1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra đánh giá thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu hại chính và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên

76 668 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRẦN NGỌC THUỶ Tên đề tài: ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ THÀNH PHẦN VÀ DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ CỦA MỘT SỐ SÂU HẠI CHÍNH VÀ THIÊN ĐỊCH TRÊN MÔ HÌNH CANH TÁC LÚ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRẦN NGỌC THUỶ

Tên đề tài:

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ THÀNH PHẦN VÀ DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ CỦA MỘT SỐ SÂU HẠI CHÍNH VÀ

THIÊN ĐỊCH TRÊN MÔ HÌNH CANH TÁC LÚA 3 GIẢM

3 TĂNG TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên, năm 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các

số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các tài liệu tham khảo trích dẫn trong Luận văn đều có nguồn gốc xuất xứ thực tế và đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 9 năm 2012

Tác giả luận văn

Trần Ngọc Thuỷ

Trang 3

Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Sau đại học, Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình truyền đạt kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong 2 năm học tập vừa qua Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình

Xin trân trọng cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN iii

MỤC LỤC iv

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2

2.1 Mục đích của đề tài 2

2.2 Yêu cầu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3

4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.2 Tình hình nghiên cứu về mức độ sâu hại gây ra cho lúa, nghiên cứu một số sâu hai lúa chủ yếu và thiên địch ở nước ngoài và trong nước 6

1.2.1 Tình hình nghiên cứu mức độ sâu hại gây ra cho lúa ở nước ngoài 6

1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu một số sâu hại chủ yếu trên lúa ở nước ngoài 6

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 13

1.2.2.1 Những nghiên cứu về sâu hại 13

1.2.2.2 Tác dụng của biện pháp canh tác lúa 3 giảm 3 tăng đến sâu hại và thiên địch 16

1.2.2.3 Tình hình nghiên cứu một số sâu hại lúa chủ yếu 18

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 28

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28

2.1.2 Vật liệu thí nghiệm 28

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 28

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 28

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 28

2.3 Nội dung nghiên cứu 28

2.4 Phương pháp nghiên cứu 29

2.4.1 Chọn điểm điều tra 29

2.4.2 Phương pháp điều tra 29

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 30

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Kết quả điều tra thành phần sâu hại lúa vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 tại TP Thái Nguyên 31

3.2 Kết quả điều tra diễn biến mật độ một số sâu hại chủ yếu trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà ở vụ mùa năm 2011 và vụ xuân năm 2012 34

3.2.1 Kết quả điều tra diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà ở vụ mùa năm 2011 và vụ xuân năm 2012 34

3.2.2 Kết quả điều tra diễn biến tỉ lệ dảnh héo bông bạc do sâu đục thân lúa 2 chấm gây hại trong vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 36

Trang 5

3.2.3 Kết quả điều tra diễn biến mật độ rầy nâu trên lúa canh tác 3 giảm 3

tăng và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 37

3.3 Kết quả điều tra diễn biến mật độ sâu hại chủ yếu khi áp dụng một số biện pháp kỹ thuật trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 39

3.3.1 Diễn biến mật độ sâu hại chủ yếu khi áp dụng mật độ cấy trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 39

3.3.2 Kết qủa điều tra diễn biến mật độ sâu hại chủ yếu trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà khi phun thuốc BVTV trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 41

3.3.3 Kết quả điều tra diễn biến mật độ sâu hại chủ yếu trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà khi bón phân trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 43

3.4 Kết quả điều tra thành phần thiên địch của sâu hại lúa vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 tại TP Thái Nguyên 44

3.5 Kết quả điều tra diễn biến mật độ một số thiên địch chính ruộng 3 giảm 3 tăng và ruộng sản xuất đại trà vụ mùa 2011 tại và vụ xuân năm 2012 47

3.5.1 Kết quả điều tra diễn biến mật độ nhện lớn bắt mồi trên ruộng 3 giảm 3 tăng và ruộng sản xuất đại trà vụ mùa 2011 tại và vụ xuân năm 2012 47

3.5.2 Kết quả điều tra diễn biến mật độ bọ rùa đỏ trên ruộng 3 giảm 3 tăng và ruộng sản xuất đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 49

3.5.3 Kết quả điều tra diễn biến mật độ kiến ba khoang trên ruộng 3 giảm 3 tăng và ruộng sản xuất đại trà vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 50

3.6 Kết quả điều tra diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu khi áp dụng một số biện pháp kỹ thuật trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 51

3.6.1 Kết quả điều tra diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu khi áp dụng mật độ cấy trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 51

3.6.2 Kết quả điều tra diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà khi phun thuốc BVTV trong vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 53

3.6.3 Kết quả điều tra diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu khi trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà sau khi bón phân trong vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 55

3.7 Kết quả ứng dụng biện pháp canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại TP Thái Nguyên trong vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 56

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 59

1 Kết luận 59

2 Khuyến nghị 59

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Thành phần sâu hại lúa và mức độ bắt gặp chúng trên lúa mùa

năm 2011 tại TP Thái Nguyên 32

Bảng 3.2: Thành phần sâu hại lúa và mức độ bắt gặp chúng trên lúa xuân

năm 2012 tại TP Thái Nguyên 33

Bảng 3.3 Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng

và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 35

Bảng 3.4: Diễn biến tỉ lệ dảnh héo, bông bạc do sâu đục thân gây ra trên

lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011

và vụ xuân 2012 36

Bảng 3.5: Diễn biến mật độ rầy nâu trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh

tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 38

Bảng 3.6 Diễn biến mật độ sâu hại chủ yếu khi áp dụng mật độ cấy trên

lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011

và vụ xuân 2012 40

Bảng 3.7 Diễn biến mật độ sâu hại chủ yếu trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng

và canh tác đại trà khi thuốc BVTV trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 42

Bảng 3.8 Diễn biến mật độ sâu hại chủ yếu trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và

canh tác đại trà khi bón phân trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 43

Bảng 3.9 : Thành phần thiên địch của sâu hại lúa và mức độ bắt gặp chúng

trên lúa mùa năm 2011 tại TP Thái Nguyên 45

Bảng 3.10: Thành phần thiên địch của sâu hại lúa và mức độ bắt gặp chúng

trên lúa xuân năm 2012 tại TP Thái Nguyên 46

Bảng 3.11: Diễn biến mật độ nhện lớn bắt mồi trên ruộng 3 giảm 3 tăng và

ruộng sản xuất đại trà vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 48

Bảng 3.12 : Diễn biến mật độ bọ rùa đỏ trên ruộng 3 giảm 3 tăng và ruộng sản xuất

đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 49

Bảng 3.13: Diễn biến mật độ kiến ba trên ruộng 3 giảm 3 tăng và

ruộng sản xuất đại trà vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 50

Bảng 3.14 : Diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu khi áp dụng mật độ cấy

trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà trong vụ

mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 52

Bảng 3.15 Diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu trên lúa canh tác 3 giảm 3

tăng và canh tác đại trà khi phun thuốc BVTV trong vụ mùa

2011 và vụ xuân năm 2012 54

Trang 7

Bảng 3.16 Diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu khi trên lúa canh tác 3

giảm 3 tăng và canh tác đại trà sau khi bón phân trong vụ mùa

2011 và vụ xuân năm 2012 56

Bảng 3.17 : Năng suất lúa qua các hình thức canh tác lúa 3 giảm 3 tăng và

canh tác đại trà tại các điểm điều tra vụ mùa năm 2011 57

Bảng 3.18 : Năng suất lúa qua các hình thức canh tác lúa 3 giảm 3 tăng và

canh tác đại trà tại các điểm điều tra vụ xuân năm 2012 57

Bảng 3.19 Hạch toán hiệu quả kinh tế trên 3 giảm 3 tăng và ruộng nông

dân sản xuất đại trà vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 tại TP Thái Nguyên 58

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Lúa là cây lương thực chủ yếu ở nước ta, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo an toàn lương thực cho nhân dân Việc yêu cầu tập trung sản xuất lúa gạo để đáp ứng cho đà tăng dân số nhanh chóng đã đưa đến sự thay đổi trong kỹ thuật sản xuất lúa Vì vậy một trong những khâu quan trọng trong quá trình sản xuất khiến nông dân vừa tốn sức người sức của chính là công tác phòng trừ sâu bệnh cho ruộng lúa của mình Với quan niệm cấy thật dầy, bón thật nhiều phân đạm thì mới đủ số chồi để đạt được năng suất làm cho tình hình sâu hại ngày càng gia tăng Vì nóng lòng cho ruộng lúa của mình mà nông dân đổ vào đồng rộng một lượng thuốc hoá học ngày càng nhiều với hi vọng là sẽ tiêu diệt hết dịch hoạ Một sự thật hiển nhiên là nơi nào người nông dân phun nhiều thuốc trừ sâu càng nhiều thì nơi ấy dịch hại ngày càng phát triển nhiều thêm và những nơi ấy môi trường nước, đất ngày càng bị ô nhiễm Một trong những bước đột phá trong quản lý dịch hại, nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc trồng lúa, tăng thu nhập cho những nông dân và bảo vệ môi trường, tiến tới xây dựng nền nông nghiệp bền vững đó là Bộ NN và PTNT đã xây dựng chương trình 3 giảm - 3 tăng áp dụng cho canh tác lúa 3 giảm tức là : -Giảm lượng giống

- Giảm lượng thuốc trừ sâu, bệnh - Giảm lượng phân đạm Khi áp dụng 3 giảm thì năng suất không giảm mà có chiều hướng tăng và điều chính yếu

là tăng lợi nhuận cho người nông dân trồng lúa 3 tăng tức là: - Tăng năng suất lúa - Tăng chất lượng lúa gạo - Tăng hiệu quả kinh tế Như vậy, muốn tăng năng suất cần áp dụng 3 giảm Muốn tăng chất lượng lúa gạo cần sử dụng đúng giống lúa, bón phân cân đối hợp lý Nếu áp dụng tốt chương trình 3 giảm và 3 yếu tố tăng kể trên thì việc tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng lúa rất dễ dàng đạt được

Hệ thống canh tác lúa theo hình thức 3 giảm 3 tăng bước đầu cho kết quả: lượng thóc giống giảm 70% so với ruộng của nông dân, lượng phân đạm giảm 20% đến 25%, năng suất tăng bình quân từ 9% đến 15% Do cây lúa khoẻ nên khả năng kháng sâu bệnh tốt làm giảm lượng thuốc phòng chống sâu bệnh, một số mô hình đã không sử dụng thuốc phòng trừ sâu bệnh lúa vẫn cho năng suất cao và chất lượng tốt Theo Đặng Thị Bình

Trang 9

và các cộng sự (1993) [3]

Một số địa phương đi đầu trong việc áp dụng chương trình 3 giảm 3 tăng là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh trung du Bắc bộ Kết quả bước đầu ứng dụng cho thấy hệ thống kỹ thuật này thực sự có ý nghĩa trong canh tác lúa bền vững Để góp phần đạt được ý nghĩa khoa học của

mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng, được sự nhất trí của khoa sau đại học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên chúng tôi tiến hành thực

hiện đề tài: “Điều tra thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu

hại chủ yếu và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên”

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

2.1 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở điều tra thành phần sâu hại lúa, diễn biễn mật độ của các loài sâu hại chính và thiên địch chủ yếu qua các giai đoạn sinh trưởng của lúa và qua sự tác động của một số biện pháp kỹ thuật trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên, để đưa ra những khuyến cáo trong việc canh tác lúa hợp lý, nhằm giảm mức độ thiệt hại do sâu hại gây

ra, góp phần nâng cao năng suất, phẩm chất lúa đồng thời tiết kiệm được chi phí cho người sản xuất

2.2 Yêu cầu của đề tài

+ Điều tra thành phần sâu hại lúa và thiên địch chủ yếu trên trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà

+ Điều tra diễn biễn mật độ của các loài sâu hại và thiên địch chủ yếu qua các giai đoạn sinh trưởng của lúa trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà

+ Điều tra diễn biễn mật độ của các loài sâu hại chính và thiên địch dưới sự tác động của một số biện pháp kỹ thuật (mật độ cấy, bón phân, phun thuốc BVTV) trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà

+ Đề xuất biện pháp canh tác hợp lý nhằm giảm mức độ thiệt hại do sâu hại gây ra, góp phần nâng cao năng suất, phẩm chất lúa và tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng lúa

Trang 10

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Đề tài cung cấp những dẫn liệu khoa học về thành phần và diễn biến mật độ một số sâu hại và thiên địch chủ yếu qua các giai đoạn sinh trưởng của lúa Những dẫn liệu khoa học về diễn biến mật độ một số sâu hại và thiên địch chủ yếu dưới sự tác động của các biện pháp kỹ thuật trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng và canh tác thông thường, góp phần đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong canh tác lúa phù hợp với điều kiện ở thành phố Thái Nguyên

4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Qua kết quả điều tra về tập quán canh tác lúa của nông dân cho thấy

có một bộ phận nông dân còn: Bón nhiều đạm, bón không cân đối, bón chưa đúng thời điểm, chưa đúng cách, phun thuốc trừ sâu khi chưa cần thiết Hậu quả là sâu bệnh nhiều, chi phí cao Vì vậy, đề tài được thực hiện tại những vùng trồng lúa có kiến thức canh tác lúa bền vững còn hạn chế

Qua việc thử nghiệm về mật độ cấy, bón phân và sử dụng thuốc BVTV để xác định rõ những ưu, nhược điểm của các biện kỹ thuật của nông dân áp dụng, khắc phục những nhược điểm đó bằng áp dụng những biện pháp hợp lý nhằm giảm chi phí, giảm độc hại cho môi trường và sức khoẻ mà vẫn đạt hiệu quả kinh tế

Mục tiêu chung là góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đồng thời đưa ra được những khuyến cáo trong việc bố trí cơ cấu giống cây trồng hợp lý để giảm áp lực của dịch hại, giữ môi trường trong sạch, cân bằng sinh thái, hướng tới mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp an toàn và bền vững

Đề tài đi sâu nghiên cứu diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân hai chấm, rầy nâu và thiên địch của chúng góp phần tích cực cho công tác

dự tính dự báo, cũng như công tác chỉ đạo bảo vệ thực vật của tỉnh

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Chúng ta đã biết sự phát sinh và tác hại của sâu bệnh có quan hệ rất lớn với các biện pháp kỹ thuật canh tác Thói quen, tập quán canh tác các giống lúa của người dân đã khiến cho nhiều vụ lúa bị ảnh hưởng nặng nề bởi sâu bệnh, năng suất lúa qua các vụ không ổn định Thực trạng trong canh tác lúa: Nông dân thường gieo mạ dược và gieo quá dày, tuổi mạ quá nhiều ngày, cấy khi cây mạ già, có những nơi cấy khi mạ đã 6-7 lá lá thậm chí còn nhiều hơn; số dảnh cấy quá nhiều: cấy 5-6 dảnh/ khóm, và cấy tới 50 - 55 khóm/m2 gây tốn kém khá nhiều giống, sẽ làm cho sâu hại phát sinh sớm, và dễ bùng phát thành dịch, đồng thời gây khó khăn cho việc phòng trừ

Mặt khác, do không có phân hữu cơ, quá lạm dụng phân vô cơ: bón đạm cao hơn so với nhu cầu của cây lúa và không cân đối, đạm không được vùi sâu dễ mất đạm do bị rửa trôi, bị bay hơi, quan trọng hơn là đa phần bón không đúng thời điểm cây cần bón, thường bón phân muộn, bón lai rai nhiều lần, cây lúa không đẻ tập trung, nhiều dảnh vô hiệu, dẫn đến năng suất thấp Canh tác theo kiểu trên cũng là nguyên nhân gây bùng phát các loại sâu bệnh hại Theo báo cáo của Cục BVTV năm 2007 [19] Một hiện tượng rất phổ biến trong thực tế là nhiề u người muốn cây trồng sinh trưởng tốt mà bón nhiều đạm, ít chú ý bón lân và kali làm cho cây quá xanh tốt và mềm yếu, tạo điều kiện thích hợp cho sâu phát triển phá hại làm giảm năng suất; điển hình như: sâu cuốn lá, rầy nâu…, Phân bón khi sử dụng sẽ để lại một lượng không nhỏ dư lượng do không được cây trồng hấp thụ, sẽ tác động tiêu cực đến chính hệ sinh thái nông nghiệp Uớc tính năm 2007, có khoảng 60-65% lượng phân đạm không được cây trồng hấp thụ (tương ứng với 1,77 triệu tấn urê, 55- 60% lượng lân tương đương với 2,07 triệu tấn supe lân và 55-60% lượng kali tương đương với 344 nghìn tấn Kali Clorua (KCl) được bón vào đất nhưng chưa được cây trồng sử dụng)

Bên cạnh đó Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được sử dụng ngày càng gia tăng, trong đó có rất nhiều thuốc bảo vệ thực vật không rõ nguồn

Trang 12

gốc xuất xứ, trôi nổi trên thị trường Đến tháng 8 năm 2007, lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu phải tiêu huỷ 152 tấn Việc lạm dụng thuốc BVTV trong phòng trừ dịch hại, sử dụng tuỳ tiện không tuân thủ các quy trình kỹ thuật, không đảm bảo thời gian cách ly của từng loại thuốc đã dẫn đến hậu quả nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm, mất an toàn vệ sinh thực phẩm, đồng ruộng bị ô nhiễm Việc sử dụng thuốc không đúng kỹ thuật làm cho sâu bệnh quen thuốc gây ra hiện tượng kháng thuốc BVTV, mặt khác do sử dụng nhiều loại thuốc BVTV làm cho các loài sinh vật có ích (thiên địch)

bị tiêu diệt, gây mất cân bằng sinh thái và như vậy sâu hại càng phát triển mạnh hơn và nông dân càng dùng thuốc nhiều hơn đã khiến cho sâu có xu hướng phát triển và gây hại mạnh hơn, do đó khiến cho việc phòng trừ sâu bệnh càng khó khăn hơn Theo Trần Huy Thọ (1983) [50], thiệt hại do sâu hại lúa gây ra lớn nhất ở Châu Á (31,5%) Ở Việt Nam sâu hại gây thất thu 10% sản lượng, có một số nơi không cho thu hoạch

Việc cấy quá dày hay bón phân hoá học và phun thuốc BVTV bừa bãi cho lúa là một hành động “nuông chiều” hơi thái quá của con người với một loại cây đã khẳng định được sự tồn tại vững chắc của nó trong tự nhiên Bởi trong hệ sinh thái đồng ruộng, mối quan hệ giữa cây lúa và thiên địch, sâu hại là một hệ sinh học thống nhất mà cây lúa đóng vai trò rất quan trọng Một mặt, cây lúa với cương vị là yếu tố ngoại cảnh quyết định điều kiện sinh thái tại nơi cư trú của sâu hại và thiên địch Mặt khác, khi với cương vị là nguồn thức ăn của sâu hại thì cây lúa đã ảnh hưởng trực tiếp đến trạng thái sinh lý của sâu hại, điều này cũng gây ảnh hưởng đến thiên địch Trong mối quan hệ này, thiên địch có vai trò hạn chế số lượng quần thể sâu hại và nếu không có các tác động khác ảnh hưởng đến mối quan hệ này thì các thiên địch có thể kìm hãm được số lượng sâu hại chính ở dưới mức gây hại có ý nghĩa kinh tế mà không cần tiến hành các biện pháp phòng trừ

Từ những cơ sở khoa học trên với mục đích góp phần làm giảm nhẹ thiệt hại do sâu hại gây ra cho cây lúa, giảm thiểu chi phí về phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nâng cao thu nhập, xây dựng kinh tế bền vững cho

hộ nông dân, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tình hình phát sinh gây hại của

Trang 13

một số sâu hại chính trên mô hình canh tác lúa 3 giảm- 3 tăng tại thành phố Thái nguyên

1.2 Tình hình nghiên cứu về mức độ sâu hại gây ra cho lúa, nghiên cứu một số sâu hai lúa chủ yếu và thiên địch ở nước ngoài và trong nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu mức độ sâu hại gây ra cho lúa ở nước ngoài

Theo tính toán của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Thế giới (FAO) thì hàng năm sâu bệnh làm mất từ 15-30% tổng sản lượng nông nghiệp trên thế giới Ở nhiều nước tỉ lệ này cao hơn, có trường hợp lên đến trên 50% Riêng đối với lúa và ngũ cốc, hàng năm trên thế giới thiệt hại do sâu bệnh gây hại đạt đến 100 triệu tấn, số lương thực này đủ để nuôi 450 triệu người ăn trong một năm, sâu hại là một trong những nguyên nhân gây nên thiệt hại Đối với sản xuất nông nghiệp, yếu tố chính làm hạn chế năng suất cây trồng là dịch hại (sâu, bệnh hại, cỏ dại) Trong đó, riêng sâu hại đã lấy đi hơn 13% tổng sản lượng, với tổng giá trị ước tính 29,7 tỉ đô la (Cramer, 1997, dẫn theo Hà Quang Hùng, 1998) [27] Ở Việt Nam (Nguyễn Công Thuật, 1996) [52] cũng xác định nhận mức độ thiệt hại khá lớn do sâu bệnh, với 20% sản lượng cây trồng bị mất Thiệt hại do sâu hại gây ra cho lúa ở châu Á trung bình là 34,4% (Cramer.1967) [27], trong thí nghiệm ở Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế là khoảng 40% Thành phần côn trùng và nhện nhỏ dùng cây lúa làm thức ăn khá phong phú Trên thế giới

đã ghi nhận được hơn 800 loài côn trùng gây hại cho lúc ở nhiều mức độ khác nhau (Shepard, 1994) [89]

1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu một số sâu hại chủ yếu trên lúa ở nước ngoài

a/ Sâu cuốn lá nhỏ :

* Thành phần: Kết quả nghiên cứu về thành phần sâu cuốn lá nhỏ của W.H Reissig, E.A Heinrichs, J.A.Litsinger, K.Moondy (1985) [100] cho thấy

ở Châu Á có bốn loài: Cnaphalocrocis medinalis Guenee, Marasmia (Susumia)

exgua Butler, Marasmia patnalis Bredley và Marasmia Ruralis Walker Cả

bốn loài này đều thuộc họ ngài sáng (Pyralidae), bộ cánh vẩy (Lepidoptera)

* Sự phân bố: Sâu cuốn lá nhỏ tập trung nhiều nhất ở Châu Á Loài

C.medinalis Guenee phân bố chủ yếu ở Châu Á, Châu Phi, Châu Úc và

các nước Đông Nam Á Loài Marasmia exigua Butler phân bố chủ yếu ở

Ấn Độ, Nephan, Banglades, Malaysia, Triều Tiên, Nhật Bản Gonzales

Trang 14

(1974) [73] Loài Marasmia patnalis Bredley Phân bố ở Philippine, Malaysia và một phần Indonesia Loài Marasmia runalis Walker phân bố

hẹp chỉ có ở Phinippine và một vùng nhỏ của malaysia Theo J.A Litsinger, B.L Canapi và cộng tác viên ( 1987) [76]

* Đặc điểm hình thái và sinh học: Các pha phát dục của sâu cuốn lá nhỏ đã được Barrion cùng cộng sự (1991) [64] công bố như sau:

- Trứng được đẻ thành từng quả rải rác hoặc thành cụm từ 3 - 8 trứng ở mặt dưới lá lúa, trong 24 giờ trứng thành thục dài 0,93 mm màu vàng sáng, hình ovan, mặt bụng phẳng, mặt trên gồ lên ở đoạn giữa

- Sâu non có 5 tuối mới nở có màu trắng sữa, đầu nâu đậm hoặc đen sau chuyển sang màu trắng xám hoặc vàng sáng, trên cơ thể có nhiều lông ngắn Tuổi 1 cơ thể nhỏ dài 2 mm rộng 0,2 mm; tuổi 2 dài 4,4 mm rộng 0,68 mm; tuổi 3 dài 7 mm rộng 1,2 mm; tuổi 4 cơ thể mập mạp dài 9 - 10 mm rộng 0,68 mm; tuổi 5 đầu nâu sáng, cơ thể được bao phủ bởi các lông cứng màu nâu nhạt, sâu đẫy sức dài 16 mm rộng 1,8

mm, cuối tuổi 5 sâu non nhả tơ tạo kén trong tổ cũ, cơ thể chuyển màu vàng nhạt, nằm im từ 24 - 48 giờ, giai đoạn tiền nhộng chuyển sang màu nâu sáng

- Nhộng nằm ở trong tổ cuốn, màu sắc chuyển từ nâu sáng thành nâu đỏ, nhộng có chiều dài 9 - 12 mm, rộng 1,6 - 3 mm, nhộng có các rãnh sinh dục rõ ở đốt bụng thứ 8, con đực là đốt bụng thứ 9

- Trưởng thành có màu nâu vàng, vân mép cánh rộng màu nâu đậm,

có 3 vân ngang hình lượn sóng ở cánh trước, vân trong và vân ngoài là vân liền, vân giữa là vân cụt, sải cánh dài 17 - 20 mm, con đực có túm lông màu nâu nhạt hoặc trắng xám sắp xếp trên mạch C của cánh trước

Theo Chen và cộng sự (1983) [68] cho rằng sức đẻ trứng trung bình là

153 trứng/con cái Sâu cuốn lá nhỏ rất phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu

ở Trung Quốc, giai đoạn phát dục của sâu cuốn lá nhỏ ngắn lại khi nhiệt độ cao Sau khi qua đông, hoạt động sinh sản của con cái trở lại bình thường

Có 5 lứa sâu trong 1 năm Theo Hirao (1982) [75] Vào tháng 8 và tháng 9 quần thể sâu hại tạm ngừng sinh trưởng, ngài sống từ 4 - 7 ngày Ở Philippin, Barrion và cộng sự (1991)[64], (1980)[63], Mun Y.D (1982)[86], thời gian

từ trứng đến trưởng thành là 25 - 52 ngày Trong đó thời gian trứng là 3 - 6

Trang 15

ngày, sâu non là 15 - 36 ngày, nhộng là 6 - 9 ngày

* Thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ: Ở Trung Quốc có 30 loài ong kí

sinh trong đó loài có khả năng kí sinh cao nhất là Apanteles cypris và

Elasmus sp CABI (1999) [65] Các tác giả Chen và Chin (1983) [68] cho

thấy có 25 loài thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ, trong đó có 21 loài là ong kí

sinh, 2 loài là nhện ăn thịt và 2 loài nấm gây bệnh Ong Trichogramma

chilonis và Apanteles cypris có mặt thường xuyên trên đồng ruộng và là

những loài giữ vai trò chủ yếu trong việc khống chế số lượng sâu cuốn lá nhỏ, Liang (1984) [83] Ở Philippin người ta phát hiện có nhiều loài

thiên địch bắt mồi sâu cuốn lá nhỏ như nhện Lycosa, Oxyopes,

Tetragnatha sp và 6 loài kiến, những loài kiến này 1 giờ có thể diệt từ 4 -

10 sâu non cuốn lá nhỏ JiA Litsinger (1980) [63] W.H.Reissing và cộng

sự (1986) [91] cho biết trên đồng ruộng vùng nhiệt đới các kẻ thù tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ hoạt động rất tích cực, chúng tấn công sâu cuốn lá nhỏ ở tất cả các pha phát dục Theo Alam (1964) [62] thì kẻ thù

tự nhiên của sâu cuốn lá nhỏ có vai trò giữ cho chủng quần của sâu cuốn lá nhỏ phát triển dưới ngưỡng gây hại mà tại đó không cần sử dụng biện pháp phòng trừ Tác giả H.C.Copel, J.W.Mestins (1977) [70] kết luận các loài côn trùng kí sinh, côn trùng bắt mồi và nhện ăn thịt có vai trò rất quan trọng trong đấu tranh sinh học

* Biện pháp phòng trừ:

- Sử dụng giống kháng: Tại Ấn Độ khi khảo nghiệm 384 giống lúa

đối với sâu cuốn lá nhỏ ở hai địa phương Gurdaspur và Kapurthala Kết quả nhận được 15 giống kháng ở Gurdaspur và 2 giống kháng ở Kapurthala, nhưng chỉ có một giống kháng chung cho cả 2 địa phương trên, đó là giống IET.7776 Jaswant và Dhaliwai Cabi (2005) [66] Việc bố trí tỉ lệ hợp lý các giống kháng sâu cuốn lá nhỏ là một giải pháp nhằm giảm áp lực sâu cuốn lá nhỏ đồng thời tăng tính đa dạng sinh học trên đồng ruộng nhằm hạn chế thiệt hại

do loài sâu này gây ra, Saroja (1981) [93] Đây là một biện pháp chủ động, an toàn sinh thái và nên thực hiện trong hệ thống phòng trừ tổng hợp sâu cuốn lá nhỏ Pathak M.D [90]

- Biện pháp canh tác: Mật đ ộ cấy cũng có ảnh hưởng lớn đến mật

độ sâu cuốn lá nhỏ phát sinh, phát triển.Việc bố trí thời vụ gieo cấy

Trang 16

cũng có ảnh hưởng đến mật độ sâu cuốn lá nhỏ, nếu bố trí cấy thời vụ sớm thì cây lúa sinh trưởng nhanh có tác dụng tránh được lứa sâu cuốn lá gây hại vào khoảng cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 giúp cho cây lúa ít bị ảnh hưởng của lứa sâu này (Theo Chiu.S.F 1980) [69]

- Biện pháp sinh học: Tại Quảng Đông Trung Quốc loài ong

Trichogramma japonicum Aslimead đã được sử dụng để diệt trứng sâu

cuốn lá nhỏ, làm giảm tỉ lệ lá lúa bị sâu hại là 92,8% so với đối chứng, Shen (1984) [94] Lượng ong thả là 15 vạn con/ha nếu mật độ là 5 trứng/khóm, có thể thả liên tục 3 - 4 lần cách nhau 1 - 2 ngày, Shepard (1986)

[95] Ong Apanteles cypris cũng là loài ong kí sinh chuyên tính trên sâu non

tuổi nhỏ rất phổ biến tại Trung Quốc Việc phun lên cây lúa chất Kairomon và chất tiết từ tuyến nước bọt của sâu non đã làm tăng tỉ lệ kí sinh tới 15 - 25% (Theo Catling H.D, (1983) [67]

- Biện pháp hoá học : Theo Coppel và cộng sự (1977) [70] nông dân

sử dụng tới 40% số lần phun thuốc để trừ sâu cuốn lá nhỏ, trong điều kiện nghiên cứu khi nông dân không phun giai đoạn đầu vụ thì không làm thiệt hại kinh tế, tăng thu nhập từ 15 - 30% và tiết kiệm được chi phí thuốc trừ sâu Ngày nay xu hướng sử dụng những thuốc trừ sâu có phổ hẹp ít hoặc không ảnh hưởng đến thiên địch và các loài sinh vật khác Thuốc trừ sâu có nguồn gốc vi sinh và thảo mộc được chú trọng

b/ sâu đục thân lúa hai chấm

* Thành phần : Theo Pathak (1994) [90], trên thế giới đã phát hiện được

24 loài sâu đục thân lúa Trong đó, ở châu Phi có 4 loài gồm Chilo agamemnon Blez., Chilo zacconius Blez., Maliarpha separatella (Rog.) và Sesamia

calamistis (Hamp.) Ở Châu Mỹ đã ghi nhận được 6 loài sâu đục thân lúa gồm Chilo loftini (Dyar), Chilo plejadellus (Zink.), Diatraea saccharalis (Fabr.), Elasmopalpus lignosellus (Zell.), Rupela albinella (Cramer) và Zeadiatraea lineolata (Walk.), Shepard (1991) [96] Lúa ở châu Úc đã phát hiện có 2 loài

sâu đục thân gây hại là Niphadoses palleucus Com và Phragmatiphila sp,

Thangamuthu (1982) [98] Tại các nước châu Á có số loài sâu đục thân lúa đã

phát hiện được nhiều nhất, đạt tới 9 loài, đó là các loài Ancylolomia

chrysographella Koll., Chilo auricilius (Dudg.), Chilo partellus (Swin.), Chilo polychrysus (Meyr.), Chilo suppressalis (Walk.), Niphadoses gilviberbis (Zell.),

Trang 17

Tryporyza incertulas (Walk.), Scirpophaga innotata (Walk.), Sesamia inferens

(Walk.) Pathak (1986) [90] Riêng vùng trồng lúa Đông Nam Á có 7 loài sâu đục

thân sau : Ancylolomia chrysographella Koll., Chilo auricilius (Dudg.), Chilo

polychrysus (Meyr.), Chilo suppressalis (Walk.), Scirpophaga incertulas

(Walk.), Scirpophaga innotata (Walk.), Sesamia inferens (Walk.) (Pathak,

1975; Reissig et al., 1986) [90], [91]

* Phân bố : Theo Pathak (1994) [90], sâu đục thân lúa hai chấm chỉ

có phân bố ở vùng trồng lúa châu Á Đến nay đã ghi nhận sâu đục thân lúa hai chấm có ở các nước như Afghanistan, Ấn Độ, Bangladesh, Bhutan, Burma, Cam-pu-chia, Đài Loan, Indonesia, Lào, Malaysia, Nepal, Nhật Bản, Pakistan, Philippine, SriLanka, Thái Lan, Trung Quốc và Việt Nam (Dale,

1994 [71]); Tirawat (1982) [99]

* Đặc điểm hình thái và sinh học: Sâu đục thân lúa hai chấm thuộc

bộ cánh vảy Lepidoptera Vòng đời có 4 pha phát dục là pha trứng, pha sâu non, pha nhộng và pha trưởng thành Trứng được đẻ thành ổ ở gần ngọn lá lúa, được bao phủ bằng lớp lông màu nâu vàng da cam có ở đốt cuối phần bụng của trưởng thành cái Thời gian phát dục của pha trứng biến động từ 5 ngày đến 8 ngày (Dale, 1994 [71]; Reissig et al., 1986) [91] [92] Sâu non có 5 tuổi Theo Pathak (1975) [90], sâu non đục thân lúa hai chấm có 4 - 7 tuổi Sâu non tuổi 1 khi mới nở có chiều dài 1,5 mm, thân màu vàng nhạt, phát tán rất mạnh Sâu non tuổi 5 thành thục có chiều dài cơ thể khoảng 25 mm màu trắng hơi vàng Thời gian

phát dục của pha sâu non kéo dài khoảng từ 30 ngày đến 35 - 46 ngày

Nhộng mới nở có màu sáng nhạt, sau đó có màu nâu tối hơn Nhộng làm trong một kén mỏng màu trắng Trước khi hoá nhộng, sâu non tuổi cuối đã đục một lỗ ở thân cây lúa để trưởng thành vũ hoá chui ra Thời gian phát dục của pha nhộng khoảng 6 - 10 ngày, nếu thời tiết lạnh có thể dài hơn Theo Jaswant (1984) [77]; Kamran (1969) [78]; Kim

(1986) [79]

Trưởng thành loài sâu đục thân lúa hai chấm có biểu hiện lưỡng hình sinh dục T h e o K i r i t a n i ( 1 9 7 9 ) [ 8 0 ] Trưởng thành cái có kích thước lớn hơn trưởng thành đực Cánh trước của trưởng thành cái

có màu nâu vàng sáng và một chấm đen rõ ràng ở giữa cánh Cuối bụng

Trang 18

của trưởng thành cái có túm lông vàng Trưởng thành đực có màu hơi vàng Chấm đen trên giữa cánh trước không rõ ràng (Dale, 1994) [71] Trưởng thành chỉ giao phối 1 lần, đẻ trứng từ đêm thứ 2 kể từ khi vũ hoá, mỗi đêm đẻ 1 ổ trứng mỗi con cái đẻ từ 2- 5 ổ (Pathak, 1969) [90] Để hoàn thành một vòng đời, sâu đục thân hai chấm cần 46 – 54 ngày (Dale, 1994; Reissig et al., 1986) [71], [91] Trưởng thành cái sâu đục thân lúa hai chấm có thể đẻ được 100 - 200 trứng [90] Theo Dale (1994) [71] cho rằng một trưởng thành cái đẻ được lượng trứng ít hơn, chỉ là 100 - 150 trứng Theo Reissig et al (1986) [91] cho rằng một trưởng thành cái đẻ được 200 - 300 trứng Theo Dale (1994) [71], trưởng thành đực và trưởng thành cái loài sâu đục thân lúa hai chấm có tuổi thọ không giống nhau Trưởng thành đực của loài sâu đục thân lúa hai chấm thường có tuổi thọ (4,5 - 8,6 ngày) ngắn hơn tuổi thọ của trưởng thành cái (5,3 - 8,8 ngày), Pham Van Lam (1999) [82]

* Thiên địch của sâu đục thân lúa hai chấm :

Các loài sâu đục thân lúa bị trên dưới 100 loài thiên địch tấn công, trong đó chủ yếu là các ký sinh (Yasumatsu, 1964) [101] Số lượng loài thiên địch của các sâu đục thân lúa đã phát hiện được ở Philippine và

Thái Lan tương ứng là 40 và 37 loài Sâu đục thân năm vạch Chilo

suppressalis và sâu đục thân lúa hai chấm Scirpophaga incertulas ở trên

thế giới (tương ứng) đã ghi nhận được 73 và 56 loài ký sinh Con số này ở

Ấn Độ tương ứng là 19 và 56 loài; ở Philippine là 21 và 17 loài Zhang G.E (1995) [103] Trung Quốc nếu tính cả các loài bắt mồi và gây bệnh thì sâu đục

thân lúa hai chấm Scirpophaga incertulas có 113 loài thiên địch, (dẫn theo

Phạm Văn Lầm, (2002) [36] (2000) [35]

Các loài ký sinh nhộng, ký sinh sâu non và vi sinh vật gây bệnh có thể gây chết tới 58% nhóm sâu đục thân lúa ở vùng Warangal của Ấn Độ Các

loài ong Bracon onukii và Bracon chinensis là những ký sinh quan trọng ở

pha sâu non của sâu đục thân lúa tại Nhật Bản Chúng có thể gây chết 20 -

30% nhóm sâu đục thân lúa, có khi tới trên 50% Ong Cotesia flavipes là ký sinh sâu non quan trọng ở Ấn Độ, ong Cotesia chilonis là ký sinh sâu non

quan trọng ở Nhật Bản Tỷ lệ này có khi đạt tối đa tới 100% vào thời điểm cây lúa được 100 ngày sau cấy (Subba Rao et al., 1983 [97]; Yasumatsu, 1964, [101]) Các loài bắt mồi cũng có vai trò khá quan trọng trong tiêu diệt các

Trang 19

pha phát dục khác nhau của nhóm sâu đục thân lúa Loài muồm muỗm

nhỏ Conocephalus longipennis có thể tiêu diệt được 65% trứng sâu đục thân lúa hai chấm Một cá thể của loài muồm muỗm nhỏ C longipennis

có thể tiêu diệt được 8 ổ trứng sâu đục thân lúa hai chấm trong 3 ngày

Nhện sói vân hình đinh ba Pardosa pseudoannulata một ngày có thể tiêu

diệt hàng trăm sâu non của sâu đục thân lúa, đồng thời nó cũng có khả năng tấn công pha trưởng thành của các loài sâu đục thân lúa (Yarumatsu

1964 [101])

* Các biện pháp phòng trừ :

- Canh tác : Bố trí thời vụ sớm có thể tránh được sự gây hại bởi lứa 2

của sâu đục thân lúa hai chấm Tryporyza incertulas (Chiu, 1980) [69]

- Luân canh : Luân canh lúa với cây trồng khác được khuyến cáo

để trừ sâu đục thân lúa hai chấm (Chelliah, 1985 [84]; Litsinger, 1994 [88]; Oka, 1979 [88]; Reissig et al., 1986 [91]) Luân canh cây lúa với cây ngô, cây lúa mì thì lại làm tăng mật độ quần thể của sâu đục thân thuộc các

giống Diatraea, Chilo và Sesamia (Litsinger, 1994) [84] Làm ngập nước

ruộng vào mùa xuân ở vùng Quảng Châu (Trung Quốc) có hiệu quả diệt

trừ sâu đục thân lúa hai chấm Scirpophaga incertulas (Chiu,1980) [69]

- Bón phân : Cây lúa được bón nhiều phân đạm sẽ hấp dẫn trưởng thành

cái loài sâu đục thân lúa hai chấm đến đẻ trứng Bón phân chứa silica, kali sẽ làm tăng tính chống chịu sâu đục thân của cây lúa (Dale, 1994 [71]; Litsinger, 1994 [84])

- Sử dụng giống lúa kháng sâu hại: Đây là biện pháp dễ sử dụng

hơn cả nhất là đối với nông dân vùng nhiệt đới châu Á có diện tích canh

tác không lớn và tiềm năng kinh tế có hạn (Heinrichs et al., (1981) [74]

- Biện pháp sinh học: Ở đảo Andama (Ấn Độ) đã nghiên cứu dùng ong

mắt đỏ Trichogramma sp để trừ sâu đục thân lúa hai chấm S.incertulas cho

kết quả tốt Thiệt hại do sâu đục thân lúa hai chấm giảm còn 1,6% ở nơi dùng ong mắt đỏ, trong khi đó ở đối chứng tỉ lệ này đạt cao hơn và là 10,3% Biện pháp sử dụng ong mắt đỏ trừ sâu hại lúa cũng được nghiên cứu nhiều ở Trung Quốc và Ấn Độ để trừ sâu cuốn lá nhỏ và sâu đục thân Tại Karnataka (Ấn Độ) đã nghiên cứu thả ong mắt đỏ màu đen

Trichogramma japonicum định kỳ một tuần một lần để trừ sâu cuốn lá

nhỏ và sâu đục thân lúa hai chấm (Misra et al., 1994) [85]

- Biện pháp hoá học : Kumar (1995) [81] khuyến cáo cần dựa vào kết

Trang 20

quả theo dõi bẫy đèn để xác định thời điểm phun thuốc trừ một số sâu hại lúa,

trong đó có sâu đục thân lúa hai chấm S incertulas Ơ và Yu (1980) [102] đã

khuyến cáo thời điểm phun thuốc đúng để trừ sâu đục thân lúa hai chấm là 1 - 2 ngày trước đỉnh cao sâu non nở rộ

c/ Rầy nâu :

Rầy nâu hay còn được gọi là muội nâu có tên khoa học là

Nilaparvata lugens Stal, thuộc giống Nilaparvata, thuộc họ muội bay Delphacidae, bộ nhỏ Fulgoromorpha, bộ phụ Auchenorrhynacha bộ cánh

đều Homoptera

Rầy nâu Nilaparvata lugens gây hại trên lúa đã được tìm ra ở Hàn

Quốc năm thứ 18 sau Công nguyên, còn ở Nhật Bản là năm 697 (Henrichs,

1981) [74] Rầy nâu được Stal đặt tên đầu tiên vào năm 1854 là Delphax

lugens Stal Sau đó được đổi tên thành Nilaparvata bởi Muir và Giffard

năm 1924 Rầy nâu phân bố chủ yếu ở nhiều nước phía Đông Á và một số đảo thuộc Thái Bình Dương Rầy nâu sinh sống chủ yếu trên cây lúa

(Oryza sativa L.), nhưng ngoài ra chúng còn phát triển trên 1 số giống lúa dại và cỏ môi Leersia hexandra

Một vòng đời của rầy nâu dài hay ngắn còn phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường, nếu nhiệt độ 25oC thì vòng đời của rầy nâu khoảng 28 – 32 ngày còn nhiệt độ 28oC thì khoảng 23 – 25 ngày Tại vùng nhiệt đới thì khoảng thời gian của 1 vụ lúa kéo dài từ 78 – 230 ngày tuỳ thuộc vào từng loại giống, Trong 1 vụ lúa thì rầy nâu có thể có từ 2 - 8 lứa chẳng hạn như ở miền Nam của Nhật Bản thì rầy nâu có 5 lứa trong 1 vụ, còn ở Trung Quốc là

5 hoặc 6 lứa, trong khi đó ở Indonesia có từ 4 đến 5 lứa (Pathak 1994) [90] Tuy nhiên tuỳ thuộc vào địa hình mà số lứa rầy trong năm cũng khác nhau

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

1.2.2.1 Những nghiên cứu về sâu hại

* Nghiên cứu về thành phần:

Theo PGS Nguyễn Công Thuật ở phía Bắc qua điều tra cơ bản (1967-1968) Viện BVTV (1976) [58] [59], đã phát hiện có 88 loài sâu hại lúa, còn ở miền Nam (1977-1979) Đỗ Xuân Bành (1990) [1]; Viện BVTV (1999) [60] đã phát hiện được 78 loài, trong đó có 6 loài gây hại chủ yếu như: rầy nâu, sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân bướm 2 chấm, bọ xít dài, sâu năn, sâu phao và 15 loài gây hại thứ yếu Cục BVTV (1984) [13] Theo kỹ

Trang 21

sư Nguyễn Văn Hạ, Trung tâm Bảo vệ thực vật miền Trung qua điều tra sâu bệnh hại lúa ở miền Trung từ năm 1984-1988 đã xác định được 6 loài sâu hại chính đó là: sâu đục thân bướm 2 chấm, sâu cuốn lá nhỏ, sâu phao, rầy nâu, rầy lưng trắng, bọ xít dài, sâu năn, Cục BVTV (2007) [19], qua nghiên cứu điều tra sâu hại lúa vùng đầm phá tại Thừa Thiên Huế đã xác định được 6 loài sâu hại chính đó là: sâu cuốn lá nhỏ, sâu cuốn lá lớn, sâu năn, bọ xít dài, châu chấu lúa, bọ xít xanh, trong đó sâu cuốn lá nhỏ, bọ xít lúa và sâu năn là phổ biến nhất, Nguyễn Trường Thành (2003) [48]; Cục BVTV - Báo cáo tổng kết 2005; 2006 [17]; [18]

* Nghiên cứu về ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến sâu hại:

- Theo Phạm Văn Lầm (1994) [33] Ảnh hưởng thuốc hóa học : Việc

sử dụng biện pháp hoá học để phòng trừ sâu bệnh trong một thời gian dài

đã gây ra nhiều tác hại đáng kể Trong khi sử dụng thuốc người ta nhận thấy muốn đạt được hiệu quả trừ sâu như lúc ban đầu, hàng năm cần phải tăng nồng độ thuốc Cho đến một lúc nào đó sâu bệnh trở nên quen thuốc

và không còn bị chết do thuốc, sâu đã hình thành tính kháng thuốc Từ việc kháng một loại thuốc, do sự sử dụng không đúng cách con người đã tạo ra các chủng sâu kháng lại tất cả các loại thuốc trừ sâu

Việc sử dụng thuốc trừ sâu thiếu thận trọng cũng làm xuất hiện những loại sâu hại mới mà trước đây chúng là loại sâu hại không quan trọng bị các loài khác lấn át

Sử dụng nhiều thuốc trừ sâu trên đồng ruộng cũng gây mất cân bằng sinh thái-đó là chuỗi mắt xích giữa cây trồng -sâu hại -thiên địch Thuốc sâu tiêu diệt thiên địch là yếu tố kìm hãm mật độ sâu hại -nên sâu phát triển

- Ảnh hưởng của thuốc sinh học : Để hạn chế tác hại của sâu bệnh, bảo

vệ môi trường cũng như sức khoẻ con người, thuốc trừ sâu sinh học (TTSSH) được coi là một biện pháp đầy tính khả thi Việc ứng dụng thành tựu này đã, đang là một vấn đề đáng chú ý đối với nông nghiệp Việt Nam

Trang 22

TTSSH được đưa vào nước ta từ đầu những năm 1970 với số lượng rất ít Đến nay, việc nghiên cứu TTSSH ở trong nước đã đạt được một số thành quả nhất định, tuy việc triển khai ứng dụng còn chậm Các vùng nông nghiệp, đặc biệt là các vùng trồng rau, đang tích cực triển khai việc sử dụng chế phẩm này Bên cạnh đó, các cơ sở thực nghiệm về công nghệ sinh học của chúng ta còn nhỏ hẹp, số lượng ít ỏi - đó là một nguyên nhân lớn dẫn đến sự hạn chế trong việc sản xuất và sử dụng TTSSH Về công tác giống, nhiều nước trên thế giới đều có hệ thống giống quốc gia rất tốt, từ khâu kiểm định, tàng trữ đến nghiên cứu phát triển, thu thập lai tạo Nhưng ở ta, công tác này còn khá thô sơ Trong phân phối sản phẩm, chúng ta quá quan tâm quảng bá cho các các loại thuốc trừ sâu hoá học và do vậy, không còn đất chen chân cho các chế phẩm TTSSH Đồng thời, do hạn chế về tuyên truyền và phố biến kiến thức, người nông dân chỉ mong muốn thuốc trừ sâu phải có hiệu quả tức thời và sử dụng thuận tiện, nên ít quan tâm đến các chế phẩm TTSSH, đó là chưa kể giá cả của loại mặt hàng này còn khá cao so với các loại thuốc trừ sâu hoá học Phạm Văn Lầm (1999) [34]

* Nghiên cứu về ảnh hưởng của thiên địch đến sâu hại

Theo Hà Quang Hùng (1998) [27], điều tra thành phần thiên địch là cơ

sở quan trọng để tiến hành điều tra, theo dõi diễn biến quy luật phát sinh, phát triển của một số loài sâu hại chủ yếu; khả năng khống chế sâu hại của một số loài thiên địch; là cơ sở xây dựng các biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại lúa Trong thiên nhiên, thiên địch có vai trò cân bằng hệ sinh thái Khi ruộng lúa có sâu hại thì thiên địch sẽ tới ăn hoặc đẻ trứng ký sinh rồi sau đó nở ra thế hệ mới, thế hệ sau nhiều hơn và nó ức chế mật số sâu hại Nếu sâu hại bộc phát lượng lớn quá và thiên địch quá ít không đủ sức

để tiêu diệt thì buộc phải sử dụng thuốc hoá học

Thứ nhất là làm thế nào trong khu vực mình có thiên địch sẵn để khi sâu hại tới nó tới liền và phải ở mật số càng cao Do đó không chỉ quản lý trên 1 ruộng mà trên toàn cả cánh đồng, vì ở những ruộng khác thiên địch cũng có thể bay tới ruộng của mình, nếu ruộng khác không có thiên địch, ruộng mình cũng không có thì như vậy không có thiên địch để ức chế sâu hại, Hà Quang Hùng (1986) [25]

Trang 23

Thứ hai con thiên địch có mặt khi có con sâu hại, vì nó ăn con sâu hại để sống nếu không có sâu hại cũng không có thiên địch, như vậy phải làm sao tạo ra môi trường có sẵn thức ăn cho thiên địch, đó là vào đầu vụ lúa không nên làm sạch cỏ trên bờ mà chỉ cắt xuống vừa phải để trên cỏ có những loại sân ăn lá sống trên đó và chính nó là nguồn thức ăn nuôi con thiên địch Việc dùng thuốc diệt sạch cỏ trên bờ là không có lợi, hà Quang Hùng (1986) [26]

Một vấn đề nữa khi dùng thuốc hoá học nên nghĩ tới chuyện chọn loại thuốc nào vừa có hiệu quả đối với sâu hại vừa ít có hại cho thiên địch Có những loại thuốc gây hại nhiều có những loại gây hại rất ít thậm chí có những loại không gây hại cho thiên địch Chúng ta chọn những loại thuốc

có thể giết chết con sâu hại nhưng không gây hại cho thiên địch đó là điều

có lợi để bảo vệ thiên địch trên đồng ruộng và việc làm này áp dụng cho toàn cả khu vực thì sau một vài vụ thiên địch có mật số cao thì có đủ sức để

ức chế khi mà sâu hại bộc phát trên ruộng

1.2.2.2 Tác dụng của biện pháp canh tác lúa 3 giảm 3 tăng đến sâu hại và thiên địch

Ngày nay, trong sản xuất lúa, việc lạm dụng phân hoá học và các hoá chất bảo vệ thực vật đã làm ô nhiễm môi trường, không khí, ô nhiễm nguồn nước, môi trường đất Sản xuất lúa ngày một gia tăng do đẩy mạnh thâm canh tăng vụ liên tiếp, nên sau một thời gian dài bị khống chế, các loại dịch hại đã phát dịch trở lại trên diện rộng do không cắt đứt được chu kỳ sinh trưởng và thích nghi được với khả năng kháng bệnh của các giống lúa, việc

sử dụng tràn lan các loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) Theo Cục BVTV (2007) [20], đã phá vỡ sự cân bằng sinh thái trong ruộng lúa ảnh hưởng đến các loài thiên địch có lợi, môi trường thiên nhiên bị huỷ hoại do cấu trúc đất bị phá vở, đất bị xói mòn, thoái hoá và suy kiệt, môi trường sống bị ô nhiễm, sức khoẻ con người bị tác động bởi các hoá chất độc hại và dư lượng thuốc BVTV còn tồn dư trong nông sản Thái Bắc (1976) [2]

Trước đây mỗi vụ nông dân phun 3-4 lần thuốc, nay giảm còn 2-3 lần Như vậy vẫn là nhiều Nhiều nông dân vẫn sử dụng nhiều giống, phân bón,

dù đã giảm so với trước đây Vì thế, mô “3 giảm, 3 tăng” hay đảm bảo được tiêu chí giảm thiểu tối đa việc sử dụng thuốc BVTV Vì nông dân khi

Trang 24

tham gia mô hình này chỉ còn phun đúng 1 lần thuốc hoặc không cần phun thuốc, nhờ đó phát huy được khả năng dùng hoa dẫn dụ thiên địch để diệt sâu rầy trên ruộng lúa Cục BVTV (2007) [20], [4]

* 3 Giảm: Giảm lượng giống gieo sạ (khoảng 120kg/ha), hiện nay theo

tập quán sản xuất của bà con nông dân thì lượng giống gieo sạ còn quá cao (từ 200 - 250 kg/ha) Với lượng giống gieo sạ cao như vậy sẽ làm tăng chi phí tiền giống, thứ hai làm tăng mật độ số cây lúa trên ruộng, việc tăng mật

độ này kéo theo hậu quả là dễ phát sinh sâu bệnh trên ruộng lúa, hao tốn thêm số lần phun xịt thuốc Đồng thời, nhiều cây lúa trên ruộng sẽ tiêu hao nhiều chất dinh dưỡng, phải bón thêm phân Yếu tố giảm thứ 2 là giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật (nên phun từ 1 - 2 lần tuỳ vào điều kiện của dịch hại) Thuốc BVTV nếu sử dụng liều lượng cao, nhiều lần sẽ gây hại cho con người, gia súc, gia cầm, động vật thuỷ sinh và môi trường đất, nước Yếu tố thứ 3 cần giảm đó là giảm lượng phân đạm Phân đạm làm cho lúa sinh trưởng nhanh, lá lúa chuyển màu xanh nhanh Nhưng nếu bón quá lượng phân đạm so với nhu cầu của cây lúa thì không những không làm tăng năng suất mà còn làm cho cây lúa mất cân đối về dinh dưỡng dễ

bị sâu bệnh tấn công, dẫn đến giảm năng suất Đồng thời lãng phí thêm tiền phân bón, lượng đạm dư thừa làm ô nhiễm môi trường Nên sử dụng bảng

so màu lá lúa để đáp ứng đúng và đủ nhu cầu đạm cho ruộng lúa

* 3 Tăng: Tăng năng suất lúa, tăng chất lượng lúa gạo, tăng hiệu quả

kinh tế Như vậy, muốn tăng năng suất cần áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, áp dụng 3 giảm Muốn tăng chất lượng lúa gạo cần sử dụng giống lúa chất lượng cao, bón phân cân đối hợp lý, chú ý các khâu kỹ thuật sau thu hoạch Nếu áp dụng tốt chương trình 3 giảm và 3 yếu tố tăng kể trên sẽ góp phần tăng hiệu quả kinh tế Theo khuyến cáo của Ngành Nông nghiệp cấy lúa đúng lịch thời vụ: giúp tránh được các đợt rầy di trú, tạo lợi thế cho cây lúa phát triển tốt Xuống giống đồng loạt, thu hoạch nhanh, làm thế nào để

có thời gian cách ly khoảng 3 tuần lễ giữa 2 vụ lúa trong cùng một khu vực (theo nhận định thường là trà lúa thứ 1 nuôi bệnh cho trà lúa thứ 2) nhằm cắt đứt nguồn lây truyền và thức ăn của sâu hại trên đồng ruộng, làm giảm mật số sâu hại và giảm nhẹ thiệt hại của một số bệnh khác Mật độ cấy thích hợp giúp lúa phát triển tốt, chế sâu bệnh phát triển, giúp chống chịu

Trang 25

tốt với sâu bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho thiên địch hoạt động làm giảm nhẹ thiệt hại do sâu bệnh gây ra Do đó cấy với mật độ thích hợp cũng là biện pháp giúp phòng ngừa sâu bệnh Cục BVTV (2007) [4]

1.2.2.3 Tình hình nghiên cứu một số sâu hại lúa chủ yếu

a/ Sâu cuốn lá nhỏ:

* Thành phần: Theo điều tra của Viện BVTV (1976) [59] Vùng Gia Lâm - Hà Nội đã xác định được thành phần sâu cuốn lá nhỏ có 2 loài gây hại chính đó là Cnaphalacrocis medinalis và Marasmia exigua Trong mấy năm gần đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu về thành phần sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng, đặc biệt là trên cây lúa thì kết quả cũng chỉ thu được một loài đó là loài Cnaphalacrocis medinalis

* Sự phân bố: Theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng của Viện Bảo vệ

thực vật (1976) [59], thì sâu cuốn lá nhỏ phân bố ở hầu hết tất cả các vùng trồng lúa trên cả nước từ Bắc vào Nam Tuy nhiên thời gian phát sinh và mức độ gây hại của sâu cuốn lá nhỏ ở mỗi vùng địa lý có sự khác nhau điều này phụ thuộc vào điều kiện thời tiết khí hậu và tập quán canh tác của mỗi địa phương Các tỉnh vùng ven biển sâu cuốn lá nhỏ thường có thời gian phát sinh sớm và mức độ gây hại cao hơn các nơi khác (Báo cáo tổng kết Cục Bảo vệ thực vật, 2002, 2005) [16], [14] Các tỉnh miền Bắc trong mấy năm gần đây sâu cuốn lá nhỏ phân bố rộng chủ yếu tập trung

ở các tỉnh vùng ven biển như: Hải Phòng, Thái Bình, Ninh Bình, Nam Định, Quảng Ninh… diện tích nhiễm ở mỗi vụ lên đến hàng trăm nghìn

ha, mật độ sâu non nơi cao nên tới trên 500 con/m2 Các tỉnh vùng đồng bằng miền núi sâu cuốn lá nhỏ có diện phân bố và mức ñộ gây hại thường nhẹ hơn

* Phạm vi kí chủ: Vũ Quang Côn (1987) [11] đã tiến hành điều tra sự phân bố mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên một số cây cỏ dại trong thời gian chưa

có lúa ngoài đồng, kết quả cho thấy: cỏ môi có 79,45%, cỏ chỉ có 0,02%,

cỏ tranh là 0,01%, cỏ bấc là 10,95%, cỏ lá tre là 6,04%, cỏ lồng vực là 1,73%, cỏ mần trầu là 1% Theo Trần Văn Rao (1982) [44] thì sâu cuốn lá nhỏ qua đông chủ yếu trên các cây cỏ dại, trên ruộng mạ là không đáng

kể Sự có mặt của sâu cuốn lá nhỏ trên một số kí chủ như sau: lúa chét là 1,3%, cỏ mần trầu là 53,2%, cỏ gà nước là 19,2%, cỏ lồng vực cạn là 13,8%, cỏ trứng ếch là 12,5% Theo Trần Huy Thọ (1983) [50] thì sâu

Trang 26

cuốn lá nhỏ sống trên tất cả các cây cỏ như cỏ mần trầu, cỏ gà nước, cỏ lông, cỏ trứng ếch

* Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học: Trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ

vũ hoá cả ban ngày và ban đêm nhưng tỉ lệ bướm cuốn lá nhỏ vũ hoá vào ban ngày chiếm tỉ lệ 3/4 tổng số, giờ bướm vũ hoá rộ nhất vào 8 giờ 30 đến 9 giờ 30 sáng và buổi chiều từ 3 giờ 30 đến 4 giờ 30, Nguyễn Văn Hành (1988) [21] Ban ngày trưởng thành sâu cuốn lá nhỏ ẩn nấp trong các khóm lúa, bờ cỏ, ban đêm mới bay ra hoạt động Bướm đực hoạt động bay tích cực hơn bướm cái, tìm bướm cái để giao phối Trần Huy Thọ (1989) [22] Bướm đực có thể tiến hành giao phối sau vũ hoá từ 1 - 2 giờ, do vậy khi vợt trưởng thành cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng thường gặp tỉ lệ bướm đực cao hơn bướm cái Phạm Bình Quyền 1976 [40] Sau khi vũ hoá được 1 - 2 ngày thì bướm bắt đầu đẻ trứng, trứng đẻ rải rác từng quả ở mặt dưới lá, thường 1 lá có 1 trứng song cũng có khi 2 - 3 quả trứng /lá Theo Hà Quang Hùng (1985) [24] tỉ lệ trứng đẻ mặt trên lá

là 19,2%, mặt dưới là 80,8%, mỗi bướm cái đẻ trung bình là 50 quả trứng,

Hà Quang Hùng (1985)[24]

Trứng sâu cuốn lá nhỏ hình bầu dục, dài 0,7 - 0,8 mm, rộng 0,39 - 0,45 mm, trong quá trình phát dục trứng thay đổi màu sắc từ màu trắng kem đến màu vàng nhạt, bề mặt trứng có vân hình mạng lưới Nguyễn Văn Hành 1989 [21] Theo Cục Bảo vệ thực vật thì thời gian trứng nở là

3 - 4 ngày [14] Lúc mới nở sâu non có màu vàng nhạt sau trở thành màu xanh nhạt và tuổi cuối có màu xanh vàng, chiều dài cơ thể sâu thay đổi từ 1,5 - 19 mm (Vũ Quang Côn, 1985; Chu Cẩm Phong, 1985) [44]

Sâu non mới nở hoạt động rất nhanh nhẹn, chúng bò khắp nơi trên khóm lúa sau đó chui vào nõn lá hoặc tổ cũ ăn lớp thịt lá, sau một thời gian thường là tuổi 2 sâu bò lên ngọn lá nhả tơ cuốn 2 mép lá lại với nhau khâu thành bao, sâu nằm trong bao ăn biểu bì lá, khi ăn hết biểu bì sâu lại tiếp tục khâu bao lá dọc suốt 2/3 chiều dài lá, tuổi càng lớn sức ăn càng khoẻ, khi ăn hết thức ăn chúng chuyển sang lá khác tiếp tục tạo bao

lá mới để gây hại Trong suốt thời kì sâu non chúng có thể phá từ 4 - 6 lá Nguyễn Văn Hành (1989)[21] Theo Hồ Khắc Tín, 1982 [53] số lượng

lá bị hại là từ 4 - 9 lá trên một sâu non Theo Nguyễn Trường Thành

Trang 27

(2003) [48] Một đời sâu cuốn lá nhỏ gây hại từ 3,2 - 6,2 lá ứng với 12 -

15 cm2, cây lúa bị hại nặng sẽ tăng tỉ lệ lép và giảm số hạt/bông Sâu non khi đẫy sức chuyển sang màu vàng hồng chui ra khỏi tổ tìm vị trí hoá nhộng, sâu nhả tơ cắn đứt 2 mép lá khâu thành bao kín để hoá nhộng trong

đó hoặc bò xuống dưới khóm lúa hoá nhộng trong bẹ lá, đôi khi chúng hoá nhộng ngay trong bao cũ Hồ khắc Tín (1982) [53]

* thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ : Theo nghiên cứu của Vũ Quang Côn (1989) [12] thì trong nhóm thiên địch sâu cuốn lá nhỏ ong kí sinh có tới 34 loài trong đó có 23 loài kí sinh bậc 1; 8 loài kí sinh bậc 2, hiệu quả

kí sinh chung đạt 15 - 30% Kết quả nghiên cứu của Hà Quang Hùng (1989) [27] cho thấy ở địa bàn Hà Nội sâu cuốn lá nhỏ có 27 loài kí sinh

và bắt mồi ăn thịt cả 3 pha trứng, sâu non, nhộng Theo Phạm Văn Lầm,

1992 [31] cho biết trứng cuốn lá nhỏ chủ yếu kí sinh do ong

Trichogramma Japonicum sau đ ó đến Trichogramma chilonis Pha sâu

non cuốn lá nhỏ có tới 4 loài kí sinh đó là : ong đen to Cardiahiles sp, tỉ

lệ kí sinh đạt 48 - 58%, ong nâu đen Goniozus japonicus tỉ lệ kí sinh là

51,4% và ong kén trắng đơn Apenteles cypris Nixon là 53% Loài Apenteles

cypris Nixon là một trong những loài ong kí sinh Kết quả điều tra thành

phần côn trùng bắt mồi của Trần Đình Chiến (1993) [8] cho biết có 43 loài thuộc 6 bộ côn trùng và 1 bộ nhện lớn ăn thịt trong đó bộ cánh cứng là chủ yếu có 30 loài chiếm 69,77%, bộ cánh nửa 4 loài, bộ cánh thẳng 3 loài,

bộ cánh cứng 2 loài, bộ cánh da 1 loài, bộ bọ ngựa 1 loài và bộ nhện lớn 2 loài Theo Phạm Văn Lầm và cộng tác viên (1994) [32] khi nghiên cứu

về biến động số lượng nhóm nhện lớn bắt mồi ăn thịt trên đồng ruộng 2

vụ lúa xuân và vụ mùa cho thấy mật độ nhện lớn bắt mồi ăn thịt tăng dần

từ đầu vụ cho đến cuối vụ lúa, đỉnh cao là giai đoạn lúa làm đòng – trỗ Quy luật tích luỹ của nhóm nhện lớn bắt mồi ăn thịt tỉ lệ thuận với quy luật tích luỹ của quần thể sâu hại chính trên lúa Mỗi vụ khác nhau thì diễn biến mật độ nhện lớn bắt mồi ăn thịt cũng khác nhau, mật độ quần thể nhện lớn bắt mồi ăn thịt đầu vụ xuân là 0,2 – 2,8 con/m2, đỉnh cao là 73,8 – 175,9 con/m2, mật độ này bao giờ cũng thấp hơn mật độ quần thể nhện lớn bắt mồi ăn thịt đầu vụ mùa là 4,0 – 19,7 con/m2

, đỉnh cao là 76,9 – 201,6 con/m2 Các điều kiện canh tác như giống lúa, chế độ nước,

Trang 28

số vụ lúa/năm đều ảnh hưởng đến sự tích luỹ số lượng quần thể nhện lớn bắt mồi ăn thịt, Nguyễn Thị Thắng (1993) [49]

* Biện pháp phòng trừ :

- Biện pháp canh tác: Cấy mật độ vừa phải, bón phân cân đối hợp

lý, không bón đạm quá mức là biện pháp hạn chế đáng kể thiệt hại do sâu cuốn lá nhỏ Theo Hồ Khắc Tín (1982) [53] việc diệt kí chủ phụ quanh bờ ruộng là nơi trú ẩn và tích luỹ sâu cuốn lá nhỏ nhằm cắn đứt nguồn chu chuyển tích luỹ của chúng

- Biện pháp sinh học: Việc bảo vệ các loài thiên địch là rất cần

thiết để khống chế mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên đồng ruộng Phạm Văn Lầm (1989) [30]; Nguyễn Viết Tùng (1993) [53]

- Biện pháp hoá học: Trong 15 loại thuốc sâu được sử dụng phổ biến

trên đồng ruộng hiện nay có tới 5 loại có độ độc cấp 4 và 5 loại có độ độc cấp 3 với bọ rùa đỏ và bọ cánh cứng cánh ngắn (Nguyễn Trường Thành, (2002) [47] Đặc biệt gần đây thuốc nhóm Pyrethroid được sử dụng ngày càng nhiều trên đồng ruộng để trừ các loại sâu ăn lá và chích hút đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến thiên địch trên đồng ruộng Do vậy có được một chiến lược phòng trừ hợp lý với sâu cuốn lá nhỏ là một yêu cầu

bức thiết và có tầm quan trọng đặc biệt với sản xuất lúa hiện nay

b/ sâu đục thân lúa hai chấm :

* Thành phần : Ở Việt Nam đã ghi nhận được 8 loài sâu đục thân lúa

Chúng thuộc 2 họ thuộc bộ cánh vảy (Lepidoptera), đó là họ Pyralidae (7

loài) và Noctuidae (1 loài) gồm các loài Ancylolomia chrysographella Koll., sâu đục thân 5 vạch đầu đen Chilo polychrysus (Meyr.), sâu đục thân 5 vạch đầu nâu Chilo suppressalis (Walk.), sâu đục thân 5 vạch

Chilo sp., sâu đục thân 5 vạch đầu đen Chilotraea auricilia Dudg., sâu

đục thân lúa hai chấm Scirpophaga incertulas (Walk.), sâu đục thân lúa bướm trắng Scripophaga innotata (Walk.) và sâu đục thân cú mèo

Sesamia inferens (Walk.) (Viện Bảo vệ thực vật, 1976 [58], 1999 [59])

Trong các loài trên thì sâu đục thân lúa hai chấm phổ biến hơn cả Việc gieo trồng rộng rãi các giống lúa mới đã càng làm gia tăng tác hại của sâu đục thân lúa hai chấm (Nguyễn Mạnh Chinh, 1977 [9]; Trương Quốc Tùng, 1977 [56])

Trang 29

* Phân bố: Sâu đục thân lúa hai chấm đã được ghi nhận có mặt ở

44 tỉnh trong cả nước, từ miền núi đến đồng bằng đến các tỉnh ven biển (Phạm Văn Lầm, 2000 [35])

* Đặc điểm sinh học: Trưởng thành vũ hoá và hoạt động ban đêm, ban

ngày ẩn nấp trong khóm lúa Ngay trong đêm vũ hoá chúng có thể giao phối Hoạt động giao phối mạnh nhất sau 9 giời tối (Hồ Khắc Tín, 1982)

[53] Trưởng thành cái thường đẻ trứng ở mút ngọn lá lúa Sâu non mới nở

phát tán bằng cách bò lên ngọn lá và nhả tơ nhờ gió đưa sang cây lúa

khác hoặc bò trực tiếp sang dảnh lúa kề gần (Hồ Khắc Tín, 1982) [53]

Thời gian phát dục của pha trứng, tuỳ theo điều kiện nhiệt độ khi thí nghiệm, biến động từ 6,2 - 20,4 ngày Sâu non có 5 tuổi Thời gian phát dục của pha sâu non từ 27,5 ngày đến 73,5 ngày Thời gian phát dục của pha nhộng từ 6,6 ngày đến 27 ngày, Chi cục BVTV Hải Phòng (1989) [5] Thời gian của pha trưởng thành biến động từ 1 ngày đến 12 ngày (Vũ Đình Ninh, 1974) [39] Mỗi trưởng thành cái có thể đẻ từ 1 - 5 ổ trứng Những theo dõi ở Trạm BVTV vùng đồng bằng Bắc Bộ cho thấy số quả trứng trung bình trong một ổ giao động từ 43,0-108,4 trứng (Hồ Khắc Tín, 1982) [53] Trưởng thành sâu đục thân lúa hai chấm có thể sống được 2 - 6 ngày Sâu đục thân lúa hai chấm một năm thường phát sinh 6 - 7 lứa; ( Mai Thọ Trung, 1979 [54]; Trương Quốc Tùng, 1977; 1980 [56]; [57]) Vòng đời của sâu đục thân hai chấm biến động từ 6 đến 98 ngày, Chi cục BVTV Hải Phòng (2003) [6] Thí nghiệm tại Trạm BVTV vùng Khu 4 năm 1967 - 1968 ở điều kiện nhiệt độ 18,6 – 25oC sâu đục thân hai chấm có thời gian vòng đời từ 46 đến 82 ngày (Vũ Đình Ninh, 1974) [39] Nuôi trong điều kiện nhiệt độ 20 – 28oC, ẩm độ 75 - 80%, thời gian vòng đời của sâu đục thân hai chấm trung bình là 41,5 - 115,9 ngày (Phạm Bình Quyền, 1976) [43]

* Thiên địch của sâu đục thân lúa: Phạm Bình Quyền (1972) [41] đã

phát hiện được 12 loài ký sinh sâu đục thân lúa hai chấm ở miền Bắc Việt Nam Phạm Văn Lầm (2000) [35] đã tổng hợp được 415 loài thiên địch của sâu hại lúa Con số này đến năm 2002 đã tăng lên 461 loài Trong đó, đã phát hiện được 39 loài thiên địch của các loài sâu đục thân lúa ở nước ta, gồm 32 loài ký sinh và 7 loài bắt mồi ăn thịt, Nguyễn Trường Thành (19860) [45] Tập

Trang 30

hợp thiên địch của sâu đục thân lúa hai chấm Scirpophaga incertulas phong

phú nhất, gồm 28 loài (Vũ Quang Côn, 1986 [10], Phạm Văn Lầm, (2002)

[36]) Trên trứng sâu đục thân lúa hai chấm đã ghi nhận được 7 loài ký sinh Trong đó có 3 loài rất phổ biến là ong đen mắt đỏ Trichogramma

japonium, ong xanh ăn trứng Tetrastichus schoenobii và ong đen Telenomus dignus Tỷ lệ quả trứng bị ký sinh tăng dần từ 17,4% ở lứa 1

vào tháng 3 đến 72,5% và hơn ở lứa 6 vào tháng 10 - 11 (Vũ Quang Côn, 1986 [10], Hà Quang Hùng, 1984 [23], [26], Phạm Văn Lầm và

CTV, ( 1983) [29] Ong xanh ăn trứng T schoenobii đóng vai trò rất

quan trọng trong việc tiêu diệt trứng đục thân lúa hai chấm ở vụ mùa tại phía Bắc Loài ong này thường xuất hiện từ cuối tháng 6 đến tháng 12

trên mạ mùa, lúa mùa, mạ chiêm Tỷ lệ trứng đục thân bị ong T

schoenobii tiêu diệt đạt từ vài phần trăm đến hơn 90% vào đợt trứng cuối

vụ mùa ở phía Bắc Loài ong này có vai trò lớn trong điều hoà số lượng sâu đ ục thân lúa hai chấm lứa 5 và lứa 6 (Vũ Quang Côn, 1986 [10],

Hà Quang Hùng, ( 1984) [23], Phạm Văn Lầm và CTV, (1983) [29], Bình

Quyền và CTV, 1973 [42]) Ong đen Telenomus dignus là một ký sinh

trứng quan trọng của sâu đục thân lúa hai chấm Nó phát sinh từ tháng 2 đến tháng 11 hàng năm, đặc biệt phát sinh nhiều trong thời gian lứa 2,

3, 4 của sâu đục thân lúa hai chấm Ong đen có thể tiêu diệt từ vài phần trăm đến

30 - 40%, đôi khi tới 60% quả trứng trong ổ trứng sâu đục thân lúa hai chấm

Ong đen mắt đỏ T japonicum là một loài ký sinh trứng rất quan trọng trên

đồng luá Nó ký sinh trứng nhiều loài sâu hại lúa Ong đen mắt đỏ xuất hiện quanh năm trên đồng lúa Trứng sâu đục thân năm vạch bị ong đen mắt

đỏ T japonicum ký sinh khoảng 30 - 50%, có khi tới 80% (Vũ Quang Côn,

1986, 1999 [10], [82], Hà Quang Hùng, 1984, [23], Phạm Văn Lầm và CTV,

1983, 1989 [29], [82], Bình Quyền và CTV, 1973 [42]) Ong kén trắng

Exoryza schoenobii xuất hiện thường xuyên trên đồng lúa Sâu non của sâu

đục thân lúa hai chấm và đục thân năm vạch đầu nâu bị ký sinh bởi ong kén

trắng E schoenobii với tỉ lệ trung bình 25 - 30%, có khi đạt hơn 40% (Vũ

Quang Côn, 1986 [10], Hà Quang Hùng, 1984 [23], 1986 [26], Phạm Văn

Lầm và CTV, 1983, 1999 [42], [82] Bình Quyền và CTV, 1973 [42])

* biện pháp phòng trừ :

Trang 31

- Biện pháp canh tác: Cày lật đất ngay sau thu hoạch để diệt nhộng

sâu đục thân trong gốc rạ; luân canh lúa nước với cây trồng cạn; gieo cấy thời vụ sớm thích hợp với từng địa phương; dùng giống ngắn ngày và giống cực sớm trong vụ mùa để tránh sâu đục thân Chi cục BVTV Thái Bình (1989) [7] Vùng đồng bằng sông Hồng, lúa đông xuân trỗ bông vào đầu tháng 5, lúa mùa trỗ bông vào đầu tháng 9 hầu như không bị sâu đục thân gây hại nặng (Phạm Văn Lầm, 1999 [23], 2006 [34])

- Biện pháp sinh học: Những nghiên cứu biện pháp sinh học trừ sâu

đục thân lúa ở nước ta hầu như chưa được quan tâm Năm 1995, Trung tâm nhiệt đới Việt - Nga đã đánh giá tính mẫn cảm của sâu đục thân lúa

hai chấm S incertulas đối với các chế phẩm từ vi khuẩn Bt trong phòng

thí nghiệm Kết quả cho thấy trong điều kiện phòng thí nghiệm, chỉ có 3 trong 15 chế phẩm Bt có hiệu lực đạt 82,3 - 87,5% đối với sâu đục thân lúa hai chấm Đó là các chế phẩm Bikol, Dipel và Bitoxibacillin, Phạm Văn Lầm (2006) [37]

- Biện pháp hoá học: Các thuốc hoá học được khuyến cáo dùng trên

lúa trừ các sâu đục thân lúa là Padan 95 SP, Regent 800WG, Oncol 5G, (Nguyễn Trường Thành, 1999, v.v ) [46] Theo các nghiên cứu thì việc sử dụng thuốc hoá học trừ sâu đục thân lúa hai chấm ở các giai đoạn lúa đẻ nhánh, đòng già và bắt đầu trỗ chỉ tiến hành khi mật độ ổ trứng của nó đạt ngưỡng tương ứng là 1,0 - 1,5; 0,3 - 0,4 và 0,5 - 0,7 ổ trứng/m

2

(Nguyễn Trường Thành, 1999) [46]

c/ Rầy nâu :

* Phân bố : Ở Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu trong 2 năm

1981-1982 ở Hà Nội của Trần Huy Thọ và Nguyễn Công Thuật (1996) [52], trong nước, rầy nâu có mặt ở khắp các vùng trồng lúa nhất là các vùng trồng lúa thâm canh Chúng có mặt ở vùng đồng bằng, ven biển trung du, cho đến các vùng núi cao như Điện Biên, Mù Cang Chải Ở Việt Nam do cách biệt về địa lý mà điểm ranh giới là đèo Hải Vân nơi hướng gió Tây Nam đổi hướng ra biển Đông ngăn chặn sự lây lan của các quần thể rầy nâu giữa hai miền đã hình thành nên hai quần thể rầy nâu ở miền Nam và miền Bắc

Trang 32

* Đặc điểm hình thái: Rầy nâu có cơ thể màu nâu vàng, đỉnh đầu nhô

ra phía trước Phần gốc râu có 2 đốt nở to, đốt roi râu dài và nhỏ Cánh trong suốt, giữa cạnh sau của mỗi cánh trước có một đốm đen, khi hai cánh xếp lại hai đốm này chồng lên nhau tạo thành một đốm đen to trên lưng Rầy đực có cơ thể dài từ 3,6-4,0 mm Rầy cái màu nâu nhạt và kích thước

cơ thể to hơn rầy đực; chiều dài cơ thể từ 4-5 mm, bụng to tròn, ở khoảng giữa mặt dưới bụng có bộ phận đẻ trứng bén nhọn màu đen

Thành trùng rầy nâu có 2 dạng cánh: Cánh dài che phủ cả thân và chủ yếu dùng để bay đi tìm thức ăn Cánh ngắn phủ đến đốt thứ 6 của thân mình; dạng cánh này chỉ phát sinh khi thức ăn đầy đủ, thời tiết thích hợp,

và có khả năng đẻ trứng rất cao Đời sống trung bình của thành trùng rầy nâu khoảng từ 10-20 ngày, trong thời gian đó một rầy cái cánh dài đẻ khoảng 100 trứng, và rầy cái cánh ngắn đẻ từ 300-400 trứng Nếu điều kiện thích hợp, một rầy cái có thể đẻ đến cả ngàn trứng

Trứng rầy nâu được đẻ thành từng hàng vào bên trong bẹ cây lúa, mỗi hàng có từ 8-30 cái Trứng rầy giống hình hạt gạo, dài từ 0,3-0,4 mm, mới đẻ màu trắng trong, sắp nở màu vàng Phía trên đầu trứng có bộ phận che lại gọi là nấp trứng Thời gian ủ trứng từ 5-14 ngày Ấu trùng rầy nâu hay còn gọi là rầy cám, khi mới nở rất nhỏ, màu trắng sữa, càng lớn rầy càng chuyển thành màu nâu nhạt Ấu trùng rầy nâu tuổi lớn rất giống thành trùng cánh ngắn nhưng cánh ngắn hơn và đục, trong khi cánh của thành trùng cánh ngắn thì trong suốt với các gân màu đậm Ấu trùng rầy nâu có 5 tuổi, phát triển trong thời gian từ 14-20 ngày

* Đặc điểm sinh vật học: Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Huỳnh và Lê Thị Sen, Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, Đại học Cần Thơ (2003) [61] Rầy trưởng thành thường tập trung thành đám ở trên thân cây lúa phía dưới khóm để hút nhựa, khi bị khua động thì lẩn trốn bằng cách bò ngang hoặc nhảy sang cây khác hoặc xuống nước, hoặc bay xa đến chỗ khác Ban ngày trưởng thành ít hoạt động ở trên lá lúa, chiều tối bò lên phía trên thân lúa hoặc lá lúa Khi lúa ở thời kỳ chín, phần dưới của thân lúa đã cứng khô thì ban ngày chúng tập trung phía trên cây lúa hoặc chỗ non mềm gần cuống bông để hút nhựa Rầy trưởng thành có xu hướng ánh sáng mạnh (trừ rầy trưởng thành cánh

Trang 33

ngắn) do đó đêm tối trời lặng gió, trời bức chúng bay vào đèn nhiều nhất là khoảng 20-23h Rầy cái tập trung đẻ trứng ở gốc cây lúa, cách mặt nước từ 10-15 cm Rầy trưởng thành cánh dài bị thu hút nhiều bởi ánh sáng đèn và vào đèn nhiều lúc trăng tròn, bay vào đèn nhiều từ 8-11 giờ đêm Cả thành trùng và ấu trùng rầy nâu đều chích hút cây lúa bằng cách cho vòi chích hút vào bẹ lúa hút nhựa Trong khi chích hút rầy tiết nước bọt phân huỷ mô cây, tạo thành một bao chung quanh vòi chích hút, cản trở sự di chuyển nhựa nguyên và nước lên phần trên của cây lúa làm cây lúa bị khô héo, gây nên hiện tượng "cháy rầy"

* Thiên địch của rầy nâu : Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn

Huỳnh và Lê Thị Sen, Bộ môn Bảo vệ Thực vật, Khoa Nông nghiệp và

Sinh học Ứng dụng, Đại học Cần Thơ (2003) [61] Có nhiều loài côn trùng

ký sinh, ăn thịt và nấm bệnh gây hại mọi giai đoạn tăng trưởng của rầy nâu Các loài thiên địch quan trọng của rầy nâu là: Bọ rùa - Có nhiều loài bọ rùa tấn công rầy nâu Mỗi ngày một con bọ rùa (cả thành trùng lẫn ấu trùng) có thể ăn từ 5-10 con rầy nâu (cả ấu trùng và thành trùng) Kiến ba khoang :

Có 2 loài kiến ba khoang thường gặp trên ruộng lúa là: Paederus fuscipes (Curtis) thuộc họ Staphylinidae và Ophionea indica (Schmidt-Goebel)

thuộc họ Carabidae Cả ấu trùng và thành trùng các loài kiến ba khoang kể trên đều ăn ấu trùng và thành trùng rầy nâu Một con kiến ba khoang có thể

ăn từ 3-5 rầy nâu mỗi ngày Bọ xít nước: Có 2 loài thường xuất hiện trên

ruộng lúa là Microvelia atrolineata Bergroth (họ Veliidae) và Mesovelia

sp (họ Mesoveliidae) Cả hai loài trên thuộc bộ Hemiptera (Cánh Nửa Cứng) Ấu trùng và thành trùng các loài bọ xít nước đều chích hút chất dịch bên trong cơ thể ấu trùng và thành trùng rầy nâu Một bọ xít có thể gây hại

từ 4-7 ấu trùng và thành trùng rầy nâu mỗi ngày Các loài nhện : Phổ biến

là loài Pardosa pseudoannulata (Boesenberg- Strand), một con nhện có thể

ăn từ 5-15 rầy nâu mỗi ngày Các loài vi sinh vật : Trong thiên nhiên có nhiều loài nấm, vi khuẩn hoặc virus gây chết cho rầy nâu với tỉ lệ rất đáng kể; tuỳ mùa vụ, tỉ lệ này có thể lên đến 30% Ba loài nấm gây bệnh cho rầy

nâu thường gặp trên đồng ruộng là Metarrhizium sp., Hirsutella sp và

Beauveria bassiana

* Biện pháp phòng trừ :

Trang 34

- Canh tác : Theo Nguyễn Đức Khiêm (2004) [28] Phát sạch gốc rạ,

vùi chôn lúa còn sót lại và đốt đồng ngay sau khi thu hoạch, không để lúa chét phát triển Để ngừa bệnh lùn xoắn lá, cần nhổ bỏ các bụi lúa bị bệnh lùn xoắn lá để không còn nguồn bệnh trên đồng ruộng

- Giống kháng : Nên trồng nhiều giống lúa có tính kháng trung bình trên

đồng ruộng cùng một lúc để tránh tình trạng rầy quen thức ăn và để tránh

áp lực của rầy khi rầy bộc phát Trần Huy Thọ (1996) [51]

- Thời vụ: Sạ lúa, gieo mạ, cấy lúa đúng thời vụ, gọn, tránh mùa vụ gối nhau làm lúa hiện diện liên tục trên đồng ruộng Nên có thời gian để đất trống để cắt đứt nguồn thức ăn của rầy nâu Không nên sạ, cấy dày; mật độ

sạ thích hợp là 150 kg/ha đất nếu có điều kiện sử dụng thuốc diệt cỏ hoặc tối đa là 180 kg/ha

- Phân bón: Nên bón phân với liều lượng đủ cho nhu cầu của cây

lúa Bón đúng lúc và cân đối giữa các loại phân đạm, lân, kali Tránh bón nhiều và dư đạm, nhất là ở giai đoạn cuối của cây lúa

- Biện pháp sinh học: Cho vịt con từ 4-5 tuần tuổi vào ruộng lúa,

khoảng 100-150 con/ha Thả cá như rô phi, mè vinh vào ruộng lúa Khi có rầy nâu cánh dài xuất hiện nên làm bẩy đèn để thu hút rầy tới Hàng đêm có thể đốt đèn từ 7-10 giờ tối Bẩy đèn nên làm đồng loạt.

- Biện pháp hoá học: Thăm ruộng thường xuyên để ghi nhận mật số

của rầy cũng như của thành phần và số lượng thiên địch hiện diện trên đồng ruộng để quyết định việc áp dụng thuốc trừ rầy Khi cần phải áp dụng thuốc thì nên theo nguyên tắc "bốn đúng"

Trang 35

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Hai hình thức canh tác lúa (3 giảm 3 tăng và phương thức đại trà)

- Các loài sâu hại lúa chủ yếu (sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục thân hai chấm, rầy nâu)

- Các loài thiên địch chính chủ yếu

2.1.2 Vật liệu thí nghiệm

- Khay men kích thước 25 x 20 x 3cm; vợt côn trùng có đường kính 30cm; dầu nhờn; dụng cụ đặt mẫu: hộp nhựa, túi nilon; hộp nuôi sâu; kính lúp

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Tại thành phố Thái nguyên - tỉnh Thái Nguyên

Chọn 3 địa điểm tại 3 xã khác nhau là :

- Xã Phúc Xuân (diện tích : 0,2 ha)

- Xã Phúc Trìu (diện tích : 0,2 ha)

- Xã Quyết Thắng (diện tích : 0,2 ha)

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Đề tài được tiến hành từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 6 năm 2012

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra thành phần sâu hại lúa; điều tra diễn biến mật độ sâu hại chủ yếu qua các giai đoạn sinh trưởng của lúa và dưới sự tác động của một

số biện pháp kỹ thuật: mật độ cấy; dùng thuốc BVTV; bón phân trên hai

mô hình canh tác lúa (3 giảm 3 tăng và phương thức canh tác đại trà)

- Điều tra thành phần thiên địch của sâu hại lúa; điều tra diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu qua các giai đoạn sinh trưởng của lúa và dưới sự tác động của một số biện pháp kỹ thuật: mật độ cấy; dùng thuốc BVTV; bón phân trên hai mô hình canh tác lúa (3 giảm 3 tăng và phương thức canh tác đại trà)

Trang 36

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Chọn điểm điều tra

Tại mỗi xã trên mỗi phương thức canh tác (cùng giống lúa thuần Khang Dân 18) chọn 3 ruộng đại diện, cố định để điều tra

2.4.2 Phương pháp điều tra

Theo Quyết định số Số: 82/2003/QĐ-BNN ngày ngày 04 tháng 09 năm 2003 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc ban hành các tiêu chuẩn ngành “Quy định về công tác điều tra phát hiện sinh vật hại cây trồng”

* Đối với sâu hại : Điều tra định kỳ 7 ngày một lần, trên mỗi ruộng chọn 10 điểm ngẫu nhiên (Trên lúa cấy: 10 khóm/điểm), thay đổi qua mỗi lần điều tra sao cho lần sau không trùng lần trước

* Đối với thành phần sâu hại và thành phần thiên địch: Nếu trong quá trình điều tra tần xuất xuất hiện của sâu hại và thiên địch nhiều hay ít phụ thuộc vào điểm điều tra được tính và ký hiệu như sau :

- : Xuất hiện rất ít (< 10% điểm điều tra)

+ : Ít phổ biến (tần suất xuất hiện >10% <25%)

++ : Phổ biến (tần suất xuất hiện 25-50%) +++ : Rất phổ biến (>50%)

- Điều tra : bọ trĩ, rầy nâu : dùng khay men có láng một lớp dầu nhờn mỏng đặt nghiêng với khóm lúa một góc 450

rồi dùng tay đập 2 cái vào khóm lúa theo hướng vuông góc với khay Mỗi điểm điều tra 2 khóm đếm

số rầy từng loại trên mỗi khay và tính :

Trang 37

* Đối với thiên địch : Điều tra và tính mật độ (con/m2) tương tự như sâu hại

So sánh mật độ trung bình của sâu hại và thiên địch trên 2 chế độ canh tác khác nhau (3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà ) qua các giai đoạn sinh trưởng của lúa

* Điều tra khi áp dụng biện pháp kỹ thuật: Điều tra diễn biến một số sâu

hại và thiên địch chủ yếu khi áp dụng biện pháp kỹ thuật: mật độ cấy; phun

thuốc BVTV; bón phân trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà như sau:

mạ khi cấy có từ 4- 5 lá, cấy 4 - 5 rảnh/ khóm, mật

độ cấy 50 khóm/

m2.

Điều tra tại các giai đoạn sinh trưởng của lúa

Phun

thuốc

BVTV

1 lần (khi điều tra thấy mật độ sâu

có ảnh hưởng đến sinh trưởng và

NS, CL lúa)

4 lần (khi mỗi lần thấy sâu xuất hiện nhiều)

Điều tra sau khi phun thuốc BVTV 3 ngày, 5

ngày, 10 ngày

Bón

phân

* Lần 1: 2kg Đạm Urê +1Kg Kali/ sào (bón thúc đẻ nhánh khi thấy 10% số dảnh/m2 có u lồi dưới gốc dảnh lúa cấy)

*Lần 2: 4Kg/sào (bón khi lúa đang làm đòng)

Điều sau mỗi lần bón phân là: 5 ngày, 10 ngày,

Trang 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Kết quả điều tra thành phần sâu hại lúa vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 tại TP Thái Nguyên

Khí hậu Thành phố Thái Nguyên mang những nét chung của khí hậu vùng Đông Bắc Việt Nam, thuộc miền nhiệt đới gió mùa Độ ẩm không khí trên địa bàn thành phố khá cao Mùa nóng độ ẩm dao động từ 78% đến 86%, mùa lạnh từ 65% đến 70% Do có điều kiện khí hậu nóng ẩm như vậy nên điều kiện thuận lợi cho sâu hại phát sinh, phát triển mạnh Qua điều tra cho thấy thành phần và tần suất xuất hiện các loài sâu hại lúa có sự khác nhau giữa 2 hình thức canh tác là đại trà và 3 giảm -3 tăng Kết quả điều tra được trình bày ở bảng 3.1 và bảng 3.2

Ngày đăng: 15/11/2014, 22:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Xuân Bành và CTV (1990), “Kết quả khảo sát sâu cuốn lá nhỏ hại lúa ở Tiền Giang”, Tạp trí BVTV, Số 3, 03/1990, tr. 13-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả khảo sát sâu cuốn lá nhỏ hại lúa ở Tiền Giang
Tác giả: Đỗ Xuân Bành, CTV
Nhà XB: Tạp trí BVTV
Năm: 1990
2. Thái Bắc, "Một số kết quả nghiên cứu phương pháp phòng trừ tổng hợp sâu hại lúa", thông tin BVT số 24/1976 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả nghiên cứu phương pháp phòng trừ tổng hợp sâu hại lúa
3. Đặng Thị Bình, Trần Huy Thọ, Vũ Thị Sứ, Phan Thị Liên, Viên BVTV, "Một số kết quả thực nghiệm Trừ sâu CLN-Cnaphanocrosis medinalis trên ruộng nông dân năm 1993". Tạp chí BVTV số 4/1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số kết quả thực nghiệm Trừ sâu CLN-Cnaphanocrosis medinalis trên ruộng nông dân năm 1993
4. Chi cục BVTV Hà Tây (2007), " Báo cáo kết quả mô hình cộng đồng ứng dụng SRI tại hợp tác xã Đại Nghĩa huyện Mỹ Đức vụ mùa 2007". tài liệu nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả mô hình cộng đồng ứng dụng SRI tại hợp tác xã Đại Nghĩa huyện Mỹ Đức vụ mùa 2007
Tác giả: Chi cục BVTV Hà Tây
Năm: 2007
5. Chi cục BVTV Hải Phòng (1989), "Đánh giá sâu đục thân lúa vụ mùa 1988 ở Hải Phòng", Thông tin BVTV, 1, tr. 13-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sâu đục thân lúa vụ mùa 1988 ở Hải Phòng
Tác giả: Chi cục BVTV Hải Phòng
Nhà XB: Thông tin BVTV
Năm: 1989
6. Chi cục BVTV Hải Phòng (2003), "Phòng trừ sâu đục thân 2 chấm vụ mùa năm 2002 tại Hải Phòng", Tạp chí BVTV, 4, tr. 36-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trừ sâu đục thân 2 chấm vụ mùa năm 2002 tại Hải Phòng
Tác giả: Chi cục BVTV Hải Phòng
Năm: 2003
7. Chi cục BVTV Thái Bình (1989), "Những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm chỉ đạo phòng trừ sâu đục thân lúa vụ mùa 1988 ở Thái Bình", Thông tin BVTV, 2, tr. 47-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm chỉ đạo phòng trừ sâu đục thân lúa vụ mùa 1988 ở Thái Bình
Tác giả: Chi cục BVTV Thái Bình
Năm: 1989
8. Trần Đình Chiến (1993), “Tìm hiểu thành phần côn trùng bắt mồi và ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến diễn biến thành phần côn trùng bắt mồi trên lúa Gia Lâm, Hà Nội”, Kết quả nghiên cứu khoa học của khoa trồng trọt 1991-1992, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thành phần côn trùng bắt mồi và ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến diễn biến thành phần côn trùng bắt mồi trên lúa Gia Lâm, Hà Nội”, "K"ế"t qu"ả "nghiên c"ứ"u khoa h"ọ"c c"ủ"a khoa tr"ồ"ng tr"ọ"t 1991-1992
Tác giả: Trần Đình Chiến
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1993
9. Nguyễn Mạnh Chinh (1977), "Tổng kết 15 năm theo dõi quy luật phát sinh phát triển của sâu đục thân lúa ở vùng Cổ Lễ (Hà Nam Ninh 1960- 1974)", Thông tin BVTV, 2, tr. 16-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết 15 năm theo dõi quy luật phát sinh phát triển của sâu đục thân lúa ở vùng Cổ Lễ (Hà Nam Ninh 1960- 1974)
Tác giả: Nguyễn Mạnh Chinh
Năm: 1977
10. Vũ Quang Côn (1986), "Đặc điểm tạo thành các hệ thống “Vật chủ- ký sinh” ở các loài bướm hại lúa", Thông báo khoa học, Viện KHVN, tập 1 : 55-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tạo thành các hệ thống “Vật chủ-ký sinh” ở các loài bướm hại lúa
Tác giả: Vũ Quang Côn
Năm: 1986
11. Vũ Quang Côn (1987), “Vài dẫn liệu về nhóm các loài sâu cuốn lá lúa”, Thông tin bảo vệ thực vật, Số 2, tr. 47-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài dẫn liệu về nhóm các loài sâu cuốn lá lúa
Tác giả: Vũ Quang Côn
Nhà XB: Thông tin bảo vệ thực vật
Năm: 1987
12. Vũ Quang Côn (1989), “Các loại ký sinh và hiệu quả của chúng trong việc hạn chế số lượng sâu cuốn lá nhỏ hại lúa”, Tạp chí BVTV, số 3, tr.156-161 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các loại ký sinh và hiệu quả của chúng trong việc hạn chế số lượng sâu cuốn lá nhỏ hại lúa”, "T"ạ"p chí BVTV
Tác giả: Vũ Quang Côn
Năm: 1989
13. Cục BVTV (1984), Báo cáo tổng kết công tác BVTV 1981-1983, Báo cáo tổng kết ngành, Cục BVTV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo t"ổ"ng k"ế"t công tác BVTV 1981-1983
Tác giả: Cục BVTV
Năm: 1984
14. Cục BVTV (2002), Báo cáo tình hình phát sinh gây hại của sâu bệnh hại lúa năm 2002, Báo cáo chuyên ngành, Cục BVTV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình phát sinh gây h"ạ"i c"ủ"a sâu b"ệ"nh h"ạ"i lúa n"ă"m 2002
Tác giả: Cục BVTV
Năm: 2002
15. Cục BVTV (2003), Quyết định số 82/QĐ BNN ngày 04/09/2003, Phương pháp điều tra phát hiện sâu bệnh hại cây trồng, Cục BVTV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ph"ươ"ng pháp "đ"i"ề"u tra phát hi"ệ"n sâu b"ệ"nh h"ạ"i cây tr"ồ"ng
Tác giả: Cục BVTV
Năm: 2003
16. Cục BVTV (2005), Báo cáo tổng kết công tác BVTV năm 2005 toàn quốc, Báo cáo chuyên ngành, Cục BVTV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo t"ổ"ng k"ế"t công tác BVTV n"ă"m 2005 toàn qu"ố"c
Tác giả: Cục BVTV
Năm: 2005
17. Cục BVTV (2005), " Báo cáo tổng kết công tác BVTV 2003-2005", báo cáo chuyên ngành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác BVTV 2003-2005
Tác giả: Cục BVTV
Năm: 2005
18. Cục BVTV (2006), "Báo cáo tổng kết công tác BVTV 2006", báo cáo chuyên ngành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác BVTV 2006
Tác giả: Cục BVTV
Nhà XB: báo cáo chuyên ngành
Năm: 2006
19. Cục BVTV (2007), "Tình hình phát sinh gây hại sâu bệnh trên một số cây trồng chính và công tác chỉ đạo phòng trừ", tạp chí BVTV số 1/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình phát sinh gây hại sâu bệnh trên một số cây trồng chính và công tác chỉ đạo phòng trừ
Tác giả: Cục BVTV
Năm: 2007
20. Cục BVTV 2007, " Báo cáo kết quả ứng dụng hệ thống thân canh lúa SRI ở một số tỉnh phía bắc" Báo cáo chuyên ngành 9/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả ứng dụng hệ thống thân canh lúa SRI ở một số tỉnh phía bắc

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 : Thành phần sâu hại lúa và mức độ bắt gặp chúng trên lúa mùa năm 2011 tại TP Thái Nguyên - Điều tra đánh giá thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu hại chính và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên
Bảng 3.1 Thành phần sâu hại lúa và mức độ bắt gặp chúng trên lúa mùa năm 2011 tại TP Thái Nguyên (Trang 39)
Bảng 3.2 : Thành phần sâu hại lúa và mức độ bắt gặp chúng trên lúa xuân năm 2012 tại TP Thái Nguyên - Điều tra đánh giá thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu hại chính và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên
Bảng 3.2 Thành phần sâu hại lúa và mức độ bắt gặp chúng trên lúa xuân năm 2012 tại TP Thái Nguyên (Trang 40)
Bảng 3.3. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên lúa canh tác 3 giảm 3  tăng và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 - Điều tra đánh giá thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu hại chính và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên
Bảng 3.3. Diễn biến mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ xuân 2012 (Trang 42)
Bảng 3.4: Diễn biến tỉ lệ dảnh héo, bông bạc do sâu đục thân gây ra  trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ - Điều tra đánh giá thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu hại chính và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên
Bảng 3.4 Diễn biến tỉ lệ dảnh héo, bông bạc do sâu đục thân gây ra trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ (Trang 43)
Bảng 3.5: Diễn biến mật độ rầy nâu trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà - Điều tra đánh giá thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu hại chính và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên
Bảng 3.5 Diễn biến mật độ rầy nâu trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà (Trang 45)
Bảng 3.8. Diễn biến mật độ sâu hại chủ yếu trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng - Điều tra đánh giá thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu hại chính và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên
Bảng 3.8. Diễn biến mật độ sâu hại chủ yếu trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng (Trang 50)
Bảng 3.10: Thành phần thiên địch của sâu hại lúa và mức độ bắt gặp chúng trên lúa - Điều tra đánh giá thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu hại chính và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên
Bảng 3.10 Thành phần thiên địch của sâu hại lúa và mức độ bắt gặp chúng trên lúa (Trang 53)
Bảng 3.11: Diễn biến mật độ nhện lớn bắt mồi trên ruộng 3 giảm 3 tăng và - Điều tra đánh giá thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu hại chính và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên
Bảng 3.11 Diễn biến mật độ nhện lớn bắt mồi trên ruộng 3 giảm 3 tăng và (Trang 55)
Bảng 3.12 : Diễn biến mật độ bọ rùa đỏ trên ruộng 3 giảm 3 tăng và ruộng sản xuất - Điều tra đánh giá thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu hại chính và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên
Bảng 3.12 Diễn biến mật độ bọ rùa đỏ trên ruộng 3 giảm 3 tăng và ruộng sản xuất (Trang 56)
Bảng 3.13: Diễn biến mật độ kiến ba trên ruộng 3 giảm 3 tăng và - Điều tra đánh giá thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu hại chính và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên
Bảng 3.13 Diễn biến mật độ kiến ba trên ruộng 3 giảm 3 tăng và (Trang 57)
Bảng 3.14 : Diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu khi áp dụng mật độ cấy  trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ - Điều tra đánh giá thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu hại chính và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên
Bảng 3.14 Diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu khi áp dụng mật độ cấy trên lúa canh tác 3 giảm 3 tăng và canh tác đại trà trong vụ mùa 2011 và vụ (Trang 59)
Bảng 3.16. Diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu khi trên lúa canh tác - Điều tra đánh giá thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu hại chính và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên
Bảng 3.16. Diễn biến mật độ thiên địch chủ yếu khi trên lúa canh tác (Trang 63)
Bảng 3.17 : Năng suất lúa qua các hình thức canh tác lúa 3 giảm 3 tăng và - Điều tra đánh giá thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu hại chính và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên
Bảng 3.17 Năng suất lúa qua các hình thức canh tác lúa 3 giảm 3 tăng và (Trang 64)
Bảng 3.18 : Năng suất lúa qua các hình thức canh tác lúa 3 giảm 3 tăng và - Điều tra đánh giá thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu hại chính và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên
Bảng 3.18 Năng suất lúa qua các hình thức canh tác lúa 3 giảm 3 tăng và (Trang 64)
Bảng 3.19. Hạch toán hiệu quả kinh tế trên 3 giảm  3 tăng và ruộng nông  dân sản xuất đại trà vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 tại TP Thái Nguyên                                                                                       Đơn vị tính: (1000đ/ha) - Điều tra đánh giá thành phần và diễn biến mật độ của một số sâu hại chính và thiên địch trên mô hình canh tác lúa 3 giảm 3 tăng tại thành phố Thái Nguyên
Bảng 3.19. Hạch toán hiệu quả kinh tế trên 3 giảm 3 tăng và ruộng nông dân sản xuất đại trà vụ mùa 2011 và vụ xuân năm 2012 tại TP Thái Nguyên Đơn vị tính: (1000đ/ha) (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm