1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012

90 758 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 871,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đái tháo đường là bệnh không chữa khỏi hoàn toàn, chất lượng cuộc sống của người bệnh phụ thuộc vào sự kiểm soát glucose máu và giảm thiểu các biến chứng do đái tháo đường gây nên... Tỷ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC

-♣♦♣ -

LÊ XUÂN KHỞI

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ KIỂM SOÁT ĐÁI THÁO ĐƯỜNG ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA

KHOA TỈNH VĨNH PHÚC NĂM 2012

Chuyên ngành: NỘI KHOA

Mã số: 60.72.01.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN KIM LƯƠNG

THÁI NGUYÊN - NĂM 2012

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) ngày càng trở nên là vấn đề lớn đối với giới y khoa cũng như đối với cộng đồng, bệnh đang gia tăng với mức độ đáng lo ngại Dự báo của các chuyên gia y tế từ những năm 90 của thế kỷ XX đã và đang trở thành hiện thực [6] Trong đó, đái tháo đường là bệnh không lây nhiễm được WHO quan tâm hàng đầu trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ ban đầu

Đái tháo đường là bệnh mang tính xã hội cao ở nhiều quốc gia bởi sự phát triển nhanh chóng và hậu quả nặng nề của bệnh Đái tháo đường là lực cản của sự phát triển kinh tế, là gánh nặng cho toàn xã hội Khi mà mỗi năm thế giới phải chi số tiền khổng lồ cho việc phòng chống và điều trị bệnh

Theo WHO, năm 1994 có khoảng 110 triệu người mắc đái tháo đường trên toàn cầu, năm 2010 ước tính có khoảng 221 triệu người mắc, WHO cũng

dự báo sẽ có khoảng 300 - 330 triệu người mắc đái tháo đường vào những năm 2025 [5],[6] Đây là một căn bệnh phát triển nhanh nhất và là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở các nước đang phát triển

Việt Nam không xếp vào 10 nước có tỷ lệ mắc đái tháo đường cao nhưng lại là quốc gia có tốc độ phát triển bệnh nhanh Năm 1990 lần đầu tiên điều tra dịch tễ được tiến hành tại Hà Nội phát hiện tỷ lệ mắc là 1,2 %, đến

2002 tỷ lệ này đã tăng lên gấp đôi là 2,16% Một nghiên cứu của Bệnh viện Nội tiết Trung ương vào năm 2006 cho thấy, tỷ lệ mắc đái tháo đường chung cho cả nước là 2,7% , đáng lưu ý trong đó có tới 64,6% người bệnh không biết mình mắc bệnh [4]

Đái tháo đường là bệnh không chữa khỏi hoàn toàn, chất lượng cuộc sống của người bệnh phụ thuộc vào sự kiểm soát glucose máu và giảm thiểu các biến chứng do đái tháo đường gây nên

Trang 3

Vĩnh Phúc là tỉnh phát triển về công nghiệp và dịch vụ, cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội đời sống nhân dân từng bước được cải thiện thì tỷ

lệ mắc bệnh đái tháo đường ngày càng gia tăng Biện pháp hữu hiệu để làm giảm tiến triển và biến chứng của bệnh, chi phí cho chữa bệnh ít tốn kém nhất

là phải phát hiện sớm quản lý và điều trị người bệnh kịp thời Hiện nay trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nhiều đơn vị y tế tuyến tỉnh và tuyến huyện đã triển khai công tác quản lý và điều trị đái tháo đường ngoại trú, đi đầu là bệnh viện

đa khoa tỉnh Tuy nhiên, việc đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều

trị ngoại trú và xác định các yếu tố liên qua đến kết quả kiểm soát đái tháo

đường hiện nay chưa được quan tâm đầy đủ tại Vĩnh Phúc

Góp phần tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh

viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012”

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu bệnh đái tháo đường

Trong các bệnh chuyển hoá, đái tháo đường là bệnh lý thường gặp nhất

và có lịch sử nghiên cứu rất lâu năm nhưng những thành tựu nghiên cứu về bệnh chỉ có được trong vài thập kỷ gần đây

Thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, Aretaeus đã bắt đầu mô tả về những người mắc bệnh đái nhiều AD Thomas Willis (1674) lần đầu tiên hiểu được

vị ngọt của nước tiểu ở những bệnh nhân đái tháo đường là do sự có mặt glucose [5],[6]

Năm 1869, Langerhans tìm ra tổ chức tiểu đảo, gồm 2 loại tế bào bài tiết ra insulin và glucagon không nối với đường dẫn tụy Năm 1889, Minkowski và Von Mering gây đái tháo đường thực nghiệm ở chó bị cắt bỏ tụy, đặt cơ sở cho học thuyết đái tháo đường do tụy [5]

Năm 1921, Banting và Best cùng các cộng sự đã thành công trong việc tinh chế insulin tinh khiết để điều trị cho người bệnh Năm 1956 sulfonylureas

ra đời, năm 1972 máy theo dõi glucose máu được hoàn thiện [5]

Nghiên cứu DDCT (Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng về kiểm soát bệnh và biến chứng đái tháo đường, được công bố năm 1993) và nghiên cứu UKPDS (được công bố năm 1998) đã mở ra một kỷ nguyên mới cho điều trị bệnh đái tháo đường, đó là kỷ nguyên của sự kết hợp y tế chuyên sâu và y học

dự phòng, dự phòng cả về lĩnh vực hạn chế sự xuất hiện và phát triển bệnh [5],[6],[62] Đáng lưu ý là trong nghiên cứu UKPDS, bệnh nhân khi phát hiện bệnh thì tỷ lệ đã có các biến chứng do đái tháo đường rất cao [53],[65],[66] Điều này nhấn mạnh thêm tầm quan trọng của việc cần phải phát hiện quản lý

và điều trị sớm kiểm soát tốt glucose máu trong bệnh đái tháo đường

Trang 5

1.2 Định nghĩa, chẩn đoán và phân loại bệnh đái tháo đường

1.2.1 Định nghĩa

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, “Đái tháo đường là một hội chứng có đặc

tính biểu hiện bằng sự tăng đường máu do hậu quả của việc mất hoàn toàn insulin hoặc là do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết hoặc hoạt động của insulin" Người ta cho rằng ĐTĐ là một rối loạn của hệ thống nội tiết,

bệnh có thuộc tính là tăng glucose máu Mức độ tăng glucose máu phụ thuộc vào sự mất toàn bộ hay một phần khả năng bài tiết hoặc khả năng hoạt động của insulin [4],[6]

1.2.2 Chẩn đoán

Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định:

Theo ADA năm 1997 và được Tổ chức Y tế Thế giới công nhận năm

1998, tuyên bố áp dụng vào năm 1999, đái tháo đường được chẩn đoán xác định khi có ít nhất một trong ba tiêu chuẩn sau:

- Tiêu chuẩn 1: Glucose máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l Kèm theo các triệu chứng uống nhiều, đái nhiều, sút cân không có nguyên nhân

- Tiêu chuẩn 2: Glucose máu lúc đói ≥ 7,0 mmol/l, xét nghiệm lúc bệnh nhân đã nhịn đói sau 6 - 8 giờ không ăn

- Tiêu chuẩn 3: Glucose máu ở thời điểm 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp tăng glucose máu ≥ 11,1 mmol/l

Các xét nghiệm trên phải được lặp lại 1 - 2 lần trong những ngày sau đó [5],[6]

1.2.3 Phân loại bệnh đái tháo đường

1.2.3.1 Đái tháo đường týp 1

Đái tháo đường týp 1 chiếm tỷ lệ khoảng 5 - 10% tổng số bệnh nhân đái tháo đường thế giới Nguyên nhân do tế bào bê - ta bị phá hủy, gây nên sự

Trang 6

thiếu hụt insulin tuyệt đối cho cơ thể (nồng độ insulin giảm thấp hoặc mất hoàn toàn) Các kháng nguyên bạch cầu người (HLA) chắc chắn có mối liên quan chặt chẽ với sự phát triển của đái tháo đường typ 1 [6]

Đái tháo đường typ 1 phụ thuộc nhiều vào yếu tố gen và thường được phát hiện trước 40 tuổi Nhiều bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em và trẻ vị thành niên biểu hiện nhiễm toan ceton là triệu chứng đầu tiên của bệnh Đa số các trường hợp được chẩn đoán bệnh đái tháo đường typ 1 thường là người có thể trạng gầy, tuy nhiên người béo cũng không loại trừ Người bệnh đái tháo đường typ 1 sẽ có đời sống phụ thuộc insulin hoàn toàn [6],[52]

Có thể có các nhóm dưới đây:

- Đái tháo đường qua trung gian miễn dịch

- Đái tháo đường typ 1 không rõ nguyên nhân

1.2.3.2 Đái tháo đường typ 2

Đái tháo đường typ 2 chiếm tỷ lệ khoảng 90% đái tháo đường trên thế giới, thường gặp ở người trưởng thành trên 40 tuổi Nguy cơ mắc bệnh tăng dần theo tuổi Tuy nhiên, do có sự thay đổi nhanh chóng về lối sống, về thói quen ăn uống, đái tháo đường typ 2 ở lứa tuổi trẻ đang có xu hướng phát triển nhanh [6]

Đặc trưng của đái tháo đường typ 2 là kháng insulin đi kèm với thiếu hụt tiết insulin tương đối Đái tháo đường typ 2 thường được chẩn đoán rất muộn vì giai đoạn đầu tăng glucose máu tiến triển âm thầm không có triệu chứng Khi có biểu hiện lâm sàng thường kèm theo các rối loạn khác về chuyển hoá lipid, các biểu hiện bệnh lý về tim mạch, thần kinh, thận, nhiều khi các biến chứng này đã ở mức độ rất nặng

Đặc điểm lớn nhất trong sinh lý bệnh của đái tháo đường typ 2 là có sự tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường trong cơ chế bệnh sinh Người mắc bệnh đái tháo đường typ 2 có thể điều trị bằng cách thay đổi thói quen,

Trang 7

kết hợp dùng thuốc uống để kiểm soát glucose máu, tuy nhiên nếu quá trình này thực hiện không tốt thì bệnh nhân cũng sẽ phải điều trị bằng cách dùng insulin [31]

1.2.3.3 Đái tháo đường thai nghén

Đái tháo đường thai kỳ thường có xu hướng hay gặp ở người nhiều tuổi, có thừa cân, béo phì, tần xuất mắc cũng tăng lên cùng với tuổi và chỉ số khối cơ thể [6],[60] Đái tháo đường thai nghén là nguyên nhân của các biến chứng nguy hiểm cho thai phụ trong thời kỳ mang thai và trong chuyển dạ như: hôn mê do tăng đường huyết, đẻ non, thai chết lưu, nhiễm trùng, tăng huyết áp, suy thận và các biến chứng mạch máu khác Đối với thai nhi thường thấy các biến chứng chuyển hóa bao gồm hạ đường máu, hạ calci máu, thai to, tăng nguy cơ bị dị dạng bẩm sinh, suy hô hấp Tăng tỷ lệ bệnh tật ở trẻ sơ sinh của phụ nữ đái tháo đường Ảnh hưởng đến trẻ em không chỉ giới hạn ở thời

kỳ chu sinh mà còn ảnh hưởng rất lâu dài, khi trưởng thành những trẻ em này

sẽ sớm dẫn đến tình trạng kháng insulin, béo phì, giảm dung nạp glucose chiếm tỷ lệ cao và là một trong những lý do dẫn tới đái tháo đường [31]

Ở Việt Nam các nghiên cứu cho thấy lứa tuổi đái tháo đường thai nghén hay gặp nhất ở thai phụ thường trên 35 tuổi có thừa cân béo phì [6] Tỷ

lệ mắc bệnh trong thời kỳ mang thai theo nghiên cứu của Tạ Văn Bình (2006)

là 5,7% [4] Nghiên cứu của Nguyễn Hoa Ngần tại bệnh viện A Thái Nguyên cho kết quả 9,4% thai phụ mắc đái tháo đường thai kỳ [40]

1.2.3.4 Các thể đái tháo đường khác

Nguyên nhân liên quan đến một số bệnh, thuốc, hoá chất [6],[16]

- Khiếm khuyết chức năng tế bào bê - ta

- Khiếm khuyết gen hoạt động của insulin

- Bệnh tụy ngoại tiết: Viêm tụy, chấn thương, carcinum tụy

- Các bệnh nội tiết: Hội chứng Cushing, cường năng tuyến giáp

Trang 8

- Thuốc hoặc hóa chất

- Các thể ít gặp qua trung gian miễn dịch

1.3 Biến chứng bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh

sẽ tiến triển nhanh chóng và xuất hiện các biến chứng cấp và mạn tính Bệnh nhân có thể tử vong do các biến chứng này [63]

bị, điều trị và chăm sóc, tỷ lệ tử vong vẫn cao [6]

Hạ glucese máu thường sảy ra khi lượng glucose huyết tương còn khoảng 2,7-3,3mmol/l, hạ glucose máu là hậu quả của tình trạng mất cân bằng giữa 2 quá trình cung cấp và tiêu thụ glucose trong tuần hoàn [6]

Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là tình trạng rối loạn chuyển hóa glucose máu nặng, glucose máu tăng cao Tỷ lệ tử vong do hôn mê tăng áp lực thẩm thấu thường rất cao ngay cả khi được cấp cứu kịp thời ở những tuyến chuyên khoa [6]

1.3.2 Biến chứng mạn tính

1.3.2.1 Biến chứng tim - mạch

Biến chứng chính của đái tháo đường là bệnh tim mạch, trên 80% bệnh nhân đái tháo đường sẽ tiến tới tử vong bởi một vài biến chứng tim mạch [1] Mặc dù có nhiều yếu tố tham gia gây bệnh mạch vành, nhưng các nghiên cứu

Trang 9

cho thấy nồng độ glucose máu cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch vành và các biến chứng tim mạch khác Người đái tháo đường có nguy cơ mắc bệnh tim mạch gấp 2 - 4 lần so với người bình thường [16]

Tăng huyết áp thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, tỷ lệ mắc bệnh chung của tăng huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường tăng gấp đôi so với người bình thường [6],[35]

Ngoài ra, tỷ lệ biến chứng mạch não ở bệnh nhân đái tháo đường gấp 1,5 -

2 lần, viêm động mạch chi dưới gấp 5 - 10 lần so với người bình thường Tỷ

lệ tăng các bệnh tim mạch có liên quan đến một số yếu tố nguy cơ ở người đái tháo đường có béo phì, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp [45]

Theo nghiên cứu của Trần Vĩnh Thủy (2007) tại Thái Nguyên biến chứng tim mạch là 53,8% [47] Bế Thu Hà (2009) nghiên cứu tại Bắc Cạn cho

tỷ lệ biến chứng tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường là 42,8% [16]

1.3.2.2 Biến chứng thận

Biến chứng thận do đái tháo đường là một trong những biến chứng thường gặp, tỷ lệ biến chứng tăng theo thời gian mắc bệnh Bệnh thận do đái tháo đường khởi phát bằng protein niệu, sau đó khi chức năng thận giảm xuống, cận lâm sàng sẽ thấy tăng urê và creatinin

Bệnh thận do đái tháo đường là nguyên nhân thường gặp nhất gây suy thận giai đoạn cuối có tới 11% các bệnh nhân Mỹ và Châu Âu phải lọc thận và ghép thận do biến chứng thận của đái tháo đường, suy thận thường thấy ở 30-40% đái tháo đường typ 1 và 5-10% đái tháo đường typ

2 [26] Ở Việt Nam số người bệnh đái tháo đường phải nhập viện có biến chứng thận là 71% [31]

Để phát hiện tổn thương thận do đái tháo đường có thể định lượng microalbumin niệu, đo mức lọc cầu thận, định lượng protein niệu/ 24 giờ [6] Dựa vào định lượng protein niệu Nguyễn Thị Thu Minh (2011) nghiên cứu tại

Trang 10

bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên cho kết quả 25,6% đối tượng nghiên cứu có tổn thương thận [34]

1.3.2.3 Bệnh lý mắt ở bệnh nhân đái tháo đường

Đục thuỷ tinh thể là tổn thương thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, có vẻ tương quan với thời gian mắc bệnh và mức độ tăng đường huyết kéo dài Đục thuỷ tinh thể ở người đái tháo đường cao tuổi sẽ tiến triển nhanh hơn người không đái tháo đường [16]

Bệnh lý võng mạc đái tháo đường là nguyên nhân hàng đầu của mù ở người 20 - 60 tuổi Bệnh biểu hiện nhẹ bằng tăng tính thấm mao mạch, ở giai đoạn muộn hơn bệnh tiến triển đến tắc mạch máu, tăng sinh mạch máu với thành mạch yếu dễ xuất huyết gây mù loà Sau 20 năm mắc bệnh, hầu hết bệnh nhân đái tháo đường typ 1 và khoảng 60% bệnh nhân đái tháo đường typ

2 có bệnh lý võng mạc do đái tháo đường [16]

Theo nghiên cứu của Tô Văn Hải, Phạm Hoài Anh tại Bệnh viện Thanh Nhàn - Hà Nội, số bệnh nhân có bệnh về mắt chiếm 72,5%, trong đó tỷ lệ bệnh võng mạc đái tháo đường 60,5%, đục thủy tinh thể 59% [18]

Nghiên cứu của Đặng Văn Hòa, Nguyễn Kim Lương tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên cho thấy 52,94% bệnh nhân bị đục thuỷ tinh thể, 22,94% bệnh nhân bị bệnh võng mạc đái tháo đường [22]

1.3.2.4 Bệnh thần kinh do đái tháo đường

Bệnh thần kinh do đái tháo đường gặp khá phổ biến, ước tính khoảng 30% bệnh nhân đái tháo đường có biểu hiện biến chứng này Người bệnh đái tháo đường typ 2 thường có biểu hiện tổn thương thần kinh ngay tại thời điểm chẩn đoán [16]

Bệnh thần kinh do đái tháo đường thường được phân chia thành các hội chứng lớn sau: Viêm đa dây thần kinh, bệnh đơn dây thần kinh, bệnh thần kinh thực vật, bệnh thần kinh vận động gốc chi [16]

Trang 11

Tác giả Đỗ Trung Quân, Trần Thị Nhật nghiên cứu bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại bệnh viện Bạch Mai năm 2011 cho kết quả

tỷ lệ biến chứng thần kinh ngoại vị ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 khá cao 63,4% [42]

1.3.3 Một số biến chứng khác

1.3.3.1 Bệnh lý bàn chân do đái tháo đường

Bệnh lý bàn chân đái tháo đường ngày càng được quan tâm do tính phổ biến của bệnh Bệnh lý bàn chân đái tháo đường do sự phối hợp của tổn thương mạch máu, thần kinh ngoại vi và cơ địa dễ nhiễm khuẩn do glucose máu tăng cao [16]

Một thông báo của WHO tháng 3 - 2005 cho thấy có tới 15% số người mắc bệnh đái tháo đường có liên quan đến bệnh lý bàn chân, 20% số người phải nhập viện do nguyên nhân bị loét bàn chân [6]

Ở Việt Nam, tỷ lệ tổn thương động mạch 2 chi dưới chiếm khoảng 65,12% [11] Chiếm tỷ lệ cao ở những đối tượng bị bệnh lý bàn chân là ở những người cao tuổi 76% trên 60 tuổi, thời gian mắc bệnh trên 5 năm và 100% kiểm soát đường huyết kém [27]

Tỷ lệ cắt cụt của người bị biến chứng bàn chân do đái tháo đường của Việt Nam cũng khá cao, theo Đặng Hoàng Nga (2011) nghiên cứu kết quả điều trị ngoại khoa biến chứng bàn chân trên bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên, cho kết quả tỷ lệ cắt cụt là 58,9% [39] Nghiên cứu của Nguyễn Hải Thủy, Đào thị Dừa (2003) tại bệnh viện trung ương Huế, cho thấy tỷ lệ cắt cụt chiếm 28,8% [46]

1.3.3.2 Nhiễm khuẩn ở bệnh nhân đái tháo đường

Bệnh nhân bị đái tháo đường thường nhạy cảm với tất cả các loại nhiễm khuẩn do có nhiều yếu tố thuận lợi Có thể gặp nhiễm khuẩn ở nhiều

Trang 12

cơ quan như: viêm đường tiết niệu, viêm răng lợi, viêm tủy xương, viêm túi mật sinh hơi, nhiễm nấm [3],[6],[31]

1.4 Rối loạn chuyển hóa lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường

Rối loạn lipid máu là tình trạng rối loạn và / hoặc tăng nồng độ các thành phần lipid trong máu, hậu quả là sự tạo thành các mảng xơ vữa gây tắc mạch, làm gia tăng nguy cơ biến chứng tim mạch và đột qụy, tăng các biến chứng mạch máu khác Ngày nay, người ta xem đã có rối loạn lipid máu ngay

từ khi tỷ lệ các thành phần của lipid trong máu có sự thay đổi [6]

Tăng triglycerid máu thường thấy trong giai đoạn đầu của đái tháo đường typ 1 là do giảm hoạt tính của lipoprotein lipase ở mô mỡ, hiện tượng này được khôi phục trong vòng 3 tháng sau khi bắt đầu điều trị Tăng triglycerid máu do tăng VLDL thường sảy ra ở người mắc bệnh đái tháo đường typ 1 không quản lý tốt glucose máu, tăng tryglycerid máu dai dẳng cũng thường thấy ở những đối tượng kiểm soát kém glucose máu Nồng độ triglycerid hạ thấp nếu tình trạng kiểm soát glucose máu được cải thiện, đặc biệt khi mức glucose máu được bình thường hóa bằng sử dụng tiêm insulin dưới da liên tục hoặc tiêm nhiều mũi insulin [6]

HDL-C cũng được cải thiện cùng với kết quả điều trị, HDL-C sẽ bình thường hoặc thậm chí tăng lên ở những người bệnh đái tháo đường typ 1 được quản lý tốt glucose máu [6]

Tác động của đái tháo đường typ 2 đối với lipid và lipoprotein khó được đánh giá hơn vì sự không đồng nhất của các yếu tố tham gia vào chu trình sinh bệnh học của bệnh, thậm chí cả vào phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường như ảnh hưởng của kiểm soát glucose máu, béo phì, tình trạng sử dụng thuốc Bệnh đái tháo đường typ 2 chưa được dùng insulin hoặc uống thuốc hạ glucose máu thường tăng triglycerid máu và HDL-C thấp Khi bắt đầu sử dụng insulin hoặc sulfamid làm hạ glucose máu dẫn đến giảm VLDL

và tăng HDL-C [6],[32],[54]

Trang 13

Trong thực tế, tăng triglycerid máu và giảm mức HDL-C thường tồn tại

ở người đái tháo đường typ 2 đã được điều trị và đôi khi không phụ thuộc vào mức độ kiểm soát glucose máu, những bất thường còn lại này được gọi là rối loạn lipid trong đái tháo đường, chúng bao gồm các hạt LDL-C nhỏ, đậm đặc đây là sự tích lũy tàn dư của các lipoprotein giàu triglycerid và các bất thường trong thành phần của HDL-C Tăng triglycerid máu là kết quả của tăng bài tiết VLDL do quá trình dị hóa, VLDL có thể bị tổn thương mặc dù mức lipoprotein lipase vẫn bình thường Trong trường hợp này phần nhiều là do hoạt tính của lipoprotein lipase bị giảm, ở những người bệnh dạng này thiếu hụt insulin thường chiếm ưu thế và luôn đi kèm với kháng insulin [6],[59],[61],[64]

Chuyển hóa LDL-C cũng bị rối loạn, với đái tháo đường typ 2 nhẹ không được điều trị, tốc độ tổng hợp và loại bỏ LDL cũng tăng lên đồng thời, dẫn đến LDL-C bình thường Ở những người có tăng glucose máu trung bình không được điều trị hoặc kiểm soát kém có thể dẫn đến tăng nhẹ LDL-C Nhưng trong trường hợp này mối quan tâm hàng đầu là sự hiện diện của các LDL-C hạt nhỏ đậm đặc thường gặp trong đái tháo đường typ 2 LDL-C có thể được tái cấu trúc thành hạt nhỏ hơn, đầm đặc hơn bởi lipase gan có thể tăng lên trong đái tháo đường typ 2 Kích thước hạt LDL-C cũng được chỉ ra

có tương quan nghịch với mức độ của thành phần hemoglobin HbA1c [6]

Mức HDL-C giảm đi trong đái tháo đường typ 2 và tăng lên cùng với giảm cân, sử dụng insulin và sulfonylurea uống để làm hạ glucose máu [6], [32]

1.5 Các phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường

1.5.1 Chế độ ăn, chế độ luyện tập.

* Chế độ ăn uống : Đảm bảo cung cấp dinh dưỡng cân bằng đầy đủ về lượng và chất để có thể điều chỉnh đường huyết duy trì cân nặng đảm bảo cho người bệnh có đủ sức khỏe để hoạt động, làm việc [3],[6],[31]

Trang 14

Thực phẩm cung cấp chất đạm, chất béo, chất đường, muối khoáng và chất sơ Chế độ ăn của người bệnh đái tháo đường được khuyên dùng là:

+ Đảm bảo cung cấp: chất đạm 12 - 15 %, chất đường 55%, chất béo ≤ 30% Cần dùng chất béo có lợi cho sức khỏe , ăn ít chất béo gây xơ vữa động mạch (Bơ, pho mát, các loại mỡ động vật trừ mỡ cá) hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol [31]

+ Nên dùng những thức ăn có đường hấp thu chậm, thức ăn có nhiều chất xơ, đủ sinh tố đặc biệt vitamin nhóm B, nên chia thành nhiều bữa để tránh tăng đường máu quá cao sau ăn [31]

Thực tế không có một công thức cụ thể cho các bệnh nhân vì chế độ ặn

cụ thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố

+ Thể trạng

+ Có lao động thể lực hay không

+ Tập quán ăn uống

+ Kinh tế gia đình

Dựa vào những yếu tố trên mà thầy thuốc có thể đưa ra những chế độ

ăn hợp lý cho người bệnh

Những việc cần làm khi luyện tập:

+ Đánh giá sự kiểm soát glucose máu

+ Có hay không các biến chứng của đái tháo đường

+ Tình trạng bàn chân và tuần hoàn vi mạch

+ Tình trạng đáy mắt

+ Hướng dẫn người bệnh trước và sau khi luyện tập

Trang 15

1.5.2 Điều trị bằng viên hạ đường huyết [6]

Viên hạ glucose máu bao gồm có các nhóm thuốc sau:

* Sulphonylurea : sulphonylurea kích thích tụy tiết insulin Tác động làm giảm glucose trung bình 50-60mg/dl, giảm HbA1c tới 2% Sulphonylurea được dùng thận trọng với người già, người bị bệnh thận hoặc rối loạn chức năng gan khi đó liều cần được giảm đi [6]

Các loại sulfonylurea:

- Thế hệ 1: Tolbutamid, Acetohexamid, Clopropamid

- Thế hệ 2: Glibenclamid (Hemidaonil 2,5mg; Daonil 5mg), Gliclazide (Diamicron 80mg; Diamicron MR 30mg; Predian 80mg), Glimepirid (Amaryl 2mg, 4mg) Những thuốc thuộc thế hệ 2 có tác dụng hạ glucose máu tốt hơn

và ít độc hơn các thuốc thuộc thế hệ 1 [6]

Khi sử dụng sufonylurea có thể làm tăng cân và dễ gây hạ glucose máu,

để hạn chế tác dụng phụ này người ta phối hợp sulfonylurea với biguanid như glucovance gồm metformin 500mg + glibenclamid 2,5mg hoặc 5mg, liều khởi đầu 1 viên/ngày uống cùng bữa ăn, tùy theo đường huyết có thể tăng 1-2 viên/ngày sau 1-2 tuần điều trị Đồng thời cũng để hạn chế tác dụng phụ này người ta đã thay đổi dạng bào chế là loại giải phóng chậm MR (Modified Release) Diamicron MR 30mg 1- 4 viên/ngày [6]

Nghiên cứu của G.Schernthaner sau 9 tuần điều trị bằng gliclazid MR HbA1c giảm từ 8,4% xuống 7,2%, gần 50% bệnh nhân đạt mức dưới 7,0% và

25 % bệnh nhân đạt mức dưới 6,5% [57]

* Metformin: Viên glucopha 500mg, 850mg, 1000mg, liều khởi đầu

500 hoặc 850 mg/ngày, liều tối đa 3000 mg chia 3 lần/ngày [6]

Metformin tác động chủ yếu là ức chế sản xuất glucose từ gan nhưng cũng làm tăng tính nhạy của insulin ngoại vi Tác động hạ glucose máu trong khoảng 2-4mmol/l và giảm HbA1c đến 2% Vì nó không kích thích tụy chế

Trang 16

tiết insulin nên không gây hạ glucose máu khi sử dụng đơn độc Metformin có tác dụng gây chán ăn nên tốt đối với bệnh nhân đái tháo đường có béo phì [6]

Hiện tại, việc chỉ định metformin cho người bệnh ngày càng mở rộng Ngoài tác dụng điều trị phòng chống đái tháo đường ở người bệnh béo phì, người mắc hội chứng chuyển hóa, metformin còn được chỉ định cho người bệnh đái tháo đường béo phì lứa tuổi vị thành niên, người đái tháo đường typ

2 có bệnh tim mạch vì thuốc có khả năng cải thiện tình trạng của lớp nội mạc mạch máu [6]

Nghiên cứu của UKPDS cho thấy Metformin có tác dụng mạnh đối với việc kiểm soát HbA1c, LDL-C, BMI [66]

* Nhóm ức chế α - glucosidase: Cơ chế tác dụng của thuốc không liên quan đến sự bài tiết insulin ở tế bào beta của tụy mà thông qua sự ức chế α -glucosidase ở bờ bàn chải niêm mạc ruột Ngoài ra thuốc còn ức chế sachase, glucoamylase, maltase ở ruột và làm giảm hấp thu đường Các thuốc hiện đang sử dụng là Glucobay 50 -100mg, Basen 0,2- 0,3mg, liều 25-100mg/mỗi bữa ăn [6],[32]

* Meglitinide/Repaglinide : Những thuốc này kích thích tế bào beta tuyến tụy tiết insulin Có thể dùng đơn trị liệu hoặc phối hợp metformin, insulin [6]

* Glitazone : Thuốc làm tăng nhạy cảm của cơ và tổ chức với insulin vì vậy làm tăng thu nạp glucose từ máu Thuốc làm tăng nhạy cảm của insulin ở

cơ vân, đồng thời ngăn cản quá trình bài tiết glucose từ gan Nhóm này gồm Pioglitazone, Rosiglitazone Những thuốc này có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp với các loại thuốc uống khác hoặc insulin Tác dụng phụ bao gồm tăng cân, giữ nước, rối loạn chức năng gan Khi dùng phải theo dõi chức năng gan

2 tháng một lần [6]

Trang 17

1.5.3 Điều trị bằng Insulin

Người bệnh đái tháo đường typ 1 phải được điều trị bằng insulin ngay, người bệnh đái tháo đường typ 2 cũng cần điều trị bằng insulin khi tụy mất khả năng bài tiết insulin dẫn đến thiếu hụt insulin, các trường hợp đái tháo đường typ 2 mắc các nhiễm trùng nặng, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, cần phẫu thuật Trong quá trình điều trị phải phối hợp chặt chẽ giữa điều chỉnh chế độ ăn, chế độ luyện tập và liều lượng insulin [31]

* Mục tiêu điều trị lý tưởng là:

+ Đường máu trước ăn của người đái tháo đường đạt đến từ 3,9 5,6mmol/l

-+ Đường máu khoảng 2 giờ sau ăn < 7,8 mmol/l

+ Đường máu nửa đêm vào khoảng 3,9 - 6,7 mmol/l

* Liệu trình điều trị bằng insulin được tiến hành như sau

- Liều khởi đầu: 0,5 - 1 đv/kg/ngày (Lần đầu dùng insulin test 15 đv insulin nhanh dưới da) kiểm tra lại glucose máu sau 3 giờ để điều chỉnh liều cho phù hợp

- Nên tiêm dưới da ngày 2 lần, 2/3 liều vào buổi sáng và 1/3 vào buổi tối

Tỷ lệ các loại insulin cho mỗi mũi tiêm thường là:

+ Mũi tiêm buổi sáng hoặc trưa 2 nhanh/1 chậm

+ Mũi tiêm buổi tối là 1 nhanh/1 chậm

- Để điều chỉnh lượng đường máu lúc đói hoặc buổi sáng, nên điều chỉnh liều insulin buổi tối hoặc trước khi đi ngủ hôm trước

- Khi mắc một bệnh khác hoặc đang mang thai, hoặc người bệnh buộc phải điều trị bằng cocticoid thì liều insulin có khi phải tăng gấp 2 - 3 lần

Một phác đồ nên duy trì 2 - 3 ngày, nếu vẫn không điều chỉnh được đường huyết mới thay đổi liều Nếu tiêm 4 mũi, liều insulin nên cao ở bữa chính, thấp hơn ở bữa phụ, thấp nhất trước khi đi ngủ Không nên cho liều lớn hơn 40đv/một lần tiêm, không tiêm insulin nhanh trước khi đi ngủ

Trang 18

* Một số chế độ điều trị bằng insulin

Để đạt được mục đích điều trị một cách an toàn, việc cần làm trước tiên

là tuân thủ các nguyên tắc về chế độ ăn, phân phối bữa ăn, kết hợp với việc dùng thuốc Người bệnh phải tuân thủ những quy định dùng insulin như: số lần tiêm, liều lượng phải gắn liền với kế hoạch ăn trong ngày Thời gian tiêm, điều chỉnh insulin phải dựa vào lượng đường máu hàng ngày Việc thiết lập chế độ luyện tập, chương trình làm việc phải được tính toán để có một chế độ

ăn, chế độ luyện tập phù hợp

- Chế độ điều trị ngày một lần tiêm

Đối với người đái tháo đường typ 1 đây không phải là chế độ phổ biến, chế độ này thường được áp dụng cho giai đoạn trăng mật, khi mà lượng insulin do bản thân tế bào beta tiết ra còn có khả năng duy trì một phần nhiệm

vụ cân bằng đường máu

Người ta có thể sử dụng insulin NPH đơn độc hoặc phối hợp với loại nhanh (Regula =R) theo tỷ lệ khác nhau, hoặc 3/4 hoặc 2/3 (NPH/R), tùy theo tình trạng bệnh và thời điểm tiêm thuốc

- Chế độ ngày hai lần tiêm

+ Mũi tiêm buổi sáng, có thể có hai cách

Mũi tiêm buổi sáng là insulin tác dụng nhanh (Regula hoặc Lispro) hoạt động mạnh nhất của insulin giữa bữa sáng và bữa trưa

Mũi tiêm buổi sáng là insulin bán chậm (loại NPH hoặc Lente) hoạt động mạnh nhất của insulin là vào khoảng thời gian giữa bữa sáng và bữa tối

+ Mũi tiêm buổi tối: thường là loại insulin bán chậm, có tác dụng điều hòa lượng đường máu ban đêm và sáng ngày hôm sau Người ta thường chia

ra tỷ lệ khác nhau cho các mũi tiêm buổi sáng và buổi tối

Chế độ tiêm ngày hai mũi có những lợi thế: giảm sự tăng đường máu

cơ sở và sau ăn, giảm đường máu qua đêm và buổi sáng

Trang 19

Bất lợi hay gặp là: hạ đường máu và tăng đường máu thứ phát sau hạ đường máu ban đêm (hiện tượng Dawn và hiệu ứng Somogyi)

- Chế độ ngày nhiều mũi tiêm

Trong chế độ này lượng insulin cơ bản chiếm tới 50% tổng liều insulin trong ngày Insulin cơ bản được sử dụng thường là loại có thời gian tác dụng bán chậm hoặc siêu nhanh như lispro với đường truyền dưới da liên tục

- Truyền insulin dưới da liên tục

Bơm insulin liên tục vào cơ thể theo đường dưới da để bình thường hóa lượng đường máu trong suốt 24 giờ Như vậy bơm insulin liên tục cung cấp một lượng insulin nhanh hoặc tác dụng ngắn trên cơ sở một lượng insulin nền

- Truyền insulin bằng bơm tiêm điện

Trong những trường hợp đã tiêm insulin dưới da nhiều mũi với liều tiêm mỗi mũi cao trên 30 đv thì nên chuyển sang truyền insulin băng bơm tiêm điện Tốc độ giờ đầu có thể tới 10 đv, kiểm tra glucose máu hàng ngày

và tùy theo mức glucose máu để điều chỉnh các giờ sau Khi glucose máu đã xuống tới 16mmol/l thì giảm liều insulin Khi glucose máu xuống 11mmol/l

có thể duy trì tốc độ truyền cho tới khi glucose máu ổn định ở 7 – 8 mmol/l Sau đó, chuyển trở lại các liều tiêm insulin dưới da

Trong khi truyền insulin cần theo dõi glucose mao mạch mỗi một giờ một lần Nếu glucose máu xuống thấp dưới 4 mmol/l lập tức phải dừng truyền

và truyền dịch glucose 5% theo dõi và xử trí hạ đường huyết (nếu có)

- Điều chỉnh liều insulin

Để có được liều insulin phù hợp cho từng trường hợp cần phải liên tục kiểm tra đường máu bằng máy cá nhân trong 2 -3 ngày, thường những ngày này phải đo từ 4 lần/ngày vào các thời điểm: lúc đói, trước và sau ăn, trước khi đi ngủ Nếu đường máu lúc đói từ 4,4 -6,7 mmol/l được xem là tốt, nếu

<3,9 hoặc >10 mmol/l phải được xem xét để điều chỉnh lại liều

Trang 20

Khi xem xét khả năng thay đổi liều insulin, cần phải lưu ý các yếu tố sau: + Chế độ luyện tập: Không phù hợp hoặc quyên bữa phụ, ăn quá nhiều hoặc quá ít

+ Bữa ăn chính thường không đúng giờ

+ Chọn loại insulin không phù hợp với sự phân bố bữa ăn

Cân nhắc các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả

+ Tăng đường máu lúc đói buổi sáng: Liều insulin bán chậm buổi sáng quá lớn

+ Hạ đường máu buổi chiều: liều insulin bán chậm buổi sáng quá lớn + Hạ đường máu ban đêm: thường do liều insulin buổi chiều quá lớn hoặc quá sớm

- Theo dõi điều trị người bệnh đái tháo đường bằng insulin

Ban đầu việc theo dõi glucose máu được tiến hành đều đặn trong vài ngày, vài tuần để điều chỉnh liều lượng Sau khi đã kiểm soát được lượng đương máu ở mức bình thường thì có thể kiểm tra glucose máu hàng tháng Định kỳ 3 tháng/1 lần phải kiểm tra toàn diện: tình trạng toàn thân, huyết áp, đáy mắt, tình trạng bàn chân, xét nghiệm HbA1c

- Sử dụng insulin trong những trường hợp đặc biệt

+ Trẻ em: Bệnh nhi là trẻ sơ sinh hoặc trẻ dưới 8 tuổi thường áp dụng chế độ 1 mũi/ngày, dùng insulin bán chậm sẽ tránh được nguy cơ hạ đường máu

Trang 21

Bệnh nhi từ 8 tuổi trở lên nên áp dụng chế độ tiêm 2 mũi/ngày, kết hợp insulin bán chậm và nhanh Ngày nay người ta áp dụng chế độ phác đồ tiêm nhiều mũi cho lứa tuổi này

+ Người cao tuổi: Đa số áp dụng chế độ tiêm 2 mũi/ngày bằng bút tiêm insulin Với đối tượng này lượng đường máu nên duy trì ở mức cao hơn bình thường ( có thể ≥ 7mmol/l)

Bảng 2: Cách tiêm insulin thông thường ở người lớn [31]

Ghi chú : R = insulin nhanh; N = insulin chậm

Đối với những bệnh nhân áp dụng phương pháp không dùng thuốc và điều trị bằng đơn trị liệu không kết quả cần phải điều trị bằng một trong các phác đồ sau [31]

+ Sulfonylurea + biguanid

+ Sulfonylurea + insulin

+ Sulfonylurea + ức chế α – glucosidase

+ Biguanid + insulin

+ Sulfonylurea + biguanid + insulin

Có rất nhiều cách điều trị phối hợp áp dụng cho tùy từng cơ thể, hiệu quả điều trị phụ thuộc vào sự đáp ứng của từng cá thể và kinh nghiệm điều trị của từng thầy thuốc Ngày nay có rất nhiều loại thuốc từ những thuốc kinh điển đến các thuốc mới đã được áp dụng vào điều trị

1.6 Giá trị của HbA1c trong theo dõi điều trị bệnh đái tháo đường

HbA1c được tạo thành từ phản ứng glycosyl hóa hemoglobin, phản ứng không cần enzym Tỷ lệ HbA1c phản ánh nồng độ glucose máu của bệnh

Trang 22

nhân trong thời gian 4 -8 tuần lễ trước thời điểm xét nghiệm Ở người bình thường HbA1c chiếm 4-6% tổng số hemoglobin huyết thanh, bệnh nhân đái tháo đường HbA1c được coi là một tiêu chuẩn đánh giá kết quả điều trị HbA1c tăng cao là biểu hiện của mất cân bằng đường huyết kéo dài [32],[34],[68]

Tỷ lệ HbA1c phản ánh nồng độ glucose máu ở thời gian 1-2 tháng trước đó Vì vậy việc xác định tỷ lệ HbA1c có ý nghĩa đánh giá nồng độ glucose máu trước thời điểm xét nghiệm 2 -3 tháng, nhằm phát hiện sớm bệnh nhân để điều trị, đánh giá kết quả điều trị, dự báo trước tình trạng thai sản, dự báo nguy cơ biến chứng [32]

Tỷ lệ HbA1c ở bệnh nhân đái tháo đường từ 5-7% cho biết bệnh nhân

đã được ổn định, nếu HbA1c trên 9% tức là glucose máu của bệnh nhân không được kiểm soát tốt từ 2-3 tháng trước đó Trên bệnh nhân có glucose máu cao, nếu điều trị tích cực giảm được glucose máu thì hàm lượng HbA1c chỉ giảm sớm nhất sau 4 tuần điều trị Ngày nay xét nghiệm HbA1c đã trở thành một xét nghiệm thường quy và được xem là chỉ điểm chuẩn để đánh giá kết quả kiểm soát glucose máu ở bệnh nhân đái tháo đường [31],[68]

Tuy nhiên, kết quả định lượng HbA1c sẽ bị ảnh hưởng bởi mốt số yếu tố: mất máu, thiếu máu do các nguyên nhân và các bệnh về huyết sắc tố [32], [68]

1.7 Quản lý, điều trị đái tháo đường ngoại trú tại Việt Nam hiện nay

Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ bệnh đái tháo đường tăng nhanh nhất thế giới trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, chỉ tính trong vòng 5 năm từ 2003 đến 2008 số lượng người mắc đái tháo đường được chẩn đoán đã tăng từ 2,7% lên tới 5% dân số [31] Bệnh đái tháo đường gây ra nhiều biến chứng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, đã thật sự trở thành gánh nặng cho gia đình người bệnh, cho hệ thống y tế và toàn xã hội Để hạn chế tỷ lệ mắc bệnh và biến chứng của bệnh đái tháo đường, cần có các giải pháp chẩn đoán sớm và quản lý điều trị đúng

Trang 23

Bệnh đái tháo đường không chữa khỏi hẳn được như các bệnh cấp tính khác Nhưng người bệnh đái tháo đường vẫn có cuộc sống sinh hoạt và lao động bình thường nếu duy trì được nồng độ glucose máu ở giới hạn cho phép

Tổ chức khám sàng lọc phát hiện sớm và lập sổ khám theo dõi ngoại trú cho người mắc đái tháo đường Khám lâm sàng và làm các xét nghiệm để định lượng glucose, ure, creatinin, SGOT, SGPT, cholesterol, triglycerit, HDL-C, LDL-C, acid uric, amylase, công thức máu, xét nghiệm nước tiểu: định lượng glucose, protein, ceton, tế bào, định kỳ 1 tháng 1 lần Điện tim, khám mắt, chụp x quang tim phổi, định lượng HbA1c 3 tháng 1 lần [31]

Sử dụng thuốc điều trị ngoại trú: Dựa vào kết quả khám lâm sàng và cận lâm sàng để kê đơn phù hợp cho từng trường hợp cụ thể Người bệnh tự phải theo dõi và dùng thuốc tại nhà nên cần được tư vấn kỹ về thời gian dùng thuốc, tác dụng không mong muốn có thể gặp Hướng dẫn chế độ ăn kiêng, chế độ luyện tập, có chỉ định theo dõi, điều chỉnh liều thuốc hạ đường huyết, điều trị nội trú đối với từng trường hợp cụ thể

Một số kết quả nghiên cứu về quản lý, điều trị ngoại trú đái tháo đường tại Việt Nam: Năm 2009 Nguyễn Thị Khang, Nguyễn Kim Lương nghiên cứu trên 122 bệnh nhân được chẩn đoán xác định đái tháo đường typ 2 tại bệnh viên C Thái Nguyên, được điều trị bằng Diamicron MR kết hợp với Metformin, kết quả kiểm soát HbA1c tốt tăng từ 2,5% lên 35%; mức kém giảm từ 86,9% xuống còn 33,6% sau 6 tháng điều trị [28]

Nghiên cứu của Lê Văn Chi, Trần Văn Trung (2010) tại bệnh viện trung ương Huế cho kết quả nồng độ glucose máu trung bình từ 15,88 ± 6,09 sau khi điều trị giảm xuống còn 7,41 ± 3,92 Tỷ lệ kiểm soát glucose máu mức tốt ở đối tượng phối hợp điều trị thuốc uống hạ đường huyết và insulin 44,9%; đối tượng dùng thuốc uống đơn trị liệu là 17,39% [7]

Trang 24

Nguyễn Ngọc Chất nghiên cứu tại Bình Định (2010) cho thấy kiểm soát glucose mức tốt tăng từ 4,6% lên17,1%; kiểm soát HbA1c tăng từ 15,1% lên 31,6% sau 6 tháng điều trị [8] Đào Thị Dừa (2010) nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa trung ương Huế cho kết quả kiểm soát glucose máu lúc đói lần lượt là tốt 26,67%; chấp nhận 55,09% và kém là 18,24% [10]

Tại Vĩnh Phúc, hiện nay công tác quản lý và điều trị đái tháo đường ngoại trú đã được triển khai ở nhiều đơn vị y tế, công tác phòng chống đái tháo đường đã thu được những kết quả nhất định, trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 262 bệnh nhân điều trị ngoại trú tại phòng khám nội tiết đái tháo đường bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc Hiện nay bệnh nhân điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc được áp dụng điều trị theo 1 trong 6 phác đồ sau: Đơn trị liệu bằng một trong các thuốc (Metformin, Diamicron MR, Insulin) Phối hợp Metformin và Diamicron

MR Phối hợp Insulin và Metformin Phối hợp Insulin với Diamicron MR

Trang 25

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Gồm 262 bệnh nhân đã được chẩn đoán đái tháo đường đang điều trị ngoại trú từ 3 tháng trở lên tại phòng khám nội tiết Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc theo tiêu chuẩn chuẩn đoán của ADA năm 1997

Bệnh nhân được chẩn đoán xác định đái tháo đường khi có ít nhất 1

trong 3 tiêu chuẩn [6],[12],[13]

- Tiêu chuẩn 1: Glucose máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l

- Tiêu chuẩn 2: Glucose máu lúc đói ≥ 7,0 mmol/l, xét nghiệm lúc bệnh nhân đã nhịn đói sau 6 - 8 giờ không ăn

- Tiêu chuẩn 3: Glucose máu ở thời điểm 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp tăng glucose máu ≥ 11,1 mmol/l

+ Loại khỏi đối tượng nghiên cứu các bệnh nhân mắc các bệnh về máu: suy tủy, bệnh bạch cầu, huyết tán, xuất huyết giảm tiểu cầu, bệnh nhân thiếu máu Hb < 11g/dl (nữ) , <12g/dl (nam) [32]

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 3/2012 đến tháng 8/2012

- Địa điểm: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả, thiết kế nghiên cứu cắt ngang

2.3.2 Kỹ thuật chọn mẫu

- Chọn mẫu có chủ đích

- Cỡ mẫu : toàn bộ

Trang 26

2.4 Chỉ tiêu nghiên cứu

* Thông tin chung:

- Khám da: phồng rộp, trợt, loét, hoại tử, phù

- Bệnh kèm theo, phát hiện các biến chứng

Trang 27

* Chỉ tiêu cận lâm sàng và khám chuyên khoa:

- Xét nghiệm máu lúc đói:

+ HbA1c + Glucose máu

+ Cholesterol toàn phần, triglycerid, HDL - C, LDL - C

+ Ure, creatinin, SGOT, SGPT, CK - MB

- Xét nghiệm nước tiểu: protein niệu

- Điện tim

- Khám và soi đáy mắt

- X.quang tim phổi

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Hỏi bệnh và khám lâm sàng

* Hỏi bệnh và thăm khám lâm sàng: Tất cả bệnh nhân vào viện được

khám lâm sàng, làm các xét nghiệm cần thiết và phỏng vấn khai thác kỹ tiền

sử, bệnh sử các triệu chứng, các yếu tố liên quan đến bệnh theo mẫu bệnh án

đã được chuẩn bị trước Các kết quả được ghi vào phiếu bệnh án nghiên cứu thống nhất

- Thói quen uống rượu: Được coi là uống nhiều khi uống mỗi ngày ≥ 50ml và ≥ 5 ngày mỗi tuần [16]

- Thói quen hút thuốc lá: Là người hút thuốc lá thường xuyên ≥ 10 điếu mỗi ngày [16]

- Chế độ luyện tập thể dục thể thao: Tập thể dục là đi bộ, tập thể dục buổi sáng Tập thể thao là tham gia các môn thể thao như cầu lông, bóng bàn, bóng chuyền, đi xe đạp Nếu tập đều đặn mỗi ngày 30 phút và thực hiện 5 ngày trong một tuần thì được gọi là tập đều [32]

- Chế độ ăn: Mỗi bệnh nhân được hướng dẫn một chế độ ăn phù hợp bao gồm về lựa chọn thực phẩm, khối lượng thực phẩm, cách chia các bữa ăn

Trang 28

trong ngày (thực đơn phần phụ lục) Nếu bệnh nhân thực hiện đúng theo hướng dẫn thường xuyên liên tục thì gọi là tuân thủ chế độ ăn [32]

* Tính chỉ số khối cơ thể:

- Cân bệnh nhân: sử dụng bàn cân Trung Quốc có thước đo chiều cao Bệnh nhân chỉ mặc một bộ quần áo mỏng, không đi giầy dép, không đội mũ Kết quả được ghi bằng kg, sai số không quá 100g

- Đo chiều cao: Được đo bằng thước đo chiều cao gắn liền với cân Bệnh nhân đứng thẳng đứng, 2 gót chân sát mặt sau của bàn cân, đầu thẳng, mắt nhìn thẳng Kéo thước đo thẳng đứng đến hết tầm, sau đó kéo từ từ xuống đến khi chạm đúng đỉnh đầu, đọc kết quả trên vạch thước đo Kết quả tính bằng mét (m) và sai số không quá 0,5 cm

- Tính chỉ số khối cơ thể:

BMI =

Cân nặng (kg) Chiều cao2

(m)

- Thể trạng bệnh nhân được phân loại theo bảng phân loại các mức độ BMI của WHO năm 2000 áp dụng cho vùng Châu Á - Thái Bình Dương

Bảng 2.1 Phân loại thể trạng theo chỉ số khối cơ thể áp dụng

cho người Châu Á trưởng thành [6]

Trang 29

* Tính chỉ số bụng/mông

- Đo vòng bụng, vòng mông: Sử dụng thước dây mềm, không co giãn Bệnh nhân đứng thẳng, hai chân cách nhau khoảng 10 cm, vòng thước đo qua bụng bệnh nhân lấy kết quả vào điểm cuối của thì thở ra, số đo chính xác đến 0,1 cm

+ Vòng bụng: Đo ngang qua rốn và điểm cong nhất của cột sống thắt lưng + Vòng mông: Đo ngang qua 2 điểm nhô của hai mấu chuyển lớn

* Đo huyết áp: Sử dụng ống nghe và huyết áp kế đồng hồ Nhật Bản, đo

huyết áp theo phương pháp Korotkoff [34]

Cách đo: Trước khi đo bệnh nhân được nghỉ 15 phút, không dùng các chất ảnh hưởng huyết áp như bia, rượu, cà phê, thuốc lá và các chất kích thích khác, không sử dụng các thuốc có ảnh hưởng đến huyết áp Bệnh nhân cởi bỏ quần áo chật, cánh tay để trên bàn ngang mức tim, thả lỏng tay và không nói chuyện khi đo Quấn băng huyết áp sao cho mép dưới băng trên lằn khuỷu 3

cm, sau khi áp lực hơi trong băng cuốn làm mất mạch quay, bơm hơi lên tiếp

30 mmHg nữa và sau đó xả từ từ 2 mmHg/giây Sử dụng âm thanh pha I và pha V của Korokoff để xác định huyết áp

Chẩn đoán tăng huyết áp theo JNC VI và tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp dựa theo khuyến cáo của Hội tim mạch Việt Nam năm 2008 : Huyết

áp ≥ 140/90 mmHg [34]

Trang 30

Bảng 2.2 Bảng phân loại tăng huyết áp theo JNC VI - 1997 [34]

Giai đoạn 2 (độ II)

Giai đoạn 3 (độ III)

2.5.2.Chẩn đoán các biến chứng của bệnh ĐTĐ:

- Biến chứng tim mạch: Xác định thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim, suy tim bằng lâm sàng, tiền sử bệnh nhân đã điều trị nhồi máu cơ tim và chụp

mạch vành, kết quả điện tâm đồ [6],[31],[34]

+ Thiếu máu cơ tim: Bệnh nhân đau ngực thường xuyên hoặc không thường xuyên Điện tâm đồ có hình ảnh tổn thương cơ tim: Đoạn ST chênh, T dương cao đối xứng hoặc T dẹt/ âm [34]

+ Nhồi máu cơ tim: Bệnh nhân đau ngực, khó thở hoặc không có triệu chứng Điện tâm đồ có dạng QS, ST chênh, sóng vòm Pardee Xét nghiệm enzym SGOT, CK - MB tăng cao [34]

+ Suy tim: Bệnh nhân khó thở khi gắng sức hoặc thường xuyên, có các dấu hiệu biểu hiện tình trạng ứ trệ tuần hoàn ngoại biên Điện tâm đồ có hình ảnh dày thất trái [34]

+ Xác định tăng huyết áp dựa vào kết quả đo huyết áp và phân loại theo JNC VI

- Biến chứng thận: Chẩn đoán dựa vào lâm sàng, xét nghiệm creatinin, ure máu, protein niệu Bệnh nhân có xét nghiệm protein niệu dương tính hoặc / và creatinin máu ≥ 120 µmol/l được chẩn đoán có biến chứng thận (dương tính khi protein niệu ở nồng độ > 300mg/l) [6]

Trang 31

- Biến chứng mắt: Được bác sỹ chuyên khoa khám chẩn đoán bằng khám thị lực, soi đáy mắt xác định các tổn thương

+ Đục thủy tinh thể, viêm màng bồ đào, tăng nhãn áp là tổn thương ngoài võng mạc [34]

+ Soi đáy mắt: hình ảnh đốm trắng, các vi phình mạch, xuất huyết, phù

nề võng mạc, phù hoàng điểm, các tân mạch trước võng mạc, tân mạch trước điểm vàng, xuất tiết trong dịch kính, bong võng mạc co kéo là bệnh võng mạc đái tháo đường [34]

- Biến chứng thần kinh ngoại vi: Xác định bằng khám lâm sàng triệu chứng tê bì giảm cảm giác nông [31]

- Biến chứng hô hấp, da: dựa vào khám lâm sàng khám phát hiện phồng, rộp trợt loét trên da do đái tháo đường, chụp X quang phát hiện nhiễm khuẩn hô hấp [6]

2.5.3 Cận lâm sàng

- Cách lấy máu và nước tiểu làm xét nghiệm:

+ Máu: Bệnh nhân được lấy máu tĩnh mạch vào buổi sáng lúc đói (cách bữa ăn 6 -8 giờ), ống thứ nhất lấy 5ml không chống đông ly tâm lấy huyết thanh làm các xét nghiệm sinh hóa, ống thứ 2 lấy 1ml có chống đông định lượng HbA1c

+ Nước tiểu: Lấy vào buổi sáng, lấy nước tiểu giữa bãi

- Định lượng HbA1c bằng phương pháp đo độ đục miễn dịch trên máy Olympus AU 640 tại khoa sinh hóa bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc

- Các xét nghiệm còn lại được tiến hành bằng phương pháp enzyme so màu trên máy sinh hóa phân tích tự động Olympus AU 640 tại khoa Sinh hóa Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc Do bác sỹ chuyên khoa nhận định kết quả các thông số:

Trang 32

+ Glucose máu lúc đói

Bảng 2.3: Tiêu chuẩn đánh giá kết quả 1 số chỉ số về kiểm soát

người bệnh ĐTĐ theo WHO năm 2002 và khuyến cáo của

Hội nội tiết đái tháo đường 2009 [6]

2.5.4 Xác định cách sử dụng thuốc hạ glucose máu:

- Đơn trị liệu: Bệnh nhân được điều trị bằng một trong các phác đồ sau + Diamicron MR 30 mg tùy từng bệnh nhân mà cho uống liều từ 1-4 viên/ngày uống một lần trước khi ăn

+ Metformin 850mg liều từ 1- 3 viên/ngày chia làm 1-3 lần sau bữa ăn + Insulin tùy từng bệnh nhân có thể tiêm 1-3 mũi/ngày

Trang 33

- Phối hợp thuốc: Bệnh nhân được sử dụng phối hợp insulin với ít nhất một thuốc uống hạ glucose máu hoặc phối hợp hai thuốc uống hạ glucose máu nói trên

Ngoài chế độ sử dụng thuốc bệnh nhân được tư vấn xây dựng về chế độ

ăn kết hợp với chế độ luyện tập cụ thể

Việc lựa chọn phác đồ điều trị dựa vào tình trạng bệnh nhân, trình độ của bác sĩ, trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ thống kê lại phác đồ và kết quả điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc

2.6 Vật liệu nghiên cứu

- Mẫu bệnh án nghiên cứu

- Huyết áp kế đồng hồ, ống nghe Nhật Bản

- Bàn cân của Trung Quốc có gắn thước đo chiều cao

- Bơm, kim tiêm lấy máu, ống nghiệm

- Thước dây

- Máy ghi điện tim, chụp Xquang tim phổi

- Máy phân tích sinh hoá máu và nước tiểu

- Hóa chất làm xét nghiệm

2.7 Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê y học, sử dụng phần mềm Epidata 3.1 và Stata 10.0

2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Tiến hành nghiên cứu một cách trung thực và nghiêm túc

- Những kết quả nghiên cứu, ý kiến đề xuất được sử dụng vào mục đích nâng cao sức khoẻ, hạn chế sự xuất hiện và tiến triển của bệnh cho cộng đồng, không ảnh hưởng đến đạo đức nghiên cứu

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi, giới

Đối tượng có tỷ lệ mắc thấp nhất là nhóm < 40 tuổi chiếm 3,4%

Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 59,7 ± 10,9

Tỷ lệ mắc ở nam là 55,7%, nữ là 44,3% Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p >0,05

Trang 35

Nam Nữ

55,7%

44,3 %

Biểu đồ 1 Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo giới

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp

Trang 36

Làm ruộng Cán bộ hưu Cán bộ Khác

Trang 37

3.2 Kết quả kiểm soát ĐTĐ điều trị ngoại trú tại BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc

Bảng 3.3 Một số triệu chứng lâm sàng ở đối tượng nghiên cứu

Trang 38

Bảng 3.4 Chỉ số glucose máu trung bình theo nhóm tuổi

ở đối tượng nghiên cứu

của đối tượng nghiên cứu

Chỉ số Mức độ

Trang 39

Bảng 3.6 Hàm lượng trung bình một số chỉ số sinh hóa

Cholesterol(mmol/l) 69 26,4 85 32,4 108 41,2 262 100

Triglycerid(mmol/l) 67 25,6 76 29,0 119 45,4 262 100 HDL - C (mmol/l) 78 29,8 123 46,9 61 23,3 262 100

LDL - C (mmol/l) 65 24,8 122 46,6 75 28,6 262 100

Nhận xét:

Tỷ lệ kiểm soát các thành phần lipid ở mức độ tốt không cao lần lượt là HDL-C 29,8%; cholesterol 26,4%; tryglycerid 25,6%; LDL-C 24,8%

Trang 40

Bảng 3.8 Kiểm soát huyết áp ở đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân Phân loại huyết áp

Bảng 3.9 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có biến chứng tính theo nhóm tuổi

Ngày đăng: 15/11/2014, 22:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thế Anh, Trịnh Xuân Tráng (2011), “Phân tích hiệu quả điều trị rối loạn chuyển hóa lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 bằng Statin và Fibrat”. Tạp chí y học thực hành số 794-795, tr. 39-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hiệu quả điều trị rối loạn chuyển hóa lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 bằng Statin và Fibrat”
Tác giả: Nguyễn Thế Anh, Trịnh Xuân Tráng
Năm: 2011
2. Phạm Hoài Anh (2003), “Nghiên cứu rối loạn chuyển hóa lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên”. Luận văn thạc sỹ y học trường đại học y dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu rối loạn chuyển hóa lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị tại bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên”
Tác giả: Phạm Hoài Anh
Năm: 2003
3. Bộ môn Nội, Trường Đại học Y Hà Nội (2005), "Bệnh đái đường". Bệnh học Nội khoa sau đại học, tr. 214-229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đái đường
Tác giả: Bộ môn Nội, Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2005
4. Tạ Văn Bình (2006), “Dịch tễ học bệnh đái tháo đường ở Việt Nam - Các phương pháp điều trị và biện pháp phòng chống”, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học bệnh đái tháo đường ở Việt Nam - Các phương pháp điều trị và biện pháp phòng chống”
Tác giả: Tạ Văn Bình
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2006
5. Tạ Văn Bình (2007), “Những nguyên lý nền tảng đái tháo đường - tăng glucose máu”, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “"Những nguyên lý nền tảng đái tháo đường - tăng glucose máu”
Tác giả: Tạ Văn Bình
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2007
7. Lê Văn Chi, Trần Quang Trung (2010), “Tình hình sử dụng thuốc hạ glucose máu ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị NT-ĐTĐ-RLCH miền trung tây nguyên lần thứ VII, tr. 377-388 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sử dụng thuốc hạ glucose máu ở bệnh nhân đái tháo đườ"ng typ 2
Tác giả: Lê Văn Chi, Trần Quang Trung
Năm: 2010
8. Nguyễn Ngọc Chất (2010), “ Đánh giá hiệu quả điều trị dựa vào glucose, HbA1c và một số chỉ số khác ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định”, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, Hội nghị NT-ĐTĐ-RLCH miền trung tây nguyên lần thứ VII, tr. 377-388 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả điều trị dựa vào glucose, HbA1c và một số chỉ số khác ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chất
Năm: 2010
9. Trần Hữu Dàng, Trình Vĩnh Tiến (2006), “Ảnh hưởng của thể trọng lên nồng độ axits uric máu trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2”. Tạp chí y học thực hành số 548/2006, tr.406-409 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của thể trọng lên nồng độ axits uric máu trên bệnh nhân đái tháo đường typ 2”
Tác giả: Trần Hữu Dàng, Trình Vĩnh Tiến
Năm: 2006
10. Đào Thị Dừa (2010), “Kiểm soát chuyển hóa bệnh nhân đái tháo đường kèm béo phì điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trung ương Huế”. Tạp chí y học thực hành số 703/2010, tr. 5-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát chuyển hóa bệnh nhân đái tháo đường kèm béo phì điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trung ương Huế”
Tác giả: Đào Thị Dừa
Năm: 2010
11. Đào Thị Dừa (2011), “Kháo sát tổn thương động mạch 2 chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường bằng chỉ số áp lực cổ chân cánh tay”. Tạp chí nội tiết đái tháo đường số 4/2011, tr. 28-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kháo sát tổn thương động mạch 2 chi dưới ở bệnh nhân đái tháo đường bằng chỉ số áp lực cổ chân cánh tay”
Tác giả: Đào Thị Dừa
Năm: 2011
12. Viên Văn Đoan (2011), “Nghiên cứu mô hình quản lý, theo dõi, điều trị có kiểm soát bệnh đái tháo đường tại khoa khám bệnh bệnh viện Bạch Mai”. Tạp chí nội tiết đái tháo đường số 2/2011, tr.201-217 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mô hình quản lý, theo dõi, điều trị có kiểm soát bệnh đái tháo đường tại khoa khám bệnh bệnh viện Bạch Mai”
Tác giả: Viên Văn Đoan
Năm: 2011
13. Hoàng Thị Đợi, Nguyễn Kim Lương (2007), "Nghiên cứu thực trạng bệnh đái tháo đường typ 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên", Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành nội tiết và chuyển hoá lần thứ 3, tr. 900-911 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng bệnh đái tháo đường typ 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Hoàng Thị Đợi, Nguyễn Kim Lương
Năm: 2007
14. Nguyễn Thu Giang (2011),“Chuẩn đoán sớm biến chứng thận ở bệnh nhân đái tháo đường”. Tạp chí Y học thực hành số 794 - 795, tr. 78-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn đoán sớm biến chứng thận ở bệnh nhân đái tháo đường”
Tác giả: Nguyễn Thu Giang
Năm: 2011
15. Nguyễn Thị Thu Hà (2011), “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đáp ứng điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 có tăng SGOT, SGPT”. Y học thực hành số 794 -795 Hội nghị nội tiết đái tháo đường khu vực miền núi phía Bắc mở rộng năm 2011, tr. 108-112 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đáp ứng điều trị ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 có tăng SGOT, SGPT”
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà
Năm: 2011
16. Bế Thu Hà (2009), “Nghiên cứu thực trạng bệnh đái tháo đường điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn”. Luận văn thạc sĩ Y học, tr. 25-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng bệnh đái tháo đường điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn”
Tác giả: Bế Thu Hà
Năm: 2009
17. Phạm Trung Hà (2000), “Kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2”. Tạp chí y học Việt Nam số 2/2000, tr. 21-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kháng insulin ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2”
Tác giả: Phạm Trung Hà
Năm: 2000
18. Tô Văn Hải, Phạm Hoài Anh (2006), "Biến chứng về mắt ở người bệnh đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Nhàn - Hà Nội", Tạp chí Y học thực hành số 548, tr. 166-172 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến chứng về mắt ở người bệnh đái tháo đường typ 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Thanh Nhàn - Hà Nội
Tác giả: Tô Văn Hải, Phạm Hoài Anh
Năm: 2006
19. Tô Văn Hải, Nguyễn Thị Phúc (2003), “Rối loạn lipid máu ở người bệnh đái tháo đường”, Hội nghị khoa học toàn quốc lần II, tr. 262-266 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn lipid máu ở người bệnh đái tháo đường”
Tác giả: Tô Văn Hải, Nguyễn Thị Phúc
Năm: 2003
20. Tô Văn Hải, Lê Thu Hà (2006), “Rối loạn Lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường điều trị nội trú tại khoa nội tiết Bệnh viện Thanh nhàn - Hà Nội”. Tạp chí y học thực hành số 548, Bộ y tế xuất bản, tr. 158 -164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn Lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường điều trị nội trú tại khoa nội tiết Bệnh viện Thanh nhàn - Hà Nội”
Tác giả: Tô Văn Hải, Lê Thu Hà
Năm: 2006
21. Nguyễn Văn Vy Hậu, Nguyễn Hải Thủy (2011),“Dự báo nguy cơ đái tháo đường typ 2 bằng thang điểm Find Risc ở bệnh nhân tiền đái tháo đường  45 tuổi”. Tạp chí Y học thực hành số 794 - 795, tr. 53-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo nguy cơ đái tháo đường typ 2 bằng thang điểm Find Risc ở bệnh nhân tiền đái tháo đường  45 tuổi”
Tác giả: Nguyễn Văn Vy Hậu, Nguyễn Hải Thủy
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Bảng phân loại tăng huyết áp theo JNC VI - 1997 [34]. - Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012
Bảng 2.2. Bảng phân loại tăng huyết áp theo JNC VI - 1997 [34] (Trang 30)
Bảng 2.3: Tiêu chuẩn đánh giá kết quả 1 số chỉ số về kiểm soát   người bệnh ĐTĐ theo WHO năm 2002 và khuyến cáo của - Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012
Bảng 2.3 Tiêu chuẩn đánh giá kết quả 1 số chỉ số về kiểm soát người bệnh ĐTĐ theo WHO năm 2002 và khuyến cáo của (Trang 32)
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi, giới - Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi, giới (Trang 34)
Bảng 3.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp - Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012
Bảng 3.2. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp (Trang 35)
Bảng 3.3. Một số triệu chứng lâm sàng ở đối tượng nghiên cứu. - Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012
Bảng 3.3. Một số triệu chứng lâm sàng ở đối tượng nghiên cứu (Trang 37)
Bảng 3.5. Mức độ kiểm soát glucose máu lúc đói và HbA 1 c - Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012
Bảng 3.5. Mức độ kiểm soát glucose máu lúc đói và HbA 1 c (Trang 38)
Bảng 3.4. Chỉ số glucose máu trung bình theo nhóm tuổi - Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012
Bảng 3.4. Chỉ số glucose máu trung bình theo nhóm tuổi (Trang 38)
Bảng 3.7. Mức độ sự kiểm soát các thành phần lipid - Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012
Bảng 3.7. Mức độ sự kiểm soát các thành phần lipid (Trang 39)
Bảng 3.8. Kiểm soát  huyết áp ở đối tượng nghiên cứu - Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012
Bảng 3.8. Kiểm soát huyết áp ở đối tượng nghiên cứu (Trang 40)
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của nhóm tuổi đến mức độ kiểm soát HbA1c. - Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của nhóm tuổi đến mức độ kiểm soát HbA1c (Trang 42)
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của nghề nghiệp đến kiểm soát - Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của nghề nghiệp đến kiểm soát (Trang 43)
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của thời gian phát hiện bệnh đến kiểm soát - Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của thời gian phát hiện bệnh đến kiểm soát (Trang 44)
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của BMI đến kiểm soát glucose máu và HbA1c. - Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của BMI đến kiểm soát glucose máu và HbA1c (Trang 45)
Bảng 3.18. Chuyển hóa lipid máu ảnh hưởng đến mức độ - Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012
Bảng 3.18. Chuyển hóa lipid máu ảnh hưởng đến mức độ (Trang 46)
Bảng 3.20. Ảnh hưởng của mức độ TDTT đến kiểm soát HbA1c. - Đánh giá kết quả kiểm soát đái tháo đường điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2012
Bảng 3.20. Ảnh hưởng của mức độ TDTT đến kiểm soát HbA1c (Trang 47)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w