DẠY HỌC DỰ ÁN MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ QUANG” – VẬT LÍ LỚP 11 BAN CƠ BẢN THPT NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH .... Dạy học dự án một số ki
Trang 1
HOÀNG VĂN CHÍNH
TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “ MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ QUANG” – VẬ LÍ 11 CƠ BẢN THPT NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ
SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2
HOÀNG VĂN CHÍNH
TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO DỰ ÁN MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “ MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ QUANG” – VẬ LÍ 11 CƠ BẢN THPT NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ
SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Tô Văn Bình
Thái Nguyên, năm 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
và số liệu là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc và thành kính đến PGS TS Tô Văn Bình - người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ, đôn đốc, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ phương pháp giảng dạy khoa Vật lí trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã giảng dạy tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn BGH trường THPT Hoàng Quốc Việt, Võ Nhai, Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và tiến hành thực nghiệm đề tài Xin cảm ơn toàn thể học sinh lớp 11A3 đã cộng tác với tôi thực nghiệm thành công đề tài
Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè, gia đình và những người thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thiện luận văn này
Thái Nguyên, tháng 04 năm 2012
Tác giả
Hoàng Văn Chính
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng biểu vii
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 5
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC DỰ ÁN NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 5
1.1 Tính tích cực trong học tập 5
1.1.1 Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập 5
1.1.2 Các cấp độ của tính tích cực trong học tập 5
1.1.3 Những yếu tố thúc đẩy dạy và học tích cực 6
1.2 Năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập 7
1.2.1 Năng lực sáng tạo 7
1.2.2 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học Vật lí 8
1.3 Mối liên hệ giữa tính tích cực, tính tự chủ, và tính sáng tạo 8
1.3.1 Tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự chủ và sáng tạo của học sinh 9
1.3.2 Các đặc điểm của dạy và học tích cực 9
1.4 PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học 10
1.5 Dạy học dự án 11
1.5.1 Lịch sử dạy học dự án 11
1.5.2 Khái niệm dạy học dự án 13
1.5.3 Tác dụng, ý nghĩa của dạy học dự án 14
Trang 61.5.5 Các giai đoạn của dạy học dự án 17
1.6 Công cụ đánh giá trong dạy học dự án 18
1.6.1 Tiêu chí đánh giá hoạt động nhóm 18
1.6.2 Tiêu chí đánh giá sản phẩm của dự án 20
1.6.3 Cách tính điểm cho mỗi nhóm và mỗi học sinh trong nhóm 29
1.7 Thực trạng dạy học chương “MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ QUANG” ở một số trường THPT 30
1.7.1 Phương pháp điều tra 30
1.7.2 Kết quả điều tra 31
Kết luận chương 1 32
Chương 2 DẠY HỌC DỰ ÁN MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ QUANG” – VẬT LÍ LỚP 11 BAN CƠ BẢN THPT NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ LỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH 34
2.1 Dạy học dự án nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh 34
2.1.1 Đặc điểm bộ môn vật lí 34
2.1.2 Dạy học dự án nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh 35
2.2 Nội dung, cấu trúc, đặc điểm chương “Mắt và các dụng cụ quang” - lớp 11 ban cơ bản 43
2.2.1 Nội dung kiến thức về Mắt và các dụng cụ quang học sinh đã học ở trung học cơ sở 43
2.2.2 Nội dung kiến thức chương “Mắt và các dụng cụ quang học” SGK Vật lí lớp 11 cơ bản 43
2.2.3 Cấu trúc của chương “ Mắt và các dụng cụ quang”- SGK Vật lí 11 ban cơ bản 44
2.2.4 Đặc điểm của chương “Mắt và các dụng cụ quang” 45
2.3 Dạy học dự án một số kiến thức chương “Mắt và các dụng cụ quang” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh 45
Trang 72.3.1 Lí do tổ chức dạy học dự án 45
2.3.2 Các biện pháp phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lý bằng phương pháp DHDA 46
2.3.3 Triển khai bài học thành dự án 47
2.3.4 Kế hoạch bài dạy 50
Kết luận chương 2 60
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 61
3.1 Mục đích thực nghiệm 61
3.2 Đối tượng thực nghiệm 61
3.3 Thời điểm thực nghiệm 61
3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 61
3.5 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 62
3.6 Thu thập số liệu thực nghiệm 64
3.7 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực nghiệm sư phạm và cách khắc phục 64
3.7.1 Thuận lợi 64
3.7.2 Khó khăn 65
3.8 Phân tích và đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 65
3.8.1 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 65
3.8.2 Đánh giá hiệu quả của quá trình dạy học dự án đối với việc phát huy tính tích cực, tính sáng tạo của học sinh trong học tập 77
Kết luận chương 3 79
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 85
Trang 9
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1 Tiêu chí đánh giá hoạt động nhóm 18
Bảng 1.2 Tiêu chí đánh giá bài trình chiếu 20
Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả của các nhóm 73
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả của các thành viên trong nhóm 1 74
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả của các thành viên trong nhóm 2 75
Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả của các thành viên trong nhóm 3 76
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang bước trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ngành Giáo dục – Đào tạo phải có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ, đồng bộ về mọi mặt nhằm đào tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu của xa hội Trong đó, đặc biệt chú trọng đến đổi mới phương pháp và phương
tiện dạy học Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã chỉ rõ “Đổi mới mạnh
mẽ phương pháp giáo dục – đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm
bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh…”
Đã có nhiều phương pháp dạy học tích cực được nghiên cứu và áp dụng thành công ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam Tuy nhiên, phương pháp dạy học dự án (DHDA) đang còn tương đối mới ở Việt Nam
DHDA là một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt động DHDA góp phần gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, tinh thần trách nhiệm và khả năng cộng tác làm việc của người học Ở Việt Nam trong những năm gần đây, với mục đích giáo dục toàn diện cho học sinh, cũng đã
có một số nghiên cứu vận dụng DHDA
Trong dạy học vật lí, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về dạy học dự án như: “Tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức phần máy điện chương
“Dòng điện xoay chiều” sách giáo khoa vật lí lớp 12 nâng cao trung học phổ thông”- Vũ Văn Dụng- Luận văn thạc sĩ, ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội 2009;
“Tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức “Dòng điện trong chất bán dẫn”
Trang 11sách giáo khoa vật lí lớp 11 nâng cao trung học phổ thông”- Phạm Văn Hoạch- Luận văn cao học ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội 2009 hay trong luận văn cao học năm 2006 của Trần Thị Thuý Hằng và Đào Thu Thuỷ, ĐHSP Hà Nội 2005 đã vận dụng dạy học dự án vào việc việc tổ chức các hoạt động nhận thức khi dạy học các kiến thức về bảo toàn năng lượng lớp 9 và cảm ứng điện từ lớp 11, “Tổ chức dạy học dự án qua hoạt động ngoại khoá khi dạy học các nội dung kiến thức chương “Các định luật bảo toàn” Vật lí lớp 10 ban
cơ bản - Nguyễn Thị Diệu Linh - luận văn thạc sĩ ĐH Giáo dục, ĐHQG Hà Nội, năm 2009
Cũng có một số đề tài đã nghiên cứu về từ trường như: “Vận dụng tư tưởng sư phạm tích hợp vào dạy học một số bài học phần "Từ trường" và
"Cảm ứng điện từ" lớp 11 Trung học phổ thông nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh” của Dương Xuân Hải – Luận văn thạc sĩ 2006; “Xây dựng
tiến trình dạy học chương Từ trường (Vật lí 11 Cơ bản) nhằm phát triển hoạt
động nhận thức vật lí tích cực, tự chủ và sáng tạo của HS miền núi” của Nguyễn Thị Huyền – Luận văn thạc sĩ 2010 Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về vận dụng dạy học dự án để tổ chức các hoạt động dạy học nội dung kiến thức chương “ Mắt và các dụng cụ quang” Vật lí lớp 11 ban cơ bản
Là một giáo viên dạy học ở trường THPT, tôi nhận thấy việc nghiên cứu tổ chức dạy học dự án nội dung kiến thức chương “Mắt và các dụng cụ quang” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản là một nghiên cứu hấp dẫn, đáp ứng một phần đòi hỏi của thực tiễn dạy học vật lí hiện nay Với hy vọng có thể giúp học sinh vận dụng được các kiến thức vật lí vào đời sống thực tiễn, khơi dậy
lòng say mê và phát triển năng lực sáng tạo, tôi lựa chọn đề tài: “Dạy học dự
án một số kiến thức chương “Mắt và các dụng cụ quang” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản THPT nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh”
Trang 122 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc dạy học dự án một số kiến thức chương “Mắt và các dụng
cụ quang”- Vật lí 11 ban cơ bản, nhằm phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các nội dung kiến thức chương “Mắt và các dụng cụ quang” Sách giáo khoa (SGK) Vật lí lớp 11 ban cơ bản
Hoạt động dạy và học theo dự án
4 Giả thuyết khoa học
Nếu áp dụng dạy học dự án trong dạy học vật lí phù hợp với đặc điểm môn vật lí trong trường phổ thôngthì sẽ phát huy tính tích cực, tự lực và năng lực sáng tạo của học sinh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu ở trên, chúng tôi đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
Trang 13- Tìm hiểu thực tế dạy và học môn vật lí đặc biệt là chương “Mắt và các dụng cụ quang” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản
- Thiết kế tiến trình dạy học dự án một số kiến thức chương “Mắt và các dụng cụ quang”- Vật lí lớp 11 ban cơ bản nhằm phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo nội dung và tiến trình đã soạn thảo
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thực nghiệm
7 Đóng góp của đề tài
- Làm rõ cơ sở lí luận về dạy học dự án trong dạy học vật lí
- Vận dụng cơ sở lí luận của dạy học dự án khi dạy học các kiến thức chương “Mắt và các dụng cụ quang học” Vật lí lớp 11 ban cơ bản
- Sản phẩm của dự án có thể dùng làm phương tiện trực quan trong dạy học
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học dự án nhằm phát huy
tính tích cực và năng sáng tạo của học sinh
Chương 2: Dạy học dự án một số kiến thức chương “Mắt và các dụng
cụ quang” - Vật lí lớp 11 ban cơ bản THPT nhằm phát huy tính tích cực và năng lực sáng tạo của học sinh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC DỰ ÁN
1.1.1 Các biểu hiện của tính tích cực trong học tập
Tính tích cực học tập ở học sinh biểu hiện ở những dấu hiệu như:
- Biểu hiện bên ngoài, qua thái độ, hành vi và hứng thú: học sinh chú ý lắng nghe, quan sát, theo dõi thầy, cô giáo, khao khát tự nguyện tham gia trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, phát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra, nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề chưa đủ rõ, kiên trì hoàn thành các bài tập, không nản lòng trước những tình huống khó khăn
- Biểu hiện bên trong: những biểu hiện này khó phát hiện hơn Ví dụ có những sáng tạo trong học tập hơn trước, tập trung chú ý vào vấn đề đang học
- Biểu hiện qua kết quả học tập: học sinh chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề mới và đạt kết quả học tập tốt hơn
1.1.2 Các cấp độ của tính tích cực trong học tập
Khi nói về tính tích cực người ta thường đánh giá nó ở cấp độ cá nhân người học trong quá trình thực hiện mục đích hoạt động chung Theo
G.I.Sukina chia tính tích cực ra làm ba cấp độ:
Trang 15- Tích cực bắt chước, tái hiện (xuất hiện do tác động bên ngoài): học sinh bắt chước hành động của giáo viên, của bạn bè
- Tích cực tìm tòi (đi liền với quá trình hình thành khái niệm, giải quyết tình huống nhận thức): học sinh tìm cách độc lập giải quyết bài tập đã nêu ra, tìm ra lời giải hợp lí nhất
- Tích cực sáng tạo (thể hiện khi chủ thể tìm tòi kiến thức mới): học sinh nghĩ ra cách giải mới hoặc cố gắng lắp đặt những thí nghiệm mới
1.1.3 Những yếu tố thúc đẩy dạy và học tích cực
Có nhiều yếu tố thúc đẩy quá trình dạy và học tích cực, trong đó có một
số yếu tố cơ bản sau:
- Sự gần gũi của kiến thức với thực tế: Để tạo mâu thuẫn nhận thức, tạo động cơ, hứng thú tìm cái mới, cần xây dựng tình huống có vấn đề Kích thích hứng thú học tập của học sinh thông qua các tình huống có vấn đề gắn với những nội dung có tính thực tiễn, gần gũi với cuộc sống hàng ngày của các
em, gắn với thực tế hoặc những vấn đề có tính mới mẻ nhưng không quá xa lạ với các em
- Sự phù hợp với mức độ phát triển nhận thức: Cần có sự lựa chọn kĩ các vấn đề vừa sức và cần xác định mức độ mà học sinh có thể tham gia trong việc giải quyết từng vấn đề cụ thể Giáo viên cũng cần tính đến sự khác biệt
về trình độ phát triển của từng đối tượng học sinh Các yêu cầu đưa ra phải rõ ràng, tránh mơ hồ, đa nghĩa
- Không khí và các mối quan hệ trong nhóm: Kích thích hứng thú học tập cho các em bằng những phương pháp dạy học tích cực, tạo ra một môi trường học tập thoải mái, tạo điều kiện để các em phải làm việc, động viên và giúp đỡ lớp học sao cho các học sinh mạnh dạn tham gia thảo luận, đưa học sinh vào thế học tập chủ động
Trang 16- Mức độ và sự đa dạng của hoạt động: cần thay đổi xen kẽ nhiều hình thức tổ chức dạy học như làm việc cá nhân, hoạt động nhóm, tập thể, lớp Đảm bảo hỗ trợ đúng mức (các học sinh trong nhóm hỗ trợ nhau và hỗ trợ từ phía giáo viên)
- Phạm vi tự do sáng tạo: Nên để học sinh được lựa chọn hoạt động, được tham gia đánh giá hoạt động dạy học, được quyết định quá trình thực hiện nhiệm vụ Giáo viên cần động viên khuyến khích học sinh tự mình giải quyết vấn đề
- Ngoài ra, việc sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại một cách phù hợp và thay đổi cách kiểm tra đánh giá cũ cũng là động lực quan trọng tác động trực tiếp đến hoạt động tích cực của học sinh
1.2 Năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập
Ngoài việc bồi dưỡng cho học sinh tính tích cực trong học tập, chúng ta cũng rất cần bồi dưỡng cho học sinh năng lực sáng tạo để có thể giải quyết tốt những tình huống trong học tập cũng như trong cuộc sống
1.2.1 Năng lực sáng tạo
Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần, tìm ra những kiến thức mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới Sản phẩm của sự sáng tạo không thể suy từ cái đã biết bằng cách suy luận logic hay bắt chước làm theo
Năng lực sáng tạo gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo và vốn hiểu biết của chủ thể Trong bất cứ lĩnh vực nào, càng thành thạo và có kiến thức sâu rộng thì càng nhạy bén trong dự đoán, đề ra được nhiều dự đoán, nhiều phương án để lựa chọn, càng tạo điều kiện cho trực giác phát triển Bởi vậy không thể rèn luyện năng lực sáng tạo tách rời một kiến thức nào đó
Trang 171.2.2 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học Vật lí
Trong dạy học nói chung có một số biện pháp sau:
- Tổ chức hoạt động sáng tạo gắn liền với quá trình xây dựng kiến thức mới
- Luyện tập phỏng đoán, dự đoán, xây dựng giả thuyết
- Luyện tập đề xuất phương án thí nghiệm kiểm tra dự đoán
- Cho học sinh làm các bài tập sáng tạo: bài tập thiết kế và bài tập nghiên cứu
1.3 Mối liên hệ giữa tính tích cực, tính tự lực, và tính sáng tạo
Tính tích cực, tính độc lập nhận thức tính sáng tạo của HS trong học tập
có nối quan hệ mật thiết với nhau Tính tích cực nhận thức phát triển đến mức
độ cao sẽ làm hình thành tính tự lực nhận thức Tính tự lực ( tự chủ) nhận thức theo nghĩa rộng là sự sẵn sàng về mặt tâm lí đối với sự học, theo nghĩa hẹp, tính tự lực nhận thức là năng lực, phẩm chất, nhu cầu học tập và khả năng tự tổ chức học tập, cho phép người học phát hiện vấn đề, tự giải quyết vấn đề, tự kiểm tra, đánh giá hoạt động của mình , tạo cơ sở cho việc tự học Trong quá tình học tập, dưới vai trò định hướng của giáo viên, học sinh có thể tự lực phát hiện vấn đề bài học và tự mình đề ra giải pháp cho vấn đề đặt ra, đó là biểu hiện của tính tự chủ trong học tập Điều này thể hiện rõ tính độc đáo trong hoạt động nhận thức của học sinh, tính độc đáo này sẽ là cơ sở của sự sáng tạo
Như vậy, tính tự giác, tính tích cực nhận thức có nối quan hệ mật thiết với nhau.Tính tính tích cực là cơ sở của tính tự lực nhận thức Tính tích cực nhận thức là điều kiện của sự nảy sinh và phát triển của tính tự lực nhận thức Tính tự lực nhận thức là sự thể hiện ở mức độ cao của tính tự giác, tính tích cực nhận thức và là cơ sở của tính sáng tạo Tuy nhiên các mối quan hệ này không phải là tuyến tính Tính tự giác, tích cực và tự lực là điều kiện cần của tính sáng tạo nhưng bản thân chúng chưa phải là sáng tạo Phát huy tính tích
Trang 181.3.1 Tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “đọc- chép”, giáo viên làm trung tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm hay còn được gọi là dạy
và học tích cực (D&HTC) Trong cách dạy này học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học D&HTC khuyến khích sự tham gia chủ động,
sáng tạo và ngày càng độc lập của học sinh trong quá trình học tập
1.3.2 Các đặc điểm của dạy và học tích cực
1.3.2.1 Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong D&HTC, người học được tham gia vào các hoạt động học tập do
GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó, tự lực khám phá, tìm tòi kiến thức, không thụ động trông chờ vào việc truyền thụ của giáo viên Người học được trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề, vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống theo khả năng nhận thức, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân
1.3.2.2 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
D&HTC coi việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ
là một biện pháp nâng cao hiệu quả học tập mà còn là một mục tiêu dạy học
Trong xã hội hiện đại thông tin bùng nổ, khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão, trong khi đó thời gian trên lớp học nhà trường không
đủ điều kiện và không thể nhồi nhét vào đầu óc người học quá nhiều kiến thức Vì vậy cần phải dạy PP học ngay từ bậc tiểu học và càng lên bậc học cao hơn thì càng phải được chú trọng
Trong PP học thì cốt lõi là PP tự học Điều quan trọng là phải giúp người học biết cách khai thác, lựa chọn tìm kiếm thông tin bằng cách hình thành thói quen tự học, tự nghiên cứu.Khi người học có phương pháp, thói quen, ý chí tự học thì sẽ ham học, thích học, đó là điều kiện tốt để khơi dậy nội lực, khả năng vốn có của mỗi cá nhân, kết quả học tập sẽ nâng cao
Trang 191.3.2.3 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác
Trong một lớp học, trình độ kiến thức, khả năng tư duy của học sinh không đồng đều vì vậy không thể áp dụng cách dạy đồng loạt Cách dạy này hạn chế khả năng nhận thức của học sinh HS khá giỏi không có điều kiện để phát triển HS yếu kém cũng không có cơ hội để vươn lên
Để phát huy tính tích cực của người học, cần tăng cường cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh Các bài học được thiết kế thành một chuỗi nhiệm vụ phù hợp với khả năng nhận thức của từng đối tượng người học Như vậy học tập cá thể đáp ứng được trình độ của người học, phù hợp với phong cách học của mỗi cá nhân Qua đó người học rèn luyện ý thức tự lực, ý thức trách nhiệm với kết quả học tập của mình
1.3.2.4 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trong dạy - học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định kết quả thực trạng và để điều chỉnh hoạt động học của trò mà đồng thời còn điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trong dạy học thụ động, GV giữ độc quyền đánh giá HS Trong D&HTC, học sinh được tạo điều kiện phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau để điều chỉnh cách học Tự đánh giá và tự điều chỉnh hành vi, hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS
1.4 PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo của người học
D&HTC là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước, để chỉ những PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học D&HTC là sự kết hợp linh hoạt nhiều PPDH phù hợp với nội dung, trình
độ nhận thức của HS và điều kiện thực tế để đạt được mục tiêu của bài học Trong đó có những PPDH quen thuộc như: dùng lời, trực quan, minh hoạ, vấn đáp, thảo luận nhóm, dạy học nêu và giải quyết vấn đề, trò chơi, động não thực hành, thí nghiệm vẫn thường được sử dụng với những phương thức mới
Trang 20Một số PP có tên gọi mới hiện tại đang được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới và bước đầu đang được vận dụng ở nước ta như: Học theo nhóm, học theo góc, học theo hợp đồng, học theo dự án…
Mỗi PPDH đều có những ưu điểm và hạn chế, không có phương PPDH nào là phương pháp tối ưu Trong khi đó D&HTC đòi hỏi cần kết hợp giữa lý thuyết với thực hành và tăng cường liên hệ với thực tế cuộc sống Vì vậy việc vận dụng PHDH đạt được hiệu quả còn tuỳ thuộc vào năng lực sư phạm và khả năng vận dụng sáng tạo của giáo viên Đối với việc phát triển năng lực sáng tạo, ngoài việc rèn luyện cho học sinh trong quá trình xây dựng kiến thức mới, người giáo viên còn có thể rèn luyện cho học sinh trong việc giải các bài tập sáng tạo Trong loạt bài tập này, ngoài việc phải vận dụng một số kiến thức đã học, học sinh bắt buộc phải có những ý kiến độc lập mới mẻ không thể suy ra một cách logic từ những kiến thức đã học
1.5 Dạy học dự án
1.5.1 Lịch sử dạy học dự án
Dạy học dự án (Project based - learning) hay còn gọi là dạy học theo dự
án, dạy học tiếp cận dự án, là một phương pháp đã được sử dụng một thời gian khá lâu trên thế giới, tuy nhiên trong gần một thập kỉ trở lại đây, việc triển khai dạy học dự án đã phát triển chính thức thành một phương pháp dạy học ở nước ta Theo các nhà giáo dục học thì học tập dự án sẽ khiến học sinh hứng thú hơn vì họ được tham gia vào giải quyết những vấn đề mang tính thách thức cao, đôi khi lại rất khó khăn nhưng rất sát với thực tế đời sống
Từ đầu thế kỉ 19, cách học theo dự án đã được xây dựng trên cơ sở các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí và các nhà giáo dục Jerome-Bruner, Jean Piaget, Jonh Dewey, William H Kilpatric … Một trong những thử nghiệm đầu tiên đã được Deway tiến hành tại đại học Chicago của nước Mĩ Học sinh được chia thành các nhóm nhỏ mà trong đó họ tham gia học đọc, viết, tính toán, học cách lắng nghe người khác, cách đảm nhận trách nhiệm…
Từ đó Deway rút ra ba khẳng định chắc chắn: Tất cả học sinh, để học tập,
Trang 21phải tích cực và làm ra một cái gì đó Tất cả học sinh phải học cách suy nghĩ
và giải quyết các vấn đề và tất cả các học sinh phải học cách hợp tác với người khác để chuẩn bị cho cuộc sống ngoài xã hội Quá trình học tập theo dự án cho phép lớp học trở thành môi trường làm việc mà học sinh là trung tâm của việc học dự án Tầm quan trọng của dự án học tập là kinh nghiệm và kiến thức thu được trong quá trình thực hiện dự án chứ không chỉ là kết quả cuối cùng
Năm 1918, William H Kilpatric (1871-1965) viết một bài báo gây tiếng vang lớn, có tiêu đề là “ Phương pháp dự án” Sau đó ông đã phổ biến rộng rãi phương pháp này trong các giờ dạy của mình, qua các cuộc hội thảo
và qua sách báo Ông cho rằng: Một dự án là một hoạt động có mục đích cụ thể, có cam kết với tất cả những người thực hiện và diễn ra trong một môi trường xã hội
Người tiên phong trong dạy học dự án ở Châu Âu là Celestin Freinet (1896-1966) Theo ông lớp học là một nơi phải áp dụng các cách làm việc để nghiên cứu các thông tin, trao đổi ý kiến hoặc trả lời thư nhận được từ các lớp học sinh khác, hoặc chuẩn bị các điều tra ngoài lớp học, phân tích các dữ kiện, hoặc trình bày các bài báo… Trong môi trường như thế, sự hợp tác ở bên trong nhóm rất phong phú, góp phần tạo nên những cá nhân có đầu óc phát triển chứ không phải các cá nhân có đầu óc được rót đầy kiến thức
Học tập theo dự án đã tạo nên một sự chuyển biến xã hội- giáo dục ở Bắc Mĩ và Châu Âu Nền tảng của chuyển biến này đã đem lại cho học sinh
sự hứng thú tiếp nhận kiến thức, thay đổi phương pháp làm việc, tham gia một cách tích cực, có ý thức vào việc thiết lập tri thức trong quá trình học
Trong dạy học dự án, công cụ dạy học là một vấn đề khá quan trọng, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ thông tin Khi tổ chức dạy học dự án, máy tính nối mạng giúp học sinh khai thác các thông tin từ nhiều nguồn, giúp gia tăng sự hợp tác giữa các thành viên trong nhóm để đạt được một cách tối ưu mục đích học tập
Trang 22Tại Việt Nam, đầu thế kỉ 21, các phương pháp dạy học mở, đặc biệt là phương pháp dạy học dự án đã được đưa vào nhằm đáp ứng tình hình phát triển thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước Vậy phương pháp dạy học dự án là gì? Phương pháp dạy học dự án có đặc điểm gì?
1.5.2 Khái niệm dạy học dự án
1.5.2.1 Khái niệm dự án
Thuật ngữ dự án trong tiếng anh là project, có gốc tiếng La tinh là projeyesre có nghĩa là phác thảo, dự thảo, thiết kế Theo từ điển bách khoa mở Wikipedia thì “dự án là tập hợp các công việc nối tiếp nhau, được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, với những nguồn lực nhất định nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể, rõ ràng, nhằm thỏa mãn nhu cầu của đối tượng hướng đến” [15]
Khái niệm dự án đã đi từ lĩnh vực kinh tế, xã hội vào lĩnh vực giáo dục đào tạo không chỉ với ý nghĩa là các dự án phát triển giáo dục mà còn được sử dụng như một phương pháp dạy học mở tạo điều kiện cho học sinh phát triển toàn diện
1.5.2.2 Khái niệm dạy học dự án
Dạy học dự án ( Project based- Learning) là một phương pháp dạy học tích cực trong đó giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết và thực hành, tự lực lập
kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả.[15]
Dự án học tập có thể nảy sinh từ ý tưởng của người dạy hoặc người học, từ một câu hỏi hoặc từ một vấn đề quan tâm trong một tiết học hoặc một cuộc tranh luận hàng ngày Dự án học tập có thể liên quan tới một hoặc nhiều môn học khác nhau, có thể được thực hiện theo cá nhân hoặc theo nhóm, có thể diễn ra trong thời gian dài ngắn khác nhau, diễn ra trong phạm vi lớp học hoặc vượt ra ngoài khuôn khổ trường học Dạy học dự án nhắm đến những mục tiêu giáo dục cụ thể, quan trọng như các chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học, bài học, phát triển khả năng tìm tòi, sáng tạo, tư duy bậc cao, hay
Trang 23các kĩ năng cần cho cuộc sống và công việc như khả năng suy nghĩ độc lập, khả năng hợp tác, làm việc theo nhóm… chứ không phải chỉ là trò giải trí hoặc bổ sung cho chương trình “thực”
Vì những đặc điểm trên nên DHDA có một số yêu cầu cụ thể:
- DHDA không thích hợp với việc truyền đạt những kiến thức lý thuyết mang tính hệ thống Giáo viên nên chọn những kiến thức, nội dung môn học
có ý nghĩa thực tiễn cao để thực hiện dự án
- DHDA yêu cầu giáo viên phải có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng, tổ chức thành thạo các hoạt động của dạy học theo nhóm, còn học sinh phải tích cực, chủ động, biết cách làm việc độc lập và làm việc hợp tác
- DHDA thường yêu cầu có phương tiện vật chất và tài chính phù hợp
- DHDA cần sự tích hợp công nghệ thông tin, đặc biệt là mạng Internet Cần lựa chọn thời gian phù hợp với điều kiện học tập của học sinh để thực hiện dự án
Vì những yêu cầu khá chặt chẽ của DHDA nên nó cũng mang lại nhiều
ý nghĩa to lớn đối với giáo viên cũng như học sinh
1.5.3 Tác dụng, ý nghĩa của dạy học dự án
Dạy học dự án mang lại rất nhiều lợi ích cho cả giáo viên lẫn học sinh Ngày càng nhiều các nghiên cứu lí luận ủng hộ việc áp dụng việc dạy học dự
án trong trường học để khuyến khích học sinh, giảm thiểu hiện tượng bỏ học, thúc đẩy các kỹ năng học tập hợp tác và nâng cao hiệu quả học tập
Đối với học sinh
- Tăng tính chuyên cần, nâng cao tính tự lực và thái độ học tập
- Kiến thức thu được tương đương hoặc nhiều hơn so với những mô hình dạy học khác do khi được tham gia vào dự án học sinh sẽ trách nhiệm
hơn trong học tập so với các hoạt động truyền thống khác trong lớp học
- Có cơ hội phát triển những kỹ năng phức hợp như tư duy bậc cao, giải
quyết vấn đề, hợp tác và giao tiếp
Trang 24- Có được cơ hội rộng mở hơn trong lớp học, tạo ra chiến lược thu hút
những học sinh thuộc các vùng văn hóa khác nhau
Với nhiều học sinh, tính hấp dẫn của DHDA xuất phát từ tính thực tiễn của kinh nghiệm Học sinh đóng vai và thực hiện hành vi của những người đang hoạt động trong một lĩnh vực cụ thể Ví dụ như thiết kế và tạo ra mô hình của một máy phát điện, động cơ điện, thực hiện một đoạn video tài liệu về vấn đề môi trường, thiết kế tờ rơi hướng dẫn du lịch, quảng bá về các di tích lịch sử quan trọng ở địa phương, hay thiết kế bài trình bày đa phương tiện về những mặt lợi và hại trong việc xây dựng phố mua sắm, học sinh đã được tham gia vào những hoạt động đời thường có ý nghĩa vượt ra khỏi phạm vi lớp học
Đối với giáo viên
Những ích lợi do dạy học dự án mang lại là việc nâng cao tính chuyên nghiệp và sự hợp tác với đồng nghiệp, cơ hội xây dựng các mối quan hệ với học sinh Bên cạnh đó, nhiều giáo viên cảm thấy hài lòng với việc tìm ra được một mô hình triển khai, cho phép hỗ trợ các đối tượng học sinh đa dạng bằng việc tạo ra nhiều cơ hội học tập hơn trong lớp học Giáo viên cũng nhận thấy rằng người được hưởng lợi nhiều nhất từ dạy học theo dự án là những học sinh không học tốt được theo cách dạy học truyền thống
1.5.4 Phân loại các dự án học tập
DHDA có thể được phân loại theo nhiều phương diện khác nhau Sau đây là một số cách phân loại dạy học dự án:
* Phân loại theo chuyên môn
Tùy thuộc dự án trong từng môn cụ thể hay dự án có sự liên hệ của
nhiều môn học khác nhau mà phân ra thành các loại dự án cụ thể như:
- Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học Ví dụ: dự án thiết kế mô hình kính hiển vi khi học về kính hiển vi của chương “Mắt và các dụng cụ quang” của môn Vật lí lớp 11 cơ bản, dự án tìm hiểu các loại về biện pháp nâng cao nâng suất lúa – môn công nghệ lớp 10, dự
án thiết kế mô hình nhà máy hóa chất Sunphat – môn Hóa học
Trang 25- Dự án liên môn: Nội dung dự án liên quan đến nhiều môn khác nhau
Ví dụ: dự án “Tìm hiểu về vấn đề ô nhiễm môi trường sống trong thành phố
và biện pháp khắc phục” (lí- sinh-địa- giáo dục công dân), dự án “tìm hiểu một số hiện tượng thời tiết ở nước ta” – môn vật lí-địa lí
- Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học, ví dụ như dự án “chuẩn bị cho các lễ hội trong trường”
* Phân loại theo sự tham gia của người học
Dự án cho nhóm HS, dự án cá nhân Dự án dành cho nhóm HS là hình thức dự án dạy học chủ yếu Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học
* Phân loại theo sự tham gia của GV
Dự án dưới sự hướng dẫn của một GV, dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV Ví dụ dự án cho toàn trường là dự án “tìm hiểu về an toàn giao thông ở Việt Nam” với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều giáo viên
* Phân loại theo quỹ thời gian
- Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học
- Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học
- Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”)
Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổ thông Trong đào tạo đại học, có thể quy định quỹ thời gian lớn hơn
* Phân loại theo nhiệm vụ
Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại các dự án theo các dạng sau:
- Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng Ví dụ dự án tìm hiểu các hiện tượng thời tiết, dự án tìm hiểu về các nhà máy điện sử dụng
Trang 26- Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình
- Dự án thực hành: có thể gọi là dự án kiến tạo sản phẩm, trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác
- Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng
DHDA phân ra nhiều loại khác nhau, mỗi loại dự án cần những khoảng thời gian nhất định, vì vậy khi thực hiện DHDA ta phải phân chia theo từng giai đoạn cụ thể
1.5.5 Các giai đoạn của dạy học dự án
Có nhiều cách phân chia các giai đoạn của dạy học dự án, tuy nhiên khi xét đến mối quan hệ giữa các giai đoạn hoạt động của giáo viên và học sinh, người ta có thể chia DHDA theo ba giai đoạn là : chuẩn bị dự án, thực hiện dự án, và khai thác dự án
Các giai
đoạn Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
Chuẩn bị
dự án
- Thiết kế dự án
- Xây dựng bộ câu hỏi định hướng
- Thiết kế các tài liệu hỗ trợ
- Chuẩn bị điều kiện thực hiện dự án
Trang 271.6 Công cụ đánh giá trong dạy học dự án
Chúng tôi sử dụng các hình thức đánh giá là: HS đánh giá quá trình và kết quả thực hiện dự án của các thành viên trong nhóm và của cả bản thân (Đánh giá đồng đẳng); HS đánh giá sản phẩm của nhóm bạn; GV đánh giá quá trình thực hiện và sản phẩm của các nhóm
1.6.1 Tiêu chí đánh giá hoạt động nhóm
- Giáo viên đánh giá hoạt động nhóm của các nhóm trong lớp
Mỗi tiêu chí tối đa là 4 điểm Tổng điểm tối đa đạt được: 20 điểm
Bảng 1.1 Tiêu chí đánh giá hoạt động nhóm
Tốt
3 điểm Khá
2 điểm Tạm được
1 điểm Cần điều chỉnh
1 Sự tham gia
Tham gia đầy đủ và làm việc
Tham gia khá đầy đủ, chăm chỉ,
Tham gia nhưng
thường lãng
Tham gia nhưng thực hiện những
Trang 28Tiêu chí 4 điểm
Tốt
3 điểm Khá
2 điểm Tạm được
1 điểm Cần điều chỉnh
chăm chỉ làm việc hầu
hết thời gian
phí thời gian
và ít khi làm việc
công việc không liên quan
2 Sự lắng nghe
Lắng nghe cẩn thận các
ý kiến của những người khác
Thường lắng nghe cẩn thận các
ý kiến của những người khác
Đôi khi không lắng nghe các ý kiến của những người khác
Không lắng nghe ý kiến của những người khác
3 Sự phản hồi
Đưa ra sự phản hồi chi tiết có tính xây dựng khi cần thiết
Đưa ra sự phản hồi có tính xây dựng khi cần thiết
Đưa ra sự phản hồi có tính xây dựng nhưng lời chú thích chưa thích hợp
Đưa ra sự phản hồi không có ích
4 Sự hợp tác
Tôn trọng những thành viên khác và chia sẻ công việc một cách công bằng
Thường tôn trọng những thành viên khác và chia
sẻ công việc một cách công bằng
Thường tôn trọng những thành viên khác và không chia
sẻ công việc một cách công bằng
Không tôn trọng những thành viên khác và không chia
sẻ công việc một cách công bằng
5 Sự sắp xếp Hoàn thành Thường Không hoàn Không hoàn
Trang 29Tiêu chí 4 điểm
Tốt
3 điểm Khá
2 điểm Tạm được
1 điểm Cần điều chỉnh
được giao đúng thời gian
hoàn thành công việc được giao đúng thời gian, không làm đình trệ tiến triển công việc của nhóm
thành nhiệm
vụ được giao đúng thời gian và làm đình trệ công việc của nhóm
thành nhiệm
vụ được giao đúng thời gian và thường
xuyên buộc nhóm phải điều chỉnh
1.6.2 Tiêu chí đánh giá sản phẩm của dự án
- Giáo viên đánh giá bài thuyết trình trên Powerpoint, đánh giá ấn phẩm
và đánh giá sản phẩm thật của dự án của các nhóm
- Nhóm học sinh này đánh giá các nhóm học sinh kia (đánh giá lẫn nhau hoặc đánh giá đồng đẳng)
1.6.2.1 Tiêu chí đánh giá bài trình chiếu
Mỗi tiêu chí tối đa là 4 điểm Tổng điểm tối đa đạt được: 20 điểm
Bảng 1.2 Tiêu chí đánh giá bài trình chiếu
1.Nội
dung
Đảm bảo tính chính xác, hệ thống, vận dụng được kiến thức cơ
Đảm bảo tính chính xác, vận dụng được kiến thức cơ bản, khai thác
Đảm bảo tính chính xác, việc vận dụng kiến thức cơ bản chưa đầy đủ,
Nội dung chưa chính xác, không vận dụng được kiến thức cơ bản,
Trang 30Tiêu chí 4 điểm 3 điểm 2 điểm 1 điểm
bản và khai thác được từ nhiều nguồn thông tin
được từ nhiều nguồn thông tin
– Các slide dễ hiểu, được sắp xếp hợp lí, làm nổi bật nội dung
– Các tranh ảnh được sử dụng đúng mục đích, font chữ khá rõ ràng
– Các slide dễ hiểu, sắp xếp hợp lí, không quá tải
– Nhiều tranh ảnh sử dụng không chính xác, có một số font chữ khó đọc
– Các slide dễ hiểu, không quá tải
– Không có tranh ảnh minh họa, font chữ khó đọc
– Cấu trúc các slide không rõ ràng, sắp xếp không hợp lí
Power-Point
Khai thác được một số ít tính năng của chương trình Word và Power Point
Không khai thác được các tính năng của chương trình Word và Power Point
Dùng sai chương trình và ứng dụng Word
– Có bằng chứng làm việc nhóm chặt chẽ
– Có bằng chứng làm việc theo nhóm
– Chưa có bằng chứng làm việc theo
Trang 31Tiêu chí 4 điểm 3 điểm 2 điểm 1 điểm
– Các thành viên phân công
và chia sẻ công việc rõ ràng
– Phân công và chia sẻ công việc tương đối
rõ ràng
– Có phân công nhưng hiệu quả công việc chưa cao
nhóm
– Phân công không rõ ràng
và chưa đạt hiệu quả
– Trả lời tốt các câu hỏi khi thảo luận
– Giọng thuyết trình rõ ràng, mạch lạc
–Trả lời khá tốt các câu hỏi khi thảo luận
– Giọng thuyết trình hơi khó nghe
–Trả lời được các câu hỏi khi thảo luận
– Giọng thuyết trình khó nghe, khó hiểu
–Không trả lời được các câu hỏi thảo luận
1.6.2.2 Tiêu chí đánh giá các sản phẩm thật của dự án: Kính hiển vi và kính thiên văn
Mỗi tiêu chí tối đa là 8 điểm Tổng điểm tối đa đạt được: 24 điểm
Bảng 1.3 Tiêu chí đánh giá sản phẩm thật của dự án
kĩ thuật và tính năng làm việc Sản
Đúng nguyên tắc cấu tạo, thiếu một số thông số kĩ thuật và tính năng làm việc
Sản phẩm có
Đúng nguyên tắc cấu tạo, không có các thông số kĩ thuật và tính năng làm việc
Chưa đúng nguyên tắc cấu tạo, không có các thông số kĩ thuật Sản phẩm không có tính thẩm mỹ
Trang 32Tiêu
phẩm có tính thẩm mỹ cao
Sản phẩm chế tạo có khả năng làm việc
Sản phẩm chế tạo có khả năng làm việc, nhưng chưa tốt
Sản phẩm chế tạo không hoạt động được
3.Sử
dụng
vật liệu
Tận dụng được các thiết
bị cũ hoặc sử dụng các thiết
bị có giá thành rẻ nhưng có chất lượng
Sử dụng được các thiết
bị có giá thành
rẻ có chất lượng
Tận dụng được các thiết
bị cũ nhưng chất lượng không cao
Việc mua thiết bị và vật liệu gây rất nhiều tốn kém cho các thành viên
Trang 331.6.2.3 Tiêu chí đánh giá sản phẩm thật của dự án: Các tật khúc xạ của mắt
đủ, chi tiết, dễ hiểu, chính xác khoa học về biểu hiện, nguyên nhân
và cách khắc phục các tật khúc xạ của mắt Bài báo
có tính thẩm
mỹ cao
Cung cấp các thông tin đầy
đủ, chi tiết, chính xác khoa học về biểu hiện, nguyên nhân và cách khắc phục các tật khúc xạ của mắt Bài báo
có tính thẩm
mỹ
Cung cấp được một số thông tin về biểu hiện, nguyên nhân
và cách khắc phục các tật khúc xạ của mắt Bài báo
có tính thẩm
mỹ
Cung cấp được
ít thông tin về biểu hiện, nguyên nhân
và cách khắc phục các tật khúc xạ của mắt Bài báo không có tính thẩm mỹ
2.Công
dụng
thực tế
Sản phẩm có tính ứng dụng cao, hiệu quả
Sản phẩm có tính ứng dụng
và cho một số hiệu quả nhất định
Sản phẩm có thể ứng dụng, nhưng chưa hiệu quả
Sản phẩm có tính ứng dụng thấp
3 Thu
hút sự
chú ý
và hưởng
ứng
Sản phẩm thu hút được sự chú ý và hưởng ứng của nhiều người
Sản phẩm thu hút được sự chú ý của nhiều người nhưng chưa được hưởng ứng lắm
Sản phẩm thu hút được sự chú ý và hưởng ứng của một số người
Sản phẩm không gây được sự chú ý của mọi người
Trang 341.6.2.4 Tiêu chí đánh giá sổ theo dõi dự án
Làm việc đúng kế hoạch, thái độ tích cực, sôi nổi 1 điểm Biết cách đặt câu hỏi 5W1H để hình thành ý tưởng
lập sơ đồ tư duy
1 điểm
Có đầy đủ các biên bản thảo luận của các buổi họp nhóm
Hình ảnh minh họa có chọn lọc, có thẩm mĩ 2 điểm
Từ các tiêu chí trên chúng tôi đưa ra bảng đáng giá dành cho giáo viên và học sinh như sau:
Trang 35PHIẾU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DỰ ÁN (BẢN ĐÁNH GIÁ DÀNH CHO CÁC NHÓM HS)
1 = Không tốt bằng các thành viên khác trong nhóm
0 = Không giúp ích gì cho nhóm Tổng điểm đối với mỗi thành viên nằm trong khoảng 0-18 điểm
Thàn
h
viên
Nhiệt tình trách nhiệm
Tinh thần hợp tác, tôn trọng, lắng nghe
Tham gia
tổ chức quản lí nhóm
Đưa ra
ý kiến
có giá trị
Đóng góp trong việc hoàn thành sản phẩm
Hiệu quả công việc
Tổn
g
Trang 36PHIẾU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DỰ ÁN (BẢN ĐÁNH GIÁ DÀNH CHO CÁC NHÓM HS) Tên nhóm:………
Giúp hình dung sơ bộ về nhiệm vụ dự án 1 Tên dự án
Nêu được vấn đề của dự án rõ ràng và hấp dẫn 2
Nêu được các nhiệm vụ cần giải quyết đầy đủ,
Các slide đẹp, sắp xếp hợp lí, dễ quan sát, nội
Trả lời tốt các câu hỏi chất vấn 2
Đưa ra cho nhóm bạn các câu hỏi chất vấn có
Trang 37PHIẾU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ DỰ ÁN (BẢN ĐÁNH GIÁ DÀNH CHO GIÁO VIÊN) Tên nhóm: ………
Sự tham gia của các thành viên 4
Sự lắng nghe của các thành viên trong nhóm 4
Sự phản hổi của các thành viên 4
Trang 381.6.3 Cách tính điểm cho mỗi nhóm và mỗi học sinh trong nhóm
1.6.3.1 Cách tính điểm trung bình cho mỗi nhóm
Giả sử chia lớp ra thành 4 nhóm
Kí hiệu :
- Điểm của nhóm A do giáo viên đánh giá: a
- Điểm của nhóm A do các 3 nhóm học sinh đánh giá: b+c+d (b,c,d là điểm của 3 nhóm đánh giá nhóm mình và đánh giá lẫn nhau.)
Điểm trung bình của nhóm A là :
2 3
d c b a A
+ + +
=
Quy đổi ra thang điểm 10: Điểm tối đa trong các tiêu chí do giáo viên
đánh giá là 70 và do học sinh đánh giá là 30 Để quy đổi ra thang điểm 10 ta
thay vào biểu thức:
1.6.3.2 Cách tính điểm cho mỗi thành viên trong nhóm
Giả sử nhóm A có 10 thành viên Gọi điểm do các học sinh trong nhóm
A đánh giá cho thành viên thứ nhất là: A 1, A 2, A 10
Điểm của học sinh A 1 trong đánh giá đồng đẳng là A d1 được tính bằng công thức:
Do điểm tối đa của học sinh trong nhóm có 10 thành viên là 18, quy
đổi ra thang điểm 10: 10 1.10
18
d d
A
Với A d10 là điểm đánh giá đồng đẳng của một thành viên nhóm 10 học sinh.
Trang 39Cuối cùng, điểm của học sinh A 1 kí hiệu là ĐIỂM bằng 10 10
1.7 Thực trạng dạy học chương “MẮT VÀ CÁC DỤNG CỤ QUANG” ở một số trường THPT
Chúng tôi tiến hành điều tra tình hình dạy học các kiến thức chương
“Mắt và các dụng cụ quang” theo hướng phát huy TTC, TTL, TST của HS ở một số trường phổ thông: thuận lợi, khó khăn khi dạy các kiến thức này, các hình thức và phương pháp dạy học chủ yếu của GV, việc dạy học theo dự án
1.7.1 Phương pháp điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra vào tháng 4 năm 2012 tại trường THPT Hoàng Quốc Việt- Võ Nhai- Thái Nguyên và THPT Hiệp Hòa 3- Hiệp Hòa- Bắc Giang Đó là khoảng thời gian gần cuối năm học 2011-2012, học sinh lớp
11 đã xong chương “Mắt và các dụng cụ quang”- Vật lí lớp 11 ban cơ bản
Điều tra giáo viên
Chúng tôi điều tra giáo viên dạy học môn Vật lí ở trường THPT Hoàng Quốc Việt và THPT Hiệp Hòa 3 thông qua phiếu điều tra, nghiên cứu giáo án,
dự giờ của đồng nghiệp Số phiếu điều tra là 13 phiếu, nội dung phiếu điều tra xin trình bày ở phần phụ lục số 1 của luận văn
Điều tra học sinh
Chúng tôi trao đổi trực tiếp với một số học sinh và thông qua bài kiểm tra chất lượng Cụ thể chúng tôi phát ra 120 phiếu và thu vào 120 phiếu điều tra của một số học sinh học lớp 11 của trường THPT Hoàng Quốc Việt và THPT Hiệp Hòa 3 Nội dung phiếu điều tra chúng tôi xin trình bày ở phần phụ lục số 2 của luận văn
Trang 401.7.2 Kết quả điều tra
* Tình hình dạy học của giáo viên
- Theo hướng dẫn phân phối chương trình của Sở giáo dục thì chương Mắt và các dụng cụ quang chỉ học trong 15 tiết trong đó có 5 tiết bài tập, nhưng việc hướng dẫn học sinh vận dụng nội dung này vào thực tiễn ít được các giáo viên chú trọng
- Có 4/13 giáo viên dạy học theo phương pháp thuyết trình, thông báo nội dung thuần túy: ví dụ như giáo viên thông báo về hiện tượng khi dùng kính lúp để quan sát một vật nhỏ thì góc trông vật tăng lên mà không làm thí nghiệm cho học sinh quan sát
- Phương pháp dạy học chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo của học sinh thể hiện ở chỗ giáo viên chưa giao hoặc ít giao nhiệm vụ nhận thức cho học sinh, ví dụ như: không cho học sinh giải thích các ứng dụng trong thực tiễn của phần kiến thức này…
- Có 5/13 giáo viên không tiến hành thí nghiệm như trong sách giáo khoa
- Có 10/13 giáo viên không yêu cầu học sinh chế tạo dụng cụ thí nghiệm hoặc làm thí nghiệm ở nhà, vì phần lớn giáo viên cho rằng phần kiến thức này trừu tượng, chủ yếu dạy học sinh giải bài tập là chính
- Có 9/13 giáo viên chưa nghe nhiều đến phương pháp dạy học dự án,
và 13/13 giáo viên chưa bao giờ đưa dạy học dự án vào tổ chức dạy học kiến thức của chương trình
* Tình hình học tập của học sinh
- Đa số học sinh chưa nắm được hết các kiến thức cơ bản như: cấu tạo quang học của mắt, các tật khúc xạ của mắt và cách khắc phục, sự tạo ảnh qua kính hiển vi và kính thiên văn Các khái niệm học sinh chỉ học thuộc do giáo viên thông báo nên mau quên và không chắc chắn