Đặc biệt, vấn đề cải cách nền hành chính trong hoạt động quản lý dự án đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý kinh tế nhà nước ngày càng được quan tâm do sự tác động mạnh mẽ của
Trang 1_
NGUYỄN HOÀNG QUÝ
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TRONG QUẢN LÝ DỰ ÁN
ĐẦU TƯ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
KINH TẾ NHÀ NƯỚC TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN ĐÌNH THIÊN
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Đình Thiên Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn đảm bảo trung thực, khách quan Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác./
Ngày 20 tháng 8 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoàng Quý
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với kiến thức được các thế hệ thầy cô giáo giảng dạy truyền thụ, cùng
với thực tiễn công tác và cuộc sống Em đã chọn chủ đề : "Cải cách hành
chính trong quản lý dự án đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản
lý kinh tế Nhà nước tỉnh Quảng Ninh" làm đề tài luận văn nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu và viết đề của mình, em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình, sự đóng góp quý báu của nhiều tập thể
và cá nhân đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ để em hoàn thành bản luận văn này
Lời đầu tiên, em xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Trần Đình Thiên – Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài
Trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo Khoa sau Đại học, Trường Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh- Đại học Thái nguyên đã trang bị kiến thức và đóng góp nhiều ý kiến quý báu và tạo mọi điều kiện cho em thực hiện đề tài
Trân trọng cảm Sở Nội vụ Quảng Ninh, Sở Kế hoạch – Đầu tư Quảng Ninh, Cục Thống kê Quảng Ninh, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh, UBND huyện Hoành Bồ, Phòng Nội vụ Hoành Bồ và các đơn vị, cá nhân và đồng nghiệp đã chỉ bảo, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi nghiên cứu thực hiện luận văn tại địa phương
Với kiến thức của bản thân có hạn cùng với thời gian nghiên cứu thực tiễn chưa thực sự được như mong muốn Bản luận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Bản thân em rất mong nhận được sự cảm thông và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các đồng chí, đồng nghiệp, để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện và vận dụng có hiệu quả trong thực tiễn công tác
và cuộc sống
Em xin trân trọng cảm ơn !
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoàng Quý
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng biểu viii
Danh mục các hình, biểu đồ, sơ đồ ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 4
3.1 Mục đích nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1 Đối tượng nghiên cứu 5
4.2 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Ý nghĩa của để tài 5
6 Kết cấu của luận văn 5
Chương 1: CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TRONG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯMỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN 7
1.1 Một số vấn đề lý luận về cải cách hành chính 7
1.1.1 Khái niệm Thể chế và thể chế hành chính 7
1.1.2 Khái niệm Cải cách hành chính 9
1.1.3 Một số nguyên tắc cơ bản cho cải cách hành chính trong quản lý dự án đầu tư 11
1.1.4 Lợi ích của cải cách hành chính 14
1.1.5 Các công cụ cải cách hành chính 15
1.2 Kết quả cải cách hành chính tại Việt Nam trong thời gian qua 20
Trang 51.2.1 Những kết quả chính và những tác động đến công tác quản lý dự án
đầu tư 20
1.2.2 Những hạn chế và vấn đề đặt ra 21
1.2.3 Những tác động tiêu cực của quản lý hành chính đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và quản lý dự án đầu tư 23
1.3.3 Kinh nghiệm cải cách hành chính trong quản lý dự án đầu tư 25
1.3.4 Cải thiện cơ chế phối hợp giữa các sở, ngành ở Vĩnh Long, Bình Định, Thừa Thiên Huế và Bình Dương 40
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45
2.1 Cơ sở phương pháp luận 45
2.2 Phương pháp thu thập số liệu 45
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 45
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 49
2.3 Phương pháp xử lý số liệu 50
2.4 Phân tich số liệu 50
2.4.1 Phương pháp phân tổ 50
2.4.2 Phương pháp so sánh 50
2.4.3 Phương pháp đồ thị 51
2.4.4 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 51
2.4.5 Phương pháp dự báo 51
2.5 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích 51
Chương 3: THỰC TRẠNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNGQUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI TỈNH QUẢNG NINH 52
3.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh 52
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 52
3.1.2 Phát triển kinh tế 54
3.2 Những nỗ lực chính về cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư tại Quảng Ninh trong thời gian qua 60
Trang 63.2.1 Thiết lập bộ phận một cửa liên thông 60
3.2.2 Đơn giản và minh bạch hóa các thủ tục hành chính gắn liền với cơ chế một cửa liên thông 62
3.2.3 Áp dụng ISO trong hoạt động của cơ quan hành chính 63
3.2.4 Tin học hoá quản lý hành chính nhà nước 63
2.3 Đối với dự án đầu tư thuộc khu vực kinh tế nhà nước ở tỉnh Quảng Ninh 64
3.3.1 Về chủ trương đầu tư và Ban hành các văn bản quản lý có liên quan đến các dự án đầu tư vốn ngân sách nhà nước 64
3.3.2 Về phân cấp quản lý dự án đầu tư vốn ngân sách nhà nước 68
3.3.3 Công tác hướng dẫn lập dự án tiền khả thi và khả thi 71
3.4 Những kết quả tích cực từ cải cách quy trình thủ tục hành chính trong quản lý dự án đầu tư thuộc khu vực kinh tế Nhà nước của tỉnh Quảng Ninh 76
3.4.1 Kết quả cải cách thủ tục hành chính nói chung 76
3.4.2 Những kết quả tích cực từ cải cách qui trình thủ tục hành chính trong quản lý dự án đầu tư thuộc khu vực kinh tế nhà nước 85
3.5 Một số vấn đề còn tồn tại của cải cách quy trình thủ tục hành chính trong quản lý dự án đầu tư thuộc khu vực kinh tế Nhà nước của tỉnh Quảng Ninh 89
Chương 4: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯKHU VỰC NHÀ NƯỚC THÔNG QUA CẢI CÁCH HÀNH CHÍNHVỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ 96
4.1 Bối cảnh, xu hướng phát triển của Quảng Ninh trong giai đoạn mới và yêu cầu đặt ra đối với công cuộc cải cách hành chính và nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư 96
4.1.1 Bối cảnh và xu hướng phát triển của Quảng Ninh trong giai đoạn mới 96
4.1.2 Yêu cầu đặt ra đối với công cuộc cải cách hành chính và nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư 98
4.2 Xác định mục tiêu và nhiệm vụ cải cách hành chính về quản lý đầu tư thuộc khu vực nhà nước 100
Trang 74.2.1 Mục tiêu 100
4.2.2 Nhiệm vụ 101
4.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dự án đầu tư khu vực nhà nước tại tỉnh Quảng Ninh 103
4.3.1 Giải pháp tổng thể nhằm nâng cao hiệu quả dự án đầu tư khu vực nhà nước 103
4.3.2 Giải pháp cải cách hành chính nhằm nâng cao hiệu quả các dự án đầu tư khu vực nhà nước 106
4.4 Kiến nghị về đầu tư 108
4.4.1 Kiến nghị với tỉnh Quảng Ninh 108
4.4.2 Kiến nghị với cấp trung ương 110
KẾT LUẬN 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
International Finance Corporation, 2011
TCVN-ISO Hệ thống quản lý chất lƣợng theo tiêu chuẩn
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Các yếu tố quyết định tới sự thành công của mô hình một cửa 17
Bảng 1.2: Sự thay đổi về hồ sơ từ Quy trình thủ tục mới của Bắc Ninh 32
Bảng 1.3: Sự thay đổi về thời gian từ quy trình mới của Bắc Ninh 32
Bảng 1.4: So sánh thời gian giải quyết thủ tục hành chính tại Ninh Thuận và Trung ƣơng 38
Bảng 3.1: Tình hình đầu tƣ phát triển kinh tế trên địa bàn 56
Bảng 3.2: Kết quả năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 84
Bảng 3.3: Chỉ số quản trị hành chính công cấp tỉnhcủa Việt Nam 2011 90
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Hình 1.1: Sổ tay hướng dẫn quy trình thủ tục đầu tư vào Bắc Ninh được công
khai trên wedsite hai ngôn ngữ Việt – Anh 27
Hình 1.2: Giao diện wedsite 5 ngôn ngữ của tỉnh Đồng Nai 27
Hình 1.3: Công khai thủ tục hành chính trên website tỉnh Lào Cai 28
Biểu đồ 3.1: Tốc độ tăng trưởng GDP 54
Biểu đồ 3.2 Cơ cấu kinh tế Quảng Ninh 55
Biểu đồ 3.3: GDP bình quân đầu người 60
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ miêu tả khái quát quy trình một cửa 17
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ trình tự thủ tục tại Bắc Ninh 31
Sơ đồ 1.3: Mô hình EDO 35
Sơ đồ 1.4: Quy trình thủ tục trước và sau khi có EDO 35
Sơ đồ 1.5: Thay đổi trong quy trình tiếp nhận dự án đầu tư tại Ninh Thuận 37
Sơ đồ 3.1: Mô hình một cửa liên thông Quảng Ninh 61
Sơ đồ 3.2: Điểm PCI 2010 của Quảng Ninh và Hải Phòng 85
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, cải cách nền hành chính nhà nước và đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý kinh tế nhà nước là một trong những vấn đề then chốt nổi lên ở rất nhiều các quốc gia, trong đó có Việt Nam Đặc biệt, vấn đề cải cách nền hành chính trong hoạt động quản lý dự án đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý kinh tế nhà nước ngày càng được quan tâm do sự tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Ở Việt Nam sau hơn 25 năm đổi mới, với công cuộc phát triển đất nước theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với sự thay đổi căn bản vai trò của Nhà nước và phương thức hoạt động của nền hành chính nhà nước Có thể nói rằng, cải cách hành chính nhà nước là tiền đề và động lực thúc đẩy cải cách phát triển kinh tế - xã hội, trong đó các hoạt động quản
lý kinh tế và quản lý dự án đầu tư luôn được chú trọng Sau gần 20 năm thực hiện cải cách nền hành chính thì Việt Nam đã thu được những kết quả đáng khích lệ: hệ thống thể chế trong đó chủ yếu là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và thể chế về tổ chức, hoạt động của nền hành chính nhà nước đã từng bước hình thành và hoàn thiện theo hướng đồng bộ hơn, phù hợp với nền kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế Vai trò và chức năng kinh tế của Nhà nước đã được thay đổi căn bản từ chỗ chủ yếu sử dụng mệnh lệnh hành chính với hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh chi tiết từ trên xuống dưới trong quản lý kinh tế sang xây dựng hệ thống thị trường có tính cạnh tranh …
Công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tiến bộ, quan trọng và đáng ghi nhận nhưng vẫn đang còn nhiều tồn tại hạn chế, yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội
Trang 12bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mở cửa hội nhập quốc tế và tiến bộ khoa học công nghệ của thế giới hiện đại Nhất là chưa xác định được một cách đầy đủ, rõ ràng về khung khổ thể chế cần phải có cho quản lý các hoạt động kinh tế nhà nước và quản lý các dự án đầu tư thuộc khu vực kinh tế nhà nước Những bổ sung, sửa đổi này dù rất tích cực nhưng chất lượng còn nhiều hạn chế; mang tính chắp vá, thiếu đồng bộ và vẫn còn bị ảnh hưởng bởi thể chế cũ - thể chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp
Quảng Ninh là một tỉnh dù có nhiều nỗ lực trong công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước, nhất là trong lĩnh vực quản lý dự án đầu tư những vẫn không nằm ngoài xu thế chung của đất nước Công cuộc cải cách hành chính nhà nước và quản lý dự án đầu tư thuộc khu vực kinh tế nhà nước tỉnh Quảng Ninh trong thời gian qua được thực hiện rất tích cực, và thu được nhiều kết quả đáng khích lệ như thực hiện cơ chế “một cửa” và cơ chế “một cửa liên thông”, triển khai, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện các chính sách của Quảng Ninh cho phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương
Tuy vậy, quá trình cải cách hành chính và quản lý kinh tế nhà nước của Quảng Ninh chưa thực sự tạo được những chuyển biến căn bản theo hướng nâng cao tính dân chủ, minh bạch, công khai trong hoạt động quản lý nhà nước nhất là việc cải cách hành chính trong quản lý các dự án đầu tư, chưa phân cấp một cách hợp lý toàn diện giữa các cấp chính quyền và các nhàng chức năng của tỉnh, chưa thu hút sự tham gia tích cực và chủ động của người dân vào quá trình quản lý nhà nước, tạo cơ sở để thực hiện có hiệu quả việc phòng, chống tham nhũng Chính điều này làm hạn chế hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước nói chung và quản lý kinh tế nói riêng
Quảng Ninh là một tỉnh có rất nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển kinh tế - xã hội Với mục tiêu chung của tỉnh Quảng Ninh phấn đấu đến năm
Trang 132015 cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp, vì vậy việc đẩy mạnh thu hút đầu
tư và quản lý các dự án đầu tư đảm bảo cho một sự phát triển bền vững đang
là yêu cầu lớn đặt ra Điều này đòi hỏi tỉnh Quảng Ninh phải có những đổi mới, cải cách quyết liệt các hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói chung
và cải cách hành chính trong quản lý các dự án đầu tư nói riêng, để đảm cải cách hành chính vừa là tiền đề vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới
Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Cải cách hành chính
trong quản lý dự án đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý kinh tế nhà nước tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Hiện tại, đã có một số đề tài nghiên cứu về lĩnh vực cải cách hành chính và quản lý kinh tế nhà nước về cả lý luận và thực tiễn như:
“Báo cáo tổng hợp đánh giá cải cách hành chính nhà nước”, Ban chỉ
đạo cải cách hành chính của Chính phủ, Hà Nội, 2000;
“Báo cáo phát triển Việt Nam- thực hiện cải cách nền hành chính để tăng trưởng và giảm nghèo nhanh hơn”, Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, Hà
Nội, 2002;
“Cải cách nền hành chính nhà nước trong thời kỳ đổi mới của đất nước”,
tác giả TS Trần Đình Thắng, Học viện kỹ thuật quân sự, Hà Nội, 2007;
“Cải cách hành chính ở Quảng Ninh, chìa khóa thành công của thu hút đầu tư: Những chuyển động mạnh”, tác giả Nguyễn Huế, Báo Quảng Ninh/ ra ngày 23/02/2012
“Đánh giá hiệu quả đầu tư công tại Việt Nam”, tác giả Jay.K
Rosengard, giảng viên chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright;
“Đẩy mạnh cải cách thể chế hành chính đáp ứng yêu cầu thời kỳ đổi mới, hội nhập”, tác giả T.s Dương Quang Tung, Viện Khoa học tổ chức nhà
nước, Hà Nội, 2009;
Trang 14“Đổi mới quản lý về kinh tế”, Trung tâm Pháp - Việt đào tạo về quản lý,
Hà Nội, 2005;
“Đầu tư công: Thành quả và thách thức”,tác giả PGS TS Lê Chi Mai,
Học viện Hành chính, Tạp chí Tài chính, số 02/ 2011;
“Nâng cao hiệu quả đầu tư công ở Việt Nam”, tác giả PGS.TS
Nguyễn Đình Tài, Lê Thanh Tú, Tạp chí Tài chính số 04/2010;
…
Những công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã đề cập đến từng vấn đề riêng lẻ như cải cách nền hành chính, quản lý kinh tế, đầu tư công, quản lý dự án đầu tư công….Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách đẩy đủ, toàn diện về cải cách hành chính trong quản lý dự án đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý kinh tế nhà nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói riêng Mặc dù chưa có công trình nào nghiên cứu độc lập về vấn đề đã nêu, nhưng trong khuôn khổ
đề tài này, tác giả có sự nghiên cứu, kế thừa một số nội dung thuộc vấn đề lý luận nhưng không trùng lặp với các đề tài nghiên cứu trước đây
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của Luận văn là nhằm tổng quan những căn cứ lý luận và thực tiễn của hoạt động cải cách hành chính trong quản lý dự án đầu tư thuộc khu vực kinh tế nhà nước trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động cải cách hành chính trong quản lý dự án đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước tại tỉnh Quảng Ninh Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý dự án đầu tư khu vực kinh tế nhà nước
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, Luận văn có nhiệm vụ:
- Tổng quan cơ sở lý luận về cải cách hành chính nói chung và trong quản lý dự án đầu tư thuộc khu vực kinh tế nhà nước nói riêng;
Trang 15- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động cải cách hành chính trong quản lý dự án đầu tư thuộc khu vực kinh tế nhà nước trong thời gian qua tại tỉnh Quảng Ninh;
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh hoạt động cải cách hành chính trong quản lý dự án đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý kinh tế nhà nước tại tỉnh Quảng Ninh;
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến cải cách hành chính trong quản lý dự án đầu tư trong khu vực kinh tế nhà nước
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Tại tỉnh Quảng Ninh;
- Thời gian nghiên cứu: Từ giai đoạn 2001 đến nay và đề xuất giải pháp
cho giai đoạn tiếp theo
5 Ý nghĩa của để tài
Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể trở thành tài liệu tham khảo trong việc học tập, nghiên cứu về lĩnh vực cải cách hành chính trong quản lý
dự án đầu tư thuộc khu vực kinh tế nhà nước Đồng thời sẽ tạo điều kiện hiểu thêm về thực trạng hoạt động quản lý dự án đầu tư thuộc khu vực kinh tế nhà nước của tỉnh Quảng Ninh hiện nay Kết quả nghiên cứu của đề tài này cũng góp phần vào việc định hướng chính sách, biện pháp thực hiện cải cách hành chính nói chung và trong lĩnh vực quản lý dự án đầu tư thuộc khu vực kinh tế
nhà nước của tỉnh Quảng Ninh và các địa phương có điều kiện tương tự
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục các bảng biểu, danh mục các hình và đồ thị, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 4 chương như sau:
Trang 16Chương 1: Cải cách hành chính trong quản lý dự án đầu tư – Một số
vấn đề lý luận và thực tiễn
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng cải cách hành chính trong quản lý dự án đầu tư
thuộc khu vực kinh tế nhà nước tại tỉnh Quảng Ninh
Chương 4: Một số giải pháp chủ yếu đẩy mạnh cải cách hành chính
trong quản lý dự án đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý kinh tế nhà nước tại tỉnh Quảng Ninh
Trang 17Chương 1 CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TRONG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN 1.1 Một số vấn đề lý luận về cải cách hành chính
1.1.1 Khái niệm Thể chế và thể chế hành chính
Khái niệm thể chế được Douglass North (1990) đưa ra đầu tiên trong cuốn “Thể chế, sự thay đổi thể chế và vận hành kinh tế” với sự phân chia thể chế thành hai loại: chính thức và không chính thức2 Theo Douglass North, thể chế là những quy tắc của trò chơi trong xã hội, hay đó là những quy tắc minh bạch và mang tính nhân văn để điều chỉnh các hành vi giao dịch giữa con người với nhau Lý thuyết về thể chế được xây dựng dựa trên các hành vi ứng
xử giữa con người phù hợp với lý thuyết về chi phí giao dịch Ông đưa ra khái
niệm về thể chế thông qua một minh họa bằng sơ đồ như sau: (Hình 1)
Theo D North (1990), chi phí giao dịch phản ánh sự phức tạp của thể chế, các quy tắc vận hành kinh tế, điều tiết xã hội Sự thiếu thông tin sẽ tạo cơ hội cho những hành vi cơ hội và lũng đoạn Để ngăn ngừa điều này, các thể chế hành chính ở các quốc gia khác nhau cần phát triển một hệ thống thông tin pháp lý tin cậy và luôn luôn cập nhật đối với các bên có liên quan Điều này sẽ làm giảm chi phí giao dịch Tuy nhiên, ông cũng cảnh báo các khó khăn Đó là sự chưa rõ ràng, minh bạch trong việc làm thế nào để thể chế có thể thay đổi hiệu quả và những phương tiện, dụng cụ nào cần phải sử dụng để
có thể đạt mục đích cung cấp thông tin giá trị cho tất cả mọi người mà không vướng mắc các hành vi sách nhiễu hay tham nhũng
Trang 18Để nhấn mạnh mối quan hệ giữa thể chế và tổ chức, Douglass North (1990) cũng chỉ ra: nếu thể chế là quy tắc của trò chơi thì tổ chức là những người chơi có liên quan Tổ chức sẽ cung cấp một cấu trúc, mô hình cơ bản cho các giao dịch giữa con người với nhau Tổ chức bao gồm các tổ hợp của
kỹ năng, chiến lược và sự liên kết giữa các người chơi - các nhóm cá nhân với cùng mục đích, mục tiêu với việc sử dụng các quy tắc, luật lệ giống nhau Nhiều tác giả đồng ý với việc phân chia thể chế thành hai loại là thể chế chính thức và không chính thức của Douglass North (1990) (như đã trình bày) Trong số này, Masahiko Aoki bổ sung thêm một số yếu tố Chẳng hạn như thể chế chính thức sẽ bao gồm các quy tắc chính trị, hiến pháp, luật thành văn và các quy định, các quy tắc kinh tế và ký kết hợp đồng, còn ở thể chế không chính thức ông gắn thêm các yếu tố như: quy tắc xã hội, quy tắc đạo đức, tục lệ làng xã, v.v.Trong công trình “Hướng tới sự phân tích thể chế so sánh” ông đã nghiên cứu sự thay đổi của thể chế ở các nước đang phát triển như Việt Nam với sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường
Trong tác phẩm của mình, M Aoki bắt đầu từ việc tiếp cận lý thuyết cổ điển về thể chế kinh tế mới, trong đó đánh giá cao vai trò của khung thể chế
và chi phí giao dịch trong vận hành kinh tế Với nghĩa thể chế là quy tắc của trò chơi, sự phát triển kinh tế cùng với hiệu quả của nó luôn được xem là những yếu tố cơ bản làm thay đổi thể chế hay phải cải cách nó M Aoki chỉ ra rằng chức năng cơ bản của thể chế là làm giảm chi phí giao dịch và sự thay đổi quá lớn trong mức giá cả tương xứng là yếu tố chính dẫn đến sự tất yếu phải thay đổi thể chế
Nhìn vào kinh nghiệm từ các quốc gia đang phát triển (trong đó có Việt Nam), sự bất ổn định, leo thang về giá cả cũng như chi phí giao dịch tăng cao trong các mối quan hệ giữa các cá nhân và giữa cá nhân với Nhà nước cho thấy nguy cơ biến động thể chế, hàng loạt quy tắc, văn bản quy phạm pháp luật mới phải sửa đổi, bổ sung để điều chỉnh kịp thời M Aoki lý giải sự cần
Trang 19thiết phải thay đổi, cải cách thể chế ngoài lý do nêu trên còn có thể do tác động bởi các yếu tố văn hóa pháp lý, môi trường và tâm lý
M Aoki đã đưa ra nhiều mô hình, phân tích và lý giải sự phát triển của thể chế, đặc biệt liên quan đến thể chế hành chính ở các nước XHCN trước đây nay đã chuyển đổi sang kinh tế thị trường Ông nhấn mạnh sự hài hòa của các yếu tố mới phù hợp với các yếu tố cũ để tránh gây khủng hoảng hay các
cú sốc văn hóa lớn do những thay đổi đột ngột
1.1.2 Khái niệm Cải cách hành chính
Cải cách hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay đòi hỏi phải có cơ sở lý luận chắc chắn Dù cho mô hình về
sự tiến hóa của thể chế mà Masahiko Aoki đưa ra có vẻ phù hợp với Việt Nam nhưng vấn đề cốt lõi nhất vẫn là sự tự thích nghi trên cơ sở của các quy luật về cấy ghép và đào thải Thể chế hành chính với quan niệm là các quy tắc của trò chơi trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi giữa các bên, bao gồm nhà nước và các tổ chức, doanh nghiệp, công dân có mối quan hệ cung cầu bình đẳng Cần phải cải cách thể chế theo hướng Nhà nước phải là chủ thể cung cấp đầy đủ khung pháp lý, các thông tin pháp luật, dự báo, chính sách với đối tượng khách hàng là người dân Chỉ khi nào cung cấp thông tin đầy đủ, toàn diện, chính xác và bảo đảm thực hiện một cách vững chắc mới tạo được niềm tin và sự an tâm cho người dân trong sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh; bảo đảm xây dựng một Nhà nước pháp quyền thực sự dân chủ, công bằng và xử lý nghiêm minh với mọi hành vi vi phạm pháp luật
Cải cách hành chính ở Việt Nam trong 10 năm qua có thể nói là kết quả của tổng thể quá trình cải cách gắn với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
Ở Việt Nam hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) nào, kể cả các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước chính thức định nghĩa khái niệm cải cách hành chính Nhưng trên thực tế đã có một số quan
Trang 20niệm về CCHC như: (i) CCHC là sự thay đổi có kế hoạch, theo một mục tiêu nhất định, được xác định bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong từng giai đoạn; (ii) CCHC không làm thay đổi bản chất của hệ thống hành chính,
mà chỉ làm cho hệ thống này trở nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn
so với trước, chất lượng các thể chế quản lý nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộc sống, cơ chế hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước sau khi tiến hành CCHC đạt hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội (KTXH) của một quốc gia; (iii) CCHC tuỳ theo điều kiện của từng thời kỳ, giai đoạn của lịch sử, yêu cầu phát triển KTXH của mỗi quốc gia, có thể được đặt ra những trọng tâm, trọng điểm khác nhau, hướng tới hoàn thiện một hoặc một số nội dung của nền hành chính, đó là tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức, thể chế pháp lý, thủ tục hành chính hoặc tài chính công1
Theo các quan niệm trên, CCHC không phải là cải tổ hay cách mạng mà
là sự thay đổi có kế hoạch gắn với hoạt động quản lý hành chính nhà nước (thuộc chức năng của cơ quan hành pháp), tùy điều kiện của từng thời kỳ và mang một số nội dung cơ bản, trong đó có nội dung về cải cách thể chế
Theo nội dung thể chế hành chính nêu trên, cải cách thể chế hành chính được hiểu là:
Cải cách quy trình xây dựng và thông qua các VBQPPL liên quan đến hoạt động quản lý hành chính, nhằm làm rõ trách nhiệm giữa cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan phối hợp và lấy ý kiến của người dân;
Biểu hiện sự kết hợp giữa cải cách hành chính và cải cách lập pháp nhằm hoàn thiện các chế định pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động quản lý hành chính phát sinh trong tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội;
Xây dựng và hoàn thiện thể chế về kinh tế, tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính, xây dựng và hoàn thiện các chế định pháp luật để điều
Trang 21chỉnh các quan hệ pháp luật hành chính giữa các cơ quan nhà nước với công dân, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức, doanh nghiệp và giữa các cơ quan, tổ chức với nhau
Như vậy, để công cuộc cải cách hành chính đạt được hiệu quả, việc xây dựng và hoàn thiện các chế định pháp luật cùng với việc cung cấp thông tin pháp luật đầy đủ cho mọi tổ chức, cá nhân là một trong những yêu cầu tối cần thiết
Về cơ bản, Việt Nam phù hợp với mô hình trên trong việc công cuộc cải cách hành chính nhằm mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Trong quá trình cải cách hành chính, giống như bất kỳ các nước đang phát triển nào khác có nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường, Việt Nam không thể ngay lập tức chấp nhận kiểu sao chép mô hình Nhà nước pháp quyền cũng như các khuôn mẫu nền hành chính từ các nước phương Tây Những yếu tố, bộ phận trong thể chế hiện tại không mâu thuẫn với những nhân
tố cốt lõi của Nhà nước pháp quyền nên tiếp tục được duy trì và phát triển phù hợp với những yếu tố, bộ phận mới Trong trường hợp có yếu tố tương phản, không phù hợp với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền, nhưng cũng không hại đến trật tự xã hội và cũng không xâm phạm đến các quyền con người thì nên tiếp tục duy trì nhưng theo hướng chỉnh sửa cho phù hợp để đảm bảo sự hài hòa và tránh các cú sốc lớn làm thay đổi trật tự và an ninh xã hội
1.1.3 Một số nguyên tắc cơ bản cho cải cách hành chính trong quản lý dự
án đầu tư
a/ Khái niệm dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư
Dự án đầu tư là tổng thể những chính sách, hoạt động đầu tư và chi phí liên quan được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một thời gian nhất định
Quản lý dự án đầu tư là quá trình lập kế hoạch, tổ chức và quản lý, giám sát quá trình phát triển của dự án đầu tư nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành
Trang 22đúng thời gian, trong phạm vi ngân sách đã được duyệt, đảm bảo chất lượng, đạt được mục tiêu cụ thể của dự án và các mục đích đề ra
Các chức năng chính của quản lý dự án đầu tư
Chức năng lập kế hoạch, bao gồm việc xác định mục tiêu, công việc và
dự tính nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án;
Chức năng tổ chức, tiến hành phân phối nguồn lực gồm tiền, lao động, trang thiết bị, việc điều phối và quản lý thời gian;
Chức năng lãnh đạo;
Chức năng kiểm soát, là quá trình theo dõi kiểm tra tiến độ dự án, phân tích tình hình thực hiện, tổng hợp, đánh giá, báo cáo kết quả thực hiện và đề xuất các giải pháp giải quyết các khó khăn trong quá trình thực hiện dự án;
“Quản lý điều hành dự án” hay chức năng phối hợp
b/ Cải cách hành chính nhằm nâng cao hiệu quả quản lý dự án đầu tư
Doanh nghiệp có phát triển thì dân mới giàu, nước mới mạnh, tạo tiền đề cho một xã hội công bằng văn minh và hạnh phúc Vì vậy, trong cải cách hành chính thì tư duy cần được nhân rộng là tư duy tất cả vì sự phát triển của doanh nghiệp Là một nhân tố quan trọng cấu thành nên môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, cải cách thủ tục hành chính trong quản lý dự án đầu tư thuộc khu vực kinh tế nhà nước phải khuyến khích tính năng động của thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh và cải thiện hiệu suất kinh tế của các
dự án đầu tư Các quy trình thủ tục hành chính được thiết kế kém hoặc yếu áp dụng có thể cản trở gia nhập thị trường, làm giảm hiệu quả đầu tư, không khuyến khích tinh thần kinh doanh Ngược lại, các quy trình thủ tục hành chính tốt sẽ khích lệ tinh thần kinh doanh, giúp cho các doanh nghiệp thực hiện các dự án đầu tư đạt hiệu quả kinh tế cao
Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay, sau khi chính thức trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Quốc tế (World Trade Organization – WTO), Việt Nam đã thực sự hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, tham gia bình đẳng vào
Trang 23một sân chơi lớn, toàn cầu, đầy cơ hội nhưng cũng đầy khó khăn thách thức Khi đó nhu cầu cải cách nói chung, đặc biệt là cải cách thể chế toàn diện, đồng bộ và triệt để được đặt ra một cách bức thiết, thậm chí có thể nói là mang tính sống còn Cải cách thủ tục hành chính, một bộ phận quan trọng và đóng vai trò mở đường cho toàn bộ quá trình, đương nhiên không phải là một ngoại lệ, đứng ngoài hệ nhiệm vụ cải cách tổng thể đó Thậm chí, xét trên quan điểm hội nhập quốc tế, trong bối cảnh đất nước cần tăng cường hoạt động đầu tư - thương mại quốc tế, cần đẩy mạnh hơn bao giờ hết hoạt động thu hút vốn đầu tư nước ngoài để tạo nguồn lực đủ mạnh cho một cuộc cất cánh để đến năm 2020, “về cơ bản, đưa nước ta trở thành nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại”, thì việc cải cách thể chế nói chung, cải cách hành chính nói riêng nhằm tạo ra một môi trường thể chế lành mạnh, có đẳng cấp cao, đủ bảo đảm cho các dự án đầu tư vận hành hiệu quả và thu được lợi ích lớn, càng có tầm quan trọng to lớn và cấp bách
Đây là luận cứ cơ bản, có sức thuyết phục đủ mạnh của nhận định cho rằng cải cách hành chính hiện nay là một trong những yếu tố cốt yếu trong quá trình cải cách toàn diện đất nước khi bước vào giai đoạn phát triển trong hội nhập
Trong khung khổ chung đó, thủ tục hành chính trong các phê duyệt, thẩm định, quản lý vận hành và giám sát thực hiện các dự án đầu tư cũng phải được cải cách mạnh mẽ, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu thu hút đầu tư và tăng hiệu quả thực hiện các dự án đầu tư trong không gian hội nhập
Ở cấp độ địa phương, với tư cách là một bộ phận hữu cơ của tổng thể nền kinh tế quốc gia, các cuộc cải cách này cũng sẽ được tiến hành đồng nhịp Tuy nhiên, sự khác biệt là ở chỗ các cuộc cải cách thể chế nói chung, thể chế hành chính nói riêng ở cấp địa phương luôn luôn bị ràng buộc bởi hệ thống thể chế chung của quốc gia (gắn với hoạt động của chính quyền Trung ương)
Do đó, chúng mang tính bị động cao, bị hạn chế bởi không gian (phạm vi) thể
Trang 24chế, do vậy, khó thực hiện, dễ mang tính đối phó, bị động và đạt kết quả không cao
Dựa theo quan điểm này, việc cải cách hành chính trong hoạt động quản lý
dự án đầu tư thuộc khu vực kinh tế nhà nước nên dựa theo các nguyên tắc sau Quy trình về quản lý hành chính, trong đó, một bộ phận quan trọng là thủ tục hành chính, phải được đơn giản, công khai, minh bạch công bằng, lấy vector trọng tâm là hiệu quả của dự án đầu tư
Các thủ tục hành chính (được cải cách) phải phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật
Các quy trình và thủ tục hành chính phải tiếp cận và đạt chuẩn mực quốc tế Các quy trình và thủ tục hành chính phải phù hợp với khả năng nội tại của địa phương thực thi cải cách
1.1.4 Lợi ích của cải cách hành chính
Cải các hành chính trong quản lý dự án đầu tư, trong đó, một bộ phận rất quan trọng là các dự án thuộc khu vực kinh tế nhà nước, có vai trò rất lớn đối với phát triển kinh tế xã hội Nó giúp mang lại rất nhiều lợi ích cho cả dự án đầu tư lẫn cơ quan quản lý nhà nước
a/ Lợi ích đối với dự án đầu tư
Cải cách hành chính giúp nhà đầu tư có nhiều thời gian tập trung nâng cao hiệu quả quản lý dự án đầu tư qua phân bổ lại các nguồn lực Khi đó nhà đầu tư cũng quan tâm nhiều hơn cho việc nâng cao năng lực đưa ra quyết định lựa chọn các phương án đầu tư cũng như thay đổi các quyết định này một cách dễ dàng hơn Tăng khả năng thích ứng với môi trường kinh doanh được cải thiện từ đó nâng cao hiệu quả của dự án đầu tư
Cải cách hành chính giúp cắt giảm chi phí “chạy việc” (running cost), giảm áp lực trong quy trình thủ tục và chi phí do phải cung cấp quá nhiều hồ
sơ và các thủ tục không cần thiết
Trang 25b/ Lợi ích đối với cơ quan quản lý nhà nước
Cải cách hành chính giúp cơ quan nhà nước nâng cao hiệu quả quản lý đối với các dự án đầu tư nhờ quá trình tối ưu hóa và giảm bớt các chi phí từ
đó tăng độ hài lòng của nhà đầu tư
Tiêu chuẩn hóa và hệ thống hóa các quy trình thủ tục hành chính sẽ loại
bỏ theo quyết định sai lầm của cơ quan quản lý nhà nước có thể xảy ra
Tăng sự tin tưởng của các nhà đầu tư vào một thể chế hành chính năng động, từ đó gia tăng động cơ và trách nhiệm đóng thuế
Cải cách thủ tục hành chính sẽ tăng cường tính rõ ràng, minh bạch, cụ thể và trách nhiệm giải trình của các cơ quan và cá nhân thực hiện; nhờ đó, tăng tính cam kết và sự nỗ lực của các cá nhân, tổ chức nhằm hoàn thành tốt công việc quản lý hành chính
Cải cách hành chính sẽ góp phần chuyên nghiệp hóa bộ máy hành chính
do giúp tăng cường liên kết của mục tiêu cá nhân với mục tiêu của tổ chức Cắt giảm chi phí, giảm các cơ hội lạm dụng quyền lực của quan chức nhà nước do hệ thống thủ tục hành chính không cần thiết tạo nên
Nâng cao năng lực bộ máy quản lý để xử lý các vấn đề lớn hơn trong việc quản lý kinh tế xã hội nhà nước
1.1.5 Các công cụ cải cách hành chính
Theo Sổ tay tham khảo về cải cách hành chính dành cho địa phương1, những năm gần đây, nhiều chính quyền tích cực cải cách hành chính bằng cách đặt mình vào vị trí của doanh nghiệp để đổi mới quy trình, thủ tục hành chính theo hướng minh bạch hóa quy trình thủ tục, rút ngắn thời gian giải quyết, giảm khối lượng hồ sơ thủ tục không cần thiết Ở các quốc gia đang phát triển, các giải pháp được sử dụng chủ yếu bao gồm:
Mô hình một cửa: Cơ chế một cửa là một trong những biện pháp cải cách hành chính phổ biến, được nhiều quốc gia sử dụng, trong đó có Việt Nam
1
Cải cách quy trình và thủ tục hành chính về đầu tư, đất đai và xây dựng : Sổ tay tham khảo về cải cách hành
Trang 26Thụ lý song song: Nếu việc thực hiện các thủ tục trong quy trình không
bị phụthuộc lẫn nhau thì việc giải quyết đồng thời nhiều thủ tục cùng lúc được xem làgiải pháp tốt nhất để rút ngắn quy trình
Hội đồng thẩm định: Có thể hỗ trợ việc thụ lý song song nhiều thủ tục giữa các cơ quan liên quan bằng cách tổ chức các phiên họp liên ngành định
kỳ hoặc theo đề nghị của nhà đầu tư Cuộc họp có sự tham gia đầy đủ của đại diện có thẩm quyền của các cơ quan liên quan, với sự có mặt của nhà đầu tư,
để xem xét hồ sơ và xác định những việc nhà đầu tư cần làm tiếp theo
Chuẩn hóa yêu cầu về hồ sơ: Các cơ quan tham gia giải quyết thủ tục hành chính cần phối hợp, hạn chế tình trạng cùng một nội dung thông tin nhưng mỗi cơ quan yêu cầu khác nhau về hình thức, cách thức Các cơ quan thống nhất một mẫu hồ sơ chuẩn, được sử dụng chung cho tất cả các cơ quan
và phải cam kết thực hiện tiếp nhận hồ sơ theo mẫu chuẩn đó, trừ khi có lý do đặc biệt, chính đáng về việc không thể sử dụng mẫu chung
Quy định thời gian thụ lý và giải quyết: Cần quy định thời gian giải quyết hồ sơ một cách cụ thể, rõ ràng Thực tế cho thấy nếu quy định thời gian quá ngắn, không đủ để cơ quan có liên quan tham gia ý kiến, thì thời gian đó không khả thi và sẽ bị bỏ qua, đặc biệt nếu kết quả của TTHC liên quan tới việc sử dụng tài sản quốc gia (như đất đai) hoặc các quy định về an toàn, sức khỏe Việc quy định thời gian là cần thiết vì đó là thước đo quan trọng để đánh giá chất lượng dịch vụ hành chính
Ý nghĩa căn bản của mô hình một cửa là để doanh nghiệp và người dân chỉ phải liên hệ với một đầu mối duy nhất trong hệ thống các cơ quan chính quyền để hoàn thành mọi thủ tục hành chính, được cấp mọi giấy phép, quyết định, phê duyệt, chứng chỉ, v.v… (xem hình 1)
Trang 27Sơ đồ 1.1: Sơ đồ miêu tả khái quát quy trình một cửa
Nguồn: Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh
Các yếu tố quyết định sự thành công của mô hình một cửa
Kinh nghiệm thực tiễn ở nhiều nước cho thấy thông lệ tốt về mô hình một cửa thường bao gồm những yêu cầu và đặc điểm chính sau
Bảng 1.1: Các yếu tố quyết định tới sự thành công của mô hình một cửa
Mô hình một cửa sẽ thành công khi Mô hình một cửa sẽ thất bại nếu
Có địa điểm ở một vị trí thuận tiện
Đặt quá xa nơi tập trung nhiều doanh nghiệp khiến họ khó đi lại, khó đến làm thủ tục
Có sự cam kết và quyết tâm chính trị
của chính quyền địa phương
Thiếu quan tâm ủng hộ của chính quyền địa phương
Có vai trò quan trọng trong tổ chức và
được trao một số thẩm quyền quyết
định
Không có thẩm quyển chỉ là nơi để doanh nghiệp đến lấy đơn, tờ khai và được chỉ dẫn tới các cơ quan khác
Có đội ngũ giỏi am hiểu chuyên môn,
có kinh nghiệm và được đào tạo
chuyên môn thường xuyên
Thiếu đội ngũ cán bộ giỏi thiếu trang thiết bị cần thiết
Có quy chế hoạt động phân công trách
nhiệm giám sát và xử lý vi phạm
Không có quy chế hoạt động để định hướng bộ phận một cửa
Quy trình thủ tục, biểu mẫu, phí, lệ phí
được niêm yết và thực hiện công khai,
minh bạch
Không công khai quy trình biểu mẫu, phí và lệ phí
Có chiến lược truyền thông rõ ràng
Không có chiến lược truyền thông rõ ràng để nâng cao hiểu biết và nhận thức của các bên liên quan
Trang 28Khả năng tiếp cận: Thuận tiện trong việc liên lạc với bộ phận một cửa là yếu tố quan trọng Chẳng hạn, ở những tỉnh, thành phố lớn, thay vì chỉ duy trì một văn phòng một cửa ở một địa chỉ duy nhất, chính quyền địa phương có thể cân nhắc mở văn phòng một cửa ở nhiều địa điểm khác nhau để khuyến khích, tạo thuận lợicho doanh nghiệp và người dân đến làm thủ tục Nếu có sự trợ giúp của công nghệ thông tin, chính quyền địa phương có thể phân cấp mạnh mẽ việc tiếp nhận hồ sơ và cung cấp thông tin, sau đó dữ liệu được truyền về trung tâm
xử lý tập trung hoặccơ quan có thẩm quyền thụ lý hồ sơ để giải quyết
Sự cam kết của chính quyền địa phương: Hiệu quả của mô hình một cửa phụ thuộc rất nhiều vào mức độ cam kết và ủng hộ chính trị của chính quyền địap hương Ở một số quốc gia, việc chuyển đổi sang cơ chế một cửa đã vấp phải nhiều thách thức vì có những cơ quan liên quan không muốn trao bớt vai trò và quyền hạn của mình cho bộ máy một cửa Để khắc phục khó khăn này, chính quyền cần thể hiện rõ quyết tâm ủng hộ đổi mới để các cơ quan, dù phải giảm bớt quyền hạn hoặc chịu sự giám sát hoạt động chặt chẽ hơn, cũng phải tham gia với thái độ tích cực, hợp tác, xây dựng Sự ủng hộ mạnh mẽ của chính quyền địa phương sẽ củng cố lòng tin của người dân và thúc đẩy người dân đến với dịch vụ một cửa nhiều hơn Chi phí đầu tư mới cho bộ máy một cửa cũng là cần thiết để bộ máy vận hành tốt
Vai trò và quyền hạn: Vai trò và quyền hạn của bộ máy một cửa có nhiều mức độ khác nhau Có nơi, bộ máy một cửa được trao vai trò rất quan trọng trong hệthống hành chính, thậm chí có quyền quyết định, giải quyết một khâu công việc nào đó Có nơi, bộ máy một cửa chỉ đơn thuần là nơi hướng dẫn và cung cấp thông tin Quyền hạn mà chính quyền địa phương quyết định trao cho bộ máy một cửa có tác động lớn tới hiệu quả hoạt động của bộ máy này Chất lượng đội ngũ cán bộ: Hiệu quả hoạt động của bộ phận một cửa gắn liền với chất lượng và tính chuyên nghiệp của đội ngũ nhân viên Bộ phận một cửa cần tuyển dụng những cán bộ đủ phẩm chất, năng lực chuyên môn,
Trang 29dành cho họ những cơ hội được đào tạo đầy đủ, bài bản, thường xuyên để giúp họ dễ dàng giải quyết các vấn đề khi có phát sinh Cán bộ “một cửa” cần
am hiểu và thuần thục với quy trình giải quyết hồ sơ thủ tục
Quy chế hoạt động một cửa phải rõ ràng: Quy chế phân công nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng, có quy trình nghiệp vụ, có chuẩn mực và tiêu chí hoạt động cụ thể sẽ giúp ngăn chặn sự tùy tiện và hạn chế sai sót khi
xử lý công việc Điều này cũng tạo dựng và củng cố lòng tin trong doanh nghiệp và người dân nếu quy trình thủ tục hành chính quy định trong văn bản
đã diễn ra đúng như vậy trên thực tế và đúng như mong đợi của người dân, doanh nghiệp
Chiến lược truyền thông: Truyền thông để doanh nghiệp và người dân biết đến sự hiện diện và chất lượng hoạt động của Bộ phận một cửa có ý nghĩa quan trọng Bộ phận một cửa sẽ khôngcòn ý nghĩa nếu công chúng và những nhà đầu tư tiềm năng không biết đến những dịch vụ và chất lượng dịch
vụ hiện đang cung cấp tại bộ phận một cửa Chiến lược truyền thông không luôn luôn phải phức tạp, đồ sộ Thực tế đã chứng minh tính hiệu quả của việc truyền thông qua đài báo, tivi, tờ gập, sổ tay bỏ túi, catalô, biển hiệu, v.v ở những nơi đông người
Sự tiện nghi: Văn phòng sạch sẽ, được trang bị đầy đủ, thuận tiện cho khách hàng đến làm thủ tục có ý nghĩa quan trọng và không thể xem nhẹ Bộ phận một cửa cần đảm bảo:
Địa điểm phải đủ rộng để bố trí khu chờ cho nhà đầu tư đến làm thủ tục vànhận hướng dẫn
Địa điểm làm việc phải được niêm yết thông tin, hướng dẫn đầy đủ cho nhà đầu tư
Được trang bị một cách văn minh, trang trọng như bàn ghế ngồi chờ, bàn ghế ngồi kê khai, nước uống, máy điều hòa, máy xếp hàng tự động
Có đủ phương tiện cho cán bộ “một cửa” thực hiện nhiệm vụ như máy tính,máy in, máy photo copy và các thiết bị cần thiết khác để cán bộ “một cửa” cũng như khách hàng đến làm thủ tục đều có thể sử dụng
Trang 301.2 Kết quả cải cách hành chính tại Việt Nam trong thời gian qua
1.2.1 Những kết quả chính và những tác động đến công tác quản lý dự án đầu tư
Công cuộc phát triển đất nước theo cơ chế thị trường định hướng XHCN gắn liền với sự thay đổi căn bản vai trò của Nhà nước và phương thức hoạt động của nền hành chính quốc gia Có thể nói rằng, cải cách hành chính (CCHC) là tiền đề và động lực thúc đẩy cải cách phát triển kinh tế - xã hội Sau gần 20 năm thực hiện, CCHC tại Việt Nam đã thu được những kết quả đáng khích lệ Hệ thống thể chế trong đó chủ yếu là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và thể chế tổ chức, hoạt động của nền hành chính Nhà
nước đã từng bước hình thành và hoàn thiện theo hướng đồng bộ hơn, phù hợp với nền kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế Hệ thống thủ tục hành
chính từng bước được cải cách theo hướng đơn giản hoá, công khai hoá, nâng cao hiệu quả giải quyết công việc của các cơ quan công quyền nhà nước trong
quan hệ với nhân dân và doanh nghiệp Vai trò và chức năng kinh tế của Nhà nước đã được thay đổi căn bản từ chỗ chủ yếu sử dụng mệnh lệnh hành chính với hệ thống chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh chi tiết từ trên xuống dưới trong quản
lý kinh tế sang xây dựng hệ thống thị trường có tính cạnh tranh Tổ chức bộ
máy của Nhà nước đã được cải cách theo hướng tinh giản hơn; việc phân cấp giữa các yếu tố, phân hệ trong bộ máy quản lý Nhà nước cũng từng bước được cải thiện, tạo điều kiện cho mỗi cấp, mỗi tổ chức trong hệ thống đề cao quyền hạn, trách nhiệm đồng thời phát huy tính năng động, sáng tạo trong công việc Đội ngũ công chức Nhà nước đã được quan tâm xây dựng, bồi dưỡng về năng lực công tác, tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ nhân dân
Những cải cách trên đã góp phần tạo ra tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ trong thời gian qua, đồng thời làm cho bộ máy Nhà nước trở nên gần dân hơn, khắc phục nhiều bất cập vốn có trong thời cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp
Trang 311.2.2 Những hạn chế và vấn đề đặt ra
Công cuộc cải cách hành chính mặc dù đã đạt được những kết quả tiến bộ, quan trọng, đáng ghi nhận nhưng vẫn đang còn nhiều mặt hạn chế, yếu kém, chưa đáp ứng đòi hỏi của nhịp điệu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới, những hạn chế lớn tập trung chủ yếu ở những điểm sau:
- Cho đến nay vẫn chưa tạo lập được một hệ thống thể chế đầy đủ, đồng
bộ, phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
và dân chủ hóa đời sống xã hội trong điều kiện mở cửa hội nhập quốc tế và
tiến bộ khoa học công nghệ của thế giới hiện đại Hiện vẫn chưa xác định được một cách đầy đủ, rõ ràng về khung khổ thể chế cần có cho quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước nói chung, của công tác quản lý dự án đầu tư nói riêng trong điều kiện mới Những bổ sung, sửa đổi về mặt thể chế
mặc dù rất tích cực nhưng chất lượng còn nhiều hạn chế; mang tính chắp vá, thiếu đồng bộ và vẫn còn bị ảnh hưởng bởi thể chế cũ - thể chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp
- Thủ tục hành chính tuy đã có những tiến bộ nhất định nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều phức tạp, rườm rà, gây không ít phiền toái cho doanh nghiệp và người dân; chủ yếu vẫn theo cơ chế “xin - cho” Cơ chế “một cửa”
tuy được tuyển khai rất rộng rãi nhưng còn mang tính hình thức, chưa có chuyển biến thực sự về chất trong quan hệ giữa Nhà nước với công dân
- Việc điều chỉnh, đổi mới chức năng, nhiệm vụ của cả bộ máy hành chính Nhà nước cũng như của từng cấp, từng cơ quan hành chính còn chậm, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chưa phù hợp với thông lệ chung của thế giới trong bối cảnh toàn cầu hóa Hiện nay bộ máy hành chính Nhà nước, từ Chính phủ đến chính quyền địa phương còn ôm đồm nhiều việc thuộc lĩnh vực quản lý sản xuất, kinh doanh và hoạt động sự nghiệp dịch vụ, chưa tập trung thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước; chưa phân biệt rõ vai trò, chức năng của ba khu
Trang 32vực: Nhà nước - Thị trường - Xã hội dân sự, kể cả trong lĩnh vực thể chế cũng như trong thực tiễn hoạt động của bộ máy nhà nước
- Cơ cấu bộ máy hành chính nhà nước vẫn đang còn rất cồng kềnh, đồ sộ,
nhiều tầng cấp trung gian Việc phân cấp Trung ương - địa phương vẫn rất chậm chạp Cho đến nay, các Bộ ngành vẫn đang nắm giữ nhiều việc cụ thể của chính quyền địa phương làm hạn chế tính chủ động, sáng tạo của địa phương Các Bộ vẫn được tổ chức theo mô hình Bộ đơn ngành, đơn lĩnh vực,
cơ cấu tổ chức bên trong của các Bộ, số lượng cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh, cấp huyện lại đang có xu hướng tăng thêm đầu mối Bộ máy cồng kềnh, nhiều đầu mối như hiện nay tất yếu dẫn đến tình trạng chồng chéo, trùng lắp về chức năng, thẩm quyền và sức ỳ, sự trì trệ, quan liêu của bộ máy
là không thể tránh khỏi
- Phương thức quản lý điều hành của bộ máy hành chính các cấp vẫn theo chế độ làm việc tập thể, quyết định theo đa số có nhiều hạn chế nhưng chậm được thay đổi Hoạt động quản lý điều hành hành chính, cũng như các dạng quản lý điều hành khác, đòi hỏi phải theo chế độ thủ trưởng, phải đề cao vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu thì mới đảm bảo nhanh nhạy, hiệu lực, hiệu quả
- Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước Công tác kiểm tra, thanh tra công
vụ và xử lý cán bộ, công chức có vi phạm pháp luật tiến hành chưa nghiêm minh, chưa thường xuyên, thiếu khách quan, công bằng dẫn đến kém hiệu quả, ít tính giáo dục, răn đe, làm gương… Do vậy đạo đức công vụ, trách nhiệm của công chức chậm được nâng cao Một bộ phận cán bộ, công chức sa xút về phẩm chất đạo đức, tham nhũng, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước yêu cầu của dân, của xã hội
- Việc thực hiện yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính còn chậm, chưa có
sự thay đổi cơ bản trong phương thức lề lối làm việc của cơ quan hành chính
Trang 33và phong cách thực thi công vụ của cán bộ, công chức Khả năng sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính còn hạn chế làm cho năng suất lao động, hiệu quả công tác của công chức thấp, trình độ ngoại ngữ và tin học của đội ngũ cán bộ, công chức còn yếu trước yêu cầu hội nhập quốc tế
Tóm lại, kết quả thực hiện chương trình CCHC trong thời gian qua tuy đạt được những tiến bộ đáng kể nhưng nhìn chung còn chậm, chưa đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội và tiến trình hội nhập
1.2.3 Những tác động tiêu cực của quản lý hành chính đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và quản lý dự án đầu tư
Những hạn chế về cải cách hành chính như đã phân tích ở trên đã tạo ra những tác động bất cập, kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Những điểm nổi bật có thể chỉ ra như sau:
- Sự can thiệp hành chính của các cơ quan nhà nước vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh tế nhiều khi thái quá và vô lý Điều này
bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau: Hệ thống pháp luật kinh tế trong
cơ chế thị trường đã có bước phát triển, tuy nhiên vẫn chưa đồng bộ; Vai trò của Nhà nước với tư cách là người điều tiết vĩ mô nền kinh tế nhiều khi bị nhầm lẫn với vai trò Nhà nước là chủ đầu tư, điều này làm cho các kế hoạch của Nhà nước thiếu tính hướng dẫn nền kinh tế gắn với vận dụng nguyên tắc thị trường mà nặng về phân bổ đầu tư Nhà nước; hệ thống chính sách tài chính, tiền tệ và các công cụ điều tiết kinh tế đối ngoại vẫn còn lạc hậu chứa nhiều nội dung mang tính bao cấp, bảo hộ hoặc thiên vị quá mức
Trong điều kiện thực thi pháp luật của bộ máy Nhà nước chưa cao, những điều trên đây tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý Nhà nước can thiệp hành chính thái quá, trái thẩm quyền, trái pháp luật dưới nhiều hình thức khác nhau vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mưu cầu lợi ích cục bộ
Trang 34- Sự thiếu minh bạch, thiếu trách nhiệm giải trình và khả năng tiên liệu thấp của hệ thống thể chế và nền hành chính Tính công khai, minh
bạch của hệ thống thể chế và nền hành chính là yêu cầu quan trọng hàng đầu đối với mỗi quốc gia trong quá trình gia nhập WTO Tính minh bạch của hệ thống pháp luật bao gồm những yếu tố như công khai, chính xác, ổn định và khả năng tiên liệu được của những thay đổi chính sách và pháp luật Về khía cạnh công khai thì hệ thống pháp luật nước ta đã có những tiến bộ rõ nét, nhưng xét ở tính chính xác và ổn định thì hệ thống pháp luật
và chính sách cần được tiếp tục hoàn thiện hơn nữa, bởi vì sự thay đổi các văn bản pháp luật diễn ra khá thường xuyên và khả năng tiên liệu được của các văn bản pháp luật ở mức độ rất thấp
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu minh bạch, một trong những nguyên nhân chính là sự thiếu trách nhiệm giải trình của các cơ quan
và công chức nhà nước Sự thiếu thông tin đã cản trở đáng kể việc tham gia
và giám sát của nhân dân đối với hoạt động hoạch định, thực thi pháp luật và các chính sách, chương trình phát triển kinh tế- xã hội Mặc dù ở nước ta đã thực hiện một số sáng kiến nhằm tăng cường sự tham gia và giám sát của người dân, như thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở và hoạt động của các ban thanh tra nhân dân, tuy nhiên như vậy là chưa đủ và kết quả đạt được nói chung vẫn còn hạn chế
- Tình trạng cơ quan nhà nước sách nhiễu và gây khó khăn cho nhân dân và doanh nghiệp vẫn còn nặng nề Việc giảm thiểu và từng bước xoá bỏ
tình trạng các cơ quan nhà nước sách nhiễu và gây khó khăn cho nhân dân và doanh nghiệp vừa là phương tiện vừa là mục đích của công cuộc cải cách hành chính ở nước ta Trong những năm qua, với những nỗ lực đáng kể từ cải cách thể chế, thủ tục, bộ máy cho đến hoàn thiện đội ngũ công chức, nhiều địa phương đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận về phương diện này, điển hình là việc thực hiện Luật Doanh nghiệp và việc áp dụng thí điểm cơ chế “một cửa” Tuy nhiên, tình trạng người dân và doanh nghiệp bị gây khó
Trang 35dễ, sách nhiễu bởi các quy định, quy trình, thủ tục phiền hà cùng với nạn quan liêu, hách dịch, thiếu trách nhiệm, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, công chức vẫn còn khá phổ biến, có chiều hướng gia tăng hoặc thành thông
lệ, ảnh hưởng xấu, thậm chí nghiêm trọng, đến tình hình kinh tế và xã hội Cho đến nay chi phí và thời gian gia nhập thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn ở mức cao so với các nước trong khu vực; trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp cũng gặp phải rất nhiều rào cản từ những can thiệp gây khó dễ của các cơ quan nhà nước, nhất là tình trạng trùng lặp, chồng chéo trong hoạt động của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm soát đối với doanh nghiệp
1.3.3 Kinh nghiệm cải cách hành chính trong quản lý dự án đầu tư
Ở Việt Nam đã có một số địa phương như Lào Cai, Đồng Nai, Bắc Ninh, Long An đạt được được những cải cách thủ tục hành chính có tác động tốt tới môi trường kinh doanh cho doanh nghiệp nói chung và cho các
dự án đầu tư thuộc khu vực kinh tế nhà nước nói riêng Những cải cách đó cũng thực sự mang lại hiệu quả cho các chính quyền địa phương mà cụ thể
là các cơ quan liên quan trực tiếp tới các quy trình thủ tục hành chính Vậy các địa phương này có những cách làm hay nào? Và quá trình này để lại những bài học kinh nghiệm gì? Việc trả lời hai câu hỏi này sẽ rất hữu ích cho việc xây dựng những giải pháp cải cách thủ tục hành chính trong quản
lý dự án đầu tư của tỉnh Quảng Ninh
Những kinh nghiệm cải cách được chọn dưới đây là những thực tiễn tốt đang được triển khai hiệu quả ở các địa phương
Bắt đầu từ tăng cường thông tin cho nhà đầu tư
Việc cung cấp thông tin ngay trong giai đoạn tiếp xúc nhà đầu tư đã được nhiều tỉnh chú trọng và cải tiến Các cơ quan đăng ký kinh doanh hoạt động với tinh thần hỗ trợ và trợ giúp cao nhất, theo hướng một nhà cung cấp dịch
vụ với những tiêu chí nhanh chóng về thời gian, tiện lợi về thủ tục, giảm thiểu
về chi phí Thậm chí với sự hỗ trợ của một số tổ chức quốc tế, một số tỉnh đã
Trang 36tiến hành đào tạo cho các cán bộ đăng ký kinh doanh những kỹ năng đơn giản nhất về giao tiếp, tâm lý khách hàng, cung cấp thông tin Đáp ứng những yêu cầu khác nhau về thông tin thành lập doanh nghiệp, Phòng Đăng ký Kinh doanh của Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Bình Định đã tập hợp các loại thông tin tương ứng để cung cấp cho các đối tượng thành lập doanh nghiệp tiềm năng Ngoài những thông tin đăng tải trên website giúp doanh nghiệp tìm hiểu trực tuyến, Phòng còn chuẩn bị một hồ sơ các thông tin mẫu, lưu trong đĩa
CD, giúp doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ đầy đủ và thuận tiện Mỗi doanh nghiệp đến tìm hiểu thông tin và cần hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ đều được phát một đĩa CD miễn phí bao gồm những bộ hồ sơ mẫu thành lập các loại hình doanh nghiệp khác nhau Những bộ hồ sơ này được soạn thảo bằng ba mã phông chữ khác nhau, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ Ngoài ra, đối với những phần doanh nghiệp cần chú ý, Phòng Đăng ký Kinh doanh đã đánh dấu bằng màu phông chữ khác, tiện cho việc khai hồ sơ của doanh nghiệp và công việc thụ lý sau này Sau khi sử dụng đĩa CD, doanh nghiệp trả lại để các đối tượng doanh nghiệp khác tái sử dụng Công khai và hướng dẫn thủ tục cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư một cách chu đáo và chuyên nghiệp nhất đã được một số tỉnh, thành phố sử dụng Bắc Ninh là một dẫn chứng tốt Bắc Ninh chú trọng việc công khai thủ tục hành chính dưới nhiều hình thức (poster, bảng thông báo, trên trang web, v.v.) Bắc Ninh xây dựng một Sổ tay hướng dẫn nhà đầu tư về trình tự thủ tục đầu tư, xây dựng của doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp, trong đó cung cấp có hệ thống và chi tiết quy trình nhà đầu tư phải thực hiện, rõ ràng về cơ quan, hồ sơ, thời gian, trách nhiệm của doanh nghiệp cũng như của cơ quan Nhà nước2 Sổ tay này có đầy đủ địa chỉ, số điện thoại liên lạc của tất cả các cơ quan Nhà nước liên quan, tên đầy
đủ của các văn bản pháp lý liên quan để nhà đầu tư có thể tìm hiểu thêm, những vấn đề lưu ý khi chuẩn bị hồ sơ, các lỗi thường gặp, hỏi và đáp những vấn đề phổ biến Đây thực sự là công cụ rất hữu ích và nhiều thông tin cho nhà đầu tư
2
Trang 37Hình 1.1: Sổ tay hướng dẫn quy trình thủ tục đầu tư vào Bắc Ninh
được công khai trên wedsite hai ngôn ngữ Việt – Anh
Nguồn: Cổng Thông tin Doanh nghiệp và Đầu tư Bắc Ninh 2012
Nhiều tỉnh xác định rằng chủ động cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp là cách thức hữu hiệu để các doanh nghiệp nắm bắt được chủ trương chính sách của Nhà nước Đồng Nai là một điển hình Website của tỉnh có đến
5 thứ tiếng, ngoài tiếng Việt còn có phiên bản tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng
biến nhất tại Đồng Nai
Hình 1.2: Giao diện wedsite 5 ngôn ngữ của tỉnh Đồng Nai
Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Đồng Nai năm 2012
Trang 38
Lào Cai là tỉnh đang phát triển rất mạnh mẽ trong thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp Lào Cai hiện phát triển một hệ thống website của tỉnh khá đầy đủ thông tin, đăng tải cụ thể, chi tiết nhiều thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp Tất cả thủ tục và các biểu mẫu thủ tục và thông tin về hành chính được đăng tải công khai trên website để mọi doanh nghiệp, nhà đầu tư
có thể dễ dàng tiếp cận4
Hình 1.3: Công khai thủ tục hành chính trên website tỉnh Lào Cai
Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Lào Cai 2012
Kết nối các thủ tục hành chính liên quan đến đầu tư ở Bắc Ninh
Ma trận về thủ tục đầu tư là một trong những khó khăn đối với các doanh nghiệp và nhà đầu tư nhất là khi triển khai dự án đầu tư Giai đoạn đầu tiên khi tiến hành thủ tục đầu tư vào một địa phương thường là giai đoạn xác định địa điểm, vị trí để tiến hành đầu tư Lĩnh vực này chịu những quy định khác nhau từ pháp luật về đầu tư, đất đai, môi trường, xây dựng, v.v với rất nhiều quy định chồng chéo và mâu thuẫn Quy trình khảo sát giới thiệu địa điểm mặt bằng kinh doanh cho các nhà đầu tư tại một số tỉnh không phải thực sự thuận lợi Một số kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây5 cho thấy mặc dù thủ tục của giai đoạn này chỉ là xin phê duyệt của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về địa điểm lựa chọn và cơ quan có thẩm quyền phê duyệt là UBND tỉnh nhưng trên thực tế nhà đầu tư dường như phải tự tiếp xúc và làm việc với
Trang 39tất cả ba cấp cơ quan quản lý là cấp xã, cấp huyện và các sở ngành của tỉnh Báo cáo nghiên cứu đã thống kê từ thực tế một tỉnh như Bắc Ninh (được đánh giá là tỉnh thự chiện tốt hơn so với quy định chung hiện nay) thì chỉ riêng giai đoạn khảo sát địa điểm đã bao gồm 41 bước, 5 loại giấy tờ cần phải nộp, mất tối thiểu là 15 ngày và số lần tối thiểu đến cơ quan Nhà nước là 13 lần6
Có thể minh họa cho điều này bằng ví dụ về ma trận thủ tục tại Hà Nội 7
Nếu trong vòng một hai năm, một nhà đầu tư có thể hoàn tất thủ tục cho một dự án thì đó quả là một nhà đầu tư tài ba Hầu hết các dự án bất động sản
ở Hà Nội đều được chuẩn bị một cách âm thầm từ rất lâu trước khi chính thức được công bố Quy trình lập một dự án đầu tư hiện nay phải qua rất nhiều bước, và mỗi bước lại qua rất nhiều cơ quan quản lý khác nhau Ngay cả trong trường hợp mọi thủ tục đều ổn, riêng việc “đeo bám” các cơ quan quản lý nhà nước để hoàn tất các thủ tục là một thử thách quá lớn
Lấy ví dụ muốn lập một dự án khu đô thị mới ở ngoại thành, về nguyên tắc, nhà đầu tư phải lập một “báo cáo đầu tư sơ bộ”, trước đây gọi là “báo cáo tiền khả thi” Để đảm bảo rằng dự án có cơ hội được chấp thuận, nhà đầu tư cũng có thể xin trước một cái gọi là “chấp thuận về nguyên tắc” việc lập dự
án từ UBND thành phố Bước này rất quan trọng nhưng té ra lại không có giá trị pháp lý gì cả vì từ “chấp thuận” lập dự án đến “chấp thuận” dự án là một quãng đường rất dài
Tiếp sau “báo cáo đầu tư sơ bộ”, nhà đầu tư sẽ phải lập một “báo cáo đầu
tư khả thi” Báo cáo này về lý thuyết sẽ được gửi đến UBND thành phố để xem xét phê duyệt, nhưng trên thực tế sẽ phải nộp ở Sở Kế hoạch và Đầu tư với tư cách là “cơ quan tham mưu” chính về các dự án đầu tư
Ma trận bắt đầu xuất hiện khi báo cáo này được gửi đến hàng chục sở ngành khác để “xin ý kiến” Sự đồng ý hoàn toàn từ tất cả các sở ngành là
Trang 40trường hợp hiếm gặp Chưa kể, ngay cả khi tất cả đều đồng ý, nhưng chỉ cần một trongsố các văn bản phúc đáp có một vài chữ “tuy nhiên” hay vài ý “đề nghị xem lại nội dung A, B, C”, v.v dự án cũng có nguy cơ bị gác lại
Vấn đề là nhà đầu tư sẽ phải “nắm tình hình” ở rất nhiều cửa và gặp gỡ, làm việc với rất nhiều người khác nhau Có vô vàn biến số có thể tới và chỉ cần một trong số đó không thuận lợi thì dự án sẽ chịu ảnh hưởng Sở Tài chính có thể đưa ra những nghi ngờ về năng lực tài chính của chủ đầu tư Sở Quy hoạch Kiến trúc có thể quyết định việc cho xây 10 tầng hay 30 tầng Sở Công an có thể lo lắng chuyện phòng cháy chữa cháy trong khi quận huyện sở tại cũng có thể băn khoăn về vấn đề đền bù giải phóng mặt bằng, v.v
Lựa chọn nào đây giữa việc nhìn thời gian và cơ hội trôi đi, với việc chấp nhận“chạy” để thúc đẩy dự án? Trong khi đó, cơ chế đấu thầu công khai để lựa chọn nhà đầu tư lại chỉ được tiến hành đối với các lô đất nhỏ lẻ, hầu hết các dự án có diện tích được tính bằng hecta hiện vẫn được quyết định bằng cơ chế giao đất
Một khi các vấn đề thuần túy thị trường vẫn được quyết định bằng quy trình hành chính, rất khó để có thể thúc đẩy thị trường phát triển một cách lành mạnh trên nguyên tắc cạnh tranh, để đảm bảo rằng các sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng sẽ có chất lượng và giá cả phù hợp nhất
Do vậy, một xu hướng được nhiều địa phương lựa chọn là hệ thống hóa các văn bản của Trung ương thành một quy trình tại tỉnh, giản lược một số thủ tục chồng chéo, nhà đầu tư dễ tìm, dễ tra cứu và dễ thực hiện Trong quy trình này, thông thường tỉnh sẽ lựa chọn áp dụng khung thời gian thấp nhất
Bắc Ninh là tỉnh đã có những cải tiến đáng chú ý về quy trình này Với
sự hỗ trợ của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), UBND tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành khảo sát, đánh giá toàn bộ quy trình thủ tục đầu tư xây dựng và ban hành Quyết định số 165/2009/QĐ-UBND ngày 27/11/2009 về trình tự, thủ tục đầu
tư xây dựng mới của các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp Trước đó, UBND tỉnh đã thành lập Tổ công tác của tỉnh (Quyết định số 76/QĐ-UBND) Quyết định 165 áp dụng cho các nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân hoặc doanh