1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu

88 749 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Sau 3 tháng khống chế được dịch thì đến tháng 01 năm 2007, dịch LMLM lại tái phát tại bản Nậm Xe và Dền Thàng thuộc xã Nậm Xe huyện Phong Thổ, từ đây dịch đã lây lan trên địa bàn 13 bả

Trang 1

PHẠM ANH HÙNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ VÀ

XÁC ĐỊNH TYPE VI RÖT GÂY BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG

Ở TRÂU, BÕ TẠI TỈNH LAI CHÂU

Chuyên ngành: Thú y

Mã số: 62 62 50

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học : TS Nguyễn Văn Quang

Thái Nguyên, năm 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng:

- Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện nghiên cứu và viết luận văn

đã được cảm ơn Tất cả các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

Lai Châu, ngày 20 tháng 9 năm 2012

Tác giả

Phạm Anh Hùng

Trang 3

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo, tập thể cán bộ, nhân viên của Cục Thú y, Viện Thú y, Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, Chi cục Thú y tỉnh Lai Châu, Hội Nông dân tỉnh Lai Châu đã tạo điều kiện cho tôi triển khai và thực hiện nghiên cứu hoàn thành tốt đề tài

Một lần nữa, tôi xin ghi nhớ và bày tỏ lòng biết ơn tới tất cả những giúp

đỡ quý báu và nhiệt tình của các thày cô, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp

Lai Châu, ngày 20 tháng 9 năm 2012

Tác giả

Phạm Anh Hùng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU i

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3

Chương 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Lịch sử phát hiện bệnh 4

1.1.1 Tên gọi 4

1.1.2 Khái niệm 4

1.1.3 Lịch sử phát hiện bệnh 4

1.1.4 Bệnh LMLM trên thế giới 6

1.1.5 Bệnh LMLM ở Việt Nam 11

1.2 Vi rút LMLM 16

1.2.1 Hình thái và cấu trúc 17

1.2.2 Đặc tính di truyền, cấu trúc gen, kháng nguyên 17

1.2.3 Đặc tính kháng nguyên 20

1.2.4 Các điểm quyết định kháng nguyên 21

1.2.5 Tiến hóa của vi rút LMLM 21

1.2.6 Đặc tính gây nhiễm trong phòng thí nghiệm 22

1.2.7 Đặc tính nuôi cấy tổ chức tế bào 23

1.3 Một số đặc điểm dịch tễ học của vi rút LMLM 24

1.3.1 Nguồn dịch 24

1.3.2 Động vật cảm thụ 25

1.3.3 Đường xâm nhập 26

1.3.4 Cơ chế sinh bệnh 26

1.3.5 Chất chứa vi rút 27

1.3.6 Con đường và phương thức truyền lây 28

1.3.7 Lứa tuổi mắc bệnh 30

1.3.8 Tỷ lệ ốm và chết 30

1.4 Miễn dịch trong bệnh LMLM 30

1.5 Triệu chứng và bệnh tích ở trâu, bò 32

Trang 5

1.5.1 Triệu chứng 32

1.5.2 Bệnh tích 35

1.6 Chẩn đoán 35

1.6.1 Chẩn đoán lâm sàng 35

1.6.2 Chẩn đoán phòng thí nghiệm 36

1.7 Phòng bệnh LMLM 40

1.7.1 Vệ sinh phòng dịch 40

1.7.2 Vắc xin phòng bệnh 41

Chương 2 : NỘI DUNG, VẬT LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 44

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 44

2.1.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 44

2.2 Nội dung nghiên cứu 44

2.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học về bệnh LMLM ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu giai đoạn 2006 - 2011 44

2.2.2 Xác định tỷ lệ dương tính huyết thanh học đối với các chủng vi rút chủ yếu (O, A, Asia1), đánh giá tỷ lệ mang trùng ở trâu, bò 44

2.2.3 Định type vi rút gây bệnh LMLM ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu 44

2.2.4 Xác định loại vắc xin LMLM phù hợp tiêm cho đàn trâu, bò tại tỉnh Lai Châu 44

2.3 Vật liệu nghiên cứu 44

2.3.1 Mẫu bệnh phẩm 44

2.3.2 Tài liệu, số liệu 45

2.3.3 Sinh phẩm và Kit xét nghiệm 45

2.3.4 Thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 45

2.4 Phương pháp nghiên cứu 46

2.4.1 Phương pháp lấy mẫu máu 46

2.4.2 Phương pháp lấy mẫu biểu mô 46

2.4.3 Phương pháp 3ABC - ELISA phát hiện kháng thể nhiễm tự nhiên 46 2.4.4 Thiết kế thí nghiệm xác định tình hình nhiễm vi rút tự nhiên 47

Chương 3 : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 49

3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh LMLM tỉnh Lai Châu giai đoạn 2006 - 2011 49

Trang 6

3.1.1 Tình hình dịch LMLM tỉnh Lai Châu từ 2006 đến 2011 49

3.1.2 Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM ở tỉnh Lai Châu từ năm 2006 - 2011 51

3.1.3 Thời gian lưu hành bệnh LMLM ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu: 53

3.1.4 Lứa tuổi mắc bệnh 56

3.1.5 Tỷ lệ trâu, bò chết do mắc bệnh LMLM trong các ổ dịch 59

3.2 Xác định tỷ lệ dương tính huyết thanh học đối với kháng nguyên phi cấu trúc 3ABC, đánh giá tỷ lệ mang trùng do nhiễm vi rút tự nhiên ở trâu, bò 62

3.2.1 Tỷ lệ dương tính huyết thanh 3ABC tỉnh Lai Châu từ năm 2006 - 2012 62

3.2.2 Tỷ lệ dương tính huyết thanh 3ABC tại một huyện 63

3.2.3 Diễn biến tỷ lệ nhiễm vi rút tự nhiên tại một điểm 65

3.3 Định type vi rút gây bệnh LMLM ở trâu, bò tỉnh Lai Châu 66

3.4 Xác định loại vắc xin phòng bệnh LMLM phù hợp cho trâu, bò trên địa bàn tỉnh Lai Châu 66

3.5 Bản đồ Dịch tễ bệnh LMLM ở trâu, bò tỉnh Lai Châu giai đoạn 2006- 2011 67

KẾT LUẬN 1

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AND : Acid Deoxyribonucleic

ARN : Acid ribonucleic

ELISA : Enzyme Linked Immunosorbent Assay FMD : Foot and Mouth Disease

LMLM : Lở mồm long móng

LPB : Liquid Phase Blocking

OIE : Tổ chức Thú y Thế giới

PBS : Phosphate Buffered Saline

PCR : Polymerase Chain Reaction

RT : Reverse Transciption

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Tổng hợp số ổ dịch LMLM ở các huyện của tỉnh Lai Châu (2006- 2011) 49

Bảng 3.2a: Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM qua các năm (tách riêng trâu và bò) 51

Bảng 3.2b: Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo năm (tính chung trâu, bò) 52

Bảng 3.3a Số ca bệnh LMLM ở trâu qua các năm theo mùa (2006 - 2011) 53

Bảng 3.3b Số ca bệnh LMLM ở bò qua các năm theo mùa (2006-2011) 54

Bảng 3.3c Số ca bệnh LMLM ở trâu, bò theo mùa (tính chung trâu, bò) 54

Bảng 3.3d Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM qua các năm theo mùa (2006 - 2011) 54

Bảng 3.4a: Tỷ lệ trâu mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi 56

Bảng 3.4b: Tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi 57

Bảng 3.4c: Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi (tính chung trâu, bò) 57

Bảng 3.5: Tỷ lệ trâu, bò chết do mắc bệnh LMLM theo tuổi (2006 - 2011) 59

Bảng 3.6: Tỷ lệ trâu, bò chết do bệnh LMLM theo mùa (2006 - 2011) 60

Bảng 3.7: Tỷ lệ trâu, bò chết do bệnh LMLM theo năm 61

Bảng 3.8: Tỷ lệ dương tính huyết thanh học 3ABC ở trâu, bò tỉnh Lai Châu

(2006 - 2012) 62

Bảng 3.9 Tỷ lệ dương tính huyết thanh học 3ABC ở trâu, bò năm 2012 63

Bảng 3.10 Tỷ lệ dương tính ABC - ELISA ở trâu bò tại một huyện (Tam Đường) 64

Bảng 3.12 Tổng hợp kết quả xét nghiệm mẫu biểu mô từ trâu, bò (2006 - 2011) 66

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Bản đồ dịch tễ bệnh LMLM trên thế giới năm 2009 10

Hình 1.2 Cấu trúc của virion vi rút LMLM type O1BFS [38] 16

Hình 1.3 Sơ đồ hệ gen của vi rút LMLM [38] 18

Hình 1.4 Triệu chứng và bệnh tích ở miệng bò bị bệnh LMLM [54] 33

Hình 1.5 Bệnh tích ở miệng và lưỡi bò bị bệnh LMLM [53] 33

Hình 1.6 Bệnh tích ở vú bò bị bệnh LMLM [52] 34

Hình 3.1 Đồ thị số ổ dịch biến động theo thời gian (năm) 50

Hình 3.2 Đồ thị tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo năm 52

Hình 3.3 Đồ thị trâu, bò mắc bệnh LMLM theo mùa 55

Hình 3.4 Đồ thị tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh theo lứa tuổi 58

Hình 3.5 Đồ thị tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM chết theo lứa tuổi 59

Hình 3.6 Đồ thị tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM chết theo mùa 60

Hình 3.7 Đồ thị tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM chết theo năm 61

Hình 3.8 Bản đồ dịch tễ bệnh LMLM tỉnh Lai Châu giai đoạn 2006 - 2011

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Bệnh Lở mồm long móng (LMLM) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, lây lan rất nhanh, rất mạnh gây thiệt hại nặng nề đối với động vật dễ nhiễm thuộc loài móng guốc chẵn như: Trâu, bò, dê, lợn Bệnh đã được tổ chức Dịch tễ thế giới (OIE) xếp đầu bảng A (bảng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của động vật) và bắt buộc các nước thành viên phải khai báo

Bệnh do vi rút LMLM thuộc họ Picornaviridae, giống Aphthovirus gây

ra, có 2 đặc tính đặc biệt liên quan đến dịch tễ học, đó là tính đa type và tính

dễ biến đổi kháng nguyên Các type vi rút tuy gây ra các triệu chứng giống nhau, nhưng lại không gây miễn dịch chéo với nhau Bệnh LMLM là một bệnh của xã hội, bởi vì nó ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng nhiều hơn là riêng lẻ từng hộ chăn nuôi Bệnh có thể lây lan trong phạm vi một nước hoặc nhiều nước và trở thành đại dịch

Trong những năm gần đây, sự phát triển kinh tế thị trường đã thúc đẩy quá trình giao lưu, buôn bán động vật và sản phẩm động vật giữa các tỉnh trong nước và với nước ngoài như Trung Quốc, Lào, Cam Pu Chia Từ đó bệnh LMLM ở trâu, bò càng diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến kinh

tế - xã hội ở nước ta

Trên thực tế, việc khống chế và thanh toán bệnh LMLM đã gặp không ít khó khăn, từ việc kiểm dịch vận chuyển cho đến chăn nuôi thiếu qui hoạch, trâu bò thả rông Tiêm phòng vắc xin được xác định là giải pháp quan trọng, tuy nhiên việc chọn vắc xin phù hợp cho từng vùng, từng tỉnh đòi hỏi cần phải nghiên cứu kỹ type vi rút gây bệnh trên thực địa để tránh trường hợp tiêm phòng loại vắc xin không phù hợp, gây lãng phí và thiệt hại cho người chăn nuôi

Tỉnh Lai Châu có diện tích tương đối rộng, với 273 km đường biên giới Việt - Trung, địa hình chia cắt phức tạp, thời tiết khí hậu diễn biến phức tạp Hàng năm dịch LMLM gia súc vẫn tái phát trên địa bàn tỉnh làm hàng ngàn

Trang 11

gia súc mắc bệnh, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành chăn nuôi của tỉnh, đặc biệt là chăn nuôi trâu, bò

- Năm 2000 dịch LMLM đã xảy ra trên phạm vi rộng của nhiều huyện, thị xã của tỉnh Lai Châu Chỉ trong thời gian ngắn, từ 1 ổ dịch LMLM xuất hiện ở xã Bình Lư huyện Phong Thổ, dịch đã lây lan sang 7 huyện, 52 xã, 204 bản trong toàn tỉnh; tổng số gia súc mắc bệnh lên tới 21.448 con Dịch đã được dập tắt vào cuối năm 2000 [2] Từ đó đến tháng 4 năm 2006 dịch LMLM

không tái phát

- Sau 5 năm không tái phát dịch (2000 - 2005), đến tháng 5 năm 2006, ổ dịch LMLM lại bùng phát tại thị trấn Bình Lư huyện Tam Đường Sau đó dịch đã phát ra đồng loạt ở 3 huyện: Tam Đường, Phong Thổ và thị xã Lai Châu, tập trung chủ yếu ở các xã mà trước đây (năm 2000) đã xảy ra dịch LMLM Tốc độ lây lan của dịch rất nhanh trên đàn trâu, bò cả về số lượng và phạm vi Bệnh xảy ra trên cả đàn lợn và dê, nhưng ít lây lan Ổ dịch tái phát tháng 5 năm 2006 được khống chế và dập tắt vào tháng 9 năm 2006 Tuy nhiên, dịch đã lây lan trên 3 huyện, 21 xã, 106 bản với tổng số 3.678 trâu, 292

bò, 20 dê và 8 lợn mắc bệnh Trong đó có 13 bò và 23 trâu đã bị chết do dịch LMLM [2]

- Sau 3 tháng khống chế được dịch thì đến tháng 01 năm 2007, dịch LMLM lại tái phát tại bản Nậm Xe và Dền Thàng thuộc xã Nậm Xe huyện Phong Thổ, từ đây dịch đã lây lan trên địa bàn 13 bản của 2 xã thuộc huyện Phong Thổ với 487 con trâu bị mắc bệnh Tất cả gia súc mắc bệnh trng ổ dịch này đều được chữa khỏi về triệu chứng lâm sàng, ổ dịch được khống chế và dập tắt ngay sau đó (tháng 2 năm 2007) [2]

- Tháng 10 năm 2009 dịch LMLM tái phát tại xã Trung Đồng huyện Tân Uyên, làm 74 con trâu mắc bệnh và xã Ta Gia huyện Than Uyên làm 73 trâu

và 3 lợn bị mắc bệnh Đến tháng 12 năm 2009 dịch đã được khống chế [2]

- Tháng 01 năm 2010 dịch LMLM phát ra ở huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu, đến tháng 6 năm 2010 dịch được khống chế Đợt dịch này đã làm 1.790

Trang 12

con trâu, bò và 118 con lợn của 30 bản ở 11 xã thuộc huyện Mường Tè mắc bệnh [2]

- Đầu tháng 11 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011 dịch LMLM tái phát đồng loạt ở 78 xã của 7/7 huyện, thị xã của tỉnh Lai Châu, làm 6.951 con trâu,

bò và 389 con lợn bị mắc bệnh [2]

Như vậy, kể từ năm 2006 đến nay, có 5 đợt tái phát các ổ dịch LMLM trên địa bàn tỉnh Lai Châu, thì cả 7/7 huyện, thị xã của tỉnh đều có dịch Các đợt dịch này đã làm 12.833 con trâu, 475 con bò, 628 con lợn và 20 con dê bị mắc bệnh LMLM Số chết và phải tiêu hủy là 35 trâu, 15 bò và 18 lợn

Diễn biến phức tạp của dịch LMLM ở tỉnh Lai Châu đòi hỏi phải có những nghiên cứu về sự phân bố và lưu hành vi rút LMLM, từ đó có cơ sở khoa học để lựa chọn vắc xin phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống bệnh LMLM trên địa bàn tỉnh Để giải quyết vấn đó, chúng tôi triển

khai đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh LMLM trên đàn trâu, bò tại tỉnh Lai Châu"

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Xác định sự phân bố của các type vi rút LMLM tại tỉnh Lai Châu, làm cơ

sở lựa chọn loại vắc xin phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống bệnh LMLM cho gia súc

3 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh LMLM trên đàn trâu, bò tại tỉnh Lai Châu

- Các kết quả điều tra, nghiên cứu tại tỉnh Lai Châu sẽ cung cấp, bổ sung

và hoàn thiện thêm các thông tin về dịch tễ học bệnh LMLM tại việt Nam

- Các kết quả nghiên cứu về một số đặc điểm dịch tễ học, xác định sự phân bố của các type vi rút LMLM gây bệnh trên trâu, bò tại tỉnh Lai Châu là

cơ sở khoa học, giúp các cơ quan chức năng lựa chọn loại vắc xin LMLM phù hợp Từ đó có biện pháp quản lý, chỉ đạo công tác phòng chống dịch bệnh hiệu quả

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Lịch sử phát hiện bệnh

1.1.1 Tên gọi

Bệnh LMLM được gọi bằng những tên: Foot and mouth disease (FMD, Anh), La fièvre aphteuse (FA, Pháp), Afta epizootic (Ý), Maul und Klauenseuche (MKS, Đức), Fiebre aphtosa, glosso peda (Tây Ban Nha), Khẩu

đề dịch (Trung Quốc), Lở mồm long móng (Việt Nam)

1.1.2 Khái niệm

Bệnh Lở mồm long móng (LMLM) do vi rút thuộc họ Piconarviridae gây nên là bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm Bệnh có đặc điểm sốt, nổi mụn nước ở niêm mạc miệng, da, gờ móng, kẽ móng và trên đầu vú, bầu vú của con cái của tất cả các loài thú guốc chẵn (cả gia súc và động vật hoang dã) [13], [23]

Bệnh có tính chất dịch lớn, lây lan rất nhanh và rất mạnh, có thể xẩy ra trên diện rộng ở nhiều vùng trong một nước hay nhiều nước Tỷ lệ gia súc mắc bệnh rất cao, gây thiệt hại rất lớn về kinh tế mặc dù tỷ lệ chết ở gia súc trưởng thành thấp Bệnh LMLM được Tổ chức Dịch tễ thế giới (OIE) xếp vào danh mục bệnh của nhiều loài, nằm trong danh mục những bệnh phải công bố dịch đối với tất cả các quốc gia

1.1.3 Lịch sử phát hiện bệnh

Mô tả đầu tiên về bệnh LMLM và tài liệu còn lưu lại đến nay là công trình của tác giả người Ý tên là Francastorius vào năm 1514 Bệnh đã gây ra những tổn thất lớn về kinh tế trên thế giới, nhưng đến giữa thế kỷ 19 người ta mới xác định được tính chất truyền nhiễm của bệnh

Từ lúc xuất hiện bệnh đến năm 1897, các tài liệu ghi chép lại chủ yếu quan tâm đến mô tả triệu chứng [20] Những nghiên cứu về vi rút học và dịch

tễ học khởi đầu từ năm 1897, được quan tâm và phát triển trong giai đoạn tiếp

Trang 14

theo Năm 1897, Loeffler và Frosch đã phân lập được vi rút gây bệnh [22] Waldmann và Pape (1920) đã chứng minh được tính cảm thụ của chuột lang đối với vi rút Năm 1922, Valleé và Carré tìm thấy tính đa dạng của huyết thanh miễn dịch chống vi rút (type O và type A) Năm 1926, Waldmann và Trauwein tìm ra vi rút type C Sau đó, Lawrence khám phá ra các type SAT1, SAT2 và SAT3 từ những bệnh phẩm ở Châu Phi gửi đến viện Pirbright và type Asia1 từ những bệnh phẩm ở Đông Nam Á, Hồng Kông, Ấn Độ, Miến Điện [20]

Từ đầu thế kỷ 20 trở đi, bệnh phát ra ở nhiều nơi trên thế giới Ở Châu

Mỹ, dịch LMLM xuất hiện ở Mỹ vào các năm 1902, 1908, 1914, 1924, 1929, 1932; ở Mexico năm 1946, Canada 1952 và nhiều nước ở Nam Mỹ như Argentina năm 1953 Bệnh cũng xuất hiện ở Venezuela năm 1950, Colombia năm 1950 - 1951 rồi lan sang Ecuador năm 1956 Ở Châu Phi, bệnh thường xẩy ra ở Bắc Phi, Nam Phi [22] Ở Châu Âu, có luồng dịch phát sinh từ Tây Đức lan sang Hà Lan, Bỉ, Lucxemburg, Pháp, Anh, Ý, Áo, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy và Ba Lan vào năm 1951; Bệnh kéo dài đến năm 1953, 1954 [22] Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1978) ở Châu Á, bệnh phát ra ở Ấn Độ năm

1929, 1952…, Myanmar năm 1948, Thái Lan năm 1952, Trung Quốc năm

1951, Campuchia năm (1931, 1946, 1952) Bệnh LMLM ở Châu Á không dữ dội như ở Tây Âu nhưng ảnh hưởng đến kinh tế các nước Cận Đông, Trung Đông, Nam Á và Viễn Đông [22], [25]

Từ năm 1926 đến 1936, giai đoạn tập trung nghiên cứu về vắc xin và chương trình quốc tế về phòng chống dịch được hình thành Trong 3 năm (1937-1939) người ta thống kê được có 2 triệu ổ dịch trên khắp các châu lục

và cũng chính trong hoàn cảnh này, Waldmann và Kobe đã nghiên cứu chế tạo vắc xin vô hoạt bằng Formol hấp phụ bởi Al2(OH)3 để tiêm phòng cho gia súc Có thể coi đây là một bước ngoặt quan trọng trong công cuộc khống chế bệnh LMLM trên phạm vi toàn cầu Năm 1947, Frenkel đã cho ra đời loại vắc xin cải tiến, nuôi cấy trên tế bào thượng bì của lưỡi bò, gọi là vắc xin Frenkel

Trang 15

Loại vắc xin này nhanh chóng được sử dụng tại Hà Lan, Pháp và Đức Sau đó nhiều phương pháp nghiên cứu nuôi cấy vi rút đã được tìm ra giúp cho việc cải tiến kỹ thuật chế vắc xin [14]

Các viện nghiên cứu lần lượt ra đời trên khắp các lục địa như Alfort (Pháp, 1901), Ile de Riems (Đức, 1909), Pirbright (Anh, 1924), Viện nghiên cứu về bệnh LMLM ở Lyon (Pháp, 1947), Laboratoire de Plum (Hoa Kỳ), Sao Paolo (Brazin), Nong Sarai (Thái Lan) Vào năm 1958, Pirbright trở thành phòng thí nghiệm tham chiếu thế giới về bệnh LMLM (WRL: World Reference Laboratory)

Trong những năm gần đây, kỹ thuật chẩn đoán được cải tiến đã giúp cho việc xác định bệnh được nhanh chóng Vắc xin được sản xuất với chất lượng cao và cùng với chiến lược khống chế bệnh hiệu quả, nhiều nước đã khống chế hoặc thanh toán bệnh thành công Hiện có 59 nước trên thế giới được tổ chức Thú y thế giới (OIE: Office International Epizooties) công nhận là nước an toàn dịch bệnh LMLM [43]

1.1.4 Bệnh LMLM trên thế giới

Tình hình dịch trong những năm 60 rất trầm trọng, trung bình mỗi năm

có 4.000 ổ dịch Đến những năm 70, bệnh có xu thế giảm ở Châu Âu, Châu

Mỹ nhưng vẫn phổ biến ở Châu Phi (Mauritania, Senegal, Liberia, Tanzannia, Nigeria ) và Châu Á (Indonesia, Malaisia, Thái Lan ) [4], [14]

Vào những năm 80, dịch LMLM có mặt ở nhiều châu lục Trong 5 năm (1981 – 1985), dịch đã xuất hiện ở khắp 80 nước Ở Châu Âu có 804 ổ dịch tại 12 quốc gia do vi rút thuộc các type O, A, và C gây ra Năm 1985, dịch LMLM do vi rút thuộc type Asia 1 xảy ra ở Hy Lạp [36] Cùng thời gian này,

ở Châu Á, dịch đã có mặt tại 11 nước và hầu hết các ổ dịch cũng do vi rút type Asia 1 Ở Châu Phi, dịch LMLM gây thiệt hại ở nhiều nước, đặc biệt là Kenia và Ethiopia (1984-1985) Vi rút type C là căn bệnh chính của những ổ dịch ở 2 nước này Tại các nước còn lại của châu lục này, bệnh LMLM đều

do vi rút thuộc 3 type SAT gây ra [6]

Trang 16

Năm 1989, theo thông báo của OIE, dịch LMLM đã xảy ra ở 53 nước ở khắp các châu lục: Á, Âu, Phi, và Nam Mỹ Cho đến nay, một số quốc gia đã đạt được thành quả tốt trong việc khống chế và thanh toán bệnh, như các nước thuộc khối công đồng Châu Âu, Bắc Mỹ, Argentina, Indonesia và gần đây là cộng hòa Séc Tuy nhiên, dịch LMLM vẫn là nguy cơ của nhiều quốc gia, uy hiếp nghiêm trọng nền chăn nuôi và thương mại quốc tế [6]

Những năm 1990, ở châu Âu, các nước báo dịch gồm Italia, Bulgari, Nga và Hy Lạp Năm 1993 có 55 ổ dịch xảy ra ở Italia, những ổ dịch đơn lẻ xảy ra ở Bulgari, Nga Giữa năm 1994, một ổ dịch xảy ra ở Hy Lạp trên đảo Lesbos và Thrace gần biên giới với Thổ Nhĩ Kỳ Năm 1996, có 2 ổ dịch ở Thổ Nhĩ Kỳ và 1 ở Hy Lạp Năm 1997, chỉ có Georgia và Armenia là có bệnh Trong năm 1998 (theo báo cáo của WRL [7]), một chủng type A mới được phát hiện tại Iran năm 1996 đã lan đến Thổ Nhĩ Kỳ sát Istanbul, dịch kéo dài đến cuối năm 1998

Ở châu Phi, vào thập kỷ 90, vi rút LMLM type O lưu hành rộng rãi ở Tây Phi, Gambia, Senegal, Uganda, Tanzania Malawi và Kenia Năm 1999,

ổ dịch LMLM type O bắt nguồn từ Mali (Tây Phi) theo đường vận chuyển

bò xuyên qua Sahara lan đến Algeria, Marocco và Tunisia Vi rút LMLM type SAT 2 lưu hành ở Uganda, Zambia và Kenia; SAT 1 được xác định ở Kenia [40]

Ở châu Á, dịch LMLM do vi rút type O và Asia 1 xảy ra ở Pakistan

và Myanmar; type O và A tại Nepal, Buhtan; type A ở Thái Lan Tại Malaysia, không công bố dịch từ năm 1998, nhưng trong thực tế 2 type vi rút O và Asia 1 vẫn lưu hành tại bán đảo Malay này (không gửi bệnh phẩm đến WRL) Hai ổ dịch địa phương tại Đài Loan và Philippines (đảo Luzon) đều do vi rút type O gây ra Tại Trung Quốc, dịch tại xảy ra tại Vân Nam nhưng không có thông tin về type vi rút [1]

Ở Tây Á, chủng Iran 98 type A gây bệnh tại Thổ Nhĩ Kỳ, Iran và lan đến Akmenia Vi rút type O đã gây dịch tại Lebanon, Kuwait, Iran, Iraq, Israel,

Trang 17

Qatar, Bahrain, Yemen và Saudi Arabia; Kazakstan và Kyrgyzstan (riêng Kazakhstan có vi rút type A) Ở Nam Mỹ, tình hình khống chế dịch LMLM

có nhiều thuận lợi, Paraguay được công nhận là nước an toàn dịch (có tiêm phòng) Argentina cũng được OIE công nhận là nước có vùng không bệnh LMLM không tiêm phòng [46]

Trong năm 2000, 59 nước đã báo cáo có dịch LMLM Ở châu Âu, dịch xảy

ra tại Hy Lạp; ở châu Á, dịch xảy ra ở Nga, Mongolia, Bangladesh, Cam Pu Chia, Trung Quốc, Nhật, Lào, Nepal, Pakistan, Philippin, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Việt Nam, Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Cápcazơ vùng Georgia, Azerbaijan, Armenia, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Turkmenistan và Tajikistan; ở châu Phi, dịch xảy ra tại Ai Cập, Kenya, Mauritania, Nam Phi, Tanzania, Uganda, Malawi, Namibia, Zambia và Zimbabwe, và các nước Nam Mỹ gồm Brazil, Colombia, Uruguay, Bolivia, Peru, Ecuador và Venezuela [1] Đại dịch 2000 do vi rút type

O Vi rút serotype O/TAW/99 gây bệnh ở Đài Loan (18/02/2000, trên dê); Nhật Bản (8/03/2000, trên bò), Hàn Quốc (20/03/2000, trên bò); ở Liên Bang Nga (10/04/2000, trên lợn); ở Mông Cổ (14/04/2000, bò, dê, cừu, lạc đà); ở Hy Lạp và

ở Zambia (02/03/2000) [4]

Năm 2001, dịch LMLM do type O tái bùng phát khắp châu Âu (Anh, Hà Lan, Pháp và Ireland); Nam Mỹ (Uruguay, Brazil và Colombia); ở châu Á (Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Afghanistan, Georgia, Azerbaijan, Mông Cổ, Kuwait, Bahrain, Yemen, Qatar, Ả Rập, Oman, Iran, Butan, Nepal, Malaysia, Philippin, Thái Lan và Đài Loan) Tính đến cuối tháng 4/2001, Chính phủ Anh đã phải chi phí cho việc tiêu hủy gia súc bệnh, dập dịch, tổng thiệt hại do dịch gây ra lên đến trên 14 tỷ đô la Mỹ Sau đó, dịch xảy ra ở một loạt các nước châu Âu, châu Mỹ, Phi và châu Á Tính đến tháng 7/2001, có trên 20 nước xảy ra dịch LMLM [15]

Năm 2004, không có ổ dịch LMLM nào được báo cáo chính thức trong các nước được OIE công nhận là không có bệnh (không tiêm phòng) Tuy nhiên, dịch lẻ tẻ tại vùng giám sát [quanh vùng an toàn dịch (Nam Phi) và

Trang 18

những vùng gần đây không xảy ra bệnh (Nga, Mông Cổ, Peru, Brazil và Colombia) Dịch bệnh cũng xảy ra tại các nước Trung Đông, châu Á, châu Phi và Nam Mỹ, nơi bệnh LMLM đã từng xảy ra Có 48 nước báo cáo dịch LMLM trong năm 2004 với các type vi rút gây bệnh khác nhau theo vùng địa lý

Từ năm 2000 - 2004 có 23 nước ở châu Á và châu Phi gửi mẫu đến WRL Kết quả type O vẫn là type phổ biến nhất; các type A, SAT 1 và SAT 2

có trình tự nucleotide (di truyền) biến đổi nhiều so với các chủng trước đây cùng serotype

Tại Đông Nam Á và vùng Viễn Đông, dịch bệnh do vi rút type O được ghi nhận ở Hồng Kông và tất cả các quốc gia thành viên SEAFMD, ngoại trừ Indonesia là nước không có bệnh LMLM Type A được tìm thấy ở Malaysia, Thái Lan, Lào và Việt Nam (2004) Các chủng vi rút type O phân lập được đều thuộc topotype ME-SA và Cathay Các vi rút phân lập từ Hồng Kông và Philippines nằm trong topotype Cathay nhưng lại thuộc dòng phụ khác Vi rút nhận được từ Việt Nam thuộc topotype Cathay hoặc ME-SA (chủng Pan - Asia) Vi rút type A ở Việt Nam thuộc topotype Asia, có quan hệ rất gần với các chủng gây dịch bệnh ở Thái Lan năm 2003, 2004 [42]

Trong năm 2005, bệnh LMLM đã xảy ra ở Brazil (serotype O), Colombia (serotype A), ở Nga (serotype Asia 1); ở Trung Quốc (serotype Asia 1), Hồng Kông (serotype Asia 1), Mông Cổ (serotype Asia 1); ở Botswana (serotype SAT 2), Congo (SAT 1, 2, 3 và A) Sự xuất hiện gần đây của serotype Asia 1 ở Trung Quốc, Hồng Kông, Mông Cổ, Myanmar, Nga, Tajikistan cùng với sự có mặt của serotype này ở Ấn Độ, Iran và Pakistan cho thấy rằng một chủng của Asia 1 có thể đang lây lan khắp châu Á Trong báo cáo của OIE năm 2005, không có dịch LMLM ở các nước trong vùng được coi là an toàn và không tiêm phòng văc xin LMLM Cũng trong năm này, FAO/WRLFMD đã nhận 266 mẫu bệnh phẩm LMLM từ 21 nước châu Âu,

Trang 19

châu Á, châu Phi và kết quả phân lập và định type cho biết type O vẫn chiếm

tỷ lệ lưu hành cao nhất [43]

Theo kết quả xét nghiệm của Phòng thí nghiệm giám định vi rút LMLM (Pirbright, UK) những năm gần đây, sự phân bố của các type và subtype vi rút LMLM trên thế giới vẫn như phân bố năm 2002 (hình 1.1)

- Châu Âu: những ổ dịch do vi rút type O và A có subtype A Iran/96 ở Iran và Thổ Nhĩ Kỳ

- Châu Phi: những ổ dịch do type O gây ra ở vùng Đông Bắc của lục địa (Algeria, Tunisia, Guinea, Burundi, Kenya, Tanzania và Zimbabue); type A phân bố ở Tây, Trung và Đông Phi; type C không phổ biến, các type SAT lưu hành rộng rãi, SAT 1 và SAT 2 xảy ra rộng khắp trừ phía Bắc Phi, nhưng SAT 3 chỉ xảy ra ở vùng hẹp của phía Nam châu Phi [49]

(Nguồn FAO:http://www.fao.org/corp/google_result/en/?cx= 018170620143701104933%3Aqq82jsfba7w&q=FMD+stituation+map+2008

&cof=FORID%3A9&x=12&y=7#1247) [55]

Hình 1.1 Bản đồ dịch tễ bệnh LMLM trên thế giới năm 2009

Trang 20

- Nam Mỹ: phổ biến là type O, A và C Những ổ dịch do vi rút type O gây

ra ở Bolivia, Brazil, Colombia và Ecuador, type A xảy ra ở Venezuela, Colombia và Peru

- Trung Đông: type O phổ biến nhất, tiếp theo là type A, Asia 1 và thỉnh thoảng có type C

- Châu Á: các nước có dịch do type O gây ra là Bahrain, Bangladesh, Campuchia, Hồng Kông, Ấn Độ, Iran, Iraq, Israel, Jordan, Malaysia, Nepal, Philippines, Qatar, Syria, Saudi Arabia, Đài Loan, Arab, các tiểu vương quốc

Ả rập, Lào, Việt Nam và Yemen Type A ở Bangladesh và Iran, type Asia 1 ở Iran và Malaysia, type C giới hạn ở tiểu lục địa Ấn Độ và Philippines

Theo kết quả phân tích gen vi rút gây bệnh ở phòng thí nghiệm giám định vi rút LMLM (IAH, Pirbright, UK), type O gây bệnh năm 2000 có cấu trúc gen khác với type O gây bệnh ở Đài Loan năm 1997 và khác với một số ổ dịch xảy ra gần đây trên thế giới, được đặt tên là South Asia topotype, chúng gây bệnh cho trâu, bò và lợn, phân bố rất rộng từ Đài Loan ở phía Đông tới

Hy Lạp ở phía Tây Năm 1999, có 14 tỉnh ở Trung Quốc bị dịch nặng đã ảnh hưởng lớn đến các nước láng giềng [38]

1.1.5 Bệnh LMLM ở Việt Nam

Ở Việt Nam, bệnh được phát hiện đầu tiên vào năm 1898 tại Nha Trang

và sau đó dịch đã xảy ra ở các tỉnh Trung và Nam Bộ (trong thời gian này bệnh cung được phát hiện ở cả Lào, Campuchia và Thái Lan) [9], [25]

Trong 2 năm 1921 - 1922, ở các tỉnh phía bắc có 690 ổ dịch xảy ra làm 13.018 con trâu, bò và lợn bị bệnh, trong đó 446 con chết ở Miền Đông Nam

Bộ, thể bệnh rất nhẹ và bệnh tích chủ yếu ở miệng [25]

Ở Trung Bộ và Bắc Trung Bộ, dịch đã gây nhiều thiệt hại Năm 1921 -

1922, có 213 ổ dịch LMLM, làm chết 52 con [25]

Vào những năm 1937, 1940 và 1948 dịch lại nổ ra liên tiếp ở Trung Bộ

và Nam Bộ, một ổ dịch lớn lan tràn khắp tỉnh Quảng Ngãi và ở Miền Bắc bệnh có rải rác ở Sơn Tây, Thanh Hóa [25]

Trang 21

Năm 1948 - 1949, dịch xảy ra ở Lai Hòa - Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh làm chết 3 trâu; ở Nam Bộ, Tây Nguyên có một ổ dịch Theo tổ chức Quốc tế về bệnh truyền nhiễm họp tại Sài Gòn tháng 3 năm 1953, bệnh có xu hướng định vị tại Việt Nam và Campuchia [25]

Năm 1952 - 1953, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bệnh liên tiếp

nổ ra ở Trung Bộ và lan ra Bắc Bộ Đến năm 1954, bệnh đã có mặt ở hầu khắp Bắc Bộ với 179 ổ dịch Đến tháng 4 năm 1955, bệnh xảy ra ở Liên khu III rồi lan sang khu tả ngạn, Liên khu Việt Bắc, Liên khu IV, Thành phố Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng Trong khoảng tháng 5 đến tháng 7 năm 1955, bệnh lan ra 11 tỉnh, 3 thành phố và tạm ngưng vào cuối năm 1955 [25]

Năm 1960, dịch phát ra ở 9 xã thuộc huyện Quỳnh Lưu – Nghệ An, sau

đó không thấy xuất hiện lại qua nhiều năm ở các tỉnh phía Bắc [14]

Từ năm 1961-1991, không có dịch LMLM ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam [14]

Trước năm 1969, cứ khoảng 2 đến 3 năm dịch LMLM tái phát 1 lần ở các tỉnh phía Nam Năm 1969, dịch phát nặng cho cả trâu, bò và lợn Dịch xuất phát từ Sài Gòn, Chợ Lớn, rồi lan ra các tỉnh và 5 trại lợn công nghiệp ở Nam Bộ [22]

Từ năm 1975, tình hình dịch LMLM được ghi nhận đầy đủ hơn Năm

1975, dịch LMLM xảy ra liên tiếp ở 17 tỉnh phía Nam từ Quảng Nam – Đà Nẵng trở vào các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Từ năm 1976 - 1983, theo số liệu của Cục Thú y, đã có 98 ổ dịch ở các tỉnh phía Nam làm 26.648 trâu, bò và 2.919 lợn bị bệnh Riêng trong năm

1983, các ổ dịch từ trâu, bò đã lan sang một trại lợn công nghiệp ở huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai làm hơn 2.200 con lợn bị mắc bệnh [9]

Trong những năm cuối thập kỷ 80, một số tỉnh phía Nam như An Giang, Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Tháp thường xuyên bị dịch LMLM do lây lan từ Campuchia sang Năm 1989, riêng tỉnh Đồng Nai có 3 huyện là Long An,

Trang 22

Long Thành và Mộc Xuyên bị dịch kéo dài từ tháng 5 đến giữa tháng 10 làm 3.514 trâu, bò bị bệnh [9]

Năm 1990, dịch cũng xuất hiện ở 4 huyện thuộc tỉnh Thuận Hải làm hơn 7.500 trâu, bò bị bệnh Dịch cũng xảy ra ở huyện Lộc Ninh tỉnh Sông Bé làm

100 trâu, bò bị ốm, không cày kéo được [9]

Năm 1992, dịch phát tại Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh và những năm sau đó, bệnh có mặt ở cả 3 miền của đất nước [9]

Năm 1993, dịch đã lan rộng ra trên địa bàn 122 xã của 18 huyện thuộc 8 tỉnh bao gồm Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Bình Thuận và Bà Rịa – Vũng Tàu, với tổng số 32.260 trâu, bò và 1.612 lợn bị bệnh [9]

Năm 1995 là năm dịch phát ra ở nhiều tỉnh trong cả nước (107 huyện của

26 tỉnh thành, với tổng số 236.000 trâu, bò và 11.021 lợn bị bệnh [9], tác động đến hầu hết các tỉnh Nam Bộ đặc biệt là Đồng bằng Sông Cửu Long Dịch phát ra đầu tiên tại thị xã Sa Đéc của tỉnh Đồng Tháp (20/4/1995), chỉ trong một thời gian rất ngắn, bệnh dịch đã lan rộng ra 10 huyện trong tổng số 11 huyện của tỉnh, làm cho 5.135 trâu, bò và lợn bị bệnh Theo đường buôn bán, vận chuyển lợn bệnh của các tư thương, dịch đã lan sang các huyện, thị trong tỉnh và sau đó lan sang các tỉnh lân cận như Vĩnh Long (24/4/1995), An Giang (28/4/1995), Cần Thơ (20/11/1995) rồi lan ra khắp các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, đến Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu [9]

Ngay từ ổ dịch đầu tiên trên lợn tại Đồng Tháp, phòng thí nghiệm của Trung tâm Thú y vùng Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định được bệnh do vi rút type O gây ra Theo điều tra, nguyên nhân là do mua lợn giống từ Miền Bắc vào

Dịch LMLM đã xảy ra trên trâu, bò liên tục suốt thời gian từ 1975 -

2005, trên lợn từ 1992-2005 và gây thiệt hại nặng nề nhất vào các năm

Trang 23

1993, 1995, 1999, 2000 Ngoài type O lưu hành trong nhiều năm qua, type

A cũng đã được phát hiện năm 2004 trên trâu, bò [8] và type Asia 1 trên trâu, bò và lợn năm 2005 ở Việt Nam [16]

Theo số liệu của Cục Thú y [8], năm 1999, trong khi vẫn chưa chấm dứt các đợt dịch từ các tỉnh miền Trung và miền Nam thì ở miền Bắc, đợt dịch mới từ Trung Quốc tràn sang tấn công hàng loạt các tỉnh giáp biên Cao Bằng

là điểm dịch đầu tiên, từ đó dịch lan sang các tỉnh khác Tính đến ngày 10/3/2000 cả nước có 58/61 tỉnh, thành phố bị dịch với 297.808 trâu, bò và 36.530 lợn mắc bệnh [9]

Năm 2001, bệnh xảy ra ở 16 tỉnh thành với 3.976 trâu, bò mắc bệnh [4] Năm 2002, bệnh xảy ra ở 26 tỉnh thành với 10.287 trâu, bò mắc bệnh [4] Năm 2003, 38 tỉnh thành có dịch, trong đó 28 tỉnh thành có dịch ở trâu, bò và 28 tỉnh có dịch ở lợn, với tổng số 20.303 trâu, bò; 1.178 dê và 3.533 lợn mắc bệnh, chủ yếu ở các tỉnh: Quảng Trị, Phú Yên, Khánh Hoà, Gia Lai, Hà Giang [9]

Năm 2004, số tỉnh có dịch LMLM là 45 tỉnh, với 577 xã thuộc 169 huyện có dịch Tổng số gia súc mắc bệnh là: 25.658 trâu bò, 127 dê và 1.555 lợn, trong đó có 9 tỉnh do virus LMLM serotype A (phát hiện lần đầu tiên tại Ninh Thuận và Bình Định vào 8/2004), 3 tỉnh do cả 2 virus LMLM serotype

O và A Nguyên nhân của việc xuất hiện virus LMLM type A có thể là do việc nhập lậu bò từ Campuchia [9]

Năm 2005, số tỉnh có dịch LMLM là 37 tỉnh, với 408 xã của 160 huyện

Số gia súc mắc bệnh là: 28.241 trâu, bò, 3.976 lợn và 81 dê, trong đó có 3 tỉnh

do virus LMLM serotype A, 13 tỉnh do virus LMLM serotype O, 3 tỉnh do cả 2 virus LMLM serotype O và A, 2 tỉnh do virus LMLM serotype Asia 1 (Lào Cai

và Khánh Hoà vào tháng 10/2005) [3]

Năm 2006, dịch LMLM trên trâu bò đã xảy ra tại 1410 xã của 283 huyện thuộc 47 tỉnh, số gia súc mắc bệnh là 114.015 con Dịch LMLM trên lợn cũng

Trang 24

xảy ra ở 516 xã của 191 huyện thuộc 54 tỉnh làm 44.450 lợn mắc bệnh Trong

đó type Asia 1 có ở Hà Giang, Yên Bái, Tuyên Quang, Cao Bằng và Thái Bình (phát hiện bằng kít 3ABC và giám định bằng phương pháp RT-PCR) với tổng số 9.271 trâu bò và 12.461 lợn bị bệnh Trong năm 2006 cả nước đã xử

lý tiêu huỷ 4.906 trâu, bò, 31.087 lợn [3]

Năm 2007 có 37 tỉnh có dịch, trong đó 294 xã, 225 huyện thuộc 25 tỉnh dịch sảy ra trên trâu bò và 172 xã, 71 huyện thuộc 26 tỉnh có dịch LMLM trên lợn với tổng số 11.355 trâu, bò và 12.386 lợn mắc bệnh Số phải xử lý tiêu huỷ và chết là 3.765 trâu, bò và 11.122 lợn Type virus lưu hành chủ yếu

là type O, type A chỉ có ở Phú Yên và type Asia1 có ở Quảng Trị và Thanh Hoá [3]

Năm 2008, dịch có giảm so với các năm trước, có 122 xã của 43 huyện thuộc 14 tỉnh có dịch làm 2.408 trâu, bò và 67 lợn mắc bệnh Số chết, tiêu hủy

là 218 trâu, bò và 39 lợn Type O vẫn là type virus xuất hiện nhiều nhất trong các ổ dịch, Tháng 12/2008 phát hiện type A tại Nghệ An [9]

Năm 2009, dịch đã xảy ra ở 229 xã thuộc 87 huyện của 27 tỉnh, thành phố với tổng số 7.861 con trâu, bò mắc bệnh, 432 con phải tiêu hủy Trên lợn, dịch sảy ra ở 35 xã thuộc 23 huyện của 16 tỉnh, thành phố với tổng số 499 lợn mắc bệnh, 429 con phải tiêu hủy [9]

Dịch LMLM xảy ra trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung bộ, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc Dịch xảy ra trên quy mô rộng vào tháng 9/2009, cao điểm nhất có tới trên 90 ổ dịch xuất hiện trong tháng, các tháng khác dịch xảy ra ít hơn và rải rác tại nhiều địa phương Dịch LMLM týp A xuất hiện tại vùng miền núi phía Bắc (Sơn La, Bắc Giang và Hà Giang), Tây Nguyên (Kon Tum), đồng bằng sông Cửu Long (Long An) - là những vùng đã lâu không có týp vi rút này [3], [10]

Năm 2010: dịch đã xảy ra ở 297 xã thuộc 103 huyện của 28 tỉnh, thành phố là Bắc Ninh, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên

Trang 25

Bái, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ

An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Phước, Bà Rịa Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Sóc Trăng, Phú Thọ và Thái Nguyên với tổng số 16.333 con trâu, bò mắc bệnh, 419 con trâu,

bò phải tiêu hủy Có 16 tỉnh, thành phố có lợn bị mắc bệnh LMLM, với tổng

số 1,675 con lợn mắc bệnh, 848 con phải tiêu hủy [9], [10]

Dịch xảy ra trên quy mô rộng vào tháng 12/2010 với trên 98 ổ dịch Tháng 11/2010 có 56 ổ dịch xuất hiện Các tháng khác dịch xảy ra ít hơn và rải rác tại nhiều địa phương [9]

Các ổ dịch LMLM từ đầu năm 2010 đến nay đều do vi rút LMLM type

O gây ra [9], [10]

1.2 Vi rút LMLM

Vi rút LMLM thuộc họ Piconarviridae, chi Aphthovirus

Hình 1.2 Cấu trúc của virion vi rút LMLM type O1BFS [38]

Trang 26

Chú thích: (a) Một đơn vị cấu trúc (protomer) của vi rút LMLM với cấu trúc “mạch lá β - vòng uốn -mạch lá β” có tiếp nối nhau từ các protein VP1 – VP2 – VP3 (b) Một pentamer nằm trên virion, tạo nên hình đối xứng 5 cạnh,

do 5 protomer hợp thành (c) Cấu trúc của một virion hoàn chỉnh, gồm có vòm G – H (màu vàng) cấu tạo bởi 2 chuỗi βG và βH (βG – βH), trong đó định vị chuỗi tripeptide RGD (Arg – Gly – Asp) (màu trắng) là vị trí đặc hiệu nhận biết và tiếp xúc với thụ thể tế bào cảm nhiễm (d) Cấu trúc không gian của protomer (sử dụng phần mềm mô phỏng RasMole): Màu tím chỉ các phần

gồ lên trên bề mặt (G – H); Màu vàng chỉ vị trí chuỗi tripeptide với 3 amino acid RGD Mỗi virion đều: VP1 (màu xanh da trời), VP2 (xanh lá cây), và VP3 (đỏ) VP4 là polypeptide nằm sâu trong hạt vi rút (bị che khuất)

1.2.1 Hình thái và cấu trúc

Hình thái: Vi rút LMLM là loại vi rút nhỏ nhất trong các vi rút qua lọc Dạng vi rút thành thục có đường kính là 23nm Dưới kính hiển vi điện tử, vi rút thường có hình cầu, đường kính 20-28nm, gồm 20 mặt đối xứng, 30 cạnh

và 12 đỉnh

Cấu trúc: Cấu trúc vi rút gồm phần trung tâm là axit nucleic chiếm 31%, được bao bọc bởi một capsid là protein, gồm 60 capsome, không vỏ bọc Hạt vi rút là phân tử ARN là đơn vị gây nhiễm, đóng vai trò như một ARN thông tin Dưới ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như pH, nhiệt độ, hạt vi rút

có thể phân ly thành những phần tử nhỏ ARN và những tiểu phần protein của capsome (thường gọi là tiểu phần 12S) dài 7-8nm [21], [38]

Sức đề kháng của vi rút đối với ngoại cảnh tương đối mạnh, tùy thuộc vào chất chứa của nó, đặc biệt khi nó dính vào những chất khô hay những chất protein [21], [25]

1.2.2 Đặc tính di truyền, cấu trúc gen, kháng nguyên

Hệ gen của vi rút LMLM bao gồm phần không mã hóa cho protein đầu

5’ (5’UTR) và đầu 3’ (3’UTR), phần mã hóa cho protein cấu trúc (1 ABCD)

Trang 27

và phần mã hóa protein không cấu trúc (2 ABCD và 3 ABCD) Chỉ thị phân

tử sử dụng nhiều nhất trong định type và nghiên cứu phả hệ vi rút LMLM là 5’ UTR và VP1 Cấu trúc của gen mã hóa cho các protein được trình bày ở hình 1.3

Hệ gen của vi rút LMLM với chiều dài 8.000-8.500 base [21], [37] Do đặc điểm của các vi rút ARN sợi đơn dương, có tính biến dị rất mạnh

Hình 1.3 Sơ đồ hệ gen của vi rút LMLM [38]

Bộ gen chứa một khung đọc mở duy nhất ORF, với 2 vị trí khởi đầu giải

mã cho một protein chung (polyprotein) Polyprotein được chia thành hơn 12 polypeptide chức năng và trung gian của các phần sẽ bị cắt [15], [48] Hầu hết các quá trình phân cắt tạo các protein trưởng thành được xúc tác bởi 3 proteinase của vi rút là Lpro, 2 A và 3 Cpro Hai đầu của bộ gen có thể được thay đổi, đầu 5’ tận cùng bởi VPg (khoảng 23 axit amin), đầu 3’ bởi chuỗi Adenyl Lpro là nhân tố quan trọng quyết định độc tính của vi rút

Trang 28

Những protein tạo nên capsid có tính chất kháng nguyên và khả năng sinh kháng thể, gồm 4 loại: VP1 , VP2, VP3, VP4 (VP: viral protein) VP1 ở ngoài cùng tham gia vào việc cố định vi rút trên những tế bào và là một trong những loại kháng nguyên chính kích thích tạo ra kháng thể chống lại bệnh LMLM Do đó, có thể nói VP1 đóng vai trò quan trọng nhất trong sinh bệnh học vì nó là yếu tố sinh miễn dịch căn bản Protein VP1 kích thích tạo ra các kháng thể trung hoà ở trâu, bò và lợn, ba vùng kháng nguyên tương ứng đã được mô tả trên bề mặt của suptype A12 Hai trong những kháng nguyên đó

đã được phát hiện trên chuỗi polypeptide của VP1 và trong các tiểu phần có hằng số sa lắng 12 S Các vùng kháng nguyên này tham gia trong phản ứng trung hoà vi rút thông qua [48]:

- Sự kết hợp của các tiểu phần vi rút với kháng thể, qua đó vi rút mất khả năng xâm nhập (gây nhiễm)

- Phong tỏa các vị trí hấp phụ đặc hiệu

- Hạn chế khả năng xâm nhập và khả năng tái tạo vi rút

Về chức năng và cấu tạo của vi rút LMLM, các thành phần kháng nguyên của vi rút LMLM có thể được phân biệt như sau:

- Hạt vi rút có hằng số sa lắng 140 S với 60 bản sao của 4 loại protein (VP1, VP2, VP3, VP4)

- Vỏ capsid trần có hằng số sa lắng 75 S với 60 bản sao của VP0 – VP3

- Các capsome có hằng số sa lắng 12 S, được cấu tạo bằng các VP1 – VP3

- Kháng nguyên VIA có hằng số sa lắng 3,8 S; chuỗi RNA polymerase theo Schuel và Sadir, 1986

- Ngoại trừ phân tử ARN, các đơn vị cấu trúc cũng xuất hiện trong quá trình vi rút nhân lên trong mô bị nhiễm và có đặc tính kháng nguyên hoặc dị ứng nguyên Thành phần miễn dịch của một hạt vi rút hoàn chỉnh có khả năng kích thích con vật tạo ra các kháng thể đặc hiệu type Đặc tính này cũng được giữ nguyên trong quá trình bất hoạt và ức chế sự nhân lên của vi rút

Trang 29

Ngoài đặc tính kháng nguyên gây miễn dịch dịch thể đặc hiệu, hạt vi rút hoàn chỉnh còn có khả năng gây dị ứng là do các kháng nguyên vỏ Phân tử ARN của vi rút LMLM không quan trọng về mặt kháng nguyên

Sự sai khác về bộ gen là nguyên nhân tạo ra các biến chủng, đặc biệt thông qua sự đa dạng của phân tử VP1 Những khác biệt này dẫn đến tính kháng nguyên và hệ quả là đặc tính huyết thanh học khác nhau giữa các serotype các phân type và các biến chủng

1.2.3 Đặc tính kháng nguyên

Trên thế giới, người ta xác định được 7 type vi rút LMLM là: A, O, SAT

1, SAT 2, SAT 3 và Asia 1 [21], [34], [38]

Về mặt kháng nguyên, vi rút LMLM không đồng nhất, điều này xảy ra trong các serotype, mà mỗi serotype đó có thể có dưới type và các biến chủng hoặc các biến chủng này lại khác nhau về mặt huyết thanh học Sự sai khác về

bộ gen là nguyên nhân tạo ra các biến chủng, đặc biệt thông qua sự đa dạng của phân tử VP1

Cấu trúc VP1 cũng là điểm xuất phát của những công nghệ di truyền và công nghệ hóa hiện nay [12], [20] Mặc dù những protein khác như L, 2AC và 3AD không phải là phần cấu trúc capsid, nhưng chúng cũng tạo ra những đáp ứng kháng thể ở động vật nhiễm bệnh [33], [50]

Các phương pháp huyết thanh học dùng để xác định subtype đã mang lại nhiều kết quả quan trọng trong quá trình nghiên cứu vi rút LMLM Tuy nhiên, các phản ứng huyết thanh học được sử dụng đều phát hiện kháng thể kháng protein cấu trúc, protein vỏ của vi rút nhưng không phân biệt được đó là kháng thể của động vật đã được tiêm vắc xin phòng bệnh hay do nhiễm vi rút [28], [48]

Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, các kỹ thuật chẩn đoán cũng có nhiều phát triển vượt bậc Ngày nay, công nghệ phân tích gen đã được áp dụng nhiều trong công tác nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong sản

Trang 30

xuất vắc xin phòng bệnh Phương pháp PCR do Millis và cộng sự phát minh năm 1985 được sử dụng rộng rãi đã đem lại cuộc cách mạng di truyền học phân tử Đây là kỹ thuật hoàn toàn mới trong việc nghiên cứu và phân tích gen và hệ gen, có thể tạo ra số lượng lớn các bản sao của đoạn ADN mong muốn Phương pháp phân tích gen đã được áp dụng trong nhiều nghiên cứu về vắc xin ADN phòng bệnh LMLM Người ta đã xác định được các đoạn axit amin có khả năng kích thích đáp ứng miễn dịch nhanh, mạnh, tái tổ hợp vào ARN của vi rút dùng trong sản xuất vắc xin Khi các loại vắc xin ADN này được tiêm cho gia súc thì các đáp ứng miễn dịch đặc hiệu sẽ hình thành không chỉ chống lại các protein cấu trúc mà còn cả protein phi cấu trúc của vi rút [46], [48]

1.2.4 Các điểm quyết định kháng nguyên

Một số protein phi cấu trúc của vi rút LMLM gây đáp ứng miễn dịch là 3D, 3A, 3AB, 3ABC, 2C, 2B, 3C và Lpro Trong thời gian gần đây, một số protein phi cấu trúc 2C, 3B, 3AB, và 3ABC đã được nghiên cứu và nhiều phương pháp có độ nhạy cao đã được phát triển Tuy nhiên có lẽ phương pháp căn bản ELISA vẫn là sự lựa chọn tốt hơn do có nhiều thuận lợi về tính khách quan, độ nhạy cao, an toàn, rẻ, dễ giải thích và sử dụng phù hợp cho số lượng mẫu lớn ở thực địa [37] Brocchi và cộng sự (1998) [33] đã tiến hành thí nghiệm dùng kháng thể đơn dòng kháng protein phi cấu trúc 3ABC với kỹ thuật ELISA ngăn trở Mackay và cộng sự (1998) [41] cũng đã tìm kiếm kháng thể kháng kháng nguyên 3D, 3AB và 3ABC bằng phương pháp ADN tái tổ hợp Kết quả là ở những gia súc được bảo vệ bằng văc xin đã không tạo kháng thể kháng protein phi cấu trúc đặc biệt là 3ABC

1.2.5 Tiến hóa của vi rút LMLM

Thành phần hệ gen của vi rút LMLM luôn luôn biến đổi, ngay cả trong cùng một serotyp, các chủng phân lập ở các vùng địa lý khác nhau có mức độ tương đồng về thành phần nucleotide và axit amin cũng khác nhau

Trang 31

Mầm bệnh của bệnh LMLM là loại vi rút ARN nhỏ nhất trong các vi rút qua lọc [21], vi rút LMLM có hai đặc tính liên quan đến dịch tễ học, đó là tính

đa type và tính dễ biến đổi kháng nguyên Các type gây ra những triệu chứng bệnh tích giống nhau nhưng lại không gây ra miễn dịch chéo [25]

Vi rút LMLM gây những triệu chứng lâm sàng giống nhau nhưng được phân loại dựa vào kiểu gene xác định dựa trên so sánh trình tự VP1 Hiện có 7 type vi rút LMLM, trong đó mỗi type này lại phân chia thành nhiều type phụ (subtype) khác nhau bởi những đặc tính miễn dịch học (cấu trúc kháng nguyên, độc lực…) Hiện nay, người ta thừa nhận có hơn 70 type phụ vi rút LMLM Không có sự đồng nhất rõ rệt về đặc tính kháng nguyên trong các type, không có sự miễn dịch chéo giữa các type, chỉ có miễn dịch chéo giữa một số type phụ trong phạm vi một type [37], [45] Đối với 3 type O, A, C, trong một ổ dịch có thể có sự kết hợp của các type này, nhưng thông thường chỉ một type chiếm ưu thế

1.2.6 Đặc tính gây nhiễm trong phòng thí nghiệm

Ngay sau lần đầu tiên phát hiện vi rút LMLM, Loeffler và Frosch (1897)

đã nghiên cứu nuôi cấy vi rút trong phòng thí nghiệm để tìm hiểu đặc tính của

nó và tạo ra những chủng vi rút có tính kháng nguyên dùng để chế tạo vacxin Theo Waldmann (1937), khi tiêm vi rút LMLM cho bê mới đẻ chưa bú sữa mẹ sẽ gây bệnh và làm chết bê trong vòng 38 giờ; phủ tạng bê (đặc biệt là

cơ tim, phổi) và xương chứa nhiều vi rút Có thể gây bệnh bằng cách tiêm tĩnh mạch vi rút cho bê mới đẻ chưa bú mẹ, con vật chết trong khoảng 38 giờ với rất nhiều vi rút trong phủ tạng

Kết quả gây bệnh thực nghiệm cho bê trong phòng thí nghiệm phụ thuộc vào liều tiêm và đường tiêm truyền Kết quả gây bệnh thực nghiệm bằng phương pháp tiêm truyền dưới da không ổn định, tùy thuộc vào liều sử dụng

và cần ít nhất 1 ml máu độc mới có kết quả Tiêm vi rút vào tĩnh mạch bê cũng cho kết quả không ổn định, bệnh có thể diễn biến trầm trọng nhưng cũng

Trang 32

có thể chỉ ở thể nhẹ, thoáng qua Tiêm bắp vi rút cho bê có thể gây bệnh trầm trọng [25] Tiêm truyền đường phúc mạc bao giờ cũng gây bệnh, và kết quả

có thể cao hơn ở bê mới đẻ và nhịn đói Khi tiêm truyền bằng đường trên không có kết quả, có thể gây bệnh ở liều thấp vi rút bằng phương pháp tiêm nội bì Ở bò và lợn thường tiêm vào nội bì niêm mạc lưỡi (ở chuột lang tiêm vào nội bì gan bàn chân) Trong số các phương pháp tiêm truyền, tiêm nội bì

có hiệu quả nhất; những đường tiêm khác như bắp thịt, dưới da, tĩnh mạch… cho kết quả không chắc chắn và đòi hỏi liều vi rút cao hơn [21] Bệnh LMLM tái tạo trong phòng thí nghiệm bằng tất cả các đường tiêm truyền đều diễn biến nhẹ hơn so với thể bệnh lây tự nhiên

Động vật thí nghiệm: Trong phòng thí nghiệm, có thể gây bệnh bằng cách tiêm phúc mạc cho chuột lang, chuột đồng, chuột trắng, chuột nhắt xám, chuột nhắt trắng sơ sinh (12-14 giờ), chuột đất, chuột còn bú hoặc thỏ nhà, thỏ rừng, gà, trong đó chuột lang là động vật cảm thụ nhất

Chuột lang là động vật cảm thụ trong phòng thí nghiệm Waldmann và Page (1920) cho rằng, động vật thí nghiệm tốt nhất là chuột lang Khía da chuột lang có thể tái tạo mụn nước Độc lực của vi rút trên chuột lang được gia tăng bằng nhiều lần tiếp đời Trước đây, chuột lang là động vật thí nghiệm được dùng trong chẩn đoán, nhân vi rút và kiểm tra hiệu lực, an toàn của văc xin

Tiếp đời trên chuột nhắt, nhược độc hóa: trong phòng thí nghiệm, tiếp đời vi rút trên chuột nhắt trắng sau nhiều đời làm giảm độc lực của vi rút trên

bò Sau 20 lần tiếp đời qua chuột nhắt vi rút nhân lên ở chuột không còn khả năng gây bệnh cho bò nhưng vẫn còn khả năng gây miễn dịch Người ta dùng phương pháp này để chế vắc xin nhược độc

1.2.7 Đặc tính nuôi cấy tổ chức tế bào

Nhiều tác giả đã nuôi cấy vi rút LMLM trên da của thai lợn, thai bò còn sống (giữ thai sống bằng phương pháp nhân tạo) hoặc tiêm vi rút LMLM vào phúc xoang chuột nhắt con, tính kháng nguyên của vi rút không thay đổi

Trang 33

Mô động vật thích hợp nhất cho sự nuôi cấy vi rút LMLM là thượng bì lưỡi bò trưởng thành Lưỡi bò tươi, thu thập ngay sau khi giết mổ bò, bảo quản ngay trong lạnh 2 - 3OC không quá 8 ngày Vi rút LMLM phát triển ở thượng bì gây nhiễm hình thành mụn nước; Các mảnh thượng bì lưỡi có mụn nước là vật liệu chứa vi rút được dùng để tiếp đời hoặc thu vi rút chế vắc xin

Vi rút LMLM có thể giữ nguyên độc lực sau khi tiếp đời vi rút trên mô thượng bì lưỡi bò sau vài chục lần, phương pháp thường được dùng để nhân

vi rút chế vắc xin vô hoạt

Môi trường tế bào tốt nhất là lấy từ tuyến yên của bò hoặc lợn, thận bê hoặc cừu non, hoặc các dòng tế bào có độ mẫn cảm [49]

Viện Pirbright trong năm 1973 đã nuôi cấy 140 chủng vi rút LMLM, gần

120 chủng này đã sinh trưởng phù hợp trong môi trường BHK 21 [15]

Chế kháng nguyên: Dùng chuột lang từ 2 - 7 ngày tuổi để gây bệnh, sau

24 giờ có thủy thũng hoặc mọc mụn nước Thu dịch thủy thũng hoặc mụn nước cấy vào môi trường tế bào, sau 24 giờ xuất hiện bệnh tích và tế bào chết Thu dịch (trong môi trường có chứa vi rút được giải phóng từ tế bào) để làm kháng nguyên trong phản ứng ELISA Nếu tế bào không biến đổi hoặc chuột

bị chết, phải cấy truyền hai lần liên tiếp cách nhau 48 giờ với huyễn dịch vi rút - tế bào đông tan

1.3 Một số đặc điểm dịch tễ học của vi rút LMLM

1.3.1 Nguồn dịch

1.3.1.1 Nguồn dịch thiên nhiên

Trong tự nhiên, nhiều loài động vật hoang dã cảm thụ bệnh và có thể trở

thành nguồn bệnh cho vật nuôi Các loài nhai lại hoang dã như bò rừng (Bison bonasus), trâu rừng (yak), lạc đà, nhiều loài sơn dương, hoẵng, những loài

hươu khác nhau (như hươu Dama, hươu đỏ), nai, đều nhiễm vi rút LMLM Hoẵng nhiễm vi rút LMLM có biểu hiện triệu chứng điển hình, hươu Sira

biểu hiện ít trầm trọng hơn, hươu hoang dã (Fallowdeer) và hươu ved chỉ biểu

Trang 34

hiện dưới dạng ẩn tính Các loài nhai lại cảm thụ này đóng vai trò quan trọng trong dịch tễ học của bệnh [19]

1.3.1.2 Nguồn dịch gia súc mang trùng

Thú mang trùng được coi là vấn đề quan trọng nhất trong dịch tễ học của bệnh LMLM hiện tại “Thú mang trùng” được định nghĩa là thú mà ở đó vi rút sống có thể phân lập được 28 ngày sau khi nhiễm bệnh “Thú mang trùng” không chỉ có nghĩa là hoang thú mà cả động vật nuôi; trong thực tế có khoảng trên 50% bò, dê, cừu phơi nhiễm với vi rút LMLM trở thành “thú mang trùng”, bất luận chúng đã hoặc chưa được “bảo vệ” bằng vắc xin Sự hình thành trạng thái mang trùng phụ thuộc vào chủng và type huyết thanh của vi rút LMLM Thời gian mang trùng phụ thuộc vào loài nhiễm bệnh và có tính

cá thể

Vấn đề về động vật mang trùng đặc biệt quan trọng khi cân nhắc sử dụng văc xin để khống chế một ổ dịch, bởi vì vắc xin không ngăn chặn được sự nhiễm vi rút (bò đã được tiêm văc xin vẫn nhiễm bệnh và mang trùng) và các phương tiện chẩn đoán hiện tại chưa đảm bảo chắc chắn 100% phát hiện hết các trường hợp động vật mang trùng

1.3.2 Động vật cảm thụ

Bệnh LMLM chủ yếu là của loài nhai lại và lợn Loài vật ăn thịt ít mắc bệnh hơn Ngựa, loài một móng và người không cảm nhiễm bệnh [12], [25] Trâu và bò là những loài dễ mắc bệnh nhất [19], trong đó bò có tỷ lệ nhiễm và mức độ bệnh trầm trọng hơn trâu, sau đó đến lợn, cừu, dê Trong số các giống bò, bò lai được nuôi dưỡng tốt, khoẻ mạnh thường dễ nhiễm bệnh hơn Bệnh thường xảy ra ở trâu bò rồi lây sang lợn (trừ chủng vi rút chỉ nhiễm cho lợn) [6], vi rút LMLM chủng Cathay chỉ gây bệnh cho lợn

Động vật nhỏ (tiểu gia súc) như cừu có tỷ lệ cảm nhiễm thấp và giữ vai trò quan trọng trong việc mang trùng Cừu có thể mang trùng tới năm tháng

và duy trì sự nhân lên với mức độ thấp của vi rút Vi rút thường cư trú ở vùng hầu của gia súc

Trang 35

1.3.3 Đường xâm nhập

Đường hô hấp: Đường xâm nhập chính của vi rút là đường hô hấp, vi

rút vào vùng hầu ở trong các tế bào của màng nhầy họng rồi lan sang các tế bào lân cận, các hệ thống lưu thông và hệ lâm ba dẫn tới các tế bào, cơ quan khắp cơ thể

Đường tiêu hóa: Khi mầm bệnh theo thức ăn, nước uống xâm nhập vào

cơ thể qua đường tiêu hóa, chúng nhân lên trong lớp thượng bì của ống tiêu hóa làm thành mụn nước sơ phát, sau đó theo hệ thống máu và lâm ba đến khắp cơ thể

Da: Da nguyên lành không để vi rút đi qua, khi có vết xây xát gia súc có

thể nhiễm vi rút Tại những xây xát hoặc vết thương ở da, nhất là vùng vú thường xuất hiện mụn nước sơ phát; vùng da tổn thương cũng là nơi vi rút xâm nhập vào cơ thể

1.3.4 Cơ chế sinh bệnh

Vi rút LMLM phổ biến lây lan theo đường hô hấp, vi rút sinh sôi qua vùng hầu Ngoài đường hô hấp ra, bệnh có thể nhiễm qua da, vết thương da và niêm mạc Khi vi rút theo thức ăn, nước uống xâm nhập vào cơ thể hoặc qua các tổn thương ở da, trước tiên nó nhân lên trong lớp thượng bì của ống tiêu hóa hoặc của da, gây thủy thũng một số tế bào thượng bì, làm thành mụn nước sơ phát nhưng khó nhận biết vì con vật vẫn khỏe mạnh [12]

Tổn thương do vi rút gây ra tại cửa vào không gây triệu chứng bệnh (thời

kỳ nung bệnh); thời gian nung bệnh rất khác nhau phụ thuộc vào độc lực của

vi rút, số lượng vi rút và đường xâm nhập, thời gian nung bệnh ngắn 2 - 3 ngày, có khi lên tới 10 - 14 ngày, những trường hợp liều gây nhiễm thấp thời gian nung bệnh đối với chu kỳ đầu tiên có thể dài hơn [22]

Sau khi nhân lên ở vùng cửa vào và những hạch lâm ba lân cận, vi rút vào máu và được đưa đến các vị trí thứ cấp [12] Do tính hướng thượng bì, vi rút hầu như rất ít nhân lên ở các phủ tạng; vi rút phát triển chủ yếu trong

Trang 36

những tế bào thượng bì của niêm mạc và da, chủ yếu là những tế bào thượng

bì non, gây sưng hạch, tổn thương (mụn nước) các biểu mô quanh miệng (mõm lợn), chân, vú và gốc sừng Ngoài ra mụn nước cũng phát triển ở những nơi ít nhìn thấy như, trên trụ dạ cỏ, âm hộ, vùng bẹn… vi rút có thể qua đường tuần hoàn của con mẹ xâm nhập vào phôi thai và có thể gây sảy thai Vào giai đoạn cuối bệnh (cuối giai đoạn sốt), vi rút có thể tiếp tục nhân lên ở những tế bào đang phân chia vùng mô lân cận, và gây nên các mụn nước thứ phát

Mụn nước xuất hiện ở cả chiều sâu của thượng bì Do áp lực của nước ở trong mụn, mụn nước phát triển to ra, nhô lên Cùng với phản ứng viêm, bạch cầu di động đến làm cho dịch lâm ba của mụn nước màu trong trở nên đục và không bao giờ sinh mủ khi không có vi khuẩn kế phát Khi mụn vỡ, những vết tích ở thượng bì được lấp đầy nhanh chóng Mụn nước chỉ lở loét khi mồm, chân bị nhiễm vi khuẩn sinh mủ, gây hoại tử, xây xát gây nên bệnh lý cục bộ,

ăn sâu vào trong, có khi gây bại huyết làm con vật suy yếu hoặc chết

1.3.5 Chất chứa vi rút

Nước rãi: Độc lực của vi rút xuất hiện rất sớm trong nước dãi (10 giờ

sau khi nhiễm vi rút) Sự xuất hiện vi rút trước khi sốt trong nước dãi có thể

do sự nhân lên của vi rút ở cửa vào Số lượng vi rút cường độc trong nước dãi đạt cao nhất khi các mụn nước ở miệng vỡ, kéo dài đến ngày thứ 10-14 ngày sau khi có triệu chứng và biến mất sau 5 tuần [15] Vi rút được thải ra ngoài qua nước dãi lẫn nước mụn và mảnh thượng bì của mụn bị vỡ ra trên niêm mạc lưỡi và miệng Vi rút trong nước dãi tồn tại đến 2 ngày ở 37°C, 3 tuần ở 20°C, 5 tuần ở 4°C

Mụn nước: Vi rút có nhiều nhất trong nước của mụn tiên phát dưới 5 ngày,

mụn không còn vi rút sau khi hình thành mụn thứ phát Hàm lượng vi rút cao nhất

là trong nước mụn và thành mụn, 1 ml dịch mụn nước có chứa 108

TCID50 ở ngày thứ 2-3 sau khi có triệu chứng và giảm rõ rệt sau 4-5 ngày [17]

Trang 37

Máu: Vi rút LMLM xuất hiện trong máu của động vật cảm thụ vào thời

kỳ sốt, thường từ giờ thứ 18 sau nhiễm vi rút và có thể kéo dài 3-5 ngày Máu chứa ít vi rút hơn ở mụn nước, khoảng 105

TCID50/ml máu tại thời điểm cao nhất [15]

Các chất thải tiết khác: Vi rút LMLM cũng được thải ra môi trường

ngoài trong các chất/dịch bài tiết như nước tiểu, phân, sữa, nước mũi, nước mắt và tinh dịch Số lượng vi rút cường độc trong các chất bài tiết này thấp hơn ở nước dãi Độc lực của vi rút có trong chúng cùng một lúc với độc lực của vi rút có trong máu, cao nhất vào ngày thứ 2 và thứ 3 sau khi thú nhiễm vi rút và mất đi vào ngày thứ 4 hoặc thứ 5, ngoại trừ ở nước tiểu

Mô, tổ chức khác như: tim, da, tuyến tuỵ, tuyến giáp, trong mật và các hạch lâm ba cũng chứa một lượng lớn vi rút trong suốt giai đoạn bệnh cấp

tính [15] Sản phẩm động vật và phụ phẩm, chất thải: Các thú sản, sản phẩm

sữa, thịt, máu, xương, da, lông, móng, sừng đều chứa vi rút độc, rác thải của nhà bếp, nước rửa đun không kỹ cũng làm phát tán vi rút [16] Vi rút có thể giữ nguyên hoạt tính trên lông gia súc đến 4 tuần [15]

Chất thải, vật dụng chăn nuôi: tường, nền, máng ăn, chất lót chuồng, rơm

cỏ, nước rửa chuồng, các đồ vật và dụng cụ đều có thể chứa vi rút và trở thành nguồn cơ giới truyền lây vi rút

1.3.6 Con đường và phương thức truyền lây

Phương thức truyền bệnh LMLM rất đa dạng Vi rút gây bệnh LMLM có thể lây truyền trực tiếp giữa con mắc bệnh và con khoẻ khi nhốt chung hoặc chăn thả chung trên đồng cỏ Vi rút từ nước bọt, dịch mụn nước, các chất bài xuất, bài tiết của con vật mắc bệnh xâm nhập vào con khoẻ Bệnh cũng có thể truyền lây gián tiếp thông qua thức ăn, nước uống, máng ăn, máng uống, nền chuồng, dụng cụ chăn nuôi, thú y, sản phẩm chăn nuôi; phương tiện vận chuyển, tay chân, quần áo người chăn nuôi bị nhiễm vi rút

Trang 38

Bệnh lây truyền trực tiếp từ đàn này sang đàn khác, từ địa phương này sang địa phương khác do sự di chuyển của con vật nhiễm bệnh đến đàn chưa

có bệnh là hình thức lây truyền chủ yếu Do nhu cầu giao lưu, buôn bán động vật, sản phẩm động vật của các tỉnh, các vùng và các nước ngày càng phát triển, cùng với sự chênh lệch về giá cả đã thúc đẩy sự vận chuyển bất hợp pháp, tư thương đã tìm mọi cách để vận chuyển gia súc ra khỏi vùng dịch để kiếm lời Người chăn nuôi vì không rõ nguồn gốc hoặc tham giá rẻ đã mua về nuôi, từ đó mầm bệnh phát tán khắp nơi [15]

Chó, mèo, gà, chim muông, hoang thú, côn trùng không mắc bệnh nhưng

có thể truyền bệnh theo con đường cơ học từ nơi này đến nơi khác Những con vật đó khỏi bệnh nhưng vẫn mang vi rút trong móng chân, máu, nước tiểu

là nguồn gốc gây ra các ổ dịch mới Gió cũng là một yếu tố quan trọng trong việc làm lây lan bệnh qua không khí

Ngoài ra, vi rút có thể truyền từ mẹ sang bào thai Bê sinh ra mắc bệnh thường chết nhanh [18]

Thời điểm lây lan: vi rút xuất hiện trong nước bọt trước khi xuất hiện

các triệu chứng và tăng cao khi vỡ các mụn nước ở miệng; vi rút có mặt trong các chất thải tiết khác như nước tiểu, phân cũng đồng thời với sự xuất hiện mụn nước Mọi chất thải tiết và không khí đều mang vi rút Như vậy, vi rút được lan truyền ngay khi động vật chưa có triệu chứng và khả năng lây truyền tăng cao khi mụn nước vỡ Sau 4 ngày kể từ lúc mụn nước vỡ ra, khả năng lây nhiễm giảm hoặc không còn, trừ khi vi rút còn tồn tại trên da, lông, một vài con vật giữ được mầm bệnh như một vật mang trùng trong thời gian dài [19]

Phạm vi lây lan: Tốc độ gió, hướng gió là những yếu tố quan trọng

trong việc lây lan qua không khí Trong hoàn cảnh thuận lợi, vi rút có thể lan

xa 100 km nhờ gió Truyền lây vi rút trong không khí là kiểu truyền lây

“không kiểm soát được”, đáng sợ hơn nhiều lần so với các phương thức truyền lây “kiểm soát được” như sự tiếp xúc trực tiếp với gia súc mắc bệnh hoặc gián tiếp qua con người hay các vật dụng khác

Trang 39

Mùa truyền lây: Ở vùng nhiệt đới, bệnh LMLM thường ở thể nhẹ, ít

chết Đặc điểm bệnh này có thể do ảnh hưởng của khí hậu Trong sức nóng nhiệt đới, những chất, những bộ phận chứa vi rút bị tiêu diệt nhanh, làm giảm mức độ truyền lây Cũng có thể chính vì lý do nhiệt độ này, bệnh LMLM ở Việt Nam và các nước nhiệt đới khác bệnh lây lan quanh năm, nhưng thường phổ biến hơn vào mùa xuân, mùa mưa phùn, đất ẩm ướt, ánh nắng dịu của mùa đông

phát các bệnh khác khi mắc bệnh LMLM

1.4 Miễn dịch trong bệnh LMLM

Sau khi vi rút LMLM xâm nhập vào cơ thể động vật, chúng nhân lên, phá huỷ tế bào vật chủ gây sốt và tạo miễn dịch Cả miễn dịch dịch thể và miễn dịch trung gian tế bào đều xuất hiện trong bệnh lở mồm long móng, trong đó vai trò của miễn dịch trung gian tế bào đặc biệt quan trọng

Ở những con vật tiếp xúc với kháng nguyên lần đầu, đáp ứng miễn dịch thường chậm và ở mức thấp Khi tiếp xúc kháng nguyên lần thứ hai và những lần sau đó, đáp ứng miễn dịch xảy ra sớm hơn và ở mức cao hơn (miễn dịch thứ phát) Đặc điểm về thời gian và mức độ đáp ứng miễn dịch chính là cơ sở khoa học của việc tiêm phòng nhắc lại nhằm tạo miễn dịch chắc chắn cao và kéo dài

Trong tiêm phòng, kháng thể đặc hiệu tồn tại ở mức cao, kéo dài 4 - 6 tháng ở bò (đối với lợn, thời độ dài miễn dịch ngắn hơn), sau đó giảm dần, con vật lại mẫn cảm với căn bệnh Tác dụng bảo hộ kháng vi rút LMLM chủ

Trang 40

yếu dựa vào kháng thể trung hòa Tuy nhiên kháng thể trung hòa đơn độc không phải lúc nào cũng có khả năng khống chế sự lây nhiễm bệnh LMLM; một số con vật đã được tiêm vắc xin có rất ít hoặc không có kháng thể trung hòa nhưng vẫn có sức đề kháng chống lại căn bệnh [48]

Gia súc nhiễm bệnh thường có đáp ứng miễn dịch cao hơn và kéo dài hơn so với đáp ứng miễn dịch do vắc xin Sau khi lành bệnh, con vật có miễn dịch kéo dài từ 6 tháng đến 1 năm hay vài năm Miễn dịch có thể truyền cho con qua sữa đầu và kéo dài 3 tháng

* Miễn dịch chéo: Hiện tại, có 7 type vi rút LMLM (O, A, C, Asia1,

SAT1, SAT2 và SAT3) Các vi rút này khác nhau về kiểu gene (dựa trên so sánh trình tự VP1) và đặc tính huyết thanh học serotype Những type này lại phân chia thành nhiều type phụ (subtype) khác nhau bởi những đặc tính miễn dịch học (cấu trúc kháng nguyên, độc lực…) Các type/subtype vi rút này đều

gây bệnh LMLM với những triệu chứng lâm sàng giống nhau [21], [25]

Giữa các type, do không có sự đồng nhất về đặc tính kháng nguyên, chúng không có miễn dịch chéo Gia súc đã mắc bệnh do 1 serotype không có miễn dịch bảo hộ với type khác Miễn dịch bảo hộ chéo chỉ tồn tại giữa một

số subtype của cùng 1 type [25], [51]

Trong thực tế có những trường hợp con vật đã bị bệnh lại có thể ”tái phát”, hiện tượng này do vi rút các type khác nhau có mặt ở cùng một ổ dịch Con vật lành bệnh với 1 type nhưng mắc bệnh lại do type khác Đối với 3 typ O, A, C, trong một ổ dịch có thể có sự kết hợp của các type này, nhưng thông thường chỉ một type chiếm ưu thế Đây chính là cơ sở khoa học cho việc lựa chọn vắc xin phù hợp chủng nhằm tránh trường hợp gia súc đã được tiêm phòng nhưng vẫn mắc bệnh do không có miễn dịch đặc hiệu với chủng lưu hành, đồng thời hạn chế kinh phí dành cho việc sử dụng văc xin không phù hợp chủng Để có thể sử dụng vắc xin một cách

có hiệu quả, cần phải thường xuyên giám sát dịch tễ, tăng cường khả năng chẩn đoán và định type vi rút LMLM

Ngày đăng: 15/11/2014, 21:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Quang Anh & Hoàng Văn Năm. Tình hình bệnh lở mồm long móng tại Đông Nam Á và thế giới năm 2000. Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Thú Y 8, 90-93 (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Thú Y
6. Lê Minh Chí (1996), “Báo cáo tổng kết công tác phòng chống dịch lở mồm long móng năm 1995”, Cục thú y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác phòng chống dịch lở mồm long móng năm 1995”
Tác giả: Lê Minh Chí
Năm: 1996
8. Cục Thú y (2005). Chương trình Quốc Gia khống chế và thanh toán bệnh lở mồm long móng giai đoạn 2006 - 2010. Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Thú Y VII, 1-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Thú Y
Tác giả: Cục Thú y
Năm: 2005
10. Cục thú y. Trang Web của Cục Thú y - Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn. http://www.cucthuy.gov.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang Web của Cục Thú y - Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
Tác giả: Cục thú y
12. Donalsson A.I. (2000). “Bệnh lý học và dịch tễ học của bệnh lở mồm long móng” (tài liệu do Lê Minh Hà dịch), Tạp chí KHKT Thú y, 7, 43-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bệnh lý học và dịch tễ học của bệnh lở mồm long móng”
Tác giả: Donalsson A.I
Năm: 2000
13. Nguyễn Tiến Dũng (2000). Bệnh lở mồm long móng (bài tổng hợp). Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Thú Y 7, 8-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Thú Y
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 2000
14. Đào Trọng Đạt (2000). "Góp phần vào việc đấu tranh phòng chống bệnh lở mồm long móng". Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Thú Y 7, 6-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần vào việc đấu tranh phòng chống bệnh lở mồm long móng
Tác giả: Đào Trọng Đạt
Nhà XB: Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Thú Y
Năm: 2000
15. Nguyễn Văn Hưng (2011). "Nghiên cứu sự phân bố và lưu hành của vi rút lở mồm long móng ở vùng Duyên hải miền Trung". Luận án tiến sỹ khoa học nông nghiệp, Viện thú y Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự phân bố và lưu hành của vi rút lở mồm long móng ở vùng Duyên hải miền Trung
Tác giả: Nguyễn Văn Hưng
Năm: 2011
16. Nguyễn Viết Không, Nguyễn Văn Hưng, Lê Thắng, Trương Văn Dung, Trần Thị Thanh & Trịnh Quang Đại (2006). "Phát hiện type Asia 1 virut LMLM lần đầu tiên tại Khánh Hòa bằng kỹ thuật RT- PCR", Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, Tập XIII, (4), tr. 97-98 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát hiện type Asia 1 virut LMLM lần đầu tiên tại Khánh Hòa bằng kỹ thuật RT- PCR
Tác giả: Nguyễn Viết Không, Nguyễn Văn Hưng, Lê Thắng, Trương Văn Dung, Trần Thị Thanh & Trịnh Quang Đại
Năm: 2006
17. Tr. Doel. Merial Ltd. Pirbright, UK (2003), “Miễn dịch lở mồm long móng tự nhiên và do tiêm phòng; những triển vọng cải tiến vắc xin”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y. Tập X, (2), tr. 75-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch lở mồm long móng tự nhiên và do tiêm phòng; những triển vọng cải tiến vắc xin”," Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Tr. Doel. Merial Ltd. Pirbright, UK
Năm: 2003
18. Tr. Doel. Merial Ltd. Pirbright, UK (2003), “Miễn dịch lở mồm long móng tự nhiên và do tiêm phòng; những triển vọng cải tiến vắc xin”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y . Tập X, (3), tr. 74-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch lở mồm long móng tự nhiên và do tiêm phòng; những triển vọng cải tiến vắc xin”," Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Tr. Doel. Merial Ltd. Pirbright, UK
Năm: 2003
19. Nguyễn Lương (1997), "Dịch tễ học Thú y (phần chuyên khoa)". Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 32-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học Thú y (phần chuyên khoa)
Tác giả: Nguyễn Lương
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1997
21. Nguyễn Vĩnh Phước (1970), "Giáo trình Vi sinh vật học thú y". Nxb Đại học trung học chuyên nghiệp, Hà Nội 2-3, tr. 185-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Vi sinh vật học thú y
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Phước
Nhà XB: Nxb Đại học trung học chuyên nghiệp
Năm: 1970
22. Nguyễn Vĩnh Phước (1978). "Bệnh truyền nhiễm gia súc". Nhà xuất bản nông nghiệp, Hà Nội, tr. 185-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh truyền nhiễm gia súc
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Phước
Nhà XB: Nhà xuất bản nông nghiệp
Năm: 1978
23. Quyết định số 38 (2006), “Quyết định ban hành qui định phòng chống bệnh Lở mồm long móng gia súc”, Bộ Nông nghiệp & PTNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định ban hành qui định phòng chống bệnh Lở mồm long móng gia súc”
Tác giả: Quyết định số 38
Năm: 2006
24. TCVN. Tiêu chuẩn Việt Nam (2009): Chẩn đoán bệnh động vật - Qui trình chẩn đoán bệnh lở mồm long móng. TCVN-8400 Hà Nội, tr. 1-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TCVN-8400
Tác giả: TCVN. Tiêu chuẩn Việt Nam
Năm: 2009
26. Trần Hữu Cổn (1996). Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh LMLM trâu bò ở Việt Nam và xác định biện pháp phòng chống thích hợp. tr. 14-17.Luận án Phó tiến sĩ khoa học Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học bệnh LMLM trâu bò ở Việt Nam và xác định biện pháp phòng chống thích hợp
Tác giả: Trần Hữu Cổn
Năm: 1996
52. Website http://www.bullshit.com/ showthread.php?5655-FDA-being-full-of-shit -claims-raw-milk-is-full-of-germs/page2) Link
53. Website http://www.daff.gov.au/animal-plant-health/pests-diseases- weeds/ animal/fmd/pic-cattle) Link
54. Website http://en.mercopress.com/2010/04/15/fmd-emergency-in-korea-26.000-animals-at-211-farms-culled) Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Bản đồ dịch tễ bệnh LMLM trên thế giới năm 2009 - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu
Hình 1.1. Bản đồ dịch tễ bệnh LMLM trên thế giới năm 2009 (Trang 19)
Hình 1.2. Cấu trúc của virion vi rút LMLM type O1BFS [38] - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu
Hình 1.2. Cấu trúc của virion vi rút LMLM type O1BFS [38] (Trang 25)
Hình 1.3. Sơ đồ hệ gen của vi rút LMLM [38] - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu
Hình 1.3. Sơ đồ hệ gen của vi rút LMLM [38] (Trang 27)
Hình 1.4. Triệu chứng và bệnh tích ở miệng bò bị bệnh LMLM [54] - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu
Hình 1.4. Triệu chứng và bệnh tích ở miệng bò bị bệnh LMLM [54] (Trang 42)
Hình 1.5. Bệnh tích ở miệng và lưỡi bò bị bệnh LMLM [53] - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu
Hình 1.5. Bệnh tích ở miệng và lưỡi bò bị bệnh LMLM [53] (Trang 42)
Hình 1.6. Bệnh tích ở vú bò bị bệnh LMLM [52] - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu
Hình 1.6. Bệnh tích ở vú bò bị bệnh LMLM [52] (Trang 43)
Bảng 3.1 cho thấy: - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu
Bảng 3.1 cho thấy: (Trang 59)
Bảng 3.2b: Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo năm (tính chung trâu, bò) - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu
Bảng 3.2b Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo năm (tính chung trâu, bò) (Trang 61)
Bảng 3.3a. Số ca bệnh LMLM ở trâu qua các năm theo mùa (2006 - 2011). - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu
Bảng 3.3a. Số ca bệnh LMLM ở trâu qua các năm theo mùa (2006 - 2011) (Trang 62)
Bảng 3.3b. Số ca bệnh LMLM ở bò qua các năm theo mùa (2006-2011). - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu
Bảng 3.3b. Số ca bệnh LMLM ở bò qua các năm theo mùa (2006-2011) (Trang 63)
Bảng 3.3c. Số ca bệnh LMLM ở trâu, bò theo mùa (tính chung trâu, bò) - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu
Bảng 3.3c. Số ca bệnh LMLM ở trâu, bò theo mùa (tính chung trâu, bò) (Trang 63)
Bảng 3.3d. Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM qua các năm theo mùa (2006 - 2011) - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu
Bảng 3.3d. Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM qua các năm theo mùa (2006 - 2011) (Trang 63)
Hình 3.3. Đồ thị trâu, bò mắc bệnh LMLM theo mùa - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu
Hình 3.3. Đồ thị trâu, bò mắc bệnh LMLM theo mùa (Trang 64)
Bảng 3.4b: Tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu
Bảng 3.4b Tỷ lệ bò mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi (Trang 66)
Bảng 3.4c: Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi (tính chung trâu, bò) - Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và xác định type vi rút gây bệnh lở mồm long móng ở trâu, bò tại tỉnh Lai Châu
Bảng 3.4c Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh LMLM theo lứa tuổi (tính chung trâu, bò) (Trang 66)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w