1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 đến 2020

108 525 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 851,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, việc quy hoạch đội ngũ nhà giáo, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý trong ngành giáo dục là một nhiệm vụ cấp thiết, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, th

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

TRỊNH MINH CƯỜNG

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2011-2020

Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn Đề tài

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020, được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua, đã chỉ rõ: Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt

Những năm qua, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và cán bộ phục vụ trong các cơ sở giáo dục ngày càng đông đảo, có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, công tác phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đã bộc lộ những hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả giáo dục

Vì thế, việc quy hoạch đội ngũ nhà giáo, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý trong ngành giáo dục là một nhiệm vụ cấp thiết, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-

2020 của đất nước

Trung học phổ thông là một cấp học của hệ thống giáo dục quốc dân, là cấp học rất quan trọng góp phần vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Mục tiêu của giáo dục THPT nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học và cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

Để các nhà trường nói chung và các trường THPT nói riêng hoàn thành tốt sứ mạng của mình thì ngoài việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, công tác quy hoạch phát triển đội ngũ Cán bộ quản lý (CBQL) là yếu tố hết sức quan trọng Cán bộ quản lý trường THPT là một trong những nhân tố quyết định trong sự phát triển của các nhà trường Do đó, đội ngũ Cán bộ quản lý giáo dục phải được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị,

Trang 3

phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo, đáp ứng ngày càng cao sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trong thực tế, đội ngũ CBQL trường THPT hàng năm có sự biến động do chính sách luân chuyển cán bộ, bổ nhiệm lại theo nhiệm kỳ, hết tuổi lao động về nghỉ chế độ theo quy định của pháp luật và nhu cầu tăng thêm CBQL do số lượng trường THPT tăng Do đó, việc xem xét, bổ nhiệm lại, bổ nhiệm mới vẫn phải được tiến hành thường xuyên

Tỉnh Quảng Ninh hiện có 55 trường THPT với 160 Hiệu trưởng và phó Hiệu trưởng Đội ngũ CBQL được xây dựng ngày càng đông đảo, phần lớn có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức trong sáng và lối sống lành mạnh; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Tuy nhiên, tính chuyên nghiệp của đội ngũ CBQL chưa cao; trình độ và năng lực quản lý, điều hành còn hạn chế, đặc biệt trong việc xây dựng chương trình, mục tiêu phát triển giáo dục, chỉ đạo và tổ chức thực hiện

Muốn có đội ngũ CBQL các trường THPT tỉnh Quảng Ninh đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng thì cần phải làm tốt công tác quy hoạch đội ngũ CBQL các trường THPT Điều đó dẫn đến cần phải có hệ thống lý luận và các biện pháp phù hợp về công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Quảng Ninh Vì vậy việc nghiên cứu một cách nghiêm túc và xây dựng hệ thống lý luận về công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL giáo dục nói chung, CBQL trường THPT nói riêng để làm cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL giáo dục được đặt ra và cần phải được thực hiện Theo phân cấp hiện nay tại tỉnh Quảng Ninh, Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý trực tiếp các trường THPT, thực hiện các quy trình xem xét, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, miễn nhiệm, quy hoạch đội ngũ CBQL các trường THPT

Nếu tỉnh Quảng Ninh xây dựng được hệ thống căn cứ khoa học về công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL, đồng thời luôn có một lực lượng hùng hậu, chuyên nghiệp, kế cận có đủ phẩm chất và năng lực bổ sung cho đội ngũ CBQL các trường THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-2020

Như vậy, việc quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT của tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay, đáp ứng được yêu cầu trong thời kỳ mới, là điều kiện cần thiết và quan trọng hàng đầu của sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Quảng

Ninh nói riêng và cả nước nói chung Vì thế, tôi đã chọn nghiên cứu Đề tài: “Quy hoạch

Trang 4

phát triển đội ngũ Cán bộ quản lý Trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-2020” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở thực trạng đội ngũ CBQL trường THPT và yêu cầu phát triển hệ thống các trường THPT giai đoạn 2011-2020, đề xuất quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng chủ động tạo nguồn, đề bạt, bổ nhiệm, nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường THPT trên địa bàn tỉnh và các giải pháp thực hiện

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Đội ngũ Cán bộ quản lý Trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT trên địa bàn tỉnh QN

4 Giả thuyết khoa học

Quy hoạch đội ngũ CBQL THPT của tỉnh Quảng Ninh hiện nay thiếu về số lượng, phát triển chưa đồng bộ, chưa toàn diện Vì thế, Sở GD&ĐT Quảng Ninh còn bị động khi cần bổ nhiệm CBQL cho các trường THPT Nếu có những giải pháp cụ thể về đào tạo, bồi dưỡng CBQL, chính sách cán bộ, đổi mới trong bổ nhiệm, bổ nhiệm lại v.v thì sẽ nâng cao được chất lượng đội ngũ, đảm bảo cho đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Quảng Ninh đủ về số lượng, đồng

bộ về cơ cấu và có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong giai đoạn 2011-2020

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL

trường THPT

5.2 Nghiên cứu thực trạng đội ngũ CBQL các trường THPT trên địa bàn tỉnh

Quảng Ninh và công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT ở tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2005 - 2010

5.3 Xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Quảng Ninh

giai đoạn 2011-2020 và đề xuất các giải pháp thực hiện

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Điều tra, khảo sát thực trạng về đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Quảng Ninh trong thời gian từ năm học 2005 - 2006 đến nay

Trang 5

Cán bộ quản lý đề cập trong luận văn này là đội ngũ Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các trường THPT

Để hoàn thành Luận văn, tác giả đã trưng cầu ý kiến những khách thể sau:

- Cán bộ quản lý của 55 trường THPT toàn tỉnh Quảng Ninh gồm 160 người;

- Giáo viên của 55 trường THPT gồm 120 người;

- Lãnh đạo Sở GD&ĐT, Trưởng phòng và các Phó trưởng phòng thuộc Sở gồm 13 người;

7 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, tác giả sử dụng ba phương pháp nghiên cứu chính, cụ thể như sau:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Trong phạm vi nghiên đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá trong quá trình nghiên cứu các văn kiện của Đảng, nhà nước và của địa phương về các chính sách phát triển giáo dục, quản lý giáo dục và công tác qui hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và một số văn bản khác có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến công tác Quy hoạch phát triển đội ngũ cán

bộ nói chung và cán bộ quản lý giáo dục nói riêng

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1 Phương pháp điều tra viết:

Sử dụng phương pháp điều tra với hệ thống câu hỏi được thiết kế nhằm thu thập các ý kiến của khách thể nghiên cứu về thực trạng quy hoạch CBQL trường THPT và các giải pháp thực hiện quy hoạch

Sử dụng phương pháp điều tra với sự hỗ trợ của các công cụ thu thập thông tin gồm:

Hệ thống câu hỏi trưng cầu ý kiến, được thiết kế trước

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn:

Phỏng vấn cán bộ quản lý của Sở GD&ĐT, chuyên viên trực tiếp theo dõi vấn đề cán

bộ về chất lượng đội ngũ CBQL các trường THPT, nhu cầu và nội dung cần đào tạo, bồi dưỡng CBQL, quy mô trường lớp của cấp THPT giai đoạn 2011-2020

7.2.3 Phương pháp chuyên gia

Luận văn sử dụng phương pháp chuyên gia để xin ý kiến đánh giá của chuyên gia giáo dục, chuyên gia quản lý giáo dục về công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT

Trang 6

7.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Sử dụng phương pháp này nhằm tổng kết những bài học kinh nghiệm về công tác quy hoạch và phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Quảng Ninh trong những năm qua,

từ đó đề xuất phương hướng, biện pháp khắc phục

7.3 Phương pháp thống kê toán học

Chúng tôi sử dụng toán thống kê để thống kê số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên, học sinh và xử lý các số liệu thống kê được nhằm suy luận, đưa ra các giải pháp phục vụ cho công tác nghiên cứu

8 Những đóng góp mới của Luận văn

Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL giáo dục các trường THPT, công tác quản lý của Sở GD&ĐT, sự phối hợp trong công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL giữa Sở Nội vụ và Sở GD&ĐT

Luận văn đề xuất quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL THPT giai đoạn 2011-2020 Giúp cho các cơ quan quản lý giáo dục làm tốt hơn trong công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

9 Cấu trúc của Luận văn

Cấu trúc của luận văn gồm phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT Chương 2 Thực trạng công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Quảng Ninh từ năm 2005 đến năm 2010

Chương 3 Giải pháp thực hiện quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL THPT tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-2020

Trang 7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ

CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đối với Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Quảng Ninh, yêu cầu đặt ra là phải đảm bảo nguồn nhân lực để thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; quy hoạch phải có tầm nhìn dài hạn, bước đi thích hợp, đảm bảo tính hài hòa, cân đối nguồn nhân lực giữa các ngành, lĩnh vực, vùng, miền Việc xây dựng quy hoạch nguồn nhân lực phải ưu tiên tập trung cho các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp với hàm lượng khoa học công nghệ cao trong sản phẩm, những ngành kinh tế biển có lợi thế Đối với công nghiệp, cần quan tâm đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật có tay nghề cao phục vụ các ngành công nghiệp đóng tàu, cơ khí, chế tạo máy, công nghiệp - dịch vụ cảng biển… Về thương mại, cần quan tâm đào tạo đội ngũ nhân lực am hiểu luật pháp, nhất là luật pháp quốc tế, biết ngoại ngữ, đủ phẩm chất

và khả năng hội nhập kinh tế quốc tế

Để việc xây dựng và thực hiện quy hoạch nguồn nhân lực được tiến hành đồng bộ

và hiệu quả, các ngành, địa phương của tỉnh cần chủ động tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng và dự báo nhu cầu , sự biến động của nguồn nhân lực , nhất là sự dịch chuyển về cơ học giữa các vùng , miền, lĩnh vực , từ các khu vực ngoài tỉnh đến Quảng Ninh trong những năm tới Công tác tuyên truyền để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động hiểu rõ về vai trò của nguồn nhân lực, chính sách phát triển nguồn nhân lực cần được đẩy mạnh Cần lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân đối với dự thảo các bản quy hoạch, trong đó có quy hoạch nguồn nhân lực Đề nghị tỉnh ban hành các cơ chế khuyến khích phát triển nhân lực, nhất là về môi trường làm việc, thu nhập, bảo trợ xã hội, nhà ở, điều kiện sinh sống và đề xuất với Trung ương ban hành các cơ chế, chính sách cho các ngành, lĩnh vực, địa bàn đặc thù của tỉnh

Các tư tưởng quản lý sơ khai xuất phát từ các tư tưởng triết học cổ Hy Lạp và cổ Trung Hoa Sự đóng góp của các nhà triết học cổ Hy Lạp về quản lý tuy còn ít ỏi nhưng đáng ghi nhận: Điển hình là tư tưởng của Xô-crát (469-399 Tr.N), Platôn (427-347 Tr.CN), Arixtốt (384-322 Tr.CN) Thời Trung Hoa cổ đại đã công nhận các chức năng quản lý, đó là các chức năng: Kế hoạch hoá, tổ chức, tác động, kiểm tra Đặc biệt, các nhà tư tưởng và chính trị lớn là Khổng Tử (551-478 Tr.CN), Mạnh Tử (372-289 Tr.CN), Thương Ưởng (390-338 Tr.CN) đã nêu lên tư tưởng quản lý “Đức trị, Lễ trị” lấy chữ Tín

Trang 8

làm đầu Những tư tưởng quản lý trên vẫn có ảnh hưởng khá sâu sắc đến các nước phương Đông ngày nay

Giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là giai đoạn mang tư tưởng quản lý Chủ nghĩa Tư bản Do yêu cầu phát triển sản xuất đại công nghiệp, dưới tác động của cuộc cách mạng kỹ thuật, nhu cầu quản lý không ngừng tăng ở cả phạm vi vi mô và vĩ mô Khoa học quản lý từng bước tách ra khỏi triết học và trở thành bộ môn khoa học độc lập,

có sự tham gia đóng góp của nhiều trường phái: Thuyết quản lý khoa học; Thuyết hành chính; Trường phái tác phong (trường phái quan hệ giữa con người với con người trong quản lý); Thuyết

tổ chức trong quản lý; Thuyết hành vi

Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác- Lênin tuy không để lại những tác phẩm chuyên nghiên cứu về quản lý, nhưng qua các tác phẩm về kinh tế và chính trị- xã hội của các ông, chúng ta cũng có thể rút ra những tư tưởng về quản lý Trong Bộ Tư bản, Chủ nghĩa Mác đã coi vai trò của nhà quản lý giống như vai trò của nhạc trưởng trong dàn nhạc Ông viết: “…Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [12, tr 480]

Ở Việt Nam, Khoa học Quản lý tuy còn non trẻ, song nó đã có những thành tựu đáng kể, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý xã hội trong những điều kiện cụ thể, tương ứng với tình hình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, đề ra được những giải pháp quản lý trong lĩnh vực quản lý và phát triển giáo dục- đào tạo Việt Nam Có thể kế đến một số tác giả và công trình nghiên cứu như: tác giả Nguyễn Ngọc Quang với nghiên cứu “Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục” đã đề cập đến những khái niệm cơ bản của quản lý, quản lý giáo dục, các đối tượng của khoa học quản lý giáo dục; tác giả Đặng Bá Lãm, tác giả Phạm Thành Nghị “Chính sách và kế hoạch phát triển trong quản lý giáo dục” đã phân tích khá sâu sắc về lý thuyết và mô hình chính sách, các phương pháp lập kế hoạch giáo dục; tác giả Vũ Ngọc Hải, tác giả Trần Khánh Đức: “Hệ thống giáo dục hiện đại trong những năm đầu thế kỷ XXI”; tác giả Đặng Quốc Bảo “Những vấn đề cơ bản về quản lý giáo dục” đã trình bày những quan điểm, mục tiêu, giải pháp phát triển giáo dục và hệ thống giáo dục, làm rõ tư tưởng quản lý Sau khi Chính phủ phê duyệt “hiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010, ngày 18/12/2001, các tỉnh, thành phố đều xây dựng quy hoạch phát triển giáo dục Đào tạo của ngành, địa phương

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, mảng đề tài về quản lý giáo dục nói chung, Quy hoạch phát triển đội ngũ Cán bộ quản lý nói riêng được đặc biệt quan tâm Đã có một số

Trang 9

luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục nghiên cứu, đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL tại các trường trung học Các luận văn này chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu thực trạng về số lượng, cơ cấu và xây dựng đội ngũ CBQL trường THCS trên một địa bàn cấp huyện hoặc đã đề cập đến đối tượng CBQL trường THPT của cả tỉnh nhưng mới đi sâu vào một nội dung là quy hoạch đội ngũ Ở tỉnh Quảng Ninh chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào đề cập đến vấn đề quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT và đề xuất các giải pháp thực hiện một cách có hiệu quả và toàn diện Vì vậy, việc nghiên cứu quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Quảng Ninh là rất cần thiết

1.2 Đội ngũ CBQL giáo dục THPT và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục THPT

1.2.1 Trường trung học phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân

* Vị trí của Trường trung học phổ thông

Điều 4 Luật Giáo dục năm 2005 đã được Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14/6/2005 quy định:

1 Hệ thống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên

2 Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

a) Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;

b) Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;

c) Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;

d) Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ Thạc sĩ, trình độ Tiến sĩ

Trường Trung học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân Trường có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng Giáo dục THPT được thực hiện trong

ba năm học, từ lớp 10 đến lớp 12 Học sinh vào học lớp 10 phải có bằng tốt nghiệp THCS

và có tuổi là 15 tuổi Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định những trường hợp có thể học trước tuổi và học ở tuổi cao hơn trước quy định

* Mục tiêu của giáo dục Trung học phổ thông

Điều 27, Luật Giáo dục năm 2005 đã xác định:

Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động

và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 10

"Giáo dục Trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục Trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”

* Nhiệm vụ và quyền hạn

Điều 3 trong điều lệ trường trung học quy định: Trường Trung học có những nhiệm

vụ và quyền hạn sau đây:

1 Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác của Chương trình giáo dục phổ thông

2 Quản lý giáo viên, cán bộ, nhân viên; tham gia tuyển dụng và điều động giáo viên

3 Tuyển sinh và tiếp nhận học sinh, vận động học sinh đến trường; quản lý học sinh theo quy định của Bộ GD&ĐT

4 Thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục trong phạm vi cộng đồng

5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực cho hoạt động giáo dục Phối hợp với gia đình học sinh, tổ chức và cá nhân trong hoạt động giáo dục

6 Quản lý, sử dụng và bảo quản cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định của nhà nước

7 Tổ chức cho giáo viên, nhân viên, học sinh tham gia hoạt động xã hội

8 Tự đánh giá chất lượng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lượng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục

9 Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

1.2.2 Đội ngũ Cán bộ quản lý giáo dục THPT

* Cán bộ quản lý

Theo từ điển tiếng Việt, cán bộ quản lý là người làm công tác có chức vụ trong một

cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ

CBQL có thể là cấp trưởng hoặc cấp phó của một tổ chức được cơ quan cấp trên bổ nhiệm bằng quyết định hành chính nhà nước Cấp phó giúp việc cho cấp trưởng, chịu trách nhiệm trước cấp trưởng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về công việc được phân công CBQL được phân ra nhiều cấp bậc khác nhau: CBQL cấp Trung ương; CBQL cấp địa phương; CBQL cấp cơ sở

CBQL là lực lượng rất quan trọng trong cơ quan, đơn vị Theo ông Lê Đức Bình, nguyên Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng: “Cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý là

Trang 11

lực lượng nòng cốt trong bộ máy tổ chức" Với tầm quan trọng của người CBQL, đòi hỏi phải

có những phẩm chất và năng lực điển hình Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng người CBQL phải

có những phẩm chất sau:

- Phải độ lượng vị tha thì mới có thể đối với cán bộ một cách chí công vô tư, không thành kiến khiến cho cán bộ khỏi bị bỏ rơi;

- Phải có tinh thần rộng rãi mới có thể gần gũi với những người mình không ưa;

- Phải có tính chịu khó dạy bảo, mới có thể nâng đỡ những đồng chí còn kém, giúp cho tiến bộ;

- Phải sáng suốt mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây mà xa cách cán bộ tốt;

- Phải có thái độ vui vẻ, thân mật, các đồng chí mới vui lòng gần mình

Từ các khái niệm và yêu cầu nêu trên đối với CBQL, có thể thấy rằng CBQL là chủ thể quản lý, là người có chức vụ trong tổ chức, được cấp trên ra quyết định bổ nhiệm, là người chỉ huy, giữ vai trò lãnh đạo, dẫn dắt, tác động, ra lệnh, kiểm tra đối tượng quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu của đơn vị Người quản lý vừa là người lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị, vừa chịu sự chỉ đạo, quản lý của cấp trên

* Đội ngũ Cán bộ quản lý

Như vậy, có thể nói, đội ngũ CBQL gồm tất cả những người có chức vụ trong các tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị-xã hội của đất nước Đội ngũ CBQL cũng phân thành nhiều cấp: Đội ngũ CBQL cấp Trung ương, cấp địa phương, cấp cơ sở

Đội ngũ CBQL là lực lượng nòng cốt của hệ thống chính trị-xã hội của đất nước, trong việc lãnh đạo, quản lý xã hội, kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế…Đội ngũ CBQL luôn được Đảng và Nhà nước, địa phương quan tâm, xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng để có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực quản lý, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển

* Đội ngũ Cán bộ quản lý giáo dục

Đội ngũ CBQL giáo dục đề cập trong luận văn này là CBQL các trường THPT bao gồm Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng, là những người chịu trách nhiệm trước Đảng và Nhà nước về nhiệm vụ quản lý trường THPT nhằm thực hiện mục đích giáo dục học sinh THPT phát triển toàn diện theo định hướng, mục tiêu giáo dục trung học nằm trong sự vận hành của

hệ thống giáo dục quốc dân Để thấy rõ vai trò của đội ngũ CBQL giáo dục, nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Trần Hồng Quân đã nêu: “Hệ thống quản lý giáo dục của chúng ta như

là hệ thần kinh điều khiển toàn ngành mà từng CBQL là những tế bào của hệ thần kinh đó Nếu từng người không mạnh thì hệ thống không mạnh Đặc biệt là từng tế bào, ngoài việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ đã được sắp đặt trong hệ thống còn góp phần hoàn thiện hệ thống

Trang 12

1.2.3 Phát triển đội ngũ Cán bộ quản lý giáo dục THPT

- Phát triển đội ngũ là việc tạo ra các giá trị mới cho đội ngũ để đội ngũ đó được thay đổi, hoàn thiện theo chiều hướng tích cực Phát triển đội ngũ CBQL tức là nhằm hoàn thiện kết quả lao động tổng thể của người quản lý trong cương vị công tác hiện tại của họ và chuẩn bị cho họ đảm nhận những trách nhiệm cao hơn, nặng nề hơn và phức tạp hơn

- Phát triển đội ngũ CBQL giáo dục là một bộ phận của hệ thống phát triển nguồn nhân lực giáo dục Phát triển đội ngũ CBQL giáo dục là một khái niệm tổng hợp, nó bao gồm cả phát triển nghề nghiệp, cả đào tạo, bồi dưỡng, cả tăng tiến về số lượng và chất lượng, sử dụng

có hiệu quả đội ngũ này

- Theo giới hạn của đề tài, Quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL Trường THPT là quá trình dự báo, chuẩn bị phát triển nghề nghiệp, đào tạo, bồi dưỡng nhằm tạo ra những thay đổi

về số lượng và chất lượng của đội ngũ Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng các Trường THPT

1.3 Quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL THPT và dự báo quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL THPT

1.3.1 Quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL THPT

1.3.1.1 Khái niệm, mục đích, yêu cầu, nội dung và nguyên tắc của quy hoạch

Theo từ điển tiếng Việt do Viện nghiên cứu ngôn ngữ học xuất bản năm 1998 đưa

ra khái niệm : Quy hoạch là sự bố trí, sắp xếp toàn bộ theo một trình tự hợp lý trong từng thời gian làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dài hạn

+ Nhiệm vụ của quy hoạch là góp phần thực hiện đường lối chiến lược phát triển, tăng cường cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc ra quyết định, hoạch định các chính sách phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch, đồng thời làm nhiệm vụ điều khiển, điều chỉnh trong quá trình quản lý và chỉ đạo Quy hoạch là bước cụ thể hóa chiến lược, còn kế hoạch là bước cụ thể hóa của quy hoạch

+ Mục đích của quy hoạch

- Phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành quá trình phát triển và cung cấp những căn cứ cần thiết cho hoạt động trên địa bàn, lãnh thổ

- Trên cơ sở những căn cứ khoa học của quy hoạch giúp các cơ quan lãnh đạo, quản lý đưa ra các chủ chương kế hoạch phát triển, các giải pháp hữu hiệu để chỉ đạo, điều hành thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ

+ Yêu cầu của quy hoạch

- Quy hoạch phát triển phải đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững

Trang 13

- Quy hoạch cần phải quán triệt những quan điểm của Đảng, nhà nước và của ngành trong công tác quy hoạch

Quy hoạch là quá trình động, có trọng điểm trong từng thời kỳ, từng giai đoạn, có nghĩa là nó vừa có tính xác định, vừa có tính cơ động Vì vậy tùy vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng thời kỳ để xác định trọng tâm, trọng điểm của quy hoạch, phải

có những khâu đột phá và đề cập được nhiều phương án thiết thực Trong quá trình thực hiện phải thường xuyên cập nhật, bổ sung những tư liệu cần thiết để điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu đảm bảo tính kế thừa, liên tục và phát triển Quy hoạch phải chú ý giải quyết những mâu thuẫn và tính đến những vấn đề sẽ nảy sinh, đảm bảo sự phát triển hài hòa, bền vững của hệ thống tự nhiên, kinh tế xã hội

+ Nội dung của quy hoạch : gồm 3 phần

Phần 1 : Xác định mục đích, yêu cầu của quy hoạch

- Xác định những vấn đề cơ bản, trọng tâm cần giải quyết trong giai đoạn quy hoạch nhằm tạo một bước chuyển biến trong phát triển

- Giới hạn, phạm vi của nội dung sẽ tiến hành quy hoạch

- Ấn định thời gian quy hoạch 5 năm, 10 năm tùy theo quy mô, mức độ phát triển, vấn đề giả quyết trong giai đoạn quy hoạch và mục đích yêu cầu của quy hoạch đặt sẵn

Phần 2 : Đánh giá thực trạng trên vùng quy hoạch

- Phân tích dự báo các yếu tố và các nguồn lực tác động đến quá trình phát triển của lãnh thổ trong thời kỳ quy hoạch

- Phân tích nguồn lực nội sinh và ngoại sinh như : Vị trí địa lý và quy mô lãnh thổ vùng trong môi trường tương quan với hệ thống vùng ngang cấp và với cấp cao hơn, đặc biệt về các yếu tố có liên quan đến ự phát triển của đối tượng quy hoạch

- Phân tích đánh giá và tổng kết thực trạng của vùng quy hoạch : quy mô, sự phát triển trong giai đoạn trước (5- 10 năm trước giai đoạn quy hoạch), cơ cấu, đặc điểm phát triển và phân bố trong vùng quy hoạch

Phần 3 : Định hướng phát triển và phân bố

- Cần phải xác định quan điểm, mục tiêu phát triển và các nhiệm vụ chủ yếu

- Đưa ra các luận chứng cơ bản cho việc quy hoạch

- Các bước đi cho từng thời kỳ 5 năm, 10 năm và những nhiệm vụ cụ thể

- chia các khu vực theo chức năng sử dụng, phân phối nội dung, các trọng tâm, mạng lưới, các tuyến cực điểm

Trang 14

Sơ đồ 1.1 : Nội dung của quy hoạch phát triển

* Những nguyên tắc cơ bản của quy hoạch

Việc xây dựng quy hoạch cần phải đảm bảo những nguyên tắc sau :

- Kết hợp yêu cầu phát triển với khả năng hiện thực, giữa yêu cầu của sự bố trí trước mắt với yêu cầu phát triển ổn định, bền vững, lâu dài

- Quy hoạch phải xây dựng trên cơ sở luận chứng khoa học đảm bảo tính hoàn thiện của hệ thống, phải phù hợp với xu thế phát triển, khả nawg hiện thực

Quan điểm chỉ đạo Mục tiêu, PH Phát

Phương hướng phát triển dài hạn 5-10 năm

Phương

hướng phát triển 5 năm đầu

Nhiệm

vụ chủ yếu trong những năm trước

Hệ thống chính sách

và các giải pháp thực hiện

Tác động của các yếu tố phát triển và khu vực quốc tế

Trang 15

Quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL là một bộ phận của hệ thống phát triển nguồn nhân lực Do đó, nội dung quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL THPT sẽ tuân thủ theo nội dung của lý thuyết phát triển nguồn nhân lực

Quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT là một quá trình tạo ra sự biến đổi

về cơ cấu, về số lượng và chất lượng đội ngũ phù hợp với giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội

ở các cấp độ khác nhau, đáp ứng nhu cầu nhân lực cần thiết cho các lĩnh vực hoạt động giáo dục ở cấp THPT, đóng góp cho sự nghiệp phát triển của giáo dục và của xã hội

Trong bất kỳ một tổ chức xã hội nào đều có bộ phận lãnh đạo, quản lý và nhân lực thừa hành tác nghiệp theo từng lĩnh vực, từng công việc với chức năng, nhiệm vụ cụ thể

Để khai thác tối đa tiềm năng của đội ngũ CBQL, tạo ra lợi thế cạnh tranh đòi hỏi tập trung vào 3 khía cạnh: Sắp xếp công việc phải phù hợp với khả năng tạo ra động cơ tích cực, phải quan tâm đến văn hóa tổ chức, tạo ra môi trường dân chủ và có sự chia sẻ đồng thuận Theo lý thuyết quản lý nguồn nhân lực, Quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT bao gồm 3 nội dung chính:

Một là: quy hoạch, tuyển dụng, sắp xếp bố trí vị trí công tác

Hai là: sử dụng đội ngũ bao gồm triển khai việc thực hiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ, đánh giá, sàng lọc

Ba là: phát triển đội ngũ bao gồm việc thực hiện các chế độ chính sách đối với đội ngũ CBQL, quan tâm thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng CBQL, tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũ phát huy tiềm năng của họ, để họ có điều kiện được thăng tiến

Quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT được đặt trong nhiệm vụ quản lý đội ngũ CBQL và là một nội dung quan trọng của quản lý và phát triển đội ngũ CBQL trường THPT

Quản lý NNL

- Giáo dục và đào tạo

- Mở rộng quy mô việc làm

- Phát triển tổ chức

Trang 16

Sơ đồ 1.2 Quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực với QL nguồn nhân lực

Như vậy, Quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT là phải quan tâm để đội ngũ đủ về số lượng, vững vàng về trình độ, đảm bảo đội ngũ đa dạng, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ trong giai đoạn mới, tận tâm với nghề, xây dựng một tập thể đoàn kết, hợp tác và hữu nghị; một tập thể toàn tâm, toàn ý vì sự nghiệp chung, biết đấu tranh cho

lẽ phải, bảo vệ cái đúng, bảo vệ sự công bằng, thực hiện tốt các chính sách đãi ngộ

Đề án xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục giai đoạn 2005-2010 của Chính phủ đã khẳng định: "Xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”

* Phát triển về số lượng

Số lượng CBQL nhìn trên sự điều hành vĩ mô phải cân đối với số lượng đội ngũ giáo viên trong toàn tỉnh, trong mỗi nhà trường và đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục đặt ra

Số lượng CBQL nhìn trên sự điều hành vi mô (trong một nhà trường) được tính trên

số lớp của trường đó Như vậy, phát triển về số lượng đối với CBQL trường THPT cần phải nhìn trên tổng thể cả trên sự điều hành vĩ mô và điều hành vi mô, cần phải đảm bảo

số lượng CBQL theo quy định của Nhà nước để bộ máy của nhà trường hoạt động có hiệu quả Tuy nhiên, Nhà nước cũng cần có quy định mở, cho phép các tỉnh căn cứ vào đặc điểm địa lý, phân bố dân cư của các vùng sâu, vùng xa để có thể quyết định bổ sung cho các trường có nhiều điểm trường thêm phó Hiệu trưởng

* Chất lượng đội ngũ Cán bộ quản lý Trường trung học phổ thông

Theo khái niệm triết học, chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc Đó là hệ thống những thuộc tính cơ bản, khẳng định sự tồn tại của một người, một sự vật và phân biệt nó với người và sự vật khác Đồng thời, chất lượng là mục tiêu của hoạt động, trong đó có giáo dục; nó có yếu tố cạnh tranh trong đời sống, tạo điều kiện cho sản xuất phát triển Chất lượng thay đổi theo thời gian, lịch sử, trình độ xã

Trang 17

hội; nó có tính chất chủ quan do con người mong muốn đề ra và có tính chất khách quan

vì nó là giá trị phẩm chất do sản phẩm đề ra

Với đặc tính khách quan, chất lượng được biểu hiện ra ngoài qua các thuộc tính của

sự vật và không tách khỏi sự vật Sự thay đổi chất lượng kèm theo sự thay đổi về căn bản đối với sự vật, chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính quy định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của số lượng và chất lượng

Theo quan điểm của các nhà giáo dục Việt Nam, chất lượng là cái tạo nên phẩm chất giá trị một con người, với tư cách một nhân cách, một chủ thể có trình độ phát triển về phẩm chất, năng lực Chất lượng của mỗi CBQL thể hiện bởi trình độ, phẩm chất, năng lực của bản thân họ thông qua hoạt động quản lý Như vậy, mỗi CBQL có chất lượng của cá nhân họ như những điểm mạnh của bản thân Đồng thời chất lượng của cả đội ngũ CBQL sẽ được thể hiện qua hoạt động quản lý của mỗi cấp học

Như vậy, theo quan điểm hệ thống, việc xây dựng đội ngũ CBQL cần chú trọng đến tính đồng bộ giữa mỗi thành viên quản lý và toàn bộ đội ngũ CBQL Chất lượng đội ngũ CBQL là tiêu chí để đánh giá về đội ngũ CBQL ở một địa bàn cụ thể

* Đồng bộ về cơ cấu

Quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL đồng bộ về cơ cấu tức là cân đối về độ tuổi, giới tính, dân tộc, thâm niên quản lý, bộ môn chuyên môn, vùng miền Mục tiêu của phát triển đội ngũ CBQL đồng bộ về cơ cấu là tạo ra sự hợp lý, sự đồng bộ của đội ngũ Một

cơ cấu hợp lý sẽ tạo cho từng thành viên trong cơ cấu đó được tương tác với nhau một cách thuận lợi nhất, nhờ đó mà phát huy tiềm năng của mình, tạo ra sức mạnh chung của

bộ máy

* Sự đồng thuận của đội ngũ Cán bộ quản lý trong cùng một trường

Ngoài việc quan tâm đến số lượng, chất lượng, cơ cấu của đội ngũ CBQL, còn cần phải chú ý đến tính đồng thuận của đội ngũ CBQL nói riêng và đồng thuận trong tập thể

sư phạm nhà trường nói chung Mỗi cá nhân lại có sự khác nhau về nguyện vọng, sở trường, thể lực, địa vị xã hội, hoàn cảnh gia đình Vì vậy, khi tập hợp lại trong cùng một

tổ chức nhà trường để dung hợp, đồng thuận với nhau là việc làm cần thiết và khá khó khăn Để cho nhà trường tồn tại và phát triển cần tạo ra sự dung hợp tâm lý giữa các cá nhân với tập thể sư phạm và trong nội bộ Ban Giám hiệu, với công việc, với các đồng nghiệp Tính đồng thuận của đội ngũ CBQL trong cùng một nhà trường có ý nghĩa rất quan trọng, bởi lẽ sự đồng thuận giúp cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục trong nhà trường một cách thuận lợi, tạo nên bầu không khí phấn khởi, làm tăng tinh thần đoàn kết

Trang 18

tập thể, khơi dậy được tinh thần trách nhiệm và sự cống hiến của mỗi CB, GV, NV trong nhà trường Nội bộ Ban Giám hiệu, mỗi cán bộ, giáo viên trong tập thể sư phạm nhà trường phát huy được tình đoàn kết là cơ sở rất quan trọng để hướng tới mục tiêu xây dựng tập thể sư phạm nhà trường trở thành tập thể biết học hỏi, tạo nên sức mạnh tổng hợp để hoàn thành nhiệm vụ Phương pháp quản lý của người quản lý trong nhà trường là luôn phải chú ý tới kiểu quản lý khêu gợi được nhân tâm Một người Hiệu trưởng giỏi không phải là người có tham vọng tìm cách giỏi hơn giáo viên mà phải là người biết sử dụng các thầy cô giỏi

1.3.1.3 Những yêu cầu đối với việc quy hoạch phát triển đội ngũ Cán bộ quản lý Trường trung học phổ thông

- Công tác quy hoạch phát triển đội ngũ phải khơi dậy tiềm năng to lớn của đội ngũ, duy trì sự ổn định và chất lượng đội ngũ CBQL, đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục để mọi cấp, mọi người cùng chăm lo và phối hợp với Ngành Giáo dục, quan tâm đến công tác quy hoạch và phát triển đội ngũ CBQL ở trường THPT và toàn Ngành đạt kết quả tốt

- Quan tâm làm tốt công tác Quy hoạch sẽ tạo nguồn CBQL có đầy đủ phẩm chất và năng lực để bổ sung cho đội ngũ CBQL khi được nghỉ theo chế độ hoặc có sự luân chuyển, điều động, bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ khác

- Có kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, tin học, ngoại ngữ cho đội ngũ CBQL

- Khuyến khích quyền lợi vật chất, tinh thần thông qua các cơ chế chính sách Thông qua quyền lợi vật chất, tinh thần tác động vào đội ngũ CBQL để họ yên tâm, phấn khởi làm việc, thu hút được người có tài tham gia công tác quản lý nhà trường

Có thể nói, đội ngũ CBQL là một hệ thống mà mỗi CBQL là một phần tử trong hệ thống

đó Đội ngũ CBQL giáo dục mạnh hay yếu khi từng CBQL mạnh hay yếu và ngược lại Quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL là phải quan tâm đến sự phát triển cho từng cá nhân, cần phải hết sức chú ý trong công tác quy hoạch và sử dụng cán bộ là phải căn cứ vào công việc và yêu cầu, nhiệm vụ, vị trí công tác để sắp xếp, lựa chọn người, chứ không vì người mà sắp xếp công việc

- Trong phạm vi trường THPT, chủ thể quản lý là Hiệu trưởng, giúp việc cho Hiệu trưởng là các phó Hiệu trưởng, đối tượng quản lý là giáo viên, nhân viên và học sinh của nhà trường Chất lượng giáo dục của nhà trường tốt hay kém, cao hay thấp chủ yếu phụ thuộc vào đội ngũ CBQL giỏi hay yếu kém Một trong những điều kiện để Hiệu trưởng

Trang 19

quản lý tốt mọi hoạt động của nhà trường là phải có trình độ chuyên môn sâu, năng lực

và phẩm chất tốt

Những yêu cầu về chuẩn CBQL trường THPT được xác định cơ bản theo quy định chuẩn Hiệu trưởng trường THCS, THPT và các trường phổ thông có nhiều cấp học được

Bộ GD&ĐT ban hành kèm theo Thông tư số 29/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 của

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT bao gồm 3 tiêu chuẩn với 23 tiêu chí:

Tiêu chuẩn 1: Phẩm chất chính trị và đạo đức nghề nghiệp (có 5 tiêu chí)

Tiêu chuẩn 2: Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm (có 5 tiêu chí)

Tiêu chuẩn 3: Năng lực quản lý nhà trường (13 tiêu chí)

Người CBQL trường THPT phải là người vừa có “tâm”, vừa có “tầm”, là người được đại đa số cán bộ, giáo viên nể và phục Nể vì đạo đức, vì sự gương mẫu, vì lối sống

và cách đối nhân xử thế, vì cái tâm của họ Phục vì năng lực chuyên môn, năng lực quản

lý, cách điều hành, xử lý thông tin Phải có tầm nhìn rộng và có khả năng phân tích dự báo để có những quyết định đúng đắn trong quản lý

1.3.1.4 Những yếu tố tác động đến công tác quy hoạch phát triển đội ngũ Cán bộ quản lý Trường trung học phổ thông

Quản lý nhân lực nói chung, quản lý đội ngũ CBQL nói riêng tồn tại với tư cách là một hệ thống Theo đó, những tính quy luật về sự tồn tại, phát triển của hệ thống chi phối

hệ thống quản lý đội ngũ CBQL Một trong những tính quy luật đó là sự tác động, chi phối lẫn nhau của các yếu tố (bên trong và bên ngoài) đến sự vận hành của hệ thống quản

lý đội ngũ CBQL

Có thể kể đến một số yếu tố tác động đến sự phát triển đội ngũ CBQL nói chung, CBQL trường THPT nói riêng như sau:

* Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội

Các yếu tố về địa lý tự nhiên trước hết ảnh hưởng đến sự phân bổ dân cư, phương tiện đi lại, phương tiện sinh hoạt, ảnh hưởng tới sự tuyển dụng và bổ nhiệm cán bộ giáo viên Hầu hết mọi người đều muốn sinh sống ở những nơi có điều kiện thuận lợi Khi phải sống và làm việc ở những vùng có điều kiện khó khăn khắc nghiệt, phần lớn đều thiếu yên tâm, tìm cách thuyên chuyển về vùng thuận lợi ở các đô thị, nơi dân cư đông đúc, kinh tế-xã hội phát triển, có điều kiện để phát triển giáo dục Trong thực tế, đội ngũ CBQL ở vùng khó khăn có lúc thiếu và yếu, song nguồn để bổ sung cho đội ngũ này còn hạn chế Vì vậy, việc phát triển đội ngũ CBQL ở vùng khó khăn thường còn nhiều vướng mắc hơn so với vùng thuận lợi

Trang 20

Yếu tố về kinh tế-xã hội bao gồm dân số, cơ cấu dân số, phân bổ dân cư, tổng sản phẩm xã hội, phân phối xã hội và thu nhập của dân cư, việc làm và cơ cấu việc làm, các quan hệ về kinh tế, chính trị Các yếu tố kinh tế - xã hội tác động quan trọng đến sự phát triển của giáo dục và nguồn nhân lực của giáo dục trong đó có CBQL Quy mô phát triển giáo dục, chất lượng giáo dục được nâng cao, nhu cầu về đội ngũ giáo viên và CBQL càng cao và ngược lại Đồng thời, sự phát triển của kinh tế - xã hội còn là cơ sở

để xây dựng và thực thi các chính sách có liên quan trực tiếp đến đội ngũ CBQL

* Cơ chế quản lý chung của Ngành Giáo dục

Cơ chế là phương thức vận động hợp quy luật một hệ thống Theo quan điểm này,

cơ chế quản lý được hiểu là hệ thống các yếu tố có vai trò xác lập, vận hành và điều chỉnh quan hệ của chủ thể và đối tượng trong một hệ thống quản lý (tạo cho hệ thống quản lý vận động hợp quy luật)

Cơ chế quản lý được phân thành 2 loại: cơ chế hình thức và cơ chế phi hình thức

Cơ chế hình thức là những quy định thành văn có tác dụng xác lập, vận hành và điều

chỉnh quan hệ của chủ thể và đối tượng trong một hệ thống quản lý; cơ chế phi hình thức

là những quy định bất thành văn nhưng lại có tác dụng vận hành và điều chỉnh quan hệ của chủ thể và đối tượng trong một hệ thống quản lý Dù là cơ chế nào, chúng đều có vai trò quy định (xác lập hành lang pháp lý) và ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống quản lý Với ý nghĩa này, cơ chế quản lý chung của Ngành Giáo dục có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển đội ngũ CBQL trường THPT Mọi tác động nhằm tạo ra những thay đổi của đội ngũ này đều nằm trong giới hạn của những quy định do cơ chế quản lý chung của Ngành tạo ra

* Cơ chế quản lý riêng đối với Cán bộ quản lý Trường THPT

Là phân hệ của hệ thống quản lý đội ngũ CBQL giáo dục, ngoài việc tuân thủ cơ chế quản lý chung của ngành, hệ thống quản lý CBQL trường THPT cũng có cơ chế đặc thù Cơ chế này có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển đội ngũ CBQL trường THPT Hình thức của cơ chế này chính là các chính sách, chế độ đối với CBQL trường THPT

* Công tác dự báo và quy hoạch phát triển giáo dục THPT

Công tác dự báo và quy hoạch phát triển giáo dục THPT kiến tạo tầm nhìn về sự phát triển của giáo dục THPT trong một thời gian dài Trên cơ sở những nhận thức về quy luật vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội, của GD&ĐT; căn cứ kết quả dự báo, quy hoạch phát triển giáo dục THPT sẽ dự báo được nhu cầu đội ngũ CBQL trường THPT trong tương lai Đây là công cụ giúp cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ CBQL

có cơ sở khoa học và đảm bảo tính thực tiễn, sẽ chủ động được đội ngũ kế cận, bổ sung

Trang 21

* Các yếu tố Giáo dục và Đào tạo Quốc tế

Các yếu tố Giáo dục và Đào tạo quốc tế gồm xu thế phát triển giáo dục - đào tạo, sự phân cấp quản lý trong giáo dục của các nước trên thế giới và trong khu vực có tác động đến việc phát triển đội ngũ CBQL của nước ta

Quan hệ quốc tế trong GD&ĐT là phương thức khai thác kinh nghiệm, tận dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ, quy trình và phương pháp GD&ĐT, cách đi và các bước phát triển đột phá trong GD&ĐT của các nước Quan hệ quốc tế trong GD&ĐT còn tranh thủ được nguồn viện trợ và cho vay của các nước, các tổ chức quốc tế đầu tư cho GD&ĐT trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng CBQL trường học Phát triển đội ngũ CBQL trường THPT cũng có sự tác động của yếu tố GD&ĐT quốc tế

1.3.2 Dự báo quy hoạch phát triển CBQL THPT

1.3.2.1 Khái niệm về dự báo

+ Dự báo: Là những kiến giải có căn cứ khoa học về các trạng thái khả dĩ của đối tượng nguồn lực dự báo trong tương lai và con đường khác nhau để đạt tới Xét về tính chất thì dự báo chính là khả năng nhìn thấy trước được tương lai với mức độ tin cậy nhất định và trù tính được các điều kiện khách quan để thực hiện nó Dự báo là cơ sở, nền tảng cho việc xây dựng kế hoạch, quy hoạch, chiến lược Dự báo phải xây dựng được các phương án, các mục tiêu, xu hướng phát triển, từ đó xây dựng quy hoạch và chương trình hành động Ngược lại, quá trình thực hiện quy hoạch phải luôn luôn xem xét sự cân đối giữa mục tiêu và nguồn lực, sự đồng bộ giữa các hành động khác nhau trong phạm vi không gian, thời gian nhất định Nếu gặp những tác động có tính chất bất thường thì cần thiết phải điều chỉnh dự báo

Trong mối quan hệ giữa quy hoạch với đường lối, chiến lược, kế hoạch và dự báo thì chiến lược là nền tảng để xây dựng quy hoạch, còn quy hoạch là sự cụ thể hóa chiến lược Kế hoạch là sự cụ thể hóa của quy hoạch, còn dự báo là khả năng nhìn trước được tương lai, là công cụ giúp cho việc xây dựng quy hoạch có cơ sở khoa học và đảm bảo tính thực tiễn

Như vậy dự báo chính là sự phản ánh hiện thực dựa trên cơ sở nhận thức những quy luật vận động của tự nhiên, xã hội và tư duy Dự báo đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đề xuất, hoạch định chiến lược, quy hoạch tổng thể của ngành và của đât nước

1.3.2.2 Các phương pháp dự báo

Phương pháp dự báo là tập hợp cách thức, thao tác, thủ pháp, tư duy cho phép trên

cơ sở phân tích các dữ liệu quá khứ và hiện tại, các mối quan hệ bên trong và bên ngoài

Trang 22

của đối tượng dự báo để đi đến những phán đoán có độ tin cậy nhất định về trạng thái tương lai của đối tượng dự báo

Có nhiều phương pháp dự báo và cách phân loại khác nhau Theo cách thức thu thập thông tin, các phương pháp dự báo được chia thành 2 nhóm:

Phương pháp hình thức hóa (dưới dạng mô hình) và các phương pháp phi hình thức (các phương pháp trực quan) như:

- Phương pháp sơ đồ luồng;

- Phương pháp ngoại suy xu thế;

- Phương pháp chuyên gia

Phân loại các phương pháp dự báo Các phương pháp trực quan

(phương pháp phi hình thức) Các phương pháp hình thức hóa (các phương pháp mô hình hóa)

Các phương pháp

đánh giá cá nhân

chuyên gia

Các phương pháp đánh giá tập thể chuyên gia

Các phương pháp ngoại suy

kịch bản

Phương pháp DELPHI Phân tích Phương pháp

tuệ tư tưởng

Phương pháp phân tích hình thái

Phương pháp tương quan hồi quy

Phương pháp

mô phỏng

* Phương pháp sơ đồ luồng

Là phương pháp thong dụng trong việc dự báo quy mô học sinh, quy mô trường lớp Phương pháp này đòi hỏi khi tiến hành dự báo quy mô học sinh theo chuyển bậc học

có 3 chỉ số quan trọng là:

- Dân số trong độ tuổi nhập học trong thời kỳ dự báo

- Tỷ lệ nhập học tương lai

- Tỷ lệ lên lớp, lưu ban, chuyển cấp trong tương lai

* Phương pháp ngoại suy xu thế

Là phương pháp dự báo mà nội dung của nó dựa vào số liệu quan sát được trong quá khứ của đối tượng dự báo để thiết lập mối quan hệ giữa đại lượng đặc trưng cho đối tượng dự báo và đại lượng thời gian

Mối quan hệ này được đặc trưng bởi hàm xu thế: Y = f(t)

Trang 23

Trong đó Y là đại lượng đặc trưng cho đối tượng dự báo

T là đại lượng đặc trưng cho thời gian

+ Các bước của phương pháp ngoại suy xu thế là:

- Thu thập, phân tích các số liệu ban đầu trong một khoảng thời gian nhất định

- Định hàm xu thế dựa trên quy luật phân bố của các đại lượng đối tượng dự báo trong khoảng thời gian quan sát

- Tính toán các thông số của hàm xu thế và tính giá trị ngoại suy

Trường hợp Y = f(t) là hàm phi tuyến tính đối với tham số t thì người ta thường tìm cách tuyến tính hóa

Phương pháp ngoại suy xu thế thường áp dụng cho các đối tượng có quá trình phát triển tương đối ổn định Thời gian phải là đại lượng đồng nhất (hang năm, 3 năm, 5 năm)

* Phương pháp chuyên gia

Là phương pháp đánh giá qua ý kiến chuyên gia (tìm sự phù hợp qua các ý kiến) về các phương hướng, triển vọng của đối tượng dự báo

Phương pháp này thường sử dụng khi đối tượng dự báo có tầm bao quát nhất định, phụ thuộc nhiều yếu tố còn chưa có hoặc thiếu những cơ sở lý luận chắc chắn để xác định hoặc trong điều kiện thiếu các thong tin thống kê đầy đủ và đáng tin cậy Đôi khi phương pháp chuyên gia được dung kết hợp với các phương pháp khác để tăng độ tin cậy

Quá trình áp dụng phương pháp chuyên gia chia thành 3 giai đoạn:

- Lựa chọn chuyên gia

- Trưng cầu ý kiến chuyên gia

- Thu thập, xử lý ý kiến chuyên gia

* Phương pháp dựa vào các chỉ số phát triển trong chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương thời kỳ quy hoạch

Cơ sở khoa học của phương pháp này là các chỉ số dự báo được tính toán trên cơ sở thực tế, có thể xem xét đến các điều kiện đảm bảo cho sự phát triển Phương pháp này thường cho kết quả tương đối phù hợp bởi nó được đảm bảo bằng các chỉ thị, nghị quyết, chương trình mục tiêu và hệ thống kế hoạch thực hiện Nhưng phương pháp này cũng đòi hỏi phải tính toán chính xác các chỉ số dự báo, vừa đảm bảo đúng thực tế, tính khả thi vừa là mục tiêu để quyết tâm phấn đấu

CBQL trường THPT là cán bộ chủ chốt tại các trường THPT bao gồm Hiệu trưởng

và các phó Hiệu trưởng Đó là những người có trách nhiệm chính trong việc triển khai, tổ chức thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước

Trang 24

và cấp trên tại đơn vị mình, họ giữ vai trò quyết định trong việc đề ra Nghị quyết, Kế hoạch, Chương trình hành động và tổ chức thực hiện trong phạm vi đơn vị, chịu trách nhiệm pháp lý ở đơn vị và với đơn vị chủ quản cấp trên, trước Nhà nước

Điều 18, Điều lệ trường Trung học quy định về Hiệu trưởng và các phó Hiệu trưởng

như sau:

“1 Mỗi trường trung học có Hiệu trưởng và một số phó Hiệu trưởng Nhiệm kỳ của Hiệu trưởng là 5 năm, thời gian đảm nhận chức vụ Hiệu trưởng không quá 2 nhiệm kỳ ở một trường trung học

2 Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng phải có các tiêu chuẩn sau:

a) Về trình độ đào tạo và thời gian công tác: phải đạt trình độ chuẩn đào tạo của nhà giáo theo quy định của Luật Giáo dục đối với cấp học, đạt trình độ chuẩn ở cấp học cao nhất đối với trường phổ thông có nhiều cấp học và đã dạy học ít nhất 5 năm (hoặc 3 năm đối với miền núi, hải đảo, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng

có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn) ở cấp học đó;

b) Đạt tiêu chuẩn phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và chuyên môn, nghiệp vụ; có năng lực quản lý, đã được bồi dưỡng lý luận, nghiệp vụ và quản lý giáo dục; có đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp; được tập thể giáo viên, nhân viên tín nhiệm

3 Theo đề nghị của Trưởng phòng GD&ĐT (khi nhà trường chưa có Hội đồng trường) và của Trưởng phòng GD&ĐT trên cơ sở giới thiệu của Hội đồng trường (khi nhà trường đã có Hội đồng trường), Chủ tịch UBND cấp huyện hoặc người được uỷ quyền ra quyết định bổ nhiệm Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng trường trung học công lập

có cấp học cao nhất là THCS và ra quyết định công nhận Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng trường trung học tư thục có cấp học cao nhất là THCS

4 Theo đề nghị của Giám đốc Sở GD&ĐT (khi nhà trường chưa có Hội đồng trường) và của Giám đốc sở GD&ĐT trên cơ sở giới thiệu của Hội đồng trường (khi nhà trường đã có Hội đồng trường), Chủ tịch UBND cấp tỉnh hoặc người được uỷ quyền ra quyết định bổ nhiệm Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng các trường trung học công lập có cấp THPT và ra quyết định công nhận Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng trường trung học tư thục

Trang 25

Dự báo giáo dục là một trong những vấn đề quan trọng của công tác quản lý giáo dục Không có dự báo thì không có phương hướng cho công tác quản lý Quản lý mà không có kế hoạch thì chỉ là hoạt động tùy tiện, không hệ thống sẽ không có hiệu quả và dễ sai lầm trong việc xây dựng quy hoạch Dự báo là xác định trạng thái tương lai với một xác xuất nào đó Giáo dục Đào tạo chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố và Giáo dục Đào tạo có đặc trưng của xác xuất

Dự báo có ý nghĩa định hướng làm cơ sở khoa học cho việc xác định các phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu của ngành Dự báo Giáo dục Đào tạo gồm một số dự báo sau:

- Về những điều kiện phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, trong đó giáo dục quốc dân sẽ vận hành và phát triển thuận lợi

- Về những yêu cầu mới của xã hội đối với người lao động, đối với trình độ phát triển nhân cách toàn diện của con người

- Những biến đổi trong tính chất, mục tiêu và cấu trúc của hệ thống giáo dục do tác động của sự phát triển xã hội

- Những biến đổi về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất trường học, trang thiết bị kỹ thuật dạy học và tổ chức quản lý hệ thống giáo dục đào tạo

Dự báo phát triển CBQL THPT là xác định trạng thái tương lai của nguồn cán bộ quản lý giáo dục THPT, căn cứ vào xu thế phát triển của xã hội

Tiểu kết chương 1

Quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT là vấn đề cần thiết đối với công tác GD&ĐT cả nước nói chung và tại tỉnh Quảng Ninh nói riêng Thực tế hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh công tác quy hoạch cán bộ quản lý còn nhiều hạn chế, bất cập Chương 1 của Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT như: quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL, những yêu cầu về công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT; các yếu tố tác động đến công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL, Công tác dự báo

Quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT là một bộ phận của phát triển GD&ĐT, là một nội dung trong việc xây dựng chiến lược GD&ĐT trong giai đoạn mới Những vấn đề lý luận nên trên là cơ sở cho việc điều tra, khảo sát, phân tích thực trạng phát triển GD&ĐT nói chung và công tác quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT nói riêng ở tỉnh Quảng Ninh, đề xuất được những giải pháp có tính cấp thiết, phù hợp, khả thi trong việc quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL trường THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

Trang 26

Chương 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ

CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH QUẢNG NINH

2.1 Công tác phát triển giáo dục THPT tỉnh Quảng Ninh

2.1.1 Tình hình phát triển kinh tế- xã hội tỉnh Quảng Ninh

Quảng Ninh là tỉnh nằm trong tam giác phát triển kinh tế trọng điểm phía bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh nên có vị trí đầu mối quan trọng, thúc đẩy kinh tế cho các tỉnh Bắc

Bộ Trong 5 năm trở lại đây, các ngành kinh tế của tỉnh đều đã có những bước phát triển vững chắc, GDP bình quân đạt 12,5%/năm Năm 2009, mặc dù chịu ảnh hưởng suy giảm kinh tế, tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh vẫn đạt 10,3%, là tỉnh có tốc độ tăng trưởng hàng đầu toàn quốc Thu nhập bình quân đầu người đạt 1273 USD/ năm Các ngành kinh tế trọng điểm (công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, cảng biển ) có sự phát triển nhanh, quy mô được mở rộng, hiệu quả được nâng lên Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, tỷ trọng khu vực nông nghiệp giảm dần, khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tăng nhanh và giữ vai trò chủ đạo Sự nghiệp CNH, HĐH từng bước được đẩy mạnh, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; công tác giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao được củng cố, xây dựng Năng lực và hiệu quả giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ được nâng cao, nhân tố con người được phát huy và được coi trọng

Quảng Ninh là một tỉnh miền núi, biên giới và hải đảo với diện tích là 6.072 km2

, địa giới trải rộng, ngoài phần đất liền dài 168 km còn có bờ biển dài 250 km với trên 2.000 đảo lớn nhỏ Quảng Ninh có biên giới quốc gia trên đất liền và trên biển giáp giới nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, phía bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, phía tây giáp tỉnh Bắc

Trang 27

Giang, phía nam giáp tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng Tỉnh có nhiều danh lam, thắng cảnh nổi tiếng trong nước và thế giới, nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú

Địa mạo Quảng Ninh rất đa dạng, trong đó 2/3 là diện tích đồi núi, rừng và đất

rừng, dải đồng bằng nhỏ hẹp, tỉnh có vùng biển rộng nhất trong phần Vịnh Bắc Bộ Tính

đa dạng và đặc biệt của địa hình, địa mạo là điều kiện cho phát triển một nền kinh tế nhiều ngành, đa dạng của tỉnh

Quảng Ninh có 14 đơn vị hành chính (4 thành phố, 1 thị xã, và 9 huyện miền núi hải đảo) với 186 xã, phường, thị trấn; tổng dân số toàn tỉnh là 1.147.390 nguời, 50.03% dân

số sống ở thành thị, tổng số hộ dân là 302.835 hộ

Trong những năm đổi mới, thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở của Đảng, tỉnh

đã chủ động hợp tác trên nhiều lĩnh vực với các địa phương, doanh nghiệp của nước láng giềng Trung Quốc, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế của tỉnh phát triển trên tất cả các lĩnh vực: công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ

Từ đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội nói trên, công tác Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có nhiều đặc điểm mang tính đặc thù, có sự chênh lệch nhu cầu phát triển GD&ĐT giữa các vùng miền Ở các vùng đô thị, đồng bằng do kinh tế phát triển nên nhu cầu học tập cao, đòi hỏi GD&ĐT phải đáp ứng và đón đầu trước những yêu cầu về nhân lực; trong khi đó, khu vực miền núi, hải đảo dân trí còn thấp, rất khó khăn trong việc phát triển GD&ĐT

Sự phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Ninh cũng tạo điều kiện thực hiện công tác XHH giáo dục, mở rộng quy mô và tăng thêm điều kiện vật chất cho GD&ĐT Đứng trước yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đổi mới, của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, của mục tiêu Quảng Ninh đến năm 2015 cơ bản là tỉnh công nghiệp; GD&ĐT Quảng Ninh phải phát triển, đáp ứng kịp tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, tạo ra thị trường lao động kỹ thuật mới

2.1.2 Thực trạng phát triển giáo dục THPT tỉnh Quảng Ninh

2.1.2.1 Quy mô học sinh

Quy mô học sinh THPT tỉnh Quảng Ninh có sự biến động theo từng năm học, được thể hiện qua các số liệu sau:

Bảng 2.1: Quy mô học sinh Trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh

Trang 28

Năm học 2009-2010, toàn tỉnh Quảng Ninh có 53 trường THPT được phân bổ cụ thể

theo các vùng, miền thuộc 14 đơn vị hành chính của tỉnh Những năm trước đây, số học

sinh của một lớp học quá đông, vượt mức quy định của Bộ GD&ĐT, hiện nay số trường tăng lên, sĩ số của các lớp học đang dần từng bước về đúng định mức theo chuẩn quy định

2.1.2.2 Đội ngũ giáo viên

Cấp THPT hiện có 2248 cán bộ, giáo viên, trong đó hệ công lập là 1605 người (71,4%), ngoài công lập là 643 người (28,6%).Cán bộ, giáo viên trong biên chế là 1605 người, trong đó có 98,98% giáo viên đạt chuẩn trở lên về chuyên môn; 1,02% giáo viên chưa đạt chuẩn (23 người là giáo viên giáo dục thể chất trình độ đào tạo cao đẳng)

2.1.2.3 Đội ngũ Cán bộ quản lý

Ở các trường THPT: năm học 2008-2009 có 52 trường trong đó có 35 trường công lập, 17 trường dân lập và tư thục Đến năm 2009-2010 có 53 trường trong đó có 35 trường công lập và 18 trường dân lập, tư thục

Số CBQL là 146 người, trong đó Hiệu trưởng 53 người (đủ), phó Hiệu trưởng 93 người Theo quy định về hạng trường hiện nay còn thiếu 4 phó Hiệu trưởng ở 4 trường tư thục (do chưa tìm được người có đủ tiêu chuẩn theo quy định)

100% CBQL được đào tạo chuẩn và trên chuẩn về trình độ chuyên môn Có 134 người, đạt 91,8% CBQL nhà trường được bồi dưỡng quản lý ngành và 9,6% được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước (14 người) Số chưa được bồi dưỡng quản lý ngành chủ yếu tập trung ở số phó Hiệu trưởng mới được để bạt và phó Hiệu trưởng các trường dân lập, tư thục

Bảng 2.2: Trình độ chuyên môn của CBQL, Giáo viên trường THPT

Trang 29

CBQL, giáo viên các trường THPT có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên là

105 người đạt tỷ lệ 5,2% (đối tượng là Thạc sĩ, Đại học, Giáo viên giáo dục công dân, những người có trình độ cao cấp, trung cấp lý luận chính trị); trình độ sơ cấp lý luận chính trị 94,8% Hiện tại CBQL các trường THPT chỉ còn thiếu ít Tuy nhiên, với tốc độ phát triển và chuẩn hóa của cấp học này, cần phải quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn dự bị trong đó quan tâm cả công tác lựa chọn, đào tạo bồi dưỡng theo tiêu chuẩn CBQL, bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo và điều hành các hoạt động của nhà trường, sự năng động, bắt nhập với xu hướng hội nhập quốc tế

2.1.2.4 Chất lượng Giáo dục và Đào tạo

Chất lượng hai mặt giáo dục: hạnh kiểm và học lực có nhiều tiến bộ Tỷ lệ học sinh có hạnh kiểm tốt; học lực khá, giỏi ngày càng tăng Tỷ lệ học sinh có hạnh kiểm trung bình, yếu; học lực yếu, kém năm sau giảm hơn so với năm trước Cụ thể:

+ Năm học 2009 - 2010: Giỏi 2.354 học sinh = 5,26%; khá 15.646 học sinh = 34,94%; trung bình 24.068 học sinh = 53,75%; yếu 2.663 học sinh = 5,95%; kém 44 học sinh = 0,1 %

Mặc dù trong 3 năm qua, Bộ GD&ĐT triển khai cuộc vận động “hai không”, việc thi

cử và đánh giá chặt chẽ hơn nhưng học sinh xét hoàn thành cấp tiểu học và tốt nghiệp THCS, thi đỗ tốt nghiệp THPT những năm gần đây đều đạt trên 90% Số học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng ngày càng tăng: năm 2009 đã có trên 7000 học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, tăng 1500 học sinh so với năm 2005

Trang 30

Học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia hàng năm được giữ vững, chất lượng giải nâng lên (năm học 2009-2010, Quảng Ninh đã có tổng số 1.614 em đạt giải học sinh giỏi cấp tỉnh, 46 giải quốc gia các bộ môn văn hóa và 15 giải quốc gia kỳ thi giải toán bằng máy tính cầm tay) Chất lượng đạo đức học sinh có nhiều tiến bộ, bệnh thành tích và hiện tượng tiêu cực trong thi cử, tệ nạn xã hội trong các nhà trường có chiều hướng giảm rõ rệt

Các giải thể thao, văn hóa, văn nghệ luôn đạt kết quả cao Tham gia Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc, đoàn học sinh Quảng Ninh luôn giữ được ở thứ hạng cao, nằm trong top

15 tỉnh đứng đầu

2.1.2.5 Cơ sở vật chất, thiết bị và tài chính

Các trường THPT có 1048 phòng học, tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 89,60% với 939 phòng, có 63 phòng học bộ môn, 78 phòng học chức năng; 03 nhà tập đa năng, 67 phòng quản trị hành chính, 120 phòng ở giáo viên Năm học 2009-2010 còn 22 phòng học tạm Theo kế hoạch đã được phê duyệt của UBND tỉnh Quảng Ninh, năm học 2010-2011 sẽ xóa được hết các phòng học tạm

Tỷ lệ chi ngân sách thường xuyên của cấp THPT đạt gần 20%, cơ bản đáp ứng việc chi lương và hoạt động chuyên môn của các nhà trường

Trang thiết bị cho việc dạy và học nhìn chung đã cơ bản đáp ứng yêu cầu, song chưa được đồng bộ và chưa cân đối với các trường và các vùng miền 100% các trường được nối mạng internet băng thông rộng; 53/53 trường có phòng máy vi tính với một số máy đủ phục vụ cho 100% học sinh thực hành môn tin, có 419 máy chiếu phục vụ hiệu quả các giờ dạy và hoạt động chuyên môn

2.1.2.6 Công tác xã hội hóa giáo dục

Công tác xã hội hóa giáo dục đã có chuyển biến tích cực, đem lại hiệu quả rõ rệt, tạo sự cạnh tranh lành mạnh, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần thúc đẩy cho việc phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục Mạng lưới trường THPT ngoài công lập đã phát triển rộng khắp các địa phương trong tỉnh (hiện nay đã có 18 trường THPT hoặc THPT liên cấp ngoài công lập), một số khu trung tâm đô thị có số lượng trường ngoài công lập gần tương đương với số lượng trường công lập, do vậy đã giải quyết được nhu cầu học tập của con em trong tỉnh Các trường THPT ngoài công lập tuy còn khó khăn về chất lượng học sinh đầu vào nhưng đã từng bước vươn lên để khẳng định mô hình phát triển của mình ở địa phương Một số trường đã có chất lượng giáo dục ngang tầm với các trường công lập (như trường Văn Lang- thành phố Hạ Long, trường Lương Thế Vinh- thị xã Cẩm Phả) Do đó cần phải quan tâm đến đội ngũ CBQL các trường THPT ngoài công lập

Trang 31

Đánh giá chung về phát triển Giáo dục Trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh

Có thể nói chất lượng giáo dục đại trà, giáo dục mũi nhọn ngày càng được nâng cao Trong những năm gần đây, giáo dục và đào tạo Quảng Ninh luôn đứng đầu 15 tỉnh miền núi phía Bắc và Trung du

Các trường THPT công lập luôn giữ được vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục của tỉnh Các trường THPT ngoài công lập tuy còn khó khăn về chất lượng học sinh đầu vào nhưng đã từng bước vươn lên khắc phục, đầu tư nguồn lực để đạt chất lượng giáo dục ngang tầm với các trường công lập Các trường THPT chuyên biệt bao gồm trường chuyên

Hạ Long và trường PTDTNT đã làm tốt chức năng, nhiệm vụ được giao là đào tạo học sinh mũi nhọn và học sinh là người dân tộc thiểu số trong tỉnh Đội ngũ nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục được chăm lo và đầu tư phát triển, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục

và đào tạo Điều đó thể hiện ở một số khía cạnh như sau:

- Đội ngũ nhà giáo yêu nghề, có lập trường chính trị, tư tưởng vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt Một số giáo viên đã đạt được danh hiệu Nhà giáo Ưu tú; giáo viên dạy giỏi các cấp, chiến sĩ thi đua cấp tỉnh, cấp ngành

- Số lượng Cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên tương đối đủ ở cấp THPT, đảm bảo yêu cầu của nhiệm vụ giáo dục Đặc biệt, trong những năm qua, ngành Giáo dục đã có cố gắng trong việc tổ chức, điều động giáo viên tăng cường, khắc phục tình trạng thừa, thiếu cục bộ cho các trường vùng miền núi, hải đảo, vùng khó khăn của tỉnh

- Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ Cán bộ quản lý, giáo viên được triển khai có hiệu quả, đi vào nền nếp, từng bước đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp Đội ngũ Cán bộ quản lý và giáo viên đã dần được trang bị kiến thức về

lý luận chính trị và các kiến thức bổ trợ khác

Mạng lưới trường, lớp được tăng cường; cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục tiếp tục được đầu tư, theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa; tỷ lệ kiên cố hóa trường lớp và xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia tăng nhanh, tính đến năm 2010, số phòng học được kiên cố hóa đạt 89,60%

Công tác xã hội hóa giáo dục, đa dạng hóa các loại hình trường lớp được triển khai có hiệu quả, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội, địa lý của địa phương

Tuy nhiên, công tác phát triển giáo dục THPT tỉnh Quảng Ninh vẫn còn một số hạn chế, yếu kém:

- Trường THPT chuyên Hạ Long: Với yêu cầu đào tạo nhân tài cho tỉnh nhưng chất lượng giáo dục của trường chưa tương xứng với điều kiện kinh tế- xã hội của tỉnh Việc thu

Trang 32

hút sinh viên giỏi, giáo viên có trình độ cao về công tác tại trường chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nhà trường Mặt khác, số giáo viên có khả năng và kinh nghiệm để bồi dưỡng học sinh giỏi đội tuyển quốc gia và quốc tế còn ít, cần phải được bồi dưỡng nâng cao trình độ và tuyển mới bổ sung

- Các trường PTDT nội trú: một số môn học còn thiếu lực lượng giáo viên vững vàng

về chuyên môn để làm nòng cốt Còn tình trạng giáo viên phải dạy vượt số giờ định mức, không có thời gian tự học, tự rèn luyện, ít sinh hoạt chuyên môn

- THPT công lập: Chất lượng giáo dục có sự chênh lệch khá lớn giữa các trường trong tỉnh Một bộ phận giáo viên của số trường vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn chưa đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm; số giáo viên có khả năng ôn luyện học sinh giỏi hoặc ôn thi đại học chưa có

- Các trường THPT ngoài công lập: một số trường còn thiếu Cán bộ quản lý, giáo viên phần lớn còn trẻ chưa được bồi dưỡng nhiều về chuyên môn, còn hạn chế về kinh nghiệm thực tế, chưa tâm huyết gắn bó lâu dài với nhà trường Mặt khác, giáo viên cơ hữu luôn biến động, chưa bố trí đủ theo định mức, một số bộ môn phải hợp đồng thỉnh giảng đối với giáo viên ở các trường công lập, vì thế kế hoạch giảng dạy trong nhà trường chưa chủ động, ảnh hưởng đến việc dạy và học, tạo ra khoảng cách chênh lệch nhất định trong cùng khu vực về chất lượng giáo dục giữa các trường ngoài công lập với các trường công lập

- Quản lý hệ thống giáo dục còn nhiều bất cập làm ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng giáo dục Việc phân cấp quản lý giáo dục ở một số địa phương chưa được hợp lý

và chưa đồng bộ; cơ chế quản lý tài chính vẫn còn bất cập

- Việc đầu tư cho phát triển giáo dục THPT tuy đã được quan tâm nhưng vẫn gặp khó khăn nhất định, tiến độ xây dựng trường chuẩn quốc gia còn chậm ở cấp THPT ( tỷ lệ chung của các cấp học đạt 45% nhưng cấp THPT mới có 11 trường đạt chuẩn Quốc gia = 20,8%)

- Công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy và giảng dạy bộ môn tin học đã có bước đột phá nhưng hiện nay còn đang gặp khó khăn khi thực hiện ở các trường vùng sâu, vùng xa, vùng chưa có điện lưới

- Tình trạng thừa thiếu giáo viên cục bộ ở các vùng miền vẫn còn tồn tại Phương pháp

và năng lực của một bộ phận giáo viên chưa theo kịp yêu cầu đổi mới của giáo dục

- Tỷ lệ cán bộ, giáo viên được đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, quản lý nhà nước, tin học còn thấp, do đó việc cập nhật thông tin, nắm bắt tình hình chính trị xã hội còn chậm và hạn hẹp

2.2 Thực trạng đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Quảng Ninh

Trang 33

2.2.1 Số lượng CBQL Trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh

Tính đến năm 2010, tỉnh Quảng Ninh có 53 trường THPT với 146 CBQL trong đó

có 17 trường hạng I, 23 trường hạng II, 13 trường hạng III

Theo Thông tư liên tịch số 35/2006/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 23/8/2006 của Bộ GD&ĐT-Bộ Nội vụ hướng dẫn định mức biên chế viên chức ở các cơ sở giáo dục công lập thì biên chế CBQL: Mỗi trường có một Hiệu trưởng và một số phó Hiệu trưởng đươc quy định cụ thể như sau: Trường hạng I có không quá 3 phó Hiệu trưởng; Trường hạng II có không quá 2 phó Hiệu trưởng; Trường hạng III có 1 phó Hiệu trưởng

Như vậy, hiện nay số Hiệu trưởng là đủ, số phó Hiệu trưởng còn thiếu 04 người theo chuẩn, đồng thời nếu thực hiện đồng bộ tất cả các trường hạng I đều bố trí 3 phó Hiệu trưởng thì cần phải bổ nhiệm tổng số là 14 phó Hiệu trưởng

2.2.2 Cơ cấu đội ngũ Cán bộ quản lý Trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh

* Cơ cấu về độ tuổi

Bảng 2.4: Cơ cấu về độ tuổi CBQL Trường THPT năm học 2009-2010

Chức danh Tổng

số

Từ 30 đến dưới 40 tuổi

Từ 40 đến dưới 50 tuổi

Từ 50 đến dưới 55 tuổi

Từ 55 tuổi trở lên

độ tuổi từ 55 trở lên còn 14.4%, sẽ phải nghỉ chế độ trong một vài năm tới, do đó cần phải chuẩn bị dự nguồn thay thế

Độ tuổi từ 50 tuổi trở lên có ưu điểm là tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong chuyên môn và trong công tác quản lý nhưng nhược điểm cơ bản là sự năng động, dám nghĩ, dám làm, tiếp cận và vận dụng các thành tựu khoa học hiện đại hiệu quả thấp, không mạnh dạn đổi mới để theo kịp xu thế phát triển của thời đại

Trang 34

* Cơ cấu về giới tính:

Bảng 2.3: Cơ cấu đội ngũ CBQL Trường trung học phổ thông (theo giới tính)

Nhìn vào kết quả thống kê, đội ngũ Hiệu trưởng và phó Hiệu trưởng là nữ chiếm tỷ

lệ thấp, chưa phù hợp với tỷ lệ nữ giáo viên trong các trường THPT (giáo viên trung học phổ thông nữ chiếm 60,9%) Trong 5 năm qua, tỷ lệ này hàng năm đều có tăng nhưng số tăng còn ít Vì vậy trong quy hoạch đội ngũ CBQL cần chú ý quan tâm đến đội ngũ cán

bộ nữ, thực hiện tốt chủ trương vì sự tiến bộ của phụ nữ của Đảng và Nhà nước

2.2.3 Chất lượng đội ngũ Cán bộ quản lý Trường trung học phổ thông

Để đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ CBQL trường THPT, chúng ta đánh giá

về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp; trình độ chuyên môn và trình độ quản lý; trình độ lý luận chính trị; năng lực lãnh đạo quản lý của họ

2.2.3.1 Phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp

Để đánh giá đúng thực trạng về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ CBQL các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, chúng tôi đã tiến hành các công việc sau:

Thứ nhất: Trưng cầu ý kiến

- Thu thập số liệu, các kết luận thanh tra, kiểm tra các trường của Sở GD&ĐT

- Xây dựng các nội dung, tiêu chí để trưng cầu ý kiến

- Phỏng vấn, đối thoại với Lãnh đạo Sở GD&ĐT, Lãnh đạo Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Giáo dục Trung học, Thanh tra Sở giáo dục và đào tạo

- Xây dựng các Phiếu trưng cầu ý kiến và tiến hành trưng cầu ý kiến các đối tượng cần nghiên cứu theo các đối tượng sau: Cán bộ quản lý Sở GD&ĐT 10 người; CBQL các

Trang 35

trường THPT gồm Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng 106 người; Giáo viên giảng dạy tại các trường THPT 104 người Tổng số phiếu trưng cầu ý kiến 220 người

Thứ hai: Tổng hợp kết quả khảo sát (Bảng 2.4)

Qua kết quả trưng cầu ý kiến cho 14 tiêu chí về phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức của đội ngũ CBQL trường THPT tỉnh Quảng Ninh, tác giả có nhận xét như sau:

Về mức độ cần thiết, cả 3 nhóm đối tượng đều đánh giá mức độ cần thiết ở mức cao Đối với mức độ đáp ứng yêu cầu:

Trang 36

Bảng 2.4: Ý kiến của cán bộ Sở GD&ĐT Quảng Ninh, CBQL và giáo viên các trường THPT

về mức độ cần thiết và mức độ đáp ứng phẩm chất và năng lực của Cán bộ quản lý

Còn hạn chế TL%

1 Hiểu biết về đường lối của Đảng,

2 Có giác ngộ chính trị, phân tích

đúng, sai và bảo vệ quan điểm,

đường lối của Đảng và Nhà nước

theo nguyên tắc toàn diện và xử lý

các thông tin chính xác, kịp thời

165 75.0 52 23.64 3 1.36 98 44.54 119 54.09 3 1.36

6 Có ý chí vượt khó khăn hoàn

7 Có uy tín đối với CB,GV,NV

trong trường và sự tín nhiệm của

cấp trên

93 42.27 126 57.27 1 0.45 118 53.63 92 41.81 10 4.55

Trang 37

8 Có ý thức chấp hành kỷ luật lao

động, có trách nhiệm trong quản

lý nhà trường

172 78.18 43 19.54 5 2.27 129 58.63 85 38.63 6 2.72

9 Mẫu mực về sư phạm, phát huy

vai trò của bản thân trong tập

thể sư phạm nhà trường

165 75.0 45 20.45 10 4.54 168 76.36 45 20.45 7 3.18

10 Quý trọng con người, quan tâm

tới đời sống vật chất và tinh

thần của mọi người

13 Trung thực, tâm huyết với nghề

nghiệp, gương mẫu trong lối

sống, sinh hoạt Tận tụy với

công việc được giao

149 67.72 60 27.27 11 5.0 154 70.0 57 25.9 9 4.09

14 Trung thực trong báo cáo với cấp

Trang 39

Hơn nữa, theo định hướng phát triển giáo dục và đào tạo, các trường THPT sẽ phải phấn đấu để đạt trường chuẩn quốc gia thì một trong những tiêu chuẩn bắt buộc đối với CBQL là phải có trình độ lý luận chính trị từ trung cấp trở lên

Trong thời gian tới, ngành GD&ĐT Quảng Ninh cần xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, đảm bảo cho 100% CBQL các trường THPT có trình độ lý luận

từ trung cấp lý luận chính trị trở lên

2.2.3.3 Về trình độ chuyên môn và trình độ quản lý

Bảng 2.6: Trình độ chuyên môn, trình độ quản lý của CBQL THPT tỉnh Quảng Ninh năm học 2009-2010

trưởng 93 77 82,8 16 17,2 0 0 90 96,8 11 11,8 7 7,5

(Nguồn: Sở GD&ĐT)

Về trình độ chuyên môn, đội ngũ CBQL trường THPT đều đảm bảo đạt trình độ chuẩn

trở lên, trong đó có 15,8% đạt trình độ trên chuẩn là Thạc sĩ, chưa có Tiến sĩ, tỷ lệ này còn thấp hơn so với một số tỉnh lớn CBQL có trình độ trên chuẩn ít nên chưa thực sự làm nòng cốt

Trang 40

trong việc nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường đồng thời cũng có khó khăn nhất định trong quản lý (vì trình độ chuyên môn không cao hơn giáo viên)

Về trình độ quản lý: Cơ bản đội ngũ CBQL đã được bồi dưỡng quản lý chuyên ngành theo chương trình của Học viện quản lý giáo dục Số CBQL giáo dục được bồi dưỡng kiến thức QLNN còn ít, trong khi đó hiện nay thực hiện quy định về phân cấp quản lý, các trường THPT công lập đều đang thực hiện nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ về quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế về tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Các trường ngoài công lập cũng cơ bản thực hiện theo Nghị định này Vì vậy trong thời gian tới, Sở GD&ĐT tỉnh Quảng Ninh cần có kế hoạch cụ thể để số CBQL các trường THPT được học chương trình QLNN

2.2.3.4 Năng lực lãnh đạo, quản lý

Qua thống kê từ phiếu trưng cầu ý kiến đối với CBQL các trường THPT, số CBQL

có thâm niên công tác quản lý như sau:

CBQL còn 2 năm công tác: 9 người

CBQL còn 1 năm công tác: 5 người

CBQL có thâm niên quản lý từ 1-5 năm: 22 người=15,1%

CBQL có thâm niên quản lý từ 6-10 năm: 47 người=32,2%

CBQL có thâm niên quản lý từ11-15 năm: 38 người=26,0%

CBQL có thâm niên quản lý từ 16 năm trở lên: 39 người=26,7%

Với kết quả này, có thể khẳng định: đa số CBQL đương chức là những người có kinh nghiệm trong công tác quản lý Đó là điều kiện thuận lợi góp phần giữ vững

truyền thống nhà trường nhưng cũng lại gặp khó khăn trong việc sáng tạo, mạnh dạn đổi

mới, áp dụng tiến bộ khoa học trong điều hành và quản lý nhà trường

Để đánh giá về năng lực lãnh đạo và quản lý của đội ngũ CBQL trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, tác giả trưng cầu ý kiến của các đối tượng sau: Cán bộ quản lý

Sở GD&ĐT 10 người; CBQL các trường THPT gồm Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng

106 người; Giáo viên giảng dạy tại các trường THPT 104 người Tổng số phiếu trưng cầu

ý kiến 220 người Kết quả trưng cầu như sau:

Ngày đăng: 15/11/2014, 22:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Chính trị
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư số 29/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009, Quy định chuẩn Hiệu trưởng trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo
4. Bùi Văn Quân (2006), Giáo trình quản lý giáo dục, Nxb Giáo dục. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý giáo dục
Tác giả: Bùi Văn Quân
Nhà XB: Nxb Giáo dục. Hà Nội
Năm: 2006
5. Bùi Văn Quân (2008), Kế hoạch trong quản lý giáo dục, Đề cương bài giảng chương trình Thạc sĩ QLGD, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch trong quản lý giáo dục
Tác giả: Bùi Văn Quân
Năm: 2008
6. Chính phủ, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006, quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ
8. Chính phủ, Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá và thể dục thể thao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính phủ
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
10. Đỗ Văn Chấn (2000), Dự báo giáo dục, Tập bài giảng cho học viên cao học chuyên ngành quản lý giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự báo giáo dục
Tác giả: Đỗ Văn Chấn
Năm: 2000
11. Học viện Hành chính quốc gia (2000), Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý hành chính nhà nước
Tác giả: Học viện Hành chính quốc gia
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
12. Nguyễn Quốc Chí (2003), Đề cương bài giảng “Những cơ sở lý luận quản lý giáo dục” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở lý luận quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí
Năm: 2003
13. Nguyễn Thị Tính (2007), Quản lý chuyên môn trong các nhà trường- Tài liệu giảng dạy chuyên ngành quản lý giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chuyên môn trong các nhà trường
Tác giả: Nguyễn Thị Tính
Năm: 2007
14. Nguyễn Văn Hộ (2007), Xu hướng phát triển giáo dục, Tài liệu dùng cho học viên cao học Quản lý giáo dục, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng phát triển giáo dục
Tác giả: Nguyễn Văn Hộ
Năm: 2007
15. Phạm Hồng Quang (2006), Môi trường Giáo dục, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường Giáo dục
Tác giả: Phạm Hồng Quang
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
16. Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh, Báo cáo tổng kết năm học 2005-2006; 2007- 2008; 2008-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm học 2005-2006; 2007-2008; 2008-2009
Tác giả: Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh
Năm: 2009
17. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 269/2006/QĐ-TTg ngày 24/11/2006 về việc phê duyệt “Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 269/2006/QĐ-TTg ngày 24/11/2006 về việc phê duyệt “Điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2015
18. UBND tỉnh Quảng Ninh, Đề án xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục giai đoạn 2006-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục giai đoạn 2006-2010
Tác giả: UBND tỉnh Quảng Ninh
19. UBND tỉnh Quảng Ninh, Điều chỉnh quy hoạch phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBND tỉnh Quảng Ninh
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quyết định số 07/QĐ-BGDĐT ngày 02/4/2007 về việc ban hành Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học Khác
7. Chính phủ, Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006, chính sách đối với nhà giáo, Cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1 : Nội dung của quy hoạch phát triển - Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 đến 2020
Sơ đồ 1.1 Nội dung của quy hoạch phát triển (Trang 14)
Bảng 2.4: Cơ cấu về độ tuổi CBQL Trường THPT năm học 2009-2010 - Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 đến 2020
Bảng 2.4 Cơ cấu về độ tuổi CBQL Trường THPT năm học 2009-2010 (Trang 33)
Bảng 2.3:  Cơ cấu đội ngũ CBQL Trường trung học phổ thông (theo giới tính) - Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 đến 2020
Bảng 2.3 Cơ cấu đội ngũ CBQL Trường trung học phổ thông (theo giới tính) (Trang 34)
Bảng 2.4:  Ý kiến của cán bộ Sở GD&ĐT Quảng Ninh, CBQL và giáo viên các trường THPT - Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 đến 2020
Bảng 2.4 Ý kiến của cán bộ Sở GD&ĐT Quảng Ninh, CBQL và giáo viên các trường THPT (Trang 36)
Bảng 2.6: Trình độ chuyên môn, trình độ quản lý của CBQL THPT tỉnh Quảng  Ninh năm học 2009-2010 - Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 đến 2020
Bảng 2.6 Trình độ chuyên môn, trình độ quản lý của CBQL THPT tỉnh Quảng Ninh năm học 2009-2010 (Trang 39)
Bảng 2.5: Trình độ lý luận chính trị của CBQL THPT - Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 đến 2020
Bảng 2.5 Trình độ lý luận chính trị của CBQL THPT (Trang 39)
Bảng 2.7: Ý kiến của Cán bộ Sở GD&ĐT, CBQL và giáo viên các trường THPT - Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 đến 2020
Bảng 2.7 Ý kiến của Cán bộ Sở GD&ĐT, CBQL và giáo viên các trường THPT (Trang 41)
Bảng 2.8 Dự báo dân số tỉnh Quảng Ninh đến năm 2015 và năm 2020 - Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 đến 2020
Bảng 2.8 Dự báo dân số tỉnh Quảng Ninh đến năm 2015 và năm 2020 (Trang 53)
Bảng 2.9 Dự báo quy mô trường, lớp THPT đến năm 2015 và năm 2020  Cấp trường, - Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 đến 2020
Bảng 2.9 Dự báo quy mô trường, lớp THPT đến năm 2015 và năm 2020 Cấp trường, (Trang 54)
Bảng 3.1: Quy hoạch về độ tuổi, giới tính của CBQL trường THPT tỉnh Quảng Ninh  đến năm 2015 - Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 đến 2020
Bảng 3.1 Quy hoạch về độ tuổi, giới tính của CBQL trường THPT tỉnh Quảng Ninh đến năm 2015 (Trang 66)
Bảng 3.3 Ý kiến của khách thể khảo sát về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của  các giải pháp đề xuất - Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 đến 2020
Bảng 3.3 Ý kiến của khách thể khảo sát về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các giải pháp đề xuất (Trang 89)
Hình thức khác ( đề nghị ghi rõ): - Quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011 đến 2020
Hình th ức khác ( đề nghị ghi rõ): (Trang 99)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm