Là một nước nằm ở Đông Nam Á, có khí hậu nhiệt đới gió mùa ấm và ẩm, thuận tiện cho việc phát triển cây trồng vật nuôi,… với dân số gần 90 triệu người, trong đó khoảng 70% tham gia vào c
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Quốc Tiến
Thái Nguyên – 2012
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, hoạt động xuất khẩu trở nên vô cùng quan trọng đối với bất
kỳ quốc gia nào trên thế giới Không có một quốc gia nào phát triển phồn vinh khi vẫn duy trì nền kinh tế đóng cửa và chỉ dựa vào thương mại nội địa Thông qua hoạt động xuất khẩu, các quốc gia khai thác được lợi thế của mình trong phân công lao động, tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho đất nước, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đặc biệt là tạo công ăn việc làm cho người lao động
Từ những năm 1986, Việt nam bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện nền kinh tế Sau hơn 25 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt Để làm được điều đó, cùng với việc phát triển các ngành nghề lĩnh vực khác, Việt Nam đã rất năng động trong lĩnh vực ngoại thương, và xuất khẩu đã thực sự có ý nghĩa to lớn trong chiến lược xây dựng và phát triển kinh tế Nhờ đẩy mạnh xuất khẩu Việt nam mới có điều kiện thuận lợi thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
Là một nước nằm ở Đông Nam Á, có khí hậu nhiệt đới gió mùa ấm
và ẩm, thuận tiện cho việc phát triển cây trồng vật nuôi,… với dân số gần
90 triệu người, trong đó khoảng 70% tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp, Việt Nam đã xác định nông sản là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhằm tạo nguồn thu ban đầu rất cần thiết cho phát triển kinh tế của đất nước Chính vì vậy, nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích sự tham gia của các công ty trong lĩnh vực xuất khẩu hàng nông sản Mặt hàng nông sản là mặt hàng được Nhà nước hết sức chú trọng trong cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của mình Trên lĩnh vực xuất khẩu hàng nông sản nước ta đã đạt được nhiều thành công, nhưng cũng vẫn còn những hạn chế
nhất định Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “Các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu
nông sản hàng hóa của Việt Nam sang thị trường một số nước Asean”
làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
Trang 42 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung: Nghiên cứu làm rõ và đề xuất các giải pháp đẩy mạnh
xuất k hẩu nông sản hàng hóa của Việt Nam sang thị trường một số nước ASEAN, bao gồm: Indonesia, Malaysia, Philippin, Singapore, Thailand (gọi tắt là ASEAN-5)
*Mục tiêu cụ thể:
Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được các mục tiêu sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xuất khẩu hàng hóa
- Phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu nông sản hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN-5 và nguyên nhân của tình hình
- Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nông sản hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN-5 trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu : Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ sở lý
luận về xuất khẩu nông sản hàng hóa và đẩy mạnh xuất khầu nông sản hàng hóa của Việt Nam ra nước ngoài nói chung, sang thị trường các nước ASEAN-5 nói riêng; Thực trạng tình hình xuất khẩu và các giải pháp có thể
để đẩy mạnh xuất khẩu nông sản hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN-5
* Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về nội dung và không gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vào việc xuất khẩu nông sản hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN-5 gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan
- Phạm vi về thời gian : Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình xuất khẩu nông sản hàng hóa của Việt N am sang thị trường các nước ASEAN -5 giai đoạn 1995-2011
4 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Trang 5- Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ làm rõ thêm cơ sở lý luận
và thực tiễn của việc đẩy mạnh xuất khẩu, đồng thời đề xuất các giải pháp có
cơ sở khoa học, có tính khả thi để đẩy mạnh xuất khẩu nông sản hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN nói chung, các nước ASEAN-5 nói riêng
- Về mặt thực tiễn : Đề tài được ứng dụng sẽ góp phần nâng cao năng
lực và kết quả xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam đang và sẽ xuất khẩu nông sản hàng hóa sang thị trường các nước ASEAN5, đồng thời có thể làm tài liệu tham khảo cho việc xuất khẩu nông sản hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các nước thuộc khu vực khác có điều kiện tương tự
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các danh mục, luận văn gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xuất khẩu hàng nông sản
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng xuất khẩu nông sản hang hóa của Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN-5
- Chương 4: Giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nông sản hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN
1.1 Các lý thuyết về thương mại quốc tế có liên quan đến xuất khẩu nông sản hàng hóa
Trong phần này, tác giả luận giải và tổng hợp cơ sở lý thuyết của đề tài, bao gồm việc phân tích những nội dung cơ bản của chủ nghĩa trọng thương, lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh, lý thuyết của Heckscher~Ohlin,… Trên cơ sở
đó, tác giả sẽ xây dựng khung phân tích áp dụng cho việc thực hiện đề tài
1.1.1 Chủ nghĩa trọng thương
Từ giữa thế kỷ XVI đến thế kỷ thứ XVIII, hầu hết các quốc gia ở châu
Âu chịu ảnh hưởng nặng nề bởi chủ nghĩa trọng thương trong việc thống nhất kinh tế và kiểm soát chính trị Có thể nói chủ nghĩa trọng thương là lý thuyết thương mại quốc tế đầu tiên Trong thời kỳ đó, vàng và bạc được lưu hành với
tư cách là đồng tiền thanh toán trong thương mại quốc tế và cũng là thước đo tài sản của một quốc gia Theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương, sự giàu
có của một quốc gia phụ thuộc vào số lượng vàng và bạc mà quốc gia đó nắm giữ Để thu được nhiều vàng và bạc thì các quốc gia cần phải xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu Một quốc gia mà xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu thì đều nhận được sự chi trả bằng vàng, bạc từ phần còn lại của thế giới Chính vì vậy, các nhà trọng thương đều ủng hộ việc điều tiết thương mại quốc tế theo hướng khuyến khích xuất khẩu
Học thuyết trọng thương đề cao vai trò của Nhà nước trong việc điều khiển kinh tế thông qua bảo hộ (Võ Thanh Thu, 2010) Những người theo chủ nghĩa này kêu gọi sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế thông qua việc áp dụng các hàng rào bảo hộ mậu dịch, miễn thuế nhập khẩu cho các loại nguyên liệu phục vụ sản xuất, cấm bán ra nước ngoài sản phẩm thô, thực hiện trợ cấp xuất khẩu Theo các nhà trọng thương thì lao động là yếu tố cơ bản
Trang 7của sản xuất Chính vì vậy, để tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thì cần phải hạ thấp lương để giảm chi phí sản xuất
Nhiều học giả cho rằng chủ nghĩa trọng thương là một học thuyết lâu đời, nhưng ảnh hưởng của chủ nghĩa này vẫn còn kéo dài cho đến nay, đặc biệt là trong cách tranh cãi về chính trị và chính sách thương mại của nhiều quốc gia Một trong những lý do nêu trên là quan điểm cho rằng thâm hụt cán cân thương mại là không có lợi và nhập khẩu sẽ làm giảm việc làm trong nước Khi một quốc gia bị thâm hụt trong tại khoản vãng lai thì quốc gia đó phải vay vốn từ phần còn lại của thế giới để mua nhiều hàng hoá và dịch vụ từ phần còn lại của thế giới hơn là quốc gia đó bán hàng hoá và dịch vụ cho phần còn lại của thế giới Tuy nhiên, việc vay vốn này rất có thể cải thiện sức mạnh kinh tế của quốc gia nếu lợi ích từ việc vay vốn này vượt quá chi phí vay
Qua phân tích lý thuyết của chủ nghĩa trọng thương, người ta nhận thấy
có một số ưu điểm như sau Thứ nhất, chủ nghĩa trọng thương đã biết đánh giá được vai trò của thương mại quốc tế, coi đó là nguồn quan trọng mang
quý kim về cho đất nước Thứ hai, chủ nghĩa trọng thương đã sớm nhận rõ vai
trò quan trọng của nhà nước trong việc điều tiết quan hệ ngoại thương Thứ ba, chủ nghĩa trọng thương là lý thuyết kinh tế đầu tiên trong lịch sử được nâng lên như là lý thuyết khoa học
Tuy nhiên, ngoài những ưu điểm đã nêu ở trên, lý thuyết trọng thương
về thương mại quốc tế bộc lộ một số nhược điểm nhất định Thứ nhất, chủ
nghĩa trọng thương chưa cho phép giải thích được bản chất của thương mại quốc tế, như cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa trong thương mại quốc tế và cũng chưa thấy được tính hiệu quả cũng như lợi ích do quá trình chuyên môn hóa và trao đổi mang lại Thứ hai, chủ nghĩa trọng thương cho rằng một quốc gia chỉ có thể có lợi từ thương mại trên sự hy sinh của một quốc gia khác Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy rằng các quốc gia chỉ mong muốn tham gia vào thương mại quốc tế với nhau khi cả hai quốc gia đều thu được lợi ích
từ thương mại Thứ ba, chủ nghĩa trọng thương hiểu sai về khái niệm “tài
Trang 8sản quốc gia”, đo lường sự giàu có của quốc gia bằng quý kim Ngược lại, ngày nay sự giàu có của một quốc gia được đo lường bỏi khả năng của quốc gia đó về nguồn lực con người, tài nguyên có thể cung cấp được cho sản xuất và dịch vụ Nguồn lực này càng phong phú, sử dụng càng có hiệu quả thì dòng chảy hàng hoá và dịch vụ thoả mãn con người càng dồi dào, tiêu chuẩn sống của quốc gia càng cao
1.1.2 Lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Adam Smith là một nhà kinh tế học cổ điển người Anh Trong cuộc đời của mình ông đã có nhiều tác phẩm về kinh tế Năm 1776, trong tác phẩm “Sự giàu có của quốc gia”, Adam Smith đã không nhất trí với quan điểm “thương mại quốc tế là một trò chơi có tổng lợi ích bằng không” của các nhà trọng thương Ông bắt đầu bằng một sự thực đơn giản là để cho hai quốc gia thương mại với nhau một cách tự nguyện thì cả hai quốc gia đều phải thu được lợi ích từ thương mại Nếu một quốc gia có lợi còn quốc gia kia phải chịu thiệt thì quốc gia chịu thiệt sẽ từ chối không tham gia vào thương mại quốc tế nữa Theo Adam Smith thì thương mại tự do sẽ giúp cho việc phân bổ
và sử dụng nguồn lực của thế giới có hiệu quả hơn, và từ đó tạo ra lợi ích cho từng nước tham gia vào hoạt động buôn bán (Đỗ Đức Bình và Nguyễn Thường Lạng, 2004) Cũng nhờ tác phẩm này mà ngày nay nhiều nơi suy tôn Adam Smith là “cha đẻ của kinh tế học”
Để chứng minh rằng thương mại quốc tế mang lại lợi ích cho tất cả các quốc gia tham gia thương mại, Adam Smith đã xây dựng khái niệm lợi thế tuyệt đối Khái niệm này nói về khả năng của một quốc gia cần sử dụng nguồn lực ít hơn so với các quốc gia khác để sản xuất ra một hàng hóa nào đó Theo Adam Smith, một quốc gia có lợi thế tuyệt đối hơn so với các quốc gia khác nếu quốc gia đó có khả năng sản xuất nhiều hàng hoá và dịch vụ hơn với cùng một nguồn lực Ông cho rằng thị trường sẽ điều tiết các hoạt động kinh
tế và đóng vai trò là một bàn tay vô hình phân bổ các nguồn lực Giá đóng vai trò là một nhân tố chủ chốt Cụ thể là giá tăng lên khi có sự khan hiếm và
Trang 9giảm xuống khi có sự dư thừa Các tác nhân thị trường đảm bảo việc sản xuất hàng hoá và dịch vụ hợp lý
Chấp nhận quan điểm là sự khác biệt về chi phí sản xuất sẽ phi phối sự
di chuyển quốc tế về hàng hóa, Adam Smith đã tìm cách giải thích nguyên nhân tại sao chi phí sản xuất tại các quốc gia lại khác nhau Ông cho rằng hiệu suất của các nhân tố đầu vào quyết định chi phí sản xuất Hiệu suất này do lợi thế tự nhiên và lợi thế có được tạo ra Lợi thế tự nhiên bao gồm các yếu tố liên quan đến thời tiết, đất đai và khoáng sản Trong khi đó lợi thế có được bao gồm các kỹ năng và kỹ thuật đặc biệt Adam Smith lập luận rằng, do có lợi thế tự nhiên và lợi thế có được, một quốc gia có thể sản xuất hàng hóa với chi phí thấp hơn, và do đó trở nên cạnh tranh hơn so với quốc gia khác Chính
vì vậy, Adam Smith nhìn nhận khả năng cạnh tranh từ mặt cung của thị trường Adam Smith đã đưa ra một số chỉ trích quan trọng đối với chủ nghĩa trọng thương Một là, thương mại tự do mang lại lợi ích cho các bên tham gia thương mại Hai là, chuyên môn hoá sản xuất cho phép thực hiện lợi thế theo quy mô, và như vậy nâng cao hiệu quả và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Ba là, trong một môi trường tự do thương mại mà không có sự can thiệp của chính phủ thì phúc lợi công cộng sẽ tăng lên do có sự cạnh tranh
Như vậy, Adam Smith ủng hộ tự do thương mại Theo ông, tự do thương mại thúc đẩy phân công lao động quốc tế và cho phép các quốc gia có thể tập trung vào sản xuất hàng hóa mà họ có thể sản xuất với chi phí thấp nhất Tuy nhiên, lợi thế tuyệt đối chỉ giải thích được một phần thương mại quốc tế Lợi thế tuyệt đối không giải thích được trường hợp khi một quốc gia nào đó lại bất lợi thế hơn so với các quốc gia còn lại trong việc sản xuất tất cả các hàng hoá và dịch vụ thì liệu quốc gia đó có nên tham gia vào thương mại quốc tế hay không Vì sự hạn chế của lý thuyết lợi thế tuyệt đối trước tình hình phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế nên đã ra đời lý thuyết lợi thế tương đối, còn gọi là lợi thế so sánh
Trang 101.1.3 Lợi thế so sánh của David Ricardo
David Ricardo là nhà duy vật và nhà kinh tế học người Anh gốc Do Thái Ông được C.Mác đánh giá là người “đạt tới đỉnh cao nhất của kinh tế chính trị
tư sản cổ điển” David Ricardo cho rằng lợi thế tuyệt đối không phải là điều cần hoặc đủ để thương mại diễn ra giữa hai quốc gia Chẳng hạn, nếu một quốc gia có lợi thế tuyệt đối đối với tất cả mọi hàng hoá và dịch vụ thì quốc gia đó sẽ sản xuất và xuất khẩu mọi thứ và không nhập khẩu thứ gì cả Nếu quốc gia này muốn xuất khẩu để thu ngoại tệ phục vụ cho việc nhập khẩu thì
lợi thế tuyệt đối sẽ không có giá trị nữa
Chính vì vậy, năm 1817, nhà kinh tế học David Ricardo phát triển tư tưởng “lợi thế so sánh” thành thuyết “lợi thế so sánh” hay còn gọi là quy luật
“lợi thế tương đối” Theo nguyên tắc của lợi thế so sánh thì một quốc gia được cho là có lợi thế so sánh về một hàng hoá hay dịch vụ nếu quốc gia đó sản xuất với chi phí cơ hội thấp hơn so với quốc gia khác Điều đó cũng có nghĩa là bất kì quốc gia nào cũng có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế
dù quốc gia đó có hay không có các điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn hẳn các
quốc gia khác
Quy luật lợi thế so sánh của David Ricardo là một trong những quy luật quan trọng nhất, đặt cơ sở, nền móng cho mậu dịch quốc tế và được ứng dụng rộng rãi nhất Cho đến nay, bản chất của quy luật lợi thế so sánh của Ricardo vẫn không thay đổi, nó đúng với bất kỳ một quốc gia nào Theo quy luật này thì thậm chí một quốc gia kém hiệu quả hơn (bất lợi thế tuyệt đối) so với quốc gia kia trong việc sản xuất cả hai hàng hoá thì cả hai quốc gia vẫn có thể thu được lợi ích từ thương mại Quốc gia đó sẽ chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu hàng hoá mà nó có bất lợi thế tuyệt đối ít hơn (hàng hoá có bất lợi thế so sánh) và nhập khẩu hàng hoá mà nó có bất lợi thế tuyệt đối lớn hơn (hàng hoá
có bất lợi thế so sánh) Nói cách khác, một quốc gia sẽ có lợi hơn khi sản xuất
và xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệu quả cao
Trang 11hơn một cách tương đối hay giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia kia (Trần Văn Hòe và Nguyễn Văn Tuấn, 2007)
Ưu điểm của quy luật lợi thế so sánh là nó đi xa hơn lợi thế tuyệt đối của Adam Smith ở chỗ chứng minh rằng tất cả các quốc gia đều có lợi khi giao
thương với nhau bất kể quốc gia đó có lợi thế tuyệt đối hay không Tuy nhiên,
lý thuyết này cũng gặp phải một số hạn chế nhất định
Một là, David Ricardo đã dựa trên hàng loạt các giả thiết đơn giản hóa lý thuyết về giá trị lao động để chứng minh cho quy luật này Trong khi đó trên thực tế lao động không phải là đồng nhất; những ngành khác nhau sẽ có cơ cấu lao động khác nhau, với những mức thu nhập khác nhau Ngoài ra, hàng hóa sản xuất không chỉ có lợi thế về lao động, nó còn nhiều yếu tố khác như: đất đai, vốn, khoa học-công nghệ… nhất là hiện nay, yếu tố lợi thế về lao động dần dần bị thu hẹp lại giữa các quốc gia, các yếu tố khác như đất đai, vốn, khoa học - công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng
Hai là, lý thuyết lợi thế so sánh không tính đến cơ cấu về nhu cầu tiêu dùng của mỗi nước
Ba là, lý thuyết không giải thích được nguồn gốc phát sinh thuận lợi của một nước đối với một loại sản phẩm nào đó, cho nên không giải thích triệt để nguyên nhân sâu xa của thương mại quốc tế
Bốn là, các phân tích của Ricardo không đề cập tới chi phí vận tải, bảo hiểm hàng hóa và hàng rào bảo hộ mậu dịch mà các nước dựng lên Các yếu
tố này ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả của thương mại quốc tế
Năm là, học thuyết này không xác định được tỷ lệ giao hoán quốc tế, tức
là giá cả quốc tế, căn bản vẫn là hàng đổi hàng Cuối cùng, trong thực tế có thể xảy ra trường hợp cả hai quốc gia đều có bất lợi thế tuyệt đối giống nhau Trong trường hợp này, cả hai quốc gia đều không thu được lợi ích từ thương mại Do đó, quy luật lợi thế so sánh có một trường hợp ngoại lệ, và để cho quy luật luôn luôn đúng thì quy luật này có thể được phát biểu như sau: Thậm chí, nếu một quốc gia kém hiệu quả hơn trong việc sản xuất cả hai hàng hoá
Trang 12so với quốc gia khác thì cả hai quốc gia vẫn thu được lợi ích từ thương mại, trừ khi bất lợi thế tuyệt đối của quốc gia này so với quốc gia kia có cùng tỷ lệ đối với cả hai hàng hoá
1.2 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hoạt động xuất khẩu hàng hóa
Xuất khẩu hàng hóa là một bộ phận của hoạt động ngoại thương, là việc buôn bán hàng hoá và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán với nguyên tắc ngang giá Tiền tệ ở đây có thể là
ngoại tệ đối với một quốc gia hay đối với cả hai quốc gia Hoạt động xuất khẩu được diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện kinh tế, từ xuất khẩu hàng hoá tiêu dùng đến hàng hoá sản xuất, từ máy móc thiết bị cho đến các công nghệ kỹ thuật cao, từ hàng hoá hữu hình cho đến hàng hoá vô hình Tất
cả các hoạt động trao đổi này đều nhằm mục đích đem lại lợi ích cho các quốc gia tham gia
Mục đích của hoạt động xuất khẩu là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế Việc trao đổi hàng hoá mang lại lợi ích cho các quốc gia, do đó các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này Hoạt động xuất khẩu là hình thức cơ bản của ngoại thương đã xuất hiện từ rất lâu và ngày càng phát triển Nếu xem xét dưới góc độ các hình thức kinh doanh quốc tế thì xuất khẩu là hình thức cơ bản đầu tiên mà các doanh nghiệp thường áp dụng khi bước vào lĩnh vực kinh doanh quốc tế
Có nhiều nguyên nhân khuyến khích các công ty thực hiện xuất khẩu trong đó có thể là:
+ Sử dụng khả năng vượt trội (hoặc những lợi thế) của công ty
+ Giảm được chi phí cho một đơn vị sản phẩm do nâng cao khối lượng sản xuất
+ Nâng cao được lợi nhuận của công ty
+ Giảm được rủi ro do tối thiểu hoá sự dao động của nhu cầu
* Đặc điểm:
- Hoạt động xuất khẩu diễn ra giữa hai hay nhiều quốc gia
Trang 13- Hoạt động xuất khẩu có thể được tiến hành bởi tư nhân, doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Thông thường các sản phẩm xuất khẩu là các mặt hàng lợi thế của quốc gia
* Vai trò của xuất khẩu
- Đối với nền kinh tế quốc gia
Xuất khẩu tạo vốn bằng ngoại tệ phục vụ cho vấn đề nhập khẩu những hàng hoá không phải là lợi thế của quốc gia Điều này rất có ý nghĩa, đặc biệt
là đối với các nước đang phát triển, khi họ có nhu cầu nhập khẩu cao máy móc, dây chuyền công nghệ đáp ứng cho quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nước
Xuất khẩu góp phần giảm thâm hụt cán cân thương mại do nhập khẩu, cán cân thanh toán của quốc gia sẽ được cải thiện và uy tín nền kinh tế của quốc gia cũng sẽ được nâng cao trên trường quốc tế
Xuất khẩu góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội của quốc gia Xuất khẩu tạo thêm vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, từ đó qui mô và chất lượng của nền kinh tế sẽ được nâng cao, sức ép về vấn đề thất nghiệp lên nền kinh tế quốc dân được giảm nhẹ
- Đối với doanh nghiệp
Xuất khẩu sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao lợi nhuận, có nguồn thu ngoại
tệ để phục vụ nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất, dây chuyền công nghệ có vốn để tái đầu tư sản xuất, mở rộng qui mô sản xuất, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động
Xuất khẩu là động lực mạnh mẽ cho các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm về giá cả, chất lượng trên thị trường thế giới Xuất khẩu giúp các doanh nghiệp có cơ hội mở rộng quan hệ kinh doanh với các đối tác nước ngoài, đồng thời có thể học hỏi kinh nghiệm quản lý, tác phong làm việc có hiệu quả của các doanh nghiệp nước ngoài
Trang 141.3 Các hình thức xuất khẩu hàng hóa
1.3.1 Xuất khẩu trực tiếp
Trong hình thức này, các nhà xuất khẩu trực tiếp giao dịch và ký kết hợp đồng bán hàng cho các doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài được nhà nước và pháp luật cho phép Với hình thức này không có sự tham gia của bất kỳ một tổ chức trung gian nào
1.3.2 Xuất khẩu ủy thác
Trong hình thức này, đơn vị xuất khẩu (bên nhận ủy thác) nhận xuất khẩu một lô hàng nhất định với danh nghĩa của mình và nhận được một khoản thù lao theo thỏa thuận với đơn vị có hàng xuất khẩu (bên ủy thác) Xuất khẩu
uỷ thác được áp dụng trong trường hợp một doanh nghiệp có hàng hoá muốn xuất khẩu, nhưng vì doanh ngiệp không được phép tham gia trực tiếp vào hoạt động xuất khẩu hoặc không có điều kiện để tham gia Theo hình thức này, quan
hệ giữa người bán và người mua được thông qua người thứ ba gọi là trung gian (người trung gian phổ biến trên thị trường là đại lý và môi giới)
1.3.3 Buôn bán đối lưu
Đây là phương thức giao dịch mà trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán hàng đồng thời là người mua, lượng hàng hoá mang trao đổi có giá trị tương đương Mục đích của hình thức này không nhằm thu
về một khoản ngoại tệ mà nhằm thu về một lượng hàng hoá có giá trị bằng giá trị lô hàng xuất khẩu Hình thức xuất khẩu này giúp doanh nghiệp tránh được
sự biến động của tỉ giá hối đoái trên thị trường ngoại hối, đồng thời có lợi khi các bên không có đủ ngoại tệ để thanh toán cho lô hàng nhập khẩu của mình
Có nhiều hình thức buôn bán đối lưu: hàng đổi hàng (phổ biến), trao đổi bù trừ, chuyển giao nghĩa vụ
1.3.4 Gia công xuất khẩu
Là hình thức xuất khẩu, trong đó một bên (gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế tạo ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và qua đó thu
Trang 15được một khoản phí như thỏa thuận của cả hai bên Trong hình thức này bên nhận gia công thường là các quốc gia đang phát triển, có lực lượng lao động dồi dào, có tài nguyên thiên nhiên phong phú Họ sẽ có lợi vì tạo thêm công
ăn việc làm cho người lao động, có điều kiện đổi mới và cải tiến máy móc để nâng cao năng suất sản xuất Còn đối với nước đặt gia công, họ khai thác được giá nhân công rẻ và nguyên phụ liệu khác từ nước nhận gia công
1.3.5 Xuất khẩu theo nghị định thư
Đây là hình thức mà doanh nghiệp xuất khẩu theo chỉ tiêu mà nhà nước giao cho để tiến hành xuất khẩu một hoặc một số loại hàng hóa nhất định cho chính phủ nước ngoài trên cơ sở nghị định thư đã được ký giữa hai chính phủ Hình thức này cho phép doanh nghiệp tiết kiệm được các khoản chi phi trong việc nghiên cứu thị trường, tìm kiếm bạn hàng Mặt khác, thực hiện hình thức này thường không có rủi ro trong thanh thư
Xuất khẩu theo hình thức này có nhiều ưu đãi như: khả năng thanh toán nhanh, rủi ro thấp
1.3.6 Xuất khẩu tại chỗ
Là hình thức kinh doanh mà hàng xuất khẩu không cần vượt qua biên giới quốc gia nhưng khách hàng vẫn có thể mua được Ở hình thức này, doanh nghiệp không cần phải đích thân ra nước ngoài đàm phán trực tiếp với người mua mà chính người mua lại tìm đến với doanh nghiệp Do vậy, doanh nghiệp tránh được những thủ tục rắc rối của hải quan, không phải thuê phương tiện vận chuyển, không phải mua bảo hiểm hàng hóa Hình thức này thường được áp dụng đối với quốc gia có thế mạnh về du lịch và có nhiều tổ chức nước ngoài đóng tại quốc gia đó
1.3.7 Tạm nhập tái xuất
Với hình thức này, một nước sẽ xuất khẩu những hàng hóa đã nhập từ một nước khác sang nước thứ ba Ưu điểm của hình thức này là doanh nghiệp
có thể thu được một khoản lợi nhuận cao mà không phải tổ chức sản xuất, đầu
tư vào trang thiết bị, nhà xưởng, khả năng thu hồi vốn cao Hình thức này
Trang 16được áp dụng khi có sự khó khăn trong quan hệ quốc tế giữa nước xuất khẩu
và nước nhập khẩu
1.4 Nội dung chính của hoạt động xuất khẩu hàng hóa
1.4.1 Nghiên cứu tiếp cận thị trường
Thị trường là một phạm trù khách quan gắn liền sản xuất với lưu thông hàng hóa Ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hóa thì ở đó có thị trường Theo nghĩa rộng, “Thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu, giữa tập người bán và tập người mua để thực hiện việc mua – bán hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ”
Theo nghĩa hẹp (trong marketing): Thị trường còn đồng nghĩa với khách hàng Hàng hóa, dịch vụ nào có người mua, thì ta nói hàng hóa, dịch vụ
đó có thị trường và ngược lại
Nghiên cứu thị trường trong kinh doanh thương mại quốc tế là một loạt các thủ tục, kỹ thuật được đưa ra để giúp các nhà kinh doanh có đầy đủ những thông tin cần thiết về thị trường, từ đó có thể đưa ra những quyết định chính xác Chính vì vậy, nghiên cứu thị trường đóng một vai trò hết sức quan trọng giúp các nhà kinh doanh đạt hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Không phải chỉ đối với kinh doanh thương mại quốc tế mà bất cứ trong lĩnh vực nào cũng đòi hỏi các nhà kinh doanh phải có đầy đủ các thông tin, hiểu biết về thị trường mà mình đang hướng tới Mỗi thị trường hàng hoá
cụ thể lại có những quy luật riêng, quy luật này thể hiện qua sự biến đổi nhu cầu cung cấp và giá cả hàng hoá trên thị trường
Sơ đồ 1.1: Các bước thực hiện xuất khẩu hàng hoá
Việc nghiên cứu thị trường sẽ giúp cho các nhà kinh doanh hiểu được các quy luật vận động trên thị trường đó Điều này trong kinh doanh quốc tế
Nghiên
cứu thị
trường
Lập kế hoạch, chiến lược xuất khẩu
Đàm phán
và ký kết hợp đồng xuất khẩu
Thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Trang 17càng đòi hỏi phải nghiên cứu công phu và tỷ mỉ hơn, vì giá cả và khối lượng hàng thường lớn hơn so với thương mại trong nước, hơn nữa là do các nhà kinh doanh trong nước phải tiếp xúc với môi trường kinh doanh mới, có yếu
tố quốc tế Chính vì vậy, việc nghiên cứu thị trường phải có kế hoạch nhất định bao gồm: nhận biết về sản phẩm xuất khẩu, lùa chọn thị trường và tìm
hiểu đối tác
Khi nghiên cứu thị trường nước ngoài, doanh nghiệp phải xác định được các vấn đề sau:
a- Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu (bán gì?)
Đây là một trong những nội dung cơ bản và cần thiết đầu tiên, các doanh nghiệp có ý định gia nhập vào thị trường thương mại quốc tế thì trước tiên phải xác định được mặt hàng mà mình sẽ đưa ra Mục đích của việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu là để lùa chọn được những mặt hàng kinh doanh phù hợp khả năng của doanh nghiệp, đồng thời đáp ứng được nhu cầu thị trường, từ đó mới mang lại hiệu quả cao trong kinh doanh Mặt hàng được lựa chọn, ngoài yêu cầu phải đạt tiêu chuẩn phù hợp với thị trường quốc tế còn phải phù hợp với khả năng cung ứng của doanh nghiệp Khi lùa chọn mặt hàng xuất khẩu các nhà kinh doanh phải chú ý nghiên cứu những vấn đề sau:
- Mặt hàng thị trường đang cần là gì ?
- Tình hình tiêu thụ mặt hàng đó như thế nào?
- Mặt hàng đó đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống?
b, Lựa chọn thị trường xuất khẩu (bán ở đâu)
Việc lựa chọn thị trường để xuất khẩu phức tạp hơn nhiều so với việc nghiên cứu thị trường trong nước, bởi ngoài việc nghiên cứu về quy luật vận động của thị trường còn phải nghiên cứu một số vấn đề khác như: điều kiện tiền tệ, tín dụng, điều kiện vận tải (của thị trường nước ngoài mà mình hướng tới) Việc lùa chọn thị trường phải chú ý một số vấn đề sau:
- Thị trường và dung lượng thị trường
- Vấn đề biến động giá cả trên thị trường
Trang 18c- Lựa chọn đối tác kinh doanh (bán cho ai?)
Trong hoạt động xuất khẩu, để có thể thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách thuận lợi, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro, doanh nghiệp phải thông qua mét hay nhiều công ty đang hoạt động trên thị trường đó Họ
có kinh nghiệm kinh doanh trên thị trường mình cần hướng tới cũng như địa
vị pháp lý để đảm bảo cho hai bên hoạt động một cách thuận lợi Nhưng khi lựa chọn đối tác cần phải chú ý tới:
- Quan điểm kinh doanh của đối tác;
- Lĩnh vực kinh doanh của đối tác;
- Khả năng về tài chính;
- Uy tín và mối quan hệ của đối tác kinh doanh;
- Những người đại diện cho công ty kinh doanh và phạm vi trách nhiệm của họ đối với công ty nếu người giao dịch trực tiếp là đại diện của công ty
1.4.2 Xây dựng kế hoạch, chiến lược xuất khẩu
Dựa vào kết quả thu được từ việc nghiên cứu thị trường, các đơn vị kinh doanh xuất khẩu cần xây dựng một kế hoạch kinh doanh cụ thể Đây là bước chuẩn bị trên giấy tờ, dự đoán về diễn biến của quá trình xuất khẩu hàng hoá cũng như mục tiêu sẽ đạt được khi thực hiện quá trình này Kế hoạch kinh doanh là phương án hoạt động cụ thể của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu xác định trong kinh doanh
Một kế hoạch kinh doanh có cơ sở khoa học và thực tiễn dựa trên cơ sở phân tích chuẩn xác và đúng dắn về thị trường, bạn hàng cũng như về nội lực của công ty mình sẽ góp phần vào thành công trong kinh doanh
1.4.3 Đàm phán và ký kết hợp đồng xuất khẩu
Sau khi nghiên cứu về thị trường, mặt hàng xuất khẩu, tìm hiểu đối tác
và đàm phán để thoả thuận mọi điều kiện có liên quan thì doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu và đối tác sẽ thực hiện bước tiếp theo là ký kết hợp đồng Khi đã ký kết hợp đồng có nghĩa giữa doanh nghiệp kinh doanh xuất
Trang 19khẩu và đối tác cùng ràng buộc với nhau thông qua các điều khoản quy định trong hợp đồng
1.4.4 Thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Sau khi đã ký kết hợp đồng, người xuất khẩu sẽ tổ chức thực hiện hợp đồng mình đã ký kết Căn cứ vào nội dung hợp đồng, doanh nghiệp tiến hành sắp xếp các công việc phải làm, ghi thành bảng theo dõi tiến độ thực
hiện hợp đồng
Chuẩn bị
hàng hoá
Xin giấy phép xuất khẩu Thuê tầu
Kiểm nghiệm hàng hoá
Làm thủ tục hải quan
Giải quyết khiếu nại
Hoàn thành
bộ CTTT
Mua bảo hiểm
Giao hàng lên tầu
Sơ đồ 1.2: Các bước tiến hành việc thực hiện hợp đồng xuất khẩu
1.5 Các nhân tố tác động đến xuất khẩu hàng hóa
- GDP bình quân đầu người: Việc đưa yếu tố cung của nước xuất khẩu
(PGDPit) và yếu tố cầu của nước nhập khẩu (PGDPjt) dựa trên cơ sở lý thuyết
là mức thu nhập bình quân đầu người của nước xuất khẩu cao chứng tỏ khả năng sản xuất phục vụ xuất khẩu, còn mức thu nhập bình quân đầu người của nước nhập khẩu cao cho thấy mức cầu về nhập khẩu cao hơn Tình hình phát triển kinh tế của thị trưòng xuất khẩu có ảnh hưởng tới nhu cầu và khả năng thanh toán của khách hàng, do đó có ảnh hưởng đến hoạt đông xuất khẩu của doanh nghiệp Chính vì vậy, theo dự đoán của mô hình, khi các yếu tố khác không đổi thì thương mại giữa các quốc gia có quy mô GDP bình quân đầu nguời cao thường là cao (Frankel, 1993)
- Dân số: Cho đến nay, trên phương diện lý thuyết, ảnh hưởng của dân
số đến hoạt động thương mại vẫn chưa được xác định một cách nhất quán Một mặt, dân số đông có thể khuyến khích phân công lao động và do đó cho phép các ngành công nghiệp đạt được lợi thế theo quy mô Và như vậy, thương mại với các nước bạn hàng sẽ tăng lên Điều đó có nghĩa là dân số có tác động tỷ lệ thuận đối với xuất khẩu (Oguledo and Macphee, 1994) Mặt
Trang 20khác, quốc gia đông dân thường có diện tích tự nhiên lớn, và do đó sẵn có nguồn tài nguyên thiên nhiên Hiệu ứng hấp thu của thị trường trong nước làm cho quốc gia này ít phục thuộc vào thương mại quốc tế Do đó, dân số có tác động tỷ lệ nghịch với quy mô xuất khẩu (Endoh, 2000) Chính vì vậy, dân số
có tác động tỷ lệ thuận hay tỷ lệ nghịch đối với thương mại hoàn toàn phụ thuộc vào hiệu ứng nào vượt trội hơn (hiệu ứng lợi thế theo quy mô hay hiệu ứng hấp thu)
- Khoảng cách về mặt địa lý giữa các quốc gia: Trên thực tế, khoảng
cách về mặt địa lý giữa các quốc gia thể hiện chi phí thương mại, bao gồm chi phí vận chuyển, chi phí về thời gian, chi phí bảo hiểm, tiếp cận thông tin về thị trường Tất cả các nhân tố này có tác động rất lớn đến thương mại Thương mại quốc tế diễn ra giữa các quốc gia càng xa nhau thì chi phí này càng lớn Chính vì vậy, các quốc gia thường có xu hướng ít trao đổi buôn bán với đối tác thương mại ở xa Nói cách khác, khoảng cách về mặt địa lý có tác động tỷ lệ nghịch với kim ngạch xuất khẩu nói chung, và với kim ngạch xuất khẩu nông sản nói riêng (Martinez-Zarzoso, 2003)
- Độ mở của nền kinh tế: Mặc dù thương mại quốc tế mang lại nhiều lợi
ích cho các quốc gia tham gia thương mại, nhưng trên thực tế không một quốc gia nào cho phép hàng hoá và dịch vụ ra vào quốc gia mình một cách tự do Thông thường mỗi quốc gia đều có chính sách thương mại quốc tế riêng của nước mình phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của từng nước Để can thiệp vào dòng chảy thương mại quốc tế, các quốc gia sử dụng nhiều biện pháp và công cụ (thuế quan và rào cản phi thuế quan) Các rào cản này đã làm cản trở đáng kể luồng hàng hoá và dịch vụ di chuyển giữa các quốc gia Như vậy, quốc gia có độ mở của nền kinh tế cao sẽ có xu hướng trao đổi buôn bán
và lệ thuộc vào thương mại nhiều hơn
- Năng lực sản xuất của ngành nông nghiệp: Trên phương diện lý
thuyết, nông sản sản xuất ra nhằm phục vụ tiêu dùng trong nước và thị trường quốc tế Nhìn chung, các quốc gia có năng lực sản xuất nông nghiệp cao sẽ có
Trang 21xu hướng xuất khẩu nông sản sang thị trường thế giới nhiều hơn Đây là điều
dễ hiểu, khi năng lực sản xuất vượt quá cầu trong nước thì các nhà sản xuất phải tìm kiếm thị trường nước ngoài để xuất khẩu bán phần hàng hoá dư thừa của mình Đặc biệt, trong trường hợp xuất khẩu hàng nông sản, khi độ co giãn cầu đối với thu nhập không cao, thì khi năng lực sản xuất tăng lên thường sẽ vượt quá khả năng tiêu dùng trong nước Như vậy, quốc gia này có xu hướng xuất khẩu nhiều hơn sang thị trường thế giới
- Khối liên kết kinh tế: Trong những năm gần đây, môi trường kinh tế
quốc tế có nhiều thay đổi do xu hướng nhất thể hoá nền kinh tế có nhiều mức
độ khác nhau như khu vực mậu dịch tự do (FTA), khu vực thống nhất thuế quan, khu vực thị trường chung, Những xu hướng này có tác động đến hoạt động xuất khẩu của các quốc gia theo hướng tạo ra sự ưu tiên cho nhau Lý do
là khi thành lập khối liên kết kinh tế thì các quốc gia thành viên của khối liên kết sẽ được hưởng ưu đãi về thuế quan và các rào cản trong quan hệ thương mại nội khối Chính vì vậy, việc tham gia khối liên kết kinh tế có tác dụng thúc đẩy thương mại giữa các nước thành viên trong khối
- Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ: Chính khoa học –
công nghệ hiện đại đã giúp các quốc gia tiết kiệm được nguyên vật liệu, sản xuất các nguyên liệu thay thế và cho phép tái sử dụng nguyên vật liệu, từ đó góp phần làm giảm chi phí sản xuất, bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Trước đây, các nhà kinh tế học cổ điển thường xác định lợi thế so sánh dựa trên những lợi thế về tài nguyên, nguồn lao động, nhưng trong giai đoạn hiện nay, lợi thế cạnh tranh còn phụ thuộc rất lớn vào
cơ sở hạ tầng công nghệ và kỹ năng của người lao động Nhờ đó, chúng ta
có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu và chuyển dịch
cơ cấu mặt hàng xuất khẩu hợp lý Cuộc cách mạng khoa học công nghệ bùng nổ đã đem lại nhiều cơ hội cho các quốc gia, đặc biệt là những nước đang phát triển Lợi thế của các nước đi sau là có thể đi tắt đón đầu, sử dụng luôn công nghệ tiên tiến của các quốc gia phát triển mà không phải mất thời
Trang 22gian, tiền của và công sức để phát minh Điều đó dẫn đến xu hướng sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng công nghệ cao, một số sản phẩm mới sẽ tham gia vào việc xuất khẩu
- Gía cả hàng hóa: là một nhân tố không chỉ tác động đến nền kinh tế
trong nước mà còn ảnh hưởng đến hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia trên thế giới Gía cả hàng hóa được xem xét trên 2 khía cạnh: giá thành sản xuất sản phẩm và giá bán Gía thành sản xuất sản phẩm phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, giá nguyên vật liệu đầu vào, giá nhân công, công nghệ sản xuất để sản xuất ra sản phẩm đó Sự khác biệt về giá cả và chi phí tương đối là cơ sở của thương mại quốc tế Một nước sẽ chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà nước đó có khả năng sản xuất với chi phí so sánh thấp nhất Khía cạnh thứ hai cần xét đến là giá xuất khẩu Căn cứ
để xác định giá xuất khẩu là giá thành sản phẩm, chi phí vận chuyển, lợi nhuận doanh nghiệp có thể đạt được, thuế, phí và chi phí khác Gỉa định các yếu tố không đổi, giá xuất khẩu tăng thì tổng kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng, nếu giá xuất khẩu giảm thì tổng kim ngạch xuất khẩu sẽ giảm Tuy nhiên trên thực tế, nghiên cứu sự ảnh hưởng của giá xuất tới tổng kim ngạch xuất khẩu phải xét tới sự ảnh hưởng của các yếu tố khác là sức cạnh tranh về giá
và chất lượng của sản phẩm đó với các sản phẩm cùng loại nhưng được sản xuất ở các quốc gia khác, tỷ giá hối đoái,…
1.6 Vai trò của xuất khẩu hàng hóa đối với phát triển kinh tế
Cùng với chiến lược hội nhập và phát triển, thương mại quốc tế là một
bộ phận quan trọng, nó quyết định đến lợi thế của quốc gia trên trường quốc
tế Vì vậy, việc đẩy mạnh giao lưu thương mại quốc tế nói chung và đẩy mạnh việc xuất khẩu nói riêng là một mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia Thực tế
đã chứng minh những nước có dự trữ ngoại tệ lớn như Mỹ, Nhật, Singapore, Đài Loan… là những nước có tỷ trọng xuất khẩu lớn nhất trên thế giới Do vậy, xuất khẩu hàng hóa có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi quốc gia
Trang 23Một là, xuất khẩu để thu ngoại tệ cho quốc gia, cải thiện cán cân thanh toán Kết quả của hoạt động ngoại thương sẽ được phản ánh trong cân đối thu chi ngoại tệ dưới hình thức “cán cân thanh toán xuất – nhập khẩu” Kết quả này sẽ làm tăng hoặc giảm thu nhập của một quốc gia nên
nó tác động đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Tăng xuất khẩu có thể làm tăng GDP của một nước
Hai là, xuất khẩu hàng hóa tạo điều kiện cho mỗi quốc gia có thể khai
thác tối đa lợi thế so sánh của mình Khi tận dụng các lợi thế so sánh đó, nguồn lực được phân bổ một cách có hiệu quả hơn nên khiến cho sự cạnh tranh của hàng hóa được nâng cao, tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững
Ba là, xuất khẩu hàng hóa tạo ra nguồn vốn chủ yếu để nhập khẩu công
nghệ, máy móc và những nguyên vật liệu khác phục vụ cho việc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước là con đường tất yếu giúp cho các nước đang phát triển có thể thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu Để công nghiệp hóa đất nước trong một thời gian ngắn, các nước đang phát triển phải có một số vốn rất lớn để nhập khẩu máy móc, thiết bị tiên tiến Nguồn vốn phục vụ cho việc nhập khẩu này có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Đó là: (1) Xuất khẩu hàng hóa; (2) Vốn đầu
tư nước ngoài; (3) Viện trợ, vay nợ… Trong đó thì các nguồn đầu tư nước ngoài hay viện trợ vay nợ là nguồn chịu ràng buộc không những về kinh tế mà còn về chính trị, chỉ có nguồn vốn xuất khẩu là nguồn quan trọng nhất, là nguồn thu chính để quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu
Bốn là, xuất khẩu hàng hóa đóng góp vào quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và thúc đẩy sản xuất phát triển Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đó là: (1) Xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do dư cung nội địa (sản xuất trong nước vượt quá nhu cầu nội địa) Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển thì việc sản xuất để phục vụ nhu cầu trong nước còn chưa đủ Do đó, xuất khẩu và thay đổi cơ cấu kinh tế rất chậm chạp (2) Quan điểm này xuất
Trang 24phát từ nhu cầu thị trường thế giới để tổ chức sản xuất Theo đó, các nước theo quan điểm này cần coi thị trường thế giới là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất Điều này sẽ tác động tích cực đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế Khi đó, xuất khẩu sẽ tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi Ví dụ như ngành dệt may xuất khẩu phát triển sẽ tạo điều kiện cho ngành sản xuất nguyên liệu như bông, sợi, thuốc nhuộm… Đồng thời, xuất khẩu sẽ tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ và khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất
Năm là, xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết việc làm và
cải thiện đời sống nhân dân Một mặt, khi xuất khẩu tăng mạnh kéo theo đó là
sự tăng lên của các doanh nghiệp sản xuất, chế biến và dịch vụ hàng xuất khẩu Đây chính là nơi thu hút một lực lượng lao động không nhỏ với thu nhập khá Mặt khác, xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Quan trọng hơn là xuất khẩu có tác động trực tiếp đến sản xuất làm tăng quy mô và tốc độ sản xuất, khi đó có
sự khôi phục ngành nghề cũ và sự gia tăng thêm ngành mới sẽ thúc đẩy quá trình phân công lao động, tăng năng suất lao động và đời sống nhân dân được cải thiện
Sáu là, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối
ngoại, tăng cường vị thế quốc gia trên trường quốc tế Hoạt động kinh tế đối ngoại của một quốc gia bao gồm: (1) hoạt động ngoại thương; (2) hoạt động hợp tác đầu tư và hợp tác khoa học công nghệ; (3) Hoạt động dịch vụ Trong
đó, xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động còn lại nên nó có tác động thúc đẩy cho các quan hệ này phát triển
1.7 Sự cần thiết phải thúc đẩy hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam 1.7.1 Đặc điểm của mặt hàng nông sản và thị trường nông sản trên thế giới
a Đặc điểm mặt hàng nông sản
- Các mặt hàng nông sản như: Gạo, ngô, lạc, đậu, cà phê, quế, cao su là những hàng hoá thiết yếu đối với đời sống và sản xuất của mỗi quốc
Trang 25gia Vì thế, đa số các nước trên thế giới đều trực tiếp hoạch định các chính sách can thiệp vào sản xuất, xuất khẩu lương thực và nước nào cũng chú trọng chính sách dự trữ quốc gia và bảo hộ nông nghiệp, coi an ninh lương thực là vấn đề cấp bách
- Mặt hàng nông sản là một trong những mặt hàng có tính chiến lược,
Do vậy, đại bộ phận buôn bán hàng nông sản quốc tế được thực hiện thông qua hiệp định giữa các Nhà nước mang tính dài hạn
- Quá trình sản xuất, thu hoạch, buôn bán hàng nông sản mang tính thời vụ
- Hàng nông sản chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố khí hậu, thời tiết
- Chất lượng hàng nông sản sẽ tác động trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của người tiêu dùng Chính vì vậy, nó luôn là yếu tố đầu tiên được người tiêu dùng quan tâm
Đối với hàng nông sản, khâu bảo quản và chế biến rất quan trọng vì: Giá
cả hàng nông sản xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào chất lượng Chất lượng hàng nông sản không những phụ thuộc vào khâu sản xuất mà còn phụ thuộc rất nhiều vào khâu bảo quản và chế biến Chính vì vậy, để nâng cao giá hàng nông sản xuất khẩu thì khâu bảo quản và chế biến phải được các doanh nghiệp đặc biệt quan tâm
Chủng loại hàng nông sản rất phong phú và đa dạng nên chất lượng của cùng một mặt hàng cũng rất phong phú và đa dạng Thói quen tiêu dùng và sự đánh giá về cùng một mặt hàng trên thị trường thế giới rất khác nhau
Như vậy, có thể thấy với một loại nông sản nó có thể được ưa thích ở thị trường này, song lại không được chấp nhận ở thị trường khác, giá có thể cao ở thị trường này, song lại rất thấp ở thị trường khác Vì vậy, trong kinh doanh hàng nông sản đối với một doanh nghiệp vấn đề xác định thị trường mục tiêu, thị trường tiềm năng đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với doanh nghiệp
b Thị trường nông sản thế giới
Trong thương mại quốc tế nói chung và trong xuất khẩu hàng nông sản nói riêng, việc nghiên cứu thị trường hàng hoá quốc tế là rất quan trọng Nó
Trang 26giúp cho các doanh nghiệp làm công tác xuất nhập khẩu những thông tin quan trọng về nhu cầu hàng nông sản và từ đó công ty sẽ đưa ra quyết định đúng đắn, mang lại hiệu quả tốt cho hoạt động kinh doanh của mình
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều quốc gia xuất khẩu hàng nông sản nhưng các nước đang phát triển là những nước xuất khẩu hàng nông sản chủ yếu Tuy nhiên, hàng nông sản được xuất khẩu từ các nước này chủ yếu là các hàng thô hoặc mới chỉ qua sơ chế nên giá trị xuất khẩu chưa cao
Nước nhập khẩu hàng nông sản có thể là các nước chậm phát triển, đang phát triển hoặc phát triển Tuy nhiên, nhu cầu của mỗi nước đối với hàng nông sản rất khác nhau
Thị trường nhập khẩu hàng nông sản đã và đang bị thu hẹp lại Hiện tại, các nước phát triển có nhu cầu nhập khẩu hàng nông sản lớn nhất thế giới Tuy nhiên, các nước này đã và đang thực hiện một cách phổ biến và sâu rộng chế độ trợ cấp cho sản xuất nông nghiệp ở mức độ cao, bảo hộ thị trường nông sản nội địa dưới nhiều hình thức Cơ chế này không những làm tăng khả năng xuất khẩu hàng nông sản của các nước này mà còn hạn chế nhập khẩu nông sản của các nước này Đây là một bất lợi lớn đối với sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu nông sản của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam
Tình hình trên làm cho thị trường nông sản bị thu hẹp trong khi nguồn cung cấp nông sản khá dồi dào ở các nước Châu Á, Mỹ La Tinh, Tây Âu, Bắc
Mỹ đã đưa kinh doanh nông sản trên thị trường thế giới vào tình trạng cạnh tranh quyết liệt, khiến cho giá nông sản xuất khẩu trên thị trường thế giới giảm, gây bất lợi cho những người sản xuất nông nghiệp và cho những nước xuất khẩu nông sản
Tình hình đó cũng buộc các nước đang phát triển phải xuất khẩu nông sản nguyên liệu cho các nước phát triển với giá thấp (các nước đang phát triển
sẽ chế biến lại để xuất khẩu) Mặt khác, hàng nông sản chế biến sâu của các nước đang phát triển lại phải cạnh tranh với hàng nông sản xuất khẩu cùng loại của các nước phát triển ở thế yếu hơn do hạn chế về công nghệ chế biến
Trang 27và khả năng đầu tư cho công nghệ chế biến nông sản xuất khẩu
Ngày nay, thị trường quốc tế ngày càng được mở rộng, nhu cầu về hàng nông sản càng lớn nhưng mức độ cạnh tranh cũng vô cùng khắc nghiệt Doanh nghiệp phải thực sự bước vào cuộc cạnh tranh gay gắt về chất lượng, giá cả nông phẩm, uy tín, điều kiện thanh toán với các doanh nghiệp xuẩt khẩu trong và ngoài nước
1.7.2 Sự cần thiết phải thúc đẩy xuất khẩu nông sản Việt Nam
Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong những năm qua đạt kết quả cao Bước đầu nước ta đã hình thành được các nhóm hàng nông sản xuất khẩu có giá trị lớn Một số mặt hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD như gạo, cà phê, hạt điều, lạc nhân Một điều đáng mừng là các mặt hàng xuất khẩu không những tăng nhanh về số lượng mà còn đa dạng về chủng loại Danh mục hàng hóa xuất khẩu cũng ngày càng được bổ sung, mở rộng
Tuy nhiên, nhìn trên nhiều mặt, xuất khẩu nông sản còn xa mới xứng với tiềm năng hiện có của nền nông nghiệp nước nhà Hơn thế sản lượng xuất khẩu ngày càng tăng, nhưng kim ngạch còn nhỏ, hiệu quả kinh tế còn thấp và còn nhiều thách thức trong việc tìm kiếm “đầu ra” cho nhiều loại nông sản hàng hoá Kim ngạch bình quân cho một nhân khẩu làm nông nghiệp xuất khẩu mới đạt khoảng 4,5 USD Ở đây, tồn tại nhiều nguyên nhân khác nhau liên quan đến nhiều khâu:
- Trong sản xuất: sản xuất nông nghiệp nói chung, cho xuất khẩu nói riêng còn nhiều sự chia cắt, tách biệt khâu sản xuất với khâu chế biến và tiêu thụ, các vùng nguyên liệu phân tán, xé nhỏ Phương thức canh tác thủ công (từ gieo trồng, chăn bón đến thu hoạch, bảo quản), ít có cơ hội áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật làm cho năng xuất thấp, tiêu hao nhiều lao động, giá thanh cao Hạn chế lớn nhất là hàng hoá nông nghiệp xuất khẩu của ta chủ yếu dưới dạng thô hoặc qua sơ chế, giá trị gia tăng không cao Hạn chế này càng trở nên thách thức lớn đối với Việt Nam khi các hàng rào thuế quan đã
Trang 28bị dỡ bỏ và miễn giảm thuế chỉ áp dụng cho các mặt hàng nông sản đã qua chế biến trong APEC mà Việt Nam là một thành viên Tình trạng này kéo dài, hàng nông sản của ta sẽ thiếu năng lực cạnh tranh Việt Nam trở thành thị trường tiêu thụ các sản phẩm nước ngoài với giá rẻ hơn được chế biến bằng công nghệ hiện đại, mẫu mã phong phú
- Trong khâu phân phối và tiêu thụ: Hàng nông sản của ta mới tập trung vào một số thị trường hạn chế, dễ bị sức ép và biến động nhiều vì không có đối trọng so sánh Các nhà xuất khẩu trong nước không hỗ trợ liên kết hợp tác với nhau, giúp đỡ người nông dân trực tiếp sản xuất mà còn tranh mua, tranh bán, nâng hạ giá tuỳ tiện làm cho diễn biến giá cả thị trường phức tạp, không đúng với thực chất Thêm vào đó, hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam vẫn còn mang tính manh mún, còn thiếu một tầm nhìn chiến lược dài hạn trên cơ sở nắm bắt thông tin thương mại chính xác và hiểu biết xu hướng vận động của thị trường quốc tế nói chung, đối với từng chủng loại hàng hoá nói riêng Năng lực tiếp thị, khả năng phân tích thị trường và việc tiến hành quản lý xuất nhập khẩu của đội ngũ cán bộ còn thiếu kinh nghiệm dẫn đến sự chậm chễ và thua thiệt
Chính vì những nguyên nhân nêu trên, việc thúc đẩy xuất khẩu nông sản
và nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam trở nên cấp thiết
Trang 29PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Đặc điểm thị trường các nước ASEAN như thế nào?
- Thực trạng xuất khẩu nông sản hàng hóa của Việt Nam sang các nước ASEAN-5? Đã xuất khẩu được những mặt hàng gì ? Kết quả đạt được về số lượng, chất lượng, giá cả, kim ngạch xuất khẩu nông sản hàng hóa?
- Các chính sách xuất khẩu nông sản hàng hóa của Việt Nam sang các nước ASEAN5 là gì?
- Những yếu tố nào đã ảnh hưởng hạn chế tới kết quả xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường các nước ASEAN5?
- Các doanh nghiệp Việt Nam đã làm gì để đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường này?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1.1 Chọn mẫu
Để phân tích các yếu tố tác động đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường ASEAN, đồng thời xác định triển vọng xuất khẩu nông sản trong thời gian tới, tác giả lựa chọn xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường các quốc gia ASEAN giai đoạn 1995-2011 Tuy nhiên, do một số quốc gia thuộc ASEAN chưa có số liệu về thương mại một cách đầy đủ với Việt Nam nên tác giả chỉ lựa chọn xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang 5 đối tác chủ yếu của ASEAN, bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan Đây cũng là các quốc gia sáng lập ASEAN
2.2.1.2 Thu thập số liệu thứ cấp
Trong đề tài này, số liệu sử dụng để phân tích lợi thế so sánh là số liệu xuất khẩu của Việt Nam được phân loại theo tiêu chuẩn SITC (Standard International Trade Classification) ở cấp 2 và 3 chữ số Nhằm mục đích đưa ra phân tích tổng quát, các kết quả sẽ được trình bày ở cấp 2 chữ số hoặc cấp 3 chữ số Ngoài ra,
Trang 30của WTO Số liệu xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN được trích
từ bộ cơ sở dữ liệu của Liên hiệp quốc Danh mục các mặt hàng nông nghiệp (ở cấp 1 chữ số) được xác định như sau:
Bảng 2.1: Danh mục nông sản theo phân loại SITC cấp 1 chữ số
SITC 0 Lương thực, thực phẩm và động vật sống
SITC 1 Đồ uống và thuốc lá
SITC 2 NVL thô, không dùng để ăn, trừ nhiên liệu
SITC 4 Dầu, mỡ, chất béo, sáp động, thực vật
Tại bảng 2.1, SITC 2 không bao gồm SITC 27 và SITC 28 Danh mục các mặt hàng nông nghiệp (ở cấp 2 chữ số) được xác định như sau:
Bảng 2.2: Danh mục nông sản theo phân loại SITC cấp 2 chữ số
SITC 05 Rau và trái cây
SITC 06 Đường, chế phẩm từ đường, mật ong
SITC 07 Cà phê, chè, cacao, gia vị
SITC 08 Thức ăn chăn nuôi
SITC 09 Các chế phẩm thức ăn khác
SITC 11 Đồ uống
SITC 12 Thuốc lá
SITC 21 Da, lông thô
SITC 22 Hạt, trái cây có dầu
SITC 23 Cao su thô, tổng hợp
SITC 42 Mỡ và các loại dầu thực vật
SITC 43 Mỡ và dầu động thực vật (chế biến)
Trang 312.2.2.1 Mô hình phân tích định lượng
a) Xây dựng mô hình
Trong đề tài này, tác giả sử dụng mô hình hồi quy nhằm phân tích các yếu
tố tác động đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường các quốc gia ASEAN Đây là mô hình kinh tế lượng mà cách tiếp cận của mô hình là đưa ra các dự báo dựa trên số liệu về xuất khẩu thực trong các năm trước Với cách tiếp cận này mô hình sẽ giải thích tác động của các yếu tố đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường ASEAN Trên thực tế, phương pháp định lượng này được sử dụng một cách phổ biến bởi lẽ các kết quả nghiên cứu mang tính thiết thực và ít phải đưa ra các giả định về tham số của mô hình
Trong mô hình này, xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang thị trường ASEAN được xác định bởi quy mô của nền kinh tế và khoảng cách về mặt địa lý của hai quốc gia đó (Tinbergen, 1962; Porojan, 2001) Mô hình có thể được biểu diễn dưới dưới dạng sau đây:
ijt ij jt
it ijt GDP GDP DIST u
Kể từ khi được xây dựng lần đầu tiên cho đến nay, mô hình ngày càng được sử dụng rộng rãi và bổ sung hoàn thiện dần phù hợp với điều kiện thương mại hiện nay Do đó thương mại giữa hai quốc gia phụ thuộc vào các đặc điểm của nước xuất khẩu, các điểm của nước nhập khẩu, những yếu tố thúc đẩy thương mại và hạn chế thương mại Để thuận tiện cho việc áp dụng thực nghiệm,
mô hình sử dụng trong đề tài này được biểu diễn như sau:
ijt ijt it
jt ij
jt it jt
it ijt
u FTA CAPACITY
OPEN DIST
POP POP PGDP
PGDP Export
ln ln
ln ln
ln
6 5
4 3
2 1
Exportijt là giá trị xuất khẩu từ quốc gia i sang quốc gia j tại thời điểm t
PGDPit là GDP bình quân đầu người của quốc gia i tại thời điểm t
PGDPjt là GDP bình quân đầu người của quốc gia j tại thời điểm t
Trang 32 POPjt là dân số của quốc gia j tại thời điểm t
DISTij là khoảng cách giữa quốc gia i và quốc gia j
OPENjt: Là độ mở của nền kinh tế của quốc gia j tại thời điểm t
CAPACITYjt là năng lực sản xuất ngành nông nghiệp của quốc gia i tại thời điểm t
FTAijt là biến giả, bằng 1 khi quốc gia i và quốc gia j cùng là thành viên
của một khối liên kết, và ngược lại Hệ số của FTAijt mang giá trị dương trong trường hợp xảy ra tạo lập mậu dịch
Uijt: Phần sai số
- GDP bình quân đầu người (PGDPit và PGDPjt): Trong đề tài này,
PGDPit là GDP bình quân đầu người của quốc gia i tại thời điểm t PGDPjt là
GDP bình quân đầu người của quốc gia j tại thời điểm t Việc đưa yếu tố cung
của nước xuất khẩu (PGDPit) và yếu tố cầu của nước nhập khẩu (PGDPjt) là dựa trên cơ sở lý thuyết là mức thu nhập bình quân đầu người của nước xuất khẩu cao chứng tỏ khả năng sản xuất phục vụ xuất khẩu, còn mức thu nhập bình quân đầu người của nước nhập khẩu cao cho thấy mức cầu về nhập khẩu cao hơn Chính vì vậy, theo dự đoán của mô hình, khi các yếu tố khác không đổi thì thương mại giữa các quốc gia có quy mô GDP bình quân đầu nguời cao thường
là cao (Frankel, 1993)
- Dân số (POPit và POPjt): Trong đề tài này biến POPit là dân số (triệu
người) của quốc gia i tại thời điểm t Biến POPjt là dân số (triệu người) của quốc
gia j tại thời điểm t Thực ra cơ sở lý luận về biến dân số vẫn chưa được xác
định một cách rõ ràng Một mặt, dân số đông có thể khuyến khích phân công lao động và do đó cho phép các ngành công nghiệp đạt được lợi thế theo quy mô
Và như vậy, thương mại với các nước bạn hàng sẽ tăng lên Điều đó có nghĩa là dân số có tác động tỷ lệ thuận đối với xuất khẩu (Oguledo and Macphee, 1994)
Trang 33nguồn tài nguyên thiên nhiên Hiệu ứng hấp thu của thị trường trong nước làm cho quốc gia này ít phục thuộc vào thương mại quốc tế Do đó, dân số có tác động tỷ lệ nghịch với quy mô xuất khẩu (Endoh, 2000)
- Khoảng cách giữa hai quốc gia (DISTij): Biến DISTij là khoảng cách về mặt địa lý giữa quốc gia i và quốc gia j Biến này được tính bằng khoảng cách (km) giữa thủ đô của quốc gia i và quốc gia j Trên thực tế, nhiều nghiên cứu đã
sử dụng khoảng cách này để thay thế cho các biến liên quan đến khoảng cách như chi phí vận chuyển, chi phí về thời gian, tiếp cận thông tin về thị trường Tất
cả các nhân tố này phản ánh chi phí về giao dịch quốc tế Do đó, các quốc gia xa nhau thường trao đổi buôn bán với nhau ít hơn Nói cách khác, khoảng cách về mặt địa lý có tác động tỷ lệ nghịch với kim ngạch xuất khẩu nói chung, và với kim ngạch xuất khẩu nông sản nói riêng (Martinez-Zarzoso, 2003)
- Độ mở của nền kinh tế (OPENjt): Là độ mở của nền kinh tế nước nhập khẩu (quốc gia j), được tính bằng giá trị xuất khẩu/GDP Trên thực tế, đã có một số
nghiên cứu thực nghiệm sử dụng biến này để ước tính tác động của chính sách thương mại đến xuất nhập khẩu hàng hoá Theo ước tính về mặt lý thuyết, quốc gia xuất khẩu có xu hướng xuất khẩu nhiều hơn sang quốc gia có độ mở của nền kinh tế cao hơn
- Năng lực sản xuất của ngành nông nghiệp (CAPACITY it ): Về mặt lý
thuyết, quốc gia có năng lực sản xuất nông nghiệp cao sẽ có xu hướng xuất khẩu nông sản sang thị trường thế giới nhiều hơn Đây là điều cũng dễ hiểu khi năng lực sản xuất vượt quá cầu trong nước thì các nhà sản xuất phải tìm kiếm thị trường nước ngoài để xuất khẩu phần hàng hoá dư thừa của mình
- Khối liên kết kinh tế (FTA ijt ): Đây là biến giả, bằng 1 khi quốc gia i và j
cùng là thành viên của một khối liên kết kinh tế, và ngược lại Hệ số của biến này có thể mang giá trị dương hoặc giá trị âm tùy thuộc vào từng trường hợp cụ
thể Nếu hệ số của biến FTAijt mang giá trị dương thì điều đó có nghĩa là việc gia
nhập khối liên kết có tác động kích thích thương mại nội khối (Ghosh and
Trang 34khối liên kết kinh tế không có tác dụng kích thích thương mại nội khối
b) Phương pháp ước lượng mô hình
Trong đề tài này, tác giả sẽ lựa chọn sử dụng một trong ba mô hình, bao gồm phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình tác động cố định, hoặc
mô hình tác động ngẫu nhiên Việc lựa chọn mô hình nào là hoàn toàn tùy thuộc
vào kết quả kiểm định lựa chọn mô hình
Mô hình tác động cố định cho phép kết hợp sự khác nhau giữa các quan
sát chéo bằng cách cho phép hệ số chặn thay đổi Như vậy, tất cả sự khác nhau giữa các quan sát chéo sẽ được thể hiện ở hệ số chặn, và mô hình hiệu ứng cố định cho phép các đường hồi quy có độ dốc như nhau Với phương pháp này thì tất cả các số liệu chéo có thể được sử dụng trong một mô hình hồi quy, cùng với
số liệu chuỗi Để ứng dụng mô hình này, các biến giả sẽ được sử dụng cho các hệ
số chặn Do đó, mô hình tác động cố định có thể được biểu diễn dưới dạng sau:
ijt ijt it
jt ij
jt it jt
it i
ijt
u FTA CAPACITY
OPEN DIST
POP POP PGDP
PGDP Export
ln ln
ln ln
ln
6 5
4 3
2 1
Trong đó: 0icho thấy rằng mỗi một cặp quốc gia thương mại với nhau sẽ
có một hệ số chặn riêng Ngoài ưu điểm nêu trên (cho phép phối hợp sự khác nhau giữa các quan sát chéo), mô hình tác động cố định giúp chúng ta giảm thiểu được những sai sót kỹ thuật khi có biến độc lập quan trọng mà lại không được đưa vào mô hình Tuy nhiên, nhược điểm căn bản của mô hình này là các biến không thay đổi theo thời gian sẽ bị loại ra khỏi mô hình một cách mặc nhiên Trong trường hợp này, biến khoảng cách (DISTij) là biến không thay đổi theo thời gian nên sẽ bị loại ra khỏi mô hình một cách mặc nhiên
Khác với mô hình tác động cố định, mô hình tác động ngẫu nhiên cho phép chúng ta phối hợp sự khác nhau giữa các quan sát chéo bằng cách cho phép
hệ số chặn thay đổi tương tự như mô hình tác động cố định, nhưng mức độ thay đổi này lại là ngẫu nhiên Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên cho rằng sự khác nhau
Trang 35được biểu thị dưới dạng sau đây:
ijt ijt it
jt ij
jt it jt
it i
ijt
w FTA CAPACITY
OPEN DIST
POP POP PGDP
PGDP Export
ln ln
ln ln
ln
6 5
4 3
2 1
c) Kiểm định để lựa chọn mô hình
Việc lựa chọn mô hình thích hợp cho đề tài hoàn toàn phụ thuộc vào liệu
có sự tương quan giữa biến độc lập với tác động không quan sát được hay không Nếu không có sự tương quan giữa tác động không quan sát được với tất cả các biến độc lập thì mô hình tác động ngẫu nhiên sẽ thích hợp hơn Ngược lại, nếu giữa các biến độc lập và tác động không quan sát được có sự tương quan với nhau thì mô hình tác động cố định sẽ thích hợp hơn Theo thông lệ, kiểm định Hausman được sử dụng để lựa chọn mô hình
2.2.2.2 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
- Tốc độ tăng trưởng bình quân: Trong đề tài này, tốc độ tăng trưởng bình
quân được tính toán để xác định mức tăng trưởng hàng năm trong xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN Tốc độ tăng trưởng bình quân được tính theo công thức sau:
100 1
) / 1 (
T
T G
Trong đó: Tt1 là giá trị xuất khẩu là giá trị xuất khẩu hàng hoá i tại năm đầu,
Tt2 là giá trị xuất khẩu là giá trị xuất khẩu hàng hoá i tại năm cuối, n là số năm
Trang 36này được sử dụng nhằm phát hiện nhóm hàng hoá i mà chiếm trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia j Trong trường hợp này hàng hoá i được coi là
hàng hoá chủ lực và nền kinh tế của quốc gia này phụ thuộc quá nhiều vào kim
ngạch xuất khẩu mặt hàng i Chỉ số MXij được tính toán như sau:
ij ij
X
x MX
Trong đó: xij là giá trị xuất khẩu hàng hoá i của quốc gia j,
n
i ij
X
1
là tổng kim
ngạch xuất khẩu của quốc gia j
- Chỉ số bổ sung thương mại (Trade Complementarity Index): Chỉ số này được sử dụng nhằm xác định xem liệu cơ cấu xuất khẩu của quốc gia i và cơ cấu nhập khẩu của quốc gia j có mang tính bổ sung lẫn nhau hay không Như vậy
chúng ta có thể dựa vào chỉ số này để xác định tiềm năng xuất khẩu của quốc gia
i sang quốc gia j Chỉ số bổ sung thương mại được tính toán theo công thức sau
i w i
k i ij
M
M M M
M M X
X C
Trong đó: Xik
là giá trị xuất khẩu mặt hàng k của quốc gia i, Xilà tổng giá
trị xuất khẩu của quốc gia i, Mw là tổng kim ngạch nhập khẩu của thế giới,Mi là
tổng kim ngạch nhập khẩu của quốc gia i, Mwk là giá trị xuất khẩu mặt hàng k
của thế giới, Mik là giá trị xuất khẩu mặt hàng k của quốc gia i, Mjk là giá trị xuất
khẩu mặt hàng k của quốc gia j, Mjlà tổng giá trị xuất khẩu của quốc gia j Giá
trị Cij càng cao thì cơ cấu xuất khẩu của quốc gia i và cơ cấu nhập khẩu của quốc gia j càng mang tính bổ sung cho nhau
Trang 37THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN HÀNG HÓA CỦA
VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG CÁC NƯỚC ASEAN-5
3.1 Tổng quan về tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN
3.1.1 Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN
Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 3.1: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN-5
(ĐVT: Triệu USD)
Thị trường nhập khẩu 1995 1999 2003 2007 2011
ASEAN-5 817,90 1833,54 2461,71 6991,99 10357,38
Indonesia 156,82 604,54 415,58 994,20 2382,95 Malaysia 125,91 248,07 365,22 1835,53 3376,83 Philippines 42,93 227,64 319,32 906,46 911,69 Singapore 449,14 524,18 1024,79 2142,54 1658,82
(Nguồn: Liên hiệp quốc)
Qua bảng trên ta thấy, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN-5 tăng dần qua các năm, từ 817,9 triệu USD năm 1995, lên 2461,71 triệu USD năm 2003 và 10357,38 triệu USD năm 2011 Nhìn chung, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường từng nước đều tăng dần qua các năm Trong đó, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Malaysia là cao nhất Cụ thể, năm 1995, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Malaysia chỉ là 125,91 triệu USD, nhưng tăng lên 365,22 triệu USD vào năm 2003 và 3376,83 triệu USD vào năm 2011 Đứng ở
vị trí thứ hai là thị trường Indonesia Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
Trang 38triệu USD năm 2003, nhưng lại tăng trở lại trong các năm tiếp theo, đạt 2382,95 triệu USD năm 2011 Đứng ở vị trí cuối cùng là thị trường Philippines, đạt 911,69 triệu USD năm 2011
Từ đó, ta có thể tính toán được tốc độ tăng trưởng bình quân xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN-5, được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 3.2: Tốc độ tăng trưởng bình quân xuất khẩu của Việt Nam sang thị
có sự dao động không rõ rệt Trong giai đoạn 1995-1999, thị trường này cũng
là thị trường có tốc độ tăng trưởng bình quân trong xuất khẩu cao nhất trong 5 nước Asean, đạt 51,84%/năm Nhưng giảm xuống đứng ở vị trí thứ ba vào giai
Trang 3916,16%/năm, vị trí thứ hai trong giai đoạn 2003-2007 đạt 34.84%/năm Đứng
ở vị trí thứ hai là thị trường Malaysia, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trong xuất khẩu là 22,82%/năm trong toàn giai đoạn 1995-2011 Đứng ở vị trí cuối cùng là thị trường Singapore Tốc độ tăng trưởng bình quân trong xuất khẩu của thị trường này tăng dần trong các giai đoạn 1995-2007, nhưng lại chỉ đạt tốc độ tăng trưởng âm vào giai đoạn 2007-2011, là -6,2%/năm
Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN-5 được thể hiện
2011, và chỉ chiếm 8,8% trong cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN -5 năm 2011
Trang 40Giá trị xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường ASEAN-5 được thể hiện ở bảng 3.4 Qua bảng 3.4 ta thấy cho thấy rằng tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 1995-2011 tăng nhanh qua các năm Nếu như tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN-5 chỉ là 817,9 triệu USD năm 1995 thì giá trị xuất tăng lên 2461,71 triệu USD năm 2003và 10,357,38 triệu USD năm 2011 Tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn này cũng đạt 17,2%/ năm
Nhóm hàng chế biến là nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN-5, đạt 5.625,13 triệu USD năm 2011 Đứng vị trí thứ hai là nhóm hàng sơ chế, đạt 4685,51 triệu USD năm 2011 Nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu thấp nhất
là hàng hoá không thuộc các nhóm trên, chỉ đạt 46,74 triệu USD năm 2011
Trong số các nhóm hàng hoá thì hàng chế biến có tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1995-2011 cao nhất, đạt 27,42% một năm và cao hơn tốc
độ tăng trưởng bình quân của tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN-5 (17,2%/năm) Hàng thô hoặc mới sơ chế là nhóm hàng
có tốc độ tăng trưởng bình quân cao thứ hai (12,72%/năm) Cuối cùng là hàng hóa không thuộc các nhóm trên, với tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 1995-2011 là 8,92% một năm, thấp hơn tốc độ tăng trưởng bình quân của tổng kim ngạch xuất khẩu (17,2% một năm) Trong số nhóm hàng chế biến thì máy móc, phương tiện vận tải, phụ tùng là nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1995-2011 cao nhất (31,46% một năm) Đứng thứ hai là hàng chế biến phân loại theo nguyên liệu (28,29%/năm) Cuối cùng là hàng chế biến khác với tốc độ tăng trưởng bình quân là 20,03% một năm, thấp hơn tốc độ tăng trưởng bình quân của xuất khẩu hàng chế biến
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN-5 giai đoạn 1995-2011 được trình bày tại bảng 3.6 Kết quả tính toán cho thấy có sự thay