1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

97 592 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đánh giá đúng thực trạng đời sống và việc làm của người dân bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư, đề xuất những giải pháp tích cực trong việc quản lý, sử dụng đất đai có hiệu

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-

NGUYỄN VIỆT ANH

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG ĐẾN ĐỜI SỐNG VÀ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI DÂN KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành : Quản lý đất đai

Mã số : 60.85.01.03

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS LƯƠNG VĂN HINH

Thái Nguyên - 2012

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, trong những năm qua các địa phương trong cả nước đã thu hồi hàng ngàn

ha đất bao gồm cả đất ở và đất nông nghiệp để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được xây dựng, nâng cấp ngày càng đồng bộ và hiện đại Từ đó, đã ảnh hưởng lớn đến đời sống việc làm của người bị thu hồi đất

Công tác thường, giải phóng mặt bằng (GPMB), tái định cư được

đề cập và cụ thể hóa tại một số văn bản quy phạm pháp luật như: Luật đất đai, các Nghị định số: 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004; 84/2007/NĐ-

CP ngày 25/5/2007; 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ; Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính; Thông

tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TNMT) Mặc dù các địa phương luôn thực hiện đầy đủ chính sách thường, tái định cư, bảo đảm việc làm, thu nhập và đời sống của người dân có đất bị thu hồi Song tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp, không chuyển đổi được nghề nghiệp, khó khăn trong cuộc sống tại nơi ở mới, đặc biệt đối với người nông dân bị thu hồi đất gặp nhiều khó khăn trở ngại hơn trong cuộc sống Nguyên nhân này một phần do nhiều nơi thực hiện thường, tái định cư, đào tạo và giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất còn chưa hợp lý Bên cạnh đó, bản thân người dân bị thu hồi đất còn thụ động trông chờ vào Nhà nước, chưa tích cực tự đào tạo

để đáp ứng nhu cầu chuyển đổi nghề

Phú Bình là huyện thuần nông, đang từng bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp, xây dựng – dịch vụ - nông lâm nghiệp Để xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp phải gắn liền với việc thu hồi đất, bao gồm cả đất nông nghiệp để thực hiện các dự án có tác động rất lớn đến mọi mặt đời sống

Trang 3

kinh tế, văn hoá xã hội của người bị thu hồi đất Giải quyết việc làm, ổn định và từng bước nâng cao đời sống cho người bị thu hồi đất là nhiệm vụ của các cấp uỷ Đảng, chính quyền và toàn xã hội

Để đánh giá đúng thực trạng đời sống và việc làm của người dân bị thu hồi đất

để thực hiện các dự án đầu tư, đề xuất những giải pháp tích cực trong việc quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả và giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc hiện nay nhằm cải thiện, nâng cao đời sống của người dân bị thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, chúng tôi chọn đề tài:

"Đánh giá ảnh hưởng của chính sách thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên"

2 Mục đích nghiên cứu

2.1 Mục đích chung

Đánh giá ảnh hưởng của việc thực hiện chính sách bồi thường, GPMB đến đời sống và việc làm của người dân có đất bị thu hồi khi thực hiện dự án Nhà máy May TNG, xã Kha Sơn, thị trấn Hương Sơn và dự án xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Điềm Thuy, xã Điềm Thụy huyện Phú Bình

2.2 Mục đích cụ thể

- Đánh giá tổng thể thực trạng đời sống, việc làm, thu nhập và các tiêu chí khác của đời sống xã hội cộng đồng dân cư sau khi Nhà nước thu hồi đất

- Đề xuất các giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới nhằm ổn định

và nâng cao đời sống của người dân bị thu hồi đất hiện tại và tương lai

2.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trang 4

2.4 Yêu cầu của đề tài:

- Nắm vững chính sách, pháp luật đất đai; chính sách, pháp luật về bồi thường, GPMB và các văn bản có liên quan

- Các số liệu điều tra phải đầy đủ, chính xác, trung thực và khách quan

- Phân tích, đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất trong hai dự án trên địa bàn nghiên cứu và phân tích, đánh giá tình hình đời sống việc làm của người dân trước và sau khi bị Nhà nước thu hồi đất

- Quá trình điều tra, nghiên cứu không được để những mâu thuân về lợi ích đối với các trường hợp Nhà nước đã thực hiện xong việc thu hồi đất, bồi thường, tái định cư

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận về chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.1.1 Khái quát về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

1.1.1.1 Bồi thường

Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra, là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi của chủ thể khác [31]

Với khái niệm này cần được hiểu:

+ Không phải mọi khoản bồi thường đều chi trả được bằng tiền

+ Sự mất mát của người bị thu hồi đất không chỉ là về mặt vật chất mà nhiều trường hợp còn mất mát cả về tinh thần

+ Về mặt hành chính thì đây là một quá trình không tự nguyện, có tính cưỡng chế và vẫn là đòi hỏi sự "hi sinh", không thể là một sự bồi thường ngang giá tuyệt đối

Việc bồi thường có thể vô hình hoặc hữu hình, có thể do các quy định của pháp luật điều tiết, hoặc do thỏa thuận giữa các chủ thể

1.1.1.2 Hỗ trợ

Hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm [31] Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất

là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới

1.1.1.3 Tái định cư

Tái định cư là việc di chuyển đến một nơi khác để sinh sống và làm ăn [31] Tái định cư bắt buộc đó là sự di chuyển không thể tránh khỏi khi Nhà nước thu hồi hoặc trưng thu đất đai để thực hiện các dự án đầu tư phát triển

Tái định cư là hoạt động nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế -

xã hội đối với một bộ phận dân cư đã gánh chịu vì sự phát triển chung

Trang 6

Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau: Bồi thường bằng nhà ở; bằng giao đất ở mới; bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở

Tái định cư là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng trong chính sách GPMB

1.1.2 Đặc điểm của quá trình giải phóng mặt bằng

Giải phóng mặt bằng là công việc đa dạng, phức tạp vừa mang tính kỹ thuật, pháp luật và mang tính xã hội cao Nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội

- Tính đa dạng thể hiện: mỗi dự án được thực hiện trên mỗi vùng đất khác nhau có điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội và trình độ dân trí khác nhau Các khu vực nội thị, khu vực ven đô, khu vực nông thôn mật độ dân cư khác nhau, ngành nghề đa dạng và hoạt động sản xuất theo một đặc trưng riêng của vùng đó Do đó, GPMB đối với từng vùng cũng có những điểm riêng biệt

- Tính phức tạp thể hiện: Công tác GPMB có tác động lớn đến mọi mặt đời sống kinh tế xã hội của người dân có đất bị thu hồi thực hiện dự án

1.1.3 Một số vấn đề ảnh hưởng đến công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1.1.3.1 Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Các nước trên thế giới đều coi đất đai là một loại tài sản đặc biệt phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng

Luật đất đai quy định người sử dụng đất phải đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được xét duyệt lập hồ sơ địa chính (HSĐC), cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD đất) Hệ thống HSĐC và GCNQSD đất có liên quan mật thiết với công tác Bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư là một trong những căn cứ khi xác định nguồn gốc sử dụng

Trang 7

đất, đối tượng và mức Bồi thường, hỗ trợ

Lập và quản lý chặt chẽ HSĐC có vai trò quan trọng để “quản lý chặt chẽ đất đai trong thị trường bất động sản”, là cơ sở xác định tính pháp lý của đất đai Trước tháng 12 năm 2004, còn nhiều địa phương chưa lập đầy đủ HSĐC theo quy định; đặc biệt có nhiều xã, phường, thị trấn chưa lập sổ địa chính (khoảng trên 30% số xã đã cấp GCNQSD đất) để phục vụ yêu cầu quản

lý việc sử dụng đất đai, một số địa phương chưa lập đủ sổ mục kê đất đai, sổ cấp GCNQSD đất như Hà Nội, các tỉnh Hà Tây, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Kiên Giang, Trà Vinh

Từ năm 2004 đến nay, việc lập HSĐC được thực hiện theo quy định tại Thông tư 29/2004/TT-Bồi thườngNMT của Bồi thườngN&MT, nhưng nhiều địa phương chưa thực hiện, hoặc thực hiện chưa đầy đủ, chưa đồng bộ ở cả 3 cấp Vì các tài liệu đo đạc bản đồ trước đây có độ chính xác thấp nên đang làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp trong quản lý đất đai như không đủ cơ sở giải quyết tranh chấp đất đai, khó khăn trong giải quyết bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Vì vậy, việc đo bản đồ địa chính chính quy để thay thế cho các loại bản đồ cũ và lập lại HSĐC là rất cần thiết Tính đến tháng 5/2010, cả nước

đã cấp được 30.378.713 GCNQSD đất cho hộ gia đình, cá nhân và tổ chức với diện tích 17.685.613ha (trong đó diện tích sản xuất nông nghiệp đạt 86,0% diện tích, diện tích đất lâm nghiệp đạt 72%, diện tích đất ở nông thôn đạt 81%, diện tích đất ở đô thị đạt 71,8%, diện tích đất chuyên dùng đạt 40,1% [22]

Trong công tác Bồi thường, GPMB, GCNQSD đất là căn cứ để xác định đối tượng, loại đất và diện tích đất được bồi thường Hiện nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta chưa hoàn thành, đặc biệt công tác đăng ký biến động về sử dụng đất; việc cấp GCNQSD đất chưa hoàn thành Vì vậy, khó khăn trong việc xác định loại đất và diện tích đất được bồi thường Làm tốt công tác đăng ký đất đai, cấp GCNQSD đất thì công tác bồi thường, GPMB

sẽ thuận lợi hơn

Trang 8

1.1.3.2 Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là biện pháp quản lý của nhà nước trong công tác quản lý đất đai là căn cứ để thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất Do vậy công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng có tác động đến công tác bồi thường, GPMB thực hiện các dự án đầu tư

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường

Công tác bồi thường, GPMB liên quan mật thiết với công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thông qua Quyết định thu hồi đất vì:

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là căn cứ để thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất

- Trên cơ sở Quyết định thu hồi đất để lập, trình duyệt và thực hiện phương án bồi thường, GPMB

Tuy nhiên, chất lượng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở nước ta nói chung có nhiều tiến bộ nhưng chưa đạt yêu cầu đề ra Tiến độ lập quy hoạch còn thấp, nội dung quy hoạch còn bất cập…[22]

1.1.3.3 Công tác giao đất, cho thuê đất

Công tác giao đất, cho thuê đất có tác động rất lớn đến công tác bồi thường, GPMB và tái định cư Nguyên tắc giao đất, cho thuê đất, phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch, nhưng nhiều địa phương chưa thực hiện tốt nguyên tắc này; xuất đầu tư làm căn cứ giao đất, cho thuê đất và nghĩa vụ đóng thuế đất quy định không rõ ràng, tình trạng quản lý đất đai thiếu chặt chẽ dẫn đến khó khăn cho công tác đền bù

Theo báo cáo của Bộ TN&MT tính từ ngày 01/7/ 2004 đến ngày 28/2/2007 thì tổng diện tích đã giao, đã cho thuê là 1.081.011 ha, trong đó diện tích đất đã giao là 925.631 ha (giao đất có thu tiền sử dụng đất là 581.620 ha, giao đất không thu tiền là 344.011 ha); diện tích đất đã cho thuê là 155.380 ha

Trang 9

(trong đó diện tích đất cho các nhà đầu tư nước ngoài thuê là 1.386 ha) [15]

1.1.3.4 Việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật đất đai

Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi hỏi các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính

ổn định cao và phù hợp với tình hình thực tế

Do các đặc điểm lịch sử, kinh tế xã hội của nước ta nên chính sách về đất đai thường xuyên sửa đổi, bổ sung ngày càng hoàn thiện Từ năm 1993 đến năm 2003, Nhà nước đã ban hành hơn 200 văn bản quy phạm pháp luật

về quản lý và sử dụng đất Sau khi Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành khá đầy đủ, chi tiết, cụ thể, rõ ràng, đề cập mọi quan hệ đất đai Đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc tổ chức thực hiện các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai, giải quyết tốt mối quan hệ đất đai ở khu vực nông thôn, bước đầu đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng đất trong sự nghiệp CNH, HĐH; hệ thống pháp luật đất đai luôn đổi mới, ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh và ổn định xã hội

Theo đó, chính sách bồi thường, GPMB luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa đổi nhằm giải quyết các vướng mắc trong công tác bồi thường, GPMB, phù hợp với yêu cầu thực tế Với những thay đổi về pháp luật đất đai, thời gian qua công tác GPMB đã đạt những kết quả tích cực, đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng cho việc phát triển các dự án đầu tư Tuy nhiên bên cạnh đó, do tính chưa ổn định, chưa thống nhất của pháp luật đất đai qua các thời kỳ mà công tác bồi thường, GPMB đã gặp khá nhiều khó khăn và cản trở Thực tiễn, cho thấy việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai có ảnh hưởng rất lớn đến công tác bồi thường, GPMB Hệ thống văn bản pháp luật đất đai hiện nay còn nhược điểm

Trang 10

như: số lượng nhiều, mức độ phức tạp cao, không thuận lợi trong sử dụng, nội

bộ hệ thống chưa đồng bộ, chặt chẽ

Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm về quản lý, sử dụng đất đai, việc tổ chức thực hiện các văn bản đó cũng có vai trò rất quan trọng Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai của Bộ TN&MT năm 2007 cho thấy UBND các cấp đều có ý thức quán triệt việc thực thi pháp luật về đất đai nhưng nhận thức về các quy định của pháp luật nói chung còn yếu, ở cấp cơ sở còn rất yếu

Từ đó dẫn tới tình trạng có nhầm lẫn việc áp dụng pháp luật trong giải quyết giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cấp GCNQSD đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, giải quyết tranh chấp, khiếu nại,

tố cáo Trong khi đó việc tuyên truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm hiệu quả chưa cao Tại nhiều địa phương, còn tồn tại tình trạng nể nang trong giải quyết các mối quan hệ về đất đai Cán bộ địa chính, chủ tịch UBND

xã nói chung chưa làm tốt nhiệm vụ phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai trên địa bàn Đó là nguyên nhân làm giảm hiệu lực thi hành pháp luật, gây mất lòng tin trong nhân dân cũng như các nhà đầu tư và đã ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ GPMB [15]

1.1.3.5 Yếu tố giá đất và định giá đất

Giá cả đất đai dựa trên giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất Nếu như trước đây Nhà nước chỉ quy định một loại giá đất áp dụng cho mọi quan

hệ đất đai khác nhau thì Luật Đất đai năm 2003 đề cập nhiều loại giá đất để

xử lý từng nhóm quan hệ đất đai khác nhau

- Trước khi có Luật Đất đai năm 2003:

Việc xác định giá đất, bồi thường, GPMB, tái định cư đều được quy định tại các văn bản dưới luật như Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ quy định khung giá các loại đất; Nghị định số 90/CP ngày 17/9/1994 của Chính phủ quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi

Trang 11

ích công cộng và Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ ban hành quy định về đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng Giá đất để tính bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định trên cơ sở khung giá đất do Chính phủ ban hành kèm theo Nghị định số 87/CP Khung giá đất để tính bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại Nghị định số 87/CP được áp dụng trong một thời gian dài trên mười năm, mặc dù trong đã áp dụng hệ số K để điều chỉnh khung giá đất tính bồi thường nhưng mức tăng cao nhất cũng chỉ là 1, 2 lần đối với đất nông nghiệp hạng i Do vậy giá đất để tính bồi thường vẫn thấp hơn nhiều so với giá thực tế, dẫn đến phát sinh hàng loạt các khiếu kiện về bồi thường, GPMB tại các địa phương

- Từ khi có Luật Đất đai năm 2003: Theo quy định tại Điều 55: Giá đất được hình thành trong các trường hợp sau đây:

+ Do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định giá theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 56 của Luật này;

+ Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất; + Do người sử dụng đất thỏa thuận về giá đất với những người có liên quan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Giá đất được xác định theo nguyên tắc “sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường trong điều kiện bình thường” (khoản 1 Điều 56) Được Chính phủ quy định cụ thể tại Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16 /11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất và Nghị định số 123//2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 V/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP

Khi định giá đất phải căn cứ vào nguyên tắc và phương pháp định giá đất; phải cân nhắc đầy đủ ảnh hưởng của chính sách đất đai của Chính phủ trên

Trang 12

cơ sở nắm chắc tư liệu thị trường đất đai, căn cứ vào những thuộc tính kinh tế

và tự nhiên của đất đai theo chất lượng và khả năng sinh lợi của đất đai

Thực tế hiện nay là giá đất do các địa phương quy định và công bố đều thấp, cá biệt có nơi chỉ bằng khoảng 30% tới 60% giá thị trường, dẫn tới khó khăn trong việc bồi thường đất đai và phát sinh nhiều khiếu kiện [22] Thực tế cho thấy, các khiếu kiện của người bị thu hồi đất chủ yếu về giá bồi thường đất Theo kết quả Bộ TN&MT kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2007 cho thấy trong 17.480 đơn khiếu kiện về đất đai thì khiếu kiện về GPMB chiếm 70,64% mà khiếu kiện về giá đất bồi thường thấp so giá thị trường chiếm 70% khiếu kiện về GPMB [15], [31]

1.1.3.6 Thị trường bất động sản

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nước ta, thị trường bất động sản được hình thành và ngày càng phát triển và trở thành một bộ phận của nền kinh tế thị trường, góp phần tăng thu ngân sách nhà nước và thúc đẩy nền kinh tế phát triển

Thị trường bất động sản góp phần giảm thiểu việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư (do nhà đầu tư có thể đáp ứng nhu cầu về đất đai thông qua các giao dịch trên thị trường); đồng thời người bị thu hồi đất có thể tự mua hoặc cho thuê đất đai, nhà cửa mà không nhất thiết phải thông qua Nhà nước thực hiện chính sách tái định cư và bồi thường

Giá cả của bất động sản được hình thành trên thị trường và nó sẽ tác động tới giá đất tính bồi thường

1.1.4 Tác động của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đến phát triển cơ

Trang 13

tiến độ thực hiện dự án, lãng phí thời gian, tăng chi phí, giảm hiệu quả dự án

- Về kinh tế:

Thực hiện tốt công tác GPMB sẽ giảm chi phí, có điều kiện tập trung vốn cho mở rộng đầu tư Ngược lại, chi phí bồi thường lớn, không kịp hoàn thành tiến độ dự án dẫn đến quay vòng vốn chậm gây khó khăn cho các nhà đầu tư

Đối với các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh nếu không đáp ứng được tiến độ đầu tư thì mất cơ hội kinh doanh, hiệu quả kinh doanh thấp

Đối với dự án đầu tư không kinh doanh, thời gian thi công kéo dài, tiến độ thi công bị ngắt quãng gây ra lãng phí và ảnh hưởng tới chất lượng công trình

1.1.4.2 Đời sống xã hội

Công tác GPMB góp phần cải thiện môi trường đầu tư, khai thác các nguồn lực từ đất đai cho đầu tư phát triển Các cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội ở nước ta được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư trên cả nước nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển, đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần của nhân dân Đạt được kết quả nêu trên công tác bồi thường, GPMB đóng vai trò không nhỏ để các dự

án phát huy hiệu quả

1.1.5 Chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng của một số nước và các

tổ chức ngân hàng quốc tế

1.1.5.1 Trung Quốc

Ở Trung Quốc có hai hình thức sở hữu về đất đai gồm: sở hữu nhà nước (đất đô thị và đất xây dựng) và sở hữu tập thể (đất ở thuộc vùng nông thôn và đất nông nghiệp) Theo quy định của Luật đất đai Trung Quốc năm 1998, đất đai thuộc sở hữu nhà nước được giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng theo các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất (cấp đất), giao đất có thu tiền sử dụng đất và cho thuê đất

Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để sử dụng vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia thì Nhà nước có chính sách bồi thường và tổ chức tái định cư cho người bị thu hồi đất

Trang 14

Vấn đề bồi thường cho người có đất bị thu hồi được pháp luật đất đai Trung Quốc quy định như sau:

Về thẩm quyền thu hồi đất: Chỉ có Chính phủ (Quốc vụ viện) và chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương mới có quyền thu hồi đất Quốc vụ viện có thẩm quyền thu hồi đất nông nghiệp từ 35 ha trở lên và 70 ha trở lên đối với các loại đất khác Dưới hạn mức này thì do chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định thu hồi đất Đất nông nghiệp sau khi thu hồi sẽ chuyển từ sở hữu tập thể thành đất hữu nhà nước

Về trách nhiệm bồi thường: Pháp luật đất đai Trung Quốc quy định, người nào sử dụng đất thì người đó có trách nhiệm bồi thường, phần lớn tiền bồi thường do người sử dụng đất trả Tiền bồi thường bao gồm các khoản như

lệ phí sử dụng đất phải nộp cho Nhà nước và các khoản tiền trả cho người có đất bị thu hồi Ngoài ra, pháp luật đất đai Trung Quốc còn quy định mức nộp

lệ phí trợ cấp đời sống cho người bị thu hồi đất là nông dân cao tuổi không thể chuyển đổi sang ngành nghề mới khi bị mất đất nông nghiệp, khoảng từ 442.000 - 2.175.000 nhân dân tệ/ha

Người bị thu hồi đất được trả các khoản: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp tái định cư, tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với một hệ số do Nhà nước quy định Còn đối với tiền bồi thường hoa màu và tài sản trên đất thì xác định theo giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất

Về nguyên tắc bồi thường: Các khoản tiền bồi thường phải đảm bảo cho

người dân bị thu hồi đất có chỗ ở bằng hoặc cao hơn so với nơi ở cũ Ở Bắc Kinh, phần lớn các gia đình dùng số tiền bồi thường đó cộng với khoản tiền tiết kiệm của họ có thể mua được căn hộ mới Còn đối với người dân ở khu vực nông thôn

có thể dùng khoản tiền bồi thường mua được hai căn hộ ở cùng một nơi [13]

Tuy nhiên, ở thành thị, cá biệt cũng có một số gia đình sau khi được bồi

Trang 15

thường cũng không mua nổi một căn hộ để ở Những đối tượng trong diện giải toả mặt bằng thường được hưởng chính sách mua nhà ưu đãi của Nhà nước, song trên thực tế họ thường mua nhà bên ngoài thị trường

Về tổ chức thực hiện và quản lý giải toả mặt bằng: Cục quản lý tài

nguyên đất đai ở các địa phương thực hiện việc quản lý giải toả mặt bằng Người nhận khu đất thu hồi sẽ thuê một đơn vị xây dựng giải toả mặt bằng khu đất đó, thường là các đơn vị chịu trách nhiệm thi công công trình trên khu đất giải toả

Nhìn chung hệ thống pháp luật về bồi thường và của Trung Quốc đều nhằm bảo vệ những người bị thu hồi đất để thực hiện các dự án Theo một nghiên cứu gần đây của WB thì các luật về tái định cư của Trung Quốc đối với các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và giao thông "đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của WB trong tài liệu hướng dẫn thực hiện tái định cư" [13]

1.1.5.2 Ở Thái Lan

Cũng giống như ở nhiều nước khác trong khu vực châu Á, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, mọi giao dịch về đất đai đều do cơ chế thị trường điều tiết Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý, việc đền bù được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân; định giá đền bù

Giá đền bù phụ thuộc vào từng khu vực, từng dự án Nếu một dự án mang tính chiến lược quốc gia thì nhà nước đền bù với giá rất cao so với giá thị trường Nhìn chung, khi tiến hành lấy đất của dân, nhà nước hoặc cá nhân đầu tư đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường [13]

1.1.5.3 Ở Hàn Quốc

Vào những năm 70 của thế kỷ trước, trước tình trạng di dân ồ ạt từ các vùng nông thôn vào đô thị, thủ đô Xơ-un đã phải đối mặt với tình trạng thiếu đất định cư trầm trọng trong thành phố Để giải quyết nhà ở cho dân nhập cư, chính quyền thành phố phải tiến hành thu hồi đất của nông dân vùng phụ cận Việc đền bù được thực hiện thông qua các công cụ chính sách như hỗ trợ tài

Trang 16

chính, cho quyền mua căn hộ do thành phố quản lý và chính sách tái định cư

Các hộ bị thu hồi đất có quyền mua hoặc nhận căn hộ do thành phố quản lý, được xây tại khu đất được thu hồi có bán kính cách Xơ-un khoảng 5

km Vào những năm 70 của thế kỷ trước, khi thị trường bất động sản bùng nổ, hầu hết các hộ có quyền mua căn hộ có thể bán lại quyền mua căn hộ của mình với giá cao hơn nhiều lần so với giá gốc [13]

1.1.5.3 Chính sách bồi thường và tái định cư của các tổ chức ngân hàng quốc tế

Ngân hàng Thế giới (WB) là một trong những tổ chức tài trợ quốc tế đầu tiên đưa ra chính sách về tái định cư bắt buộc Tháng 2/1980, lần đầu tiên chính sách tái định cư được ban hành dưới dạng một Thông báo, Hướng dẫn hoạt động nội bộ (OMS 2.33) cho nhân viên Từ đó đến nay chính sách tái định cư đã được sửa đổi và ban hành lại nhiều lần

Khi Nhà nước thu hồi đất và tái định cư thì những người bị ảnh hưởng (BAH) là những người mà do thực hiện dự án họ phải chịu thiệt hại toàn bộ hay một phần tài sản vật chất và phi vật chất, bao gồm nhà cửa, cộng đồng, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội Các phương tiện sản xuất bao gồm đất đai, nguồn thu nhập, kế sinh nhai do đất đai tạo ra, đặc trưng văn hoá và tiềm năng về sự hỗ trợ lẫn nhau để đảm bảo đời sống, tài nguyên cho sinh tồn và

hệ sinh thái

Kinh nghiệm của WB cho thấy việc tái định cư không tự nguyện do các

dự án phát triển gây nên, trong trường hợp không thể giảm thiểu được, thường dẫn đến những hiểm họa nghiêm trọng về kinh tế, xã hội và môi trường do các hệ thống sản xuất bị phá vỡ, con người phải đối mặt với sự bần cùng hoá khi những tài sản, công cụ sản xuất hay nguồn thu nhập của họ bị mất đi Tất

cả những điều đó nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến những khó khăn, căng thẳng về xã hội và dễ dẫn tới sự bần cùng hoá đời sống người bị thu hồi đất

Từ tháng 2/1994, ngân hàng phát triển châu Á (ADB) đã bắt đầu áp

Trang 17

dụng bản Hướng dẫn hoạt động của WB về tái định cư và từ tháng 11/1995 Ngân hàng này đã có chính sách riêng của Ngân hàng về tái định cư bắt buộc

Nhìn chung, phương châm của ADB cũng tương tự như của WB đều có

xu hướng giảm thiểu đến mức thấp nhất các tác động của việc thu hồi đất, đồng thời có chính sách thoả đáng, phù hợp cho người BAH không gặp phải bất lợi trong cuộc sống, khôi phục, cải thiện chất lượng cuộc sống, nguồn sống Để thực hiện được phương châm đó phải chấp nhận và thực hiện chính sách phát triển mà con người là trung tâm Kinh nghiệm về lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy, các yếu tố đảm bảo cho bồi thường, tái định cư thành công là những chính sách phù hợp của Chính phủ: nguồn tài chính đầu tư, khâu tổ chức thực hiện của chính quyền địa phương và trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật của nhân dân Bên cạnh đó, sự kiểm soát, giám sát chặt chẽ của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là yếu tố đồng hành trong quá trình thức hiện các dự án

Đối với đất đai và tài sản được bồi thường, chính sách của WB và ADB

là phải bồi thường theo giá xây dựng mới đối với tất cả các công trình xây dựng và quy định thời hạn bồi thường, tái định cư hoàn thành trước một tháng khi dự án triển khai thực hiện

Việc lập kế hoạch cho công tác bồi thường, tái định cư được các tổ chức cho vay vốn quốc tế coi là điều bắt buộc trong quá trình thẩm định dự

án Mức độ chi tiết của kế hoạch phụ thuộc vào số lượng người BAH và mức

độ tác động của dự án Kế hoạch bồi thường, tái định cư phải được coi là một phần của chương trình phát triển cụ thể, cung cấp đầy đủ nguồn vốn và cơ hội cho các hộ BAH Ngoài ra còn phải áp dụng các biện pháp sao cho người bị

di chuyển hoà nhập được với cộng đồng mới

Về quyền được tư vấn và tham gia của các hộ BAH, các tổ chức quốc tế quy định các thông tin về dự án cũng như chính sách bồi thường, tái định cư của dự án phải được thông báo đầy đủ, công khai để tham khảo ý kiến, hợp tác, thậm chí trao quyền cho các hộ BAH và tìm mọi cách thoả mãn nhu cầu chính

Trang 18

đáng của họ trong suốt quá trình lập kế hoạch bồi thường, tái định cư cho tới khi thực hiện công tác lập kế hoạch [13]

1.1.5.4 Nhận xét, đánh giá

Việc xây dựng và phát triển các công trình đều cần có đất Do đất đai

có hạn, vì thế các quốc gia đều sử dụng quyền lực Nhà nước của mình để thu hồi đất hoặc trưng thu của người đang sở hữu, đang sử dụng để phục vụ cho nhu cầu xây dựng các công trình phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia

Ở mỗi nước, quyền lực thu hồi, trưng thu đất được ghi trong Hiến pháp, Luật đất đai hoặc văn bản pháp luật khác Nếu việc thu hồi, trưng thu đã phù hợp với quy định của pháp luật mà người sở hữu hoặc sử dụng đất không thực hiện thì Nhà nước có quyền chiếm hữu đất đai Việc thu hồi đất, trung thu đất

và bồi thường thiệt hại về đất tại mỗi quốc gia đều được thực hiện theo chính sách riêng do Nhà nước đó quy định

Qua nghiên cứu chính sách bồi thường, GPMB của một số nước và các

tổ chức ngân hàng quốc tế, Việt Nam chúng ta cần học hỏi các kinh nghiệm

để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường, GPMB ở một số điểm sau:

- Hoàn thiện các quy định về định giá đất nói chung và định giá đất để bồi thường, GPMB nói riêng;

- Thực hiện thống nhất trình tự, thủ tục và thực hiện tốt quy định về thẩm định, phê duyệt, giám sát thực hiện phương án bồi thường, GPMB

- Nâng cao chất lượng quy hoạch, xây dựng khu tái định cư, tạo việc làm của người có đất bị thu hồi; xử lý hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa người

sử dụng đất, Nhà nước và nhà đầu tư

1.1.6 Chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng của Việt Nam

1.1.6.1 Trước khi có Luật Đất đai năm 1993

Luật Đất đai năm 1988 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Tại Khoản 4 Điều 48 quy định: “Đền bù thiệt hại thực tế cho người đang sử dụng đất bị thu hồi để giao cho mình, bồi hoàn

Trang 19

thành quả lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật.”

Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định 186/HĐBT ngày 31/5/1990,

về bồi thường thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác Căn cứ để tính mức bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng tại Quyết định này là diện tích, chất lượng và vị trí đất Toàn bộ tiền bồi thường phải nộp vào ngân sách Nhà nước và được điều tiết cho ngân sách Trung ương 30%, Địa phương 70% để sử dụng vào mục đích khai hoang, phục hoá, định canh và định cư cho nhân dân vùng bị thu hồi đất

Hiến pháp 1992 là căn cứ quan trọng trong việc xây dựng pháp luật đất đai nói chung và chính sách bồi thường, GPMB nói riêng, đó là:

+ Điều 17 quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch và pháp luật”

+ Điều 18 quy định “Các tổ chức và cá nhân được Nhà nước giao đất sử dụng lâu dài và được chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật”

+ Điều 23 quy định “Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị quốc hữu hoá Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và

vì lợi ích của quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường Thể thức trưng mua, trưng dụng do luật định”

1.1.6.2 Thời kỳ từ năm 1993 đến năm 2003

Luật Đất đai năm 1993 đã quy định “đất có giá” và người sử dụng đất

có các quyền và nghĩa vụ cụ thể:

+ Điều 12 quy định “Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất Tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất Chính phủ quy định khung giá các loại đất đối với từng vùng theo thời gian”

Trang 20

+ Điều 27 quy định “Trong từng trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh và vì lợi ích của quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại”

Căn cứ Luật Đất đai năm 1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định 90/CP ngày 17/8/1994 quy định về việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng

Để đáp ứng yêu cầu của xã hội và sự phát triển của nền kinh tế, Quốc hội

đã sửa đổi Luật Đất đai năm 1993 vào các năm 1998 và 2001 Theo đó, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành các văn bản quy định về chính sách bồi thường, GPMB

+ Trợ cấp đời sống và sản xuất cho những người phải di chuyển chỗ ở,

di chuyển địa điểm sản xuất kinh doanh

Trang 21

+ Trả chi phí chuyển đổi nghề nghiệp cho người có đất bị thu hồi mà phải chuyển nghề nghiệp

+ Trả các chi phí phục vụ trực tiếp cho việc tổ chức thực hiện đền bù,

* Chính sách hỗ trợ:

+ Hỗ trợ ổn định sản xuất và đời sống, chi phí đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, trợ cấp ngừng việc cho cán bộ công nhân viên của doanh nghiệp trong thời gian ngừng sản xuất

+ Chi phí di chuyển đối với các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, đợ vị sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân phải di chuyển cơ sở đến địa điểm mới

+ Hỗ trợ đối với người sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ nếu không tiếp tục thuê nhà của Nhà nước

+ Hỗ trợ các đối tượng chính sách và tiền thưởng đối với trường hợp thực hiện đúng kế hoạch

* Tái định cư: Được quy định cụ thể, chi tiết tại Chương V như: Quy định thẩm quyền lập, trình duyệt khu tái định cư; điều kiện bắt buộc phải có của khu tái định cư và việc bố trí đất ở cho các hộ gia đình tại khu tái định cư, nguồn vốn xây dựng khu tái định cư

* Tổ chức thực hiện: Nghị định quy định rõ trình tự thực hiện đền bù thiệt hại

và trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, việc thành lập và nhiệm vụ của HĐBT cấp huyện

Trang 22

1.1.6.3 Từ khi có Luật Đất đai năm 2003 đến nay

Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 được quy định chi tiết và kèm theo nhiều văn bản dưới luật được ban hành để hướng dẫn thực hiện:

- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai

- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất

- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP

- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP

- Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số Điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai

và Nghị định 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty Nhà nước thành công

ty cổ phần

- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định

bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai

- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định

bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

- Thông tư liên tịch số 14/2008/BTC-BTNMT ngày 31/01/2008 của Bộ Tài chính, Bộ TN&MT hướng dẫn thực hiện một số Điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ

Trang 23

- Thông tư số 14/2009/TT-TNNMT ngày 01/10/2009 của Bộ TN&MT Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất

Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng; mục đích phát triển kinh tế trong các trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các

dự án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ Còn đối với các dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê QSD đất, nhận góp vốn bằng QSD đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất

Căn cứ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố mà chưa có dự án đầu tư thì Nhà nước quyết định thu hồi đất và giao cho tổ chức phát triển quỹ đất cấp tỉnh để thực hiện việc bồi thường, GPMB và quản lý quỹ đất thu hồi

Giá đất bồi thường: Giá đất do Nhà nước quy định đảm bảo nguyên tắc sát với giá chuyển nhượng QSD đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường; đất tại khu vực giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

có điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng như nhau, cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau; giá đất bồi thường

là giá đất theo mục đích đang sử dụng được UBND cấp tỉnh quy định và công

bố, không bồi thường theo giá đất sẽ chuyển mục đích sử dụng

Đối tượng được bồi thường thiệt hại về đất: Người bị thu hồi đất có các điều kiện phù hợp với quy định tại Điều 8 Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (trừ khoản 6, khoản 8) thì được bồi thường thiệt hại về đất

Chính sách hỗ trợ: Hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm, hỗ trợ di chuyển Đặc biệt, đối với người bị thu hồi trên đất nông nghiệp được giao mà không được Nhà nước bồi thường

Trang 24

bằng đất nông nghiệp tương ứng thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp với mức từ 1,5 đến 5 lần giá đất nông nghiệp bị thu hồi, tạo việc làm theo quy định: giao đất có thu tiền sử dụng đất tại vị trí có thể làm mặt bằng sản xuất hoặc kinh doanh phi nông nghiệp, nếu không có đất để giao thì những thành viên trong hộ gia đình còn trong độ tuổi lao động được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp hoặc người bị thu hồi đất không có nguyện vọng nhận bồi thường bằng đất sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ phi nông nghiệp thì được bồi thường bằng giao đất ở có thu tiền sử dụng đất tại khu tái định cư hoặc tại

vị trí trong khu dân cư phù hợp với quy hoạch; Trường hợp người bị thu hồi đất thuộc diện hộ nghèo theo tiêu chí do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội công bố theo từng thời kỳ thì được hỗ trợ để vượt qua hộ nghèo

Tái định cư: UBND cấp tỉnh có trách nhiệm lập và thực hiện các dự án tái định cư; khu tái định cư phải được xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ đảm bảo

đủ điều kiện cho người sử dụng tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ; việc bố trí tái định

cư phải gắn với tạo việc làm và chuyển đổi nghề nghiệp Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước đối với khu vực đô thị, bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông thôn

Trình tự tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư: Được quy định cụ thể, chi tiết như: trước khi bị thu hồi đất ít nhất 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp người sử dụng đất phải được thông báo chủ trương thu hồi đất từ đó có đủ thời gian để tìm hiểu chính sách pháp luật để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình; trong quá trình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì người bị thu hồi đất đều được tham gia trực tiếp hoặc thông qua người đại diện; phương án bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư phải được công khai

1.1.6.4 Nhận xét, đánh giá

Qua nghiên cứu chính sách bồi thường, GPMB của Việt Nam qua các

Trang 25

thời kỳ cho thấy vấn đề bồi thường, GPMB đã được đặt ra từ rất sớm, được xuất phát từ thực tiễn và được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước Đã có tác dụng tích cực trong việc đảm bảo sự cân đối và ổn định trong phát triển, khuyến khích được đầu tư và tương đối giữ được nguyên tắc công bằng

Cùng với sự đổi mới về tiến trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan lập pháp và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong những năm gần đây đã có nhiều điểm đổi mới thể hiện chính sách ưu việt của một Nhà nước của dân, do dân và vì dân

1.2 Cơ sở thực tiễn của công tác thu hồi đất

1.2.1 Thực trạng bồi thường, giải phóng mặt bằng tại Việt Nam

Đất đai có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước Với những thay đổi như đã nghiên cứu ở trên, trong những năm qua, việc thực hiện chính sách bồi thường, GPMB ở Việt Nam đã và đang đạt được những hiệu quả nhất định Việc thu hồi đất để thực hiện các dự án đã góp phần rất quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội nhưng đây cũng là một trong những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý đất đai hiện nay

1.2.1.1 Về diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi để phát triển các khu công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng

Trong 5 năm, từ năm 2001-2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm gần 3,89 % tổng diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng) Trong đó diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp và cụm công nghiệp là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32 nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha [18]

Các vùng kinh tế trọng điểm và khu vực có diện tích đất nông nghiệp thu hồi lớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc Những địa

Trang 26

phương có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang (20.308 ha), Đồng Nai (19.752 ha), Bình Dương (16.627 ha), Quảng Nam (11.812 ha), Cà Mau (13.242 ha ), Hà Nội (7.776 ha), Hà Tĩnh (6.391 ha), Vĩnh Phúc (5.573 ha) [18]

Theo số liệu điều tra của BNN&PTNT tại 16 tỉnh trọng điểm về thu hồi đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích đất thổ

cư chiếm 11% Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích đất bị thu hồi lớn nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác là duới 0,5% [19]

Mặc dù diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi tại mỗi tỉnh chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số diện tích đất tự nhiên của địa phương nhưng lại tập trung vào một số huyện, xã có mật độ dân số cao Diện tích bình quân đầu người thấp, có

xã diện tích đất bị thu hồi chiếm tới 70%-80% diện tích đất canh tác [18]

1.2.1.2 Về đời sống, lao động và việc làm của các hộ nông dân bị thu hồi đất

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNN cho thấy việc thu hồi đất nông nghiệp trong 5 năm qua đã tác động đến đời sống của trên 627.000 hộ gia đình với khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu người Trung bình mỗi ha đất

bị thu hồi ảnh hưởng tới việc làm của trên 10 lao động nông nghiệp Vùng đồng bằng sông Hồng có số hộ BAH do thu hồi đất lớn nhất: khoảng 300 nghìn hộ; Đông Nam Bộ khoảng 108 nghìn hộ; Hà Nội hơn 138.000 hộ, thành phố Hồ Chí Minh hơn 52.000 hộ Số lao động bị mất việc làm do mất đất nhiều như Hà Tây 35.703 người, Vĩnh Phúc 22.800 người, Nam Định 4.130 người, Hải Dương 9.357 người [31], [18]

Trong quá trình thu hồi đất, các địa phương đã ban hành nhiều chính sách

cụ thể đối với người dân bị thu hồi đất về các vấn đề như bồi thường, hỗ trợ giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư Tuy nhiên trên thực

tế, sau khi bị thu hồi đấtcó tới 67% lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề

cũ , 13% chuyển sang nghề mới và khoảng 20% không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định Đây chính là nguyên nhân dẫn đến kết quả 53% số hộ

Trang 27

dân có đất bị thu hồi có thu nhập giảm so với trước đây, chỉ có khoảng 13% số

hộ có thu nhập tăng hơn trước [16]

Việc thu hồi đất nông nghiệp nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, việc làm của người dân bị thu hồi đất Tại thành phố Hà Nội, chỉ tính trong giai đoạn 3 năm từ 2001 đến 2004 đã có gần 80.000 lao động bị mất việc làm Tính đến hết năm 2005, Hà Nội có khoảng 200.000 người thất nghiệp do mất đất sản xuất Thành phố đã có nhiều giải pháp như hỗ trợ đào tạo nghề cho một người trong độ tuổi lao động là 3,8 triệu đồng nhưng việc sử dụng khoản hỗ trợ này chưa có hiệu quả cao [32]

Tại thành phố Hồ Chí Minh thì trong vòng năm năm trở lại đây, thành phố

đã triển khai 412 dự án, diện tích đất đã thu hồi của các hộ dân lên tới 60.203.074 m2; tổng số hộ BAH là 53.853 hộ, trong đó có 20.014 hộ bị giải tỏa trắng; tổng dự toán chi phí bồi thường cho các hộ dân khi Nhà nước thu hồi đất lên tới hơn 12.300 tỷ đồng Tuy nhiên, nhiều người sau khi nhận tiền đền bù, tiền

hỗ trợ đã sử dụng vào việc mua sắm phương tiện đi lại, vật dụng sinh hoạt chứ không chú tâm đến việc học nghề, giải quyết việc làm Có gia đình trở nên giầu

có sau khi nhận tiền bồi thường (có cả tỷ đồng) nhưng chỉ sau một vài năm lại rơi vào tình cảnh khó khăn do thất nghiệp [15]

35.4%

64.6%

Đầu tƣ xây dƣng, sửa chữa nhà của và mua sắm

Đầu tƣ sản xuất kinh doanh

Biểu đồ 1.1 Cách thức sử dụng tiền của người dân

sau khi nhận tiền bồi thường, hỗ trợ

Qua đồ thị trên ta thấy rằng người bị thu hồi đất sau khi nhận tiền bồi thường chủ yếu sử dụng vào mục đích xây dựng nhà cửa, mua săm đồ dùng sinh hoạt, chưa quan tâm đầu tư cho sản xuất kinh doanh tạo việc làm ổn định

Trang 28

cho minh sau khi bị thu hồi đất

Như vậy nông nghiệp vẫn là chỗ dựa của phần lớn số hộ bị mất đất số lao động bị mất việc làm do mất đất nhiều như Hà Tây 35.703 người, Vĩnh Phúc 22.800 người, Nam Định 4.130 người, Hải Dương 9.357 người Thực trạng này dẫn đến 53% số hộ dân bị thu hồi có thu nhập giảm so với trước đây, chỉ có khoảng 13% số hộ có thu nhập cao hơn trước [20]

Trước khi bị thu hồi đất, phần lớn người dân có cuộc sống ổn định vì

họ có đất sản xuất và được để thừa kế từ thế hệ này cho các thế hệ sau Sau khi bị thu hồi đất, đặc biệt đối với hộ nông dân bị thu hồi hết đất sản xuất, điều kiện sống và sản xuất của họ bị thay đổi hoàn toàn Mặc dù nông dân được bồi thường giá trị QSD đất bằng tiền, song họ vẫn chưa định hướng ngay được những ngành nghề hợp lý để có thể ổn định được cuộc sống Sau khi bị thu hồi đất, chỉ có 32,3% số hộ đánh giá là đời sống có tốt hơn trước, 42,3% số hộ cho rằng đời sống không cải thiện, số hộ còn lại khẳng định đời sống của họ kém đi so với trước khi bị thu hồi đất Như vậy, có đến 67,7% số

hộ dân được điều tra khẳng định đời sống của họ kém đi hoặc không có gì cải thiện hơn sau khi Nhà nước thu hồi đất để chuyển sang xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới và các dự án khác về phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương [15]

Khi trả lời câu hỏi về những vấn đề cần ưu tiên nhất từ phía Nhà nước và doanh nghiệp đối với các hộ dân sau khi bị hồi đất thì có 38,4% đề nghị được thu hút vào các doanh nghiệp trên địa bàn; 22,7% đề nghị được hỗ trợ đào tạo nghề bằng tiền, số còn lại đề nghị cho vay vốn ưu đãi và các ưu tiên khác [15]

1.2.2 Công tác giải phóng mặt bằng tại tỉnh Thái Nguyên

Chỉ tính trong năm 2011, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện 216

dự án Trong đó đã giải phóng xong mặt bằng đối với 110 dự án với diện tích là 1.232ha đất, số hộ bị thu hồi đất là 8.533 hộ, số tiền bồi thường đã chi trà là 45.784 triệu đồng [1] Trong đó diện tích đất nông nghiệp thu hồi để thực hiện

dự án chiếm trên 60% diện tích thực hiện dự án

Trên địa bàn tỉnh chưa có nghiên cứu nào về đánh giá tình hình đời sống

và việc làm của người dân khi bị thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư

Trang 29

1.2.3 Những ưu, nhược điểm về tình hình giải phóng mặt bằng trong thời gian qua

1.2.3.1 Những ưu điểm

- Đối với trường hợp thu hồi đất để sử dụng vào mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh việc triển khai bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khá thuận lợi và ít gặp trở ngại từ phía người có đất bị thu hồi

- Các quy định về thu hồi đất, bồi thường, tái định cư ngày càng quan tâm nhiều hơn đến lợi ích của người có đất bị thu hồi; trình tự, thủ tục thu hồi đất ngày càng rõ ràng, minh bạch

- Nhiều địa phương đã vận dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư thỏa đáng nên việc thu hồi đất tiến hành thuân lợi ít có khiếu nại

- Việc bổ sung quy định về tự thỏa thuận giữa nhà đầu tư cần đất với người

sử dụng đất đã giảm sức ép từ các cơ quan hành chính trong việc thu hồi đất

1.2.3.2 Những mặt thiếu sót, yếu kém và vướng mắc

- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện sở hữu toàn dân về đất đai và quyền của người sử dụng đất được pháp luật công nhận Đặc biệt là trong việc định giá đất để bồi thường thường thấp hơn giá thị trường

- Chưa giải quyết tốt việc làm cho người có đất bị thu hồi, nhất là đối với nông dân không còn hoặc còn ít đất sản xuất nông nghiệp

- Chưa giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa nhà đầu tư cần sử dụng đất với người có đất bị thu hồi Việc quy định giá đất quá thấp so với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường có tác động khuyến khích nhà đầu tư nhưng lại gây thiệt hại cho người bị thu hồi đất, gây khiếu kiện làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, an toàn xã hội

- Tiền bồi thường đất nông nghiệp thường không đủ để chuyển sang làm ngành nghề khác Những trường hợp bị thu hồi đất ở thì tiền bồi thường trong nhiều trường hợp không đủ để nhận chuyển nhượng lại đất ở tương

Trang 30

đương hoặc nhà ở mới tại khu tái định cư

- Việc xác định tính hợp pháp về quyền sử dụng đất để tính toán mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đang là một vấn đề phức tạp trong thực tế Mặt khác, việc áp dụng pháp luật để xác định đối tượng được bồi thường ở các địa phương

để giải quyết vấn đề này cũng khác nhau, nhiều trường hợp mang tính chủ quan, không công bằng trong xử lý giữa những trường hợp có cùng điều kiện

- Tại nhiều dự án quy trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để GPMB chưa đúng trình tự, thủ tục từ khi công khai quy hoạch, thông báo kế hoạch, quyết định thu hồi, cho tới khâu cưỡng chế v.v…

- Thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế hoặc xây dựng công trình công cộng nhưng sau đó lại quyết định chuyển mục đích sử dụng vào sang xây dựng nhà ở hoặc phân lô bán nền

- Nhiều dự án chưa có khu tái định cư đã thực hiện thu hồi đất ở Nhìn chung các địa phương chưa coi trọng việc lập khu tái định cư chung cho các

dự án tại địa bàn, một số khu tái định cư đã xây dựng nhưng không bảo đảm điều kiện tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ, có trường hợp người có đất bị thu hồi phải đi thuê nhà ở 5 năm nay mà vẫn chưa được bố trí vào khu tái định cư

- Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thay đổi thường xuyên theo hướng có lợi cho người bị thu hồi đất Có trường hợp trong cùng một

dự án có mức bồi thường khác nhau (do sự phân kỳ đầu tư) đã dẫn tới sự so

bì và khiếu kiện kéo dài của người có đất bị thu hồi Vì vậy việc GPMB gặp nhiều khó khăn, không bảo đảm tiến độ

- Một số địa phương thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành; chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích cho nhân dân hiểu rõ quy định của pháp luật; né tránh, thiếu cương quyết, không giải quyết dứt điểm, làm cho việc GPMB bị dây dưa kéo dài nhiều năm

- Đội ngũ cán bộ làm công tác bồi thường, GPMB còn thiếu kinh nghiệm, chưa am hiểu sâu chính sách, pháp luật về đất đai, lúng túng trong

Trang 31

việc giải thích chính sách pháp luật cho nhân dân, thậm chí làm trái quy định của pháp luật, dẫn tới khiếu nại, có trường hợp phải tạm dừng việc GPMB

- Nhiều nhà đầu tư không đủ năng lực tài chính để để thực hiện dự án như: không đủ tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất bị thu hồi dẫn đến tình trạng “dự án treo” đã ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân vùng dự án

- Cá biệt có trường hợp được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đúng pháp luật, thoả đáng nhưng người bị thu hồi đất do không hiểu pháp luật hoặc cố ý trì hoãn để được bồi thường hỗ trợ thêm nên không chấp hành quyết định thu hồi đất, thậm chí liên kết khiếu nại đông người, gây áp lực với cơ quan nhà nước Trong khi đó, cơ chế về giải quyết đơn thư khiếu nại còn nhiều bất cập

đã làm cho việc giải quyết khiếu nại kéo dài, gây ách tắc việc GPMB

1.2.4 Một số khó khăn hạn chế chung trong quá trình thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp và các công trình công cộng

- Diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi hầu hết là vùng đất tốt, có điều kiện thuận lợi cho canh tác, trong khi các diện tích đất đền bù là đất xấu, cách

xa khu dân cư và điều kiện hạ tầng phục vụ sản xuất còn nhiều khó khăn [20]

- Việc xác định giá đền bù đất cũng như tài sản trên đất chưa phù hợp với giá thị trường và giá đất tại khu tái định cư

- Một số địa phương quy hoạch các khu công nghiệp, khu đô thị theo phong trào; hoặc phát triển công nghiệp, dịch vụ bằng mọi cách mà chưa chú

ý đúng mức đến tác động tiêu cực đối với người dân [20]

- Tình trạng quy hoạch “treo”, quy hoạch các khu đô thị, khu công nghiệp tràn lan là khá phổ biến Quá trình quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng cũng như thẩm định các phương án sử dụng đất và xây dựng phương án bồi thường chưa thực sự khoa học, thiếu sự tham gia đầy đủ của các ngành, các tổ chức có liên quan hoặc đại diện cho quyền lợi của người dân [20]

- Thời gian thu hồi đất, GPMB kéo dài đã ảnh hưởng đến tâm lý cũng như việc ổn định đời sống và việc làm của các hộ dân nằm trong diện bị thu

Trang 32

hồi đất Các yếu tố lạm phát hầu như chưa được tính đến trong định giá đất bù cho người dân

- Công tác tuyển dụng lao động tại các địa phương có đất bị thu hồi chưa hiệu quả Do lao động nông nghiệp nhìn chung không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp Hầu hết các lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khi đất sản xuất bị thu hồi: chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 13%) [18]

- Trong quá trình bồi thường, hỗ trợ tái định cư, nhiều nơi lại thiên về bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư mà chưa cân đối quyền lợi với người dân bị thu hồi đất

1.2.5 Nghiên cứu trong nước về bồi thường, giải phóng mặt bằng

1.2.5.1 Việc áp dụng, thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng

Chính sách thu hồi đất, bồi thường, GPMB phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích quôc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế được Luật Đất đai năm

2003 quy định, cụ thể hóa các quy định đó nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành như đã nêu ở mục 2.1.6.3 nói trên Theo các quy định mới của hệ thống pháp luật, vấn đề con người được đặt lên hàng đầu khi Nhà nước thu hồi đất Người sử dụng đất hợp pháp bị thu hồi được bồi thường giá trị QSD đất và tài sản trên đất để ổn định cuộc sống, và phát triển sản xuất Tuy nhiên cũng còn những bất cập về mặt từ phía các chủ thể, là một trong những nguyên nhân chính của tình trạng khiếu kiện gia tăng trong lĩnh vực đất đai hiện nay Hậu quả thu hồi đất thấp, nhiều dự án bị chậm tiến độ do không giải phóng được mặt bằng là

áp lực kìm hãm phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều địa phương trong cả nước

1.2.4.2 Giá đất áp dụng trong bồi thường, giải phóng mặt bằng

Việc xác định giá đất để bồi thường có ảnh hưởng lớn đến đời sống và thu nhập của người bị thu hồi đất Tuy nhiên trong thực tế giá đất để bồi thường thường thấp hơn giá chuyển nhượng thực tế trong điều kiện bình thường Đây là một trong những nguyên nhân của nhiều trường hợp khiếu kiện về đất đai

1.2.5.3 Về tình hình đời sống việc làm của các hộ dân có đất bị thu hồi

Trang 33

* Tình hình chung

Để thực hiện các dự án đầu tư những năm gần đây đã phải thu hồi một diện tích lớn đất nông nghiệp sang xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới và các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật…Việc thu hồi đất nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, việc làm của người dân bị thu hồi

Do bị thu hồi đất sản xuất nên một bộ phận lao động nông nghiệp bị thiếu việc làm hoặc không có việc làm dẫn đến hậu quả: Tỷ lệ hộ đói nghèo giảm so với chi tiêu, phân bố giàu nghèo rõ rệt, theo đánh giá của BNN&PTNT đến nay trên cả nước, việc làm của các hộ bị thu hồi đất chủ yếu dựa vào SXNN (chiếm tới 60%), hộ làm dịch vụ 9,0%, hộ công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm 6,0% hộ xây dựng và thương nghiệp chiếm 2% [32] Những năm gần đây, trong tổng số lao động bị mất đất sản xuất khu vực nông thôn, cả nước

có khoảng 280.000 người di cư từ nông thôn đến các đô thị để tìm kiếm việc làm (chưa tính đến 85 vạn người bổ sung cho lực lượng lao động SXNN hàng năm) Trong khi đó, mỗi năm Việt Nam mất khoảng 73.300 ha đất nông nghiệp

để xây dưng các khu công nghiệp, công trình giao thông tuy chiếm tỷ lệ nhỏ

so với tổng quỹ đất và lao động hiện có nhưng kéo theo sự chuyển dịch lao động, dân cư về tập trung tại các khu công nghiệp, khu kinh tế [18]

* Về khó khăn trong việc giải quyết việc làm cho lao động các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp

Một số khó khăn thường gặp đó là:

- Người dân chưa kịp chuẩn bị để kiếm một nghề mới khi đột ngột mất đất, mất việc làm Bản thân họ do chưa được đào tạo chuyên môn nên ít có khả năng tìm việc làm mới để đảm bảo thu nhập Tình trạng thất nghiệp toàn phần và thất nghiệp một phần rất gay gắt Đa số thanh niên các vùng bị thu hồi đất nông nghiệp có trình độ văn hóa thấp, trong khi để có việc làm chắc chắn trong các doanh nghiệp, phần lớn phải có trình độ từ phổ thông trung học và được đào tạo nghề phù hợp

Trang 34

- Số tiền hỗ trợ chuyển đổi ngành nghề chỉ đủ tham gia một khóa đào tạo ngắn hạn với ngành nghề đơn giản

- Các doanh nghiệp có xu hướng tuyển dụng lao động trẻ khỏe, những lao động lớn tuổi (trên 35 thậm chí từ 26-35 tuổi) chưa qua đào tạo rất khó tìm việc làm trong khi, đa số họ là người có trách nhiệm chính nuôi sống gia đình Đây là bộ phận đứng trước nguy cơ thất nghiệp lớn nhất

- Người lao động còn thụ động, trông chờ vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước, vào tiền đền bù; tâm lý chờ nhận sự ưu đãi của Nhà nước xẩy ra khá phổ biến ở các vùng bị thu hồi đất nông nghiệp

Nhiều địa phương đã quy định các doanh nghiệp sử dụng đất phải có trách nhiệm sử dụng lao động tại chỗ bị mất việc làm do thu hồi đất nông nghiệp Nhưng nhiều Doanh nghiệp chưa quan tâm nhiều đến vấn đề này Tình trạng quy hoạch “treo”, hoặc chủ đầu tư nhận đất nhưng không triển khai dự án dẫn đến mất đất mà không có việc làm, còn doanh nghiệp không thu hút được lao động vào làm việc khá phổ biến

Có thể nói, hầu hết các địa phương đều xác định được những khó khăn nêu trên Nhận thức là như vậy nhưng trong thực tế, chính quyền Nhà nước ở địa phương chủ yếu vẫn áp dụng phương thức bồi thường bằng tiền Việc làm cho nông dân bị thu hồi đất vẫn đang là bài toán chưa có lời giải

* Một số đề tài nghiên cứu về tình hình đời sống việc làm của các hộ dân có đất bị thu hồi

- Trường Đại học kinh tế quốc dân phối hợp với một số Bộ, ngành có liên quan thực hiện đề tài cấp Nhà nước “Thực trạng thu nhập, đời sống, việc làm của người có đất bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, nhu cầu công cộng và lợi ích quốc gia

- Năm 2005, Bộ TN&MT đã tiến hành khảo sát về tình hình sử dụng đất nông nghiệp xây dựng các khu công nghiệp và đời sống việc làm của người có đất bị thu hồi Đây mới chỉ là khảo sát sơ bộ, tập trung vào việc thu hồi đất để

Trang 35

phát triển các khu công nghiệp Đề án được triển khai trên địa bàn 15 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

- Năm 2008, Bộ TN&MT đã tiến hành điều tra khảo sát, đánh giá công tác Bồi thường, GPMB và giải quyết việc làm cho người sử dụng đất bị thu hồi đất sản xuất ở một số tỉnh, huyện thuộc các vùng kinh tế trọng điểm [14]

1.2.6 Nhận xét chung về công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và đời sống, việc làm của người dân khi Nhà nước thu hồi đất

- Bồi thường, GPMB khi thu hồi đất hoặc trưng thu đất là vấn đề không thể tránh khỏi trong mọi giai đoạn phát triển của bất kỳ quốc gia nào

- Bồi thường, GPMB là vấn đề nhạy cảm, phức tạp, việc thực hiện chính sách bồi thường, GPMB tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội

- Một trong những vấn đề cơ bản để phát triển kinh tế- xã hội và môi trường bền vững là đảm bảo ổn định cuộc sống cho người dân bị thu hồi đất

để phát triển công nghiệp và đô thị

- Chưa có công trình nghiên cứu cụ thể về tác động của việc thực hiện chính sách bồi thường, GPMB đến đời sống và việc làm của người dân khi bị Nhà nước thu hồi đất

Từ đó cần phải nghiên cứu sâu rộng hơn nữa về tác động của việc thực hiện chính sách bồi thường, GPMB đến đời sống và việc làm của người dân khi bị Nhà nước thu hồi đất

Trang 36

Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm nghiên cứu

Đề tài được tiến hành trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên

2.2 Đối tượng nghiên cứu

- Chính sách bồi thường, GPMB của 02 dự án: Nhà máy May TNG và Khu Điềm Thụy và ảnh hưởng của chính sách bồi thường, GPMB tới đời sống, việc làm của người dân khi Nhà nước thu hồi đất (Phụ lục 1 kèm theo)

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Phú Bình 2.3.2 Nghiên cứu tình hình sử dụng đất và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất 2.3.3 Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện tại 02 dự án

2.3.4 Tình hình đời sống việc làm của người dân trước và sau khi bị Nhà nước thu hồi đất để thực hiện tại 02 dự án

2.3.5 Đề xuất các giải pháp cần thực hiện trong thời gian tới nhằm ổn định

và nâng cao đời sống của người dân có đất bị thu hồi cả trong hiện tại và tương lai

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp điều tra cơ bản

- Thông tin số liệu thứ cấp: Thu thập các số liệu thứ cấp về điều kiện đất đai (đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình, tình hình sử dụng đất ); điều kiện kinh tế, xã hội (thực trạng phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ) tại UBND huyện Phú Bình, các phòng ban chuyên môn của huyện

- Thông tin số liệu thứ cấp: Điều tra các thông tin hiện trạng sử dụng đất bằng phương pháp điều tra nhanh nông thôn và điều tra có sự tham gia của người dân Những thông tin bao gồm nhưng vấn đề có liên quan: tình hình sử dụng đất đai, các loại hình sử dụng đất, các chỉ tiêu về kinh tế, xã hội, môi trường liên quan đến số liệu và những yếu tố ảnh hưởng, trở ngại tới quá trình

sử dụng đất

- Điều tra phỏng vấn trực tiếp hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi cần

Trang 37

đảm bảo thoả mãn các tiêu chí sau:

+ Là các hộ dân có đất nông nghiệp bị thu hồi thuộc 02 dự án nêu trên; + Được chọn ngẫu nhiên trong số các hộ bị Nhà nước thu hồi đất để thực hiện 02 dự án; Được trực tiếp phỏng vấn có sự chứng kiến của đại diện UBND

xã, thị trấn

Thông qua lãnh đạo UBND thị trấn Hương Sơn, UBND các xã Kha Sơn, Điềm Thuy và cán bộ địa chính xã, trưởng xóm; trên cơ sở các tiêu chí đặt ra phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài, số lượng các hộ dân được lựa chọn để điều tra như sau:

- Dự án xây dựng Nhà máy may TNG tại thị trấn Hương Sơn và xã Kha Sơn là: 160 hộ/174 hộ bị thu hồi (chiếm 91,95%)

- Dự án xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu công nghiệp Điềm Thụy tại xã Điềm Thụy: 30 hộ/87 hộ bị thu hồi (bằng 100% số hộ được Chủ đầu tư đã chi trả tiền bồi thường)

2.4.3 Phương pháp chuyên gia

Sử dụng ý kiến của các chuyên gia tư vấn, các nhà quản lý về lĩnh vực quy hoạch và quản lý sử dụng đất, các nhà quản lý tài chính Đánh giá mức độ tác động (xếp hạng) theo ý kiến chuyên gia

2.4.4 Phương pháp tổng hợp, so sánh, đánh giá

Sau khi thu thập toàn bộ những thông tin, số liệu được kiểm tra, độ chính xác đại diện, đảm bảo độ tin cậy Xử lý, tính toán thông qua các bảng biểu thống kê, đồ thị để so sánh đáng gia và rút ra kết luận

2.4.5 Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu liên quan đến đề tài

Sử dụng tài liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu để tham khảo đánh giá so với 02 dự án nêu trên

Trang 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cảnh quan môi trường

3.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Phú Bình là huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên, nằm ở phía nam của tỉnh Trung tâm huyện Phú Bình cách trung tâm huyện Thái Nguyên khoảng 25km, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 70 km Có tọa độ địa lý

từ 21023’33’’ đến 21035’22’’ vĩ độ Bắc; 105051’30’’ đến 106003’10’’ kinh độ Đông Có vị trí:

- Phía Đông giáp huyện Yên Thế và huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang;

- Phía Tây giáp huyện Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên;

- Phía Nam giáp huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang;

- Phía Bắc giáp huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên;

Huyện Phú Bình có 21 đơn vị hành chính gồm: (20 xã và 01 thị trấn) được chia làm 3 vùng: vùng núi, vùng kênh hồ Núi Cốc, vùng Sông Đào Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 251,7149 km2, dân số là 136.883 người Phú Bình là huyện có vị trí quan trọng và thuận lợi, có khả năng giao lưu kinh tế xã hội và giao lưu hàng hóa với các tỉnh, huyện và các huyện trong tỉnh tạo mối quan hệ vùng và hợp tác đầu tư thúc đẩy kinh tế phát triển [5]

3.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Phú Bình thuộc nhóm địa hình đồng bằng và nhóm địa hình gò đồi Nhóm địa hình đồng bằng, kiểu đồng bằng aluvi, rìa đồng bằng Bắc Bộ, với

độ cao địa hình 10-15m Kiểu địa hình đồng bằng xen lẫn đồi núi thoải dạng bậc thềm cổ có diện tích lớn hơn, độ cao địa hình vào khoảng 20-30m và phân

bố dọc sông Cầu [5]

3.1.1.3 Khí hậu

* Nhiệt độ:

Trang 39

Nhiệt độ trung bình năm của huyện Phú Bình khoảng 23,1o

C – 24,4oC Nhiệt độ cao nhất trong năm là vào giữa tháng 6, tháng 7 có thể lên đến 38o

C Biên độ nhiệt độ thay đổi có khi đến 13,7oC Nhiệt độ thấp nhất trung bình năm vào tháng 12, tháng 01 là khoảng 11oC, lạnh nhất có thể đến dưới 9o

C [5]

* Chế độ mưa:

Tổng lượng mưa bình quân năm là 2332,3 mm; mưa tập trung nhiều nhất vào các tháng mùa mưa lượng mưa (350 - 400mm/ tháng), chiếm tới 70%-80% tổng lượng mưa (Tháng 6,7,8,9) Lượng mưa thấp nhất vào các tháng mùa khô (16,5mm - 31,3 mm/tháng) chỉ chiếm 20%-30%, tổng lượng mưa tháng (10,11,12,1) Mưa lớn kéo dài thường gây ngập úng cục bộ, mưa không đúng thời vụ lại ảnh hưởng tới thời vụ gieo trồng, mưa ít lại gây thiếu nước cho đồng ruộng [5]

* Độ ẩm không khí:

Độ ẩm không khí trung bình năm là khoảng 81-82%, cao nhất là 80% - 90% vào các tháng mùa mưa (tháng 6,7,8), thấp nhất là 30% - 60% vào mùa khô từ tháng 11,12 [5]

3.1.1.4 Thuỷ văn

Trên địa bàn huyện có các sông chính gồm: sông Cầu, sông Máng (sông Đào) và hệ thống kênh mương Hồ Núi Cốc, trong đó sông Cầu là con sông lớn nhất tỉnh Thái Nguyên nằm trong hệ thống sông Thái Bình có lưu vực rộng 6.030 km2 bắt nguồn từ huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Đoạn chảy qua huyện Phú Bình có chiều dài khoảng 29km, chiều rộng trung bình từ 100 - 200 m với nhiều uốn khúc, các bãi khá lớn Lưu lượng nước mùa mưa là 3.500 m3

/s, mùa khô là 7,5 m3/s [5]

3.1.1.5 Tài nguyên đất đai của huyện

Theo tài liệu thổ nhưỡng tỉnh Thái Nguyên và huyện Phú Bình đất đai huyện có đặc điểm thổ nhưỡng chủ yếu thuộc 4 nhóm chính là: nhóm đất phù sa, nhóm đất cát, nhóm đất dốc tụ, nhóm đất đỏ vàng - nâu vàng gồm:

Trang 40

* Nhóm đất phù sa: Có diện tích khoảng 3484,8 ha, chiếm khoảng 13,84%

tổng diện tích tự nhiên của huyện, phân bố ở các xã ven sông Cầu như Xuân Phương, Úc Kỳ, Nhã Lộng, Nga My, Hà Châu và một phần các xã: Bảo Lý, Đào Xá, Đồng Liên [5]

* Nhóm đất cát: Đất cát sông Cầu có diện tích khoảng 12,20 ha, chiếm

0,05% diện tích tự nhiên [5]

* Nhóm đất dốc tụ (đất thung lũng dốc tụ): Đất dốc tụ trồng lúa nước không

bạc mầu, đất dốc tụ trồng lúa nước bạc mầu, đất thung lũng không trồng lúa nước Có diện tích khoảng 6.134 ha chiếm 24,4 % diện tích tự nhiên, tập trung tại các xã: Tân Hòa, Tân Đức, Điềm Thụy [5]

* Nhóm đất nâu vàng đỏ vàng (Đại diện cho đất khu vực gò đồi):

Có diện tích khảng 15.305 ha, chiếm 60,8 % diện tích tự nhiên của huyện tập trung chủ yếu tại các xã: Tân Kim, Tân Khánh, Đồng Liên [5]

* Về môi trường nước

Qua kết quả quan trắc các điểm đo: Cầu Mây, xã Nhã Lộng (nước sông Cầu); xã Điềm Thụy (nước dưới đất) trong những năm gần đây, áp dụng tiêu chuẩn TCVN 5944 - 1995 cho thấy chất lượng nước sông Cầu và nước dưới đất ở Huyện Phú Bình chất lượng tốt, chưa có biểu hiện của sự ô nhiễm

* Môi trường không khí

Nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí chủ yếu của huyện là do hoạt động của các CSSX công nghiệp, KCN, khu TTCN, phương tiện giao thông phát sinh khí thải (SO2, NOx, CO2, CO, CXHy), bụi và tiếng ồn

3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Cơ cấu kinh tế

Ngày đăng: 15/11/2014, 22:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), Báo cáo kiểm tra thi hành Luật đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kiểm tra thi hành Luật đất đai
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2007
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), Hội nghị kiểm điểm công tác quản lý nhà nước về Tài nguyên và Môi trường 27/02/2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị kiểm điểm công tác quản lý nhà nước về Tài nguyên và Môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2007
4. CARE Quốc tế tại Việt Nam- Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (2005), Quản lý và sử dụng đất đai ở nông thôn Miền Bắc nước ta, NXB Lao động- xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và sử dụng đất đai ở nông thôn Miền Bắc nước ta
Tác giả: CARE Quốc tế tại Việt Nam- Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Nhà XB: NXB Lao động- xã hội
Năm: 2005
5. Cổng thông tin điện tử Thái Nguyên (2010). Các nguồn lực và điều kiện phát triển huyện Phú Bình, http://www.thainguyen.gov.vn, ngày 09/11/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguồn lực và điều kiện phát triển huyện Phú Bình
Tác giả: Cổng thông tin điện tử Thái Nguyên
Năm: 2010
7. Chính phủ (1998), Nghị định số 22/1998/NĐ-CP 8. Chính phủ (2004), Nghị định số 197/2004/NĐ-CP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 22/1998/NĐ-CP "8. Chính phủ (2004)
Tác giả: Chính phủ (1998), Nghị định số 22/1998/NĐ-CP 8. Chính phủ
Năm: 2004
13. Nguyễn Thị Dung (2009), Chính sách đền bù khi thu hồi đất của một số nước trong khu vực và Việt Nam, http://www.tapchicongsan.org.vn, ngày 10/6/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đền bù khi thu hồi đất của một số nước trong khu vực và Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Dung
Nhà XB: tapchicongsan.org.vn
Năm: 2009
14. Trần Văn Đông (2012), Đất và nghề: nhu cầu bức thiết của nông dân, http://www.tapchicongsan.org.vn, ngày 5/3/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất và nghề: nhu cầu bức thiết của nông dân
Tác giả: Trần Văn Đông
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2012
16. Phạm Thanh Hương (2007), Ổn định đời sống nông dân sau thu hồi đất, http://www.monre.gov.vn, ngày 05/7/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ổn định đời sống nông dân sau thu hồi đất
Tác giả: Phạm Thanh Hương
Năm: 2007
18. Nguồn TTXVN (2007), Tình hình thu hồi đất của nông dân để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và các giải pháp phát triển, http://www.tapchicongsan.org.vn, ngày 11/7/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thu hồi đất của nông dân để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và các giải pháp phát triển
Tác giả: Nguồn TTXVN
Nhà XB: tapchicongsan.org.vn
Năm: 2007
19. Ngân Truyền (2008), Khi “bờ sôi ruông mật” biến thành khu công nghiệp, http://www.anninhthudo, ngày 24/3/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi “bờ sôi ruông mật” biến thành khu công nghiệp
Tác giả: Ngân Truyền
Nhà XB: anninhthudo
Năm: 2008
20. Phùng Văn Nghệ (2012), Công tác quản lý đất đai – những vấn đề đang đặt ra, http://www.tapchicongsan.org.vn, ngày 14/3/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác quản lý đất đai – những vấn đề đang đặt ra
Tác giả: Phùng Văn Nghệ
Năm: 2012
25. Quốc hội (1988), Luật đất đai năm 1988, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai năm 1988
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1988
26. Quốc hội (1993), Luật đất đai năm 1993, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai năm 1993
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
27. Quốc hội (1998), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai (1998), NXB Bản đồ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai (1998)
Tác giả: Quốc hội (1998), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai
Nhà XB: NXB Bản đồ
Năm: 1998
28. Quốc hội (2001), Luật sửa đồi, bổ sung một số điều của Luật đất đai (2001), NXB Bản đồ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đồi, bổ sung một số điều của Luật đất đai (2001)
Tác giả: Quốc hội (2001), Luật sửa đồi, bổ sung một số điều của Luật đất đai
Nhà XB: NXB Bản đồ
Năm: 2001
29. Quốc hội (2003), Luật đất đai năm 2003, NXB Bản đồ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật đất đai năm 2003
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: NXB Bản đồ
Năm: 2003
32. Bùi Ngọc Thanh (2009). Việc làm cho hộ nông dân thiếu đất sản xuất – vấn đề và giải pháp, http://www.tapchicongsan.org.vn, ngày 12/3/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc làm cho hộ nông dân thiếu đất sản xuất – vấn đề và giải pháp
Tác giả: Bùi Ngọc Thanh
Nhà XB: tapchicongsan.org.vn
Năm: 2009
33. Viện Nghiên cứu Địa chính (2008), Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài Điều tra nghiên cứu xã hội học về chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài Điều tra nghiên cứu xã hội học về chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư
Tác giả: Viện Nghiên cứu Địa chính
Năm: 2008
6. Chính sách thu hút đầu tư vào thị trường Bất động sản Việt Nam (2006), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
17. Tôn Gia Huyên, Nguyễn Đình Bồng (2006), Quản lý đất đai và Thị trường đất đai, NXB Bản đồ, Trung tâm điều tra quy hoach- Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.3. So sánh giá bồi thường, hỗ trợ và giá chuyển nhượng trên  thị trường - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.3. So sánh giá bồi thường, hỗ trợ và giá chuyển nhượng trên thị trường (Trang 50)
Bảng 3.4. Tổng hợp bồi thường về đất đai - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.4. Tổng hợp bồi thường về đất đai (Trang 56)
Bảng 3.6. Kết quả phỏng vấn chi tiết về thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.6. Kết quả phỏng vấn chi tiết về thu hồi đất và bồi thường hỗ trợ (Trang 65)
Bảng 3.7. Phương thức sử dụng tiền các hộ dân thuộc tại Nhà máy may TNG - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.7. Phương thức sử dụng tiền các hộ dân thuộc tại Nhà máy may TNG (Trang 66)
Bảng 3.8. Phương thức sử dụng tiền của các hộ dân tại Khu Điềm Thụy - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.8. Phương thức sử dụng tiền của các hộ dân tại Khu Điềm Thụy (Trang 68)
Bảng 3.10. Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.10. Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân (Trang 71)
Bảng 3.11. Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân bị thu hồi đất - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.11. Tình hình lao động và việc làm của các hộ dân bị thu hồi đất (Trang 73)
Bảng 3.13.  Kết quả phỏng vấn về học vấn, giáo dục tại dự án Khu Điềm Thụy - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.13. Kết quả phỏng vấn về học vấn, giáo dục tại dự án Khu Điềm Thụy (Trang 76)
Bảng 3.14. Tài sản sở hữu của các hộ điều tra phỏng vấn - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.14. Tài sản sở hữu của các hộ điều tra phỏng vấn (Trang 77)
Bảng 3.15. Tài sản sở hữu của các hộ điều tra phỏng vấn - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.15. Tài sản sở hữu của các hộ điều tra phỏng vấn (Trang 78)
Bảng 3.17: Tình hình thu nhập của các hộ sau khi bị thu hồi đất - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.17 Tình hình thu nhập của các hộ sau khi bị thu hồi đất (Trang 79)
Bảng 3.18. Thu nhập bình quân/năm phân theo nguồn thu Dự án Nhà - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.18. Thu nhập bình quân/năm phân theo nguồn thu Dự án Nhà (Trang 80)
Bảng 3.20. Thu nhập bình quân 1 năm phân theo nguồn thu - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.20. Thu nhập bình quân 1 năm phân theo nguồn thu (Trang 81)
Bảng 3.19.  Tình hình thu nhập của các hộ sau khi bị thu hồi đất - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.19. Tình hình thu nhập của các hộ sau khi bị thu hồi đất (Trang 81)
Bảng 3.22. Tình hình an ninh trật tự xã hội của người dân sau khi thu hồi đất - Đánh giá ảnh hưởng của chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng đến đời sống và việc làm của người dân khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
Bảng 3.22. Tình hình an ninh trật tự xã hội của người dân sau khi thu hồi đất (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w