Trong điều kiện nước ta mới tiếp cận với nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh tế đối ngoại mới đang trong tiến trình hội nhập, các chính sách quản lý vĩ mô và hành lang pháp lý co
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÊ THÀNH PHONG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG NHẬP KHẨU THEO HIỆP ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN GATT/WTO
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Thái Nguyên, 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LÊ THÀNH PHONG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG NHẬP KHẨU THEO
HIỆP ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN GATT/WTO
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN ĐÌNH TUẤN
Thái Nguyên, 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Bản luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn
khoa học của Tiến sĩ Trần Đình Tuấn
Các số liệu và những kết quả trong luận văn là trung thực, các đánh giá, kiến nghị đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm, chưa từng được bảo vệ một học vị nào Mọi trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên./
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012
Tác giả luận văn
Lê Thành Phong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu , phòng Quản lý đào tạo sau đại học cùng tập thể giảng viên trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh , Đại học Thái Nguyên đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản để tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình
Đặc biệt, để hoàn thành luận văn thạc sỹ này , tôi đã được sự chỉ bảo tận tình của Tiến sỹ Trần Đình Tuấn Xin gửi tới Tiến sỹ Trần Đình Tuấn lời cảm ơn trân trọng nhất
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và cán bộ của Tổng cục Hải quan đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong việc thu thập số liệu
để thực hiện nghiên cứu luận văn thạc sĩ
Cuối cùng, tôi xin bảy tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn thạc sỹ
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012
Tác giả luận văn
Lê Thành Phong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
3.2.1.Phạm vi về thời gian nghiên cứu 3
3.2.2 Phạm vi về không gian nghiên cứu 3
3.2.3 Phạm vi về nội dung nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn 4
5 Kết cấu Luận văn 4
Chương 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HIỆP ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN GATT/WTO VÀ QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM 5
1.1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HIỆP ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN GATT/WTO 5
1.1.1 Lịch sử hình thành Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO 5
1.1.2 Các nguyên tắc chung của Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO 7
1.1.3 Kết cấu của Hiệp định Trị giá hải quan 7
1.1.4 Các phương pháp xác định trị giá theo Hiệp định Trị giá hải quan 10
1.1.4.1 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu 11
1.1.4.2 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá giống hệt 13
1.1.4.3 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá tương tự 13
1.1.4.4 Phương pháp trị giá khấu trừ 14
1.1.4.5 Phương pháp trị giá tính toán 15
1.1.4.6 Phương pháp dự phòng (hay còn gọi là phương pháp suy luận) 15
1.1.5 Những điều kiện cơ bản để thực hiện Hiệp định Trị giá Hải quan 16
1.1.5.1 Yêu cầu về hệ thống văn bản pháp luật 17
1.1.5.2 Yêu cầu về cơ chế giám sát việc thực hiện Hiệp định 18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 61.1.5.3 Yêu cầu đối với việc xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc xác định
trị giá hải quan 19
1.1.5.4.Yêu cầu đối với hệ thống kế toán 20
1.2 QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN Ở VIỆT NAM 21
1.2.1 Giai đoạn chuẩn bị thực hiện Hiệp định (1997-2003) 21
1.2.1.1 Công tác nghiên cứu nội dung Hiệp định Trị giá hải quan 21
1.2.1.2 Những thay đổi của hệ thống văn bản pháp quy trong quá trình chuẩn bị thực hiện Hiệp định Trị giá hải quan 25
1.2.2 Giai đoạn thực hiện thí điểm Hiệp định Trị giá hải quan (2004-2005) 26
1.2.2.1 Mục tiêu của giai đoạn thực hiện thí điểm 26
1.2.2.2 Sự thay đổi của hệ thống văn bản pháp quy nhằm đáp ứng cho việc thực hiện thí điểm Hiệp định Trị giá hải quan 27
1.2.3 Giai đoạn thực hiện đầy đủ Hiệp định (từ 2006 - 2011) 28
1.2.3.1 Các vấn đề cơ bản khi thực hiện đầy đủ Hiệp định Trị giá hải quan 28
1.2.3.2 Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy phục vụ cho công tác xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu từ 2006 đến nay 29
1.3 MỘT SỐ THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN KHI TRIỂN KHAI KHI TRIỂN KHAI THỰC HIỆN HIỆP ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN TẠI VIỆT NAM 31
1.3.1 Những thuận lợi khi thực hiện Hiệp định trị giá hải quan ở Việt Nam 31
1.3.2 Những khó khăn khi thực hiện Hiệp định Trị giá hải quan ở Việt Nam 32
1.4 KINH NGHIỆM CỦA HẢI QUAN MỘT SỐ NƯỚC ĐÃ TRIỂN KHAI THÀNH CÔNG HIỆP ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN 33
1.4.1 Kinh nghiệm của Hải quan Hoa Kỳ 33
1.4.2 Kinh nghiệm của Hải quan New Zealand 36
1.4.3 Kinh nghiệm của Hải quan Nhật Bản 38
1.4.4 Kinh nghiệm của Hải quan Thái Lan 39
1.4.5 Kinh nghiệm của Hải quan Indonexia 40
1.4.6 Khuyến nghị của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) trong việc chống gian lận qua khai báo trị giá tính thuế 41
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 44
2.1 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 44
2.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỤ THỂ 44
2.2.1 Phương pháp luận 44
2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 44
2.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 45
2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 45
2.2.4.1 Phương pháp so sánh 45
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 72.2.4.2 Phương pháp thống kê mô tả 45
2.2.5 Phương pháp chuyên gia 45
2.2.6 Phương pháp tính thuế hàng nhập khẩu thực hiện theo Hiệp định Trị giá hải quan 46
2.2.6.1 Phương pháp thu thập cơ sở dữ liệu phục vụ mục đích xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu 46
2.2.6.2 Quy trình tổ chức tham vấn 47
2.2.6.3 Các phương pháp xác định trị giá tính thuế 47
2.2.6.4 Căn cứ xác định thuế suất của hàng nhập khẩu 47
2.2.6.5 Phương pháp tính thuế hàng nhập khẩu 47
2.3 HỆ THỐNG CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU 47
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình bộ máy quản lý của Tổng Cục Hải quan 47
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu về công tác xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu 48
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 50
3.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TỔNG CỤC HẢI QUAN 50
3.1.1 Quá trình hình thành Tổng cục Hải quan 50
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Tổng cục Hải quan 50
3.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy cơ quan Tổng cục Hải quan 52
3.1.3.1 Bộ máy cơ quan Tổng cục Hải quan ở cấp Trung ương 52
3.1.3.2 Bộ máy cơ quan Cục Hải quan ở cấp địa phương 53
3.1.4 Chức năng nhiệm vụ của Cục Hải quan các địa phương 55
3.2 GIỚI THIỆU VỀ CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA CỤC THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU – THUỘC TỔNG CỤC HẢI QUAN 55
3.2.1 Nhiệm vụ của Cục Thuế xuất nhập khẩu 55
3.2.2 Tổ chức bộ máy của Cục Thuế xuất nhập khẩu 56
3.3 GIỚI THIỆU VỀ CHỨC NĂNG NHIỆM VỤ CỦA PHÒNG TRỊ GIÁ – THUỘC CỤC THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 57
3.3.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của Phòng Trị giá tính thuế 57
3.3.2 Chức năng nhiệm vụ của Phòng Trị giá tính thuế 58
3.4 GIỚI THIỆU VỀ BỘ MÁY XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN ĐỊA PHƯƠNG 58
3.4.1 Tại cấp Cục Hải quan 58
3.4.2 Tại Cấp Chi cục Hải quan 59
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 61
4.1 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG NHẬP KHẨU THEO HIỆP ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN GIAI ĐOẠN 2006 - 2011 61
4.1.1 Cơ sở pháp lý của việc xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu 62
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 84.1.1.1 Nghị định 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ 62
4.1.1.2 Luật Hải quan 62
4.1.1.3 Luật Thuế xuất khẩu thuế XNK số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005 62
4.1.1.4 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006 64
4.1.1.5 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 7/6/2007 của Chính phủ 65
4.1.1.6 Thông tư 194/2010/TT-BTC ngày 6/12/2010 của Bộ Tài chính 66
4.1.2 Kết quả của công tác xác định trị giá tính thuế qua các giai đoạn triển khai thực hiện Hiệp định Trị giá hải quan ở Việt Nam 66
4.1.2.1 Giai đoạn từ 2003 về trước 67
4.1.2.2 Giai đoạn 2004 - 2005 69
4.1.2.3 Giai đoạn 2006-2011 71
4.1.3 Một số biện pháp cơ bản đang sử dụng trong công tác xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu 77
4.1.3.1 Kiểm tra trị khai báo tại thời điểm làm thủ tục hải quan 77
4.1.3.2 Tham vấn xác định trị giá tính thuế 80
4.1.3.3 Kiểm tra sau thông quan 87
4.1.3.4 Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ công tác xác định trị giá tính thuế 90
4.1.3.5 Công tác chống buôn lậu 95
4.2 CÁC HÌNH THỨC GIAN LẬN VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG NHẬP KHẨU HIỆN NAY 96
4.2.1 Đánh giá các phương thức gian lận trị giá hàng nhập khẩu hiện nay 96
4.2.2 Nhận xét về những thuận lợi và thách thức trong việc nâng cao hiệu quả công tác xác định trị giá tính thuế 99
4.2.2.1 Về mặt thuận lợi 99
4.2.2.2 Những khó khăn, thách thức 100
4.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG NHẬP KHẨU THEO HIỆP ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN 101
4.3.1 Quan điểm và phương hướng nâng cao hiệu quả xác định trị giá hải quan theo Hiệp định Trị giá hải quan trong giai đoạn tới 101
4.3.1.1 Quan điểm chủ đạo 101
4.3.1.2 Phương hướng thực hiện 102
4.3.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xác định trị giá hải quan theo Hiệp định Trị giá hải quan 103
4.3.2.1 Nhóm giải pháp ở cấp Nhà nước 103
4.3.2.2 Nhóm giải pháp do ngành Hải quan triển khai thực hiện 111
KẾT LUẬN 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chƣ̃ viết tắt Nguyên nghĩa
ASEAN Tổ chức các nước Đông Nam Á
CEPT Hiệp định về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung của Tổ
chức các nước Đông Nam Á GAAP Nguyên tắc kế toán chung được chấp thuận
GATT Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (gọi tắt là:
Hiệp định GATT)
GTT01 Hệ thống phần mềm quản lý giá tính thuế của ngành Hải
quan (hoạt động từ tháng 9/2011 đến nay)
GTT22 Hệ thống phần mềm quản lý giá tính thuế của ngành Hải
quan (hoạt động từ năm 2004 đến tháng 9/2011) IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
ITO Tổ chức thương mại quốc tế
PSI Hiệp định kiểm định trước khi xếp hàng lên tầu
TCCV Uỷ ban về kỹ thuật xác định trị giá Hải quan
WB Ngân hàng thế giới
WCO Tổ chức Hải quan thế giới
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.2: Số Thuế điều chỉnh tăng thại thời điểm làm thủ tục hải quan
giai đoạn 2008 – 2011 79 Bảng 4.3: So sánh tỷ lệ các tờ khai phải điều chỉnh trị giá tính thuế tại
thời điểm làm thủ tục hải quan giai đoạn 2006 -2011 80
Bảng 4.5: Kết quả tham vấn thành công của toàn ngành Hải quan
năm 2010-2011 84 Bảng 4.6: Số thuế điều chỉnh tăng sau tham vấn của toàn ngành
Hải quan trong giai đoạn 2008-2011 84 Bảng 4.7: Số thuế truy thu từ giá tính thuế hàng nhập khẩu của
hoạt động kiểm tra sau thông quan 88
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Hải quan Việt Nam 53
Sơ đồ 3.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Cục Hải quan địa phương 54
Sơ đồ 3.3: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Cục Thuế xuất nhập khẩu 57
Sơ đồ 3.4: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Phòng Trị giá 57
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực hiện Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO 1994 là một trong những cam kết quốc tế mà ngành Hải quan phải thực hiện khi Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) Trị giá hải quan hay cụ thể hơn
là trị giá tính thuế luôn có vai trò quyết định đến số thuế phải nộp đối với một lô hàng khi làm thủ tục xuất hoặc nhập khẩu vào một quốc gia khác, thuế nhập khẩu cao thì nền kinh tế nội địa của quốc gia đó sẽ được bảo hộ, nhưng ở góc độ rộng hơn thì nó lại là một trở ngại đối với hoạt động ngoại thương giữa các nền kinh tế Do vậy, trị giá hải quan trở thành mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức kinh tế quốc tế, các nhà đầu tư cũng như cộng đồng doanh nghiệp khi trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế quốc tế
Kể từ ngày 11/1/2007, Việt Nam là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, cùng với đó Việt Nam bắt buộc phải áp dụng Hiệp định Trị giá hải quan Sớm nhận thức được tầm quan trọng đó, ngay
từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX Hải quan Việt Nam với sự cố gắng và tận dụng nội lực của Ngành và chỉ đạo của Chính phủ, hỗ trợ của các Ngành, đồng thời được sự trợ giúp có hiệu quả của các tổ chức quốc tế, của Hải quan các nước, đã tiến hành nghiên cứu, tổ chức xây dựng lộ trình triển khai và áp dụng Hiệp định Trị giá hải quan Mặt khác, việc gia nhập WTO cũng sẽ đem đến nhiều thách thức, không chỉ đối với cộng đồng doanh nghiệp mà còn đối với cả các cơ quan quản lý Nhà nước
Như chúng ta đã biết, để xác định số thuế phải nộp của hàng hoá nhập khẩu thì cần phải có 2 yếu tố cơ bản là: thuế suất theo từng sắc thuế và trị giá tính thuế của hàng hóa Về thuế suất thuế nhập khẩu, thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế suất của thuế giá trị gia tăng đã được quy định một
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 13cách rõ ràng tại từng biểu thuế do Bộ Tài chính hướng dẫn, trị giá của hàng hoá luôn là yếu tố biến động theo giá cả thị trường do vậy trị giá tính thuế cũng vì đó mà có sự dao động nhất định Trong điều kiện nước ta mới tiếp cận với nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh tế đối ngoại mới đang trong tiến trình hội nhập, các chính sách quản lý vĩ mô và hành lang pháp lý còn chưa đáp ứng yêu cầu quản lý thì việc tham gia và thực hiện Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO của Việt Nam đã gặp phải nhiều khó khăn do các đối tượng buôn lậu, gian lận thương mại lợi dụng các kẽ hở nhằm khai thấp trị giá tính thuế hàng nhập khẩu để trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế Nhưng ngược lại, cũng có một số doanh nghiệp nâng cao trị giá của hàng nhập khẩu để nhằm mục đích khai tăng vốn đầu tư khi tham gia vào các hoạt động đầu tư tại Việt Nam
Việc thực hiện Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO là một bước tiến bộ lớn của Hải quan Việt Nam tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc gia hội nhập sân chơi quốc tế, nhưng mặt trái của vấn đề là sẽ phát sinh nhiều
kẽ hở dễ bị lợi dụng vào mục đích gian lận thương mại, nhằm trốn lậu thuế, gây ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc gia Do vậy, việc nghiên cứu đề tài:
“Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu theo Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO” là một yêu cầu
cấp thiết đặt ra về cả lý luận và thực tiễn đối với ngành Hải quan và cũng như doanh nghiệp có tham gia hoạt động nhập khẩu hàng hoá
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Trên cở sở nội dung Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO, đánh giá thực trạng quá trình triển khai Hiệp định Trị giá hải quan ở Việt Nam nhằm tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 142.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản của Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO và các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam trong quá trình triển khai Hiệp định tại Việt Nam
- Đánh giá thực trạng công tác xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu trong quá trình triển khai thực hiện Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO tại Việt Nam giai đoạn từ 2006 - 2011
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả công tác xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu theo Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO trong thời gian tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các phương pháp xác định trị giá tính thuế theo Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan của Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1.Phạm vi về thời gian nghiên cứu
Các tài liệu, số liệu nghiên cứu việc triển khai thực hiện Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO tại Việt Nam được thu thập được trong giai đoạn từ 2006-2011
3.2.2 Phạm vi về không gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại Tổng cục Hải quan Việt Nam
3.2.3 Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Do điều kiện về thời gian có hạn, đề tài chỉ thực hiện nghiên cứu một
số vấn đề liên quan đến việc xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu thuộc công tác chuyên môn của Tổng cục Hải quan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 154 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
- Luận văn làm rõ vai trò của Hiệp định trị giá hải quan GATT/WTO trong việc xác định trị giá hải quan
- Đưa ra những đánh giá về thực trạng triển khai thực hiện Hiệp định trị giá hải quan GATT/WTO của Hải quan Việt nam
- Với mục tiêu nâng cao hiệu quả của công tác xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu, luận văn đề xuất một số giải pháp cần thực hiện để phát huy tính ưu việt của Hiệp định Trị giá hải quan GATT/ WTO trong việc chống gian lận trị giá tính thuế
- Các giải pháp đề xuất là cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách đưa ra các chính sách về phương pháp xác định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu một cách hợp lý nhất cho cả doanh nghiệp và cho Nhà nước
5 Kết cấu Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương như sau:
Chương 1 Những nội dung cơ bản của Hiệp định Trị giá hải quan
GATT/WTO và quá trình triển khai thực hiện ở Việt Nam
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Chương 3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 16Chương 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA HIỆP ĐỊNH TRỊ GIÁ
HẢI QUAN GATT/WTO VÀ QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI
THỰC HIỆN Ở VIỆT NAM
GATT/WTO
1.1.1 Lịch sử hình thành Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO
Đại chiến thế giới thứ II đã làm cho nền kinh tế của hầu hết các quốc gia rơi vào trạng thái suy sụp, với mục đích nhằm khôi phục nền kinh tế thế giới, năm 1944 khoảng 50 quốc gia đã tổ chức hội nghị tại bang New Hampshire (Hoa Kỳ) và đề xuất thành lập các tổ chức kinh tế quốc tế lớn
có khả năng gánh vác điều hành vĩ mô nền kinh tế quốc tế Sau nhiều vòng đàm phán thì họ đã thống nhất cho ra đời được hai tổ chức là Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng tái thiết phát triển quốc tế (nay là: Ngân hàng thế giới - WB) Các nước này cũng đề xuất thành lập một tổ chức có vai trò chung trong điều hành thương mại thế giới (ITO) Phạm vi đề ra cho ITO là khá lớn, bao trùm lên cả các vấn đề việc làm, đầu tư, cạnh tranh, dịch vụ, vì thế việc đàm phán về nội dung Hiến chương của ITO diễn ra khá lâu Trong khi đó, vì mong muốn sớm cắt giảm thuế quan để đẩy mạnh công cuộc tái thiết sau chiến tranh, năm 1946 một nhóm 23 nước đã đàm phán riêng biệt và đạt được một số ưu đãi thuế quan nhất định Để đảm bảo những cam kết thuế quan đã đạt được, nhóm 23 nước này quyết định lấy một phần về chính sách thương mại trong dự thảo Hiến chương ITO, thỏa thuận này được 23 nước thành viên ký kết ngày 23/10/1947 kết tại Geneva (Thuỵ sỹ) với tên gọi là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương
mại (General Agreement on Tariffs and Trade - GATT) Hiệp định GATT
có hiệu lực từ 1/1/1948 như một thoả thuận tạm thời trong khi chờ ITO được thành lập, nhưng sau đó ITO không ra đời Do vậy, GATT trở thành
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 17cơ cấu đa phương duy nhất điều chỉnh thương mại quốc tế cho đến khi Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ra đời năm 1994 [23], [50]
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT nhằm mang lại
sự thống nhất, bình đẳng trong hoạt động ngoại thương trên phạm vi toàn cầu Trong Hiệp định này, vấn đề xác định trị giá tính thuế đã được quy định ở Điều VII, đưa ra một nguyên tắc chung về xác định trị giá hải quan cho tất cả các nước tham gia ký kết Đây là một bước tiến đáng kể của quá trình hình thành khái niệm trị giá hải quan được công nhận rộng rãi và sử dung chung cho các nước, bởi vì tính đến thời điểm ra đời của Hiệp định GATT, việc xác định trị giá hải quan được thực hiện một cách tự phát, không thống nhất trên thế giới [24]
Điều VII của Hiệp định GATT khi đó chỉ đưa ra những nguyên tắc chung nhất, nên trong quá trình xác định trị giá hải quan cho hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) đã có rất nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau không thống nhất Từ những phát sinh này, tại vòng đàm phán Tokyo năm 1979 các nước thống nhất ký kết một Hiệp định nhằm hướng dẫn việc xác định trị giá hải quan theo điều VII của Hiệp định GATT và có hiệu lực thực hiện
từ ngày 01/01/1981 Hiệp định Trị giá hải quan GATT chính thức ra đời từ
đó và thực chất là hướng dẫn thực hiện Điều VII của Hiệp định GATT Các nguyên tắc chung đã được cụ thể hoá bằng các phương pháp xác định trị giá hải quan cụ thể đi kèm những hướng dẫn rõ ràng, chính vì vậy Hiệp định đã tạo nên sự ổn định và thống nhất mới trong việc định giá chung trên thế giới, được rất nhiều nước ủng hộ
Năm 1994, Vòng đàm phán Uruguay kết thúc với kết quả là Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) có mục tiêu cao nhất là tự
do hoá thương mại trên toàn thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu buôn bán hàng hoá Tổ chức thương mại thế giới (WTO) coi Hiệu định chung về thuế quan và thương mại (GATT) cũng như Hiệp định Trị giá hải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 18quan là một phần bắt buộc các nước thành viên của WTO phải thực hiện
Kể từ đó Hiệp định Trị giá hải quan có tên đầy đủ là Hiệp định về thực hiện Điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT/WTO
1994, hay còn gọi là Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO [23]
1.1.2 Các nguyên tắc chung của Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO
Như đã trình bầy ở trên, Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO (từ
đây gọi ngắn gọn là Hiệp định Trị giá hải quan) được xây dựng để thực thi
Điều 7 của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại, do vậy xuyên suốt nội dung luôn thể hiện các nguyên tắc cơ bản của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại Hay nói cách khác thì Hiệp định Trị giá hải quan
là một bộ phận của Hiệp định thành lập WTO, do vậy cũng phải tuân thủ những nguyên tắc chung của tổ chức WTO là tạo thuận lợi cho thương mại
và tăng cường tính minh bạch Ngoài ra, Hiệp định Trị giá hải quan còn có những nguyên tắc của riêng nó là [50]:
- Tôn trọng thực tế thương mại: xác định trị giá hải quan trên cơ sở quan trọng nhất là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán của hàng hoá nhập khẩu
- Xây dựng hệ thống xác định trị giá đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng
- Xây dựng hệ thống xác định trị giá công bằng, khách quan, minh bạch
- Thực hiện xác định các yếu tố trong trị giá hải quan theo thông lệ quốc tế
- Không sử dụng trị giá hải quan như một hàng rào phi thuế
- Không sử dụng trị giá hải quan để chống bán phá giá
1.1.3 Kết cấu của Hiệp định Trị giá hải quan
Hiệp định Trị giá Hải quan được xây dựng theo bố cục gồm: Giới thiệu tổng quát, 4 phần (24 Điều) và 3 phụ lục kèm theo Với kết cấu được xắp xếp khá chặt chẽ khoa học [23]:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 19- Giới thiệu tổng quát: Khái quát những nội dung cơ bản nhất của
Hiệp định Trị giá hải quan, thể hiện ý chí của các nước thành viên trong việc hợp tác và thúc đẩy phát triển thương mại thế giới
- Phần I Những quy tắc về xác định trị giá hải quan (từ Điều 1 đến
+ Điều 8 của Hiệp định: quy định các khoản phải cộng vào và khuyến cáo các khoản nên trừ ra khi xác định trị giá tính thuế theo Điều 1 của Hiệp định, cũng có thể coi Điều 8 là một phần không tách rời của Điều 1
+ Điều 9 của Hiệp định: quy định về việc chuyển đổi tiền tệ và xác định tỷ giá hối đoái để phục vụ cho quá trình xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu
+ Điều 10 của Hiệp định: quy định nghĩa vụ bảo mật thông tin của các
cơ quan Nhà nước do người nhập khẩu cung cấp trong quá trình xác định trị giá tính thuế
+ Điều 11 của Hiệp định: quy định về quyền khiếu nại của người nhập khẩu khi có sự không thống nhất trong việc xác định trị giá tính thuế
+ Điều 12 của Hiệp định: quy định việc chuyển tải tinh thần của Hiệp định vào các văn bản nội luật của mỗi quốc gia thành viên, đồng thời khuyến cáo nội dung của các văn bản nội luật nêu trên cần phải phù hợp với Điều X của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT
Trang 20+ Điều 14 của Hiệp định: xác định tính pháp lý và khẳng định 3 phụ lục được ban hành kèm theo Hiệp định là bộ phận không thể tách rời của Hiệp định
+ Điều 15 của Hiệp định: giải thích, thống nhất cách hiểu của các khái niệm và từ ngữ nêu tại Hiệp định
+ Điều 16 của Hiệp định: xác định người nhập khẩu có quyền yêu cầu
cơ quan Hải quan giải thích bằng văn bản về phương pháp xác định trị giá đối với hàng nhập khẩu
+ Điều 17 của Hiệp định: quy định cơ quan Hải quan có quyền yêu cầu người nhập khẩu chứng minh, cung cấp thông tin để phục vụ cho việc xác định trị giá hải quan
- Phần II Quản lý thực hiện, tham vấn và giải quyết tranh chấp
(Điều 18 và Điều 19):
+ Điều 18 của Hiệp định: quy định thành lập, cơ cấu, cơ chế, chức năng của
“Ủy ban về xác định trị giá hải quan” và “Ủy ban kỹ thuật về xác định trị giá hải quan”
+ Điều 19 của Hiệp định: quy định việc tham vấn và giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên trong việc xác định trị giá hải quan
- Phần III: Đối xử đặc biệt và đối xử khác biệt (Điều 20):
+ Điều 20 của Hiệp định: quy định điều kiện và thời hạn để một nước thành viên khi giai nhập WTO được phép trì hoãn thực hiện một số nội dung trong Hiệp định
- Phần IV Các điều khoản cuối cùng (từ điều 21 đến Điều 24):
+ Điều 21 của Hiệp định: xác định ý nghĩa và giá trị pháp lý với những nội dung được bảo lưu của các nước thành viên
+ Điều 22 của Hiệp định: yêu cầu các nước thành viên phải chuyển tải tinh thần của Hiệp định vào các văn bản có giá trị pháp lý cao nhất để thực hiện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 21+ Điều 23 của Hiệp định: quy định Ủy ban về trị giá hải quan có trách nhiệm theo dõi và đánh giá tính hình thực hiện Hiệp định
+ Điều 24 của Hiệp định: quy định việc thực hiện Hiệp định phải được đặt dưới sự giám sát của Ban thư ký WTO
- Phụ lục I của Hiệp định: chú giải, giải thích, làm rõ thêm 9 điều
thuộc phần I của Hiệp định (gồm: Điều 1, Điều 2, Điều 3, Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 8, Điều 9 và Điều 15)
- Phụ lục II của Hiệp định: quy định cụ thể về tổ chức, nguyên tắc,
chức năng, cơ chế hoạt động của Ủy ban kỹ thuật về xác định trị giá hải quan (TCCV)
- Phụ lục III của Hiệp định: làm rõ thêm về quyền bảo lưu, quyền
trì hoãn, và định hướng giải quyết một số khó khăn phát sinh trong quá trình thực hiện Hiệp định của một số nước thàn viên
1.1.4 Các phương pháp xác định trị giá theo Hiệp định Trị giá hải quan
Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO luôn đề cao trị giá giao dịch của hàng hóa, coi đó là cơ sở căn bản để xác định trị giá hải quan Dựa vào các nguyên tắc chung nhất đã nêu ở trên, Hiệp định đưa ra 6 phương pháp khác nhau theo thứ tự cho việc xác định trị giá Hải quan, đó là [23]:
(1) Phương pháp trị giá giao dịch đối với hàng hoá nhập khẩu
(2) Phương pháp trị giá giao dịch đối với hàng hoá nhập khẩu giống hệt (3) Phương pháp trị giá giao dịch đối với hàng hoá nhập khẩu tương tự (4) Phương pháp khấu trừ
(5) Phương pháp tính toán
(6) Phương pháp dự phòng
Hiệp định không cho phép sử dụng tuỳ tiện các phương pháp xác định giá mà đều phải tuân thủ theo trình tự từ (1) đến (6) Nói cách khác là để xác định trị giá hàng hoá nhập khẩu, người ta sẽ phải bắt đầu áp dụng theo thứ tự từ phương pháp đầu tiên “Trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 22và chỉ khi vì một lý do nào đó mà phương pháp này không thể áp dụng được thì người ta mới áp dụng phương pháp thứ hai và nếu phương pháp thứ hai không áp dụng được thì sẽ phải lần lượt áp dụng theo thứ tự cho đến phương pháp cuối cùng để xác định được trị giá Hải quan Nguyên tắc này chỉ ngoại lệ đối với phương pháp thứ tư “Phương pháp khấu trừ” và phương pháp thứ năm “Phương pháp tính toán” và chỉ có 2 phương pháp này có thể đảo lộn trật tự cho nhau
1.1.4.1 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá nhập khẩu
Là phương pháp đầu tiên, là cơ sở căn bản để xác định trị giá hải quan, thực tế cho thấy đây là phương pháp được áp dụng cho phần lớn hàng hoá nhập khẩu Phương pháp này được quy định trong Điều 1 của Hiệp định, rằng:
Trị giá hải quan của hàng hoá nhập khẩu là trị giá giao dịch, đó là giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho những hàng hoá được bán
để xuất khẩu đến nước nhập khẩu, và được điều chỉnh phù hợp với các quy định của Điều 8, trị giá giao dịch phải đáp ứng 4 điều kiện là [23]:
(1) Người mua không bị hạn chế về quyền chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng hoá, ngoại trừ các hạn chế: do luật pháp hay các cơ quan có thẩm quyền tại nước nhập khẩu áp đặt, hoặc yêu cầu; về khu vực địa lý tại
đó hàng hoá có thể được bán lại; hoặc hạn chế không ảnh hưởng đáng kể đến trị giá của hàng hoá
(2) Hoạt động bán hàng, hay giá cả, không phụ thuộc vào một số điều kiện mà từ đó người ta không thể xác định được trị giá của những hàng hoá cần được xác định trị giá
(3) Sau khi tiếp tục bán lại, chuyển nhượng hoặc sử dụng hàng nhập khẩu, người nhập khẩu không phải chuyển bất cứ một khoản tiền nào từ doanh thu đạt được, dù trực tiếp hay gián tiếp, cho người bán, trừ khi khoản
đó thuộc khoản điều chỉnh phù hợp với các quy định của điều 8;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 23(4) Người mua và người bán không có quan hệ đặc biệt với nhau, hoặc trong trường hợp người mua và người bán có quan hệ đặc biệt thì trị giá giao dịch được chấp nhận là trị giá Hải quan khi người nhập khẩu chứng minh được trị giá đó xấp xỉ gần với một trị giá kiểm tra, xác định bằng một trong năm phương pháp đầu tiên đối với hàng hóa giống hệt hay tương tự với hàng nhập khẩu
Các khoản điều chỉnh quy định tại Điều 8 bao gồm các khoản phải cộng vào giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán của hàng hoá nhập khẩu Đó là những chi phí mà người mua phải gánh chịu nhưng chưa được tính vào giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho hàng hoá:
+ Chi phí hoa hồng và môi giới, trừ hoa hồng mua hàng
+ Chi phí về thùng chứa hàng được coi là đồng nhất với hàng hoá đang được xác định trị giá, nhằm phục vụ các hoạt động cuả Hải quan + Chi phí đóng gói, kể cả chi phí vật liệu và chi phí nhân công
+ Trị giá, được phân bổ thích hợp, của các khoản trợ giúp là những hàng hoá và dịch vụ do người mua cung cấp trực tiếp hay gián tiếp, miễn phí hoặc giảm giá, để sử dụng trong sản xuất và bán để xuất khẩu hàng nhập khẩu, nhưng chưa được tính vào giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán
+ Tiền bản quyền và phí giấy phép liên quan đến hàng hoá đang được xác định trị giá do người mua phải trả, trực tiếp hoặc gián tiếp, như một điều kiện cho giao dịch bán hàng hoá đang được xác định trị giá, trong phạm vi các chi phí này chưa được tính vào giá thực tế đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán
+ Trị giá của bất cứ khoản nào được chuyển trực tiếp hay gián tiếp cho người bán, trích từ doanh thu đạt được sau khi bán hàng nhập khẩu được bán lại, được chuyển nhượng hoặc sử dụng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 24+ Chi phí vận tải hàng nhập khẩu tới cảng hoặc địa điểm nhập khẩu + Chi phí bốc hàng lên phương tiện vận tải, dỡ hàng khỏi phương tiện vận tải và các chi phí làm hàng liên quan đến vấn chuyển hàng nhập khẩu tới cảng hoặc địa điểm nhập khẩu
+ Chi phí bảo hiểm
Ngoài ra, trong phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá, cần quan tâm đến những khía cạnh khác nhau của các giao dịch ngoại thương như khuyến mại giảm giá, thanh toán bù trừ, tín dụng tài chính
1.1.4.2 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá giống hệt
Khi không thể áp dụng được phương pháp thứ nhất, thì được phép sử dụng phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá giống hệt Theo Điều 2
của Hiệp định “Nếu trị giá hải quan của hàng hoá nhập khẩu không thể
xác định theo các quy định tại Điều 1 thì trị giá hải quan là trị giá giao dịch của hàng hoá giống hệt được bán với mục đích xuất khẩu cho cùng một nước nhập khẩu vào cùng thời điểm hay cùng kỳ với lô hàng cần phải xác định trị giá” [23]
Vấn đề đặt ra khi sử dụng phương pháp này là xác định mặt hàng
giống hệt với hàng hoá nhập khẩu Điều 15.2 (a) xác định: “Mặt hàng
giống hệt là những hàng hoá giống nhau về mọi khía cạnh kể cả tính chất vật lý, chất lượng và danh tiếng Những khác biệt nhỏ bên ngoài không ảnh hưởng đến việc coi hàng hoá là mặt hàng giống hệt”[23]
1.1.4.3 Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá tương tự
Khi trị giá hải quan của hàng hoá không thể xác định được theo phương pháp thứ hai thì phương pháp thứ ba sẽ được áp dụng, đó là phương pháp trị giá giao dịch của hàng hoá tương tự Phương pháp này
được quy định tại Điều 3 của Hiệp định: “Nếu trị giá hải quan của hàng
hoá nhập khẩu không thể xác định được theo các quy định tại Điều 1 và Điều 2 thì trị giá hải quan sẽ là trị giá giao dịch của mặt hàng tương tự được bán với mục đích xuất khẩu cho cùng một nước nhập khẩu vào cùng một thời điểm nay cùng kỳ với lô hàng cần xác định trị giá”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 25Điểm 2(b) Điều 15 làm rõ khái niệm “Mặt hàng tương tự” là: “những
hàng hoá dù không giống nhau về mọi chi tiết nhưng có các đặc điểm giống nhau, và được làm từ các nguyên vật liệu giống nhau và điều đó làm cho các mặt hàng này thực hiện được các chức năng giống nhau và có thể chuyển đổi, thay thế lẫn nhau về mặt thương mại Chất lượng, danh tiếng và
sự tồn tại của nhãn hiệu thương mại là những yếu tố được cân nhắc trong khi xét xem hàng hoá đó có phải là mặt hàng tương tự hay không” [23]
Trong khi áp dụng hai phương pháp hàng giống hệt và hàng tương tự, những yếu tố về số lượng hàng hoá và cấp độ thương mại của hàng hoá đó phải được xem xét để điều chỉnh thống nhất Đó là vì trong các giao dịch thương mại, với điều kiện cạnh tranh thông thường thì giá cả hàng hoá phụ thuộc rất nhiều vào số lượng hàng hoá trong các giao dịch, và cấp độ thương mại của giao dịch đó Có thể nhận biết rất rõ sự khác biệt này giữa mua hàng với số lượng lớn và nhỏ, người mua hàng là người bán buôn, bán
lẻ hay người tiêu dùng
1.1.4.4 Phương pháp trị giá khấu trừ
Phương pháp thứ tư và thứ năm của hệ thống các phương pháp xác định trị giá hải quan theo Hiệp định Trị giá hải quan là phương pháp khấu trừ và phương pháp tính toán Riêng đối với hai phương pháp này, trật tự
áp dụng có thể bị đảo ngược nếu có yêu cầu của người nhập khẩu
Trị giá hải quan của hàng hoá nhập khẩu sẽ được xác định căn cứ vào đơn giá mà ở mức giá đó, hàng nhập khẩu, hàng giống hệt hay hàng tương
tự được bán với số lượng lớn nhất, vào cùng thời điểm hay cùng kỳ nhập khẩu của lô hàng đang được xác định trị giá, và bán cho người không có quan hệ đặc biệt với người bán lô hàng Từ mức giá đó, người ta khấu trừ
đi các khoản hoa hồng hay lợi nhuận và các chi phí chung có liên quan đến bán hàng tại nước nhập khẩu: chi phí vận tải, bảo hiểm phát sinh trong phạm vi nước nhập khẩu và các khoản thuế, lệ phí của nước nhập khẩu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 261.1.4.5 Phương pháp trị giá tính toán
Quy định trị giá hải quan của hàng hoá nhập khẩu được căn cứ vào trị giá tính toán Trị giá tính toán sẽ bao gồm các khoản sau:
- Giá thành hoặc trị giá nguyên vật liệu và bán thành phẩm hoặc các chi phí gia công khác đã sử dụng vào sản xuất hàng nhập khẩu;
- Khoản lợi nhuận và chi phí chung;
- Giá thành hoặc trị giá của mọi chi phí khác cần thiết theo Điều 8.2 gồm: chi phí vận tải tới cảng hoặc dịa điểm nhập khẩu, chi phí xếp dỡ và chi phí làm hàng liên quan đến hàng hóa nhập khẩu tới cảng hoặc địa điểm nhập khẩu, chi phí bảo hiểm
1.1.4.6 Phương pháp dự phòng (hay còn gọi là phương pháp suy luận):
Là phương pháp xác định trị giá hải quan cuối cùng quy định trong Hiệp định Phương pháp này được nêu tại Điều 7 của Hiệp định như sau:
“Nếu trị giá hải quan của hàng hoá nhập khẩu không thể xác định được theo các quy định từ Điều 1 đến Điều 6 thì trị giá hải quan sẽ được xác định bằng các phương pháp hợp lý nhất quán với các nguyên tắc và quy định chung của Hiệp định này và với Điều VII của GATT 1994 và trên cơ
sở các dữ liệu hiện có của nước nhập khẩu” [23], [24] Như vậy có thể
hiểu rằng, nếu như không thể xác định được trị giá hải quan của hàng hoá nhập khẩu bằng 5 phương pháp trước đó thì cơ quan hải quan có thể sử dụng bất cứ một phương pháp nào phù hợp với các nguyên tắc chung, dựa trên những cơ sở dữ liệu có sẵn tại nước nhập khẩu để suy luận nhằm xác định trị giá tính thuế cho hàng nhập khẩu
Tuy nhiên, để thực hiện được theo phương pháp này thì cũng phải tuân thủ những hạn chế như: không được sử dụng giá bán hàng trong nội địa nước xuất khẩu, nước nhập khẩu hay giá bán cho một nước không phải nước nhập khẩu; không được sử dụng phương pháp tính toán khác với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 27phương pháp tính toán đã quy định trong Hiệp định; không được sử dụng giá tối thiểu hay giá áp đặt, giả định để làm trị giá hải quan
Khi xác định trị giá hải quan hàng hóa nhập khẩu, cơ quan Hải quan phải tuân thủ những yêu cầu hết sức nghiêm ngặt, chỉ được căn cứ vào những số liệu khách quan, định lượng được, số liệu kế toán và phải luôn tôn trọng các chi tiết trong quan hệ giao dịch mua bán hàng hoá Mặc dù có nghi ngờ về trị giá đã khai báo của người nhập khẩu, nhưng không có đầy
đủ bằng chứng, và người nhập khẩu chứng minh được tính xác thực của khai báo thì cơ quan Hải quan không có quyền loại bỏ trị giá khai báo Trong trường hợp đó cơ quan Hải quan sẽ được phép sử dụng các biện pháp nghiệp vụ, và phải tiến hành sau khi đã giải phóng hàng hoá Việc này vừa đảm bảo tốc độ thông quan hàng hoá tại cửa khẩu mà còn mở rộng quyền lực của cơ quan Hải quan trong công tác quản lý hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu sau khi hàng đã vào sâu trong thị trường nội địa
Như vậy, 6 phương pháp xác định trị giá hải quan theo Hiệp định đều
có một hướng đích chung nhất là “trị giá giao dịch” của hàng hóa Nếu hàng hóa được xác định trị giá hải quan theo “phương pháp trị giá giao dịch” thì khi đó trị giá hải quan sẽ phản ánh trung thực nhất về trị giá của hàng hóa đó, tuy nhiên trị giá này phải thỏa mãn 4 điều kiện nêu tại Điều 1
và điều chỉnh theo các nội dung được quy định tại Điều 8 của Hiệp định (nếu có) Các phương pháp xác định trị giá hải quan càng về sau sẽ có độ dung sai càng lớn do các điều kiện suy luận ở các phương pháp sau sẽ luôn được mở rộng hơn, cũng vì đó mà Hiệp định yêu cầu phải dừng ngay tại phương pháp xác định được trị giá tính thuế [46], [48], [50]
1.1.5 Những điều kiện cơ bản để thực hiện Hiệp định Trị giá Hải quan
Hiệp định Trị giá hải quan là một bộ phận cấu thành trong hệ thống hiệp định chung của WTO nó có tác dụng thúc đẩy tự do hóa và phát triển thương mại quốc tế Đây cũng chính điều kiện bắt buộc phải thực hiện đối
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 28với tất cả mội thành viên của tổ chức này Tuy nhiên, để áp dụng thành công Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO thì mỗi quốc gia cần phải chuẩn bị một số các điều kiện cơ bản về: hệ thống văn bản pháp luật, đạt chuẩn về hệ thống kế toán, khả năng kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý, khả năng thu thập và xử lý thông tin nhằm phục vụ cho công tác xác định trị giá hải quan
1.1.5.1 Yêu cầu về hệ thống văn bản pháp luật
Điều 22 của Hiệp định nêu rõ: "Các nước thành viên phải đảm bảo sự
phù hợp của các luật, quy định và các thủ tục hành chính với các quy định của Hiệp định này không muộn hơn ngày thành viên đó áp dụng các quy định của Hiệp định này” [23] Do vậy, để triển khai thực hiện Hiệp định Trị
giá hải quan các nước thành viên phải chuyển tải toàn bộ nội dung của Hiệp định vào hệ thống văn bản pháp quy, hay nói cách khác là Luật hoá nội dung của Hiệp định Các văn bản Luật triển khai thực hiện Hiệp định phải đáp ứng được những yêu cầu cơ bản như: hiệp lực thi hành không muộn hơn ngày áp dụng Hiệp định, chuyển tải đầy đủ nội dung của Hiệp định, đáp ứng yêu cầu về cải cách thủ tục hành chính
Để việc thực hiện Hiệp định được minh bạch và ổn định, Điều 22 nêu
rõ: "Mỗi thành viên phải thông báo cho uỷ ban về bất kỳ sự thay đổi nào
trong các luật và quy định của minh liên quan đến Hiệp định " [23] Theo
đó tất cả mọi thay đổi trong luật pháp quốc gia của các nước thành viên phải được gửi đến Uỷ ban về định giá thuế quan (thuộc WTO) để xem xét, điều này có ý nghĩa bắt buộc các nước thành viên phải có được hệ thống luật pháp tuân thủ Hiệp định, ổn định và minh bạch Tính minh bạch này phải được thể hiện không chỉ trong các văn bản luật mà còn trong các quy định, quy tắc, quyết định và hướng dẫn thực hiện luật Từ đó góp phần tạo điều kiện để người nhập khẩu chủ động trong hoạt động kinh doanh, cũng
vì đó mà mỗi nước thành viên phải có trách nhiệm đẩy mạnh cải cách thủ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 29tục hành chính theo hướng thuận lợi cho việc phát triển thương mại giao thương quốc tế
Mặt khác đòi hỏi cộng đồng doanh nghiệp cũng cần phải tự nâng cao trình độ nhận thức, tìm hiểu các quy định của các điều ước quốc tế nói chung và Hiệp định Trị giá hải quan nói riêng Sự hợp tác của cộng đồng doanh nghiệp giúp cho cơ quan quản lý tăng cường được khả năng giám sát, tạo ra sự bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh theo sự điều tiết của cơ chế thị trường giữa các doanh nghiệp có hàng hoá nhập khẩu Một lần nữa chính sự tuân thủ pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp là động cơ để cơ quan quản lý nhà nước phải đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, điều chỉnh hệ thống pháp luật theo hướng có lợi cho việc thúc đẩy thương mại quốc tế, đó chính là mục tiêu chung nhất của Hiệp định Trị giá hải quan
1.1.5.2 Yêu cầu về cơ chế giám sát việc thực hiện Hiệp định
Theo tinh thần Hiệp định Trị giá hải quan thì cơ sở căn bản để xác định trị giá hải quan phải là trị giá giao dịch của chính hàng hóa đó, người nhập khẩu được quyền tự khai báo trị giá giao dịch hoặc các yếu tố cần thiết, để từ đó cơ quan hải quan ra quyết định xác định trị giá hải quan Cũng từ đó mà một số người nhập khẩu vì mục đích lợi nhuận đã tìm mọi cách để khai báo sai trị giá giao dịch nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế Mặt khác thì cũng có trường hợp người nhập khẩu không nắm được rõ các quy định, các điều kiện và các khoản phải cộng vào trị giá hàng nhập khẩu, nên dẫn đến khai báo không đúng về trị giá tính thuế Để giải
quyết vấn đề này, Điều 17 của Hiệp định nêu rõ “Không một điều khoản
nào của Hiệp định này được hiểu theo nghĩa hạn chế hay nghi ngờ quyền của hải quan trong việc kiểm tra tính trung thực hoặc độ chính xác của mọi báo cáo, chứng từ hoặc khai báo hải quan đã xuất trình cho mục đích xác định trị giá hải quan” Theo đó, cơ quan Hải quan có thể sử dụng các biện
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 30pháp nghiệp vụ để nhằm xác định đúng trị giá tính thuế của hàng nhập khẩu [47],[48] như:
- Kiểm tra, đối chiếu các thông tin khai báo với các thông tin có sẵn của cơ quan Hải quan để xác định các dấu hiệu nghi vấn
- Tổ chức tham vấn để người nhập khẩu và cơ quan Hải quan trao đổi các thông tin liên quan đến trị giá hàng nhập khẩu
- Xây dựng hệ thống kiểm tra sau khi đã giải phóng hàng nhằm xác minh tính trung thực trong khai báo của doanh nghiệp
Việc kiểm tra sau khi đã giải phóng hàng cho phép cơ quan Hải quan
có quyền dựa trên các thông tin có sẵn trong cơ sở dữ liệu để kiểm tra trị giá khai báo, bằng cách phân tích các giao dịch của doanh nghiệp, đề nghị doanh nghiệp đến tham vấn tại cơ quan hải quan để chứng minh cho các khai báo, hoặc đến trụ sở của doanh nghiệp để kiểm toán đối với các sổ sách, chứng từ kế toán của doanh nghiệp Một hệ thống kiểm tra sau giải phóng hàng minh bạch – chuyên nghiệp – hiệu quả [44], kết hợp với các chế tài pháp luật nghiêm minh là cơ sở vững chắc đảm bảo cộng đồng doanh nghiệp sẽ tuân thủ các quy định trong xác định trị giá hải quan
1.1.5.3 Yêu cầu đối với việc xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc xác định trị giá hải quan
Trong quá trình xác định trị giá hải quan, Cơ quan Hải quan có trách nhiệm kiểm tra đối chiếu thông tin do người nhập khẩu khai báo, đánh giá
độ tin cậy của trị giá khai báo Mặc dù có trách nhiệm phải tôn trọng những khai báo của doanh nghiệp, xác định trị giá hải quan của hàng hoá dựa trên thông tin khai báo, nhưng cơ quan Hải quan vẫn có quyền kiểm tra tính trung thực, chính xác trong thông tin khai báo của doanh nghiệp sau khi hàng hoá đã được thông quan Do vậy, vấn đề xây dựng cơ sở dữ liệu và thông tin phục vụ cho việc kiểm tra được đặt ra như một trong những công
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 31cụ hữu hiệu giúp cơ quan Hải quan thực hiện nhiệm vụ xác định trị giá hải quan và nhiệm vụ kiểm tra sau khi hàng hóa đã được thông quan [46]
Cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác xác định trị giá hải quan là: tất cả các thông tin liên quan đến việc kiểm tra, xác định trị giá tính thuế do người khai hải quan khai báo, cung cấp cho cơ quan Hải quan hoặc do cơ quan Hải quan thu thập được liên quan đến hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, được quản lý và sử dụng trong nội bộ ngành Hải quan để phục vụ công tác kiểm tra trị giá khai báo, xác định trị giá tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Nguồn thông tin dữ liệu giá tính thuế phải được thu thập, cập nhật đầy đủ, kịp thời, chính xác theo một hệ thống thống nhất, được lưu giữ tập trung tại một trung tâm dữ liệu và cung cấp cho các đơn vị trong ngành Hải quan khai thác, sử dụng Đối tượng thu thập, cập nhật, khai thác,
sử dụng cơ sở dữ liệu giá là các cán bộ, công chức làm công tác giá tại các cấp trong ngành Hải quan Các đơn vị được cập nhật, khai thác và sử dụng
cơ sở dữ liệu giá phải phân quyền đến từng cán bộ, công chức phù hợp chức năng, nhiệm vụ của từng cá nhân cụ thể Việc trao đổi, cung cấp các thông tin trong cơ sở dữ liệu giá trong hệ thống phải tuân thủ các nguyên tắc về bảo mật và quản lý hệ thống
Như vậy, hệ thống cơ sở dữ liệu để phục vụ cho công tác xác định trị giá tính thuế của cơ quan Hải quan luôn được cập nhật bổ sung thông tin về hàng hóa từ nhiều nguồn khác nhau Qua đó sẽ đáp ứng tốt yêu cầu khai thác và sử dụng cho mục đích xác định trị giá tính thuế trong toàn hệ thống
1.1.5.4 Yêu cầu đối với hệ thống kế toán
Hiệp định yêu cầu việc xác định trị giá hải quan phải dựa trên các
nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP) [50] “… là sự đồng
thuận được thừa nhận hoặc ủng hộ lớn của các cơ quan có thẩm quyền trong phạm vi một nước tại một thời điểm cụ thể về cách ghi sổ kế toán như thế nào là nghĩa vụ và nguồn lực kinh tế vào tài sản nợ và có, những thay
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 32đổi nào trong tài sản có và nợ cần phải ghi sổ, phải đánh gí tài sản có, nợ
và sự thay đổi của hai tài khoản này như thế nào, cần tiết lộ những thông tin gì và tiết lộ như thế nào, và cần phải lập những báo cáo tài chính nào Những tiêu chuẩn này có thể là các nguyên tắc chỉ đạo chung cũng như các thông lệ và thủ tục chi tiết”
Hệ thống tài chính kế toán theo chuẩn mực quốc gia, hay quốc tế, lưu trữ các sổ sách và ghi chép số liệu minh bạch sẽ giúp người nhập khẩu và
cơ quan Hải quan có những thông tin đáng tin cậy để xác định trị giá hải quan cho hàng hoá nhập khẩu theo Điều 5 (phương pháp khấu trừ) và Điều
6 (phương pháp tính toán) của Hiệp định Vì vậy, có thể nói, việc quy định
và ban hành một chuẩn mực thống nhất về kế toán tài chính trên toàn quốc
sẽ tạo điều kiện rất thuận lợi góp phần thực hiện Hiệp định có hiệu quả Mặt khác, một hệ thống sổ sách kế toán minh bạch, đạt chuẩn sẽ giúp cho
cơ quan Hải quan thực hiện kiểm tra sau thông quan được nhanh chóng và đạt hiệu quả cao, từ đó góp phần vào thành công của các nước thành viên trong việc triển khai thực hiện Hiệp định Trị giá hải quan
Ở VIỆT NAM
1.2.1 Giai đoạn chuẩn bị thực hiện Hiệp định (1997-2003)
1.2.1.1 Công tác nghiên cứu nội dung Hiệp định Trị giá hải quan
Công tác chuẩn bị luôn có vai trò quyết định sự thành công của các giai đoạn tiếp theo, vào thời điểm đó thì Hiệp định Trị giá hải quan còn rất mới đối với cộng đồng doanh nghiệp cũng như đối với các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam Thông qua hỗ trợ của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), Việt Nam đã tham khảo kinh nghiệm của một số nước phát triển
và trong khối Asean để tiến hành xây dựng lộ trình triển khai thực hiện Hiệp định Trị giá hải quan theo các nhóm công việc chủ yếu gồm:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 33- Dịch toàn bộ nội dung Hiệp định Trị giá hải quan và các phần chú giải sang tiếng Việt Nam: Nội dung của Hiệp định có giá trị pháp lý ở cấp
độ quốc tế, mà theo đó các nước thành viên của WTO phải nghiêm chỉnh thực hiện, cũng vì đó mà việc chuyển tải sang tiếng Việt toàn bộ nội dung Hiệp định và các chú giải cũng như sách giới thiệu hướng dẫn về Hiệp định phải toàn vẹn, tránh để xẩy ra tranh chấp và những cách hiểu khác so với nguyên bản bằng tiếng Anh - Pháp - Tây Ban Nha Nhưng Hiệp định Trị giá hải quan cũng đưa ra rất nhiều khái niệm, thuật ngữ mới, chính vì vậy việc chuyển tải nội dung sao cho gần gũi, dễ hiểu, đồng nghĩa với nguyên bản là một thách thức lớn đối với công tác dịch thuật Từ đó đặt ra yêu cầu đối với những người tham gia dịch thuật phải hết sức cẩn trọng, vững vàng về ngôn ngữ, phải hiểu biết sâu về nội dung Hiệp định cũng như các lĩnh vực liên quan đến Hiệp định, bản dịch phải đảm bảo kết cấu và bố cục so với nguyên bản đồng thời phải gần gũi với văn phong của người Việt Nam tránh lủng củng gây khó hiểu
- Lập kế hoạch triển khai thực hiện Hiệp định Trị giá hải quan: theo
đó cần phải xây dựng đề án tổng thể cho việc thực hiện Hiệp định, chỉ ra các công việc phải làm, thời gian hoàn thành, các giải pháp đảm bảo tính khả thi Vai trò của Chính phủ ở giai đoạn này là cực kỳ quan trọng, như một nhạc trưởng điều hành phân công các Bộ và cơ quan chức năng cùng bắt tay thực hiện nhiệm vụ chính trị theo đề án đã được phê duyệt Theo tinh thần Nghị định 54/CP ngày 28/8/1993 của Chính phủ thì ba cơ quan quản lý Nhà nước liên quan trực tiếp đến công tác quản lý giá tính thuế hàng hoá nhập khẩu là Bộ Tài chính, Bộ Thương mại và Tổng cục Hải quan (khi đó Tổng cục Hải quan trực thuộc Chính phủ) trong đó Bộ Tài chính giữ vai trò chủ trì Do Hiệp định Trị giá hải quan mang tính kỹ thuật chủ yếu liên quan đến Hải quan, nên Chính phủ xem xét giao cho Tổng cục Hải quan chủ trì nghiên cứu và triển khai Hiệp định này Bên cạnh đó,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 34Chính phủ cho thành lập một nhóm nghiên cứu liên Bộ cùng với Tổng cục Hải quan để giúp triển khai thực hiện Hiệp định trị giá hải quan Ở giai đoạn này công tác tuyên truyền phổ biến nội dung Hiệp định Trị giá hải quan đến cộng đồng doanh nghiệp cũng cần phải được quan tâm đẩy mạnh, hơn lúc nào hết việc triển khai thực hiện Hiệp định luôn xuất phát từ quyền lợi và nghĩa vụ của chính người nhập khẩu [13]
- Xây dựng hệ thống văn bản pháp quy triển khai thực hiện Hiệp định Trị giá hải quan: Theo Điều 12 Hiệp định trị giá GATT 1994 quy định các văn bản pháp lý nội luật phải phù hợp với Điều X của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại - GATT 1994 [24] Như vậy có nghĩa là toàn bộ
hệ thống văn bản pháp lý triển khai thực hiện Hiệp định Trị giá hải quan phải chuyển tải đầy đủ nội dung của Hiệp định, đồng thời phải được công
bố công khai trên nguyên tắc rõ ràng và minh bạch để đảm bảo việc thực hiện được nhất quán Với tình hình thực tiễn của ta, thì việc xây dựng hệ thống văn bản pháp quy ở ba cấp độ là phù hợp cho quá trình triển khai thực hiện, cụ thể là:
+ Ở cấp độ văn bản Luật: Luật Hải quan; Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu do Quốc hội ban hành;
+ Ở cấp độ văn bản của Chính phủ: Nghị định hướng dẫn xác định trị giá theo Hiệp định Trị giá hải quan do Chính phủ ban hành;
+ Ở cấp độ văn bản hướng dẫn của cấp Bộ: Thông tư hướng dẫn Nghị định và các văn bản hướng dẫn khác do Bộ Tài chính ban hành
- Xây dựng mô hình tổ chức thực hiện công tác xác định trị giá tính thuế: Việc về xây dựng, ban hành chính sách, chỉ đạo triển khai thực hiện được tập trung ở cấp trung ương (tức Tổng cục Hải quan, Bộ Tài chính, Chính phủ) Việc triển khai thực hiện xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu được giải quyết ngay tại cửa khẩu và Hải quan địa phương Cơ quan
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 35cấp trên có nghĩa vụ hỗ trợ, chỉ đạo, định hướng để cấp dưới giải quyết các khó khăn vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện
- Đào tạo và tuyên truyền: Hiệp định Trị giá hải quan mang tính kỹ thuật cao và rất mới mẻ đối với cơ quan quản lý nhà nước và cả với cộng đồng doanh nghiệp Cũng vì đó mà một yêu cầu đặt ra là phải tuyên truyền phổ biến nội dung của Hiệp định để khi thực hiện được thống nhất là tất yếu khách quan Công tác đào tạo cũng phải được phân loại theo nhu cầu của từng nhóm đối tượng, đối với cán bộ Hải quan cần phân ra các cấp đào tạo theo đối tượng thực thi Hiệp định cụ thể: Đào tạo cho những người sẽ là giảng viên giảng dậy, các cán bộ lập chính sách ở cấp trung ương, đào tạo cho cán bộ trị giá là những người trực tiếp thực thi Hiệp định và đào tạo phổ cập cho cán bộ ngành Hải quan
Đối với cộng đồng doanh nghiệp, cần đào tạo phổ cập và đi sâu vào các quy định của luật pháp quốc gia mà trong đó đã chuyển tải nội dung của Hiệp định trị giá hải quan Mặt khác cũng tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến nội dung của Hiệp định, giúp cho cộng đồng doanh nghiệp những thông tin đầy đủ về các quy định liên quan đến quá trình thực thi Hiệp định để có thể thực hiện được triệt để, không bị bỡ ngỡ khi bước chân
ra sân chơi quốc tế
- Xây dựng các giải pháp hỗ trợ: Khi xác định trị giá hải quan theo Hiệp định đồng nghĩa với việc cơ quan Hải quan không được áp đặt trị giá tính thuế mà phải tôn trọng trị giá khai báo của người nhập khẩu Tuy nhiên, để thẩm tra và xác định được độ tin cậy trong các thông tin mà người khai hải quan cung cấp thì cơ quan quản lý cũng cần phải có thêm thời gian Từ đó đòi hỏi phải triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ như: nâng cao công tác kiểm tra sau thông quan, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về trị giá tính thuế, xây dựng hệ thống quản lý rủi ro, xây dụng các biện pháp và phương án chống bán phá giá, chống trợ giá
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 361.2.1.2 Những thay đổi của hệ thống văn bản pháp quy trong quá trình chuẩn bị thực hiện Hiệp định Trị giá hải quan
Trước năm 1997, theo quy định tại Điều 7 Nghị định 54/CP ngày 28 tháng 8 năm 1993 thì việc áp giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu cơ bản được thực hiện theo các bảng giá tối thiểu do cơ quan quản lý nhà nước ban hành Cũng vì đó mà văn bản hướng dẫn thực hiện Hiệp định Trị giá hải quan đòi hỏi phải được điều chỉnh từng bước, hết sức thận trọng, tổng hợp kinh nghiệm và có lộ trình cụ thể [13]
Trong giai đoạn chuẩn bị thực hiện Hiệp định, hệ thống văn bản pháp quy hướng dẫn xác định trị giá đối với hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam đã có những chuyển đổi đáng kể so với trước đó, đã bắt đầu phân luồng hàng hóa nhập khẩu thành 2 nhóm để xác định trị giá tính thuế cụ thể:
- Theo quy định tại Thông tư 82/1997/TT-BTC ngày 11/11/1997 và sau đó là Thông tư 92/1999/TT-BTC ngày 24/7/1999 của Bộ Tài chính, thì chỉ một số nhóm hàng nhà nước quản lý giá phải áp giá tính thuế theo giá tối thiểu quy định tại bảng giá, các nhóm hàng khác nếu đủ điều kiện được
áp giá tính thuế theo giá thực tế ghi trên hợp đồng mua bán (theo nguyên tắc của trị giá GATT/WTO) [2], [3] Đến Thông tư 08/2001/TT-BTC ngày 23/01/2001 (thay thế thông tư 82/1997/TT-BTC, thông tư 92/1999/TT-BTC) Bộ Tài chính mở rộng đối tượng, điều kiện được áp giá tính thuế theo hợp đồng ngoại thương, thu hẹp danh mục mặt hàng nhà nước quản lý giá phải áp theo giá tối thiểu từ 34 nhóm xuống 8 nhóm [4] Ngày 10/06/2002 Chính phủ ban hành Nghị định số: 60/2002/NĐ-CP hướng dẫn
áp giá tính thuế theo Hiệp định Trị giá hải quan và cho phép áp dụng thí điểm đối với một số đối tượng hàng nhập khẩu [14] Để thực hiện , Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 118/2003/TT-BTC ngày 28/12/2003 hướng dẫn thực hiện Nghị định 60/2002/NĐ-CP của Chính phủ về việc thực hiện Hiệp định Trị giá hải quan [5] Như vậy, hệ thống văn bản pháp quy xác
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 37định trị giá tính thuế theo Hiệp định trị giá GATT, là căn cứ pháp lý quan trọng để triển khai áp dụng thí điểm việc xác định trị giá tính thuế theo Hiệp định trị giá GATT đối với một số đối tượng hàng hoá nhập khẩu
- Mặt khác, cũng trong thời kỳ này Bộ Tài chính đã ban hành các bảng giá tối thiểu đối với các nhóm mặt hàng nhà nước cần quản lý về giá (QĐ 164/2000/QĐ-BTC ngày 10/10/2000) Đây là danh mục các hàng hoá nhập khẩu chưa được áp dụng thực hiện xác định trị giá hải quan theo Hiệp định Qua đó có thể nhận thấy hệ thống văn bản pháp quy đã điều chỉnh theo hướng mở rộng đối tượng áp dụng giá tính thuế theo giá thực tế mua bán ghi trên hợp đồng ngoại thương, tức áp dụng là một trong những nguyên tắc cơ bản của Hiệp định Trị giá hải quan, thu hẹp diện các mặt hàng nhà nước quản lý giá tính thuế phải áp giá theo giá tối thiểu
1.2.2 Giai đoạn thực hiện thí điểm Hiệp định Trị giá hải quan (2004-2005)
1.2.2.1 Mục tiêu của giai đoạn thực hiện thí điểm
Có thể coi đây là giai đoạn triển khai trong phạm vi hẹp để thực hiện xác định trị giá hải quan đối với ba nhóm hàng hóa gồm: Hàng nhập khẩu trong danh mục hàng hoá của Việt Nam để thực hiện Hiệp định về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của các nước ASEAN; Hàng nhập khẩu của doanh nghiệp thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; Hàng nhập khẩu của 54 nước và vùng lãnh thổ theo các thông báo của Bộ Thương mại đã ký kết thực hiện xác định trị giá tính thuế theo Hiệp định Trị giá hải quan Đối với hàng hoá nhập khẩu thuộc các đối tượng nêu trên thì giá tính thuế được xác định theo giá thực tế phải thanh toán mà người mua đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho người bán về hàng hoá nhập khẩu Ngoài ba nhóm mặt hàng thực hiện thí điểm, việc xác định trị giá tính thuế đối với hàng nhập khẩu vẫn thực hiện theo bảng giá tối thiểu hoặc các mức giá tài định, tuy nhiên cũng đã có một vài điều chỉnh nhằm khách quan hơn trong việc xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 38Giai đoạn thực hiện thí điểm Hiệp định Trị giá hải quan đã đạt được các mục tiêu cơ bản là:
(1) Tổng kết, đánh giá, rút ra những bài học kinh nghiệm cho giai đoạn áp dụng đầy đủ Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO
(2) Tập huấn cho cả cơ quan Hải quan và cộng đồng doanh nghiệp thực hiện việc xác định trị giá hải quan theo tinh thần và nguyên tắc quy định tại Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO
(3) Tìm ra các kẽ hở dễ bị lợi dụng nhằm làm sai lệch kết quả xác định trị giá hải quan, để từ đó xây dựng các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu, chống gian lận thương mại qua trị giá tính thuế hàng nhập khẩu
(4) Xây dựng hệ thống văn bản pháp quy để điều chỉnh và hướng dẫn việc xác định trị giá tính thuế theo Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam và đồng thời cũng phải đảm bảo cơ sở khoa học trong quá trình thực hiện
(5) Các phát sinh vướng mắc trong quá trình thực hiện thí điểm Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO đã được giải quyết một cách bài bản, có định hướng cụ thể, và có kiểm soát Kết quả là hệ thống vận hành trơn tru, đạt hiệu quả, đây là một thành công lớn và khẳng định có thể áp dụng thực hiện xác định trị giá hải quan theo Hiệp định đối với toàn bộ hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
1.2.2.2 Sự thay đổi của hệ thống văn bản pháp quy nhằm đáp ứng cho việc thực hiện thí điểm Hiệp định Trị giá hải quan
Để đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện thí điểm việc xác định trị giá hải quan theo tinh thần Hiệp định, ngày 15/8/2004 Bộ Tài chính ban hành Thông
tư 87/2004/TT-BTC thay thế các quy định trước đó [6], để hướng dẫn áp giá tính thuế đối với hàng hoá không thuộc đối tượng áp dụng thí điểm Hiệp định Trị giá hải quan được xác định trị giá tính thuế theo giá thực thanh toán ghi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 39trên hợp đồng ngoại thương, không áp dụng danh mục mặt hàng nhà nước quản lý giá tính thuế và bảng giá tối thiểu đối với các mặt hàng nhập khẩu thuộc nhóm này Theo đó, hàng hóa nhập khẩu từ các nước Asean, của 54 nước và vùng lãnh thổ theo thông báo của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) và hàng hóa nhập khẩu theo Luật Đầu tư đều thực hiện xác định trị giá tính thuế theo Hiệp định Trị giá hải quan
Đây là giai đoạn thực hiện thí điểm Hiệp định Trị giá hải quan để xác định trị giá tính thuế đối với hàng hoá nhập khẩu, nhưng về cơ bản hệ thống văn bản pháp quy của Việt Nam đã được xây dựng dựa tương đối hoàn chỉnh trên các nguyên tắc của Hiệp định Trị giá hải quan Theo đó thì
cơ sở căn bản để phục vụ cho việc xác định trị giá tính thuế là dựa trên trị giá giao dịch của hàng nhập khẩu, tức là mức giá mà ở đó thực tế người mua đã thanh toán hay sẽ phải thanh toán cho giao dịch thương mại Thông
tư 87/2004/TT-BTC của Bộ Tài chính tạo một dấu ấn quan trọng, và là hành lang pháp lý trong việc chuyển tải nội dung Hiệp định Trị giá hải quan sang hệ thống văn bản pháp quy của ta trong thời kỳ thực hiện thí
điểm Hiệp định [6]
1.2.3 Giai đoạn thực hiện đầy đủ Hiệp định (từ 2006 - 2011)
1.2.3.1 Các vấn đề cơ bản khi thực hiện đầy đủ Hiệp định Trị giá hải quan
Từ năm 2006 đến nay, chúng ta đã thực hiện đầy đủ các nguyên tắc xác định trị giá đúng theo tinh thần Hiệp định Trị giá hải quan và áp dụng cho tất cả các hàng hoá nhập khẩu Đây là kết quả tất yếu của hai giai đoạn trước đó và cũng là việc chúng ta thực hiện cam kết khi gia nhập WTO Khi thực hiện đầy đủ nội dung tinh thần Hiệp định cần chú ý tới 5 vấn đề
cơ bản sau đây:
(1) Theo dõi sát tình hình việc thực hiện xác định trị giá hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu, kịp thời xử lý các vấn đề kỹ thuật theo đúng tinh thần Hiệp định, nhưng vẫn phải đảm bảo lợi ích quốc gia Xây dựng các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Trang 40phương án phòng vệ để kịp thời đối phó với các tình huống bán phá giá hàng hóa nhằm phá hoại nền kinh tế của nước ta
(2) Thường xuyên tổng hợp kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn việc thực hiện xác định trị giá hải quan theo tinh thần Hiệp định, trong đó cần đặc biệt quan tâm đến các vấn đề kỹ thuật của từng phương pháp xác định trị giá Qua đó hướng dẫn và tuyên truyền để cộng đồng doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý Nhà nước giải đáp kịp thời mọi vướng mắc phát sinh nhằm thực hiện đúng các nguyên tắc xác định trị giá hải quan
(3) Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan, nghiên cứu và liên tục điều chỉnh quy trình xác định trị giá hải quan theo hướng chuyên nghiệp – minh bạch – hiệu quả [44] Từ đó rút ngắn được thời gian, chi phí cơ hội, và nâng cao lợi thế cạnh trang cho cộng đồng doanh nghiệp
(4) Xây dựng các biện pháp chống gian lận thương mại qua giá nhằm nâng cao hiệu quả công tác xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu, từ đó kịp thời kiểm tra, phát hiện, và ngăn ngừa gian lận thương mại
(5) Liên tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy nhằm đáp ứng các yêu cầu thực tiễn đặt ra nhằm phục vụ cho việc xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu theo đúng tinh thần Hiệp định trị giá hải quan GATT/WTO
1.2.3.2 Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy phục vụ cho công tác xác định trị giá tính thuế hàng nhập khẩu từ 2006 đến nay
Để thực hiện đầy đủ tinh thần Hiệp định Trị giá hải quan, cũng như đáp ứng yêu cầu thực tế phát sinh trong quá trình xá c định trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu, chúng ta đã liên tục sửa đổi và điều chỉnh hệ thống văn bản pháp quy ở các cấp độ: Luật – Nghị định – Thông tư Ở cấp độ Luật, biểu hiện rõ nét nhất về quyết tâm chính trị ở cấp Nhà nước là năm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn