Nghiên cứu về sự ô nhiễm trứng và ấu trùng sán lá gan ở ngoại cảnh và trong ký chủ trung gian .... Nghiên cứu thời gian phát triển của ấu trùng sán lá gan trong ốc – ký chủ trung gian ..
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM THỊ TRANG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ
BỆNH SÁN LÁ GAN TRÂU, BÒ (FASCIOLOIS) Ở
TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
PHÒNG CHỐNG BỆNH
CHUYÊN NGÀNH: THÚ Y
MÃ SỐ: 60 62 50
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi và NCS Phạm Diệu Thuỳ dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Thị Kim Lan Các số liệu
và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan các trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc và mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
Tác giả luận văn
Phạm Thị Trang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập tại trường và sau 1 năm thực hiện đề tài tại cơ sở, đến nay tôi đã hoàn thành bản luận văn tốt nghiệp này Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới Ban Giám hiệu trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y, Bộ môn Dược lý và Vệ sinh an toàn thực phẩm, các thầy
cô giáo đã tận tình hướng dẫn, động viên tôi và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo PGS TS Nguyễn Thị Kim Lan, người đã trực tiếp hướng dẫn và NCS Phạm Diệu thuỳ
đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo uỷ ban nhân dân, trạm thú y
và nhân dân các huyện Định Hoá, Võ Nhai, Đồng Hỷ, Đại Từ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian tiến hành tại địa phương
Tôi xin chân thành cảm ơn các sinh viên chính quy khoá 39, 40 chuyên ngành Chăn nuôi thú y và Thú y đã tham gia và hỗ trợ tôi thực hiện thành công đề tài này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Thái Nguyên, tháng 09 năm 2012
Học viên
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ix
MỞ ĐẦU… 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 2
3 Mục tiêu của đề tài 2
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
4.1 Ý nghĩa khoa học 2
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
5 Những đóng góp mới của đề tài 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Loài sán, ký chủ và vị trí ký sinh 4
1.1.2 Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học 4
1.1.3 Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola 5
1.1.4 Vòng đời của sán lá Fasciola 6
1.1.5 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola 8
1.1.6 Bệnh lý và lâm sàng bệnh ở trâu, bò 12
1.1.6.1 Bệnh lý của bệnh sán lá gan trâu, bò 12
1.1.6.2 Triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu, bò 14
1.1.6.3 Bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh sán lá gan 15
1.1.7 Chẩn đoán bệnh do sán lá Fasciola gây ra 17
1.1.8 Phòng và trị bệnh 18
1.1.8.1 Phòng bệnh 18
1.1.8.2 Điều trị bệnh 20
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 27
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 31
2.2 Vật liệu nghiên cứu 31
2.2.1 Mẫu nghiên cứu 31
2.2.2 Dụng cụ và hoá chất 32
2.3 Nội dung nghiên cứu 32
Trang 52.3.1 Xác định loài sán lá gan lớn ký sinh ở trâu, bò tại một số huyện
thuộc tỉnh Thái Nguyên 322.3.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan lớn ở trâu, bò 322.3.2.1 Tình hình nhiễm sán lá gan lớn ở trâu và bò 322.3.2.2 Nghiên cứu về sự ô nhiễm trứng và ấu trùng sán lá gan ở ngoại
cảnh và trong ký chủ trung gian 322.3.2.3 Nghiên cứu về thời gian sống của trứng sán lá gan lớn ở ngoại
cảnh (khi chưa rơi vào môi trường nước) 33
2.3.2.4 Nghiên cứu về thời gian Miracidium thoát vỏ và thời gian tồn tại
của Miracidium trong nước 33
2.3.2.5 Nghiên cứu thời gian phát triển của ấu trùng sán lá gan trong ốc –
ký chủ trung gian 332.3.3 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu bò ở tỉnh
Thái Nguyên 332.4 Phương pháp nghiên cứu 33 2.4.1 Phương pháp xác định loài sán lá gan lớn ký sinh ở trâu, bò tại một số
huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 33 2.4.2 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá gan trâu,
bò ở một số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 34 2.4.2.1 Quy định những yếu tố cần xác định liên quan đến tình hình
nhiễm sán lá gan trâu, bò 342.4.2.2 Bố trí thu thập mẫu 342.4.2.3 Phương pháp xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan 352.4.3 Phương pháp nghiên cứu trứng và ấu trùng sán lá gan ở ngoại cảnh
và ký chủ trung gian 362.4.3.1 Phương pháp nghiên cứu sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở chuồng và
khu vực xung quanh chuồng nuôi trâu, bò 362.4.3.2 Phương pháp nghiên cứu sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở khu vực
bãi chăn thả 372.4.3.3 Phương pháp xác định loài ốc nước ngọt – ký chủ trung gian của
sán lá gan Fasciola spp 37
2.4.3.4.Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan của ốc
nước ngọt 382.4.4 Nghiên cứu thời gian sống của trứng sán lá gan ở ngoại cảnh (khi
không rơi vào môi trường nước) 38
2.4.5 Nghiên cứu thời gian thoát vỏ và thời gian sống của Miracidium
trong nước 402.4.6 Nghiên cứu về thời gian phát triển của ấu trùng sán lá gan trong ốc
- ký chủ trung gian 43
Trang 62.4.7 Phương pháp xác định hiệu lực tẩy sán lá gan của 2 loại thuốc Han
- Dertil B và Bio - Alben 46
2.5 Phương pháp xử lý số liệu 47
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 48
3.1 Kết quả xác định thành phần loài sán lá gan trâu, bò ở một số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 48
3.2 Tình hình nhiễm sán lá gan trâu, bò ở một số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 50
3.2.1 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở các địa phương 50
3.2.2 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tuổi trâu, bò 53
3.2.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan trâu, bò theo mùa vụ 55
3.2.4 Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tính biệt 57
3.3 Nghiên cứu về trứng và ấu trùng sán lá gan ở ngoại cảnh và trong ký chủ trung gian 59
3.3.1 Sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở chuồng trại, bãi chăn thả 59
3.3.2 Sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở bãi chăn thả trâu, bò (ở đất bề mặt, ở vũng nước trên bãi chăn) 62
3.3.3 Xác định loài ốc nước ngọt – ký chủ trung gian của sán lá gan và sự phân bố của chúng 64
3.3.4 Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan của ốc nước ngọt (nhiễm tự nhiên) 66
3.3.6 Nghiên cứu về thời gian sống của trứng sán lá gan ở ngoại cảnh (khi chưa rơi vào môi trường nước) 68
3.3.7 Nghiên cứu về thời gian thoát vỏ của Miracidium và thời gian sống của Miracidium trong nước 73
3.3.7.1 Thời gian Miracidium thoát vỏ vào trong nước (thí nghiệm trong mùa thu và mùa đông) 73
3.3.7.2 Thời gian Miracidium sống trong nước (khi không gặp ký chủ trung gian) 75
3.3.8 Nghiên cứu thời gian phát triển của ấu trùng sán lá gan trong ký chủ trung gian 77
3.4 Xác định hiệu lực tẩy sán lá gan của 2 loại thuốc Han - Dertil B và Bio - Alben 79
3.5 Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu bò ở tỉnh Thái Nguyên 80
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 82
4.1 Kết luận 82
4.2 Đề nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: Phân biệt đặc điểm hình thái trứng Fasciola với
trứng Paramphistomum 18
Bảng 2.1: Sơ đồ bố trí thu thập mẫu 35
Bảng 3.1: Xác định loài sán lá gan ký sinh ở trâu, bò nuôi tại một số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 47
Bảng 3.2: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở trâu tại một số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 49
Bảng 3.3: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan ở bò nuôi tại một số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên 51
Bảng 3.4: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tuổi trâu 52
Bảng 3.5: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tuổi bò 53
Bảng 3.6: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo mùa vụ ở trâu 54
Bảng 3.7: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo mùa vụ ở bò 55
Bảng 3.8: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tính biệt ở trâu 56
Bảng 3.9: Tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan theo tính biệt ở bò 57
Bảng 3.10: Sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở chuồng và khu vực xung quanh chuồng nuôi trâu 59
Bảng 3.11: Sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở chuồng và khu vực xung quanh chuồng nuôi bò 60
Bảng 3.12: Sự ô nhiễm trứng sán lá gan ở khu vực bãi chăn thả trâu, bò 62
Bảng 3.13: Kết quả định loài và so sánh sự phổ biến của ốc nước ngọt – ký chủ trung gian của sán Fasciola 63
Bảng 3.14: Sự phân bố loài ốc – ký chủ trung gian của sán Fasciola ở một số địa phương 64
Bảng 3.15: Tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan của ốc nước ngọt 65
Bảng 3.16: Thời gian sống của trứng sán lá gan trong phân trâu 67
Bảng 3.17: Thời gian sống của trứng sán lá gan trong phân bò 68
Bảng 3.18: Thời gian sống của trứng sán lá gan trong đất 71
Bảng 3.19: Thời gian Miracidium thoát vỏ trong nước 73
Bảng 3.20: Thời gian tồn tại của Miracidium trong nước vào mùa Thu và mùa Đông 75
Bảng 3.21: Thời gian hoàn thành các giai đoạn ấu trùng của sán lá gan 76
Bảng 3.22: Thời gian từ khi trứng sán lá gan vào môi trường nước đến khi hình thành Adolescaria 77
Bảng 3.23: Xác định hiệu lực tẩy sán lá gan của thuốc Han-Dertil B và Bio - Alben trên trâu 78
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Sơ đồ vòng đời của sán lá gan 7
Hình 3.1: Ảnh điện di ba mẫu sán lá gan định loài 48
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi trâu, bò có một vị trí quan trọng trong ngành nông nghiệp Trâu, bò ở nước ta không những cung cấp một khối lượng lớn thực phẩm mà còn cung cấp sức kéo và phân bón cho thâm canh cây trồng
Trong những năm gần đây, nhờ việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới
và thực hiện một số chính sách mới về phát triển trâu, bò nên số lượng đàn trâu, bò ở nước ta đã tăng lên rõ rệt
Tuy nhiên, vẫn còn một số trở ngại cho việc phát triển chăn nuôi trâu,
bò, trong đó có bệnh ký sinh trùng, đặc biệt là bệnh sán lá gan Bệnh sán lá
gan do các loài sán lá thuộc giống Fasciola gây nên Các loài sán này ký sinh
chủ yếu ở trâu, bò và một số động vật ăn cỏ khác như dê, cừu, ngựa, thỏ Ngoài ra, sán lá gan còn ký sinh và gây bệnh cho người
Ở nước ta, với điều kiện khí hậu nhiệt đới, sán lá gan và ký chủ trung gian của chúng có thể tồn tại và phát triển quanh năm Vì vậy, tỷ lệ nhiễm sán
lá gan ở trâu, bò thường cao và nhiều con bị nhiễm với cường độ nặng Trâu,
bò bị nhiễm sán lá gan thường gầy yếu, tăng trọng chậm, thiếu máu, hoàng đản và có thể chết nếu mắc bệnh nặng
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển chăn nuôi trâu, bò Trong những năm gần đây, tỉnh Thái Nguyên đã có định hướng rõ rệt nhằm đẩy mạnh chăn nuôi trâu, bò phát triển cả về số lượng
và chất lượng nhằm tận dụng tối đa điều kiện tự nhiên do thiên nhiên ưu đãi
để góp phần phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trong tỉnh Theo thống kê sơ bộ của Chi cục thú y tỉnh Thái Nguyên, đàn trâu, bò của tỉnh hiện nay bị nhiễm ký sinh trùng khá nhiều, trong đó có bệnh sán lá gan Do tác động gây hại của sán lá gan với ký chủ lớn nên đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh sán lá gan ở trâu, bò như công trình nghiên cứu của Phan Địch
Trang 11Lân (1985) [17], Nguyễn Hữu Hưng (2009) [9], Hoàng Văn Hiền và cs (2011) [5] Tuy nhiên, đến nay chưa có những nghiên cứu về bệnh sán lá gan ở trâu,
bò của tỉnh Thái Nguyên - một tỉnh miền núi phía bắc Vì vậy, để có biện pháp phòng chống tổng hợp bệnh sán lá gan cho trâu, bò có hiệu quả và phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở miền núi thì việc nghiên cứu các đặc điểm dịch
tễ của bệnh là hết sức cần thiết
Xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn chăn nuôi trâu, bò ở tỉnh
Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch
tễ bệnh sán lá gan trâu, bò (Fasciolosis) ở tỉnh Thái Nguyên và đề xuất biện pháp phòng chống bệnh"
2 Mục đích của đề tài
Kết quả của đề tài góp phần bổ sung và hoàn thiện thêm đặc điểm dịch tễ của bệnh sán lá gan trâu, bò trong điều kiện chăn nuôi ở miền núi, từ đó góp phần xây dựng quy trình phòng trị bệnh sán lá gan cho trâu, bò có hiệu quả cao
3 Mục tiêu của đề tài
Xác định được tỷ lệ nhiễm sán lá gan trâu, bò ở tỉnh Thái Nguyên và sự phát triển của trứng sán lá gan ở ngoại cảnh, sự phát triển các giai đoạn ấu trùng sán lá gan ở ngoại cảnh và trong ký chủ trung gian
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trang 12Thái Nguyên nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm sán lá gan, hạn chế thiệt hại do sán lá gan gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi trâu, bò phát triển
5 Những đóng góp mới của đề tài
- Đề tài có một số đóng góp mới về tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu,
bò tại tỉnh Thái Nguyên, về sự ô nhiễm mầm bệnh ở ngoại cảnh, về sự phát triển của trứng và ấu trùng sán lá gan trong điều kiện thí nghiệm gần với điều kiện thực tế
- Là cơ sở khoa học góp phần xây dựng quy trình phòng chống bệnh sán lá gan cho trâu, bò có hiệu quả và có tính khả thi, khuyến cáo và áp dụng rộng rãi tại các nông hộ, các trang trại chăn nuôi trâu, bò
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Loài sán, ký chủ và vị trí ký sinh
Bệnh sán lá gan do hai loài sán lá Fasciola gigantica và Fasciola
hepatica gây ra
Ký chủ của sán lá gan gồm: Ký chủ cuối cùng và ký chủ trung gian
- Ký chủ cuối cùng: Là các gia súc nhai lại: Trâu, bò, dê, cừu Cũng thấy
ở lợn, ngựa, thỏ, một số động vật hoang dã và cả người
- Ký chủ trung gian: Các loài ốc nước ngọt thuộc họ Lymnaea: Lymnaea
auricularia, L swinhoei, L viridis, Radix ovata
Vị trí ký sinh: Sán thường ký sinh ở ống dẫn mật Một số trường hợp thấy sán ký sinh ở tim, phổi, hạch lâm ba, tuyến tụy
1.1.2 Vị trí của sán lá Fasciola trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Skrjabin và cs (1977) [33], sán lá gan ký sinh và gây bệnh cho gia súc nhai lại được xếp trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Ngành Plathelminthes Schneider, 1873
Phân ngành Platodes Leuckart, 1854
Lớp Trematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Prosostomadidea Skrjabin và Guschanskaja, 1962
Bộ Fasciolida Skrjabin và Schulz, 1937 Phân bộ Fasciolata Skrjabin và Schulz, 1937
Họ Fasciolidae Railliet, 1895 Phân họ Fasciolinae Stiles và Hassall, 1898 Giống Fasciola Linnaeus, 1758
Loài Fasciola hepatica (Linnaeus, 1758) Loài Fasciola gigantica (Cobbold, 1885)
Trang 141.1.3 Đặc điểm hình thái của sán lá Fasciola
Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lưỡng tính, có thể thụ tinh chéo hoặc tự thụ tinh Sán có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nối với cơ quan tiêu hoá Sán không có hệ hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thị giác (ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt) Hệ sinh dục rất phát triển với cả
bộ phận sinh dục đực và cái trong cùng một sán Tử cung sán chứa đầy trứng
Có thể phân biệt hai loài sán lá gan thuộc giống Fasciola như sau:
- F gigantica (Linnaeus, 1758): có chiều dài thân gấp 3 lần chiều rộng, “vai”
không có hoặc nhìn không rõ rệt, nhánh ruột chia toả ra nhiều nhánh ngang
F gigantica (nghĩa là sán lá “khổng lồ”) dài 25 - 75 mm, rộng 3 - 12
mm, u lồi hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy nó không có
“vai” như loài Fasciola hepatica Hai rìa bên thân sán song song với nhau,
đầu cuối của thân tù Giác bụng tròn lồi ra Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và tinh hoàn đều phân nhánh Trứng hình bầu dục, màu vàng nâu, phôi bào to đều và xếp kín vỏ Kích thước trứng: 0,125 - 0,170 x 0,06 - 0,10 mm
- Fasciola hepatica (Linneaus,1758): trái với loài trên, loài này thân
rộng, đầu lồi và nhô ra phía trước làm cho sán có “vai”, nhánh ruột chia ít nhánh ngang hơn
Fasciola hepatica dài 18 - 51 mm, rộng 4 - 13 mm, phần thân trước nhô
ra, tạo cho sán có vai bè ra hai bên Hai rìa bên thân sán không song song với nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thót lại ở đoạn cuối thân Những ống dẫn tuyến noãn hoàng chạy ngang, chia vùng giữa của sán thành phần trước và phần sau thân Phần sau thân có tinh hoàn và bộ phận sinh dục đực Tinh hoàn phân nhiều nhánh xếp phía sau thân Tử cung ở giữa phần thân trước tạo nên một mạng lưới rối như tơ vò Buồng trứng phân nhánh nằm ở sau tử cung Trứng sán có hình thái, màu sắc tương tự trứng của loài F gigantica, kích thước 0,13 - 0,145 × 0,07 - 0,09 mm
Trang 151.1.4 Vòng đời của sán lá Fasciola
Fasciola trưởng thành ký sinh trong ống dẫn mật của trâu, bò, dê Sau khi thụ tinh, mỗi sán đẻ hàng chục vạn trứng Những trứng này cùng dịch mật vào ruột, sau đó theo phân ra ngoài Nếu gặp điều kiện thuận lợi: được nước mưa cuốn trôi xuống các vũng nước, hồ, ao, suối, ruộng nước , nhiệt độ 15 -
30oC, pH = 5 - 7,7, có ánh sáng thích hợp… sau 10 - 25 ngày trứng nở thành
Miracidium bơi tự do trong nước Nếu thiếu ánh sáng, Miracidium không có
khả năng thoát vỏ nhưng vẫn tồn tại đến 8 tháng trong vỏ, Miracidium có hình
tam giác, xung quanh thân có lông di chuyển được trong nước Khi gặp vật
chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea), Miracidium xâm nhập cơ thể ốc và phát triển thành bào ấu (Sporocyst) Những Miracidium không gặp vật chủ
trung gian thì rụng lông, rữa dần và chết
Bào ấu (Sporocyst) hình túi, màu sáng, được bao bọc bởi lớp màng
mỏng, các tế bào ngọn lửa hoạt động hình thành hầu, ống ruột và các đám phôi Trong một ốc có thể có 1 - 2 ấu trùng Khoảng 3 - 7 ngày, bào ấu sinh
sản vô tính cho ra nhiều lôi ấu (Redia) Một bào ấu sinh ra 5 - 15 lôi ấu
Redia hình suốt chỉ, ít hoạt động, có miệng, hầu, ruột, hình túi đơn giản
Có hai hệ: Redia thế hệ I và Redia thế hệ II cùng phát triển trong ốc - vật chủ
trung gian Ở nhiệt độ 160C hoặc thấp hơn, lôi ấu chỉ sản sinh Redia I và dừng
phát triển Ở nhiệt độ phù hợp (20 - 30o
C), sau 29 - 35 ngày, lôi ấu biến thành
vĩ ấu (Cercaria) Một Redia có thể sinh ra 12 - 20 Cercaria
Cercaria là ấu trùng ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo thân
hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu vận chuyển được dễ dàng trong nước Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và ruột phân thành hai nhánh
Theo Ginyecisz - Kaija (1960), trong cơ thể Cercaria còn có những hạt
glycogen cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của ấu trùng, đặc biệt là cho
Trang 16sự vận động không ngừng của đuôi Đuôi là cơ quan vận động của Cercaria
Theo một số tác giả, đuôi làm nhiệm vụ thay đổi vị trí của ấu trùng trong môi trường nước Lizz (1922) cho biết, nhờ sự hoạt động tích cực của đuôi mà vĩ ấu
tiếp cận để bám vào các cây thuỷ sinh, tạo thành kén (Adolescaria)
20-28 ngày
Vĩ ấu (lơ lửng trong nước hoặc bám vào
cây cỏ thuỷ sinh)
Hình 1.1: Sơ đồ vòng đời của sán lá gan
Từ khi Miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành Cercaria cần khoảng 50 - 80 ngày Sau khi thành thục Cercaria thoát khỏi ốc, ra môi
trường ngoài, bơi tự do trong nước, có kích thước 0,28 - 0,30 mm chiều dài
và 0,23 mm chiều rộng Sau vài giờ bơi trong nước, Cercaria rụng đuôi, tiết
chất nhầy xung quanh thân, chất nhầy gặp không khí khô rất nhanh Lúc này
Cercaria đã biến thành Adolescaria
Adolescaria hình khối tròn, bên trong chứa phôi hoạt động Phôi có giác
miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và túi bài tiết Adolescaria thường ở trong nước hoặc bám vào cây cỏ thuỷ sinh Nếu trâu, bò, dê nuốt phải Adolescaria,
Trang 17vào đến dạ dày và ruột, lớp vỏ ngoài bị phân huỷ, ấu trùng được giải phóng và
di chuyển đến ống mật bằng ba con đường sau:
- Một số ấu trùng dùng tuyến xuyên chui qua niêm mạc ruột, vào tĩnh mạch ruột, qua tĩnh mạch gan, xuyên qua nhu mô gan vào ống mật
- Một số ấu trùng khác cũng dùng tuyến xuyên chui qua thành ruột vào xoang bụng, đến cửa gan, xuyên qua vỏ gan vào ống mật
- Một số ấu trùng từ tá tràng ngược dòng dịch mật để lên ống dẫn mật Sau khi vào ống dẫn mật, ấu trùng ký sinh ở đó và phát triển thành sán
lá gan trưởng thành Theo Skerman (1996), thời gian hoàn thành vòng đời là
92 - 117 ngày Fasciola trưởng thành có thể ký sinh trong ống dẫn mật của
súc vật nhai lại 3 - 5 năm, có khi tới 11 năm
1.1.5 Đặc điểm dịch tễ bệnh sán lá Fasciola
Bệnh sán lá gan phổ biến khắp các châu lục và nhiều nước trên thế giới
Ở Việt Nam, bệnh thấy ở khắp các tỉnh thành trong cả nước
Đoàn Văn Phúc và cs (1980) [23] đã kiểm tra phân của 64 bò tại trại
bò sữa Hà Nội, thấy tỷ lệ nhiễm sán Fasciola là 73,43% Tác giả còn cho
biết, bệnh sán lá gan đã ảnh hưởng rõ rệt đến sức khoẻ và sản lượng sữa của đàn bò
Đoàn Văn Phúc và cs (1995) [24] cho biết, trâu, bò thuộc khu vực Hà Nội nhiễm sán lá gan tỷ lệ 53,41%
Kết quả điều tra trên đàn trâu, bò ở một số địa phương xung quanh Hà Nội, Bắc Giang, Thái Nguyên, Hoà Bình, tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 44,53% Trong
đó, trâu nhiễm 33,92%, bò nhiễm 54,21% (Lương Tố Thu, Bùi Khánh Linh,
Trang 18Thời tiết, khí hậu của một vùng, một khu vực có liên quan trực tiếp đến
sự tồn tại và phát triển của ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan Điều kiện
ẩm ướt, mưa nhiều tạo ra môi trường nước, giúp ốc nước ngọt sống và sinh sản thuận lợi
Trịnh Văn Thịnh (1963) [27], Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [28], Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [12], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [16]… đều cho biết, trâu, bò nhiễm sán lá gan thường tăng lên vào mùa vật chủ trung gian phát triển Những năm mưa nhiều, tỷ lệ nhiễm sán lá gan tăng lên so với những năm nắng ráo khô hạn Mùa vụ gắn liền với sự thay đổi thời tiết khí hậu Mùa hè - thu, số gia súc bị nhiễm sán lá gan tăng cao hơn các mùa khác trong năm Cuối mùa thu và mùa đông bệnh thường phát ra
- Yếu tố vùng và địa hình
Vùng và địa hình là hai khái niệm khác nhau, song có liên quan chặt chẽ với nhau Các vùng khác nhau có địa hình không giống nhau Địa hình là yếu
tố quan trọng quyết định sự khác nhau giữa các vùng
Các vùng khác nhau trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều thuộc bốn loại địa hình: ven biển, đồng bằng, trung du và miền núi
Hầu hết các nhà ký sinh trùng học thống nhất rằng, gia súc nhai lại ở vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan nhiều nhất, tỷ lệ và cường độ nhiễm giảm dần đối với đàn gia súc ở vùng ven biển, vùng trung du và vùng núi Nguyên nhân dẫn đến quy luật này, các tác giả (Trịnh Văn Thịnh, 1963 [28]; Phạm Văn Khuê, Phan Lục, 1996 [12]; Soulsby, 1982 [55]; Kaufmann, 1996 [48]…) đều giải thích: vùng đồng bằng có nhiều hồ, ao, kênh rạch, có điều kiện cho ốc - vật chủ trung gian sống và sinh sản, vì vậy sán lá gan dễ hoàn thành vòng đời hơn và trâu, bò dễ nhiễm sán lá gan hơn so với vùng trung du
và vùng núi
- Yếu tố loài và tuổi vật chủ cuối cùng
Trang 19Súc vật nhai lại đã được thuần hoá như trâu, bò, dê, cừu đều nhiễm sán lá
gan Fasciola Ngoài ra, súc vật hoang dã cũng nhiễm sán lá này (hươu, nai, hoẵng…) Cũng có những trường hợp thỏ, ngựa, lợn nhiễm Fasciola, ngay cả
người cũng có thể nhiễm sán và bị bệnh
Ở nước ta, theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1978) [28], Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [12], loài súc vật nhiễm sán nhiều nhất là trâu (79,6%), bò ít hơn (36%), dê ít nhất (20%) Sở dĩ trâu nhiễm sán lá gan nhiều nhất là do đặc tính ưa nước của chúng (thích ăn gần chỗ có nước, đằm tắm trong nước và uống nước ở vũng, ao, kênh rạch), trong khi đặc điểm của bò và dê ít ưa nước hơn
Về mối liên quan giữa tỷ lệ, cường độ nhiễm sán lá gan và tuổi vật chủ, các tác giả đều thống nhất rằng, tuổi súc vật càng cao thì tỷ lệ và cường độ nhiễm càng tăng lên Súc vật tuổi càng tăng lên (thời gian sống càng dài) thì
sự tiếp xúc với môi trường ngoại cảnh càng nhiều, cơ hội gặp và nuốt phải
nang ấu (Adolescaria) càng cao Mặt khác, sán Fasciola trưởng thành có thời
gian ký sinh ở súc vật nhai lại tương đối dài (3 - 5 năm, thậm chí tới 11 năm)
Đó chính là cơ sở khoa học giải thích cho quy luật nhiễm theo tuổi vật chủ
của sán lá Fasciola spp
Phan Địch Lân (1994) [18] cho biết, trâu dưới 3 tuổi chỉ nhiễm sán lá gan 17,2 - 22,0%; trâu 3 - 5 năm tuổi nhiễm sán lá gan 31,2 - 40,2%, trâu 5 - 8 năm tuổi nhiễm 42,4% - 57,5%, trâu trên 8 năm tuổi nhiễm 56,8 - 66,3%, trâu ở độ tuổi phế thải (loại thải), khi mổ khám thấy tỷ lệ cao tới 84,6% (những trâu này bị bệnh rất nặng, gan phải huỷ bỏ toàn bộ do có quá nhiều sán ký sinh)
Nguồn reo rắc bệnh chủ yếu là súc vật nuôi (trâu, bò, dê, cừu…) và
những dã thú mang Fasciola Trứng sán lá gan theo phân của súc vật ra ngoài
tự nhiên Hàng năm mỗi sán lá gan ký sinh đẻ khoảng 6000 trứng Vì vậy, mỗi súc vật mang sán hàng năm thải khối lượng trứng khá lớn ra đồng cỏ và các bãi chăn thả Những đồng cỏ ẩm thấp, lầy lội là những nơi cần thiết để
Trang 20mầm bệnh phát triển và xâm nhập vào súc vật, đồng thời thuận lợi cho trứng
nở thành Miracidium, thuận lợi cho vật chủ trung gian của Fasciola tồn tại và
phát triển
- Vật chủ trung gian của Fasciola spp
Sự phân bố các loài ốc - vật chủ trung gian của sán lá gan phụ thuộc vào các vùng địa lý khác nhau Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [12], vật chủ trung
gian của sán lá Fasciola là các loài ốc nước ngọt Lymnaea: L auricularia, L
swinhoei, L viridis, Agalba truncatula, Radix ovata
Phan Địch Lân (1985) [17] đã nghiên cứu đặc điểm sinh học của ốc - vật
chủ trung gian của F.gigantica ở miền Bắc Việt Nam Tác giả cho biết, vật chủ trung gian của sán lá Fasciola là hai loài ốc nước ngọt thuộc giống
Lymnaea với tên gọi là ốc vành tai (L swinhoei) và ốc chanh (L viridis) Loài
L swinhoei có vỏ mỏng, dễ vỡ, không có nắp miệng, kích thước 20 mm, vòng
xoắn cuối cùng rất lớn, chiếm gần hết phần thân, vỏ loe ra như vành tai Loài
L viridis cũng có vỏ mỏng, không có nắp miệng, kích thước 10 mm, vỏ dễ
vỡ, có 4 - 5 vòng xoắn, vòng xoắn cuối cùng lớn
Ốc L viridis thường sống ở những nơi nước xâm xấp, đẻ trứng thành ổ
7 - 10 trứng, sau 7 ngày nở thành ốc con Ốc L swinhoei thường sống trôi nổi
ở cống rãnh, ao, hồ, đẻ trứng quanh năm, mỗi ổ có 60 - 150 trứng Trong điều kiện nhiệt độ ở nước ta, ốc đẻ quanh năm và quanh năm có ốc con được nở ra
Phan Địch Lân (2004) [18] cho biết: ốc L swinhoei phân bố nhiều hơn ở vùng đồng bằng, trong khi ốc L viridis phân bố nhiều hơn ở vùng núi, trung
du và ven biển Theo kết quả nghiên cứu của tác giả thì hai loài ốc này đều xuất hiện trong cả 12 tháng của năm, nhưng mật độ (tính trên 1m2
) khác nhau
theo vùng: vùng đồng bằng, mật độ ốc L swinhoei cao hơn và phân bố đều trong năm, còn ốc L viridis thì xuất hiện với mật độ cao hơn ở các vùng núi,
Trang 21trung du, ven biển Từ đó, tác giả nhận xét rằng, ốc L swinhoei chịu nước hơn, còn ốc L viridis chịu cạn hơn
Theo Nguyễn Trọng Kim (1997) [14] giữa tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan của ốc - vật chủ trung gian với tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò có mối tương quan thuận, nghĩa là nếu tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở ốc nước ngọt cao thì tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò ở khu vực đó cũng cao
- Sức đề kháng của trứng và ấu trùng sán lá gan
Trứng sán lá gan được thải theo phân trâu, bò ra môi trường ngoại cảnh Trứng sán lá rất nhạy cảm với điều kiện khô hạn và tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời Ở trong phân khô, phôi ngừng phát triển, trứng bị chết sau 8 - 9 ngày
Trong điều kiện khô hạn, vỏ trứng bị nhăn nheo, biến đổi hình dạng,
Miracidium bị chết trong vỏ trứng sau 1 - 1,5 ngày Ở môi trường ẩm ướt,
trứng có khả năng sống khá lâu (trong phân hơi ẩm, trứng tồn tại đến 8 tháng) Dưới ánh nắng chiếu trực tiếp, trứng chết nhanh Phôi bị chết sau 2 ngày ở nhiệt độ thấp (-5o
C -15oC) Nhiệt độ 10 - 20oC trứng ngừng phát triển Nhiệt
độ 40 - 50oC, phôi chết sau vài phút (Phạm Văn Khuê, Phan Lục, 1996 [12])
Khi phát triển đến giai đoạn nang ấu (Adolescaria), sức đề kháng của chúng tăng lên rõ rệt Adolescaria có khả năng tồn tại ở nhiệt độ -40C → -60
C
Ở điều kiện nhiệt độ bình thường, những Adolescaria có trong cỏ khô bị ẩm và
trong môi trường nước có thể tồn tại đến trên 5 tháng (Kaufmann, 1996 [48])
1.1.6 Bệnh lý và lâm sàng bệnh ở trâu, bò
1.1.6.1 Bệnh lý của bệnh sán lá gan trâu, bò
Theo các nhà ký sinh trùng học, sán lá gan gây bệnh ở vật chủ bằng các tác động cơ học, tác động của độc tố, sự chiếm đoạt chất dinh dưỡng và tác động mang trùng Khi súc vật mới bệnh, sán non di hành trong cơ thể làm tổn thương ở ruột, thành mạch máu, nhu mô gan Một số ấu trùng có thể theo máu
di chuyển “lạc chỗ” đến phổi, lách, cơ hoành, tuyến tuỵ… gây tổn thương và
Trang 22xuất huyết nặng hoặc nhẹ Sán non xuyên qua các nhu mô gan, làm tổ chức gan bị phá hoại, tạo ra những đường di hành đầy máu và mảnh tổ chức gan bị phá huỷ Gan bị viêm từ nhẹ đến nặng tuỳ theo số lượng ấu trùng nhiễm vào
cơ thể Súc vật bị thiếu máu do xuất huyết, có thể chết do mất máu
Tác động cơ giới của sán còn tiếp tục khi sán đã vào ống dẫn mật, tiếp tục tăng lên về kích thước và phát triển thành sán trưởng thành Sán trưởng thành thường xuyên kích thích niêm mạc ống dẫn mật bằng các gai cutin trên
cơ thể, gây viêm ống mật Số lượng sán nhiều có thể làm tắc ống mật, mật ứ lại không xuống ruột được sẽ tràn vào máu, gây hiện tượng hoàng đản
Trong quá trình ký sinh, sán thường xuyên tiết độc tố Độc tố tác động vào thành ống dẫn mật và mô gan, gây biến đổi đại thể và vi thể, làm tăng quá trình viêm Đồng thời, độc tố của sán còn hấp thu vào máu, gây hiện tượng trúng độc toàn thân, gây huỷ hoại máu, làm biến chất protein trong máu, làm Albumin giảm, globulin tăng Độc tố của sán còn làm tăng nhiệt độ cơ thể, tăng bạch cầu (đặc biệt là bạch cầu ái toan) Độc tố của sán còn tác động vào thần kinh, làm cho con vật có triệu chứng thần kinh (run rẩy, đi xiêu vẹo…) Độc tố của sán lá gan tác động vào thành mạch máu, làm tăng tính thấm của thành mạch, gây hiện tượng thuỷ thũng, làm cho máu đặc lại Cũng do tác động của độc tố nên giữa những tiểu thuỳ gan có hiện tượng thâm nhiễm tế bào, hình thành nên các mô liên kết mới dọc theo các vách ngăn của tiểu thuỳ gan và quanh ống mật, vì vậy những ống mật này cũng dày lên Quá trình viêm kéo dài làm cho các tế bào tổ chức tăng sinh, thay thế những tế bào nhu
mô gan, gây hiện tượng xơ gan và teo gan Khi súc vật nhiễm sán lá gan nặng, hiện tượng xơ gan chiếm diện tích lớn của gan, làm cho chức năng của gan bị phá huỷ Từ đó dẫn đến hàng loạt rối loạn khác như: rối loạn cơ năng dạ dày - ruột, thiếu máu, suy nhược, gầy dần, cổ chướng, xoang phúc mạc tích nước
Trang 23Một tác động quan trọng của Fasciola khi ký sinh ở vật chủ là chiếm đoạt dinh dưỡng Dinh dưỡng của sán lá gan là máu súc vật mà nó ký sinh Bằng phương pháp phóng xạ, người ta đã thấy mỗi sán ký sinh ở ống dẫn mật lấy 0,2 ml máu mỗi ngày Như vậy, nếu súc vật nhiễm ít sán thì vai trò chiếm đoạt chất dinh dưỡng không rõ, nhưng nếu súc vật có hàng trăm, hàng nghìn sán ký sinh thì lượng máu mất đi rất nhiều
Ngoài các tác động gây bệnh trên, trong khi di hành, sán non còn mang theo các loại vi trùng từ bên ngoài vào máu, gan và những cơ quan khác, gây những bọc mủ hoặc gây bệnh truyền nhiễm khác
Tất cả những tác động trên của sán lá Fasciola làm cho sức đề kháng của
cơ thể trâu, bò giảm sút nghiêm trọng, dễ mắc các bệnh khác, hoặc làm cho các bệnh đang có trong cơ thể súc vật nặng thêm lên
1.1.6.2 Triệu chứng bệnh sán lá gan ở trâu, bò
Triệu chứng lâm sàng là biểu hiện ra bên ngoài bởi các tác động gây
bệnh của sán lá Fasciola Triệu chứng ở trâu, bò biểu hiện nặng hay nhẹ còn
phụ thuộc vào cường độ nhiễm sán, tình trạng sức khoẻ và tuổi của súc vật, tình trạng chăm sóc, quản lý…
- Thể cấp tính thường gặp ở trâu, bò 1,5 - 2 năm tuổi (Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [12]), trong giai đoạn sán non di hành hoặc khi nuôi dưỡng chăm sóc kém
Trâu, bò có biểu hiện ăn uống kém, suy nhược, chướng bụng, ỉa chảy, miệng hôi, sốt, gan sưng to và đau, thiếu máu, vàng da, đôi khi có triệu chứng thần kinh (lảo đảo, xiêu vẹo) Súc vật có thể chết do xuất huyết nặng, trúng độc và suy nhược cơ thể
- Thể mãn tính thấy phổ biến ở trâu, bò trưởng thành, khi trâu, bò được nuôi dưỡng tốt và sán đã ở giai đoạn trưởng thành, ký sinh trong ống dẫn mật với số lượng ít Thể mãn tính thường xuất hiện sau thể cấp tính 1 - 2 tháng
Trang 24Trâu, bò có biểu hiện ăn uống kém, suy nhược, niêm mạc nhợt nhạt, lông
xù và dễ rụng (nhất là lông ở vùng dọc hai bên sườn và dọc xương ức) Xuất hiện thuỷ thũng ở mí mắt, yếm, ngực, bộ phận sinh dục Thuỷ thũng ban đầu lúc thấy, lúc không, về sau thấy liên tục Con vật nhai lại yếu, khát nước, ỉa chảy xen kẽ táo bón, gầy yếu dần Giai đoạn sau đi tháo nhiều hơn và gầy rất nhanh Kiểm tra lâm sàng thấy gan sưng to và đau Có thể thấy hiện tượng xảy thai ở bò cái bị bệnh, lượng sữa có thể giảm 30 - 50% Triệu chứng thần kinh cũng có thể gặp, song rất hiếm Bệnh kéo dài nhiều tháng, con vật có thể chết do suy nhược toàn thân
Nhìn chung, khi súc vật bị bệnh sán lá gan kéo dài, cơ thể suy nhược nặng, nếu không được điều trị kịp thời thì súc vật thường chết
1.1.6.3 Bệnh tích của trâu, bò mắc bệnh sán lá gan
Tuỳ theo mức độ nhiễm sán mà bệnh tích có sự khác nhau
Đối với trâu, bò nhiễm nặng, bệnh tích thấy rõ là viêm gan cấp tính, gan sưng to, màu vàng sẫm, sung huyết Trên mặt gan có thể thấy những đường di hành của sán non tạo thành những vệt đỏ thẫm, dài 2 - 4 mm, trong đó sán non với số lượng nhiều Lớp thanh mạc xuất huyết nhẹ, đôi khi có tơ huyết Khi nhiễm nặng thấy viêm phúc mạc, gan xuất huyết nhiều, niêm mạc mắt nhợt nhạt
Ở những trâu, bò nhiễm sán lá gan đã lâu, gan viêm mãn tính, những chỗ nhu mô gan bị phá huỷ có sẹo mầu vàng xám Gan xơ cứng, niêm mạc ống dẫn mật dày, có hiện tượng canxi hoá mặt trong thành ống Lòng ống dẫn mật dãn
rộng, chứa đầy dịch mật màu nâu và sán Fasciola Khi ống dẫn mật bị canxi hoá
nhiều, sán ở chỗ đó thường bị chết hoặc chuyển đến chỗ ít biến đổi hơn
Trang 25Quan sát biến đổi vi thể dưới kính hiển vi thấy: nhu mô gan mất màu, liên bào ống mật thoái hoá, niêm mạc tăng sinh thành những u, trong u chứa nhiều bạch cầu, lâm ba cầu, bạch cầu ái toan, đại thực bào chứa đầy sắc tố mật và máu Quá trình viêm tăng sinh lan xuống lớp sâu hơn của ống mật: tổ chức liên kết tăng sinh, lan vào các thuỳ gan làm tan biến tổ chức gan (Phạm Văn Khuê , Phan Lục, 1996 [12]) Nguyễn Thị Kim Thành và cs (1996) [26] đã nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý máu của trâu bị bệnh sán lá gan, kết quả thấy số lượng hồng cầu giảm, hàm lượng huyết sắc tố giảm, số lượng bạch cầu tăng, công thức bạch cầu thay đổi nghiêng về bạch cầu ái toan
Theo Nguyễn Hữu Hưng (2011) [10], bệnh tích vi thể của gan nhiễm sán qua phương pháp làm tiêu bản vi thể tại phòng thí nghiệm cho thấy: sán non
cư trú trong nhu mô gan, số lượng ống dẫn mật tăng sinh Nhu mô gan xuất huyết, ứ huyết Gan vàng, một số vùng trên nhu mô gan bị hoại tử Xuất hiện các nốt mủ trong nhu mô gan, các hạt mỡ to nhỏ chứa đầy trong tế bào gan Trong nhu mô gan xuất hiện các tổ chức xơ
Cũng theo tác giả trên, sán lá gan lớn thường gây tổn thương gan và có thể gây nên những biến chứng nặng nề ở vật chủ Trâu, bò được coi là vật chủ chính của sán lá gan lớn và người là vật chủ tình cờ do ăn rau sống hoặc uống nước bị nhiễm ấu trùng sán lá gan lớn
Nghiên cứu bệnh sán lá gan ở trâu, bò, Phan Địch Lân (1994) [18] cho biết: khi mổ khám trâu, bò bị bệnh sán lá gan thấy có bệnh tích đặc biệt là gan
to hơn nhiều so với bình thường (gấp 2 - 3 lần) Gan màu đỏ sẫm, biểu hiện sung huyết Dưới vỏ gan thấy ứ nước, trên mặt gan còn giữ lại những đường ngoằn ngoèo do sán di hành Tổ chức liên kết phát triển tạo nên những sẹo đặc biệt Trong gan còn thấy những sán non không đến được ống dẫn mật,
Trang 26đóng kén to bằng hạt đậu và chết trong kén Cắt tổ chức gan thấy lạo xạo do biến chất thoái hoá Do tăng sinh tổ chức liên kết nên gan cứng và xơ gan Trường hợp viêm phúc mạc bụng chứa nhiều nước (cổ chướng)
1.1.7 Chẩn đoán bệnh do sán lá Fasciola gây ra
Việc chẩn đoán có thể được tiến hành trên súc vật còn sống hoặc đã chết Tuỳ điều kiện thực tế mà áp dụng biện pháp phù hợp
- Đối với súc vật còn sống:
Để chẩn đoán bệnh do Fasciola gây ra, thường áp dụng các biện pháp
như: chẩn đoán lâm sàng, kết hợp đặc điểm dịch tễ, xét nghiệm phân con vật nghi bệnh và chẩn đoán miễn dịch học
Triệu chứng lâm sàng của bệnh sán lá gan thường dễ thấy nhất là: kiệt sức, suy nhược, rụng lông, phù thũng ở ngực, ức… Tuy nhiên, các biểu hiện
trên không chỉ thấy ở bệnh do Fasciola gây nên Vì vậy, triệu chứng lâm sàng
không phải là căn cứ duy nhất để kết luận bệnh
Những dẫn liệu dịch tễ học của bệnh cần xem xét là: yếu tố mùa vụ, vùng và tuổi súc vật bệnh Song, những dẫn liệu này chỉ là những thông tin cần xem xét trong chẩn đoán chứ không phải là sở cứ quan trọng nhất trong chẩn đoán
Việc xét nghiệm phân tìm trứng Fasciola là biện pháp có tính quyết định trong chẩn đoán Thường dùng phương pháp gạn rửa nhiều lần Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996) [12], phương pháp này phổ biến nhưng
chưa phát hiện được tất cả mọi gia súc nhiễm sán Fasciola, nhất là ở những
trâu, bò nhiễm ít hoặc ở giai đoạn sán còn non Khi xét nghiệm phân, cần
phân biệt trứng Fasciola với trứng Paramphistomum ký sinh ở dạ cỏ (phân
biệt về màu sắc, hình dạng, tế bào noãn hoàng và kích thước)
Trang 27Bảng 1.1: Phân biệt đặc điểm hình thái trứng Fasciola
ở giữa và hai đầu thon nhỏ gần đều nhau
To đều và xếp kín trong
vỏ trứng, ranh giới giữa các phôi bào rõ ràng 0,13 - 0,16 × 0,06 - 0,10 mm
Màu tro nhạt Hình trứng, phình rộng ở giữa, thon về hai đầu không đều nhau, đầu nhỏ có nắp trứng Phôi bào trong trứng xếp không đều nhau, có khi dồn lại thành đám lớn
0,13 - 0,15 × 0,16 - 0,08 mm
Phương pháp miễn dịch học để phát hiện súc vật nhiễm Fasciola đã được sử dụng là: dùng kháng nguyên tiêm nội bì, căn cứ vào phản ứng nơi tiêm để kết luận Các phương pháp như: phương pháp miễn dịch men ELISA, phương pháp miễn dịch huỳnh quang… Tuy nhiên, do khó khăn về phương tiện và việc chế kháng nguyên chuẩn nên các phương pháp này còn ít được dùng trong bệnh ký sinh trùng nói chung và bệnh sán lá gan nói riêng
- Đối với trâu, bò chết:
Khi trâu, bò chết, mổ khám tìm sán Fasciola ở giai đoạn ấu trùng và
trưởng thành trong ống dẫn mật, gan, xoang bụng… Phương pháp này chính xác hơn cả, vì tìm thấy cả sán non ở giai đoạn di hành
1.1.8 Phòng và trị bệnh
1.1.8.1 Phòng bệnh
Cơ sở khoa học đề ra quy trình phòng ngừa tổng hợp bệnh sán lá gan cho
trâu, bò là phải nắm được cụ thể chu kỳ sinh học của sán Fasciola, sinh học
của ốc - vật chủ trung gian và tình hình dịch tễ của bệnh
Trang 28vụ Xuân - Hè, ngăn ngừa bệnh phát ra ở mùa đông Trên những đồng cỏ có căn bệnh tiềm tàng, có thể tiến hành chăn dắt luân phiên giữa súc vật mẫn cảm (trâu, bò, dê, cừu) với những súc vật ít khả năng cảm nhiễm (ngựa)
- Ủ phân theo phương pháp sinh học, lợi dụng quá trình lên men sinh nhiệt các chất hữu cơ trong phân của hệ vi sinh vật để tiêu diệt trứng sán lá gan trong phân trâu, bò Biện pháp này có hiệu quả và đơn giản nhất để phòng
bệnh do sán Fasciola gây ra
- Xử lý các cơ quan có sán ký sinh: nếu gan nhiễm nhiều sán phải huỷ bỏ (chôn, rắc vôi bột, đốt) hoặc không huỷ bỏ mà để lại chế biến chín làm thức
ăn gia súc
- Diệt vật chủ trung gian của sán lá Fasciola: tháo cạn nước, làm khô
những đồng cỏ, bãi chăn lầy lội, ẩm ướt Dùng một số chất hoá học có khả năng diệt ốc (vôi bột, sulfat đồng ), đẩy mạnh chăn nuôi thuỷ cầm (vịt, ngan, ngỗng) và cá trắm đen
- Tăng cường vệ sinh thức ăn, nước uống Không chăn thả trâu, bò ở những bãi chăn lầy lội, ẩm thấp Nếu khó khăn về bãi chăn thả thì chỉ chăn thả ở bãi chăn lầy lội, ẩm ướt 1,5 - 2 tháng, rồi phải chuyển sang chăn ở bãi khác Nếu lấy cỏ ở những chỗ ẩm ướt thì phải cắt cao hơn mặt nước để tránh
Adolescaria, sau đó phơi khô, bảo quản trong 6 tháng rồi cho gia súc ăn
Nguồn nước uống phải sạch, không có vật chủ trung gian và Adolescaria
- Không nhập trâu, bò từ vùng có bệnh, khi chưa kiểm tra và điều trị triệt để
Trang 291.1.8.2 Điều trị bệnh
Hiện nay, có thể tẩy sán lá gan cho trâu, bò bằng một trong các loại thuốc sau:
- Thuốc Dertil: Dertil là thuốc có tác dụng đặc hiệu với sán lá gan
Fasciola Tên gọi khác: Menichlofolan, Bayer ME 3625, Bayer 9015A,
Bilevon M Dertil được bào chế thành viên to, màu xanh lá cây đậm Viên Dertil “O” có chứa 100 mg hoạt chất, viên Dertil “B” chứa 300 mg hoạt chất Dertil có tác dụng diệt sán lá gan trưởng thành ở trâu, bò, với liều cao còn diệt được cả sán non đang di hành trong nhu mô gan Thuốc chỉ cần dùng một lần, không cần điều trị lặp lại Được chỉ định điều trị bệnh sán lá gan cấp tính và mãn tính cho trâu, bò
Liều lượng:
Bò: 5 - 6 mg/kgTT; Trâu: 8 - 9 mg/kgTT
Cho từng cá thể uống thuốc, hoặc gói thuốc vào lá chuối non, đưa sâu vào miệng cho con vật nuốt
- Thuốc Fasciolid (tên khác: Fasciolidum)
Thuốc được bào chế dưới dạng dung dịch màu vàng nâu, chứa 25% hoạt
chất là Nitroxynil Fasiolid có tác dụng tẩy sán lá gan Fasciola dạng trưởng
thành và các giun tròn đường tiêu hoá loài nhai lại, được chỉ định tẩy sán lá gan cho trâu, bò
Liều lượng: 0,04 ml/kgTT (1 ml/25kgTT, tương đương 1 mg hoạt chất/kgTT) Tiêm dưới da Để tẩy sán lá gan, nên dùng thuốc 2 - 3 lần, cách nhau 25 - 30 ngày
- Thuốc Tolzan - F (chế phẩm của Oxyclozanid), được bào chế dưới dạng dung dịch hoặc viên nén, dùng với liều 10 - 11 mg/kgTT Thuốc có tác
dụng đặc hiệu với sán Fasciola trưởng thành và sán non ở trâu, bò, dê, cừu
Trang 30- Thuốc Fasinex (chế phẩm của Trilabendazole): Thuốc có tác dụng diệt
cả sán non và sán trưởng thành ký sinh ở ống dẫn mật hoặc đang di hành trong các nhu mô gan
Fasinex được chỉ định dùng điều trị bệnh sán lá gan cho trâu, bò
Liều lượng: 10 - 12 mg/kgTT Cho uống một lần duy nhất Thuốc có hiệu lực cao và an toàn cho gia súc dùng thuốc
Ngoài các thuốc trên, Albendazole, Bithionol, Closantel cũng có tác
dụng tẩy sán lá Fasciola ở trâu, bò
Lương Tố Thu và cs (1997) [30] đã nhận định về các thuốc trị sán lá gan và kết quả thử nghiệm ở trâu, bò Việt Nam Các tác giả khuyến cáo rằng, trên thị trường Việt Nam hiện nay nên sử dụng Fasinex - 900 dạng viên (1 viên/75 - 100 kgTT) hoặc Fasinex - 900 dạng sữa (10 ml/100 kgTT), cho hiệu lực cao
1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo tài liệu của nhiều nhà nghiên cứu giun sán học như: Trịnh Văn Thịnh (1963, 1966); Bùi Lập (1966); Nguyễn Thị Lê (1968, 1970, 1980,
1991, 1995); Hà Duy Ngọ (1987, 1990); Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20]
ở Việt Nam có cả 2 loài sán lá gan lớn F hepatica và F gigantica Tuy nhiên, cho đến nay hầu hết các tác giả này chỉ mới thu được mẫu sán của loài F
gigantica còn loài F hepatica hầu như chưa thu được mẫu
Lê Thanh Hòa và Nguyễn Văn Đề (2002) [6], (2007) [7] đã nghiên cứu khi phân tích chỉ thị di truyền hệ gen ty thể của sán lá gan lớn trên gia súc và
trên người đã xác định sán lá gan lớn của Việt Nam là F gigantica F
gigantica của Việt Nam có hệ số đồng nhất nội loài rất cao khi so sánh với
các chủng khác vùng địa lý ở Việt Nam, nhưng tác giả cho rằng ở nước ta có
“loài lai” tự nhiên của F hepatica và F gigantica vì sự xuất hiện của một số
cá thể có đặc điểm chung của 2 loài
Trang 31Nguyễn Thế Hùng và cs (2008) [8] đã thu thập ngẫu nhiên 25 sán lá gan lớn ở lò mổ Hà Nội và định loài bằng phương pháp PCR Kết quả cho
thấy, tất cả các mẫu sán được xác định là F gigantica
* Nghiên cứu tình hình nhiễm sán lá gan lớn ở trâu, bò
Trước đây, ở nước ta có nhiều cuộc điều tra về tỷ lệ nhiễm sán lá gan Trịnh Văn Thịnh (1978) [28] cho biết, trâu trưởng thành mắc bệnh sán lá gan do F.gigantica, tỷ lệ nhiễm tới 50 - 70%
Phan Địch Lân (1985) [17] tổng kết tình hình nhiễm sán lá gan ở trâu, bò cho thấy tỷ lệ nhiễm tăng theo lứa tuổi và tăng dần từ miền biển đến miền núi, trung du và đồng bằng; tỷ lệ nhiễm dao động từ 13,7 - 61,3%
Kết quả điều tra của Hồ Thị Thuận, Nguyễn Ngọc Phương (1987) [32] ở các tỉnh miền Nam cho thấy tỷ lệ trâu, bò nhiễm sán lá gan từ 1,4 - 36,2%
Vũ Sĩ Nhàn và cs (1989) [23] cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm sán lá gan trâu,
bò ở miền biển thấp (4,17%), còn ở đồng bằng cao hơn (44,5%)
Phan Địch Lân (1994) [18] đã điều tra 7359 trâu, bò ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam, kết quả thấy: trâu, bò ở vùng đồng bằng nhiễm sán lá gan cao nhất, sau đó đến vùng trung du, ven biển và miền núi (bình quân tỷ lệ nhiễm sán ở các vùng điều tra như sau: vùng đồng bằng từ 19,6% - 61,3%, vùng trung du từ 16,4% - 50,2%, vùng ven biển từ 13,7% - 39,6%, vùng núi từ 14,7% - 44,0%)
Phan Địch Lân (1994) [18] đã tổng hợp và cho biết, nước ta được xếp vào một trong 5 nước ở châu Á trồng lúa nước có đàn trâu, bò nhiễm bệnh sán
lá gan với tỷ lệ cao nhất Kết quả điều tra ở một số vùng cho thấy:
Ở 6 tỉnh thuộc vùng ven biển, tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 36,7%;
Ở 11 tỉnh miền núi, tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò là 39%;
Ở 4 tỉnh trung du, tỷ lệ nhiễm sán lá gan của trâu, bò là 42,2%;
Ở 5 tỉnh thuộc vùng đồng bằng, tỷ lệ nhiễm sán lá gan là 57,5%
Trang 32Vương Đức Chất (1994) [1] cho rằng, mặc dù được nuôi trong điều kiện
vệ sinh tương đối tốt, đàn bò sữa ngoại thành Hà Nội vẫn bị nhiễm sán lá gan với tỷ lệ 34,42%
Đoàn Văn Phúc và cs (1995) [24] thông báo: trâu, bò ở khu vực Hà Nội nhiễm sán lá gan với tỷ lệ 33,9%
Lương Tố Thu, Bùi Khánh Linh (1996) [29] theo dõi tình hình nhiễm sán
lá gan ở một số địa phương vùng đồng bằng sông Hồng, miền núi và trung du Bắc Bộ cho thấy, tỷ lệ nhiễm sán lá gan chung ở trâu, bò là 44,53% Tác giả nhận xét tỷ lệ bò nhiễm sán lá gan là 54,21% nặng hơn trâu là 33,92%
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20] kiểm tra thấy đàn bò sữa ở Ba Vì nhiễm sán là gan tới 46,23%
Nguyễn Trọng Kim, Phạm Ngọc Vĩnh (1997) [15] công bố tỷ lệ nhiễm sán
lá gan ở trâu, bò ở Hà Bắc (cũ) là 49,95%; ở Nghệ An từ 25,27 - 32,65%; tỷ lệ nhiễm sán lá gan chung ở miền Bắc Việt Nam là 43,56%
Lương Tố Thu và cs 2000 [31] cho biết, bò ở khu vực Hà Nội bị nhiễm với tỷ lệ 42,3 - 73,3%, ở trâu là 32,3 - 76,8%
Kết quả nghiên cứu của Lê Hữu Khương và cs (2001) [13] cho thấy, tỷ
lệ nhiễm sán lá gan trung bình trên cả nước ở trâu là 46,23%, dao động từ 8,74 - 61,09%, ở bò là 30,64%, tỷ lệ này tăng dần từ Nam ra Bắc
Đỗ Đức Ngái và cs (2006) [22] thông báo, tỷ lệ nhiễm sán lá gan ở Đắk Lắk từ 34,2 - 62,6%
Phạm Văn Lực, Phạm Ngọc Doanh (2006) [21] và các cán bộ Phòng ký sinh trùng, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã tiến hành điều tra, nghiên cứu hiện trạng các bệnh ký sinh trùng lây truyền giữa người và động vật ở Gia Lai và Đắk Lắk Kết quả điều tra cho thấy, tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở trâu,
bò khá cao (35 - 65%) Kết quả điều tra sán lá gan lớn cho thấy, tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn bình quân ở trâu, bò của nước ta như sau:
Trang 33Nguyễn Hữu Hưng (2009) [9] kiểm tra 981 mẫu phân bò, kết hợp
mổ khám 309 bò tại 4 huyện ở tỉnh Đồng Tháp cho thấy, bò nhiễm sán lá gan với tỷ lệ khá cao (53,31%), tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi, nhiễm thấp nhất ở lứa tuổi dưới 1 năm tuổi (15,31%), cao nhất ở bò trên 2 năm tuổi (63,09%)
Kết quả điều tra trên 800 trâu, bò ở 3 miền (Bắc, Trung và miền Nam Việt Nam) cho thấy, tỷ lệ nhiễm sán lá gan chung qua xét nghiệm phân trung bình là 35,0%, dao động từ 0 - 60%, qua xét nghiệm gan là 10,0 - 50,0%, với cường độ nhiễm từ 1 - 246 cá thể sán/bộ gan mật Tỷ lệ nhiễm sán lá gan giảm dần từ miền Bắc đến Nam: tỷ lệ nhiễm trung bình ở các tỉnh miền Bắc là 50,0%, dao động 36
- 60%; ở miền Trung và Tây Nguyên là 38,7%, dao động 24 - 56%; ở miền Nam
là 7,0%, dao động 0 - 28% (Hoàng Văn Hiền và cs, 2011 [5])
Theo Nguyễn Hữu Hưng (2011) [10], tỷ lệ nhiễm sán lá gan qua kiểm tra phân của đàn bò tại 3 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (Sóc Trăng, Đồng Tháp
và An Giang) là 51,91% Tỷ lệ nhiễm tăng dần theo lứa tuổi bò: bò dưới 1 năm tuổi (30,43%), bò trên 2 năm tuổi (62,81%)
Trang 34* Nghiên cứu về triệu chứng lâm sàng
Phan Địch Lân (1994) [18] đã theo dõi 37 trâu bị bệnh sán lá gan nặng, thấy các triệu chứng thường lặp đi lặp lại như: gầy rạc, suy nhược cơ thể (37/37); phân nhão không thành khuôn, có lúc ỉa lỏng (32/37); niêm mạc mắt nhợt nhạt, thiếu máu kéo dài (27/37); lông xù, da mốc, lông dễ rụng (26/37); phân đen, thối khắm (22/37); mắt sâu, có dử (18/37); bụng ỏng, ỉa chảy kéo dài (13/37); thuỷ thũng ở nách, hai chân trước, gan to (11/37); thuỷ thũng ở ngực, ức liên tục (9/37)
* Nghiên cứu đặc điểm sinh học và vòng đời của sán lá gan
Trong vòng đời của sán Fasciola bắt buộc phải có sự tham gia của ốc
nước ngọt Lymnaea - với vai trò là ký chủ trung gian Ở Việt Nam có ít tài liệu về ốc Lymnaea Duy nhất trong cuốn sách “Định loại động vật không
xương sống nước ngọt Bắc Việt Nam” của Đặng Ngọc Thanh và cs (1980)
[25] có mô tả 2 loài L viridis và L swinhoei ở miền Bắc Việt Nam
Đặc biệt, có rất ít nghiên cứu về sinh thái của 2 loài ốc này Công trình
nghiên cứu của Phan Địch Lân (1985) [17] cho thấy, ốc L viridis phân bố rộng ở tất cả các vùng, ở vùng núi chiếm 75% trong số 2 loài ốc Lymnaea thu
được, còn ở vùng trung du chiếm 66,5%, ven biển chiếm 51,5% và vùng đồng
bằng là 42,0% Trong khi loài L swinhoei phân bố hẹp hơn, tập trung chủ yếu
ở đồng bằng và ven biển, còn ở vùng núi và trung du ít hơn, đặc biệt ở miền núi rất ít, có nhiều nơi không có, vùng đồng bằng chiếm 25%
Cũng theo Phan Địch Lân (1985) [17], trứng ốc có thể nở được quanh năm với tỷ lệ rất cao, từ 89,1 - 100%, chỉ trong một thời gian ngắn trứng đã
nở và phát triển thành thế hệ kế tiếp Trong vụ hè - thu cần 5,5 ngày và vụ đông - xuân là 8,5 ngày Về hình thái, có thể phân biệt những cá thể trưởng thành của 2 loài ốc này, tuy nhiên với những cá thể còn non thì việc phân biệt
Trang 352 loài này không phải dễ dàng Vì vậy, còn có những thông báo khác nhau về vai trò là vật chủ trung gian truyền bệnh sán lá gan của 2 loài ốc này
Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm cho thấy: với nhiệt độ từ 28 - 300C,
trứng F gigantica nở thành Miracidium sau 14 - 16 ngày Gây nhiễm
Miracidium cho ốc sạch thấy thời gian từ Miracidium phát triển thành Sporocyst mất 7 ngày, từ Sporocyst đến Redia con cần 8 - 21 ngày, từ Redia
đến Cercaria non cần 7 - 14 ngày và từ Cercaria non đến già cần 13 - 14 ngày Ở môi trường, Cercaria chui ra khỏi ốc, sau 2 giờ rụng đuôi tạo thành
Adolescaria bám vào cây cỏ thủy sinh hoặc lơ lửng trong nước Khoảng thời
gian cần thiết cho chu trình phát triển của sán lá gan F gigantica ở nước ta là
50 - 73 ngày trong ốc L viridis hoặc L swinhoei
Theo Phan Địch Lân (1985) [17], ở miền Bắc nước ta, cả 2 loài ốc L
viridis và L swinhoei đều đóng vai trò là vật chủ trung gian của sán lá gan
Qua 3 đợt theo dõi tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở 2 loài ốc này thì kết
quả như sau: ốc L viridis nhiễm trung bình khoảng 19,61%, còn L
swinhoei nhiễm trung bình khoảng 20,85%
Vũ Sĩ Nhàn và cs (1989) [23] cho biết ốc L swinhoei ở Đắk Lắk nhiễm
ấu trùng sán lá gan với tỷ lệ là 40,0 - 50,0% Hồ Thị Thuận, Nguyễn Ngọc Phương (1987) [32] cũng công bố cả 2 loài ốc trên ở các tỉnh miền Nam đều
là vật chủ trung gian của sán lá gan, nhưng tỷ lệ nhiễm nhiễm rất thấp (1,1%) Điều tra trong nhiều năm của Nguyễn Thị Kim Thành và cs (1995) [26] ở Cổ Nhuế, Hà Nội cũng cho kết quả tương tự, tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán lá gan ở 2 loài ốc chỉ từ 0,7 - 3,0%
Nguyễn Thị Lê và cs (1995) [19] đã không tìm thấy ấu trùng sán lá gan
trong hơn 1000 ốc Lymnaea thu thập ở tỉnh Hà Tây (cũ)
Nguyễn Trọng Kim, Phạm Ngọc Vĩnh (1997) [15] thông báo rằng, cả
2 loài ốc Lymnaea đều bị nhiễm ấu trùng sán lá gan với tỷ lệ nhiễm rất cao
Trang 3643,1 - 62,1% ở tỉnh Hà Bắc (cũ), tỷ lệ nhiễm trung bình ở các tỉnh miền Bắc
ở ốc L swinhoei là 20,8% và ở ốc L viridis là 19,6%
Kết quả điều tra của Phạm Ngọc Doanh và Nguyễn Thị Lê (2005) [3]
cho thấy, chỉ 0,06% và 1% ốc L viridis ở Đông Anh và Phú Xuyên, Hà Nội
bị nhiễm ấu trùng sán lá gan
Đỗ Đức Ngái và cs (2006) [22] thông báo rằng, tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán
lá gan ở ốc L swinhoei ở Đắk Lắk là 0,45%
Nguyễn Quốc Doanh và Lê Thanh Hòa (2006) [2] đã nghiên cứu về trứng
sán lá gan và cho biết trứng của F gigantica ký sinh ở bò thuộc tỉnh Cao Bằng,
tỉnh Nghệ An có 4 loại khác nhau rõ rệt: loại bầu dục to có độ dài 0,15 - 0,21 mm, chiều rộng 0,07 - 0,11 mm; loại bầu dục bầu có độ dài 0,13 - 0,19 mm, chiều rộng 0,08 - 0,16 mm; loại bầu dục nhỏ có độ dài 0,08 - 0,16 mm, chiều rộng 0,03 - 0,08 mm; loại trứng gần tròn có đường kính từ 0,07 - 0,12 mm (loại này rất ít)
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Loài sán F hepatica đã được Linnaeus mô tả năm 1758, còn loài
F gigantica được Cobbold mô tả năm 1855 và được Kendall phân loại
năm 1965
Tổng kết về bệnh sán lá gan, Kendall (1965) [49] đã kết luận loài F
gigantica phổ biến trên toàn thế giới và ký chủ trung gian của chúng là các
loài ốc không dễ dàng phân biệt về mặt hình thái hoặc sinh thái Tác giả cho
rằng, các loài vật chủ trung gian chính ở Nam, Tây và Đông châu Phi là L
natalensis; ở Ấn Độ, Bangladesh và Pakistan là loài L rufescens Các dòng L auricularia sensu lato đóng vai trò là vật chủ trung gian của F gigantica là ốc
nước ngọt vùng nhiệt đới sống ở nước chảy chậm hoặc tĩnh, trong với nồng
độ oxy cao và thực vật thủy sinh nhiều
Trang 37Một loài ốc khác, loài L ollula là vật chủ trung gian của sán lá F
gigantica ở Nhật Bản (Ueno và cs, 1975 [56]) và Hawaii (Alicata, 1938 [34])
Về vật chủ chính (vật chủ cuối cùng), cả 2 loài F hepatica và F
gigantica đều có chung nhiều loài vật chủ ăn cỏ và ăn tạp (Mas - Coma,
1995 [51])
Mas - Coma và cs (2005) [52] cho biết, sán lá gan lớn (Fasciola spp.) và
ký chủ trung gian của chúng ở các nước nhiệt đới phát triển quanh năm Trâu,
bò bị nhiễm sán gầy yếu, tăng trọng chậm, sản lượng thịt, sữa thấp, rất nhiều buồng gan không sử dụng được do sán làm viêm, xơ cứng
Theo Jorgen Hansen, Brian Perry (1994) [47], nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của ốc là 15 - 260C, khi ở nhiệt độ này chúng đẻ số lượng trứng rất lớn Trứng nở trong vòng 2 tuần và sau 1 tháng ốc trưởng thành Một con ốc trong vòng 10 - 12 tuần có thể sinh sản ra hàng ngàn con ốc, ở dưới
100C, ốc không phát triển và ngừng hoạt động Tuy nhiên, ốc có thể chui vào bùn và sống trong điều kiện bất lợi nhiều tháng
Guralp và cs (1964) [46] cho biết: thời gian cho sự phát triển đến
Miracidium trong trứng F gigantica khác nhau phụ thuộc vào nhiệt độ Khoảng
10 - 11 ngày ở 37 - 38oC, 21 - 24 ngày ở 25oC và 33 ngày ở 17 - 22o
C Grigoryan (1958) [45] cho rằng, nhiệt độ 24 - 26o
C và pH 6,5 - 7 là tốt nhất và ở điều kiện đó 70 - 80% trứng có thể phát triển Tác giả cho rằng, trứng không sống được ở nhiệt độ trên 43 - 44o
C, ở điều kiện khô trứng cũng nhanh chết
Trứng F gigantica không phát triển đồng đều và nở thành Miracidium ở cùng một thời gian, vì vậy ở cùng một điều kiện Miracidium có thể nở trong khoảng
một thời gian tới 14 tuần, tăng cơ hội nhiễm vào ốc (Guralp và cs, 1964 [46]) Tác giả cũng thấy rằng trứng bị kích thích nở khi tiếp xúc ánh sáng mặt trời hoặc
ánh sáng mạnh Khi thoát khỏi trứng Miracidium sống trong nước khoảng 18 -
26 giờ (Asanji, 1988 [35])
Trang 38Mặc dù là động vật thủy sinh, nhưng ốc - vật chủ trung gian của sán lá
gan F gigantica có thể sống qua một giai đoạn khô, vì thế Mahato và cs
(1995) [50] đã cho rằng, sự ngủ hè có thể đóng vai trò quan trọng trong dịch
tễ của bệnh sán lá gan ở Nepal Tác giả đã quan sát thấy ốc L viridis sống ở
bùn khô ít nhất 1 tháng Tuy nhiên, những loài ốc này thường không vùi mình xuống bùn khi nước khô, mà vẫn nằm trên bề mặt Vì vậy, chúng dễ bị khô nhiều hơn và bị vật ăn mồi ăn nhiều hơn so với khi chúng vùi mình trongs đất Tuy nhiên, khi không tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, chúng vẫn sống và đẻ trứng trong một số tuần sau khi môi trường sống của chúng đã bị khô hạn
Sau khi thoát khỏi ốc, Cercaria hóa nang thành Adolescaria Khoảng
2/3 bám vào giá thể trong nước (Ueno và cs, 1975 [56]) Phần còn lại không bám vào giá thể mà trôi nổi trong nước (Dreyfuss G và Rondelaud D., 1994
[41]) Da Costa và cs (1994) [38] thấy, 35% Cercaria thoát khỏi ốc ở đợt thứ
2 trở thành những nang trôi nổi, tỷ lệ giảm ở những đợt tiếp sau
Kích thước của ốc ở thời điểm nhiễm cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ nang trôi nổi trong nước (Vareille và cs, 1994 [57]) Các tác giả thấy 38% số
Adolescaria từ những ốc lớn trở thành nang trôi nổi, trong khi chỉ 18,2% từ ốc
nhỏ thành nang trôi nổi Tỷ lệ nang trôi nổi cao hơn ở F gigantica so với F
hepatica Dreyfuss G và Rondelaud D (1997) [42] cho thấy, những Adolescaria này có thể là nguồn lây nhiễm F gigantica quan trọng hơn so với
F hepatica khi gia súc uống nước từ môi trường
Theo báo cáo gần đây, Adolescaria đã được tìm thấy trong môi trường
nước với tỷ lệ dưới 10% (Vareille Morel và cs, 1994 [57])
Nhiều nhà ký sinh trùng học trên thế giới cho biết, bệnh sán lá gan lớn thường phát triển theo mùa Vào mùa mưa tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở gia súc cao hơn nhiều so với mùa khô (Ripert và cs, 1987) [53] Vì trong vòng truyền
Trang 39bệnh có vai trò của thực vật thủy sinh, nên sự nhiễm bệnh còn phụ thuộc vào mùa phát triển của chúng
Thời gian trứng phát triển ở nhiệt độ khác nhau thì hoàn toàn khác nhau, khoảng 60 ngày ở 12°C đến 10 ngày ở 30°C (Soulsby, 1982 [55]) Tỷ lệ phát triển của trứng phụ thuộc vào nhiệt độ Ở cao nguyên Kenya, nhiệt độ trung
bình từ 10 - 22°C, sự phát triển của trứng F gigantica từ 52 - 109 ngày
(Dinnik J A và Dinnik N N., 1956 [39]), trong khi ở nhiệt độ ổn định 26°C, thời gian phát triển là 17 ngày (Dinnik J A và Dinnik N N., 1963 [40])
Cercaria được thải ra tới 15 đợt (thường 3 hoặc ít hơn) (Dreyfuss và
Rondelaud, 1994 [41]) Sharma và cs (1989) [54] cho biết, ở 25 - 27°C,
Cercaria bắt đầu ra khỏi ốc sau 20 ngày gây nhiễm, nhưng nhiều nhất khoảng
46 - 50 ngày sau khi nhiễm (Asanji, 1988 [35]) Thời gian này sẽ dài hơn khi nhiệt độ giảm đi và có thể kéo dài đến 197 ngày (Dinnik J A và Dinnik N N.,
1963 [40]) Khoảng 80% Cercaria ra khỏi ốc vào buổi tối (Guralp và cs, 1964 [46]; Da Costa và cs, 1994 [38]), mỗi đợt có khoảng 50 - 70 Cercaria (Da Costa và cs, 1994 [38]) Tổng số Cercaria có thể cós trong mỗi ốc thường là
hàng trăm, nhưng có thể khác nhau từ vài trăm đến hàng nghìn Bitakaramire P
K (1968) [36] đã thu được trung bình 653 Adolescaria của F gigantica/ốc L
natalensis được gây nhiễm, nhưng Grigoryan (1958) [45] đã thu được 2.700 Cercaria/ốc, Guralp và cs (1964) [46] thu được 7.179 Cercaria/ốc trong thời
Trang 40Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh sán lá gan (Fasciolosis) ở trâu, bò
- Trứng và ấu trùng sán lá gan Fasciola spp
- Các loài ốc nước ngọt – ký chủ trung gian của sán lá gan Fasciola spp
* Thời gian nghiên cứu
- Từ năm 2011 – 2012
* Địa điểm nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện ở các nông hộ, các trại chăn nuôi trâu, bò gia đình và tập thể với các quy mô khác nhau ở 4 huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên:
Võ Nhai, Đại Từ, Định Hoá, Đồng Hỷ
- Địa điểm xét nghiệm mẫu:
+ Bộ môn Bệnh Động vật và phòng Chẩn đoán bệnh – Khoa Chăn nuôi thú y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
+ Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Hà Nội
+ Viện Công nghệ sinh học, Hà Nội
2.2 Vật liệu nghiên cứu
2.2.1 Mẫu nghiên cứu
- Mẫu phân trâu, bò, mẫu đất (cặn) nền chuồng, mẫu đất ở xung quanh chuồng trâu, bò
- Mẫu đất bề mặt, mẫu nước chỗ trũng trên bãi chăn thả trâu, bò, mẫu
cỏ thuỷ sinh
- Mẫu ốc thu thập từ các ao, ruộng, suối trong khu vực chăn thả trâu, bò