Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống L14 trồng trên đất ruộng 1 vụ lúa trong vụ Xuân 2012 .... Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––
TRẦN NGỌC THANH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT THÂM CANH TĂNG NĂNG SUẤT GIỐNG LẠC L14 TRỒNG TRÊN ĐẤT RUỘNG 1 VỤ LÚA TẠI HUYỆN
CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Viết Hưng
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan trước nhà trường và Hội đồng khoa học số liệu nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn này đều đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2012
Tác giả luận văn
Trần Ngọc Thanh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ tận tình của nhà trường, của các cơ quan, đơn vị và các cá nhân Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới:
- TS Nguyễn Viết Hưng - Đại học Nông lâm Thái Nguyên, đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện các nghiên cứu và hoàn thành luận văn
- Các thầy giáo, cô giáo thuộc Phòng Quản lý đào tạo sau đại học, Khoa Nông học Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên
- Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng Tài nguyên - Môi trường, Trạm Khuyến nông, Trạm Giống vật tư Nông lâm nghiệp huyện Chiêm Hóa
- Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Phúc Sơn và nhân dân thôn Bản Lai, xã Phúc Sơn, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đã phối hợp, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện các thí nghiệm nghiên cứu
Sự quan tâm, giúp đỡ quý báu đó đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn./
Thái nguyên, tháng 9 năm 2012
Tác giả luận văn
Trần Ngọc Thanh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ x
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích - yêu cầu của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.2 Tầm quan trọng và vị trí của cây lạc 5
1.2.1 Giá trị dinh dưỡng và vai trò của cây lạc 5
1.2.2 Giá trị cây lạc trong hệ thống trồng trọt 6
1.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ lạc trên thế giới và trong nước 7
1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc trên thế giới 7
1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam 9
3.3 Tình hình sản xuất lạc ở Tuyên Quang 13
3.4 Tình hình sản xuất lạc ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang 14
1.4 Kết quả nghiên cứu về biện pháp canh tác lạc trên thế giới và trong nước 15
1.4.1 Kết quả nghiên cứu về biện pháp canh tác lạc trên thế giới 15
1.4.2 Kết quả nghiên cứu về biện pháp canh tác lạc ở Việt Nam 19
Chương 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Vật liệu nghiên cứu 23
2.2 Nội dung nghiên cứu 23
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 24
2.4 Đặc điểm đất đai nơi nghiên cứu 24
2.5 Phương pháp nghiên cứu 24
Trang 52.5.1 Điều tra tình hình sản xuất lạc tại huyện Chiêm Hoá 24
2.5.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 24
2.5.3 Các chỉ tiêu theo dõi 29
2.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 32
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
3.1 Kết quả điều tra tình hình sản xuất lạc của huyện Chiêm Hóa 33
3.1.1 Điều kiện thời thời tiết, đất đai 33
3.1.2 Kết quả điều tra tình hình sản xuất lạc của 25 hộ tại 3 thôn (Bản Lai, Bản Trỏn, Bản Câm) xã Phúc Sơn, huyện Chiêm Hóa 35
3.2 Kết quả nghiên cứu thời vụ trồng giống lạc L14 trên đất ruộng 1 vụ lúa tại huyện Chiêm Hóa 36
3.2.1 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các giai đoạn sinh trưởng phát triển của giống lạc L14 vụ Xuân 2012 37
3.2.2 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến chiều cao cây, khả năng phân cành của giống lạc L14 vụ Xuân 2012 38
3.2.3 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến mức độ nhiễm một số bệnh ở giống lạc L14 trồng trên đất ruộng 1 vụ lúa trong vụ Xuân 2012 39
3.2.4 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống L14 trồng trên đất ruộng 1 vụ lúa trong vụ Xuân 2012 40
3.2.5 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến hiệu quả kinh tế của giống lạc L14 trồng trên đất ruộng 1 vụ lúa trong vụ Xuân 2012 47
3.3 Kết quả nghiên cứu mật độ trồng giống lạc L14 trên đất một vụ lúa tại huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang vụ Xuân 2012 48
3.3.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các giai đoạn sinh trưởng phát triển của giống lạc L14 vụ Xuân 2012 48
3.3.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng phân cành và phát triển chiều cao của giống lạc L14 vụ Xuân 2012 50
Trang 63.3.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến mức độ nhiễm một số bệnh ở
giống lạc L14 trồng trên đất ruộng 1 vụ lúa trong vụ Xuân 2012 51
3.3.4 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất của giống L14 trồng trên đất ruộng 1 vụ lúa trong
vụ Xuân 2012 52
3.3.5 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến hiệu quả kinh tế của giống lạc
L14 trồng trên đất ruộng 1 vụ lúa trong vụ Xuân 2012 57
3.4 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến giống lạc
L14 trên đất một vụ lúa tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang vụ Xuân 2012 58
3.4.1 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các giai đoạn sinh
trưởng phát triển của giống lạc L14 vụ Xuân 2012 58
3.4.2 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến khả năng phân cành của
giống lạc L14 vụ Xuân 2012 60
3.4.3 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến mức độ nhiễm một số
bệnh của giống lạc L14 vụ Xuân 2012 61
3.4.4 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của giống lạc L14 vụ Xuân 2012 62
3.4.5 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón khác nhau đến hiệu quả kinh
tế giống lạc L14 trong vụ Xuân 2012 67
3.5 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp che phủ nilon đến sinh
trưởng, phát triển của giống lạc L14 trồng trên đất ruộng một vụ lúa
vụ Xuân 2012 tại huyện Chiêm Hóa - tỉnh Tuyên Quang 68
3.5.1 Ảnh hưởng của kỹ thuật che phủ nilon đến các giai đoạn sinh
trưởng phát triển của giống lạc L14 vụ Xuân 2012 68
3.5.2 Ảnh hưởng của che phủ nilon đến khả năng phân cành và phát
triển chiều cao của giống lạc L14 vụ Xuân 2012 69
3.5.3 Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật che phủ nilon đến mức độ
nhiễm một số bệnh hại ở giống lạc L14 trồng trên đất ruộng 1 vụ
lúa trong vụ Xuân 2012 69
Trang 73.5.4 Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật che phủ nilon đến các yếu tố
cấu thành năng suất và năng suất của giống L 14 trồng trên đất
ruộng 1 vụ lúa trong vụ Xuân 2012 71
3.5.5 Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật che phủ nilon hiệu quả kinh tế của giống lạc L14 trồng trên đất ruộng 1 vụ lúa trong vụ Xuân 2012 73
3.6 Kết quả xây dựng mô hình trình diễn thâm canh tăng năng suất lạc vụ Xuân 2012 trên đất một vụ lúa tại Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang 75
Chương 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 79
5.1 Kết luận 79
5.2 Đề nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Phụ lục 84
Trang 8NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
FAO : Tổ chức lương thực thế giới
ICRISAT : Viện nghiên cứu cây trồng cạn á nhiệt đới
UBND : Ủy ban nhân dân
KHCN : Khoa học công nghệ
PTNT : Phát triển nông thôn
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước trên thế giới 8 Bảng 2 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam giai đoạn 2005 -2010 10 Bảng 3: Diện tích, năng suất, sản lượng của 6 vùng trồng lạc ở Việt Nam giai
đoạn 2005 - 2010 11 Bảng 4 Diện tích, năng suất, sản lượng lạc ở Tuyên Quang giai đoạn 2000-
2010 13 Bảng 3.1: Điều kiện thời tiết, khí hậu vụ xuân 3 năm (2010 - 2012) 33 Bảng 3.2: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các giai đoạn sinh trưởng phát
triển của giống lạc L 14 vụ xuân 2012 37 Bảng 3.3: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến chiều cao cây, khả năng phân
cành cấp 1của giống lạc L 14 vụ xuân 2012 38 Bảng 3.4: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến mức độ nhiễm một số bệnh ở
giống lạc L 14 vụ xuân 2012 39 Bảng 3.5: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất giống lạc L14 vụ xuân 2012 41 Bảng 3.6: Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến hiệu quả kinh tế của giống lạc
L14 trồng vụ xuân 2012 47 Bảng 3.7: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các giai đoạn sinh trưởng phát
triển của giống lạc L14 vụ Xuân 2012 49 Bảng 3.8: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng phân cành và phát triển
chiều cao của giống lạc L14 50 Bảng 3.9: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến mức độ nhiễm một số bệnh 51 Bảng 3.10: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất của giống lạc L 14 trồng vụ xuân 2012 53 Bảng 3.11: Ảnh hưởng của mật độ trồng đến hiệu quả kinh tế của giống lạc
L14 trồng vụ Xuân 2012 57 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các giai đoạn sinh
trưởng phát triển của giống lạc L14 vụ Xuân 2012 58
Trang 10Bảng 3.13 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến phát triển chiều cao và
khả năng phân cành của giống lạc L14 vụ Xuân 2012 60 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến mức độ nhiễm một số
bệnh của giống lạc L14 vụ Xuân 2012 61 Bảng 3.15: Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của giống lạc L14 63 Bảng 3.16: Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến hiệu quả kinh tế của
giống lạc L14 trồng vụ xuân 2012 67 Bảng 3.17: Ảnh hưởng của kỹ thuật che phủ nilon đến các giai đoạn sinh
trưởng phát triển của giống lạc L14 68 Bảng 3.18: Ảnh hưởng của kỹ thuật che phủ nilon đến khả năng phân cành
và phát triển chiều cao của giống lạc L14 69 Bảng 3.19 Ảnh hưởng của che phủ nilon đến mức độ nhiễm một số bệnh hại
ở giống lạc L14 69 Bảng 3.20 Ảnh hưởng của che phủ nilon đến các yếu tố cấu thành năng suất
và năng suất của giống L 14 71 Bảng 3.21: Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật che phủ nilon đến hiệu quả
kinh tế của giống lạc L14 trồng vụ xuân 2012 73 Bảng 3.22 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất ruộng mô hình trồng
lạc thâm canh so với đối chứng 75 Bảng 3.23 Hiệu quả của mô hình trồng lạc thâm canh so với đối chứng 77
Trang 11DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 25
Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 26
Sơ đồ bố trí thí nghiệm 3 27
Sơ đồ bố trí thí nghiệm 4 28
Biểu đồ 3.1 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến chiều cao cây của giống lạc L14 39
Biểu đồ 3.2 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến mức nhiễm bệnh hại của giống lạc L14 vụ Xuân 2012 40
Biểu đồ 3.3 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến NSLT và NSTT của giống lạc L14 vụ Xuân 2012 47
Biểu đồ 3.4 Ảnh hưởng của thời vụ trồng đến hiệu quả kinh tế của giống lạc L14 trồng vụ Xuân 2012 48
Biểu đồ 3.5 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến thời gian ra hoa và tổng thời gian sinh trưởng của giống lạc L14 vụ Xuân 2012 49
Biểu đồ 3.6 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến phát triển chiều cao cây của giống lạc L14 vụ Xuân 2012 50
Biểu đồ 3.7 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến mức nhiễm bệnhcủa giống lạc L14 trồng vụ Xuân 2012 51
Biểu đồ 3.8 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến NSLT và NSTT của giống lạc L14 trồng vụ Xuân 2012 55
Biểu đồ 3.9 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến hiệu quả kinh tế giống lạc L14 trồng vụ Xuân 2012 57
Biểu đồ 3.10 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến thời gian ra hoa và thời gian sinh trưởng của giống lạc L14 trồng vụ Xuân 2012 59
Biểu đồ 3.11: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến khả năng phát triển chiều cao của giống lạc L14 trồng vụ Xuân 2012 60
Biểu đồ 3.12 Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến mức nhiễm bệnh của giống lạc L14 trồng vụ Xuân 2012 61
Trang 12Biểu đồ 3.13 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến NSLT và NSTT của
giống lạc L14 trồng vụ Xuân 2012 66 Biểu đồ 3.14 Ảnh hưởng của mức đầu tư phân bón đến hiệu quả kinh tế
giống lạc L14 trồng vụ Xuân 2012 67 Biểu đồ 3.15 Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật che phủ nilon đến mức
nhiễm bệnh hại giống lạc L14 trồng vụ Xuân 2012 70 Biểu đồ 3.16 Ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật che phủ nilon đến NSLT,
NSTT của giống lạc L14 trồng vụ Xuân 2012 73 Biểu đồ 3.17 Ảnh hưởng biện pháp kỹ thuật che phủ nilon đến hiệu quả
giống lạc L14 trồng vụ Xuân 2012 74 Biểu đồ 3.18 Hiệu quả kinh tế của mô hình thâm canh giống lạc L14 trồng
trên đất ruộng 1 vụ lúa so với đối chứng 78
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lạc (Arachis hypogaea line) thuộc họ đậu (Leguminosae), có nguồn gốc ở
Nam Mỹ, là cây công nghiệp ngắn ngày, cây thực phẩm, cây có dầu quan trọng, xếp thứ 13 trong các cây thực phẩm trên thế giới Trong số các loại cây có dầu trồng hàng năm trên thế giới, lạc đứng thứ hai sau đậu tương về diện tích trồng cũng như sản lượng Với diện tích từ 26-27 triệu ha/năm, sản lượng 35 - 36 triệu tấn Châu Á đứng đầu thế giới cả về diện tích và sản lượng (chiếm 60% diện tích trồng và 70% sản lượng lạc của thế giới), tiếp theo là Châu Phi, Bắc Mỹ rồi đến Nam Mỹ Trong những năm gần đây diện tích trồng lạc của thế giới tăng đáng kể, khu vực Châu Á
và vùng Bắc Mỹ có chiều hướng mở rộng diện tích trồng lạc hơn các vùng khác Các nước có diện tích và sản lượng cao nhất là Ấn Độ, Trung Quốc, Xenegan, Mỹ, Indonesia, Brazil, về năng suất thì Malaysia là nước có năng suất cao nhất thế giới, trung bình 37,5 tạ/ha, Mỹ 33,95 tạ/ha
Trong những năm gần đây, tình trạng khô hạn kéo dài xảy ra liên tiếp trên thế giới thì nhu cầu chuyển đổi sang trồng các cây có sử dụng ít nước như lạc, đậu tương là rất lớn vì lạc và đậu tương là những cây trồng dễ tính, nó có thể trồng trên nhiều loại đất
Việt Nam đứng thứ 5 trong số 25 nước trồng lạc ở Châu Á, sản phẩm lạc dùng làm thực phẩm cho người và thức ăn cho chăn nuôi, đồng thời còn là cây cải tạo đất tốt; cây lạc thích ứng tốt với điều kiện vùng đất nhiệt đới bán khô hạn như ở Việt Nam, nơi khí hậu biến động lớn và tài nguyên nước không dồi dào
Trong những năm gần đây, chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa diễn ra nhanh ở các địa phương, tại các địa phương đã hình thành nên các vùng sản xuất nông sản hàng hóa có diện tích lớn, giá trị kinh tế cao; trong đó cây lạc được phát triển mạnh tại các tỉnh: Nghệ An, Bắc Giang, Thanh Hóa, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc,
Tại Tuyên Quang, giai đoạn từ 2006 đến nay diện tích trồng cây lạc cũng tăng khá nhanh và hiệu quả kinh tế mang lại từ cây lạc tương đối cao Nhất là tại
Trang 14huyện Chiêm Hoá, cây lạc không chỉ là cây xoá đói giảm nghèo mà còn đem lại thu nhập cao cho nhiều hộ gia đình để vươn lên làm giàu từ trồng lạc
Chiêm Hoá là huyện miền núi của tỉnh Tuyên Quang, có tổng diện tích đất tự nhiên là 145.960 ha, diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 10.828 ha, trong đó trồng lúa 6.185 ha (đất 2 vụ lúa 4.528 ha; đất 1 vụ lúa 1.657 ha), đất trồng cây hàng năm 1.986 ha, đất trồng cây lâu năm 2.656 ha Các dãy núi cao như: Khau Bươn, Núi Quạt, Phia Gioong, Cham Chu đã hình thành nên các thung lũng lớn có đất đai, khí hậu rất thuận lợi cho cây lạc sinh trưởng phát triển Do đó Đại hội đảng bộ huyện Chiêm Hoá lần thứ XX (giai đoạn 2011-2015) đã xác định đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu cây trồng, đầu tư thâm canh tăng vụ để nâng hệ số sử dụng đất ruộng từ 2,4 lần năm 2010 lên 2,61 lần năm 2015; hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung với các cây trồng có lợi thế cạnh tranh của huyện, trong đó có vùng sản xuất lạc hàng hoá tập trung quy mô đến năm 2015 đạt trên 3.000 ha tại 07 xã thuộc tiểu vùng phía tây của huyện (gồm: Minh Quang, Phúc Sơn, Tân Mỹ, Hùng Mỹ, Xuân Quang, Trung Hà, Hà Lang) Hiện nay, các xã trong vùng đã lựa chọn Lạc là cây trồng mũi nhọn để thực hiện một số tiêu chí trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, trong đó chú trọng mở rộng diện tích trồng trên đất ruộng
1 vụ lúa hàng năm còn bỏ trống, chuyển những diện tích ruộng cấy lúa vụ xuân không chủ động nước sang trồng lạc để khai thác hiệu quả quỹ đất của địa phương; đẩy mạnh đầu tư thâm canh để tăng năng suất, sản lượng của lạc
Xuất phát từ thực tế đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất giống lạc L14 trồng trên đất ruộng một vụ lúa tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang”
2 Mục đích - yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Xác định biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp (thời vụ trồng; mật độ và liều lượng phân bón) nhằm nâng cao năng suất giống lạc L14 trên đất ruộng 1 vụ lúa tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang trên cơ sở đó đề xuất hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất lạc trên đất ruộng 1 vụ lúa của huyện
Trang 15- Nghiên cứu được ảnh hưởng của biện pháp che phủ nilon đến sinh trưởng, phát triển của giống lạc L14 trồng trên đất ruộng 1 vụ lúa vụ trong vụ xuân của huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
- Xây dựng mô hình sản xuất lạc đạt hiệu quả kinh tế cao
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Cho đến nay, lạc được trồng khá phổ biến ở mọi vùng trong nước, năm 1990 sản lượng lạc đạt 213.000 tấn, bằng 2,2 lần so với năm 1980 và từ những năm 1990 trở lại đây diện tích, năng suất, sản lượng lạc của nước ta đã không ngừng tăng lên, có được sự tăng trưởng nhảy vọt về diện tích và năng suất là nhờ vào những đóng góp tích cực của công tác giống và chủ trương chính sách hỗ trợ sản xuất của chính phủ
và các địa phương, trình độ tiếp thu tiến bộ kỹ thuật của đông đảo bà con nông dân
Tuy vậy, năng suất lạc của nước ta hiện còn rất thấp, năm 2010 năng suất bình quân mới chỉ đạt 2,1 tấn/ha Do đó vấn đề làm thế nào để tăng năng suất, tăng hiệu quả kinh tế của cây lạc được đặt lên hàng đầu Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và kinh nghiệm trồng trọt ngoài vấn đề về giống cây trồng, thì cần phải đầu tư thâm canh mới giải quyết được vấn đề về năng suất
Để thâm canh tăng năng suất lạc, cũng như thâm canh các loại cây trồng khác, phải áp dụng đồng bộ một hệ thống các biện pháp kỹ thuật từ tác động vào đất trồng, vào cây, vào các loài vi sinh vật khác trong hệ sinh thái đồng ruộng, nhằm tạo ra điều kiện thuận lợi nhất cho cây lạc sinh trưởng, phát triển và tạo ra năng suất cao nhất
Hệ thống các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất lạc gồm:
- Gieo trồng các giống có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng thích ứng rộng, tính chống chịu cao; chất lượng hạt giống cao
- Chọn đất thích hợp, làm đất kỹ
- Gieo trồng đúng thời vụ, đúng kỹ thuật
- Bón phân đầy đủ, cân đối, hợp lý, kịp thời
- Phòng trừ sâu bệnh, cỏ dại kịp thời, đúng kỹ thuật
- Thu hoạch đúng lúc, đúng kỹ thuật; bảo quản tốt
- Trồng xen canh, luân canh, tăng vụ có cơ sở khoa học và thực tế
Trong một hệ thống hợp lý, các biện pháp riêng rẽ ngoài việc phát huy các tác
Trang 17động tích cực của mình, còn hỗ trợ phát huy hiệu quả các biện pháp khác Khi áp dụng một biện pháp nào đó không thích hợp, chẳng những không phát huy được hiệu quả của biện pháp đó mà còn làm giảm tác dụng có ích của các biện pháp khác Vì vậy, hệ thống biện pháp thâm canh cần được áp dụng một cách đồng bộ và liên hoàn
Tuy nhiên việc áp dụng hệ thống các biện pháp thâm canh cần linh hoạt, không có bất kỳ một công thức có sẵn nào có thể đúng và phát huy được mọi tác dụng ở bất cứ điều kiện sản xuất cụ thể nào Trên thực tế điều kiện sản xuất phong phú và đa dạng, vì vậy cần phải có sự nghiên cứu, đánh giá các biện pháp thâm canh phù hợp cho từng vùng, từng điều kiện cụ thể
Tiềm năng thâm canh cây lạc ở nước ta còn nhiều, khi người sản xuất có sự quan tâm chăm sóc cần thiết và áp dụng một cách sáng tạo các biện pháp thâm canh, chắc chắn năng suất lạc sẽ tăng cao
Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân lấy trọng tâm là phát triển sản xuất, đưa sản xuất nông nghiệp lên sản xuất hàng hóa lớn, đồng thời đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi gắn sản xuất với thị trường, sản xuất theo yêu cầu của thị trường, nhằm nâng cao giá trị kinh tế, giá trị thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo Chính vì vậy công tác nghiên cứu khoa học nhằm thực hiện các mục tiêu trên luôn nhận được sự quan tâm của các cấp, các ngành từ trung ương đến các địa phương, trong đó phát triển cây lạc phục vụ nhu cầu tiêu dùng và chế biến cũng được chú trọng
Tại Tuyên Quang, định hướng phát triển nông nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 với Quyết định số 49/2006/QĐ-UBND ngày 5/9/2006 về Đề án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hóa giai đoạn 2006-2010 xác định cây lạc là một trong những cây trồng ưu tiên phát triển
1.2 Tầm quan trọng và vị trí của cây lạc
1.2.1 Giá trị dinh dưỡng và vai trò của cây lạc
Đối với cây lạc thì bộ phận kinh tế chủ yếu là hạt Thành phần hoá học của hạt lạc như sau: Nước 8 - 10%, dầu thô (lipit): 40 - 60 %, prôtêin thô: 26 - 34%, gluxit: 6 - 22%, xenlulô: 2 - 4,5%
Với hàm lượng dầu (lipit) và protein cao, hạt lạc là loại hạt có giá trị dinh
Trang 18dưỡng cao và từ lâu loài người đã sử dụng lạc như một nguồn thực phẩm quan trọng Ngoài việc sử dụng để luộc, rang, nấu canh, ép dầu để làm dầu ăn thì gần đây, nhờ công nghiệp thực phẩm phát triển, con người đã chế biến nhiều mặt hàng thực phẩm có giá trị từ lạc như: bơ lạc, pho mát lạc, sữa lạc…
Về mặt cung cấp năng lượng: do hạt lạc có hàm lượng dầu cao nên năng lượng cung cấp rất lớn Trong 100g hạt lạc, cung cấp 590 calo, trong khi trị số này ở hạt đậu tương là 411, gạo tẻ là 353, thịt lợn nạc là 286, trứng vịt là 189
Thân lá xanh của lạc với năng suất 5 - 15 tấn/ha chất xanh (sau thu hoạch quả) có thể dùng trong chăn nuôi đại gia súc
Mặt khác, người ta có thể nghiền vỏ lạc thành cám đề dùng cho chăn nuôi Cám vỏ quả lạc có thành phần dinh dưỡng tương đương cám gạo dùng để nuôi lợn,
gà, vịt công nghiệp đều rất tốt
Như vậy, từ lạc người ta có thể sử dụng khô dầu, thân lá xanh và cả cám vỏ quả lạc để làm thức ăn gia súc, góp phần quan trọng trong việc phát triển chăn nuôi (Nguyễn Văn Bình và cộng sự Giáo trình cây công nghiệp, 1996)[7]
1.2.2 Giá trị cây lạc trong hệ thống trồng trọt
Lạc không những cung cấp dinh dưỡng cho con người và gia súc, mà nó còn
có khả năng cải tạo đất nhờ hệ thống vi khuẩn cộng sinh cố định đạm và các bộ phận thân, lá, rễ của cây
Cây lạc thuộc họ đậu, có khả năng đặc biệt là cộng sinh với loài vi khuẩn Rhizobium virgna có khả năng sử dụng nitơ phân tử ở khí trời Nhờ khả năng đặc biệt này mà trồng lạc không cần bón nhiều đạm như các loại cây trồng khác nhưng vẫn đảm bảo năng suất, đồng thời còn cung cấp trở lại cho đất một lượng đạm đáng kể
Theo tác giả Lê Văn Diễn và cộng sự, (1991) [5] Lạc là đối tượng cây trồng được sử dụng nhiều trong các công thức luân canh của hệ thống trồng trọt Việc luân canh cây họ đậu với cây trồng khác đã góp phần cải thiện chế độ dinh dưỡng
Trang 19khoáng đối với các loại cây trồng này Ngoài ra, lạc có bộ tán dày, có khả năng che phủ tốt, nên có khả năng làm giảm mức độ xói mòn của đất, nâng cao độ phì đất, bảo vệ đất, đặc biệt trong mùa mưa
Ngô Đức Dương, (1984) [10] khi nghiên cứu cơ cấu cây trồng ở các vùng chuyên canh lạc phía Bắc nước ta đã kết luận: Cây lạc luân canh tốt nhất với cây trồng họ hoà thảo đặc biệt là với lúa nước, ở thời điểm một năm sau khi luân canh với cây lúa chế độ dinh dưỡng đất được cải thiện rõ rệt, độ pH của đất, lượng chất hữu cơ, hàm lượng đạm tổng số và hàm lượng lân dễ tiêu trong đất đều tăng
Theo tác giả Lê Văn Diễn và cộng sự, (1991) [5] khi so sánh hiệu quả kinh tế của các công thức luân canh trên các chân đất khác nhau ở một số vùng chuyên canh lạc vùng đồng bằng Bắc Bộ đã chỉ ra rằng: ở tất cả các công thức luân canh có lạc xuân đều cho tổng thu nhập, lãi thuần và hiệu quả đồng vốn đầu tư cao hơn so với các công thức luân canh khác trên cùng một loại đất Đồng thời, khi so sánh hiệu quả kinh tế của một số cây trồng chính ở vụ xuân như: lúa, lạc, đậu tương, ngô, các tác giả cũng ghi nhận việc trồng lạc trong vụ Xuân cho thu nhập thuần cao hơn
so với trồng các cây trồng khác Từ đó có thể thấy, lạc là cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là với các công thức luân canh trồng lạc trong vụ Xuân sau cấy lúa Mùa cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với các cây trồng khác cùng thời vụ
1.3 Tình hình sản xuất, tiêu thụ lạc trên thế giới và trong nước
1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc trên thế giới
Cây lạc là một cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới (đứng thứ 2 sau cây đậu tương về diện tích và sản lượng) Mặc dù có nguồn gốc từ Nam Mỹ nhưng hiện nay được phân bố rộng trong phạm vi từ 400 vĩ Bắc đến 400 vĩ Nam với trên 100 nước; Cây lạc được trồng phổ biến ở nhiều nước như: Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ, Sênegal
Trang 20Bảng 1 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của một số nước trên thế giới
Mỹ 0,48 1,17 0,52 0,55 3,51 3,09 3,20 3,47 1,70 3,60 1,65 1,92 Việt Nam 0,26 0,26 0,25 0,23 1,77 2,09 2,09 2,10 0,46 0,53 0,50 0,49
Nguồn: Faostat, http://faostat.fao.org [29]
Diện tích từ 2007 đến 2010 trên thế giới diện tích trồng lạc biến động khá
cao, năm 2008 diện tích trồng lạc tăng 2,97 triệu ha so với năm 2007, đạt 24,59 triệu ha; năm 2009 và 2010 có chiều hướng giảm về diện tích, năm 2010 chỉ đạt 20,06 triệu ha Tuy nhiên một số nước có diện tích trồng lạc lớn như Trung Quốc, Nigeria, Inđonesia, diện tích sản xuất đều tăng so với năm 2007 Ở Việt Nam, giai đoạn này không có sự biến động nào về diện tích trồng lạc Năm 2007, diện tích trồng lạc của Việt Nam chiếm 1,24% tổng diện tích trồng lạc thế giới Đến năm
2008, diện tích trồng lạc của Việt Nam vẫn không thay đổi trong khi diện tích trồng lạc thế giới không ngừng tăng, do vậy diện tích trồng lạc của Việt Nam chỉ còn chiếm 1,06% tổng diện tích trồng lạc thế giới
Về năng suất: Giai đoạn từ 2007 - 2010, năng suất lạc thế giới tăng không
đáng kể từ 1,54 tấn/ha đến 1,64 tấn/ha Đặc biệt ở các nước có ngành nông nghiệp phát triển như Mỹ, Trung Quốc năng suất còn có biến động theo chiều giảm Trong khi các nước có trình độ thâm canh thấp hơn như: Ấn Độ, Nigeria, Việt Nam năng suất lạc lại tăng khá nhanh
Về sản lượng: Sản lượng lạc thế giới giai đoạn này biến động không ổn định,
năm 2008 tăng khá cao (tăng 14,9% so với năm 2007), đạt 38,20 triệu tấn; năm
2010 lại giảm xuống chỉ còn 32,92 triệu tấn Sản lượng tăng, giảm chủ yếu do biến động về diện tích gieo trồng Nước có sản lượng dẫn đầu vẫn là Trung Quốc 14,80
Trang 21triệu tấn, Ấn Độ 6,40 triệu tấn, Mỹ 1,9 triệu tấn Sản lượng lạc của Việt Nam cũng
có xu hướng giảm, đạt 0,49 triệu tấn
Tất cả các nước đã thành công trong phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lạc đều rất chú ý đầu tư cho công tác nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất Rõ ràng rằng, tiềm năng to lớn của cây lạc trong sản xuất chỉ có thể được khơi dậy thông qua việc áp dụng rộng rãi các tiến bộ kỹ thuật trên đồng ruộng
Hiện nay, lạc là một trong những mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn Trong những thập niên 70, 80 của thế kỷ trước, sản lượng lạc xuất khẩu trên thế giới bình quân chỉ đạt 1,11 - 1,16 triệu tấn/năm, đến năm 1997 - 1998 tăng lên 1,39 triệu tấn
và đến năm 2010 - 2011 đạt 2,35 triệu tấn Trong đó châu Mỹ và châu Á là 2 khu vực xuất khẩu nhiều nhất chiếm 70% sản lượng lạc xuất khẩu của thế giới
Ở khu vực Đông Nam Á, trong những năm 80 của thế kỷ 20, xuất khẩu lạc hàng năm ở chỉ đạt 0,32 triệu tấn/năm Trong đó, Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Singapore là các nước xuất khẩu lạc nhiều
Từ năm 1991 đến năm 2000, Trung Quốc là nước xuất khẩu lạc nhiều nhất, hàng năm trung bình xuất khẩu gần 78 nghìn tấn, chiếm trên 26,5% tổng sản lượng lạc xuất khẩu của thế giới Đứng thứ 2 là Mỹ trung bình hàng năm xuất khẩu 67,3 nghìn tấn, chiếm 22,9% tổng lượng xuất khẩu lạc thế giới Achentina là nước đứng thứ 3 về xuất khẩu lạc, trung bình hàng năm xuất khẩu 36,2 nghìn tấn, chiếm 12,3% lượng lạc xuất khẩu thế giới
Hà Lan là nước nhập khẩu lạc lớn nhất thế giới từ năm 1991 - 2000, trung bình hàng năm nhập khẩu 39,8 nghìn tấn, chiếm 13,9% tổng lượng lạc nhập khẩu của thế giới Đứng thứ 2 là Indonesia, bình quân hàng năm nhập khẩu 34,3 nghìn tấn
1.3.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ lạc ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ những năm 1980, sản xuất lạc có chiều hướng phát triển ngày càng tăng Tuy nhiên, do trước đây cây lạc chưa được chú ý nhiều nên năng suất phát triển còn chậm và còn thấp
Theo Ngô Thế Dân và CS, (2000) [9], sự biến động về diện tích, năng suất
và sản lượng lạc ở Việt Nam từ năm 1975 đến 1998 chia làm 4 giai đoạn:
Trang 22- Giai đoạn 1975 - 1979: sản xuất lạc có chiều hướng giảm cả về diện tích, năng suất và sản lượng Đến năm 1979 diện tích gieo trồng còn 91,8 nghìn ha, giảm 5,3 nghìn so với năm 1976 (giảm bình quân 2,0%/năm; năm 1976 năng suất đạt 10,3 tạ/ha, đến năm 1979 chỉ còn 8,8 tạ/ha, giảm 5,0% Nguyên nhân chính là thực trạng phong trào hợp tác xã hoá bị sa sút, yêu cầu giải quyết đủ lương thực cần thiết đặt lên hàng đầu, sản xuất lạc lúc này chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp nên cây lạc không được đầu tư phát triển
- Từ năm 1980 - 1987: Thời kỳ này diện tích trồng lạc tăng nhanh, từ 91,8 ngàn ha năm 1979 lên 237,8 ngàn ha năm 1987 Tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 5,6% năm đến 24,8% năm Diện tích năm 1987 tăng gấp 2 lần so với năm 1980 và sản lượng tăng 2,3 lần Mặc dù diện tích gieo trồng tăng lên nhanh chóng, nhưng năng suất không tăng, chỉ dao động từ 8,8 - 9,7 tạ/ha, sản xuất lạc lúc này còn mang tính quảng canh truyền thống
- Từ năm 1988 - 1993: Trong ba năm đầu diện tích trồng lạc giảm từ 237,8 ngàn ha (1987) xuống còn 201,4 ngàn ha (1990) giảm với tốc độ 2,0% năm và sau
đó phục hồi trở lại Nguyên nhân chủ yếu là do mất thị trường tiêu thụ truyền thống, thị trường mới chưa kịp tiếp cận, giá lạc thế giới giảm trong 2 năm 1988 - 1989
- Từ năm 1994 - 1998: Giai đoạn này diện tích trồng lạc năm 1998 tăng 8%
so với 1994 và sản lượng tăng 25% Tốc độ tăng trưởng chủ yếu là do sự tăng trưởng về năng suất Do chúng ta đã tiếp cận được với thị trường quốc tế và nhu cầu cho chế biến trong nước cũng tăng lên
Bảng 2 Diện tích, năng suất và sản lƣợng lạc ở Việt Nam giai đoạn 2005 -2010 Năm Diện tích (1000ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lƣợng (1000tấn)
Trang 23Trong giai đoạn 2005 - 2010, diện tích gieo trồng và năng suất có su hướng phát triển trái chiều nhau Năm 2005 diện tích gieo trồng lạc cả nước đạt 269,6 nghìn ha, đến năm 2010 cả nước chỉ đạt 231 nghìn ha, giảm 38,6 nghìn ha (bình quân mỗi năm giảm 2,9% diện tích trồng) Năng suất lại có chiều hướng tăng đều qua các năm, năm 2005 năng suất đạt 18,2 tạ/ha, đến năm 2010 tăng lên 21,0 tạ/ha (bình quân mỗi năm tăng 0,56 tạ/ha) Tuy năng suất ở giai đoạn 2005-2010 tăng ở mức khá cao nhưng do diện tích gieo trồng trong giảm khá nhanh nên tổng sản lượng năm 2010 chỉ đạt 485,7 nghìn tấn, giảm 3,6 nghìn tấn
Sản xuất lạc được phân bố ở trên tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam Trên thực tế cho thấy, ở nước ta đã hình thành 6 vùng sản xuất lạc chính như sau:
Đông Nam Bộ Đồng bằng sông Cửu Long
Bảng 3: Diện tích, năng suất, sản lƣợng của 6 vùng trồng lạc ở Việt Nam
giai đoạn 2005 - 2010 Diện tích ĐVT: 1.000ha
Trang 24Năng suất ĐVT: tạ/ha
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam 2011 [20]
* Vùng đồng bằng sông Hồng năm 2010 với diện tích 302.000 ha, chiếm 13,07 % diện tích cả nước; năng suất 24,1 tạ/ha; sản lượng 72.800 nghìn tấn, chiếm 14,99 % cả nước Những tỉnh có diện tích trồng lạc lớn trong khu vực là: Nam Định, Hà Nội, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Thái Bình
* Vùng Trung du miền núi phía Bắc năm 2010 với diện tích 50.200 ha, chiếm 21,7 %; năng suất 18,0 tạ/ha; sản lượng 90.500 tấn, chiếm 18,63% cả nước Những tỉnh có diện tích trồng lạc lớn trong khu vực là: Bắc Giang, Hà Giang, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hòa Bình, Thái Nguyên
* Vùng Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung năm 2010 với diện tích
Trang 25102.300ha, chiếm 44,28 %; năng suất 19,7 tạ/ha; sản lượng 202.000 tấn, chiếm 41,59
% cả nước Những tỉnh có diện tích trồng lạc lớn trong khu vực là: Thanh Hoá, Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Bình, Quảng Trị
* Vùng Tây Nguyên là vùng cây lạc ít được chú trọng đầu tư phát triển, năm
2010 diện tích 16.700 ha, chiếm 7,22 %; năng suất 17,5 tạ/ha (thấp nhất cả nước); sản lượng 29.300 tấn, chiếm 6,0% cả nước Lạc được trồng tập trung chủ yếu ở tỉnh Đắk Nông, Đắk Lắc
* Vùng Đông Nam Bộ năm 2010 diện tích 20.500 ha, chiếm 8,87 %; năng suất 25,2 tạ/ha; sản lượng 51.600 tấn, chiếm 10,6% cả nước Những tỉnh có diện tích trồng lạc lớn trong khu vực là: Tây Ninh, Bình Dương
* Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích trồng lạc nhỏ nhất cả nước, năm 2010 đạt 11.100 ha, chiếm 4,8 % Tuy nhiên năng suất lạc lại cao nhất so với các vùng trong cả nước, đạt 35,6 tạ/ha; sản lượng 39.500 tấn, chiếm 8,1% cả nước Lạc được trồng tập trung ở các tỉnh: Long An, Trà Vinh
1.3.3 Tình hình sản xuất lạc ở Tuyên Quang
Bảng 4 Diện tích, năng suất, sản lƣợng lạc ở Tuyên Quang
giai đoạn 2000-2010 Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (tấn)
Trang 26Về diện tích: Từ năm 2005 đến năm 2011, diện tích trồng lạc của Tuyên Quang tăng khá nhanh, giai đoạn này với việc đưa các giống lạc mới có năng suất cao như: L 14, L 18, LVT, vào sản xuất làm tăng năng suất, tăng thu nhập cho người sản xuất đã khuyên khích được người dân mở rộng diện tích trồng lạc, do vậy diện tích lạc tăng đều hàng năm Năm 2011 diện tích lạc toàn tỉnh đạt 4.773 ha, tăng 39,27% so với năm 2005
Về năng suất: Trong 6 năm, từ 2005 đến 2011 năng suất lạc của tỉnh đã tăng 4,9 tạ/ha, năm 2011 năng suất bình quân toàn tỉnh đạt 26,89 tạ/ha là tỉnh thuộc nhóm tỉnh có năng suất khá cao trong khu vực Trung du và Miền núi phía Bắc
Về sản lượng: Do diện tích và năng suất lạc có xu hướng tăng nên sản lượng cũng tăng khá, từ năm 2005 sản lượng mới chỉ đạt 7.537 tấn, đến năm 2011 sản lượng đạt đạt 12.831 tấn, tăng hơn 1,7 lần so với 2005
1.3.4 Tình hình sản xuất lạc ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang
Xác định cây lạc là cây thế mạnh của huyện, do vậy trong những năm qua Đảng bộ, chính quyền huyện Chiêm Hóa đã tập trung đầu tư khuyến khích phát triển Do vậy trong những năm qua diện tích, sản lượng lạc của huyện tăng nhanh
và vươn lên dẫn đầu toàn tỉnh, năm 2011 diện tích đạt 2.625 ha, tăng 1,52 lần so với 2005; sản lượng đạt trên 8.430 tấn, tăng 1,7 lần so với năm 2005
Tuy nhiên khảo sát tại một số xã trong huyện việc tăng năng suất cây lạc chủ yếu do sử dụng giống mới có tiềm năng năng suất cao và đất canh tác mầu mỡ Hiện nay những diện tích đất đã trồng lạc nhiều năm năng suất đang có chiều hướng giảm
rõ rệt; trong sản xuất việc bón phân được thực hiện khá tùy tiện, hầu như không bón theo nhu cầu của cây, khi nào mua được phân thì bón không cứ thời gian nào và lượng phân bón thường không cân đối, nhiều hộ hầu như không bón kali, vôi nên nhiều diện tích lạc sinh trưởng phát triển chậm hơn, nhiều sâu bệnh hơn, năng suất thấp hơn so với năm trước
Mật độ trồng, khoảng cách trồng cũng thực hiện tuỳ tiện theo thói quen của từng người Phần đa là trồng quá thưa gây lãng phí đất, giảm năng suất trên đơn vị diện tích
Trang 271.4 Kết quả nghiên cứu về biện pháp canh tác lạc trên thế giới và trong nước
1.4.1 Kết quả nghiên cứu về biện pháp canh tác lạc trên thế giới
1.4.1.1 Nghiên cứu về thời vụ trồng lạc trên thế giới
Thời tiết có ảnh hưởng lớn đối với trồng lạc trực tiếp qua nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa
Tốc độ sinh trưởng của lạc tăng lên khi nhiệt độ tăng lên từ 20oC lên 30oC Nhiệt độ tối thích với sinh trưởng dinh dưỡng là giữa 27-30oC tùy giống (Fortanier, 1957) Nhiệt độ thấp nguy hiểm cho sinh trưởng là 13,3o
C (Mills, 1964) Nhiệt độ ảnh hưởng tới cường độ ra hoa, nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng chính quyết định độ dài của thời gian hình thành và nở hoa đầu tiên Sinh trưởng sinh thực mạnh nhất giữa 24-27oC; nhiệt độ liên tục ở mức 33oC và dưới 20oC có hại cho sự ra hoa và tỷ
lệ hoa đực cao [Chang, 1974] Do vậy phải xác định thời vụ gieo thích hợp cho suốt thời gian sinh trưởng của cây lạc gặp được điều kiện nhiệt độ tốt nhất
Cây lạc phản ứng tích cực với cường độ ánh sáng, cường độ ánh sáng thấp trước khi ra hoa làm cho sinh trưởng dinh dưỡng chậm lại; ít ánh sáng lạc phát triển tăng chiều cao thân và giảm trọng lượng lá và cường độ ra hoa (Hang và Mc Cloud 1976) Ra hoa không phụ thuộc vào ngày dài hay ngắn nhưng nụ hoa nở được và số lượng hoa nở thì phụ thuộc rất nhiều vào ánh sáng (Fortanier 1957); nở hoa rất mẫn cảm với ánh sáng yếu, nếu ánh sáng yếu vào thời kỳ ra hoa đầu thì gây rụng hoa
Theo John (1949) lượng mưa lý tưởng để trồng lạc khoảng từ 80-120mm ở tháng khi trồng, 200mm từ khi ra hoa trở đi Sau khi nảy mầm cần khoảng 15-30 ngày khô hạn để kích thích lạc nhiều hoa (Sankara Reddi, 1988) [32] Mưa liên tục dẫn tới sinh trưởng dinh dướng quá nhanh và cho năng suất củ thấp
Lạc không chịu được rét và úng ngập; tỷ lệ hạt/củ và P100 hạt là những tính trạng đặc trưng của giống nhưng chịu ảnh hưởng rất lớn của lượng mưa trong thời gian sinh trưởng; hàm lượng dầu là đặc trưng của giống nhưng cùng phụ thuộc nhiều vào mùa vụ [17]
1.4.1.2 Nghiên cứu mật độ, khoảng cách trồng lạc trên thế giới
Trang 28A’Brook, (1964) [24] cho rằng mật độ trồng lạc quá cao, trồng dày làm tỷ lệ bệnh hại lá và môi giới truyền bệnh tăng, năng suất không tăng so với trồng ở mật
độ trung bình
Tại Ấn Độ, Kumar và Ventakachary, (1971) họ cho rằng trồng lạc trong điều kiện nhờ nước trời thì khoảng cách 30 cm x 7,5 cm là tốt nhất, khi tăng cây trên hàng lên 15 cm hay 30 cm thì năng suất giảm Kailasnatha Reddy (1979) [21] cho biết trên đất limông - cát ở Tirupati (Ấn Độ) trồng lạc với khoảng cách 15 cm x 10
cm, mật độ 660.000 cây/ha cho năng suất và kinh tế nhất
Theo Duan Shufen, (1998) [26], ở miền Bắc Trung Quốc mật độ thích hợp của giống lạc thuộc kiểu hình Virginia như Luhua 4, Hua 17 được gieo trồng trong
vụ xuân trên đất có độ phì trung bình thì mật độ khoảng 220.000 - 270.000 cây/ha, còn đối với đất giàu dinh dưỡng mật độ là 200.000 - 240.000 cây/ha Các giống lạc thuộc loại hình Spanish như Baisha 1016, Luhua 8, 12, 13 và 15 thì mật độ trồng là 360.000 - 420.000 cây/ha Trong điều kiện trồng phụ thuộc vào nước trời mật độ là 300.000 - 380.000 cây/ha Miền Nam Trung Quốc, với giống đứng cây trồng trong
vụ Xuân trên đất đồi hoặc trong vụ lạc Thu ở đất lúa, mật độ trồng thích hợp là 270.000 - 300.000 cây/ha
Ở Mỹ, Sturkie và Buchanan, (1973) tổng hợp từ nhiều nghiên cứu thấy rằng, lạc có năng suất cao nhất khi trồng với khoảng cách (45 - 68 cm) x (10 - 15 cm) Trong điều kiện có tưới thì khoảng cách trồng là (22,5 cm x 10 cm) tương đương mật độ 44 cây/m2 đạt năng suất cao nhất
1.4.1.3 Nghiên cứu về dinh dưỡng và bón phân cho lạc trên thế giới
Khi nghiên cứu về hiệu quả của phân lân, (Mengel, 1987) [28] cho rằng, chỉ cần bón 400-500 mg P/ha đã kích thích được sự hoạt động của vi khuẩn Rhizobium Virgna sống cộng sinh, làm tăng số lượng và khối lượng nốt sẫn hữu hiệu ở cây lạc
Ở Ấn Độ tổng hợp từ 200 thí nghiệm, trên nhiều loại đất đã kết luận rằng: bón 14,52 kg P/ha cho lạc nhờ nước trời, năng suất lạc tăng là 210 kg/ha; trên đất li mông đỏ nghèo N, P, bón 15 kg P/ha, năng suất lạc tăng 14,7 %; đất đen bón 10 kg P/ha lên lá lạc cho năng suất tương đương với bón 40-60 kg P/ha vào đất [21]
Khả năng nâng cao năng suất lạc bằng việc bón N, cho đến nay vẫn có những
Trang 29ý kiến khác nhau Tuy nhiên, các nhà khoa học đều khẳng định, cây lạc cần lượng N lớn để sinh trưởng và tạo năng suất, lượng N này chủ yếu lấy từ quá trình cố định đạm sinh học ở nốt sần Theo William (1994), trong điều kiện tối ưu, cây lạc có thể
cố định được 200-260 kg N/ha, do vậy có thể giảm hay bỏ hẳn lượng đạm bón cho lạc Ở Ấn Độ có nhiều nghiên cứu về hiệu quả của bón đạm cho lạc, theo Nadagouda (1968) cho biết, bón 30 kg N/ha, năng suất lạc tăng 29 % so với không bón; (Chokney Singh,1969) thì bón 11 kg N/ha, năng suất lạc tăng 43 % so với không bón [21] Reid và cox, (1973) [30] cho biết, bón N cho lạc chỉ có hiệu quả đối với đất xấu, vi khuẩn nốt sần hoạt động kém Duan Shufen, (1998) [26] cho biết
ở Trung Quốc bón lót 187,5 kg (NH4)2SO4 /ha, năng suất lạc tăng 5-20 %, bón thúc
từ 7,5-15,0 kg/ha ở giai đoạn cây con, năng suất lạc tăng 9-11 % Không nên bón N quá nhiều cho lạc, với đất có hàm lượng N < 0,045 % thì bón 94 kg N/ha; N = 0,045- 0,065 % thì bón 56 kg N/ha; đất có N > 0,065 %, không cần bón đạm
Mengel và các cộng sự, (1987) [28] cho biết bón vôi cho lạc rất quan trọng,
nó làm giảm độc tố Al, Mn, làm tăng các nguyên tố P, Ca, Mg, Mo và cải thiện sự hình thành nốt sần Theo Thompson, (1957) [31] bón vôi làm pH tăng kéo theo N
và P dễ tiêu trong đất tăng, cung cấp dinh dưỡng cho cây lạc Duan Shufen, (1998) [26] cho biết bón vôi cho đất chua làm trung hoà độ pH, thay đổi thành phần lý tính của đất và ngăn ngừa sự tích luỹ các độc tố nhôm trong đất trồng lạc Adams và các cộng sự (1993) [23], cho biết bón Ca chỉ có hiệu quả cao đối với đất có hàm lượng
Ca dễ tiêu nhỏ hơn 158 mg/kg đất
Hiệu quả của K được thể hiện rõ ở các loại đất nghèo K Theo Singh (1969),
ở Ấn Độ bón 19,0 kg K/ha cho lạc nước trời trên đất nhẹ, năng suất lạc tăng 34,0 %
so với không bón; (Nadagouda, 1978), bón 25 kg K/ha cho lạc, năng suất tăng 12,7
% so với không bón [21] Theo Comber (1959) [25] cho biết có sự đối kháng khi lạc hấp thụ các nguyên tố K, Ca, và Mg; bón nồng độ K cao sẽ ức chế sự hút Ca, dẫn đến thiếu Ca Tác giả cho rằng tỷ lệ K : Ca : Mg quan trọng hơn là hàm lượng của mỗi chất riêng rẽ và tác giả tìm thấy tỉ lệ tối ưu cho lạc là 4 : 4 : 2 Suba Rao (1980) cho biết ở đất cát Tirupati (Ấn Độ) tỉ lệ bón K : Ca : Mg là 4 : 2 : 0 là tốt nhất [21] Theo Duan Shufen (1998) [26] cho biết bón phân K cho đất từ trung bình đến giàu
Trang 30ở Trung Quốc, đã làm tăng khả năng hấp thu N và P của cây lạc
Duan Shufen, (1998) [26] đều cho rằng, để việc bón phân khoáng có hiệu quả cao cần phải bón cân đối giữa các dinh dưỡng N, P, K, Ca, S và các phân vi lượng khác Vấn đề này cũng được thấy rõ ở 436 thí nghiệm trên nhiều vùng đất trồng lạc của Ấn Độ Bón phối hợp (30 kg N + 17 kg P)/ha, năng suất lạc tăng gấp đôi so với chỉ bón 30kg N/ha, khi phối hợp thêm 16 kg K/ha, năng suất lạc tăng thêm 25-50 % (Kanwar, 1978); đất nhẹ hoặc trung bình bón phối hợp (11,0 kg N + 10,0 kg P + 19,0
kg K)/ha làm tăng năng suất lạc 100 -154 % so với bón riêng rẽ từng loại phân hoặc bón 2 trong 3 loại phân (Chokhey Singh và Pathak, 1969) [21] Theo Duan Shufen (1998) [26] cho biết kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu lạc Sơn Đông - Trung Quốc, để sản xuất 100 kg lạc quả ở mức năng suất 50- 75 tạ/ha, thì cần bón (5,18 kg
N + 1,08 kg P + 2,5 kg K + 1,95 kg Ca + 1,58 kg Mg + 1,28 kg S)/ha Bón N và P kết hợp theo tỉ lệ 1,0 : 1,5 năng suất lạc tăng 24,4 % so với phương pháp cổ truyền của nôn g dân Tỉ lệ bón kết hợp N, P, K tối ưu theo khuyến cáo là 1,0 : 1,5 : 2,0
1.4.1.4 Nghiên cứu về biện pháp che phủ nilon cho lạc trên thế giới
Che phủ nilon cũng là một trong những biện pháp nâng cao năng suất lạc, kỹ thuật này được du nhập từ Nhật Bản vào Trung Quốc năm 1979 (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn, 1979)[4] Kết quả các thí nghiệm ở Viện Sơn Đông Trung Quốc năm 1979 đã cho thấy, lạc được che phủ nilon năng suất quả tăng lên rõ rệt Từ đó diện tích lạc được phủ nilon tăng lên rất nhanh và nó được gọi là cuộc “cách mạng trắng” trong sản xuất lạc ở Trung Quốc Kết quả thử nghiệm kỹ thuật phủ nilon cho lạc trên 16 tỉnh và thành phố ở Trung Quốc trong giai đoạn 1979-1984, năng suất lạc trung bình đạt 37,75-45,5 tạ/ha, tăng 20-50 % so với không áp dụng kỹ thuật phủ nilon (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn, 1979)[4]
Đây là một trong những biện pháp quan trọng nhất góp phần làm tăng năng suất và sản lượng lạc ở Trung Quốc trong hai thập kỷ gần đây Trên diện tích 220.000 ha lạc áp dụng kỹ thuật phủ nilon, năng suất trung bình đạt rất cao 41,9 tạ/ha, tăng so với diện tích không dùng kỹ thuật phủ nilon 20,5 tạ/ha (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn, 1979)[4]
Nhiều kết quả nghiên cứu ở Trung Quốc đã chỉ ra rằng, áp dụng kỹ thuật phủ
Trang 31nilon cho lạc làm tăng lượng dầu, protein và 8 loại axit amin của hạt Lạc được phủ nilon mọc, ra hoa, hình thành quả, chín sớm hơn 8-10 ngày, số quả chắc tăng 13-25
%, số hạt tăng 4-5 % (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn, 1979)[4]
Theo các nhà khoa học Trung Quốc, áp dụng kỹ thuật phủ nilon cho lạc đã làm nhiệt độ lớp đất mặt tăng 0,6 -3,90C, hạn chế sự bốc hơi nước, làm tăng lượng nước mao dẫn (1,7-7,6 %), do đó giữ được độ ẩm của đất Khi có mưa to, lớp phủ nilon ngăn cản sự xói mòn, rửa trôi dinh dưỡng đất, làm giảm lượng nước thấm vào đất nên duy trì được độ xốp, chất dinh dưỡng và độ ẩm đất thích hợp Phủ nilon cho lạc làm tăng quần thể vi sinh vật đất có ích, nấm tăng 58,3 %, xạ khuẩn tăng 36,7
%, vi khuẩn chuyển hoá đạm tăng 25,8 %, vi khuẩn cố định đạm tăng 47,3 %, vi khuẩn phân giải lân tăng 56,3 % so với không phủ nilon
Ngoài ra phủ nilon còn cải thiện vi khí hậu đồng ruộng như tăng sự phản chiếu ánh sáng và vận tốc gió giữa các luống nên cường độ ánh sáng và trao đổi không khí tăng, từ đó làm tăng hiệu quả quá trình quang hợp của cây lạc Từ những
lý do trên, áp dụng kỹ thuật phủ nilon mặt luống đã tạo điều kiện cho cây lạc có năng suất cao hơn so với không phủ nilon [4]
1.4.2 Kết quả nghiên cứu về biện pháp canh tác lạc ở Việt Nam
1.4.2.1 Nghiên cứu về thời vụ trồng lạc ở Việt Nam
Để nảy mầm lạc cần nhiệt độ thấp nhất là 12oC, từ 15oC trở lên lạc giống bắt đầu nảy mầm tốt; thích hợp cho phát triển thân, lá từ 20-25o
C; thích hợp cho ra hoa, làm quả 25-30oC; ẩm độ đồng ruộng 60-70%
Thời vụ trồng ở Việt Nam được nghiên cứu khá sớm, từ cuối năm 1953 Phòng sinh lý thực vật Viện Trồng trọt do Bùi Huy Đáp hướng dẫn thực hiện nghiên cứu giống lạc 4 tháng trên đất đồi (từ tháng 12/1953 đến tháng 5/1954) cho kết quả: Càng gieo muộn về mùa hè thì thời gian sinh trưởng càng ngắn, lạc chóng
ra hoa, quả chóng già
Nghiên cứu của Học viện Nông lâm trong vụ xuân 1960 với giống đỏ Bắc Giang và giống nụ Tuyên Quang gieo vào cuối tháng 1- đầu tháng 2 năng suất quả khô cao nhất; càng gieo muộn năng suất chất xanh càng cao
Qua nghiên cứu điều kiện khí hậu, canh tác các nhà khoa học đã xác định
Trang 32thời vụ trồng thích hợp cho mỗi vùng:
+ Ở miền Bắc thời vụ trồng lạc chịu sự chi phối của chế độ mưa và nhiệt độ trong năm (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn, 1979)[4], nên vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ, gieo lạc vụ xuân tốt nhất từ 5/2 đến 6/3, muộn nhất không quá 10/3 Miền núi rét thường kéo dài gieo muộn hơn, từ 25/2 đến 15/3 trên đất ruộng, từ 1/3 đến 15/3 trên đất bãi, đất đồi Lạc thu gieo từ 15/7 đến cuối tháng 8, gặp nắng nóng
và mưa lớn nên quả bé, năng suất thấp [4] Lạc thu đông gieo trồng từ 15/8 đến 25/9, vụ này năng suất cao, chất lượng tốt hơn vụ thu, giữ làm giống cho vụ xuân năm sau rất tốt [8], [9] Vùng Nam khu 4 cũ từ Nghệ An trở vào trồng lạc xuân bắt đầu từ 25/1, kết thúc 30/2 Ở miền Bắc vụ xuân trồng tốt nhất 5-20/2 [6][8]
+ Đối với vùng trung Trung bộ lạc xuân gieo vào tháng 1, 2, lạc hè gieo vào tháng 4, 5 đầu mùa mưa [22]
+ Các tỉnh phía Nam thời vụ trồng lạc chủ yếu chịu sự chi phối của chế độ mưa, đặc biệt vùng trồng lạc nhờ nước trời [22] Một số vùng như: Ninh Thuận mùa mưa ngắn thời vụ gieo lạc vào tháng 9, 10; Đông Nam bộ đất có tưới gieo lạc vào các tháng 1, 2, 3; đất không chủ động nước gieo lạc vào đầu mùa mưa tháng 4, 5; Tây Nam bộ gieo lạc vụ 1 vào tháng 4, 5, vụ 2 vào các tháng 10, 11, 12; Tây Nguyên thời vụ gieo trồng lạc kéo dài trong suốt mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 8, tốt nhất là gieo vào tháng 4, 5 [22]
1.4.2.2 Nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng lạc ở Việt Nam
Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu để xác định khoảng cách, mật độ trồng lạc tối ưu Theo Ưng Định và Đăng Phú (1977) [22] tổng hợp các nghiên cứu cho biết, tăng mật độ từ 22 cây/m2(30cm x 15 cm x 1 cây) lên 33 cây/m2(30 cm x 10 cm x 1 cây), năng suất lạc tăng từ 15,0 lên 22,0 tạ/ha Mật độ trồng 44 cây/ m2 (30 cm x 15
cm x 2 cây), năng suất tăng lên 29,0 tạ/ha Trên đất bạc màu Bắc Giang, lạc trồng với mật độ 25 cây/ m2 (40 cm x 20 cm x 2 hạt) năng suất đạt 12,0 tạ/ha, trồng với mật độ 42 cây/ m2 (30 cm x 15 cm x 2 hạt) năng suất tăng lên 15,0 tạ/ha
Nguyễn Thị Chinh (2005) [8] cho rằng, với những giống lạc dạng đứng cây, phân cành gọn, mật độ thích hợp ở vụ xuân là 40 cây/m2(33 cm x 15 cm x 2 cây hoặc 25 cm x 20 cm x 2 cây), năng suất cao hơn so với trồng 33 cây/m2(33 cm x 10
Trang 33Theo Trần Đình Long, Nguyễn Thị Chinh và CS, (1999) [18], mật độ gieo thích hợp trong điều kiện có che phủ nilon là 25 cm x 18 cm x 2 cây/hốc và không che phủ nilon là 25 cm x 10 cm x 1 cây/hốc
Theo Ngô Thế Dân và CS, (2000)[9], mật độ gieo thích hợp trong điều kiện
có che phủ nilon là 25 cm x 18 cm x 2 cây/hốc và không che phủ nilon là 25 cm x
10 cm x 1 cây/hốc
1.4.2.3 Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón cho lạc ở Việt Nam
Lạc là cây có khả năng cố định đạm nhưng giai đoạn đầu cây rất cần đạm do lượng dự trữ trong hạt không đáp ứng được nhu cầu phát triển bình thường của cây Tuy nhiên, việc bón đạm phải có chuẩn mực, vì bón đạm quá ngưỡng, thân lá phát triển mạnh làm ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành quả và hạt dẫn đến năng suất thấp Kết quả nghiên cứu của Viện Nông hoá thổ nhưỡng trên đất bạc màu Bắc Giang, trên nền 8 - 10 tấn phân chuồng, lượng bón thích hợp là 30 kg N/ha, nếu tăng lên 40 kg N/ha thì năng suất không tăng và hiệu lực giảm đi rõ rệt [3]
Ngô Thế Dân (2000) [9], Trần Danh Thìn (2001) [22] đều cho rằng, để việc bón đạm thực sự có hiệu quả cao, cần bón kết hợp các loại phân khoáng khác như lân, canxi và phân vi lượng khác
Kết quả nghiên cứu của Trần Danh Thìn (2001) [22] trên đất đồi bạc màu ở tỉnh Thái Nguyên cho thấy, bón 100 kg N/ha năng suất tăng 6,5 - 11,3 tạ/ha, bón 40
kg N/ha năng suất tăng 5,7 lên 7,1 tạ/ha so với không bón phân
Trên đất nghèo dinh dưỡng, hiệu lực của lân càng cao khi bón 60 kg P2O5/ha
sẽ cho hiệu quả kinh tế cao nhất và bón ở mức 90 kg P2O5/ha cho năng suất cao nhất trên nhiều loại đất [9] Trung bình hiệu suất 1 kg P2O5 là 4 - 6 kg lạc vỏ Nếu bón 90
Trang 34kg P2O5 năng suất cao nhưng hiệu quả không cao [7]
Kết quả nghiên cứu của Trần Danh Thìn (2001) [16] cho biết, trên đất đồi Thái Nguyên, vụ xuân nếu bón riêng rẽ từng loại phân N, P, vôi thì năng suất lạc tăng 14 - 31,5%, khi kết hợp lân với vôi năng suất tăng 64,9%, lân với đạm năng suất tăng 110,5%, nếu bón kết hợp cả lân, đạm, vôi thì năng suất tăng 140,3% so với không bón
Ngô Thế Dân và CS, (2000) [9] cho rằng, trên đất bạc màu Bắc Giang, bón nền (8 tấn phân chuồng + 30 kg K2O + 30 kg N) và 90 kg P2O5, hiệu suất là 3,6 - 5
kg, nếu bón nền + 60 kg P2O5 thì hiệu suất là 4 - 6 kg
1.4.2.3 Nghiên cứu che nilon cho lạc ở Việt Nam
Nghiên cứu về kỹ thuật phủ nilon ở Việt Nam, Nguyễn Thị Chinh và các cộng
sự (1998) [12] cho biết, lạc vụ xuân nhờ giữa được độ ẩm và nhiệt độ nên công thức
áp dụng kỹ thuật phủ nilon có tỉ lệ mọc sau gieo 10 ngày cao hơn 20,8 %, sau 1 5 ngày cao hơn 54,7 % so với không phủ Giống lạc LO2 ở công thức áp dụng che phủ nilon năng suất đạt 34,1-36,8 tạ/ha, cao hơn công thức không phủ nilon 36,3-42,7 % Khối lượng 100 quả, khối lượng 100 hạt và tỉ lệ nhân của lạc ở công thức áp dụng kỹ thuật phủ nilon đều cao hơn so với công thức không phủ nilon
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Chinh và cộng sự (1999) [14] cho biết, lạc vụ xuân trong điều kiện áp dụng kỹ thuật che phủ nilon trồng với mật độ 40 cây/m2 (33 cm x 15 cm x 2 cây hay 25 cm x 2 0 cm x 2 cây) có năng suất cao hơn
so với mật độ 33 cây/m2 (33 cm x 10 cm x 1 cây) từ 27-36 %
Ngô Thế Dân và các cộng sự (2000) [9] cho biết, lạc vụ xuân có áp dụng kỹ thuật phủ nilon năng suất bình quân tăng thêm 10 tạ/ha, lãi thuần tăng thêm gần 3,4 triệu đồng/ha so với lạc không phủ nilon
Trang 35Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
* Giống: Giống L14 được ThS Nguyễn Văn Thắng, TS Nguyễn Thị Chinh,
TS Nguyễn Xuân Hồng, VS.TSKH Trần Đình Long, TS Hoàng Minh Tân, KS Nguyễn Thái An - Trung tâm Nghiên cứu Đậu đỗ - Viện KHKTN Việt Nam chọn lọc theo phương pháp chọn lọc quần thể từ dòng lạc mang tên QDD5 từ tập đoàn lạc nhập nội từ Trung Quốc Được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật ngày 29/11/2002
Giống L14 có thời gian sinh trưởng vụ xuân 120 - 125 ngày, vụ thu đông
110-115 ngày L14 thuộc dạng hình thực vật Spanish, thân đứng, góc phân cành hẹp, lá dày mầu xanh đậm, lá hình elip Năng suất quả 35-45 tạ/ha L14 có khối lượng 100 quả đạt 160-170 gram, khối lượng 100 hạt 56 - 70gram (tỷ lệ hạt/quả 70 - 72%) L14
có hàm lượng dầu 52,4%, hàm lượng Protein 31,2%, vỏ lụa hồng, hạt căng đều
Giống L14 kháng bệnh trên lá (đốm nâu, đốm đen, rỉ sắt), bệnh héo xanh vi khuẩn khá cao, chịu hạn khá Là giống đang được trồng đại trà tại huyện Chiêm Hóa
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra tình hình sản xuất lạc trên đất ruộng 1 vụ lúa ở huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến năng suất và hiệu quả kinh tế của giống lạc L 14 trên đất ruộng 1 vụ lúa của huyện Chiêm Hóa
- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến năng suất, hiệu quả kinh tế của giống lạc L14 vụ Xuân trên đất 1 vụ lúa của huyện Chiêm Hóa
- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng N, P, K thích hợp đến năng suất, hiệu quả kinh tế của giống lạc L14 vụ Xuân trên đất 1 vụ lúa của huyện Chiêm Hóa
- Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp che phủ nilon đến năng suất và hiệu quả kinh tế của giống lạc L 14 trồng vụ xuân trên đất ruộng 1 vụ lúa của huyện Chiêm Hóa
- Xây dựng mô hình trình diễn để tuyên truyền khuyến cáo người dân địa phương thăm quan và áp dụng vào sản xuất
Trang 362.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Các thí nghiệm được thực hiện trên đất một vụ lúa trong vụ Xuân năm 2012 tại xã Phúc Sơn, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2011 đến tháng 6 năm 2012
2.4 Đặc điểm đất đai nơi nghiên cứu
Huyện Chiêm Hoá có tổng diện tích đất tự nhiên là 145.960 ha, có nhiều dãy núi cao điển hình như: Khau Bươn, Núi Quạt, Phia Gioòng, Cham Chu Sông suối
có độ dốc cao, độ cao phổ biến từ 200 - 600 m và giảm dần xuống phía Nam, độ dốc trung bình 250; sông Gâm chảy qua Chiêm Hoá với độ dài 40 km, là đường thuỷ duy nhất nối huyện với trung tâm tỉnh và các tỉnh trung du Bắc bộ
Xen giữa các vùng đồi núi là những thung lũng, đất đai màu mỡ Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 10.828 ha, trong đó trồng lúa 6.185 ha (đất 2 vụ lúa 4.528 ha; đất 1 vụ lúa 1.657 ha), đất trồng cây hàng năm 1.986 ha, đất trồng cây lâu năm 2.656 ha
Kết quả phân tích mẫu đất tại của các xã vùng trồng lạc, đất có pHKcl từ 6,3 - 7; thành phần: cát 33,2 %, thịt 28,6 %, sét 38,2 % (Phòng thí nghiệm sinh lý sinh hóa & giống di truyền - Khoa Nông học, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên)
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Điều tra tình hình sản xuất lạc tại huyện Chiêm Hoá
Điều tra hiện trạng sản xuất lạc và xác định yếu tố hạn chế năng suất lạc trên đất ruộng 1 vụ lúa tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang theo phương pháp phát phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp 25 hộ sản xuất lạc và thu thập thông tin thứ cấp từ Chi cục Thống kê, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Chiêm Hoá
2.5.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
2.5.2.1- Thí nghiệm 1: Nghiên cứu thời vụ trồng thích hợp cho giống lạc L14 trong
vụ xuân trên đất ruộng 1 vụ lúa
Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, gồm
04 công thức (mỗi công thức trồng cách nhau 10 ngày), 03 lần nhắc lại
Trang 37- Diện tích ô thí nghiệm là 8 m2 (1,2 m x 6m) (không kể rãnh)
- Tổng diện tích thí nghiệm là 96 m2, không tính diện tích bảo vệ
* Các biện pháp kỹ thuật thực hiện trong thí nghiệm:
- Làm đất: Cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại, san phẳng mặt ruộng, độ ẩm lúc gieo khoảng 75 - 80% độ ẩm tối đa đồng ruộng
- Mật độ trồng: 33 cây/m2 (khoảng cách 30cm x 10cm); tra 1 hạt/hốc, độ sâu lấp hạt 3 - 4cm, dặm bổ sung khi cây có 1 - 2 lá thật để đảm bảo mật độ và khoảng cách
- Lượng phân bón cho 1 ha: Bón 5 tấn phân hữu cơ + 30kg N + 90kg P2O5 + 60kg K2O + 500kg vôi bột
- Cách bón phân:
+ Bón lót: 100% phân hữu cơ + 100% phân P2O5 + 50% vôi bột + 50% N, 50% lượng kali Toàn bộ phân hóa học được trộn đều và bón vào hàng đã rạch sẵn, sau đó bón phân chuồng Sau khi bón phân, lấp một lớp đất nhẹ phủ kín phân rồi mới gieo hạt để tránh tiếp xúc với phân làm giảm sức nảy mầm
+ Bón thúc lần 1: 50% N + 50% K2O, bón vào thời kỳ cây lạc có 2 - 3 lá thật Kết hợp xới phá váng khắp mặt luống
+ Bón thúc lần 2: 50% vôi bột, bón vào thời kỳ cây lạc ra hoa rộ, kết hợp với xới và vun nhẹ quanh gốc
Trang 38- Các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, xới, vun, làm cỏ, phun thuốc phòng trừ sâu bệnh hại theo Hướng dẫn kỹ thuật thâm canh lạc của Sở Nông nghiệp và PTNT Tuyên Quang năm 2005
2.5.2.2 - Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng mật độ trồng đến năng suất giống
L14 trên đất ruộng 1 vụ lúa trong vụ xuân 2012
+ Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, gồm 05 công thức, 03 lần nhắc lại
- Diện tích ô thí nghiệm là 8 m2 (1,2 m x 6m) (không kể rãnh)
- Tổng diện tích thí nghiệm là 120 m2, không tính diện tích bảo vệ
- Thời vụ: trồng ngày 12 tháng 02 năm 2012
- Các biện pháp kỹ thuật khác như: Làm đất, liều lượng và kỹ thuật bón phân, chăm sóc như ở thí nghiệm 1
2.5.2.3 - Thí nghiệm 3: Nghiên cứu liều lượng N, P, K thích hợp cho lạc trồng trên
đất ruộng 1 vụ lúa trong vụ vuân 2012
+ Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, gồm 05 công thức, 03 lần nhắc lại
Trang 39Công thức 1: Nền = 5 tấn phân hữu cơ + 500 kg vôi bột/ha
- Các biện pháp kỹ thuật khác như: làm đất, mật độ trồng, kỹ thuật bón phân
và chăm sóc thực hiện như thí nghiệm 1
2.5.2.4- Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng của che phủ nilon đến sinh trưởng,
phát triển của lạc giống L14 trồng vụ xuân trên đất ruộng 1 vụ lúa
- Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, gồm
02 công thức, 03 lần nhắc lại
+ Công thức 1: Che nilon
+ Công thức 2: Không che nilon (Đối chứng)
- Diện tích ô thí nghiệm là 8 m2 (1,2 m x 6m) (không kể rãnh)
- Số ô thí nghiệm: 2 x 3 = 6 (ô)
- Tổng diện tích thí nghiệm là 48 m2, không tính diện tích bảo vệ
Trang 40+ Gieo và lấp hạt rồi san phẳng mặt luống
+ Dùng thuốc trừ cỏ phun lên mặt luống để diệt trừ cỏ dại
+ Phủ nilon, căng phẳng trên mặt luống sau đó vét đất ở rãnh ập vào hai bên mép luống để cố định nilon
Kiểm tra khi lạc mọc đều và có 2 lá thật, dùng kéo cắt nilon (đường kính lỗ cắt từ 6 - 8 cm) ở những nơi trồng để lạc mọc thoát khỏi nilon; thường xuyên kiểm tra ruộng phải chú ý đưa những cây mọc dưới nilon lên trên
2.5.2.5- Mô hình trình diễn: Bố trí trên diện tích 2,0 ha của 18 hộ sản xuất tại thôn
Bản Lai - xã Phúc Sơn - huyện Chiêm Hoá, trong đó 1,58 ha (14 hộ) thực hiện quy trình kỹ thuật theo đề tài; 0,42 ha (4 hộ) thực hiện theo tập quán canh tác của địa phương (khảo sát tại 4 hộ trước khi thực hiện mô hình)
a) Các biện pháp kỹ thuật thực hiện trong mô hình:
- Thời vụ trồng: từ ngày 9 đến ngày 11 tháng 2
- Mật độ trồng: 33 cây/m2 (khoảng cách 30cm x 10cm); tra 1 hạt/hốc, độ sâu lấp hạt 3 - 4cm, dặm bổ sung khi cây có 1 - 2 lá thật để đảm bảo mật độ và khoảng cách
- Lượng phân bón cho 1 ha: Bón 5 tấn phân hữu cơ + 30kg N + 90kg P2O5 + 60kg K2O + 500kg vôi bột (lượng bón cho cho 1 sào (360 m2): Phân chuồng 200 kg + 2,5 kg Urê + 20 kg lân nung chảy + 3,5 kali clorua + 18 kg vôi bột)