1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 đến 2010

114 854 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những quyền này tạo sơ sở pháp lý về những lợi ích cụ thể để người sử dụng đất thực sự làm chủ về việc sử dụng và kinh doanh trên đất được giao, từng bước khắc phục tình trạng manh mún r

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

Mã số : 60 85 01 03

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên, năm 2012

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nơi phân bố dân cư, là địa bàn quy hoạch, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng Việt Nam có hơn 80% dân số sống ở miền núi, trung du (chủ yếu

là đồng bào các dân tộc) lao động trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản Vì thế việc bảo vệ và sử dụng bền vững đất nông, lâm nghiệp giữ một vai trò vô cùng quan trọng

Trước tình hình chặt phá rừng, đốt rừng lấy củi, làm nương rẫy, môi trường sinh thái bị đe dọa nghiêm trọng, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương và biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng, trong đó công tác giao đất lâm nghiệp là một trong những biện pháp trọng tâm Giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn đinh vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy hoạch và kế hoạch là một chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nhằm gắn lao động với đất đai tạo động lực phát triển sản xuất lâm nghiệp, từng bước ổn định và phát triển tình hình kinh tế, xã hội, tăng cường an ninh quốc phòng Đây là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý và bảo vệ rừng đối với cấp uỷ, chính quyền các cấp, trong đó lực lượng Kiểm lâm nói chung và Kiểm lâm Lạng Sơn nói riêng là nòng cốt chủ yếu

Cao Lộc là một huyện miền núi biên giới với địa hình đồi núi là chủ yếu

Do vậy việc tổ chức quản lý sử dụng đất lâm nghiệp có hiệu quả đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao đời sống của người dân trên địa bàn Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước và các Chỉ thị, Nghị quyết của tỉnh và của huyện về công tác lâm nghiệp, nhằm làm cho mỗi mảnh đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện đều có chủ thực sự, từ năm 1993 đến nay huyện đã chỉ đạo các cấp, các ngành tuyên truyền vận động nhân dân nhận đất, nhận rừng đưa vào quản

Trang 3

lý sản xuất kinh doanh, chỉ đạo ngành kiểm lâm huyện phối hợp với ủy ban nhân dân (UBND) các xã tiến hành tổ chức giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân và các đơn vị tập thể đóng trên địa bàn huyện

Nhằm tổng kết và đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý Nhà nước nói chung và công tác giao đất lâm nghiệp nói riêng trên địa bàn toàn huyện, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình,

cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 - 2010”

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

2.1 Mục tiêu tổng quát của đề tài

Đánh giá kết quả của công tác giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân ảnh hưởng như thế nào đến đời sống của người dân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn nhằm rút ra bài học khuyến cáo cho công tác quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp đối với huyện Cao Lộc và các nơi khác có điều kiện tương tự

2.2 Mục tiêu cụ thể của đề tài

Đề tài nghiên cứu nhằm 4 mục tiêu cụ thể sau:

- Đánh giá được sơ lược tình hình cơ bản của vùng nghiên cứu ảnh hưởng đến công tác giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân

- Khái quát được thực trạng công tác giao đất lâm nghiệp, sử dụng đất lâm nghiệp và quản lý đất lâm nghiệp trước và sau khi giao cho hộ gia đình,

cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

- Đánh giá hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp đến đời sống: Kinh tế, xã hội và môi trường của người dân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý nhà nước về đất lâm nghiệp

Trang 4

3 YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

- Tìm hiểu các loại đất, các văn bản pháp luật liên quan đến công tác giao đất lâm nghiệp

- Tài liệu, số liệu thu thập đảm bảo độ chính xác và tin cậy

- Các giải pháp đưa ra có tính khả thi và phù hợp với địa bàn nghiên cứu

4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

- Ý nghĩa khoa học: Đề tài này giúp củng cố và hoàn thiện các kiến thức về Luật đất đai; nắm vững chính sách pháp luật đất đai; chính sách giao

đất, giao rừng nói chung và giao đất lâm nghiệp nói riêng

- Ý nghĩa thực tiễn: Từ quá trình nghiên cứu đề tài, giúp ta đánh giá được hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình cá nhân, tìm ra được những mặt thuận lợi và khó khăn tồn trại trong công tác giao đất lâm nghiệp để từ đó đề xuất những giải pháp khắc phục, góp phần thúc đẩy hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Cơ cở lý luận của đề tài

Để phát triển Lâm Nghiệp nói riêng và nông thôn nói chung thì đất đai

là một tư liệu sản xuất quan trọng không thể thiếu Trong những năm gần đây,bằng nhiều chính sách đất đai của Đảng và Nhà nước đã góp phần rất lớn vàocông cuộc đổi mới nông thôn nước ta Nó đã phát huy được tác dụng như: tăng hiệu quả sản xuất, giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, ổn định tình hình kinh tế xã hội ở nông thôn…

Bên cạnh đó, tài nguyên rừng ở nước ta rất đa dạng và phong phú Hằng năm rừng cung cấp nhiều loại hàng hóa phục vụ cho các ngành kinh tế như gỗ và các loại lâm đặc sản khác Ngoài những vai trò to lớn đó, rừng còn

có nhiều tác dụng trong các lĩnh vực như phòng hộ, môi trường sinh thái và cảnh quan

Có thể nói rừng có vai trò và tác dụng quan trọng không gì thay thế được trong nhiều lĩnh vực, nó luôn gắn bó với đời sống con người Tuy nhiên, trong những năm gần đây tài nguyên đất và rừng ở nước ta đã bị suy giảm nghiêm trọng

Nguyên nhân chính của tình trạng này là đất và rừng không có chủ thực

sự dẫn đến tình trạng khai thác sử dụng bừa bãi quá mức Với nhận thức là ổn định tình hình kinh tế xã hội ở nông thôn miền núi thì trước tiên phải ổn định tình hình đất đai và tài nguyên rừng Trong hoàn cảnh như vậy một loạt các chính sách về giao đất giao rừng đã được ban hành Theo đó đất và rừng được giao đến tận tay người dân để sản xuất, kinh doanh theo quy định của Nhà nước và pháp luật, mỗi mảnh đất rừng đã có chủ quản lý thực sự

Trang 6

Giao đất, giao rừng là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm tạo

sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế, xã hội ở địa bàn nông thôn, đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm cho từng tổ chức, cá nhân trong công tác quản lý và bảo

vệ rừng Qua những vấn đề nêu trên, chúng ta có thể thấy được chính sách giao đất giao rừng thực sự có vai trò rất lớn trong công cuộc bảo vệ và phát triển rừng bền vững Chính sách giao đất giao rừng thực sự đã trở thành đòn bẩy để phát triển kinh tế Lâm nghiệp và nông thôn Đồng thời nó cũng thể hiện sự biến đổi to lớn từ sản xuất lâm nghiệp truyền thống sang sản xuất lâm nghiệp có sự tham gia của toàn xã hội Việc tìm hiểu về chính sách giao đất giao rừng sẽ giúp chúng ta có cài nhìn đúng đắn hơn về công cuộc bảo vệ và

phát triển rừng ở nước ta hiện nay

1.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Nhà nước đã ban hành nhiều Luật, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị về giao đất, giao rừng nhằm gắn lao động với đất đai, tạo động lực phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, từng bước ổn định kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng

Người sử dụng đất có các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, quyền thế chấp, bảo lãnh, góp gốn bằng quyền sử dụng đất; quyền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được xác định trong Luật đất đai Những quyền này tạo sơ sở pháp lý về những lợi ích cụ thể để người sử dụng đất thực sự làm chủ về việc sử dụng và kinh doanh trên đất được giao, từng bước khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất, tạo điều kiện tích tụ ruộng đất phù hợp, thúc đẩy sản xuất nông lâm nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, thâm canh đất đai, đổi mới

cơ cấu sản xuất, đa dạng hoá cây trồng, sử dụng và bảo vệ tốt tài nguyên môi trường theo hướng một nền nông lâm nghiệp bền vững

Trang 7

1.1.3 Cơ sở pháp lý của đề tài

1.1.3.1 Một số văn bản pháp quy của Nhà nước quy định về công tác giao đất

- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng được Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ

9 thông qua ngày 12/8/1991

- Nghị định số 02/1994/NĐ-CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ ban hành Bản quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

- Thông tư số 06-LN/KL ngày 18/6/1994 của Bộ Lâm nghiệp hướng dẫn thi hành Nghị định 02/CP-1994 về giao đất lâm nghiệp

- Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng

ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

- Quyết định số 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp

- Thông tư liên tịch số 80/2003/TTLT-BNNPTNT-BTC ngày 03/9/2003 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001

- Luật Đất đai 2003 ngày 26/11/2003

- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003

- Luật bảo vệ và phát triển rừng số 29/2004/QH11 được Quốc hội khóa

11 thông qua ngày 03/12/2004 quy định về việc quản lý và bảo vệ, phát triển

và sử dụng rừng

- Thông tư số 38/2007/TT-BNNPTNT ngày 25/4/2007 của Bộ trưởng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư

Trang 8

- Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT-BNNPTNT-BTNMT ngày 29/01/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên Môi trường về việc hướng dẫn một số nội dung về giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp

1.1.3.2 Văn bản pháp quy của tỉnh Lạng Sơn quy định về công tác giao đất

- Chỉ thị số 09/CT-UB ngày 01/5/1994 của UBND tỉnh Lạng Sơn về việc tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và giao đất giao rừng

- Chỉ thị số 06/CT-UB năm 1996 của UBND tỉnh Lạng Sơn về việc tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng

- Hướng dẫn số 318/HD-ĐC-KL ngày 28/6/1997 của Sở Địa chính – Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lạng Sơn về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất Lâm nghiệp

1.2 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP

1.2.1 Khái niệm đất lâm nghiệp và giao đất

1.2.1.1 Đất lâm nghiệp

Điều 1, Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 quy định: “Đất lâm nghiệp được xác định là đất có rừng và đất không có rừng hoặc đất trống, đồi núi trọc được quy hoạch cho mục tiêu phát triển lâm nghiệp” [20]

Khoản 2, Điều 3 Thông tư liên tịch số BTNMT quy định: “Đất lâm nghiệp là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang

07/2011/TTLT-BNNPTNT-có rừng trồng đạt tiêu chuẩn rừng theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; đất đang khoanh nuôi để phục hồi rừng; đất mới trồng rừng nhưng chưa thành rừng; đất đang trồng rừng hoặc đã giao, cho thuê để trồng rừng và diện tích đất trống trong các khu rừng đặc dụng hoặc diện tích đất trống được bảo vệ trong các khu rừng khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng” [3]

1.2.1.2 Giao đất

* Khái niệm giao đất:

Trang 9

Theo Khoản 1 Điều 4 Luật đất đai 2003 quy định: “Nhà nước giao đất

là việc nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất” [22]

- Xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất, làm căn

cứ pháp lý để giải quyết mọi quan hệ đất đai đúng pháp luât

- Làm cơ sở để người sử dụng đất thực hiện các quyền: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, góp vốn, bảo lãnh quyền sử dụng đất theo pháp luật phù hợp với sự vận động vốn có của quan hệ đất đai trong thực tiễn cuộc sống

1.2.2 Chính sách giao đất lâm nghiệp ở Việt Nam qua các thời kỳ

1.2.2.1 Chính sách giao đất lâm nghiệp trước thời kỳ đổi mới (1968-1986)

Trước thời kỳ đổi mới nền kinh tế của nước ta vận hành theo kế hoạch hoá, tập trung quan liêu bao cấp và có những đặc trưng sau:

- Có hai thành phần kinh tế đó là kinh tế quốc doanh và Hợp tác xã (HTX) Trong lâm nghiệp là lâm trường quốc doanh và HTX có kinh doanh nghề rừng; trong nông nghiệp thường là nông trường quốc doanh và HTX nông nghiệp

- Kế hoạch hoá tập trung, cấp phát giao nộp

- Cơ chế thị trường có tổ chức

Các văn bản của Đảng và Nhà nước đã ban hành có liên quan đến vấn

đề giao đất lâm nghiệp trong thời kỳ này bao gồm:

Trang 10

1 Nghị định số 36/CP ngày 12/3/1968 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về “công tác vận động định canh, định cư kết hợp với HTX đối với đồng bào còn du canh du cư"

2 Quyết định số 179/CP ngày 12/11/1968 của Hội đồng Bộ trưởng về

“một số chính sách đối với HTX có kinh doanh nghề rừng"

3 Quyết định số 129/CP ngày 25/5/1974 của Hội đồng Bộ trưởng về

“một số chính sách đối với HTX, mở rộng diện tích phát triển nông, lâm nghiệp ở trung du và miền núi"

4 Chỉ thị số 257/TTg ngày 16/7/1975 của Thủ tướng Chính phủ về

“đẩy mạnh trồng rừng và đất rừng cho HTX kinh doanh"

5 Quyết định số 272/CP ngày 03/10/1977 của Hội đồng Chính phủ về

“chính sách đối với HTX mở rộng diện tích phát triển nông, lâm nghiệp, xây dựng vùng kinh tế mới, thực hiện định canh, định cư"

6 Chỉ thị 100/CT-TW ngày 13/01/1981 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về “cải tiến công tác khoán mở rộng các công tác khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp"

7 Quyết định số: 184/HĐBT ngày 06/11/1982 của Hội đồng Bộ trưởng

về “đẩy mạnh giao đất, giao rừng cho tập thể nông dân trồng cây rừng"

8 Chỉ thị 29/CT-TW ngày 12/11/1983 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về “đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng và tổ chức kinh doanh theo phương thức nông lâm kết hợp"

Như vậy trong vòng 19 năm (1968-1986) từ khi xác định chủ trương giao đất rừng cho HTX những văn bản được Nhà nước ban hành đã chứng tỏ chính sách nhất quán và kiên trì trong chủ trương giao đất, giao rừng của Đảng và Nhà nước cho HTX

* Tình hình giao đất, giao rừng trong giai đoạn 1968-1980

Đây là những năm thực hiện chủ trương đẩy mạnh trồng rừng, bảo vệ rừng và giao đất, giao rừng cho HTX sản xuất kinh doanh việc trồng rừng, bảo vệ rừng đã trở thành một ngành sản xuất quan trọng, là nhiệm vụ của

Trang 11

HTX Nhờ vậy rừng ngày càng mở rộng, diện tích rừng bị phá làm nương rẫy ngày càng giảm

Tuy nhiên số HTX làm đúng theo chủ trương chính sách còn ít, phần lớn các HTX chỉ muốn nhận rừng để khai thác lâm sản, không muốn nhận đất

để trồng cây gây rừng, công tác bảo vệ rừng chưa tốt, nạn phá rừng vẫn chưa được ngăn chặn

Trong giai đoạn này Nhà nước mới khuyến khích và công nhận sự tồn tại của hai thành phần kinh tế chủ yếu trong kinh doanh rừng đó là lâm trường quốc doanh và HTX Sau khi giao đất, giao rừng cho các HTX một số tỉnh đã

có biện pháp tích cực tăng cường chỉ đạo các HTX phát triển nghề rừng, ban hành Nghị quyết chuyên đề về lâm nghiệp quy định tổ chức quản lý và chế độ chính sách đối với các HTX kinh doanh nghề rừng, xác định loại hình HTX, tập đoàn sản xuất (lâm nông hay nông lâm)

Do không giống nhau về trình độ quản lý (nơi mạnh, nơi yếu), về điều kiện kinh doanh nghề rừng (nơi khó, nơi dễ), về quan hệ chỉ đạo (nơi quan tâm thực sự, nơi chỉ đạo buông xuôi) nên trong thời kỳ này có 3 loại hình HTX:

- Loại hình thứ nhất: Bao gồm các HTX đã thực sự đưa rừng và đất

rừng vào dạng tư doanh Các HTX thuộc loại này là HTX bước đầu đã thực hiện sản xuất rừng tốt, thực sự coi trọng nghề rừng, có đầu tư cho nghề rừng (về lao động, vốn, giống ), các HTX này đều có tổ chuyên trách gieo ươm, khai thác Việc trồng rừng cơ động chủ lực làm hạt nhân, kết hợp với toàn bộ lao động theo thời vụ, tuy nhiên loại hình HTX này còn quá ít

- Loại hình thứ hai: Là loại hình HTX được giao đất, giao rừng, nhưng vì

nhiều lý do khác nhau nên chưa đảm bảo tư doanh, vẫn hợp đồng làm khoán trồng rừng hoặc khai thác lâm sản cho lâm trường quốc doanh trên diện tích đất

và rừng được giao Tình trạng này tồn tại nhiều do các HTX trình độ quản lý có hạn, cho ràng làm khoán vẫn có thu nhập cao mà quản lý đỡ phức tạp Hợp tác

xã chỉ điều hành lao động, giải quyết tốt việc ăn chia phân phối nội bộ, còn mọi việc từ thiết kế đến giống, vốn, vật tư kỹ thuật đều do lâm trường đảm nhiệm

Trang 12

- Loại hình thứ ba: Là loại hình HTX đã nhận đất, nhận rừng nhưng chưa

đưa vào sản xuất, kinh doanh do nhiều nguyên nhân: phải tập trung lao động vào sản xuất lương thực, định hướng trồng rừng và kinh doanh lâm nghiệp chưa rõ ràng, chưa xin được vốn hỗ trợ của Nhà nước, trình độ quản lý còn kém Loại hình này chiếm đại đa số các HTX được giao đất, giao rừng Hiện tượng phổ biến nhất

ở các HTX là mới chỉ giữ rừng để lợi dụng khai thác gỗ, củi, khai thác lâm sản, nhiều nơi còn chặt phá rừng bừa bãi gây thiệt hại to lớn về tài nguyên rừng

Kết quả trong khoảng thời gian từ năm 1968 đến năm 1980 đã giao được 5 triệu ha cho 3998 HTX và tập đoàn sản xuất

* Tình hình giao đất, giao rừng giai đoạn 1980-1986

Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 184/HĐBT ngày 06/11/1982, quyết định có những nét mới hơn: đối tượng được giao đất, giao rừng thì mở rộng hơn trước, các hộ gia đình cá nhân cũng được Nhà nước giao đất với hạn mức đất và diện tích rừng cụ thể như sau:

- Giao đất cho tập thể kinh doanh thì không hạn chế khả năng sử dụng được bao nhiêu thì giao bấy nhiêu, mỗi hộ gia đình ở miền núi được cấp từ

2000 - 2500m2 cho mỗi lao động để làm vườn rừng, ngoài ra còn có thể nhận khoán đất trống đồi trọc để trồng rừng theo quy hoạch

- Về quyền lợi của tập thể, cá nhân được quy định như sau: Rừng của tập thể trồng hoặc cải tạo bằng vốn và sức lao động tự có của mình thì khi khai thác

có thể sử dụng 20 - 30% sản phẩm chính đối với rừng trồng hoặc 10 - 20% sản phẩm chính đối với rừng cải tạo, số còn lại phải bán cho Nhà nước theo giá thoả thuận

- Rừng của cá nhân trồng khi thu hoạch phải nộp cho HTX 20% sản phẩm chính, trong số 80% còn lại cá nhân được sử dụng 30% còn 70% phải bán lại cho Nhà nước theo giá thoả thuận

- Sản phẩm nông, lâm nghiệp kết hợp thì cá nhân được hưởng toàn bộ Thực hiện Quyết định trên một số địa phương đã giao đất, giao rừng cho HTX và nhân dân kinh doanh, nhưng do chưa nhận thức đúng tầm quan

Trang 13

trọng và chưa có kinh nghiệm chỉ đạo nên chưa phát huy được tác dụng tích cực của chính sách này Nếu không có biện pháp khắc phục thì sẽ dẫn đến hậu quả rất nghiêm trọng về môi trường và nhiều mặt khác nữa Vì vậy ngày 12/11/1983 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 290-CT/TW về đẩy mạnh giao đất, giao rừng, xây dựng rừng và tổ chức kinh doanh theo phương pháp nông lâm kết hợp

Chỉ thị này đã xác định rõ giao đất, giao rừng gắn liền với việc tổ chức bảo vệ và kinh doanh rừng, sử dụng có hiệu quả các diện tích đất trống, đồi núi trọc theo phương thức nông lâm kết hợp, coi việc giao đất, giao rừng là một cuộc vận động cách mạng mang nội dung kinh tế chính trị sâu sắc, một nhiệm vụ cụ thể của từng người sử dụng đất trên từng khu đất, chuyển lâm nghiệp từ trạng thái tự nhiên sang kinh doanh có tổ chức, có kế hoạch Chỉ thị

đã nêu ra một số định hướng chính sách quan trọng như: Nhà nước hỗ trợ một phần vốn, giống, công cụ chuyên dùng, vật tư cho HTX và nhân dân; Nhà nước bán đối lưu lương thực theo giá đảm bảo kinh doanh cho những nơi thực

sự không có đủ điều kiện để sản xuất đủ lương thực

Ngày 18/01/1984 Ban Bí thư TW Đảng ban hành Chỉ thị số 35/CP - TW

về việc khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình Nhà nước cho phép các hộ gia đình nông dân tận dụng mọi nguồn phát triển đất mà HTX, nông trường chưa

sử dụng hết để đưa vào sản xuất Nhà nước không đánh thuế sản xuất kinh doanh đối với hộ gia đình, chỉ đánh thuế tái sinh; đất phục hoá được miễn thuế trong vòng 5 năm, hộ gia đình nông dân được tiêu thụ các sản phẩm làm ra

Kết quả giao đất, giao rừng trong thời kỳ 1980-1986 đã giao được 1.934.000ha cho 1.724 HTX, 610 cơ quan đơn vị trường học và 349.750 hộ gia đình [12]

1.2.2.2 Chính sách giao đất nông - lâm nghiệp trong thời kỳ đổi mới (1986 đến nay)

Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam tháng 12/1986 đã đánh dấu thời kỳ đổi mới của Việt Nam với tư tưởng chỉ đạo là triệt

Trang 14

để xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đường lối này ngày càng được hoàn chỉnh trong các Nghị quyết Đại hội Đảng các lần tiếp theo

Luật Đất đai được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII thông qua ngày 28/12/1987 đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình xây dựng các chính sách đất đai ở nước ta

* Giai đoạn 1986 -1993

Chủ trương của Nhà nước trong giai đoạn này là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, ngoài thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể Nhà nước có chủ trương giao đất cho hộ gia đình và cá nhân, điều này đã khuyến khích rất nhiều người nhận diện tích đất trống, đồi núi trọc để đầu tư vốn trồng rừng Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh bằng nhiều hình thức thích hợp tuỳ điều kiện cụ thể theo từng vùng như vườn rừng, trại rừng, vườn cây công nghiệp, cây ăn quả, lương thực, thực phẩm, dược liệu kết hợp với cây rừng (nông lâm kết hợp)

Song song với việc thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị về ”đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”, ngày 19/08/1991 Luật bảo vệ và phát triển rừng đã được Nhà nước công bố, tại Điều 1 quy định: ”Nhà nước giao rừng, đất trồng rừng cho tổ chức và cá nhân để phát triển và sử dụng ổn định, lâu dài theo quy hoạch và kế hoạch của Nhà nước”;

Tổ chức và cá nhân đang sử dụng hợp pháp đất trồng rừng được tiếp tục sử dụng theo quy định tại Điều 3: “Nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đầu tư lao động, tiền vốn, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật công nghệ vào các việc gây trồng rừng, bảo vệ rừng, khai thác, chế biến”

Ngày 15/9/1992 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Quyết định số 327/CT về việc ban hành một số chủ trương, chính sách sử dụng đất trống đồi núi trọc, rừng, bãi bồi, ven biển và mặt nước hoang (gọi tắt là Chương trình

Trang 15

327) Nội dung chủ yếu của Chương trình 327 là tập trung cải tạo mới rừng phòng hộ và rừng đặc dụng gồm: bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng gắn nông nghiệp với lâm nghiệp; khôi phục lại môi trường sinh thái; giải quyết việc làm, tăng thu nhập, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc; điều chỉnh lại lao động dân cư giữa các vùng Qua đây nhận thức về bảo vệ và chăm sóc rừng, nông lâm kết hợp, tiếp thu kỹ thuật thâm canh, ý thức về sản xuất hàng hoá của đồng bào dân tộc vùng núi đã được nâng lên một bước

Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội thông qua đã đánh dấu kết quả một quá trình nghiên cứu, vận dụng thực tiễn để thể chế hoá các chính sách mới về đất đai, vừa đảm bảo phát huy quan hệ sở hữu toàn dân, phù hợp với cách vận hành mới của một nền kinh tế hàng hoá bắt đầu tiếp cận với cơ chế thị trường Luật Đất đai năm 1993 trong quá trình thực hiện vẫn còn bộc lộ một số bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, do đó Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và 2001 đã có những vấn đề nổi bật đáng lưu ý như:

- Hộ gia đình cá nhân là đối tượng được giao đất sản xuất nông, lâm nghiệp, thay vì giao cho HTX và tập đoàn nông, lâm nghiệp như trước đây

- Người sử dụng đất có quyền sử dụng ổn định lâu dài, ngoài ra còn có các quyền "Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, góp vốn" tạo cơ

Trang 16

sơ pháp lý về những lợi ích cụ thể để người sử dụng đất thực sự làm chủ về sử dụng và kinh doanh trên đất được giao

- Khẳng định đất có giá và Nhà nước xác định giá đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại khi bị thu hồi đất

Ngoài ra, Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung năm 1998 và năm 2001 còn đề cập nhiều vấn đề đổi mới khác như: quy định mức hạn điền, thời hạn sử dụng đất, đất dành cho nhu cầu công ích Đây là những quy định

cụ thể hoá bằng các Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993, Nghị định số 85/CP ngày 28/8/1999 của Chính phủ ban hành quy định về giao đất nông nghiệp và Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994, Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 về việc giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình

và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp [12]

1.2.3 Thẩm quyền giao đất lâm nghiệp

Thẩm quyền xác lập các khu rừng và giao đất lâm nghiệp được quy định tại Điều 11 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991; Điều 8 Nghị định

số 17/HĐBT ngày 17/01/1992 của Hội đồng Bộ trưởng về thi hành Luật bảo

vệ và phát triển rừng (nay là Chính phủ), cụ thể như sau:

- Các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất do Thủ tướng Chính phủ quyết định xác lập thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi có rừng làm thủ tục bàn giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định xác lập và giao:

+ Các khu rừng phòng hộ có quy mô diện tích dưới 20.000ha; khu di tích văn hoá, lịch sử, cảnh quan du lịch ở địa phương sau khi có sự nhất trí của Bộ Lâm nghiệp hoặc các ngành có liên quan: giao cho các tổ chức Nhà nước ở địa phương quản lý, sử dụng

Trang 17

+ Các khu rừng sản xuất ở địa phương có diện tích từ 1000ha đến dưới 20.000ha; các khu rừng đặc sản dưới 5.000ha: giao cho các tổ chức ở địa phương quản lý, kinh doanh theo quy hoạch của Nhà nước

+ Giao cho doanh nghiệp tư nhân trong nước diện tích đất lâm nghiệp

từ 100ha đến dưới 1000ha để sản xuất kinh doanh lâm nghiệp theo quy hoạch

và kế hoạch của Nhà nước

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện quyết định:

+ Giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân để làm vườn rừng, sản xuất nông lâm kết hợp, sản xuất kinh doanh lâm nghiệp theo quy hoạch của tỉnh

+ Giao rừng sản xuất cho các tổ chức, các cộng đồng làng, bản ở địa phương theo quy hoạch của tỉnh [20]

1.2.4 Các quy định về giao đất lâm nghiệp

1.2.4.1 Giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp

Những quy định về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp quy định cụ thể về quỹ đất được giao, căn cứ quyết định giao, thời hạn giao và hạn mức được giao được thể hiện ở các Điều 2, 28, 33, 36 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991; Điều 18 Hiến pháp 1992; Điều 1, Điều 20 Luật Đất đai năm 1993

và Luật sửa đổi bổ sung năm 1998, 2001; Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994; Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ

và một số văn bản dưới luật có liên quan khác

* Đối tượng giao đất lâm nghiệp để sử dụng ổn định lâu dài được quy định tại Điều 4, Nghị định số 163/1999/NĐ-CP như sau:

- Các tổ chức như: Ban quản lý các khu rừng phòng hộ, khu rừng đặc dụng; các doanh nghiệp lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp; các trạm trại,

xí nghiệp giống lâm nghiệp; các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, trường học, trường dạy nghề

Trang 18

- Các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp lao động nông nghiệp, lâm nghiệp

mà nguồn sống chủ yếu là thu nhập có được từ các hoạt động sản xuất đó được UBND xã nơi có đất lâm nghiệp xác nhận

- Các hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất theo Nghị định số 02/CP từ trước ngày 01/11/1999 thì được trực tiếp sử dụng cho đến hết thời hạn được Nhà nước giao và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất [6]

* Quỹ đất lâm nghiệp để giao, cho thuê:

- Gồm toàn bộ đất có rừng tự nhiên, đất có rừng trồng và đất chưa có rừng đã được quy hoạch để trồng cây gây rừng khoanh nuôi, bảo vệ thảm thực vật, không phân biệt độ dốc được tính vào quỹ đất lâm nghiệp để giao cho hộ gia đình, cá nhân quản lý và sử dụng ổn định lâu dài

- Tùy thuộc vào từng mục đích sử dụng đất lâm nghiệp, từng loại rừng

đã quy hoạch để giao đất, cho thuê đất cho từng đối tượng cụ thể:

+ Nhà nước giao cho các tổ chức (ban quản lý, các doanh nghiệp lâm nghiệp, nông nghiệp) quản lý sử dụng ổn định lâu dài: Toàn bộ đất lâm nghiệp

là rừng đặc dụng và rừng phòng hộ đầu nguồn xung yếu và rất xung yếu; Rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu và các loại rừng phòng hộ khác tập trung, xa khu dân cư; Đất lâm nghiệp là rừng sản xuất tập trung, xa khu dân cư; Đất lâm nghiệp dự trữ quốc gia

+ Nhà nước giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài những loại đất lâm nghiệp sau: Đất có rừng tự nhiên, rừng trồng, đất để trồng rừng mà hộ gia đình, cá nhân đang trực tiếp quản lý sử dụng hợp pháp do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã giao những năm trước đây; Đất có rừng hoặc chưa có rừng thuộc phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu, rừng chắn gió, chắn cát, chắn sóng lấn biển đã ổn định, rừng sản xuất nằm xen kẽ trong các khu dân cư, gần vùng dân cư; Đất chưa có rừng bảo vệ sinh thái

+ Nhà nước giao cho các Chi cục Kiểm lâm trực tiếp quản lý các vùng đất lâm nghiệp chưa được giao cho các chủ cụ thể

Trang 19

* Căn cứ để quyết định giao đất lâm nghiệp được quy định tại Điều 4, Nghị định số 02/NĐ-CP như sau:

- Giao đất lâm nghiệp phải dựa trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; khoanh định rõ các loại đất; quy hoạch đất lâm nghiệp xác định các loại rừng trên từng địa bàn cụ thể

- Căn cứ vào quỹ đất lâm nghiệp của từng địa phương

- Căn cứ vào nhu cầu, khả năng sử dụng đất lâm nghiệp của các tổ chức được ghi trong luận chứng kinh tế kỹ thuật hay trong dự án quản lý xây dựng khu rừng đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; đơn xin giao đất lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được UBND cấp xã nơi cư trú xác nhận

- Căn cứ vào kế hoạch nguồn vốn đầu tư hỗ trợ hàng năm của Nhà nước (đối với trường hợp việc giao đất lâm nghiệp có gắn với thực hiện các

dự án đầu tư hỗ trợ bằng vốn của Nhà nước) [5]

* Thời hạn giao đất lâm nghiệp được quy định tại Điều 6, Nghị định số 02/NĐ-CP như sau:

- Đối với các tổ chức của Nhà nước: thời hạn giao được quy định theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Nhà nước

- Đối với các tổ chức khác, hộ gia đình, cá nhân: thời hạn giao là 50 năm, hết thời hạn quy định nếu người sử dụng đất vẫn có nhu cầu và sử dụng đất đúng mục đích thì Nhà nước giao tiếp [5]

* Hạn mức đất được giao được quy định tại Điều 13, Nghị định số 163/1999/NĐ-CP như sau:

Tuỳ thuộc vào quỹ đất của từng địa phương, trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất đai, quy hoạch các loại rừng, nhu cầu sử dụng đất của các tổ chức,

hộ gia đình và cá nhân kết hợp với yêu cầu quản lý cuả Nhà nước đối với từng loại rừng và yêu cầu cụ thể để giải quyết hạn mức giao cho từng đối tượng, dựa trên nguyên tắc mọi tổ chức, hộ gia đình cá nhân có nhu cầu, khả năng sử dụng đất lâm nghiệp hoặc theo nhiệm vụ được giao quản lý của dự án

Đảm bảo cho các đối tượng thực sự có đất để bảo vệ rừng, khoanh nuôi

Trang 20

tái tạo rừng, mở rộng diện tích trồng rừng mới, đảm bảo cho các thành phần kinh tế có nhu cầu khả năng sử dụng đất lâm nghiệp để xây dựng cơ cấu kinh

tế miền núi theo hướng chuyển sang cơ cấu kinh tế hàng hoá, phù hợp với đặc điểm của từng vùng, từng dân tộc, phát huy thế mạnh lâm nghiệp, cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả [6]

1.2.4.2 Giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp

* Đối tượng được giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp được quy định tại Điều 2 Nghị định số 135/2005/NĐ-CP như sau:

Điều 2 Đối tượng áp dụng

1 Nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh (gọi chung là bên giao khoán) hạch toán độc lập hoặc hạch toán phụ thuộc được Nhà nước giao đất, cho thuê đất; giao rừng, cho thuê rừng; giao hoặc cho thuê đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản

2 Cán bộ, công nhân, viên chức đang làm việc cho bên giao khoán; hộ gia đình có người đang làm việc cho bên giao khoán hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, được hưởng chế độ đang cư trú trên địa bàn; hộ gia đình có nhu cầu trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản đang

cư trú trên địa bàn (ưu tiên hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn đang cư trú trên địa bàn có nhu cầu nhận giao khoán đất), các đối tượng này được gọi chung là bên nhận khoán [8]

* Căn cứ giao khoán và nhận khoán quy định tại Điều 5 Nghị định số 135/2005/NĐ-CP như sau:

“Điều 5 Căn cứ giao khoán và nhận khoán

1 Quỹ đất, quỹ rừng của bên giao khoán bao gồm: diện tích đất, diện tích rừng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao, cho thuê để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản

2 Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của bên giao khoán

3 Dự án đầu tư hoặc phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh của bên giao khoán được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

Trang 21

4 Khả năng vốn, trình độ quản lý và lao động của bên nhận khoán

5 Các chính sách đầu tư, hỗ trợ bằng vốn của Nhà nước và các chính sách kinh tế - xã hội khác” [8]

* Nội dung giao khoán đất lâm nghiệp tuỳ theo từng loại rừng được quy định tại Điều 15 và Điều 16 Nghị định số 135/2005/NĐ-CP như sau:

“Điều 15 Giao khoán rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng trồng

1 Giao khoán rừng sản xuất là rừng tự nhiên

a Thực hiện giao khoán rừng cho bên nhận khoán để chủ động đầu tư vốn, lao động, tổ chức sản xuất kinh doanh nông, lâm kết hợp;

b Bên giao khoán phải xây dựng phương án điều chế rừng để thực hiện quản lý, bảo vệ, chăm sóc, khai thác rừng theo nguyên tắc bền vững Căn cứ phương án điều chế rừng được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bên giao khoán

ký hợp đồng giao khoán rừng với bên nhận khoán để bên nhận khoán chủ động tổ chức sản xuất (quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, kết hợp trồng bổ sung) và khai thác theo luân kỳ của từng loại rừng;

c Nội dung hợp đồng khoán phải thể hiện rõ diện tích đất, diện tích rừng, thực trạng chất lượng rừng giao khoán; vị trí, ranh giới diện tích giao khoán thể hiện trên bản đồ và ngoài thực địa; tỷ lệ phân chia giá trị sản phẩm chính khi khai thác theo luân kỳ tương ứng với vốn, lao động mỗi bên đã đầu

tư, biện pháp tổ chức triển khai giao khoán rừng cụ thể bảo đảm công bằng dân chủ, công khai;

d Trong quá trình thực hiện hợp đồng khoán, bên nhận khoán được tận thu lâm sản, thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành; được sản xuất nông, lâm kết hợp; chăn nuôi dưới tán rừng và được khai thác lâm sản phụ theo hướng dẫn của bên giao khoán;

đ Thời gian khoán theo chu kỳ kinh doanh của từng loại rừng, nhưng tối đa không quá 50 năm

2 Giao khoán rừng sản xuất là rừng trồng

Trang 22

a Rừng sản xuất sau khi đã trồng xong, thực hiện giao khoán rừng cho bên nhận khoán để tiếp tục đầu tư chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ và tổ chức sản xuất nông, lâm kết hợp;

b Nội dung hợp đồng giao khoán phải xác định rõ diện tích, cấp tuổi rừng, trữ lượng rừng, chất lượng rừng, nội dung chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo

vệ rừng, khai thác, trách nhiệm của bên nhận khoán và bên giao khoán, tỷ lệ phân chia giá trị sản phẩm khi khai thác tương ứng với vốn, lao động mỗi bên

đã đầu tư, thời hạn hợp đồng giao khoán;

c Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên nhận khoán được tận thu lâm sản khi thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành và sản xuất nông, lâm nghiệp, ngư nghiệp kết hợp theo hướng dẫn của bên giao khoán, được hưởng sản phẩm tận thu đó theo hợp đồng đã ký;

d Thời gian giao khoán theo chu kỳ kinh doanh của từng loại rừng, nhưng tối đa không quá 50 năm”

“Điều 16 Giao khoán đất trồng rừng sản xuất

1 Bên giao khoán xây dựng dự án trồng rừng, suất đầu tư và ký hợp đồng giao khoán đất cho bên nhận khoán để trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng đến khi khai thác; sản phẩm gỗ thu hoạch phân chia theo tỷ lệ tiền vốn đầu tư và công lao động đã đóng góp giữa bên giao khoán và bên nhận khoán

Tuỳ tình hình cụ thể của bên giao khoán và bên nhận khoán để lựa chọn các mô hình sau:

a Bên giao khoán đầu tư 100% vốn (bao gồm thiết kế, cây giống, phân bón, vật tư, tiền công khoán), chỉ đạo kỹ thuật, hỗ trợ công tác bảo vệ rừng bên nhận khoán nhận thực hiện công việc từ trồng, chăm sóc, bảo vệ từ khi trồng đến hết chu kỳ kinh doanh Khi khai thác, bên nhận khoán thanh toán bằng sản phẩm gỗ thu hoạch cho bên giao khoán tương ứng giá trị đã nhận đầu tư (tính cả vốn + lãi suất) theo thoả thuận ghi trong hợp đồng khoán;

Trang 23

b Bên giao khoán đầu tư vốn; thiết kế; cung cấp cây giống, phân bón; chỉ đạo kỹ thuật; hỗ trợ công tác bảo vệ rừng cho bên nhận khoán trồng, chăm sóc trong một số năm đầu Sau đó chuyển sang giai đoạn chăm sóc, bảo vệ, bên nhận khoán tự bỏ vốn để tiếp tục chăm sóc, bảo vệ đến hết chu kỳ kinh doanh Khi khai thác gỗ bên nhận khoán được hưởng tỉ lệ sản phẩm tương ứng với vốn và công sức bỏ ra theo thoả thuận đã ghi trong hợp đồng;

c Bên nhận khoán tự bỏ vốn để trồng, chăm sóc, bảo vệ; bên giao khoán chịu trách nhiệm thiết kế, cung cấp cây giống, tư vấn kỹ thuật, dịch vụ phân bón; chỉ đạo thi công, kiểm tra, giám sát, hỗ trợ công tác bảo vệ rừng trong cả quá trình thực hiện hợp đồng

Sản phẩm gỗ khai thác bên nhận khoán thanh toán cho bên giao khoán bằng sản phẩm tương ứng với giá trị cây giống, dịch vụ và công lao động đã đầu tư Phần còn lại bên nhận khoán được hưởng, nhưng phải bán cho bên giao khoán theo giá thoả thuận giữa hai bên tại thời điểm khai thác; trường hợp bên giao khoán không mua thì bên nhận khoán được tự do tiêu thụ

2 Ngoài việc được trả tiền công khoán hoặc hưởng tỉ lệ sản phẩm như các quy định tại mục a, b, c khoản 1 Điều này, bên nhận khoán được:

a Trồng xen cây nông nghiệp với cây rừng khi rừng chưa khép tán, được sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp kết hợp dưới tán rừng, rìa rừng nhưng không được làm ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của cây rừng, theo hướng dẫn của bên giao khoán và được hưởng toàn bộ sản phẩm trồng xen đó;

b Tận dụng lâm sản trong quá trình thực hiện các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo quy trình, quy phạm kỹ thuật hiện hành và theo hướng dẫn của bên giao khoán, được hưởng sản phẩm tận thu đó theo hợp đồng đã ký

3 Thời gian khoán theo chu kỳ cây trồng, nhưng tối đa không quá 50 năm” [8]

1.2.4.3 Quyền và nghĩa vụ của người được giao đất lâm nghiệp

Quyền và nghĩa vụ của người được giao đất lâm nghiệp được quy định tại Điều 15 Nghị định số 02/CP như sau:

Trang 24

“1 Quyền lợi:

a Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

b Được nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp trên diện tích đất Lâm nghiệp được giao;

c Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích đất Lâm nghiệp được giao theo luận chứng kinh tế kỹ thuật, phương án quản lý,

dự án đầu từ hoặc theo kế ước, theo hợp đồng khoán;

d Được hưởng chính sách hộ trợ cuả nhà nước trong việc bảo vệ và phát triển rừng;

đ Được đền bù, bồi hoàn thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất Lâm nghiệp được giao theo thời giá thị trường và hiện trạng cuả rừng, đất trồng rừng trường hợp bị thu hồi theo quy định của pháp luật;

e Được để thừa kế, chuyển nhượng, thế chấp, chuyển đổi quyền sử dụng đất Lâm nghiệp được giao theo quy định của pháp luật;

f Được miễn hoặc giảm thuế trong trường hợp gây trồng rừng trên đất trống, đồi, núi trọc theo quy định cuả pháp luật

c Nộp thuế theo quy định của pháp luật” [5]

1.3 CÔNG TÁC GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

Ở VIỆT NAM

1.3.1 Công tác giao đất lâm nghiệp tại huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang

Huyện miền núi Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã xây dựng chương trình hướng cho bà con các dân tộc chuyển diện tích rừng nghèo kiệt giá trị kinh tế thấp sang trồng rừng kinh tế có giá trị cao Chương trình này thực sự đã đi vào cuộc sống, được bà con các dân tộc hưởng ứng và đạt hiệu quả cao

Trang 25

Huyện miền núi Bắc Quang có diện tích đất lâm nghiệp gần 70 nghìn ha đều nằm trong dải núi đất, có độ dốc vừa phải, độ ẩm cao Đây chính là tiềm năng để huyện phát triển kinh tế rừng Song đất rừng ở Bắc Quang mới chỉ ở dạng tiềm năng, chưa được khai thác trồng rừng đưa lại hiệu quả kinh tế cao Ngoài 28 nghìn ha rừng phòng hộ được bảo vệ, trên 41 nghìn ha rừng sản xuất mới có 1/2 diện tích được phủ rừng theo các chương trình, dự án như 661, rừng nguyên liệu giấy và phần diện tích còn lại là rừng tạp, rừng nghèo kiệt cho hiệu quả kinh tế thấp Những diện tích đất rừng nghèo kiệt này hầu hết là nương rẫy cũ của bà con các dân tộc bỏ sau khi đã hết màu, sau đó hạt cây phát tán rơi xuống nương và cây rừng tự mọc lên, chủng loại cây mọc trên đất này hầu như không có giá trị bởi đều là cây tạp, gỗ từ nhóm 5 trở lên

Nhằm phát huy lợi thế và khai thác tiềm năng đất rừng có hiệu quả phục vụ mục tiêu phát trển kinh tế-xã hội, huyện Bắc Quang đã tập trung tuyên truyền, tiến hành giao đất rừng nghèo kiệt cho từng hộ dân vùng rừng

và xây dựng chính sách cụ thể hỗ trợ cho bà con các dân tộc chuyển rừng nghèo kiệt sang trồng rừng kinh tế Theo đó, huyện hỗ trợ toàn bộ cây giống cho bà con ở các xã vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu và vùng nhiều đồi đất trống, phá rừng tạp chuyển sang trồng rừng kinh tế Mức hỗ trợ cho trồng 1ha rừng từ 1.800 - 2.200 cây giống (giống cây Keo, Mỡ, Bồ đề) và gần 1.500 cây giống (giống cây Luồng, Tre ) Ngoài ra, huyện còn cử cán bộ kỹ thuật tổ chức các lớp tập huấn ngay tại các thôn, bản để hướng dẫn bà con biết kỹ thuật trồng, chăm sóc rừng Với chủ trương này, hơn 4 năm qua có 4.157 hộ

ở 19 xã trong huyện đã trồng được trên 19 nghìn ha rừng kinh tế, trong đó có nhiều xã ở vùng đặc biệt khó khăn đã chuyển đổi rừng nghèo kiệt sang trồng rừng kinh tế có hiệu quả cao như xã Đông Thành trồng được trên 1.163ha; người Dao ở xã Thượng Bình, xã đặc biệt khó khăn đã chuyển đổi gần 900ha rừng nghèo kiệt Từ trồng rừng kinh tế, nhiều hộ dân đã có nguồn thu nhập ổn định và ấp ủ ước mơ làm giàu từ rừng như hộ chị Hoàng Thị Đệ ở thôn Tiến Thành, xã Đông Thành: Gia đình chị đã chuyển 5ha rừng nghèo kiệt (rừng

Trang 26

cây Nứa, Vầu, Cọ) sang trồng Keo được một chu kỳ sản xuất (6 - 7 năm), mỗi

ha cho trên 100m3 gỗ Với giá thu mua bình quân hiện nay là 1,5 triệu đồng/m3

thì gia đình chị có thu nhập không nhỏ Ngoài ra khi cây chưa đến tuổi thu hoạch, chị vẫn có nguồn thu từ tỉa cành, tỉa cây làm chất đốt và bán ra thị trường Trồng rừng kinh tế đang là hướng đi giúp bà con vùng rừng trong huyện Bắc Quang nhanh chóng thoát nghèo [13]

1.3.2 Công tác giao đất, giao rừng tại tỉnh Tuyên Quang

Giao rừng trồng sản xuất gắn với giao đất lâm nghiệp ổn định, lâu dài

để rừng có chủ đích thực; nhằm bảo vệ và khai thác có hiệu quả tiềm năng rừng của tỉnh; tạo động lực khuyến khích nhân dân tham gia bảo vệ và đầu tư phát triển rừng Đảm bảo hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của người được giao rừng và đất lâm nghiệp; thực hiện nguyên tắc giao rừng theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước và trên cơ sở tự nguyện, thoả thuận, không làm mất vốn của Nhà nước đã đầu tư trồng rừng Ngày 17/3, Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã ban hành quyết định số 65/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án giao rừng trồng gắn với giao đất lâm nghiệp thuộc chương trình 327 và Dự án 661 đã quy hoạch lại là rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang năm 2010

Giao rừng trồng gắn với giao đất lâm nghiệp trên diện tích gần 19 nghìn hecta rừng trồng thuộc Chương trình 327 và Dự án 661 đã quy hoạch lại là rừng sản xuất trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang Mục tiêu đến hết năm

2010 cơ bản giao xong toàn bộ diện tích trên gắn với giao đất, cấp GCNQSD đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư nông thôn có nhu cầu, khả năng sử dụng rừng và đất lâm nghiệp để tổ chức, quản lý bảo vệ

và phát triển bền vững tài nguyên rừng; góp phần nâng cao đời sống nhân dân địa phương, ổn định chính trị - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái

UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thường trực giúp UBND tỉnh tổ chức thực hiện công tác giao rừng; phối hợp với các Sở Tài nguyên và Môi trường, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư xây

Trang 27

dựng kế hoạch, kinh phí thực hiện công tác giao, cho thuê rừng, kiểm tra, xử

lý những vướng mắc trong quá trình thực hiện ở các địa phương, theo dõi, tổng hợp báo cáo và đề xuất biện pháp chỉ đạo với UBND tỉnh 1 tháng/1 lần

kể từ tháng 4/2010 Đài Phát thanh Truyền hình Tuyên Quang, Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch, Báo Tuyên Quang phối hợp với các ngành, UBND huyện, thị xã có kế hoạch phổ biến, tuyên truyền sâu rộng Luật Bảo vệ và phát triển rừng, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật và chủ trương giao rừng trồng dự án gắn với giao đẩt lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh đến mọi tầng lớp nhân dân [31]

1.3.3 Công tác giao đất, giao rừng tại xã Tam Hiệp, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

Phong trào phủ xanh đất trống đồi núi trọc, trồng rừng theo các chương trình, dự án được triển khai rộng khắp làm cho độ che phủ của rừng tăng nhanh Vai trò của kinh tế lâm nghiệp ngày càng được khẳng định, nhất là sau khi các công ty lâm nghiệp (lâm trường trước đây) ứng dụng thành công tiến bộ

kỹ thuật vào trồng rừng (chuyển từ trồng rừng bằng hạt sang trồng cây nhân giống bằng công nghệ nuôi cấy mô, giâm hom) Với ưu điểm nổi trội là chu kỳ khai thác ngắn, sản lượng gỗ lớn và "đầu ra" sản phẩm rộng mở, không chỉ các

tổ chức mà hàng nghìn hộ dân trên địa bàn cũng tích cực trồng rừng kinh tế trên đất lâm nghiệp được giao Nhờ đó, hàng năm tỉnh Bắc Giang trồng mới 4 -

5 nghìn ha rừng tập trung, nâng tổng diện tích rừng trên địa bàn đến nay lên hơn 156 nghìn ha Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng những năm gần đây đạt hơn 100 nghìn m3/năm, tăng hơn 2 lần so với trước năm 2000

Diện tích rừng trồng, sản lượng gỗ khai thác hàng năm tăng đáng kể nhưng theo đánh giá của ngành chức năng kết quả đó chưa tương xứng với tiềm năng Nguồn thu nhập từ rừng của người dân còn thấp, phần lớn các hộ dân làm nghề rừng còn nghèo do thiếu đất hoặc chưa được giao đất, giao rừng

ổn định để sản xuất Nguyên nhân là do công tác quản lý đất lâm nghiệp còn nhiều bất cập

Trang 28

Theo tổng hợp toàn tỉnh Bắc Giang còn hơn 30 nghìn ha đất lâm nghiệp UBND xã đang quản lý Diện tích trên chưa được giao tới hộ dân hoặc tổ chức nào nên hiệu quả sử dụng thấp Đáng lo ngại là tình trạng lấn chiếm đất trái phép xảy ra, những năm qua người dân ở một số địa phương đã lấn chiếm trái phép hàng trăm ha đất lâm nghiệp Nhiều công ty lâm nghiệp được giao diện tích đất rừng lớn vượt khả năng nên công tác quản lý, sử dụng còn chưa hiệu quả Thực tế cho thấy có đơn vị sản xuất kinh doanh trên đất lâm nghiệp được tỉnh giao dưới hình thức giao khoán lại cho các hộ dân trong khu vực thuê Một nguyên nhân khác là diện tích rừng tự nhiên nghèo kiệt của tỉnh lớn (đã quy hoạch thành rừng sản xuất) nhưng phần lớn lại chưa được cải tạo, đầu

tư trồng rừng mới nên hiệu quả kinh tế thấp Giá trị sản xuất lâm nghiệp chưa cao còn do suất đầu tư trồng rừng thấp Yêu cầu đối với trồng rừng thâm canh suất đầu tư phải đạt hơn 20 triệu đồng/ha nhưng các công ty lâm nghiệp mới

có đủ khả năng đầu tư bằng một nửa Các hộ dân trồng rừng chủ yếu tranh thủ vốn hỗ trợ của Nhà nước, ít bỏ tiền đầu tư mua phân bón nên rừng trồng sinh trưởng và phát triển chậm Việc cấp GCNQSD đất lâm nghiệp chậm cũng ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất lâm nghiệp của các thành phần kinh tế bởi không có GCNQSD đất sẽ khó tiếp cận được với vốn tín dụng hoặc không yên tâm đầu tư trên diện tích đất được giao Hiện nay, mới có trên 50% diện tích đất lâm nghiệp đã giao cho tổ chức và cá nhân được cấp GCNQSD đất

Khắc phục những hạn chế trên, UBND tỉnh chỉ đạo ngành chức năng triển khai đề án giao đất, giao rừng giai đoạn 2009-2013 Theo đó, trong năm

2010 cơ bản hoàn thành việc giao rừng, cho thuê rừng trên thực địa gắn với giao đất cho thuê đất lâm nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất do UBND xã đang quản lý và một phần đất rừng của các công ty lâm nghiệp (khoảng 6 nghìn ha) sau khi tiến hành rà soát, thu hồi Năm 2013 sẽ hoàn thiện toàn bộ hồ sơ giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2009-2020 cũng được tỉnh xây

Trang 29

dựng với mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp

bình quân 10%/năm, tạo việc làm cho khoảng 2,5 vạn lao động, giá trị sản xuất

lâm nghiệp năm 2020 đạt 460 tỷ đồng, tăng hơn 2,5 lần so với hiện nay

Tuy nhiên từ thực tế hiện nay cho thấy để khai thác tiềm năng đất lâm

nghiệp đi đôi với các biện pháp trên thì các tổ chức, cá nhân được giao đất

giao rừng cần chú trọng việc lựa chọn cây giống tốt trong trồng rừng qua khảo

nghiệm, nhập những giống chất lượng Những năm gần đây, nhiều đơn vị như

Công ty Lâm nghiệp Lục Nam, Công ty lâm nghiệp Lục Ngạn… tiến hành

trồng thí điểm giống keo nhập khẩu từ Úc với nhiều ưu điểm như sinh trưởng

nhanh, chất lượng gỗ cao mở ra triển vọng mới trong lĩnh vực sản xuất lâm

nghiệp Vấn đề khác cần quan tâm là tăng cường đầu tư vốn thâm canh rừng,

xây dựng mô hình nông lâm kết hợp bằng việc trồng cây lâm nghiệp ngoài

gỗ trên diện tích rừng trồng những năm đầu để "lấy ngắn nuôi dài", nâng

cao giá trị thu về trên một đơn vị diện tích Bên cạnh đó, chính quyền, ngành

chức năng cần làm tốt công tác dự báo tình hình thị trường sản phẩm, có

khuyến cáo người dân kịp thời và từng bước đưa loài cây gỗ lớn vào trồng

rừng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh trên đất lâm nghiệp [4]

1.3.4 Công tác giao đất lâm nghiệp tại tỉnh Lạng Sơn

Thực tế từ năm 1993, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, người dân

Lạng Sơn nói riêng và cả nước nói chung đã được giao đất giao rừng theo Nghị

định số 02/1994 của Thủ tướng Chính phủ Các hộ dân đều đã được cấp Hồ sơ

giao quyền quản lý và sử dụng đất rừng (sổ bìa xanh)

Canh tác trên nương rẫy là một tập quán của đồng bào vùng cao ở Lạng

Sơn nhằm giải quyết nhu cầu lương thực có hạt tại chỗ, nhưng đây cũng là

một trong những nguyên nhân làm suy giảm nhanh chóng diện tích rừng tự

nhiên, làm biến đổi môi trường sống Khắc phục tình trạng này, UBND tỉnh

Lạng Sơn đã ban hành Quyết định số 2204/QĐ-UBND phê duyệt dự án đầu

tư hỗ trợ người dân miền núi trồng rừng thay thế nương rẫy không những có ý

Trang 30

nghĩa quan trọng về khai thác tiềm năng kinh tế đồi rừng mà còn có tác động rất lớn về mặt xã hội và phục hồi môi trường sinh thái

Tỉnh Lạng Sơn hiện có trên 13 nghìn ha đất rừng đã sử dụng làm nương rẫy, trong đó có 8.483ha nương rẫy của cư dân nằm trong quy hoạch phát triển lâm nghiệp Việc canh tác nương rẫy của đồng bào chủ yếu theo hình thức tự phát, thiếu định hướng nên diện tích bị xói mòn nghiêm trọng, đất đai

bị thoái hóa càng làm cho diện tích nương rẫy mới tăng lên, chất lượng cây trồng thấp và sản lượng giảm dần, dẫn đến canh tác không bền vững, giá trị ngày công lao động thấp Tình trạng phá rừng làm nương rẫy gây suy giảm khả năng phòng hộ bảo vệ môi trường và là một trong những nguyên nhân lớn gây nên lũ lụt, sạt lở đất vào những tháng mùa mưa, gây cháy rừng vào những tháng mùa khô Đây cũng là một trong những yếu tố hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội bền vững của các địa phương trong tỉnh

Để giúp người dân miền núi thay đổi tập quán canh tác thiếu bền vững

và tạo điều kiện về nguồn vốn cho nhân dân chuyển đổi nương rẫy trên đất lâm nghiệp sang trồng rừng Năm 2010, dự án đã được triển khai trên diện tích được lựa chọn chuyển đổi sang trồng rừng là 8.000ha nương rẫy có giá trị canh tác thấp, phân bố trên địa bàn của 95 xã thuộc 10 huyện, thành phố, trong đó có 8.078ha rừng sản xuất và 405ha rừng phòng hộ để người dân kịp thời trồng rừng vụ xuân năm 2010 Các hộ tham gia dự án được hưởng suất đầu tư tương tự như suất đầu tư của các nội dung trong Dự án 661, cụ thể là đối với trồng rừng sản xuất, suất hỗ trợ đầu tư là 2 triệu đồng/ha và 10 triệu đồng/ha đối với chuyển đổi sang trồng rừng phòng hộ; hỗ trợ kỹ thuật khuyến lâm với mức 200 nghìn đồng/ha/năm trong thời gian 3 năm Ngoài ra các hộ gia đình tham gia dự án còn được hỗ trợ gạo với mức không quá 700 kg/ha/năm, thời gian hỗ trợ từ 3 - 5 năm Đây là một mức hỗ trợ khá hấp dẫn

để khuyến khích người dân, đảm bảo được đời sống của các hộ gia đình trong

Trang 31

thời gian chuyển đổi nương rẫy sang trồng rừng, thúc đẩy phong trào trồng rừng phát triển nhanh và bền vững, đồng thời tạo cơ hội cho người dân có tài sản giá trị trên diện tích nương rẫy [16]

1.4 HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP

1.4.1 Hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp tại một số tỉnh

1.4.1.1 Kết quả đạt được của cả nước

Đất lâm nghiệp có rừng của cả nước là 16,24 triệu ha Tính đến nay cả nước đã giao và cho thuê 10.002.748ha đất lâm nghiệp có rừng (đạt 61,59% diện tích), trong đó giao cho các đối tượng như sau:

- Giao được 4.462.322ha (chiếm 44,61% diện tích đã giao và cho thuê) cho 412 đơn vị quốc doanh

- Giao được 632.396ha (6,32% diện tích) cho 1677 đơn vị ngoài Quốc doanh

- Giao được 1.326.830ha (13,27% diện tích) cho 334.466 hộ gia đình

- Giao được 37.024ha (0,37% diện tích) cho các tổ chức nước ngoài và liên doanh với nước ngoài thuê sử dụng

- Giao cho UBND xã quản lý sử dụng 3.026.813ha (30,26% diện tích)

- Giao cho các đối tượng khác sử dụng là 517.364ha (5,17% diện tích)

- Giao cho các đối tượng khác sử dụng là 517.364ha (5,17% diện tích)

- Còn lại 1.517.779ha (chiếm 13,17%) diện tích đất lâm nghiệp có rừng chưa được giao và cho thuê

Từ năm 1995, diện tích rừng Việt Nam đã không ngừng tăng lên, đến năm 2009 độ che phủ đạt 39,1%; nhiều khu rừng phòng hộ và đặc dụng trong

cả nước đã được thiết lập trên cơ sở quy hoạch chung của quốc gia giúp cho việc bảo vệ có hiệu quả rừng đầu nguồn, bảo tồn các hệ sinh thái rừng, các loài thực vật, động vât rừng đó là kết quả của những chính sách đúng đắn của Nhà nước cho bảo vệ và phát triển rừng

1.4.1.2 Hiệu quả giao đất lâm nghiệp tại tỉnh Quảng Nam

Quảng Nam là một trong số các địa phương có diện tích rừng và đất rừng khá lớn, chiếm gần 65% tổng diện tích đất tự nhiên Nhằm phát triển

Trang 32

đồng bộ gữa các vùng miền, tỉnh đã có chủ trương và triển khai khá sớm mô hình giao đất lâm nghiệp (gồm rừng và đất rừng) cho cộng đồng dân cư quản

lý, bảo vệ và khai thác Nhờ vậy đã thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội ở khu vực miền núi, đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số nâng lên rõ rệt, vốn rừng được giữ vững và tiếp tục phát triển

Trong những năm qua nhờ làm tốt các giải pháp đồng bộ, nên diện tích vốn rừng của tỉnh được giữ vững và tiếp tục phát triển, trong đó có chủ trương tiếp tục đẩy mạnh công tác giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng dân cư, đồng bào dân tộc thiểu số để quản lý và khai thác nhằm xác định rõ chủ thể cộng đồng tham gia bảo vệ rừng một cách bền vững Ngay từ năm 2003, tỉnh Quảng Nam đã có chủ trương và triển khai thực hiện thí điểm mô hình giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng dân cư (làng, thôn, tổ, bản, nóc) quản lý, bảo vệ và khai thác để rút kinh nghiệm tại 2 địa phương là thôn Tống Cói, xã Ba, huyện Đông Giang và thôn 2, xã Trà Giác, huyện Bắc Trà My Các địa phương đã giao đất, cấp GCNQSD đất cho nhóm hộ và hộ gia đình, cá nhân với tổng diện tích gần 540ha đất rừng và lập hồ sơ giao đất cho 13 cộng đồng dân cư để quản lý, bảo

vệ với hơn 2.625ha rừng các loại Các địa phương đã hạn chế tình trạng khai thác lâm sản trái phép, nâng cao nhận thức người dân trong việc phát triển vốn rừng, kinh doanh tổng hợp bằng các mô hình sản xuất nông lâm kết hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao

Từ kết quả triển khai thí điểm mang lại nhiều hiệu quả kinh tế - xã hội, tỉnh Quảng Nam đang tiếp tục triển khai dự án giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng dân cư, đồng bào dân tộc thiểu số để quản lý, bảo vệ và khai thác trên quy mô toàn tỉnh Tính đến nay, Quảng Nam đã giao trên 160 ngàn ha đất lâm nghiệp cho cộng đồng dân cư quản lý, bảo vệ thuộc 8 huyện miền núi Tây Giang, Nam Giang, Nam Trà My, Bắc Trà My, Phước Sơn, Đông Giang, Hiệp Đức và huyện Tiên Phước

Dự án này đã mang lại nhiều kết quả to lớn, tuy nhiên những tồn tại, bất cập về cơ chế và kinh phí hoạt động cũng không ít khó khăn Tỉnh đang

Trang 33

tập trung khắc phục những tồn tại về giải pháp, trình tự thủ tục, xác định đối tượng, quy hoạch các loại rừng, kinh phí đầu tư, chia sẻ lợi ích trong quá trình triển khai dự án giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng dân cư quản lý, bảo

vệ và khai thác một cách có hiệu quả Tỉnh chủ trương chỉ giao đất lâm nghiệp để quản lý cho các đối tượng thực sự có năng lực, tự nguyện, gắn kết được cộng đồng và dựa trên yếu tố truyền thống, văn hoá làng của đồng bào các dân tộc Tỉnh điều chỉnh lại mức kinh phí hỗ trợ hợp lý hơn cho các đối tượng nhận quản lý, bảo vệ rừng; có chính sách hưởng lợi từ nguồn chia sẻ lợi ích, đóng góp của các doanh nghiệp như thuỷ điện, khai thác khoáng sản hoạt động trong khu vực có ảnh hưởng để khôi phục lại tài nguyên rừng Tỉnh Quảng Nam cũng đang xem xét lại các dự án trồng cây Cao su sao cho có hiệu quả, đồng thời đình chỉ việc cấp phép cho thuê đất trồng rừng của các doanh nghiệp nước ngoài nhằm nhanh chóng đưa công tác quản lý, bảo vệ

và khai thác tài nguyên rừng vào nề nếp, hiệu quả một cách bền vững [23]

1.4.1.3 Hiệu quả của công tác giao rừng cho hộ gia đình ở xã Linh Hồ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang

Xã Linh Hồ có diện tích đất tự nhiên 7.765ha, trong đó có 5.903,5ha đất rừng, bao gồm 5.305,5ha rừng tự nhiên và 598ha rừng trồng

Trước kia khi chưa được giao rừng, người dân xã Linh Hồ vẫn có tập quán canh tác phát nương làm rẫy Vì vậy, diện tích rừng của xã Linh Hồ bị thu hẹp một cách nhanh chóng

Nhằm thực hiện chủ trương xã hội hoá trong công tác bảo vệ và phát triển rừng, UBND tỉnh Hà Giang đã phê duyệt đề án giao đất, giao rừng cho người dân và xã Linh Hồ được chọn là nơi thí điểm đề án Toàn xã Linh Hồ được giao 517,1ha rừng cho 56 hộ gia đình và cộng đồng thôn bản Diện tích rừng được giao chủ yếu là rừng nghèo kiệt và rừng có trữ lượng thấp do bị khai thác vô tổ chức

Từ khi được giao rừng, người dân đã mạnh dạn cải tạo và đầu tư trồng mới nhiều cánh rừng thuộc quyền quản lý của gia đình mình; hiện tượng đốt

Trang 34

rừng làm nương rẫy cũng chấm dứt; nhờ được tu bổ nên mức độ đa dạng sinh học của rừng cũng tăng lên Bên cạnh đó, các loại lâm sản ngoài gỗ như tre, trúc, hàng mây tre đan….đã mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho người dân

Từ kết quả bước đầu của công tác giao đất, giao rừng ở Linh Hồ, Hạt Kiểm lâm huyện Vị Xuyên đã triển khai nhân rộng mô hình giao rừng và đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình tại các xã khác trên địa bàn của huyện Theo kết quả đánh giá của UBND huyện Vị Xuyên, công tác giao rừng và đất rừng đến hộ gia đình cho người dân quản lý và sử dụng lâu dài ở Linh Hồ và các xã khác trên địa bàn huyện Vị Xuyên đã mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực, góp phần bảo vệ và nâng cao độ che phủ của rừng, giúp người dân sống được bằng nghề trồng rừng kinh tế đồng thời thúc đẩy công cuộc xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc trên địa bàn của huyện [14]

1.4.1.4 Hiệu quả từ giao khoán đất rừng cho hộ gia đình cá nhân của

huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh

Thực hiện Quyết định số 135 của Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2000 Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Vân Đồn đã mạnh dạn giao khoán đất rừng cho các hộ thành viên là những cán bộ công nhân (CBCN) đang làm việc, CBCN đã nghỉ hưu và nhân dân địa phương Trong quá trình thực hiện giao khoán Công ty hỗ trợ cung cấp cây giống có chất lượng, kiến thức về công tác quản lý bảo bệ rừng, tư vấn kỹ thuật cho các hộ trồng rừng Đến kỳ thu hoạch, Công ty nhận bao tiêu toàn bộ sản phẩm theo giá thị trường và chỉ thu lại của các hộ nhận khoán 5% giá trị sản phẩm để phục vụ cho công tác bảo vệ rừng Các hộ nhận rừng phải cam kết sử dụng rừng đúng mục đích, đầu tư công chăm sóc và phải có trách nhiệm chung trong công tác bảo vệ rừng

Chính vì thế đến nay, diện tích giao khoán cho các hộ gia đình cơ bản

đã đầu tư trồng và hầu hết đã cho thu hoạch được 1 chu kỳ, có những hộ đã thu hoạch chu kỳ 2 Nhờ đó rừng và đất rừng được quản lý và kinh doanh hiệu quả hơn, nạn chặt phá rừng cũng chấm dứt hoàn toàn Để các hộ thành

Trang 35

viên có vốn để đầu tư trồng, chăm sóc rừng, yên tâm sản xuất, Công ty đã liên kết với nhiều doanh nghiệp thuộc ngành Than theo hướng các doanh nghiệp ứng trước vốn trồng rừng cho Công ty và Công ty sẽ cung ứng gỗ cho các doanh nghiệp sau này Vì vậy hàng năm đã có được hàng chục tỷ đồng nguồn vốn đầu tư cho trồng rừng Do quản lý tốt, có quy chế rõ ràng giữa trách nhiệm của Công ty và các hộ thành viên nên bà con rất tin tưởng trong việc nhận đất trồng rừng

Công ty đã giao đất, giao rừng cho 270 hộ trồng rừng trên diện tích gần trên 5.000ha Ngoài các hộ thành viên là công nhân của Công ty, còn có 87 hộ

là đồng bào các dân tộc thiểu số, sống ở các xã Đài Xuyên, Bình Dân, Đoàn Kết, Vạn Yên của huyện Vân Đồn Việc phổ biến rõ ràng với các hộ trồng rừng về trách nhiệm của Công ty và trách nhiệm của các hộ thành viên làm cho các hộ phấn khởi phát huy hết khả năng để đầu tư cho việc trồng rừng, chăm sóc rừng góp phần tận dụng và phát huy nguồn lực địa phương, tạo việc làm cho người lao động Cùng với đó, Công ty cũng triển khai trồng rừng thử nghiệm bằng phương pháp tái sinh tự nhiên sau khai thác rừng keo tai tượng, tiết kiệm được 30% kinh phí tạo rừng Nhờ vậy, hầu hết diện tích đất đồi hoang ở Vân Đồn đã được phủ kín bằng màu xanh Nếu như trồng rừng từ năm 2000 chỉ có năng suất từ 40 - 50m3/ha với chu kỳ khai thác từ 8 - 10 năm thì đến nay chỉ với chu kỳ khai thác từ 7 - 8 năm rừng trồng đã cho năng suất

từ 80 - 140 m3

/ha

Nhận thấy phần thừa còn lại cây gỗ thường có đường kính từ 16 - 17cm

đủ tiêu chuẩn để làm ra những tấm ván ghép thanh dài từ 70 - 100cm hiện có thị trường tiêu thụ rộng lớn, bằng nguồn vốn huy động của cán bộ công nhân với hình thức cho Công ty vay với mức lãi suất cao hơn ngân hàng và nguồn vốn vay của nhà nước, Công ty đã huy động được 7 tỷ đồng đầu tư làm Nhà máy Sản xuất ván ghép thanh, có công suất 1.500 - 3.000m3

sản phẩm/năm Ngoài ra thấy nhu cầu thị trường nội thất dùng gỗ ghép thanh ở miền Bắc khá lớn, Công ty đã hợp đồng với một số nhà máy sản xuất gỗ cùng chủng loại để

Trang 36

sấy thuê, lấy ngắn nuôi dài Công ty cũng chủ động áp dụng cải tiến kỹ thuật, đầu tư đổi mới, áp dụng công nghệ vào sản xuất như khai thác nhựa thông, khai thác gỗ rừng trồng để nâng cao chất lượng sản phẩm, được khách hàng, thị trường chấp nhận, đồng thời đổi mới cơ cấu cây trồng có năng suất cao

Không chỉ đạt và vượt các chỉ tiêu về kinh tế, Công ty MTV Lâm nghiệp Vân Đồn còn rất quan tâm đến đời sống của CBCN nhằm “giữ” chân những người lao động tâm huyết, có năng lực Công ty đã điều chỉnh kịp thời các định mức giao khoán, nâng lương, tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho 100% CBCN, trợ cấp khó khăn cho các hộ gia đình trong các dịp lễ, tết, thăm hỏi và tặng quà khi có người ốm đau Đây chính là những nhân tố quan trọng tạo động lực giúp Công ty vượt khó để phát triển [24]

1.4.2 Hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp tại tỉnh Lạng Sơn

Dưới sự chỉ đạo của tỉnh, sự quan tâm đầu tư về kinh phí của Nhà nước, các hoạt động sản xuất lâm nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực trong công tác trồng rừng, bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, giao đất khoán rừng và chế biến lâm sản… đem lại hiệu quả kinh tế không nhỏ cho địa phương

* Giao khoán đất rừng

Tính đến ngày 31/12/2005 diện tích đất lâm nghiệp đã giao được 525.728,7ha (sổ xanh), đã chuyển sang sổ đỏ được 201.551ha, trong đó hộ gia đình là 180.887ha, tổ chức là 20.664ha

Từ diện tích giao khoán, các hộ gia đình đã tạo thêm được diện tích rừng đáng kể thông qua công tác trồng rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng theo các dự án

* Công tác trồng rừng

Những năm qua công tác trồng rừng ở Lạng Sơn luôn được quan tâm đầu tư bằng các nguồn vốn chương trình 327, 661, dự án trồng rừng Việt - Đức, dự án PAM, dự án định canh định cư, dự án trồng rừng nguyên liệu,…

đã làm cho diện tích rừng trồng tăng nhanh Cụ thể từ năm 1999 đến năm

2006 tổng diện tích rừng trồng toàn tỉnh của tất cả các dự án là 96.072ha

Riêng dự án 661 thực hiện từ năm 1999 – 2005 đã thực hiện được:

Trang 37

- Trồng rừng: 21.626ha, vốn đầu tư 42.213,5 triệu đồng

- Chăm sóc rừng trồng: 56.139ha, vốn đầu tư 18.581,6 triệu đồng

- Bảo vệ rừng: 157.554ha, vốn đầu tư 7.954,8 triệu đồng

- Khoanh nuôi rừng: 48.042ha, vốn đầu tư 2.825,9 triệu đồng

* Công tác bảo vệ rừng

Tổng diện tích đã đưa vào bảo vệ là 91.578ha Lực lượng kiểm lâm tỉnh

đã có nhiều cố gắng trong công tác quản lý và bảo vệ rừng song rừng vẫn bị chặt phá ở nhiều nơi và tình trạng cháy rừng vẫn còn xảy ra, nguyên nhân là

do địa bàn rộng và phức tạp, lực lượng kiểm lâm lại mỏng, vốn đầu tư cho bảo vệ rừng còn thấp nên chưa thực sự khuyến khích được người dân tham gia vào công tác bảo vệ rừng

* Khai thác lâm sản

- Bình quân mỗi năm khai thác khoảng 65.000 m3 gỗ

- Tre nứa: 2,5 triệu cây/năm

- Nhựa thông: 750 tấn/năm

- Hoa hồi: 6.000 tấn [25]

Trang 38

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: Các chính sách đất đai, đặc biệt là các văn bản pháp luật về chính sách giao đất lâm nghiệp được thực thi trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

- Phạm vi nghiên cứu: Điều tra tình hình quản lý, sử dụng đất và đời sống của các nông hộ sau khi được giao đất lâm nghiệp tại 3 xã của huyện là: Cao Lâu, Xuất Lễ và Thạch Đạn

2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

- Thời gian nghiên cứu: Đề tài thực hiện trong 15 tháng, từ tháng 7/2011 đến tháng 9/2012

- Địa điểm nghiên cứu: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn và hoàn thành tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Nội dung 1 Sơ lược tình hình cơ bản vùng nghiên cứu ảnh hưởng đến công tác giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân

- Sơ lược điều kiện tự nhiên

- Sơ lược thực trạng kinh tế-xã hội

- Sơ lược về tình hình quản lý đất đai

- Sơ lược về hiện trạng sử dụng đất

- Nhận xét về tình hình cơ bản của huyện Cao Lộc ảnh hưởng đến công tác giao đất lâm nghiệp

Nội dung 2 Khái quát về thực trạng giao, quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

- Đánh giá về kết quả giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện và tại các xã nghiên cứu

Trang 39

- Đánh giá về công tác quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân tại các xã nghiên cứu trước và sau khi được giao đất

Nội dung 3 Đánh giá hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp đến đời sống người dân

- Đánh giá hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp đến đời sống kinh tế

- Đánh giá hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp đến đời sống xã hội

- Đánh giá hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp đến môi trường sinh thái

- Ý kiến của người dân về chính sách giao đất lâm nghiệp

Nội dung 4 Một số tồn tại, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn

- Những tồn tại của công tác giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện

- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Tiếp cận các cơ quan quản lý về đất đai, cơ quan quản lý nông lâm

nghiệp như: Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hạt Lâm nghiệp, Chi cục Thống kê, Trạm Khuyến nông, Trạm Bảo vệ thực vật, để thu thập các thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội; thống kê đất đai; chính sách giao đất, giao rừng và các thông tin khác liên quan đến đề tài tại địa bàn nghiên cứu

- Tham khảo, thừa kế các tài liệu có liên quan đến đề tài: Dựa vào các tài liệu nghiên cứu, các đề tài khoa học có liên quan đến lĩnh vực quản lý đất đai

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

2.4.2.1 Chọn điểm nghiên cứu

- Huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn là huyện vùng miền núi đã triển khai

Trang 40

công tác giao đất lâm nghiệp Trong huyện Cao Lộc tôi chọn 3 xã để triển khai nghiên cứu điểm đó là các xã: Cao Lâu, Xuất Lễ và Thạch Đạn

- Yêu cầu đối với các xã chọn để điều tra nghiên cứu:

+ Xã có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đại diện chung nhất của huyện

+ Điều kiện về đất đai, địa hình có những nét đặc thù

+ Các xã điều tra có các dân tộc đại diện cho các dân tộc sinh sống trên địa bàn huyện

+ Đại diện cho các xã đã tiến hành công tác giao đất lâm nghiệp: Công tác giao đất lâm nghiệp đạt kết quả cao, Đời sống của người dân sau khi được giao đất có sự chuyển biến rõ rệt

2.4.2.2 Phương pháp điều tra

- Điều tra phỏng vấn nhanh nông hộ qua hệ thống mẫu điều tra có sẵn

Số hộ được phỏng vấn được xác định trên cơ sở phân loại theo mức diện tích đất (nhiều, trung bình và ít), kinh tế hộ (giàu, trung bình và nghèo), đảm bảo đầy đủ các thành phần dân tộc đang sống trên địa bàn

- Trên cơ sở tham khảo ý kiến của các chuyên gia và các cán bộ trực tiếp làm công tác quản lý đất đai để đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

công tác giao đất lâm nghiệp

2.4.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý, phân tích và đánh giá số liệu

Số liệu điều tra ngoại nghiệp được tổng hợp và thể hiện bằng hệ thống bảng biểu, sơ đồ Sau đó được tiến hành phân tích, so sánh, đánh giá và rút ra nhận xét Quá trình tổng hợp xử lý số liệu có sử dụng sự hỗ trợ của phần mềm Excel

2.4.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi

Để đạt được mục tiêu của đề tài, việc lựa chọn và xác định chỉ tiêu đánh giá là rất quan trọng Do vậy trong phạm vi nghiên cứu, đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu đánh giá theo các chỉ tiêu sau:

2.4.4.1 Diện tích đất lâm nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân

Để xem xét và đánh giá tình hình thực hiện giao đất, tiến độ giao đất, quỹ đất được giao, cơ cấu sử dụng trước và sau khi giao ở các xã

Ngày đăng: 15/11/2014, 22:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Hoàng Ân (2007), Đánh giá hiệu quả công tác giao đất, giao rừng tại huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình, Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả công tác giao đất, giao rừng tại huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình
Tác giả: Bùi Hoàng Ân
Năm: 2007
4. Bắc Giang, Khai thác tiềm năng đất lâm nghiệp, http://agriviet.com/home/threads/21438-Khai-thac-tiem-nang-dat-lam-nghiep#axzz27I6NhAOh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác tiềm năng đất lâm nghiệp
12. Chu Hữu Quý, Chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam sau Cách mạng tháng tám, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam sau Cách mạng tháng tám
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
13. Hà Giang (2010), Chuyển đất nghèo kiệt sang trồng rừng kinh tế, http://tongcuclamnghiep.gov.vn/tin-tuc/79/a-124/54.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đất nghèo kiệt sang trồng rừng kinh tế
Tác giả: Hà Giang
Năm: 2010
14. Hà Giang, Hiệu quả công tác giao rừng đến hộ gia đình ở xã Linh Hồ, http://www.thiennhien.net/2012/05/18/hieu-qua-cua-cong-tac-giao-rung-den-ho-gia-dinh-o-linh-ho/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả công tác giao rừng đến hộ gia đình ở xã Linh Hồ
15. Đinh Hữu Hoàng và Đặng Kim Sơn, Giao đất và giao rừng ở Việt Nam - Chính sách và thực tiễn, Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển nông nghiệp nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao đất và giao rừng ở Việt Nam - Chính sách và thực tiễn
16. Lạng Sơn (2010), Dự án hỗ trợ trồng rừng thay thế nương rẫy hợp với lòng dân, http://tongcuclamnghiep.gov.vn/tin-tuc/79/a-125/78.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án hỗ trợ trồng rừng thay thế nương rẫy hợp với lòng dân
Tác giả: Lạng Sơn
Năm: 2010
18. Vũ Tấn Phương, Vai trò của rừng trong bảo vệ môi trường, Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng (RCFEE) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của rừng trong bảo vệ môi trường
22. Quốc hội (1992), Luật Đất đai năm 2003, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai năm 2003
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1992
23. Quảng Nam (2010), Giữ rừng bằng mô hình giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng dân cư quản lý, http://tongcuclamnghiep.gov.vn/tin-tuc/79/a-134/87.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ rừng bằng mô hình giao đất lâm nghiệp cho cộng đồng dân cư quản lý
Tác giả: Quảng Nam
Năm: 2010
28. Ngô Đình Thọ và Phạm Xuân Phương, Tình hình triển khai chính sách giao đất, giao rừng và chính sách hưởng lợi tại tỉnh Sơn La, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Tổ chức Hợp tác kỹ thuật Đức GTZ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình triển khai chính sách giao đất, giao rừng và chính sách hưởng lợi tại tỉnh Sơn La
29. Đinh Hữu Thuận và nhóm nghiên cứu Trường Đại học Lâm nghiệp (2005), Lâm nghiệp, giảm nghèo và sinh kế nông thôn ở Việt Nam, Chương trình hỗ trợ ngành Lâm nghiệp và đối tác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm nghiệp, giảm nghèo và sinh kế nông thôn ở Việt Nam
Tác giả: Đinh Hữu Thuận và nhóm nghiên cứu Trường Đại học Lâm nghiệp
Năm: 2005
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2004), Thông tư số 38/2007/TT- BNN ngày 25/4/2007 về hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư Khác
3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011), Thông tư liên tịch số 07/2011/TTLT-BNNPTNT-BTNMT ngày 29/01/2011 về việc hướng dẫn một số nội dung về giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp Khác
5. Chính Phủ (1994), Nghị định số 02/1994/NĐ-CP ngày 15/01/1994 ban hành Bản quy định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Khác
6. Chính Phủ (1999), Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 quy định về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Khác
7. Chính Phủ (2004), Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003 Khác
8. Chính Phủ (2005), Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 quy định về giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh Khác
9. Chi cục Thống kê huyện Cao Lộc (2010), Niên giám thống kê năm 2010 Khác
10. Chương trình phát triển nông thôn Quảng Ngãi, Quy hoạch sử dụng đất và Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Vị trí địa lý huyện Cao Lộc - Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 đến 2010
Hình 3.1 Vị trí địa lý huyện Cao Lộc (Trang 42)
Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng đất huyện Cao Lộc năm 2010 - Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 đến 2010
Bảng 3.1. Hiện trạng sử dụng đất huyện Cao Lộc năm 2010 (Trang 51)
Bảng 3.2. Kết quả cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp trên địa bàn huyện - Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 đến 2010
Bảng 3.2. Kết quả cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp trên địa bàn huyện (Trang 54)
Bảng 3.3. Tình hình dân số lao động và dân tộc của 3 xã điều tra - Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 đến 2010
Bảng 3.3. Tình hình dân số lao động và dân tộc của 3 xã điều tra (Trang 57)
Hình 3.2: Hiện trạng rừng khi không  có sự tham gia quản lý của người dân - Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 đến 2010
Hình 3.2 Hiện trạng rừng khi không có sự tham gia quản lý của người dân (Trang 58)
Bảng 3.4. Cơ cấu sử dụng đất lâm nghiệp ở 3 xã điều tra năm 1995 - Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 đến 2010
Bảng 3.4. Cơ cấu sử dụng đất lâm nghiệp ở 3 xã điều tra năm 1995 (Trang 59)
Bảng 3.5. Kết quả giao đất lâm nghiệp ở 3 xã điều tra tính đến ngày 31/12/2010 - Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 đến 2010
Bảng 3.5. Kết quả giao đất lâm nghiệp ở 3 xã điều tra tính đến ngày 31/12/2010 (Trang 62)
Bảng 3.6. Kết quả trồng rừng trên đất lâm nghiệp đã giao của các hộ gia đình 3 - Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 đến 2010
Bảng 3.6. Kết quả trồng rừng trên đất lâm nghiệp đã giao của các hộ gia đình 3 (Trang 64)
Bảng 3.7. Kết quả cấp GCNQSD đất sau khi giao đất lâm nghiệp - Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 đến 2010
Bảng 3.7. Kết quả cấp GCNQSD đất sau khi giao đất lâm nghiệp (Trang 65)
Bảng 3.8. Cơ cấu các loại đất ở 3 xã điều tra năm 2010 - Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 đến 2010
Bảng 3.8. Cơ cấu các loại đất ở 3 xã điều tra năm 2010 (Trang 67)
Bảng 3.9. So sánh tình hình sử dụng đất trước và sau khi giao đất lâm nghiệp - Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 đến 2010
Bảng 3.9. So sánh tình hình sử dụng đất trước và sau khi giao đất lâm nghiệp (Trang 68)
Bảng 3.10. So sánh diện tích giao cho hộ gia đình trước và sau khi giao - Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 đến 2010
Bảng 3.10. So sánh diện tích giao cho hộ gia đình trước và sau khi giao (Trang 69)
Bảng  3.10  thể  hiện  diện  tích  đất  lâm  nghiệp  của  các  hộ  gia  đình,  cá  nhân trước và sau khi được giao đất - Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 đến 2010
ng 3.10 thể hiện diện tích đất lâm nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân trước và sau khi được giao đất (Trang 69)
Bảng 3.11. Tình hình cơ bản của các hộ điều tra và một số chỉ tiêu bình quân - Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 đến 2010
Bảng 3.11. Tình hình cơ bản của các hộ điều tra và một số chỉ tiêu bình quân (Trang 70)
Bảng 3.14. Phân loại hộ gia đình theo thu nhập - Đánh giá hiệu quả công tác giao đất lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 1995 đến 2010
Bảng 3.14. Phân loại hộ gia đình theo thu nhập (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm