1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 đến 2010

107 523 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 3,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu tổng quát Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 - 2010 để thấy được những việc đã làm tốt

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN QUÝ TUYÊN

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC QUY HOẠCH,

KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH

TUYÊN QUANG GIAI ĐOẠN 2005 - 2010

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Trang 2

điều, từ Điều 21 đến Điều 30 quy định về nguyên tắc, nội dung, trình tự, thẩm quyền lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp [8]

Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của quy hoạch sử dụng đất, nhiều địa phương trong cả nước đã nghiêm túc tổ chức triển khai công tác này Đến nay, đã có 64/64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (100%), 531/681 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (77,97%) và 7.576/11.074

xã, phường, thị trấn (68,41%) hoàn thành công tác lập quy hoạch sử dụng đất Nhiều địa phương đã và đang triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đến năm

2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu giai đoạn 2011 - 2015 [3]

Về mặt số lượng có thể thấy việc lập quy hoạch sử dụng đất đã được triển khai trên diện rộng và khá đồng bộ, đặc biệt là ở cấp tỉnh và cấp huyện Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân dẫn đến công tác lập quy hoạch, tổ chức triển khai thực hiện, quản lý và giám sát quy hoạch ở nhiều địa phương chưa được quan tâm đúng mức; kết quả của nhiều dự án quy hoạch đạt được là rất

thấp; tình trạng quy hoạch “treo”, quy hoạch “ảo” xuất hiện ở đâu đó đang là

tâm điểm chú ý của dư luận xã hội

Thực hiện Luật Đất đai 2003; Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Thị xã Tuyên Quang (nay là thành phố Tuyên Quang) đã lập quy hoạch sử dụng đất

Trang 3

đến năm 2010 và được Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang phê duyệt tại Quyết định số 368/QĐ-UBND ngày 08/7/2008 Đến nay đã qua thời gian thực hiện của kỳ quy hoạch nhưng cũng cần có những nghiên cứu, đánh giá, nhìn nhận lại một cách toàn diện hiệu quả của phương án quy hoạch sử dụng đất, đồng thời chỉ ra những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân và giải pháp khắc phục cho quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu giai đoạn 2011 - 2015; đảm bảo cho quỹ đất đai của thành phố Tuyên Quang được quản lý chặt chẽ, khai thác có hiệu quả và bền vững

Xuất phát từ những vấn đề trên, việc thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 - 2010” là cần thiết

2 Mục tiêu của đề tài

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 - 2010 để thấy được

những việc đã làm tốt trong công tác quản lý và thực hiện quy hoạch cũng như những việc chưa làm được trong công tác này của thành phố Tuyên Quang, đồng thời chỉ ra những khó khăn, tồn tại và đề xuất giải pháp khắc phục

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá được việc quản lý quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2005 -

1010 của thành phố Tuyên Quang;

- Đánh giá được việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2005 - 1010 của thành phố Tuyên Quang;

- Đánh giá được hiệu quả của việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2005 - 1010 của thành phố Tuyên Quang

3 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá phải chính xác, khách quan;

Trang 4

- Đánh giá theo nhiều góc độ khác nhau: Theo sự chu chuyển các loại đất; theo số liệu thứ cấp, số liệu sơ cấp;

- Các giải pháp đề xuất phải phù hợp với thực tế ở địa phương và có tính khả thi cao

4 Ý nghĩa của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Góp phần bổ sung kiến thức về cơ sở lý luận quy hoạch ; quản lý quy hoạch nâng cao nhận thức về nội dung , phương pháp đánh giá kế t quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của một đơn vị hành chính cấp huyện;

- Tạo lập cơ sở khoa học cho việc đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực thi quy hoạch sử dụng đất của một đơn vị hành chính cấp huyện trong hệ thống quy hoạch sử dụng đất của nước ta

4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Làm tài liệu tham khảo phục vụ cho các nhà quản lý ở thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang nâng cao hiệu quả quản lý , giám sát và tổ chức triển khai thực hiện quy hoạch sử dụng đất của thành phố

Trang 5

Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

Việc đánh giá, tổng kết một nội dung công việc cụ thể được thực hiện ở giai đoạn trước là thực sự cần thiết Bởi vì, tổng kết và đánh giá mặt đạt được

và mặt còn tồn tại, hạn chế cho phép chúng ta rút ra kinh nghiệm và đề ra những mục tiêu, kế hoạch để tiếp tục thực hiện trong giai đoạn tiếp theo đảm bảo tính hiệu quả và sát với thực tế Trong quản lý đất đai cũng vậy, khi lập quy hoạch sử dụng đất phải đánh giá việc quản lý và thực hiện quy hoạch ở giai đoạn trước

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số

181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ Việc đánh giá công tác quản lý và kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất được báo cáo định kỳ hàng năm Tổng kết công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở để triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho giai đoạn tiếp theo

Thành phố Tuyên Quang đang trên đà phát triển, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của thành phố thời kỳ 2005 - 2010 đặc biệt chú trọng đến việc phát triển công nghiệp - dịch vụ, hạ tầng cơ sở, phấn đấu đưa thị xã Tuyên Quang trở thành đô thị loại III và thành phố trực thuộc tỉnh như hiện nay Điều này cho thấy việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010 của thành phố trở nên khó khăn và nhiều thách thức, đòi hỏi sự nỗ lực hết mình của toàn Đảng, toàn dân tộc trong thành phố Tuyên Quang Vì vậy, đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010 của thành phố Tuyên Quang là hết sức cần thiết

1.1.3 Cơ sở pháp lý của đề tài

Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992, tại Điều 18, chương II

đã khẳng định „„Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản

lý, Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả Nhà nước giao đất đai cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài‟‟[1]

Trang 6

Điều 13 Luật Đất đai năm 1993 nêu rõ: Quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất đai là một trong 7 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai

Điều 6, Luật Đất đai năm 2003 quy định: Quy hoạch, kế hoạch hoá việc

sử dụng đất là một trong 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai

Điều 19 Luật Đất đai năm 2003 khẳng định: “Căn cứ để quyết định giao đất, cho thuê đất là quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt”[8]

Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;

Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường Quy định việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thông tư số 06/2010/TT-BTNMT ngày 15/3/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Ban hành Định mức kinh tế, kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và Thông tư số 04/2006/TT-BTNMT ngày 22/5/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn phương pháp tính đơn giá dự toán, xây dựng dự toán kinh phí thực hiện lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

Quyết định số 669/QĐ-UBND ngày 09/12/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế -

xã hội thị xã Tuyên Quang đến năm 2020;

Các báo cáo và quy hoạch của các ngành có liên quan đến sử dụng đất trên địa bàn thành phố; Quy hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang đến

2010 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt; Quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực của tỉnh đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt

1.2 KHÁI QUÁT VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

1.2.1 Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là điều kiện vật chất chung đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động Vì vậy đất đai là “tư liệu sản xuất đặc biệt” không gì thay thế được Có nhiều quan điểm về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:

Trang 7

Theo nguồn gốc phát sinh, tác giả Docutraiep coi đất là một vật thể tự nhiên được hình thành do sự tác động tổng hợp của 5 yếu tố: Đá mẹ, khí hậu, địa hình, sinh vật và thời gian Đất được xem như một thể sống, nó luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển

Theo Fresco và ctv (1992), Quy hoạch sử dụng đất như dạng hình của quy hoạch vùng, trực tiếp cho thấy việc sử dụng đất tốt nhất về đất đai trên quan điểm chấp nhận những mục tiêu và những cơ hội về môi trường xã hội

Đây là hiện tượng kinh tế - xã hội có tính chất đặc thù Bản thân nó được coi là hệ thống các giải pháp định vị cụ thể của việc tổ chức phát triển kinh tế, xã hội trên một vùng lãnh thổ nhất định, cụ thể là đáp ứng nhu cầu mặt bằng sử dụng đất hiện tại và tương lai của các ngành, các lĩnh vực cũng như nhu cầu sinh hoạt của mọi thành viên xã hội một cách tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả cao

Kế hoạch sử dụng đất đai là cụ thể hoá quy hoạch sử dụng đất đai đến từng năm trong kỳ quy hoạch

1.2.2 Bản chất của quy hoạch sử dụng đất

Về mặt bản chất, đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh vực sử dụng đất đai (gọi là các mối quan hệ đất đai) và việc tổ chức

sử dụng đất như “tư liệu sản xuất đặc biệt” gắn chặt với phát triển kinh tế -

xã hội nên quy hoạch sử dụng đất đai là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: Kinh tế, kỹ thuật và pháp chế; trong đó:

- Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất đai;

- Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu ;

- Tính pháp chế: Xác lập tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật

Như vậy: “Quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp kinh

Trang 8

tế, kỹ thuật và pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất (các giải pháp sử dụng cụ thể), nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường”[6]

Về thực chất, quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất, thực hiện đồng thời 2 chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng

cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và môi trường

Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất đai còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo đúng mục đích, hạn chế

sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tùy tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông nghiệp (đặc biệt là diện tích đất lúa

và đất có rừng); ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm hủy hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất và các hậu quả khó lường về tình hình bất ổn định chính trị, an ninh quốc phòng ở từng địa phương

1.2.3 Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất

Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện cụ thể như sau:

1.2.3.1 Tính lịch sử - xã hội

Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử phát triển của quy hoạch

sử dụng đất đai Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất của xã hội thể hiện theo 2 mặt: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Trong quy hoạch sử dụng đất đai , luôn nẩy sinh quan hệ giữa người với đất đai cũng như quan hệ giữa người với người về quyền sở hữu và sử dụng đất đai Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện đồng thời vừa là yếu tố thúc đ ẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất

1.2.3.2 Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô

Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử dụng đất chỉ dự kiến trước các xu thế thay đổi phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô

Trang 9

1.2.3.3 Tính tổng hợp

Được biểu hiện chủ yếu ở hai mặt: Đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ toàn bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu nền kinh tế quốc dân; quy hoạch sử dụng đất đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như: Khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công nghiệp, môi trường sinh thái

1.2.3.4 Tính chính sách

Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính sách xã hội Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái

1.2.3.5 Tính dài hạn

Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh

tế xã hội quan trọng, xác định quy hoạch trung và dài hạn về sử dụng đất đai,

đề ra các phương hướng, chính sách và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn

cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất ngắn hạn Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đất để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội Cơ cấu và phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài cho đến khi đạt được mục tiêu dự kiến Thời hạn của quy hoạch

sử dụng đất đai thường từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc xa hơn

1.2.3.6 Tính khả biến

Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong những giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định Khi xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất không còn phù hợp Việc điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch là biện pháp thực hiện và cần thiết Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch, quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc "quy hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện " với chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao [5]

Trang 10

1.2.4 Các loại hình quy hoạch sử dụng đất

1.2.4.1 Quy hoạch sử dụng đất theo ngành

- Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp;

- Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp;

- Quy hoạch sử dụng đất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp;

- Quy hoạch sử dụng đất giao thông, thủy lợi…

Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành là diện tích đất đai

thuộc quyền sử dụng và diện tích dự kiến cấp thêm cho ngành (trong phạm vi ranh giới đã được xác định rõ mục đích cho từng ngành ở các cấp lãnh thổ tương ứng) Quy hoạch sử dụng đất đai giữa các ngành có quan hệ chặt chẽ

với quy hoạch sử dụng đất của vùng và cả nước [7]

1.2.4.2 Quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ

- Quy hoạch tổng thể sử dụng đất đai cả nước;

- Quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh;

- Quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện;

- Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã

Đối tượng của Quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ là toàn bộ diện tích tự nhiên của lãnh thổ Tuỳ thuộc vào cấp vị lãnh thổ hành chính, quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ sẽ có nội dung cụ thể, chi tiết khác nhau

và được thực hiện theo nguyên tắc: Từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến bộ phận, từ cái chung đến cái riêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước sau chỉnh

lý bước trước

+ Quy hoạch sử dụng đất cả nước: Được xây dựng căn cứ vào nhu cầu

của nền kinh tế - xã hội, trong đó xác định phương hướng, mục tiêu và nhiệm

vụ sử dụng đất cả nước nhằm điều hòa quan hệ sử dụng đất giữa các ngành, các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương; đề xuất các chính sách, biện pháp, điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và thực hiện quy hoạch

+ Quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh: Xây dựng căn cứ vào Quy

hoạch sử dụng đất đai toàn quốc và quy hoạch vùng; cụ thể hóa các chỉ tiêu chủ yếu của quy hoạch cả nước kết hợp với đặc điểm đất đai và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi tỉnh

+ Quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện: Được lập trên cơ sở định

Trang 11

hướng của Quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh nhằm giải quyết các mâu thuẫn

về quan hệ đất đai Căn cứ vào đặc điểm nguồn tài nguyên đất, mục tiêu dài hạn phát triển kinh tế - xã hội và các điều kiện cụ thể khác của huyện, đề xuất các chỉ tiêu và phân bổ các loại đất; xác định các chỉ tiêu định hướng về đất đai đối với quy hoạch ngành và xã, phường trên phạm vi của huyện

+ Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã: Trong quy hoạch sử dụng đất cấp

xã, vấn đề sử dụng đất được giải quyết rất cụ thể, gắn chặt với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của xã và các quan hệ ngoài xã Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã là quy hoạch vi mô, được xây dựng dựa trên khung chung các chỉ tiêu định hướng sử dụng đất cấp huyện Kết quả của Quy hoạch sử dụng đất đai cấp xã còn là cơ sở để bổ sung Quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện

và là căn cứ để giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài, để tiến hành dồn điền đổi thửa nhằm thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh cũng như các dự án cụ thể [8]

1.2.5 Mối quan hệ của quy hoạch sử dụng đất

1.2.5.1 Quan hệ giữa các loại hình quy hoạch sử dụng đất đai

Quy hoạch sử dụng đất đai cả nước và Quy hoạch sử dụng đất đai các cấp lãnh thổ hành chính địa phương cùng hợp thành hệ thống Quy hoạch sử dụng đất đai hoàn chỉnh Quy hoạch của cấp trên là cơ sở và chỗ dựa cho quy hoạch sử dụng đất đai của cấp dưới; quy hoạch của cấp dưới là phần tiếp theo, cụ thể hoá quy hoạch của cấp trên và là căn cứ để điều chỉnh các quy hoạch vĩ mô

Quy hoạch sử dụng đất đai toàn quốc và quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh

là quy hoạch chiến lược, dùng để khống chế vĩ mô và quản lý kế hoạch sử dụng đất Quy hoạch cấp huyện phải phù hợp và hài hoà với quy hoạch cấp tỉnh Quy hoạch cấp huyện là giao điểm giữa quy hoạch quản lý vĩ mô và vi mô, quy hoạch cấp xã là quy hoạch vi mô và làm cơ sở để thực hiện quy hoạch thiết kế chi tiết

1.2.5.2 Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với dự báo chiến lược dài hạn sử dụng tài nguyên đất

Nhiệm vụ đặt ra cho Quy hoạch sử dụng đất đai chỉ có thể được thực hiện thông qua việc xây dựng các dự án quy hoạch với đầy đủ cơ sở về mặt kỹ thuật, kinh tế và pháp lý Trong thực tế, việc sử dụng các tài liệu điều tra và

Trang 12

khảo sát địa hình, thổ nhưỡng, xói mòn đất, thủy nông, thảm thực vật các tài liệu về kế hoạch dài hạn của tỉnh, huyện, xã; hệ thống phát triển kinh tế của các ngành ở từng vùng kinh tế - tự nhiên; các dự án quy hoạch huyện, quy hoạch xí nghiệp; dự án thiết kế về cơ sở hạ tầng là điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng và tăng tính khả thi cho các dự án quy hoạch sử dụng đất đai

Để xây dựng phương án Quy hoạch sử dụng đất đai các cấp vi mô (xã, huyện) cho một thời gian, trước hết phải xác định được định hướng và nhu cầu sử dụng đất dài hạn (dự báo cho 15 - 20 năm) trên phạm vi lãnh thổ lớn hơn (vĩ mô: Tỉnh, vùng, cả nước) Khi lập dự báo có thể sử dụng các phương

án có độ chính xác không cao, kết quả được thể hiện ở dạng khái lược (sơ đồ)

Việc thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai được thực hiện trên cơ sở thống

kê đầy đủ và chính xác đất đai về mặt số lượng và chất lượng Dựa vào các số liệu thống kê đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành sẽ lập dự báo sử dụng đất, sau đó sẽ xây dựng phương án quy hoạch, kế hoạch phân bổ, sử dụng và bảo vệ quỹ đất cho thời gian trước mắt cũng như lâu dài trên phạm vi

cả nước, theo đối tượng và mục đích sử dụng đất

Dự báo cơ cấu đất đai (cho lâu dài) liên quan chặt chẽ với chiến lược sử

dụng tài nguyên đất đai, với dự báo sử dụng tài nguyên nước, rừng, dự báo phát triển các công trình thủy lợi, thủy nông, cơ sở hạ tầng, Chính vì vậy việc dự báo sử dụng đất với mục tiêu cơ bản là xác định tiềm năng để mở rộng diện tích và cải tạo đất nông - lâm nghiệp, định hướng sử dụng đất cho các mục đích chuyên dùng khác phải được xem xét một cách tổng hợp cùng với các dự báo

về phát triển khoa học kỹ thuật, dân số, xã hội trong cùng một hệ thống thống nhất về dự báo phát triển kinh tế - xã hội của cả nước

Dự báo sử dụng tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dự báo tài nguyên đất

và các dự báo khoa học kỹ thuật khác cũng như các số liệu về quản lý đất đai là

cơ sở để lập quy hoạch, kế hoạch và thiết kế công trình Tuy nhiên cần hạn chế

sự chồng chéo các biện pháp khi lập dự báo, xây dựng quy hoạch, kế hoạch cũng như trong công tác điều tra khảo sát Việc phức tạp hoá vấn đề sẽ làm nảy sinh các chi phí không cần thiết về lao động và vật tư, đồng thời gây cản trở cho việc thực hiện các dự án quan trọng và bức xúc hơn trong cuộc sống

1.2.5.3 Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội là một trong những tài liệu tiền kế hoạch cung cấp căn cứ khoa học cho việc xây dựng các kế hoạch phát

Trang 13

triển kinh tế - xã hội Trong đó, có đề cập đến dự kiến sử dụng đất đai ở mức

độ phương hướng với một số nhiệm vụ chủ yếu Còn đối tượng của quy hoạch

sử dụng đất đai là tài nguyên đất Nhiệm vụ chủ yếu của nó là căn cứ vào yêu cầu của phát triển kinh tế và các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội điều chỉnh

cơ cấu và phương hướng sử dụng đất; xây dựng phương án quy hoạch phân phối sử dụng đất đai thống nhất và hợp lý Như vậy, quy hoạch sử dụng đất đai

là quy hoạch tổng hợp chuyên ngành, cụ thể hoá quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, nhưng nội dung của nó phải được điều hoà thống nhất với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

1.2.5.4 Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch các ngành

* Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất đai với quy hoạch phát triển nông nghiệp:

Quy hoạch phát triển nông nghiệp là một trong những căn cứ chủ yếu của quy hoạch sử dụng đất đai Quy hoạch sử dụng đất đai tuy dựa trên quy hoạch và dự báo yêu cầu sử dụng đất của các ngành trong nông nghiệp, nhưng chỉ có tác dụng chỉ đạo vĩ mô, khống chế và điều hoà quy hoạch phát triển nông nghiệp Hai loại quy hoạch này có mối quan hệ qua lại vô cùng mật thiết

và không thể thay thế lẫn nhau

* Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất đai với quy hoạch đô thị:

Quy hoạch đô thị và quy hoạch sử dụng đất có mối quan hệ diện và điểm, cục bộ và toàn bộ Sự bố cục, quy mô sử dụng đất, các chỉ tiêu chiếm đất xây dựng trong quy hoạch đô thị sẽ được điều hoà với quy hoạch sử dụng đất đai Quy hoạch sử dụng đất đai sẽ tạo những điều kiện tốt cho xây

dựng và phát triển đô thị

* Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất đai với quy hoạch các ngành

sử dụng đất phi nông nghiệp khác:

Quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất đai với quy hoạch các ngành là quan hệ tương hỗ vừa phát triển vừa hạn chế lẫn nhau Quan hệ giữa chúng là quan hệ cá thể và tổng thể, cục bộ và toàn bộ, không có sự sai khác về quy

hoạch theo không gian và thời gian ở cùng một khu vực cụ thể (có cả quy hoạch ngắn hạn và dài hạn) Tuy nhiên chúng có sự khác nhau rất rõ về tư

tưởng chỉ đạo và nội dung: Một bên là sự sắp xếp chiến thuật, cụ thể, cục bộ

(quy hoạch ngành); Một bên là sự định hướng chiến lược có tính toàn diện và toàn cục (quy hoạch sử dụng đất đai)

Trang 14

1.2.6 Nhiệm vụ và nội dung quy hoạch sử dụng đất

Luật Đất đai năm 2003 quy định nhiệm vụ của quy hoạch sử dụng đất đai gồm:

- Điều tra, nghiên cứu, phân tích, tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh tế,

xã hội trên địa bàn thực hiện quy hoạch;

- Đánh giá hiện trạng và biến động sử dụng đất trong kỳ quy hoạch trước theo các mục đích sử dụng;

- Đánh giá tiềm năng đất đai và sự phù hợp của hiện trạng sử dụng đất

so với tiềm năng đất đai, so với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội, khoa học

- Xây dựng các phương án phân bổ diện tích các loại đất cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong kỳ quy hoạch;

- Phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của từng phương án phân bổ quỹ đất;

- Lựa chọn phương án phân bổ quỹ đất hợp lý căn cứ vào kết quả phân tích hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường;

- Thể hiện phương án quy hoạch sử dụng đất được lựa chọn trên bản đồ quy hoạch sử dụng đất;

- Xác định các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ môi trường cần phải áp dụng đối với từng loại đất, phù hợp với địa bàn quy hoạch;

- Xác định giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất phù hợp với đặc điểm của địa bàn quy hoạch

1.2.7 Quy trình lập phương án quy hoạch sử dụng đất cấp huyện

Quy trình lập phương án quy hoạch sử dụng đất cấp huyện gồm 06 bước, cụ thể như sau:

- Bước 1: Điều tra, thu thập các thông tin, dữ liệu và bản đồ;

- Bước 2: Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và biến

Trang 15

đổi khí hậu, các chỉ tiêu quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực tác động đến việc sử dụng đất;

- Bước 3: Phân tích, đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất, biến động

sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ trước và tiềm năng đất đai;

- Bước 4: Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất;

- Bước 5: Xây dựng kế hoạch sử dụng đất;

- Bước 6: Xây dựng báo cáo thuyết minh tổng hợp, hoàn chỉnh tài liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, trình thông qua, xét duyệt và công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.[16]

1.2.8 Thẩm quyền lập và quyết định xét duyệt phương án quy hoạch sử dụng đất

1.2.8.1 Thẩm quyền lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Chính phủ tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước;

- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương;

- Ủy ban nhân dân huyện thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của thị trấn thuộc huyện Ủy ban nhân dân huyện, quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương, Ủy ban nhân dân thị xã, thành phố thuộc tỉnh tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của các đơn vị hành chính cấp dưới, trừ xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị;

- Ủy ban nhân dân xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị trong kỳ quy hoạch sử dụng đất tổ chức thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương [8]

1.2.8.2 Thẩm quyền xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Quốc hội quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước do Chính phủ trình;

- Chính phủ xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

Trang 16

- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của đơn vị hành chính cấp dưới trực tiếp;

- Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của xã không thuộc khu vực quy hoạch phát triển

đô thị [8]

1.3 KHÁI QUÁT VỀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN THẾ GIỚI, TẠI VIỆT NAM VÀ TỈNH TUYÊN QUANG

1.3.1 Quy hoạch sử dụng đất trên thế giới

Quản lý đất đai là một việc phức tạp không nơi nào giống nhau nên mỗi một quốc gia, vùng lãnh thổ đều có một chính sách và công cụ quản lý đất đai khác nhau; trong đó quy hoạch sử dụng đất là một công cụ rất quan trọng giúp cho việc quản lý nhà nước về đất đai hiệu quả Công tác quy hoạch sử dụng đất đã được tiến hành từ nhiều năm trước đây với đầy đủ cơ

sở khoa học, một số quốc gia ngay từ những năm trước công nguyên họ đã

có quy hoạch xây dựng quốc gia mình theo những mô hình hoá Ở một số nước như: Anh, Pháp, Liên Bang Nga đã xây dựng cơ sở lý luận của ngành quản lý đất đai tương đối hoàn chỉnh và ngày càng tiến bộ Các dự án phát triển vùng đều tiến hành trên sơ đồ cơ cấu kiến trúc - quy hoạch vùng gắn với quy hoạch sử dụng đất, dựa trên phương hướng mục tiêu phát triển của vùng vĩ mô Theo tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO), quy hoạch sử dụng đất là bước kế tiếp của phương pháp đánh giá đất Kết quả của việc đánh giá đất sẽ đưa ra một loại hình hợp lý nhất đối với đất đai trong vùng Phương pháp quy hoạch đất đai tuỳ thuộc vào đặc điểm đất đai của từng nước, tuy nhiên có hai loại hình quy hoạch:

- Tiến hành quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội đảm bảo phát triển các mục tiêu một cách hài hoà, sau đó mới đi sâu vào nghiên cứu quy hoạch chuyên ngành Tiêu biểu cho trường phái này là Anh, Úc, Đức;

- Tiến hành quy hoạch nông nghiệp là nền tảng sau đó làm quy hoạch

cơ bản, lập sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo yêu cầu của cơ chế kế hoạch hoá tập trung Trong đó đất đai và lao động trở thành yếu tố cơ bản của vấn đề nghiên cứu Tiêu biểu cho trường phái này là Liên Bang Nga

và một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trước đây

Trang 17

Ngoài ra ở một số nước khác còn có các phương pháp quy hoạch mang tính đặc thù riêng như Bungari và các nước Đông Âu Ở những nước này quy hoạch được phân chia thành các vùng đặc trưng gắn với bảo vệ môi trường

Công tác quy hoạch sử dụng đất tại một số nước trên thế giới như sau:

1.3.1.1 Quy hoạch sử dụng đất ở Cộng hoà liên bang Nga

Quy hoạch sử dụng đất đai ở Cộng hòa Liên bang Nga chú trọng việc

tổ chức lãnh thổ, các biện pháp bảo vệ và sử dụng đất với các nông trang và các đơn vị sử dụng đất nông nghiệp Quy hoạch sử dụng đất của Nga được chia thành hai cấp: Quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết

Quy hoạch chi tiết với mục tiêu cơ bản là tổ chức sản xuất lãnh thổ trong các xí nghiệp hàng đầu về sản xuất nông nghiệp như các nông trang, nông trường Nhiệm vụ cơ bản của quy hoạch chi tiết là tạo ra những hình thức tổ chức lãnh thổ sao cho đảm bảo một cách đầy đủ, hợp lý, hiệu quả việc

sử dụng từng khoanh đất cũng như tạo ra những điều kiện cần thiết để làm tăng tính khoa học của việc tổ chức lao động, việc sử dụng những trang thiết

bị sản xuất với mục đích là tiết kiệm thời gian và tài nguyên

Quy hoạch chi tiết đưa ra phương án sử dụng đất nhằm bảo vệ và khôi phục độ phì của đất, ngăn chặn hiện tượng xói mòn đất, ngăn chặn việc sử dụng đất không hiệu quả, làm tăng điều kiện lao động, điều kiện sinh hoạt, điều kiện nghỉ ngơi của người dân.[5]

1.3.1.2 Quy hoạch sử dụng đất ở Cộng hoà liên bang Đức

Vị trí của quy hoạch sử dụng đất ở Cộng hoà Liên bang Đức được xác

định trong hệ thống quy hoạch phát triển không gian (theo 4 cấp): Liên bang,

vùng, tiểu vùng và đô thị Trong đó, quy hoạch sử dụng đất được gắn liền với quy hoạch phát triển không gian ở cấp đô thị

Trong quy hoạch sử dụng đất ở Cộng hoà Liên bang Đức, cơ cấu sử dụng đất [7]: Đất nông nghiệp và lâm nghiệp vẫn là chủ yếu, chiếm khoảng 85% tổng diện tích; diện tích mặt nước, đất hoang là 3%; đất làm nhà ở, địa điểm làm việc, giao thông và cơ sở hạ tầng cung cấp dịch vụ cho dân chúng

và nền kinh tế - gọi chung là đất ở và đất giao thông chiếm khoảng 12% tổng diện tích toàn Liên bang Tuy nhiên, cũng giống như bất kỳ quốc gia công nghiệp nào có mật độ dân số cao, diện tích đất ở và giao thông ở Đức đang ngày càng gia tăng Diện tích đất giao thông tăng đặc biệt cao từ trước tới giữa thập kỷ 80, trong khi đó, diện tích nhà chủ yếu tăng trong hai thập kỷ

Trang 18

vừa qua, đặc biệt là đất dành làm địa điểm làm việc như thương mại, dịch vụ, quản lý hành chính phát triển một cách không cân đối Quá trình ngoại ô hoá liên tục và tốn kém về đất đai cũng góp phần quan trọng vào thực tế này.[5]

1.3.1.3 Quy hoạch sử dụng đất ở Nhật Bản

Quy hoạch sử dụng đất ở Nhật Bản được phát triển từ rất lâu, đặc biệt được đẩy mạnh vào đầu thập kỷ 70 của thế kỷ 20 Quy hoạch sử dụng đất ở Nhật Bản không những chú ý đến hiệu quả kinh tế, xã hội, mà còn rất chú trọng đến bảo vệ môi trường, tránh các rủi ro của tự nhiên như động đất, núi lửa… Quy hoạch sử dụng đất ở Nhật bản được chia ra: Quy hoạch sử dụng đất tổng thể và Quy hoạch sử dụng đất chi tiết

- Quy hoạch sử dụng đất tổng thể được xây dựng cho một vùng lãnh thổ rộng lớn tương đương với cấp tỉnh, cấp vùng trở lên Mục tiêu của Quy hoạch sử dụng đất tổng thể được xây dựng cho một chiến lược sử dụng đất dài hạn khoảng từ 15 - 30 năm nhằm đáp ứng các nhu cầu sử dụng đất cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội Quy hoạch này là định hướng cho quy hoạch

sử dụng đất chi tiết Nội dung của quy hoạch này không quá đi vào chi tiết từng loại đất mà chỉ khoanh định cho các loại đất lớn như: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư, đất cơ sở hạ tầng, đất khác;

- Quy hoạch sử dụng đất chi tiết được xây dựng cho vùng lãnh thổ nhỏ hơn tương đương với cấp xã Thời kỳ lập quy hoạch chi tiết là 5 - 10 năm về nội dung quy hoạch chi tiết rất cụ thể, không những rõ ràng cho từng loại đất, các thửa đất và các chủ sử dụng đất, mà còn có những quy định chi tiết cho các loại đất như về hình dáng, quy mô diện tích, chiều cao xây dựng… Đối với quy hoạch sử dụng đất chi tiết ở Nhật Bản hết sức coi trọng đến việc tham gia ý kiến của các chủ sử dụng đất, cũng như tổ chức thực hiện phương án khi

đã được phê duyệt Do vậy tính khả thi của phương án cao và người dân cũng chấp hành quy hoạch sử dụng đất rất tốt.[5]

1.3.1.4 Quy hoạch sử dụng đất đô thị ở Hàn Quốc

Năm 1972 Luật Sử dụng và Quản lý đất đai quốc gia chia toàn bộ đất đai cả nước thành 10 loại phân khu sử dụng Đồng thời chỉ định các khu hạn chế phát triển, gọi là đai xanh, trong khu hạn chế này ngoài những vật kiến trúc cần phải duy trì ra, cấm tất cả mọi khai thác Ý đồ dùng sự ngăn cách của các đai xanh để khống chế sự phát triển nhảy cóc, bảo vệ đất nông nghiệp và các điều kiện nghỉ ngơi, giải trí; đảm bảo cung ứng đất làm nhà ở một cách hợp lý “Kế hoạch 10 năm về phát triển tổng hợp toàn quốc”, mục đích là

Trang 19

phân tán nhân khẩu của đô thị lớn, đồng thời phối hợp với “phương án phát triển khu vực” để kích thích tăng trưởng của vùng sâu, vùng xa, thu hút nhân khẩu quay về Theo “Kế hoạch quản lý khu vực thủ đô” của Nam Hàn đưa ra năm 1981, thì cấm tiến hành khai thác quy mô lớn ở thủ đô để tránh việc nhân khẩu ồ ạt đổ vào, sau đó là dùng phương thức chế độ quản lý tổng ngạch khống chế số lượng chiêu sinh đại học khu vực Hán Thành Trên thực tế, Hàn Quốc sau gần 30 năm nỗ lực, cuối cùng vẫn đối mặt với thất bại Dùng “chính sách đai xanh” lại làm cho giá nhà tăng cao, tạo thành tiền bồi thường đất đai quá cao, việc thu hồi đất đai để xây dựng công trình công cộng của chính phủ gặp khó khăn và bế tắc.[23]

1.3.1.5 Quy hoạch sử dụng đất đô thị ở Anh

Để bắt tay vào công việc xây dựng lại sau chiến tranh, năm 1947 chính phủ Anh đã sửa đổi và công bố Luật kế hoạch đô thị và nông thôn, trong đó điều thay đổi quan trọng nhất là xác lập chế độ quốc hữu về quyền phát triển và xây dựng chế độ cho phép khai thác Quy định mọi loại đất đều phải đưa vào chế độ quản lý, mọi người nếu muốn khai thác đất đai, trước hết phải được cơ quan quy hoạch địa phương cho phép khai thác, cơ quan quy hoạch địa phương căn cứ vào quy định của quy hoạch phát triển để xem liệu có cho phép hay không Chế độ cho phép khai thác trở thành biện pháp

chủ yếu của chế độ quản lý quy hoạch đất đai.[23]

1.3.1.6 Quy hoạch sử dụng đất ở Trung Quốc

Trung Quốc là nước nằm trong vùng Đông Á có diện tích tự nhiên là 9.597 nghìn km2, dân số hơn 1,2 tỷ người Trung Quốc coi trọng việc phát triển kinh tế - xã hội bền vững, công tác bảo vệ môi trường luôn được quan tâm lồng ghép và thực hiện đồng thời với phát triển kinh tế - xã hội Trong kế hoạch hàng năm, kế hoạch dài hạn của Nhà nước, của các địa phương đều được dành một phần hoặc một chương mục riêng về phương hướng, nhiệm vụ

và biện pháp để phát triển bền vững, bảo vệ môi trường sử dụng tiết kiệm và hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tài nguyên đất

Đến nay Trung Quốc đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất từ tổng thể đến chi tiết cho các vùng và địa phương theo hướng phân vùng chức năng (khoanh định sử dụng đất cho các mục đích) gắn với nhiệm vụ bảo vệ môi trường Để quy hoạch tổng thể phù hợp với phân vùng chức năng, các quy định liên quan của pháp luật Trung Quốc đã yêu cầu mọi hoạt động phát triển các nguồn tài nguyên phải nhất quán với phân vùng chức năng Một trong

Trang 20

những ảnh hưởng tích cực của quy hoạch tổng thể và sơ đồ phân vùng chức năng là việc giảm thiểu xung đột đa mục đích nhờ xác định được các mục đích

sử dụng tương thích cho phép ưu tiên ở các khu vực cụ thể.[5]

1.3.1.7 Quy hoạch sử dụng đất ở Thái Lan

Quy hoạch sử dụng đất ở nước này được phân theo 3 cấp đó là: Cấp quốc gia, cấp vùng, cấp địa phương Quy hoạch nhằm cụ thể hoá các trường kinh tế xã hội của Hoàng gia Thái Lan, gắn liền với tổ chức hành chính và quản lý nhà nước phối hợp với chính phủ và chính quyền địa phương [14]

1.3.2 Quy hoạch sử dụng đất tại Việt Nam

1.3.2.1 Khái quát chung về tình hình quy hoạch sử dụng đất

Ở Việt Nam công tác quy hoạch phân bổ sử dụng đất đai là một ngành non trẻ, kinh nghiệm thực tế còn ít, điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật và công tác thiết kế xây dựng các đồ án quy hoạch còn hạn chế Tuy nhiên, trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã quan tâm chú trọng đầu tư cho công tác quy hoạch đáp ứng nhu cầu đòi hỏi thực tế sản xuất, chúng ta đã và đang từng bước tiến hành khắc phục những khó khăn để quy hoạch phân bố vùng lãnh thổ

Miền Bắc quy hoạch sử dụng đất đai xúc tiến từ năm 1962 cho ngành chủ quản và cấp tỉnh, cấp huyện tiến hành và được đan xen vào công tác phân vùng quy hoạch nông lâm nghiệp cho vùng lãnh thổ, nhưng thiếu sự phối hợp của các ngành có liên quan, chủ trương của quy hoạch đất đai là xác định phương hướng phát triển ngành nông nghiệp - lâm nghiệp cho vùng lãnh thổ chỉ được ngành chủ quản thông qua Trong công tác quy hoạch thì về khía cạnh pháp lý không được đặt ra và cũng không được thực hiện Vấn đề xây dựng quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất ngày càng được Đảng và nhà nước quan tâm chỉ đạo một cách chặt chẽ bằng các văn bản pháp luật và coi như là một luận chứng cho phát triển của nền kinh tế đất nước, điều này thể hiện rõ trong từng giai đoạn

* Thời kỳ 1975 - 1980:

Sau năm 1975, trong cơ chế bao cấp, công tác quy hoạch sử dụng đất

đã được đẩy mạnh gắn liền với việc hợp tỉnh huyện và xây dựng thành pháo đài Cả nước đi vào sắp xếp lại đất nước, tạo ra các vùng kinh tế lớn

Trang 21

Hội đồng chính phủ đã thành lập ban chỉ đạo phân vùng quy hoạch nông lâm nghiệp Trung ương để triển khai công tác này trên phạm vi cả nước Kết quả là đến cuối năm 1978 các phương án phân vùng nông lâm nghiệp công nghệ chế biến nông sản của cả nước trong 7 vùng kinh tế và của tất cả các tỉnh đã lập và được chính phủ phê duyệt, trong các phương án trên đều đề cập đến quy hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp và coi đó là một luận chứng quan trọng để phát triển ngành

Tuy nhiên do mục đích đề ra ngay từ đầu là chỉ để phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp cho nên các loại đất khác chưa đề cập đến và còn khoảng 3 triệu ha ở miền núi cao chưa tiến hành phân bổ sử dụng, mặt khác do còn thiếu nhiều tài liệu điều tra cơ bản và chưa tính được khả năng đầu tư nên tính khả thi của các phương án còn thấp

* Thời kỳ 1981- 1986:

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V trong đó đã nêu

rõ: „„xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập tổng hợp sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất nghiên cứu chiến lược kinh tế xã hội, dự thảo kế hoạch triển vọng để chuẩn bị cho kế hoạch 5 năm lần thứ 4 (1986 - 1990)‟‟

Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng đã yêu cầu các ban ngành, các địa phương, các cơ quan khoa học tập trung chỉ đạo triển khai chương trình tổng hợp sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất ở Việt Nam đến 1986 -

1990 cũng như trong thời kỳ này hầu hết các tỉnh của cả nước đã tiến hành xây dựng quy hoạch tổng thể huyện

Một trong những mục đích và yêu cầu đặt ra đối với tổng sơ đồ phải là

cơ sở cho việc tiến hành quy hoạch xây dựng vùng như xây dựng khu công nghiệp, khu du lịch, xây dựng thành phố, thị xã, thị trấn

Để đáp ứng yêu cầu trên đòi hỏi quy hoạch sử dụng đất đai phải đi trước một bước về nội dung và cơ sở khoa học trong tổng sơ đồ phát triển Xuất phát từ cơ sở lý luận đó Quy hoạch sử dụng đất đai theo lãnh thổ hành chính đã được đề cập đến ở huyện, tỉnh và cả nước mặc dù chưa đầy đủ Còn quy hoạch sử dụng đất cấp xã chưa được đề cập đến ở thời kỳ này chủ yếu là quy hoạch hợp tác xã nông nghiệp

Trang 22

* Thời kỳ Luật Đất đai năm 1987 đến trước Luật Đất đai năm 1993:

Năm 1987, Luật Đất đai lần đầu tiên được ban hành và có hiệu lực từ năm 1988 Trong đó có một số điều nói về quy hoạch đất đai Tuy nhiên Luật Đất đai 1988 chưa nêu ra nội dung quy hoạch Ngày 15/04/1991 Tổng cục Quản lý ruộng đất đã đưa ra Thông tư số 106 QHKH/RĐ hướng dẫn lập quy hoạch sử dụng đất đai Đây là Thông tư đầu tiên của Tổng cục kể từ khi thành lập quy hoạch sử dụng đất đai một cách tương đối cụ thể

Công tác quy hoạch nói chung sau một thời kỳ triển khai tương đối rầm

rộ cũng chưa được xúc tiến theo luật đã quy định Tình hình này do nền kinh

tế nước ta đang đứng trước những khó khăn và thử thách lớn Khi chuyển sang cơ chế thị trường thì công tác quy hoạch này có cần nữa hay không là một vấn đề cần đặt ra Đây là thời kỳ công cuộc đổi mới nông thôn diễn ra sâu sắc cùng với việc giảm vai trò quản lý tập trung của HTX sản xuất nông nghiệp, tăng quyền tự chủ cho hộ nông dân và thực thi các chính sách đổi mới khác, công tác quy hoạch sử dụng đất đai ở xã là vấn đề cấp bách về giao đất, cấp đất giãn dân và một số nơi có xu hướng đô thị hoá rõ rệt

Đây là mốc đầu tiên triển khai quy hoạch sử dụng đất đai ở cấp xã diễn ra hầu hết khắp phạm vi cả nước nhưng còn nhiều hạn chế về nội dung

và phương pháp

* Thời kỳ sau Luật Đất đai năm 1993 đến Luật Đất đai năm 2003:

Ngày 14/07/1993 Luật Đất đai được công bố Trong luật này các điều khoản nói về quy hoạch đã được cụ thể hoá hơn so với Luật Đất đai năm 1988, và

từ năm 1993 trở đi công tác quy hoạch đã được chú trọng nhiều hơn

Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai ngày 02/12/1988 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai ngày 29/06/2001 cũng như công tác ban hành Các điều khoản trong luật này đã khẳng định công tác quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai là cần thiết

- Nghị định số 04/2000/NĐ-CP quy định về thi hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai ban hành ngày 02/12/1998

- Sau Đại hội Đảng lần thứ VII năm 1992, Nhà nước ta triển khai công tác nghiên cứu chiến lược phát triển, quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội ở hầu hết 53 tỉnh, thành phố trực thuộc TW, 8 vùng kinh tế, các vùng trọng điểm và quy hoạch phát triển ngành ở hầu hết các bộ, ngành

Trang 23

- Các công trình nghiên cứu này tính đến 2020 phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong vòng 10 - 15 năm tới Việc nghiên cứu triển khai quy hoạch sử dụng đất đai trên phạm vi cả nước đang là vấn đề bức xúc của các ngành các cấp và mọi thành viên xây dựng hưởng ứng

- Đây là mốc bắt đầu của thời kỳ công tác quản lý đất đai vào nề nếp, sau một thời gian dài tuyệt đối hoá về công hữu đất đai ở miền Bắc và buông lỏng công tác này ở các tỉnh phía Nam dẫn đến tình trạng quá nhiều diện tích đất không

có chủ sử dụng đất

* Thời kỳ sau Luật Đất đai năm 2003 đến nay:

Sau khi Luật Đất đai năm 2003 được công bố đã có rất nhiều các văn bản dưới Luật ra đời, hướng dẫn thi hành Luật như:

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đất đai năm 2003;

- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;

- Chỉ thị số 05/2004/CT-TTG ngày 29/02/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thi hành luật 2003;

- Thông tư 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch sử dụng đất;

- Quyết định số 25/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành kế hoạch triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2003;

- Chỉ thị số 02/CT-BTNMT ngày 19/11/2007 về việc tiếp tục triển khai thi hành Đuật Đất đai năm 2003;

- Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT, ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

1.3.2.2 Việc lập, quản lý và thực hiện quy hoạch sử dụng đất

* Quy hoạch sử dụng đất cả nước:

Chính phủ đã lập Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2005 của cả nước trình Quốc hội Khóa XI, Kỳ họp thứ 5 và

Trang 24

được thông qua tại Nghị quyết số 29/2004/QH11 ngày 15/6/2004; kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2006 - 2010 của cả nước đã được Quốc hội Khóa XI, Kỳ họp thứ 9 thông qua tại Nghị quyết số 57/2006/QH11 ngày 29/6/2006

Cả nước chỉ có 07 tỉnh, thành phố cơ bản hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở 3 cấp xã, huyện, tỉnh; ngoài ra còn có 13 tỉnh đang hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở 2 cấp xã, huyện

Có 16 tỉnh đã triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã nhưng kết quả đạt được còn thấp (dưới 50% số xã) gồm Lai Châu, Yên Bái, Cao Bằng, Hà Nội, Hà Nam, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng

Đối với đất quốc phòng, an ninh: Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài nguyên

và Môi trường phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tiến hành rà soát quy hoạch sử dụng đất đối với tất cả các đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, đến nay đã hoàn thành trên phạm vi cả nước

* Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh:

Trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước, các tỉnh đã tiến hành lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm của địa phương Đến nay cả nước đã có 64/64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm

2010 được Chính phủ xét duyệt

* Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện:

Cả nước có 531/681 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là huyện) hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 (chiếm 77,97%); 98 huyện đang triển khai (chiếm 14,4%); còn lại

52 huyện chưa triển khai (chiếm 7,64%), phần lớn là các đô thị (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh) Đến nay có 20 tỉnh đã hoàn thành việc lập quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất cấp huyện Một số tỉnh triển khai chậm như Phú Thọ, Gia Lai, Bình Định, Đồng Tháp, An Giang và thành phố Cần Thơ

* Quy hoạch sử dụng đất cấp xã:

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã: Cả nước có 7.576/11.074 xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã) đã lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 (đạt 68,41%); 1.507 xã đang triển khai (đạt 13,61%); còn lại 1.991

Trang 25

xã chưa triển khai (chiếm 17,98%)

Như vậy, việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp thực hiện còn chậm so với yêu cầu của Luật Đất đai, đặc biệt là công tác lập quy hoạch, kế

hoạch sử dụng đất cấp huyện và cấp xã [2]

1.3.3 Công tác quy hoạch sử dụng đất tỉnh Tuyên Quang

1.3.3.1 Tình hình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp

Trước khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn tỉnh triển khai rất chậm: Quy hoạch

sử dụng đất cấp tỉnh triển khai lập từ năm 2001 nhưng chưa hoàn thành; Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện chưa được triển khai; Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết cấp xã mới triển khai lập ở 20/145 xã, phường, thị trấn (Chiêm Hoá 05 xã, Hàm Yên 05 xã, Yên Sơn 05 xã, Sơn Dương 05 xã) nhưng mới được phê duyệt 05 xã trên địa bàn huyện Hàm Yên

Thực hiện Luật Đất đai năm 2003, tỉnh Tuyên Quang đã tập trung chỉ đạo hoàn thành việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã giai đoạn đến năm 2010 Tình hình triển khai cụ thể như sau:

* Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh:

Tỉnh Tuyên Quang được Tổng cục Địa chính trước đây phê duyệt Dự

án và Tổng dự toán Dự án lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tỉnh Tuyên Quang đến 2010 tại Quyết định số 359/QĐ-TCĐC ngày 18/9/2000 và Quyết định số 360/QĐ-TCĐC ngày 18/9/2000 Tổng kinh phí thực hiện là 310 triệu đồng do đơn vị tư vấn (Trung tâm Quy hoạch đất đai thuộc Tổng cục Địa chính) thực hiện

Trong quá trình tổ chức thực hiện có sự sửa đổi, bổ sung của hệ thống pháp luật về đất đai, trong đó có thay đổi về nội dung và trình tự lập quy hoạch sử dụng đất Do vậy, ngày 16/8/2005 Ủy ban nhân dân tỉnh có Tờ trình

số 31/TTr-UBND trình Chính phủ phê duyệt quy hoạch sử dụng đất tỉnh Tuyên Quang đến năm 2010 và đã được Chính phủ phê duyệt tại Nghị quyết

số 08/2006/NQ-CP ngày 26/5/2006

* Về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp xã:

Thực hiện Nghị quyết số 08/2006/NQ-CP ngày 26/5/2006 của Chính phủ Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo và bố trí kinh phí 12.472 triệu đồng từ nguồn ngân sách tỉnh, phân bổ cho các huyện, thành phố và các xã, phường,

Trang 26

thị trấn để thực hiện việc lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp xã giai đoạn đến 2010

Theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân huyện, thành phố và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thuộc tỉnh đều quyết định thành lập Ban chỉ đạo lập quy hoạch sử dụng đất và ký hợp đồng với đơn vị tư vấn

có đủ năng lực và tư cách pháp nhân để triển khai thực hiện

Đến năm 2008 toàn bộ phương án quy hoạch sử dụng đất của 06/06 huyện, thành phố, 21/21 phương án quy hoạch, kế hoạch chi tiết của các xã, phường, thị trấn thuộc khu vực quy hoạch phát triển đô thị và 118/118 xã không thuộc khu vực phát triển đô thị đã được phê duyệt

1.3.3.2 Việc điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010

Phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn đến năm 2010 về cơ bản đã đảm bảo phù hợp và đáp ứng được tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phưong nên không phải điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong kỳ quy hoạch

1.3.3.3 Tình hình quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

* Việc bố trí tổ chức và cán bộ làm công tác lập quy hoạch sử dụng đất:

- Đối với cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định thành lập Ban chỉ đạo lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh; giao Sở Tài nguyên và Môi trường phân công cán bộ chuyên trách theo dõi công tác quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất; thành lập Trung tâm kỹ thuật Đo đạc bản đồ và Quy hoạch đất đai trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường có đủ năng lực để thực hiện việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

- Đối với cấp huyện, cấp xã: Ủy ban nhân dân cấp huyện thành lập Ban chỉ đạo và Ban Quản lý dự án lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện

để triển khai việc lập và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật; Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn thành lập Ban chỉ đạo lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp xã, phường, thị trấn; giao nhiệm vụ cho cán bộ địa chính xã theo dõi và quản lý chặt chẽ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt

* Công tác thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:

Quá trình triển khai thực hiện, Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các ngành chức năng và Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện nghiêm công tác thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai

Trang 27

1.3.3.4 Một số chỉ tiêu chính trong phương án quy hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang đến năm 2010

Nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tốc độ đô thị hoá và nhu cầu sử dụng đất phát triển các ngành lĩnh vực trên địa bàn Quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất thành phố Tuyên Quang đến năm 2010 phân bổ những chỉ tiêu chính như sau:

Bảng 1.1 Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 thành phố Tuyên Quang

Thứ

tự

Loại đất

Hiện trạng năm 2005

Quy hoạch đến năm 2010 Diện tích

(ha)

Cơ cấu (%)

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%) Tổng diện tích đất tự nhiên 4.394,12 100,00 4.394,12 100,00

Trang 28

Chương II ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kết quả thực hiện phương án quy

hoạch sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010 của thành phố Tuyên Quang

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Trong phạm vi địa giới hành chính của thành

phố Tuyên Quang

- Phạm vi về nội dung: Các chỉ tiêu về quản lý quy hoạch; các chỉ tiêu

về thực hiện quy hoạch theo các loại đất và theo thời gian; các chỉ tiêu về hiệu quả của việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất

2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thời gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành từ tháng 7 năm

2011 đến tháng 9 năm 2012

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại

thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang và hoàn thiện tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

2.3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường

- Điều kiện tự nhiên;

- Các nguồn tài nguyên;

- Thực trạng môi trường

2.3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

- Tăng trưởng kinh tế;

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế;

- Thực trạng phát triển các ngành kinh tế;

Trang 29

- Dân số, lao động, việc làm và thu nhập;

- Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn

2.3.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội

- Về điều kiện tự nhiên;

- Về các nguồn tài nguyên và cảnh quan môi trường;

- Về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

2.3.2 Đánh giá tình hình quản lý đất đai trong thời kỳ thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất

2.3.2.1 Thực trạng bộ máy, cán bộ ngành quản lý đất đai thành

2.3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất thành phố Tuyên Quang năm 2010 2.3.2.3 Tình hình quản lý đất đai của thành phố Tuyên Quang trong thời kỳ thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất

2.3.3 Đánh giá tình hình quản lý quy hoạch sử dụng đất

2.3.3.1 Việc công khai quy hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang giai đoạn 2005 - 2010

- Đánh giá việc công khai quy hoạch;

- Đánh giá việc công khai quy hoạch theo phiếu điều tra

2.3.3.2 Việc kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010

- Đánh giá việc kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch;

- Đánh giá việc kiểm tra, giám sát thực hiện quy hoạch theo phiếu điều tra

2.3.4 Đánh giá việc thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất

2.3.4.1 Khái quát quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 thành phố Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang

2.3.4.2 Đánh giá kết quả thực hiện các chỉ tiêu sử dụng đất theo phương án quy hoạch sử dụng đất được duyệt

Trang 30

2.3.5 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất của việc thực hiện phương

án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010

2.3.5.1 Hiệu quả vể kinh tế

2.3.5.2 Hiệu quả về mặt xã hội

2.3.5.3 Hiệu quả về bảo vệ môi trường

2.3.6 Những tồn tại, hạn chế và giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và thực hiện quy hoạch sử dụng đất

2.3.6.1 Những tồn tại , hạn chế trong việc quản lý và thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010 của thành phố Tuyên Quang

2.3.6.2 Giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả quản l ý và thực hiện quy hoạch sử dụng đất

- Giải pháp về kinh tế;

- Giải pháp về chính sách;

- Giải pháp về tổ chức;

- Giải pháp nâng cao chất lượng phương án quy hoạch sử dụng đất;

- Giải pháp quản lý, giám sát thực hiện quy hoạch

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.4.1.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Điều tra, thu thập các số liệu, tài liệu, bản đồ có liên quan đến điều kiện

tự nhiên, kinh tế xã hội, hiện trạng sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch

sử dụng đất và các tài liệu, số liệu khác có liên quan đến đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang từ các

cơ quan hữu quan như: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch Đầu tư,

Sở Tài chính, Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang, Ủy ban nhân dân thành phố Tuyên Quang, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Tuyên Quang…

2.4.1.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

- Điều tra tất cả các xã, phường trong thành phố (không bao gồm 05 xã được sáp nhập vào thành phố năm 2008), mỗi đơn vị điều tra 03 nhóm là:

Trang 31

+ Nhóm 1: Cán bộ công chức;

+ Nhóm 2: Người dân phi nông nghiệp;

+ Nhóm 3: Người dân nông nghiệp

Mỗi nhóm điều tra 05 người

- Phỏng vấn những người có trách nhiệm về quản lý quy hoạch, giám sát quy hoạch, triển khai thực hiện quy hoạch ở địa phương Qua đó tìm hiểu những mặt được và chưa được cũng như những nguyên nhân, giải pháp khắc phục cho những tồn tại trong công tác triển khai thực hiện quy hoạch

2.4.1.3 Phương pháp chuyên gia

Tranh thủ tham vấn ý kiến của những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực lập quy hoạch, quản lý quy hoạch và giám sát quy hoạch để trao đổi về cách nhìn nhận, đánh giá cũng như những gợi ý đề xuất

về giải pháp

2.4.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý, đánh giá và phân tích số liệu

2.4.2.1 Phương pháp thống kê và phân tích số liệu

Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập được, tiến hành phân nhóm, thống kê diện tích, công trình, dự án đã thực hiện theo quy hoạch, hoặc chưa thực hiện theo quy hoạch; tổng hợp phân tích các yếu tố tác động đến kết quả triển khai thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất

2.4.2.2 Phương pháp minh họa bằng biểu, bản đồ

Thực trạng sử dụng đất và kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất sẽ được trình bày dưới dạng những biểu đồ và bản đồ minh họa

Trang 32

Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường

3.1.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý:

Thành phố Tuyên Quang nằm ở phía Nam tỉnh Tuyên Quang; bên bờ sông Lô thuộc hạ lưu của hệ thống sông Lô, sông Gâm, có toạ độ địa lý từ

21o47’ đến 21o5’ vĩ độ Bắc và từ 105o11’ đến 105o17’ kinh độ Đông Cách thủ đô Hà Nội 165 km về phía Tây Bắc theo Quốc lộ 2; cách thành phố Thái Nguyên 80 km về phía Tây theo Quốc lộ 37; cách thành phố Yên Bái 60 km

về phía Đông theo Quốc lộ 37

Theo báo cáo kết quả kiểm kê năm 2010, thành phố Tuyên Quang có tổng diện tích tự nhiên là 4.394,12 ha và có ranh giới hành chính, như sau:

- Phía Bắc giáp xã Tân Long, Tân Tiến (huyện Yên Sơn);

- Phía Nam giáp xã Nhữ Khê, thị trấn Tân Bình (huyện Yên Sơn), xã Cấp Tiến (huyện Sơn Dương);

- Phía Đông giáp xã Thái Bình, Tiến Bộ (huyện Yên Sơn), xã Vĩnh Lợi (huyện Sơn Dương);

- Phía Tây giáp xã Trung Môn, Hoàng Khai, Kim Phú, Nhữ Hán (huyện Yên Sơn)

Với vị trí địa lý thuận lợi, có Quốc lộ 2, Quốc lộ 37, Quốc lộ 2C…và đường sông chạy qua, đây là những tuyến giao thông quan trọng, vì vậy thành phố Tuyên Quang có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa xã hội với các địa phương trong và ngoài tỉnh để thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai

* Địa hình, địa mạo:

Quá trình vận động kiến tạo của địa chất qua nhiều thế kỉ đã tạo nên những nét đặc thù riêng về địa hình, địa mạo ở từng khu vực trên địa bàn thành phố

- Địa hình vùng núi: Phân bố chủ yếu ở phường Nông Tiến, xã Tràng

Đà Đây là vùng núi cao, địa hình chia cắt mạnh Độ cao trung bình ở vùng

Trang 33

địa hình này bình quân 300-400 m so với mặt nước biển, đỉnh cao nhất là 510,3 m (thuộc khu bãi rác, phường Nông Tiến), độ dốc phần lớn trên 250, có trữ lượng lớn về đá vôi, thuận lợi cho việc phát triển lâm nghiệp và công nghiệp khai khoáng

- Địa hình đồi thấp: Dạng địa hình thấp phân bố khu vực phía Nam thành phố Đây là vùng có địa hình đồi bát úp có độ chia cắt trung bình Độ cao bình quân 80-120 m so với mặt nước biển, độ dốc thường từ 8-150, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp

- Địa hình đồng bằng: Dạng địa hình đồng bằng thường phân bố thành các dải hẹp dọc theo ven sông suối và ở các thung lũng xen các đồi thấp Độ cao bình quân so với mặt nước biển từ 15-25 m, đất đai tương đối bằng phẳng, độ dốc thường dưới 80

thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.[19]

* Khí hậu:

Thành phố Tuyên Quang nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có đặc điểm khí hậu của vùng núi Bắc Bộ, một năm chia thành 2 mùa: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 230C Lượng mưa trung bình hàng năm là 1600

mm, tập trung nhiều nhất vào các tháng 7, 8 và tháng 9 Độ ẩm trung bình 84% Hướng gió chính là hướng Tây Bắc - Đông Nam, tốc độ gió trung bình 1,4m/s, tốc độ gió lớn nhất 36m/s , ít xảy ra bão lốc [19]

* Thủy văn:

Chế độ thuỷ văn phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống sông, ngòi, hồ nước

có trên địa bàn Thành phố nằm ở hạ lưu sông Lô - Gâm và có 04 ngòi lớn là Ngòi Cơi, Ngòi Là, Ngòi Chả, Ngòi Thục nên chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ văn của các sông, ngòi đó

Hệ thống sông Lô - Gâm: Bắt nguồn từ cao nguyên Vân Nam Trung Quốc, chảy qua Hà Giang, qua thành phố Tuyên Quang: Diện tích lưu vực 29.600 km2, lưu lượng lớn nhất mùa lũ Qmax = 8.890 m3/s, lưu lượng trung bình năm mùa lũ Qtb = 725m3/s, lưu lượng nhỏ nhất mùa khô Qmin = 102m3/s chế độ dòng chảy mùa lũ chiếm 70 - 80% tổng lượng nước cả năm, mùa khô chỉ chiếm 20% tổng lượng nước cả năm

Thành phố chịu ảnh hưởng bởi các ngòi bắt nguồn từ dãy núi phía Tây

và Tây Nam, là dòng chảy chính của nước mưa được tập trung từ dãy núi và thung lũng phía Tây thành phố đổ ra sông Lô Nhìn chung, hệ thống sông

Trang 34

ngòi trên địa bàn thành phố Tuyên Quang được chi phối trực tiếp bởi cấu tạo địa hình, về mùa mưa địa hình có độ dốc lớn gây ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và sinh hoạt, gây xói mòn và rửa trôi đất.[19]

3.1.1.2 Các nguồn tài nguyên

- Đất phù sa không được bồi hàng năm được phân bố chủ yếu ở phường

Ỷ La, thành phần cơ giới chủ yếu là đất thịt nhẹ và thịt vừa;

- Đất phù sa Gley chiếm diện tích lớn được phân bố chủ yếu ở các phường: Ỷ La, Phan Thiết, Tân Quang và phường Hưng Thành, loại đất này chiếm diện tích lớn nhất

Ngoài ra còn có các loại đất khác chiếm tỷ lệ rất thấp như đất xám bạc màu, đất đỏ vàng trên đá sét và đá biến chất tập trung chủ yếu ở phường Nông Tiến và xã Tràng Đà

Theo tính chất đất thì có thể phân chia thành những nhóm đất chính sau:

- Đất phù sa ngòi suối được phân bố dọc theo các triền sông, suối, đất

có thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt lớn, hạt thô, chịu ảnh hưởng trực tiếp của địa hình, đá mẹ và độ che phủ thực vật xung quanh Về thành phần hoá học,

tỷ lệ mùn trong đất trung bình, đạm tổng số và đạm dễ tiêu khá, đất có phản ứng chua, chất dinh dưỡng trung bình Loại đất này thích hợp cho trồng lúa màu và cây công nghiệp hàng năm;

- Đất dốc tụ trồng lúa nước được phân bố xen kẽ, rải rác, luồn lỏi ở khắp các đồi núi, chứa nhiều sỏi cát sắc cạnh, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình Đất có phản ứng chua, thiếu lân, nghèo chất dinh dưỡng [19]

* Tài nguyên nước:

- Nguồn nước mặt: Do có nhiều hệ thống sông, ngòi lớn nên nguồn nước mặt rất dồi dào, đặc biệt vào mùa mưa Nguồn nước mặt chủ yếu được cung cấp bởi hệ thống sông, ngòi như sông Lô - Gâm và 4 ngòi chính là ngòi

Trang 35

Cơi, ngòi Chả, ngòi Là và ngòi Thục Về mùa khô nước ở hệ thống sông, ngòi trên chỉ chiếm 20% tổng lượng nước cả năm Tuy nhiên, nguồn nước mặt có nhược điểm là có độ đục cao về mùa mưa, mực nước biến động lớn theo mùa,

bờ sông bị xói lở và nguy cơ ô nhiễm cao từ các hoạt động khác nhau;

- Nước ngầm: Nguồn nước ngầm khá phong phú, có ở khắp địa bàn Nước ngầm đều có chất lượng, đủ tiêu chuẩn dùng cho sinh hoạt Khai thác dễ dàng, đáp ứng yêu cầu cả khai thác đơn giản trong sinh hoạt của nhân dân và khai thác quy mô công nghiệp

Nhận định chung về tài nguyên nước mặt của thành phố Tuyên Quang vào loại trung bình của lãnh thổ phía Bắc nước ta, tiềm năng nước mặt lớn gấp 10 lần yêu cầu nước sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và nguồn nước mặt

là nguồn nước chính cung cấp cho thành phố trong tương lai; nguồn nước ngầm dồi dào và chất lượng tốt [19]

* Tài nguyên rừng:

Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2010, thành phố Tuyên Quang có 1.239,68 ha đất lâm nghiệp Trong đó: Đất rừng sản xuất 341,78 ha; rừng phòng hộ 897,90 ha Đây là nguồn tài nguyên quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế đối với xã Tràng Đà và phường Nông Tiến (nơi có diện tích đồi núi lớn) Đặc biệt, khu vực Tràng Đà và Nông Tiến được coi là lá phổi của thành phố có tác dụng điều tiết nguồn nước, không khí Trong thời gian tới thành phố cần có biện pháp tốt hơn bảo vệ nguồn tài nguyên này, cần ngăn chặn những hành vi khai thác, mua bán, vận chuyển trái phép quặng gây ảnh hưởng đến tài nguyên rừng Khai thác tiềm năng du lịch, dịch vụ khu vực núi Dùm - Cổng Trời

* Tài nguyên khoáng sản:

Theo tài liệu Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản tỉnh Tuyên Quang giai đoạn đến năm 2010 có xét đến năm 2020

đã được phê duyệt tại Quyết định số: 24/2008/QĐ-UBND ngày 22/12/2008 và

các tài liệu của Đoàn Địa chất 109, Liên đoàn Bản đồ 207 công bố năm 1994 -

1995 và tài liệu của các Bộ, ngành hữu quan, thành phố Tuyên Quang có nhiều loại khoáng sản khác nhau gồm:

- Mỏ chì-Kẽm (Pb-Zn) tại xã Tràng Đà và phường Nông Tiến;

- Mỏ đá vôi xi măng, mỏ đất sét xi măng tại xã Tràng Đà;

Trang 36

- Mỏ Barit, mỏ Pyrit; Cát, sỏi, cuội lòng sông Lô tại các phường: Hưng Thành, Nông Tiến, Ỷ La, Tân Quang, Minh Xuân và xã Tràng Đà;

- Quặng chì kẽm Tràng Đà và Núi Dùm Tràng Đà.[24]

* Tài nguyên du lịch:

Trên địa bàn thành phố có các di tích lịch sử đã được Nhà nước, tỉnh công nhận, xếp hạng và nhiều điểm di tích danh thắng khác như: Thành Nhà Mạc, Đền Hạ, Đền Thượng, chùa An Vinh, Đền Mỏ Than, Đền Cấm, suối Đát, Núi Dùm … là những điểm thu hút khách du lịch, tham quan, lễ hội mỗi khi đến Tuyên Quang

Những năm gần đây thành phố Tuyên Quang được du khách trong và ngoài nước biết đến qua lễ hội đường phố, là một hoạt động văn hóa đặc sắc của nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang, lễ hội mới được hình thành và phát triển, đây là hoạt động văn hóa hoàn toàn xuất phát từ đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân các dân tộc trong tỉnh Lễ hội diễn ra vào trung thu, với các hoạt động: Làm đèn, hình các con vật, các địa danh như Thành nhà Mạc, núi Thổ Sơn, Lán Là Nừa để rước trên các đường phố, bên cạnh đó là hoạt động múa dân gian như đám cưới chuột, múa Lân, và cả nhảy, múa hiện đại Hiện nay, đây là hoạt động văn hóa được nhân dân thành phố Tuyên Quang yêu thích và hưởng ứng nhiều nhất

* Tài nguyên nhân văn:

Các dân tộc sinh sống trên địa bàn thành phố gồm có 08 dân tộc (Kinh, Tày, Dao, Cao Lan, Nùng, Hoa, Mông, Sán Chày), trong đó dân tộc kinh chiếm tỷ lệ nhiều nhất; ít nhất là dân tộc thiểu số Sán Chấy Mỗi dân tộc trên đều có những bản sắc và truyền thống văn hoá riêng, do đó đã tạo nên nền văn hoá đa dạng, có những nét độc đáo

Thành phố là trung tâm của tỉnh nên tập trung phần lớn đội ngũ những nhà khoa học, cán bộ quản lý, đồng thời nhân dân nơi đây cũng giàu kinh nghiệm trong lao động, sản xuất và đời sống Người dân thành phố đã có những bước tiến vượt bậc trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trình độ

Trang 37

dân trí, nghề nghiệp của người dân ngày càng được nâng cao, các lĩnh vực văn hoá, giáo dục luôn được quan tâm chú trọng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu

Qua phân tích về nguồn tài nguyên nhân văn, nguồn lực con người, môi trường lịch sử văn hoá cho thấy thành phố Tuyên Quang luôn luôn đi đầu trên mọi lĩnh vực so với các huyện khác trong tỉnh Nguồn nhân lực dồi dào, giàu trí tuệ, có trình độ đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước nói chung và thành phố nói riêng góp phần đưa thành phố Tuyên Quang ngày càng phát triển

3.1.1.3 Thực trạng môi trường thành phố Tuyên Quang

(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tuyên Quang)

* Môi trường nước:

- Nước mặt:

+ Nước sông Lô chảy qua địa phận thành phố Tuyên Quang có chất lượng khá tốt Nước có tính axit yếu (pH trung bình = 6,65), không bị ô nhiễm bởi cặn lơ lửng, Coliform và các nguyên tố vi lượng Tuy nhiên, nước có hàm lượng sắt vượt QCVN 08:2008/BTNMT và hàm lượng chất hữu cơ hơi cao;

+ Nước hồ Công viên Cây Xanh ở thành phố Tuyên Quang thuộc loại trung tính, có hàm lượng cặn lơ lửng, chất hữu cơ và Coliform, Fe, Zn, As vượt QCVN 08:2008

- Nước ngầm: Nước ngầm ở thành phố Tuyên Quang có chất lượng tốt,

đạt QCVN 09:2008/BTNMT

Trang 38

- Nước thải: Trên địa bàn thành phố Tuyên Quang có rất ít trạm xử lý

nước thải hoàn chỉnh (ngoại trừ bệnh viện Lao và Đa khoa tỉnh, nhà máy Giấy) Hầu hết các loại nước thải được thu gom bằng hệ thống ống cống, được xử lý sơ bộ rồi thải trực tiếp vào sông hồ Nước thải thường có màu

xanh đen, mùi hôi tanh và có nhiều cặn bẩn

(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tuyên Quang)

* Môi trường không khí:

Môi trường không khí trong thành phố Tuyên Quang còn khá trong lành, chưa bị ô nhiễm bởi bụi, tiếng ồn và các chất độc hại như SO2, NO2, CO2 Duy có hàm lượng khí CO vượt quá từ 0,2- 1,4 lần so với tiêu chuẩn cho phép

3.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

3.1.2.1 Tăng trưởng kinh tế

Trong những năm qua, nền kinh tế của thành phố Tuyên Quang đã có

sự chuyển biến đáng kể Tổng sản phẩm (GDP) theo giá hiện hành từ 2.213,4

tỷ đồng năm 2006 tăng lên 3.952,6 tỷ đồng năm 2010 Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2006 - 2010 đạt 14,3 %, cao hơn mức trung bình của tỉnh (13,53 %)

Giá trị sản xuất của các ngành kinh tế có mức tăng trưởng khá cao Tốc

độ tăng trưởng bình quân theo giá trị sản xuất đạt 25,3 %/năm trong giai đoạn

2005 - 2010 Trong đó: Ngành nông - lâm nghiệp thuỷ sản tăng 16,80%/năm, ngành công nghiệp - xây dựng tăng trưởng khá cao đạt 26,90%/năm, ngành dịch vụ - thương mại có tốc độ tăng trưởng cao, đạt tới 32,90%/năm

Trang 39

Như vậy giai đoạn 2005 - 2010 các ngành kinh tế của thành phố đều có mức tăng trưởng tương đối cao, thu nhập bình quân đầu người của thành phố năm 2010 đạt trên 18 triệu đồng/người/năm

Bảng 3.1 Giá trị sản xuất và tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2005 - 2010

thành phố Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang

1 Nông - lâm nghiệp - thuỷ sản 35.718 66.514 16,80

2 Công nghiệp - xây dựng 363.328 942.349 26,90

3 Thương mại - du lịch 1.095.741 3.423.857 32,9

(Nguồn: Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Tuyên Quang thời kỳ 2006 - 2020)

3.1.2.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế của thành phố Tuyên Quang trong những năm qua bước đầu đã có sự chuyển dịch đúng hướng (giảm tỷ trọng của ngành nông - lâm nghiệp - thuỷ sản, tăng tỷ trọng ngành dịch vụ - thương mại) Năm 2010 cơ cấu kinh tế của thành phố, như sau:

Bảng 3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2005 - 2010 thành phố

Tuyên Quang - tỉnh Tuyên Quang

Đơn vị tính: %

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Tuyên Quang 2005 và 2009)

Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp trong toàn nền kinh tế thành phố Tuyên Quang giảm chậm, từ 6,46 % năm 2005 xuống còn 5,39 %

Trang 40

vào năm 2010 Tuy nhiên, tỷ trọng này vẫn còn ở mức cao làm ảnh hưởng đến tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của thành phố Tỷ trọng của ngành công nghiệp - xây dựng giảm từ 43,46 % năm 2005 xuống còn 36,96% vào năm 2010 Tỷ trọng ngành thương mại - dịch vụ tăng từ 50,8% năm 2005 lên 57,65 % năm 2010

3.1.2.3 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

* Khu vực kinh tế nông nghiệp:

Tổng giá trị sản xuất của ngành nông - lâm nghiệp - thuỷ sản năm 2010 (tính theo giá so sánh 1994) đạt 66.514 triệu đồng, tăng gấp 1,86 lần so với năm 2005 Hiện nay thành phố đang tập chung xây dựng quy hoạch vùng chuyên canh cây trồng vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và giá trị sản xuất nông nghiệp

* Công nghiệp, xây dựng:

Trong những năm gần đây ngành công nghiệp tăng trưởng khá, tạo ra những tiền đề quan trọng để phát triển công nghiệp trong những năm tiếp theo Giai đoạn 2005 - 2010 do thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế trong ngành công nghiệp nên đã huy động được nhiều nguồn lực cho phát triển Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của thành phố năm

2010 theo giá so sánh 1994 đạt 942.349 triệu đồng, tăng bình quân hàng năm 25,9 %, gấp 2,59 lần so với năm 2005

* Ngành thương mại, du lịch và dịch vụ:

- Về thương mại, dịch vụ: Thị trường đã có sự tham gia của nhiều ngành, nhiều thành phần kinh tế, hàng hoá ngày càng đa dạng về mẫu mã và chủng loại, tạo cho người tiêu dùng có nhiều hơn sự lựa chọn Các doanh nghiệp Nhà nước được củng cố và giữ vai trò chủ đạo trong việc ổn định thị trường; các doanh nghiệp ngoài quốc doanh được khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển; mạng lưới bán lẻ phát triển nhanh chóng đến tận các thôn, xóm, tổ dân phố Giá trị sản xuất khu vực dịch vụ năm 2010 theo giá

so sánh năm 1994 đạt 3.423.857 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2005 - 2010 là 32,9%/năm Đây là mức tăng trưởng cao so với các huyện khác trong tỉnh;

- Về du lịch: Có tiềm năng rất lớn để phát triển ngành du lịch Hiện nay trên địa bàn thành phố đang tiếp tục đầu tư phát triển các điểm du lịch sinh

Ngày đăng: 15/11/2014, 22:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
2. Nguyễn Đình Bồng (2007), "Quy hoạch sử dụng đất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay - thực trạng và giải pháp", Hội thảo khoa học về Quy hoạch sử dụng đất, Hội khoa học Đất Việt Nam, Viện Nghiên cứu Địa chính 24/8/2007, Viện Nghiên cứu Địa chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch sử dụng đất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay - thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Đình Bồng
Năm: 2007
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Báo cáo công tác quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đai
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2008
4. Võ Tử Can (2001), Phương pháp luận cơ bản về quy hoạch sử dụng đất đai, Chương trình Hợp tác Việt Nam - Thụy Điển về đổi mới hệ thống địa chính, Viện Điều tra Quy hoạch đất đai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận cơ bản về quy hoạch sử dụng đất đai
Tác giả: Võ Tử Can
Năm: 2001
5. Duyên Hà (2006), "Bàn về quy hoạch sử dụng đất", Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 11 (37), tháng 11, trang 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quy hoạch sử dụng đất
Tác giả: Duyên Hà
Năm: 2006
6. Nguyễn Quang Học (2006), "Nâng cao hiệu quả quy hoạch sử dụng đất", Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 11 (37), tháng 11, trang 17 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả quy hoạch sử dụng đất
Tác giả: Nguyễn Quang Học
Năm: 2006
9. Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai
11. Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về ban hành quy trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT
14. Tổng cục địa chính (2001), Phương pháp luận cơ bản về quy hoạch sử dụng đất đai ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Chương trình hợp tác Việt Nam - Thủy Điển về đổi mới hệ thống Địa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận cơ bản về quy hoạch sử dụng đất đai ở Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Tổng cục địa chính
Năm: 2001
15. Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT
16. Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT của
17. Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường Đại học Quốc gia Hà Nội (2002), Phát triển bền vững miền núi Việt Nam - 10 năm nhìn lại những vấn đề đặt ra, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững miền núi Việt Nam - 10 năm nhìn lại những vấn đề đặt ra
Tác giả: Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
23. Tôn Gia Huyên, Nguyễn Đình Bồng (2006), Quản lý đất đai thị trường bất động sản, NXB Bản đồ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đất đai thị trường bất động sản
Tác giả: Tôn Gia Huyên, Nguyễn Đình Bồng
Nhà XB: NXB Bản đồ
Năm: 2006
12. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tuyên Quang (2011), Báo cáo kết quả thi hành Luật đất đai năm 2003 tỉnh Tuyên Quang Khác
13. Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Tuyên Quang (2010), Báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2010 trên địa bàn thành phố Tuyên Quang Khác
18. Ủy ban nhân dân thị xã Tuyên Quang (2005), Báo cáo kết quả kiểm kê hiện trạng đất đai 2005 Khác
19. Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2008), Báo cáo thuyết minh Quy hoạch sử dụng đất thị xã Tuyên Quang đến năm 2010; Bản đồ hiện trạng sử dụng đất thị xã Tuyên Quang năm 2005; Bản đồ quy hoạch sử dụng đất thị xã Tuyên Quang đến 2010 Khác
20. Ủy ban nhân dân thành phố Tuyên Quang (2010), Báo cáo kết quả kiểm kê hiện trạng đất đai năm 2010 Khác
21. Ủy ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang (2008), Báo cáo thuyết minh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thị xã Tuyên Quang đến năm 2020 Khác
22. Ủy ban nhân dân thành phố Tuyên Quang (2009), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng giai đoạn 2005-2010 thành phố Tuyên Quang Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 thành phố Tuyên Quang - Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 đến 2010
Bảng 1.1. Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 thành phố Tuyên Quang (Trang 27)
Bảng 3.1. Giá trị sản xuất và tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2005 - 2010 - Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 đến 2010
Bảng 3.1. Giá trị sản xuất và tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2005 - 2010 (Trang 39)
Bảng 3.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2005 - 2010 thành phố - Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 đến 2010
Bảng 3.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2005 - 2010 thành phố (Trang 39)
Bảng 3.3. Hiện trạng sử dụng các loại đất thành phố Tuyên Quang năm 2010 - Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 đến 2010
Bảng 3.3. Hiện trạng sử dụng các loại đất thành phố Tuyên Quang năm 2010 (Trang 45)
Bảng 3.4. Kết quả điều tra việc công bố công khai quy hoạch sử dụng đất - Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 đến 2010
Bảng 3.4. Kết quả điều tra việc công bố công khai quy hoạch sử dụng đất (Trang 51)
Bảng 3.5. Kết quả điều tra việc giám sát quy hoạch sử dụng đất - Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 đến 2010
Bảng 3.5. Kết quả điều tra việc giám sát quy hoạch sử dụng đất (Trang 53)
Bảng 3.6. Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010 thành phố - Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 đến 2010
Bảng 3.6. Quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010 thành phố (Trang 54)
Bảng 3.9. Kết quả thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất nông - Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 đến 2010
Bảng 3.9. Kết quả thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất nông (Trang 66)
Bảng 3.11. Kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất chuyên - Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 đến 2010
Bảng 3.11. Kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất chuyên (Trang 72)
Bảng 3.12. Kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất có mục đích - Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 đến 2010
Bảng 3.12. Kết quả thực hiện chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất có mục đích (Trang 74)
Bảng 3.13. Kết quả điều tra hiệu quả về kinh tế của phương án quy hoạch - Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 đến 2010
Bảng 3.13. Kết quả điều tra hiệu quả về kinh tế của phương án quy hoạch (Trang 78)
Bảng 3.14. Kết quả điều tra hiệu quả về mặt xã hội của phương án quy - Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 đến 2010
Bảng 3.14. Kết quả điều tra hiệu quả về mặt xã hội của phương án quy (Trang 79)
Bảng 3.15. Kết quả điều tra hiệu quả về môi trường của phương án quy - Đánh giá hiệu quả thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2005 đến 2010
Bảng 3.15. Kết quả điều tra hiệu quả về môi trường của phương án quy (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm