhiệm của bản thân trong công cuộc xây dựng kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước Góp phần hoàn thiện học vấn phổ thông cho HS để đáp ứng mục tiêu giáo dục và phát triển con người Việt Nam toàn diện trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2.2 Đặc điểm nội dung SGK Địa lí 10
Là chương trình Địa lí đại cương, nên nội dung SGK nhằm cung cấp cho HS những kiến thức chung nhất, những khái niệm của Địa lí tự nhiên (như Trái Đất, hệ Mặt Trời, các thành phần tự nhiên của Trái Đất, các hiện tượng tự nhiên như nội lực, ngoại lực…) và những khái niệm về kinh tế - xã hội (tỉ suất sinh, tỉ suất tử, gia tăng dân số tự nhiên ) được xắp xếp bao gồm
có 42 bài, chia làm 52 tiết dạy (trong đó có 4 tiết ôn tập và 2 tiết kiểm tra 45p
và 2 tiết kiểm tra chất lượng học kì) Toàn bộ nội dung chương trình đề cập ở
2 phần lớn:
- Phần 1 Địa lí tự nhiên
Trang 28Trời, các hệ quả của Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời và tự quay xung quanh trục, Nội lực – Ngoại lực và các tác động của chúng, các quy luật của
tự nhiên…
- Phần 2 Địa lí kinh tế - xã hội
Phần này chủ yếu là những kiến thức về dân cư, dân số, về các hoạt động sản xuất của con người theo các ngành sản xuất khác nhau như : Công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ…
Toàn bộ nội dung chương trình được cụ thể hóa bằng 10 chương Mặc
dù là các nội dung riêng biệt, nhưng các kiến thức của nó có liên quan chặt chẽ với nhau Được xắp xếp theo một hệ thống kiến thức lôgic, chặt chẽ, đi từ cái khái quát đến cái cụ thể, tư quy luật chung đến quy luật riêng, từ tự nhiên đến kinh tế xã hội Chúng tác động chi phối nhiều chiều và có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau
Ngoài việc nhằm bồi dưỡng cho HS năng lực tư duy, trí tưởng tượng,
óc thẩm mỹ thì nội dung của SGK Địa lí lớp 10 nói riêng và toàn bộ nội dung của SGK Địa lí các cấp học nói chung còn rèn luyện cho HS kỹ năng sống, tình yêu quê hương, đất nước và bảo vệ tự nhiên, môi trường
Nội dung SGK Địa lí lớp 10 – BCB được thể hiện bằng 2 kênh: kênh hình và kênh chữ Kênh chữ bao gồm hệ thống bài học, bài đọc thêm, hệ thống các câu hỏi, bài thực hành và những chỉ dẫn (chữ nghiêng, ghi chú…) Kênh chữ là cơ sở vững chắc để GV chuẩn bị giáo án, xác định mục đích yêu cầu, nội dung của các bài lên lớp Từ đó GV lựa chọn những phương pháp thích hợp và thiết kế đồ dùng dạy học cần thiết Kênh hình gồm hệ thống các lược đồ, biểu đồ, sơ đồ, tranh ảnh… bổ xung cho kênh chữ và bài học
SGK Địa lí mới hiện nay có số lượng kênh hình rất phong phú và đa dạng, không chỉ nhiều mà chất lượng cũng được chú trọng
Trang 29Tổng 71 75 146
Từ bảng thống kê cho thấy, số lượng kênh hình sử dụng trong SGK lớp
10 ban cơ bản tương đối lớn, tổng số 146 hình được phân bố khá đồng đều, phần Địa lí tự nhiên có 71 hình, địa lí kinh tế xã hội có 75 hình Với 42 bài học thì trung bình mỗi bài có 3 hình Bài nhiều nhất có tới 11 hình (bài 19 –
Sự phân bố sinh vật và đất trên Trái Đất), bài ít nhất cũng có từ 1- 2 hình (bài thực hành), không bài học nào mà không có hình ảnh trực quan
Về các nội dung kiến thức chứa trong nó cũng nhiều hơn, các hình ảnh được chọn lọc kỹ lưỡng, có sự đổi mới cải tiến về hình thức, HS nhìn vào đó
có thể nhận thấy ngay các nội dung và kiến thức cần khai thác đồng thời việc ghi nhớ tái hiện cũng rõ ràng hơn Điều này thể hiện kênh hình có ý nghĩa quan trọng với giảng dạy địa lí
1.2.3 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi và trình độ nhận thức của học sinh lớp 10
Học sinh lớp 10 có độ tuổi trung bình từ 15 – 16 tuổi, nên tâm sinh lí đang có sự thay đổi về mọi mặt
- Về mặt thể chất: Các em đang có sự phát triển về chiều cao, trọng lượng hệ cơ, xương Đặc biệt về cấu tạo bộ não cùng với hệ thống hoạt động sinh lý thần kinh của nó, hoàn thiện các chức năng sinh lý khác
- Về mặt trí tuệ: Tính chủ động, tính tích cực, tính tự giác được thể hiện
rõ trong tất cả các quá trình nhận thức Có thể nói năng lực tư duy, năng lực
Trang 30thiện Tư duy lí luận, tư duy độc lập sáng tạo tăng lên
Về mặt ngôn ngữ và thế giới quan: Các em đã được tiếp thu khá nhiều kiến thức (khái niệm danh từ khoa học cùng với quan niệm xã hội) được mở rộng và sâu sắc đã đem đến cho các em phát triển về mặt ngôn ngữ Đây là điều kiện thuận lợi cho các em học tập Thế giới quan ở lứa tuổi này được hình thành nhanh chóng
Bên cạnh đó, kiến thức về sự hiểu biết về con người, văn hóa và các kiến thức liên quan đến dân tộc, đất nước, quốc tế; kĩ năng diễn đạt, trình bày
ý tưởng (dưới dạng nói và viết); khả năng liên hệ; khả năng xử lí các thông tin
và chia sẻ thông tin; kĩ năng tiếp nhận các ý tưởng của người khác…chưa tốt
Có thể nói ở lứa tuổi này HS ưa hoạt động, nhưng không có tính chất bền vững Nên trong quá trình dạy học luôn phải làm thay đổi không khí lớp học bằng cách sử dụng kết hợp nhiều phương pháp Ngoài những kiến thức có tính chất lí luận, kiến thức chuẩn trong SGK thì GV cần đưa thêm vào những kiến thức thực tiễn, cụ thể và sống động Để làm được điều đó GV phải có những phương pháp giảng dạy, phương tiện dạy học phù hợp để phát huy trí lực và hoàn thiện nhân cách của HS Vì qua nghiên cứu cho thấy đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi có ảnh hưởng rất lớn tới việc biên soạn nội dung chương trình và phương pháp dạy học Một trong những định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của HS, điều
đó sẽ giúp HS lĩnh hội được tri thức tốt và rèn luyện kĩ năng cho HS
1.2.4 Hiện trạng của sử dụng kênh hình trong dạy học nói chung và dạy học Địa lí nói riêng
Kênh hình là một bộ phận không thể thiếu trong nội dung chương trình
Trang 31trung tâm, vai trò của kênh hình dần được nâng lên thì việc sử dụng kênh hình bắt đầu được chú trọng theo hướng khai thác nguồn tri thức Tuy nhiên, việc
sử dụng kênh hình theo hướng tích cực mới chỉ được thực hiện trong vài năm gần đây nhưng ngày càng được phổ biến rộng rãi
Ở bậc THCS, từ năm học 2002 – 2003 chương trình SGK mới được áp dụng đã khuyến khích các GV và HS coi kênh hình như một nguồn tri thức để khai thác và sử dụng trong quá trình dạy học
Ở bậc THPT, bắt đầu từ năm học 2006 – 2007, SGK mới của lớp 10 được đưa vào sử dụng đã đáp ứng được nhu cầu về đổi mới nội dung, chương trình Các kiến thức được chọn lọc và mang tính cập nhật, đồng thời số lượng các kênh hình phong phú và đa dạng hơn giúp cho HS có điều kiện học tập chủ động, sáng tạo hơn Chính vì vậy khi SGK mới của lớp 11 và lớp 12 được thay đổi thì lượng kênh hình cũng được tăng lên nhiều hơn so với lượng kênh hình trong SGK cũ Kênh hình được GV khai thác và sử dụng theo hai khuynh hướng:
+ Khuynh hướng thứ nhất: dùng với mục đích để minh họa kiến thức lí thuyết và minh họa cho nội dung bài giảng
Khuynh hướng trên có ưu điểm: có thể cung cấp được một lượng tri thức cho HS trong một thời gian ngắn (nếu sự trình bày của GV đảm bảo được nội dung khoa học, có tính logic biết kết hợp nhuần nhuyễn các phương
Trang 32tượng đó Song nhược điểm cơ bản là kém tác dụng trong việc phát huy trí lực cũng như hạn chế năng lực chủ động sáng tạo của HS trong lĩnh hội những tri thức và rèn luyện những kĩ năng bộ môn mà mục đích yêu cầu sư phạm lại đòi hỏi HS phải có sự sáng tạo và độc lập trong vấn đề khai thác tri thức Như vậy kênh hình lúc này có vai trò là để chứng minh cho một hiện tượng, một quá trình, một kết luận về địa lí tự nhiên cũng như về địa lí kinh
tế - xã hội do giáo viên truyền đạt Chúng là những minh chứng, phương tiện bổ sung để làm rõ thêm các hiện tượng, các vấn đề, các quy luật kinh
tế - xã hội đã nêu
+ Khuynh hướng thứ 2: Dùng như một nguồn tri thức
Hiện nay, dạy học lại chú ý nhiều đến việc sử dụng các phương pháp dạy cho HS có được năng lực độc lập nghiên cứu, tự minh khai thác nắm tri thức qua các nguồn thông tin khác nhau Do đó, việc coi kênh hình như một nguồn khai thác tri thức hiện nay đã được phổ biến
Trên thực tế, có nhiều GV đã tìm tòi, nghiên cứu và sử dụng có hiệu quả các phương tiện dạy học như bản đồ kết hợp với các đồ dùng dạy học tự chuẩn bị (lược đồ phóng to treo tường, tranh ảnh, biểu đồ, sơ đồ…) có trong SGK hoặc sưu tầm phù hợp với nội dung bài học Song bên cạnh đó còn một
bộ phận không nhỏ các GV địa lí coi nhẹ việc sử dụng phương tiện dạy học
và nguyên tắc trực quan trong giờ lên lớp Thậm chí một số giờ dạy còn không có các bản đồ cần thiết Kĩ năng khai thác kênh hình chưa cao Cùng với đó là một bộ phận không nhỏ HS cho rằng “Địa lí là môn học phụ, môn học thuộc lòng” do đó ít có sự đầu tư cho môn học Khi gặp các dạng bài đòi hỏi tư duy như phân tích bản đồ, sơ đồ, biểu đồ HS tỏ ra rất lúng túng Nhiều HS lên bảng xác định phương hướng trên bản đồ còn sai nên không nắm được vị trí phân bố, các mối quan hệ của các hiện tượng, đối tượng địa lí
Trang 33Nhưng với thời lượng là 45 phút và phải truyền tải nhiều nội dung trong một bài học, thì cần phải có phương pháp hợp lí trong việc khai thác và sử dụng kênh hình để đạt hiệu quả cao, một mặt phát huy được tính tích cực vai trò của kênh hình, mặt khác vẫn đảm bảo được các nội dung khác trong bài học
Trang 34SỬ DỤNG KÊNH HÌNH TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 10 – BAN CƠ BẢN Qua bảng thống kê 1.1 Hệ thống kênh hình trong SGK Địa lí lớp 10 đã
cho biết số lượng kênh hình trong SGK lớp 10 khá nhiều, hầu như bài nào cũng có và được phân bố trong từng phần khác nhau, trong từng nội dung cụ thể Có thể trong nội dung của bài mới, trong phần câu hỏi và bài tập, trong bài thực hành, phần đọc thêm Mục đích của việc sắp xếp đó là rèn luyện kĩ năng khai thác tri thức bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau Ngoài kênh hình trong SGK, GV có thể khai thác từ các nguồn tư liệu khác nhau để lựa chọn những kênh hình GV có thể sử dụng kênh hình trong dạy học Địa lí lớp 10 những trường hợp sau:
2.1 Sử dụng kênh hình trong khâu chuẩn bị bài lên lớp
Để làm tốt vai trò của mình trong quá trình giảng dạy, người GV cần chuẩn bị một số công việc trước khi lên lớp như: Đọc tài liệu, đọc SGK, soạn bài, dự kiến các tình huống xảy ra trên lớp…Khâu chuẩn bị này rất quan trọng, nó góp phần quyết định thành công của một bài giảng Ở khâu này GV
đã dự kiến chuẩn bị các phương pháp cùng với một số phương tiện dạy học thích hợp
Trong quá trình lựa chọn các kênh hình để giảng dạy, người GV phải xác định được loại kênh hình nào để phục vụ trong bài giảng, kênh hình nào dùng để khai thác kiến thức hay minh họa, rèn luyện kĩ năng cho HS, các yêu cầu cần đạt khi sử dụng kênh hình Sau đó tìm ra mối quan hệ giữa giữa kênh hình và nội dung bài học GV cũng nên hình dung, phán đoán trong mỗi mục nếu dùng kênh hình này thì kết quả ra sao, dùng kênh hình kia thì kết quả như thế nào? Như vậy trong khâu chuẩn bị bài giảng và thiết kế bài giảng, việc lựa chọn kênh hình một cách có phương pháp sẽ giúp GV tìm ra những kênh hình phục vụ hiệu quả bài giảng
Trang 35- Hình dung trước cách khai thác tri thức của HS qua hệ thống kênh hình (GV phải tạo ra những tình huống có vấn đề hay lựa chọn những câu hỏi
có tính chất gợi mở, nêu ra những vấn đề theo nội dung bài học để HS căn cứ vào nguồn tri thức tìm kiếm thông tin
- Hệ thống hóa những kiến thức cần khai thác từ hệ thống kênh hình trong mỗi bài để dễ dàng đối chiếu với kết quả mà HS thu được, từ đó đưa ra những nhận xét và bổ sung cần thiết
Ngoài ra trong khâu chuẩn bị bài GV cần dự kiến phương pháp và phương tiện hướng dẫn rèn luyện kỹ năng cho HS Lập trình tự cho HS làm việc với kênh hình ở lớp cũng như ở nhà dưới sự hướng dẫn của GV
Trong trường hợp cần thiết, GV có thể kết hợp lập một số bảng biểu để HS dựa vào đó khai thác kênh hình, trả lời hoặc điền vào những nội dung cần thiết
Ví dụ: Khi dạy bài 12 Sự phân bố khí áp Một số loại gió chính [20] Để giúp HS hiểu về đặc điểm của một số loại gió chính một cách sâu sắc, có khoa học và dễ nhớ GV có thể chuẩn bị một phiếu học tập, trong quá trình giảng trên lớp GV yêu cầu HS quan sát hình và điền vào phiếu, cụ thể như sau:
Câu hỏi: Dựa vào hình: Các đai khí áp và gió trên Trái Đất, hoàn thành nội dung trong bảng sau:
Trang 36Bảng 2.1: Một số loại gió chính Gió Tây Ôn đới Mậu dịch Mùa
Yêu cầu khi chọn sử dụng kênh hình cho bài giảng:
- Là những loại kênh hình phù hợp với nội dung bài giảng
- Phù hợp với nhận thức của từng học sinh
- Có sự phân chia vai trò cho mỗi loại kênh hình và lựa chọn kênh hình tiêu biểu
- Dưới mỗi kênh hình nên có chú thích
2.2 Sử dụng kênh hình trong quá trình giảng bài
Một bài lên lớp của GV phổ thông thường có các bước: Kiểm tra kiến thức cũ của HS, giảng bài mới, hướng dẫn HS học bài và làm bài tập về nhà
Hình 2.1 – Các đai khí áp và gió trên Trái Đất
(Nguồn: Hình 12.1 [20,tr.44])
Trang 37lời Không phát huy được tính độc lập suy nghĩ của HS Chúng ta có thể thay đổi cách kiểm tra bài cũ bằng cách kết hợp sử dụng kênh hình trong quá trình này Như thế vừa có tác dụng tái hiện kiến thức cũ, củng cố khắc sâu tri thức vừa rèn luyện được kỹ năng địa lí, chấn chỉnh được thái độ học tập của HS, đưa HS tới một lối tư duy độc lập, sáng tạo, hiệu quả
Ví dụ Khi học xong bài 12 Sự phân bố khí áp Một số loại gió chính [20] trước khi vào bài mới, GV có thể dùng hình sau:
Hình 2.2 – Hoạt động gió Tây ôn đới ở Bán cầu Nam
Để kiểm tra bài cũ với câu hỏi “ Dựa vào hình sau, em hãy cho biết đây là loại gió gì? Đặc điểm của loại gió này? (Xuất phát, hướng thổi, thời gian thổi và tính chất)
Hình 2.2 GV mô phỏng lại Hình 12.1 – Các đai khí áp và gió trên Trái Đất - để kiểm tra lại kiến thức của HS HS cũng dựa vào kiến thức đã
được học trong bài 12, hơn nữa có thể liên hệ, tái hiện lại những đặc điểm của loại gió trên qua hình 12.1
Chiều gió thổi
ôn đới Cận nhiệt
Trang 38hình thức, mục đích khác nhau GV có thể dùng hình ảnh để minh họa, soi sáng kiến thức hay để rèn luyện kĩ năng cho HS
Với mục đích như vậy, khi dùng kênh hình (tranh ảnh, bản đồ, video…) trong:
- Phần mở đầu bài học mới GV nên kết hợp với một số phương pháp như thuyết trình, đàm thoại, gợi mở…để định hướng bài học cho HS
Ví dụ để mở đầu bài 36 Vai trò, đặc điểm và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển và phân bố ngành Giao thông vận tải [20] GV có thể cho HS quan sát một số hình ảnh có sau:
GV đặt vấn đề: Qua hình ảnh sau, em hãy cho biết đây là hoạt động của ngành kinh tế nào?
HS: Ngành Giao thông vận tải
GV: Qua một số hình ảnh các em vừa quan sát được chúng ta thấy ngành Giao thông vận tải đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người Nhưng vai trò cụ thể của nó ra sao? Ngành Giao thông vận tải có đặc điểm gì? Sự phát triển và phân bố của ngành này chịu ảnh hưởng của những nhân tố nào? Để trả lời