ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM --- HOÀNG THỊ PHƯƠNG THÙY BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÀI HỌC “CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” Ở LỚP 12 THPT THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -
HOÀNG THỊ PHƯƠNG THÙY
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÀI HỌC
“CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” Ở LỚP 12 THPT THEO
HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH
Chuyên ngành: Lí luận và PPDH Văn – Tiếng Việt
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Huy Quát
THÁI NGUYÊN, 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Huy Quát Các số liệu, kết quả nghiên cứu chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào
Tháng 8 năm 2012
Tác giả
Hoàng Thị Phương Thùy
Trang 3TB : Trung bình THPT : Trung học phổ thông
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan ii
Danh mục những từ viết tắt iii
Mục lục iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
1.1 Đổi mới phương pháp dạy học xuất phát từ yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội 1
1.2 Đề tài được lựa chọn từ thực tiễn dạy học bài “Chiếc thuyền ngoài xa” theo yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học 3
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Mục đích nghiên cứu 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
7 Kết cấu của luận văn 7
PHẦN NỘI DUNG 8
Chương 1: TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Tiền đề lý luận 8
1.1.1 Khái niệm về phương pháp dạy học và phương pháp dạy học tích cực 8
1.1.2 Một số đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực 13
1.1.3 Phương pháp tích cực trong dạy học văn 17
1.2 Tiền đề thực tiễn 27
1.2.1 Chương trình Sách giáo khoa ở trường phổ thông đối với việc đổi mới phương pháp dạy học Văn theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh 27
1.2.2 Trình độ, năng lực của giáo viên với việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực 31
1.2.3 Nhiều diễn đàn, hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học được tổ chức, tạo nên phong trào thi đua sôi nổi trong nhà trường 33
Trang 51.2.4 Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” với việc sử dụng các biện pháp
tích cực hóa hotạt động học tập của học sinh 36
Chương 2: THỰC TẾ DẠY HỌC BÀI “CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÀI HỌC NÀY 38
2.1 Khảo sát tình hình dạy và học bài “Chiếc thuyền ngoài xa” của giáo viên và học sinh lớp 12 THPT 38
2.1.1 Khảo sát về tình hình dạy học bài “Chiếc thuyền ngoài xa” của giáo viên 38
2.1.2 Khảo sát tình hình chuẩn bị, khả năng tự học và tính tích cực hoạt động của học sinh đối với học bài “Chiếc thuyền ngoài xa” 47
2.1.3 Nhận xét kết quả khảo sát 50
2.2 Đề xuất một số biện pháp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh vào bài “Chiếc thuyền ngoài xa” ở lớp 12 THPT 58
2.2.1 Chú trọng rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh 58
2.1.2 Tổ chức cho học sinh thảo luận theo hình thức hoạt động nhóm 60
2.2.3 Kết hợp một số phương pháp, biện pháp: gợi mở, nêu vấn đề, giảng bình khi dạy học bài "Chiếc thuyền ngoài xa" 60
2.2.4 Sử dụng phương pháp nghiên cứu, từng bước giúp học sinh làm việc tự lập, tích cực và có khoa học 66
2.2.5 Sử dụng phương tiện nghe nhìn vào dạy học bài “Chiếc thuyền ngoài xa” 67
Chương 3: THIẾT KẾ THỂ NGHIỆM TRUYỆN NGẮN “CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA” 70
3.1 Mục đích thể nghiệm 70
3.2 Nội dung thể nghiệm 70
3.3 Đối tượng thể nghiệm 70
3.4 thiết kế bài học thể nghiệm 70
3.5 Đánh giá thiết kế thể nghiệm “Chiếc thuyền ngoài xa”: 92
KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xã hội loài người trải qua ba nền văn minh lớn, văn minh nông nghiệp
kéo dài hàng vạn năm, văn minh công nghiệp tồn tại khoảng hơn ba thế kỷ và văn minh siêu công nghiệp phát triển mạnh trong mấy thập niên trở lại đây Ở mỗi nền văn minh, giáo dục có sự phát triển tương thích với nền kinh tế - xã hội, PPDH giáo điều tồn tại ở nền văn minh nông nghiệp PPDH cổ truyền xuất hiện ở nền văn minh công nghiệp Đến nền văn minh siêu công nghiệp, PPDH có sự đổi mới và phát triển cao hơn, trong đó PPDH tích cực được đề cao bởi nó có vị trí, vai trò quan trọng trong dạy học và phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội ở thời kỳ này
1.1 Đổi mới phương pháp dạy học xuất phát từ yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội
Bước sang thế kỷ XXI, mọi dân tộc trên thế giới càng có ý thức sâu sắc hơn về sức mạnh của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế-xã hội Thành tựu cũng như thất bại trong cuộc cạnh tranh của các dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa cuối thế kỷ XX, càng giúp cho những người lãnh đạo đất nước thực
sự thức tỉnh và có ý thức hơn về vai trò của giáo dục trong chiến lược phát triển của quốc gia mình
Một cường quốc về kinh tế như Mỹ cũng rất quan tâm đến giáo dục,
trong bản thông điệp 98, vị tổng thống Mỹ nói: “Phải chấn hưng giáo dục,
nếu không sẽ không thể cạnh tranh được với người Nga, người Tàu”
Bước sang nền văn minh siêu công nghiệp, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin và truyền thông, giúp học sinh mở rộng kiến thức và tầm hiểu biết Học sinh có thể tiếp nhận thông tin từ nhiều kênh, nhiều nguồn khác nhau, nguồn thông tin, kiến thức phong phú, đa dạng và người học có
Trang 7thể tiếp nhận được, đã đặt ra cho giáo dục yêu cầu cấp bách là cần phải đổi mới cách dạy và cách học Đổi mới PPDH theo hướng giúp học sinh có thể làm chủ, tự lực chiếm lĩnh tri thức, tích cực, chủ động, sáng tạo, có kỹ năng giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống Đó là những thách thức lớn đối với ngành giáo dục nói chung, với nhà trường và giáo viên nói riêng Đối với nước ta, Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ II, khóa VIII (1996) đã đề ra yêu đổi mới giáo dục – đào tạo,
trong đó có đổi mới PPDH Nghị quyết chỉ rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương
pháp giáo dục, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến
và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh” Ở đây, chúng ta nhận thấy,
không chấp nhận lối “truyền thụ một chiều” mà chú trọng rèn luyện nếp tư
duy sáng tạo của người học
Nghị quyết Trung ương Đảng lần thứ hai cũng chỉ ra những biểu hiện tiêu cực, hạn chế trong giáo dục và hiện nay đang tập trung khắc phục như: hiện tượng dạy thêm, học thêm tràn lan, tốn nhiều thời gian, tiền bạc của học sinh, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách học sinh và quan hệ thầy trò Ngoài ra, hiện tượng tiêu cực trong thi cử dẫn đến chất lượng và hiệu quả giáo dục vẫn còn thấp
Nhìn chung, Giáo dục và Đào tạo của nước ta còn yếu kém và nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp những đòi hỏi lớn, ngày càng cao về nhân lực của công cuộc đổi kinh tế - xã hội Trong giai đoạn hiện nay, nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Dân tộc ta tăng cường giao lưu, hội nhập kinh tế quốc tế thì đổi mới giáo dục có vai trò, nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục phải tạo ra được nguồn
Trang 8lực về con người theo tinh thần “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài” Ngành Giáo dục – Đào tạo có nhiệm vụ tạo ra lớp người
năng động, sáng tạo, có kiến thức, kỹ năng nghiề nghiệp và trình độ chuyên môn sâu rộng Do đó, đổi mới giáo dục, trong đó có đổi mới PPDH theo hướng tích cực chính là để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội
1.2 Đề tài được lựa chọn từ thực tiễn dạy học bài “Chiếc thuyền ngoài xa” theo yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học
Định hướng đổi mới phương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông hiện nay, bước đầu đã theo hướng tích cực song còn cục bộ, thiếu nội dung rõ ràng, cụ thể Một số chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên về đổi mới phương pháp dạy học chưa đáp ứng được những vấn đề thực tiễn trong dạy học bộ
môn: “Chuyên đề chưa giải quyết thấu đáo cơ sở khoa học của phương pháp,
hệ thống phương pháp, nội dung, bản chất của phương pháp, khả năng vận dụng phương pháp vào bài học kinh nghiệm…Tác dụng gỡ bí và sâu rộng của các hoạt động chưa đạt được kết quả mĩ mãn” [11, 9]
Muốn đổi mới phương pháp dạy học văn có chất lượng và hiệu quả lâu dài, cần phải tiến hành đồng bộ, từ mục tiêu đào tạo, chương trình, SGK, đến nội dung, phương pháp, từ nhà quản lý giáo dục đến giáo viên và học sinh Biết kết hợp, đổi mới nghiên cứu lý luận đến vận dụng vào thực tiễn dạy học Văn ở nhà trường phổ thông Bên cạnh đó, đổi mới PPDH Văn cũng cần có thời gian, quá trình thực hiện và đánh giá nghiêm túc
Tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” được Nguyễn Minh Châu sáng tác
sau năm 1975, là truyện ngắn tiêu biểu cho hướng tiếp cận đời sống ở góc độ thế sự, đời tư và giá trị nhân bản đời thường Cái nhìn hiện thực đa diện, đa chiều về cuộc sống con người, với gánh nặng cơm áo của gia đình người phụ
nữ hàng chài, khiến họ chìm ngập trong cảnh đói khổ, túng quẫn Đằng sau
Trang 9câu chuyện này, là niềm tin, sự trân trọng của nhà văn về tình mẫu tử thiêng liêng, cao đẹp, lòng nhân ái, vị tha và đầy bao dung của người phụ nữ Một vẻ đẹp giản dị, rất mực đời thường của người phụ nữ hàng chài nói riêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung
Bài học “Chiếc thuyền ngoài xa” mới được đưa vào giảng dạy ở lớp 12
từ năm học 2007 – 2008, sau khi thay Sách giáo khoa Do tác phẩm mới được đưa vào chương trình nên học sinh còn bỡ ngỡ, khó khăn trong việc đọc, tiếp nhận tác phẩm Giáo viên thì lúng túng trong việc lựa chọn phương pháp dạy học cho phù hợp Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài này để góp thêm một ý kiến mới cho việc giải quyết khó khăn cho giáo viên và học sinh khi thực hiện chương trình mới này
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Như đã nói ở trên, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học phát triển mạnh từ những năm 60,70 của thế
kỷ trước Năm 1973 trên tạp chí giáo dục đăng bài “Dạy văn là một quá trình
rèn luyện toàn diện” của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong đó Thủ tướng
nhấn mạnh dạy Văn mà “cho học sinh học nhiều, yêu cầu học sinh nhớ nhiều
để bắt chước, vì học sinh không phải suy nghĩ gì nhiều, chỉ cần nhớ nhiều rồi lặp lại, góp nhiều trích dẫn lại thành bài văn Học sinh học nhiều, nhớ nhiều
là điều đáng khuyến khích, nhưng quyết không phải đó là điều chủ yếu Điều điều chủ yếu là dạy suy nghĩ, dạy sáng tạo”[8, 67] Dạy văn là dạy phương
pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, dạy văn là dạy cái hay cái đẹp và bao
nhiêu thứ trong đó Dạy văn là để học sinh “phát hiện con người mình”, “dạy
văn là một quá trình rèn luyện toàn diện” Nhiều luận điểm của thủ tướng có
tầm chiến lược, có tính thiết thực cho việc đổi mới phương pháp dạy học văn
Trang 102.2 Từ sau năm 1986, đất nước ta bước sang thời kỳ mới, đối diện với bối cảnh lịch sử này, Đảng và nhà nước ta đã có những chính sách mới cho phát triển kinh tế, trong đó có giáo dục, để kịp thời bắt nhịp với sự phát triển kinh tế toàn cầu mà trong đó giáo dục đóng vai trò quan trọng Đặc biệt, năm
1995 sau khi tổ chức thành công hội thảo “đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng hoạt động hóa người học” thì hàng loạt các bài viết, đầu sách được ra
mắt độc giả như “Tạo ra năng lực tự học sáng tạo của học sinh trung học phổ
thông” (Vũ Quốc Anh), “Một số vấn đề về phương pháp dạy học văn trong nhà trường” ( Nguyễn Huy Quát – Hoàng Hữu Bội), “Phương pháp giáo dục tích cực” (Nguyễn Kỳ), “Dạy học theo hướng phát triển tư duy”, “Phương pháp giáo dục tích cực” (Trần Bá Hoành), “Phương pháp dạy học văn”,
(Phan Trọng Luận), “Phương pháp luận nghiên cứu văn học” (Nguyễn Văn Dân), “Văn học nhà trường nhận diện- đổi mới- tiếp cận” (Phan Trọng Luận), “Văn học nhà trường những điểm nhìn” (Phan Trọng Luận), “Phương
pháp dạy học văn trung học phổ thông, những vấn đề cập nhật” (Nguyễn
Thanh Hùng)…vv Đó là những cuốn sách có nội dung về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh Tuy nhiên, những cuốn sách đó mới chỉ cung cấp cho ta những kiến thức cơ bản về mặt nhận thức lý luận, mà chưa đi sâu nghiên cứu từng bài học cụ thể, nhất là những bài mới đưa vào chương trình Do đó chúng chỉ có tính chất như tài liệu tham khảo, có tính định hướng chung về phương pháp dạy học tích cực
Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” mới đưa vào chương trình lớp 12
THPT Đến nay, cũng có nhiều bài báo, công trình nghiên cứu về tác phẩm
này Ở góc độ phương pháp, có đề tài: “Hướng dẫn học sinh phân tích và
thảo luận các tầng ý nghĩa nhân sinh trong quá trình dạy học truyện ngắn
“Chiếc thuyền ngoài xa” của Hoàng Thị Hồng Minh Đề tài này chủ yếu
nghiên cứu giá trị nhân sinh của truyện ngắn như “Những chiệm nghiệm về
Trang 11chân lý nghệ thuật qua hai phát hiện của nghệ sỹ Phùng”, “Những chiêm nghiệm về chân lý đời sống qua câu chuyện của người đàn bà hàng chài”,
“Mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống” Luận văn đã đề cập đến phương
pháp dạy học, song với PPDH tích cực mới dừng lại ở một phương pháp thảo
luận nhóm Hay Lưu Hồng Dung với “Quan niệm nghệ thuật về hoàn cảnh
trong tập truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu”
Nguyễn Thị Bích với “Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn “Chiếc thuyền
ngoài xa”, Đào Thủy Nguyên với “Nguyễn Minh Châu và truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa”…vv đó là những công trình nghiên cứu mặt nội dung và
nghệ thuật của tác phẩm Việc hướng dẫn học sinh tiếp cận tác phẩm này thông qua một số biện pháp, phương pháp tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh thì chưa đề cập đến một cách chuyên sâu và cụ thể Tiếp thu những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi muốn hướng dẫn học
sinh tiếp cận tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” thông qua một số phương
pháp, biện pháp dạy học tích cực, phù hợp với bài học và yêu cầu của sự đổi mới PPDH
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này chúng tôi mong muốn đề xuất một số phương pháp, biện pháp nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, góp phần
nâng cao chất lượng bài học “Chiếc thuyền ngoài xa” ở lớp 12 THPT
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Hoạt động dạy và học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của giáo
viên và học sinh lớp 12 THPT thuộc địa bàn Thái Nguyên
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp khảo sát, thống kê, điều tra để nêu rõ thực trạng dạy và
học văn bản “Chiếc thuyền ngoài xa” ở lớp 12
Trang 125.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá các số liệu, tài liệu đã nghiên cứu và tìm hiểu
5.3 Phương pháp so sánh, khái quát các kết quả nghiên cứu
5.4 Phương pháp thể nghiệm sư phạm qua việc tiến hành dạy thử bài
học “Chiếc thuyền ngoài xa” ở lớp 12 THPT để rút ra kết luận cần thiết
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Khảo sát thực trạng dạy và học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài
xa” ở lớp 12 THPT
6.2 Nghiên cứu những luận điểm cơ bản về phương pháp tích cực nói chung và phương pháp tích cực trong dạy học Văn nói riêng
6.3 Đề xuất một số biện pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt
động học tập của học sinh đối với bài học “Chiếc thuyền ngoài xa”
6.4 Soạn giáo án theo hướng nghiên cứu của tác giả luận văn vào dạy
thể nghiệm bài học “Chiếc thuyền ngoài xa” ở lớp 12 THPT
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương
Chương I: Những tiền đề lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương II: Khảo sát thực tế dạy học “Chiếc thuyền ngoài xa” và đề
xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng bài học này
Chương III: Thiết kế thể nghiệm
1 Mục đích thể nghiệm
2 Nội dung thể nghiệm
3 Đối tượng thể nghiệm
4 Thiết kế bài học thể nghiệm
Trang 13PHẦN NỘI DUNG Chương 1
TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tiền đề lý luận
Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ thường xuyên đối với mỗi giáo viên bộ môn Để thực hiện tốt điều này, việc trang bị những kiến thức lý luận cơ bản, cập nhật về các phương pháp dạy học, trong đó có phương pháp dạy học tích cực là rất cần thiết
1.1.1 Khái niệm về phương pháp dạy học và phương pháp dạy học tích cực
1.1.1.1 Khái niệm về phương pháp dạy học Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methodos) có nghĩa
là con đường để đạt mục đích nhất định Theo đó, phương pháp dạy học là con đường để đạt mục đích dạy học trong nhà trường
“Phương pháp dạy học là những cách thức, con đường dẫn đến mục tiêu của bài học”[7, 45]
Phương pháp dạy học là một khái niệm phức hợp, có nhiều bình diện, phương diện khác nhau
Phương pháp dạy học là sự thống nhất giữa phương pháp dạy và phương pháp học Quá trình dạy học bao gồm hoạt động dạy và hoạt động học, trong đó hoạt động dạy có vai trò tổ chức, điều khiển của giáo viên; hoạt động học có vai trò tự tổ chức, tự điều chỉnh của học sinh Mỗi hoạt động phải tuân theo một quy trình và gắn bó hữu cơ với nhau, phù hợp với mục đích đề ra Như vậy, phương pháp dạy học là cách thức hoạt động, trình tự phối hợp, tương tác với nhau giữa giáo viên và học sinh nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học
Trang 14Phương pháp dạy học thực hiện thống nhất chức năng đào tạo và giáo dục, các chức năng này thể hiện ở việc nhờ vào vận dụng các phương pháp
mà người học nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo ở các mức độ từ thấp đến cao Phương pháp dạy học đảm bảo cho người học phát triển năng lực tư duy, đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo, khả năng linh hoạt, hình thành các quan điểm về phương pháp luận, niềm tin, các phẩm chất ý chí, động cơ… có tác dụng tốt trong giáo dục học sinh
Xã hội loài người đã trải qua ba nền văn minh, tương ứng với các nền văn minh ấy là những nền giáo dục khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Ở nền văn minh nông nghiệp, do sự phát triển kinh tế - xã hội, khoa học
kỹ thuật chậm phát triển nên kiến thức mà nhân loại tạo ra, được tổng kết lại,
có thể sử dụng hàng trăm năm Nền kinh tế - xã ở nền văn minh nông nghiệp không yêu cầu cao đối với giáo dục vì vậy hình thức dạy học còn thô sơ, phương pháp dạy học giáo điều được thịnh hành Dạy học chủ yếu theo kiểu truyền khẩu, kiến thức hàng nghìn năm ít thay đổi và lượng kiến thức ấy cũng
đủ để người học vận dụng vào đời sống
Ở phương pháp dạy học giáo điều, thầy giáo là người quyết định nội dung giáo dục, nội dung đó đối với người học là chuẩn mực, phải thừa nhận
và không được bàn cãi
Đến nền văn minh công nghiệp, nền kinh tế - xã hội đã thay đổi, khoa học kỹ thuật phát triển với sự ra đời của máy hơi nước, nhiệt điện, các học thuyết tiến hóa…vv Khối lượng tri thức nhân loại tạo ra ngày một nhiều, đòi hỏi giáo dục cũng phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục phát triển thành trường lớp rất quy củ và có quy mô, hệ thống Học sinh có cùng trình độ, lứa tuổi được sắp xếp vào chung lớp học Sách vở, tài
Trang 15liệu dùng cho dạy học được biên soạn ngày càng phong phú, có chất lượng, nội dung chương trình bao gồm cả lý thuyết, thực hành…
Phương pháp dạy học được cải tiến, không chỉ có thông báo, thuyết giảng mà còn có đàm thoại, gợi mở, nêu vấn đề, thảo luận, thực hành, sử dụng trực quan tranh ảnh, hình vẽ…vv Ở thời kỳ này dạy học thông báo vẫn còn thịnh hành, phương pháp này cũng tồn tại trong một thời gian dài, người ta gọi là phương pháp dạy học cổ truyền, người giáo viên khám phá bài học thật sâu sắc, tự mình rung cảm thật sự để rồi truyền thụ tới học sinh sao cho hấp dẫn, để học sinh có thể đồng cảm, ghi nhớ và biết làm theo
Đặc trưng của những phương pháp trên là tính thụ động lệ thuộc của người học Vì vậy, mô hình này có tên gọi là : Mô hình dạy học thụ động lấy việc dạy (người thầy)làm trung tâm
Đến nền văn minh siêu công nghiệp, khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, đặc biệt với sự bùng nổ của công nghệ thông tin làm cho nền kinh tế - xã hội bước vào thời đại mới Chính vì thế, giáo dục cũng phải thay đổi để thích ứng với đà phát triển của xã hội Giáo dục vẫn tiếp thu những thành tựu của phương pháp dạy học cổ truyền nhưng có sự đổi mới cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử, xã hội Từ dạy học thụ động sang chủ động, dạy học không theo lối tiếp nhận thông tin một chiều từ giáo viên Đến thời kỳ này, người thầy phải thay đổi cách dạy, phải hướng dẫn, tổ chức, điều khiển giờ học, người học phải là trung tâm của hoạt động học, luôn tích cực, chủ động, tự giác, sáng tạo trong học tập Tăng cường tự học, dạy học theo hướng tích cực và tích hợp, sử dụng các phương tiện hiện đại trong dạy học
Như vậy, ở mỗi nền văn minh, người ta đều đề ra mục đích Giáo dục – Đào tạo riêng, do đó PPDH cũng phải đổi mới cho phù hợp với mục đích ấy PPGD, PPDH đứng ở vị trí sau mục đích, nội dung dạy học nhưng nó lại tạo nên kết quả của Giáo dục – Đào tạo Vì vậy, nắm vững PPGD, PPDH trong
Trang 16đó có PPDH tích cực là rất quan trọng, cần thiết đối với những người làm công tác giáo dục và đối với từng giáo viên bộ môn
1.1.1.2 Khái niệm tính tích cực và phương pháp dạy học tích cực Luật giáo dục năm 2005 nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực Trong đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực thì đổi mới phương pháp học của học sinh được quan tâm hàng đầu
Để hiểu rõ phương pháp tích cực, tôi xin trình bày một số vấn đề lý luận sau đây
a Tính tích cực Tính tích cực là một phẩm chất của con người trong đời sống xã hội Hình thành và phát triển tính tích cực là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con người năng động, thích ứng với sự đổi mới của nền kinh tế - xã hội Tính tích cực là điều kiện, đồng thời là kết quả của
sự phát triển và đổi mới trong quá trình giáo dục
Tính tích cực học tập là tính tích cực nhận thức, thể hiện ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Tính tích cực nhận thức trong học tập liên quan trước hết với động cơ học tập, động cơ đúng tạo ra hứng thú, hứng thú là tiền đề của tự giác Hứng thú và tự giác là hai yếu tố tạo nên tính tích cực, tính tích cực sản sinh nếp
tư duy độc lập, suy nghĩ độc lập là mầm mống của sáng tạo Tính tích cực biểu hiện ở những dấu hiệu như hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên,
bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu các ý kiến của mình trước các vấn đề, hay nêu thắc mắc đòi hỏi giải thích cặn kẽ, tập trung chú ý vào những vấn đề đang học, hoàn thành các bài tập, không nản trí trước những tình huống khó khăn…vv
Trang 17Tính tích cực thể hiện qua các cấp độ từ thấp đến cao, trước hết là bắt chước làm theo mẫu của thầy của bạn Tiếp đến là tìm tòi, tức là độc lập giải quyết những vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết khác nhau về một vấn
đề Cuối cùng là tìm ra cách giải quyết mới độc đáo, hiệu quả
b Phương pháp dạy học tích cực Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học “Tích cực” trong phương
pháp dạy học tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động chủ động, tíchh cực,
tự lực, sáng tạo của người học
“Phương pháp dạy học tích cực là phương dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào việc phát huy tính tích cực của học sinh, dưới sự dẫn dắt, gợi mở của giáo viên”[7, 21]
Với quan niệm nói trên, muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học nhưng ngược lại thói quen của trò cũng ảnh hưởng đến cách dạy của thầy Chẳng hạn, có trường hợp giáo viên hăng hái áp dụng phương pháp dạy học tích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích ứng, vẫn quen với lối học thụ động Vì vậy, giáo viên phải kiên trì, dùng cách dạy hợp lý, vừa sức, từ thấp đến cao để đem lại cho người học hứng thú, niềm vui trong học tập, phù hợp với đặc tính ưa thích hoạt động của học sinh Muốn đổi mới phương pháp dạy học thành công thì phải có sự hợp tác, sự phối hợp nhịp nhàng giữa hoạt động dạy và hoạt động học
Trong dạy và học tích cực, dưới sự thiết kế, tổ chức, định hướng của giáo viên, người học được tham gia vào quá trình hoạt động học tập từ
Trang 18khâu phát hiện vấn đề, tìm giải pháp cho vấn đề đặt ra, thực hiện các giải pháp và rút ra kết luận
Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực, có nghĩa là hoạt động học tập phải được thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa hoạt động cá nhân
và hoạt động hợp tác, trong mối quan hệ tương tác giữa thầy trò, trò – trò, trong môi trường học tập thân thiện, an toàn
Hoạt động của giáo viên và học sinh trong dạy học tích cực được thể hiện theo sơ đồ sau:
1.1.2 Một số đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
Theo GS Trần Bá Hoành và theo cuốn sách “Dạy và học tích cực – Một
số phương pháp và kỹ thuật dạy học” của dự án Việt – Bỉ thì phương pháp
dạy học tích cực có 5 đặc trưng sau:
Người dạy
Định hướng,hướng dẫn
Tổ chức
Trọng tài, kết luận, Kiểm tra
Trang 19Đặc trưng thứ nhất: Dạy học lấy học sinh làm trung tâm Phương pháp tích cực xem học sinh vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của quá trình dạy học Thông qua hoạt động học tập, mỗi học sinh tự hình thành
và phát triển nhân cách
Chúng ta cũng cần phải hiểu đầy đủ thuật ngữ “lấy học sinh làm trung
tâm” Việc lấy học sinh làm trung tâm không có nghĩa là hạ thấp vai trò của
người thầy Người thầy giữ vai trò tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập
của học sinh Do đó, nên hiểu thuật ngữ trên là “Lấy học sinh làm trung tâm
của quá trình dạy học” hay “Dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm” Nghĩa là, dưới sự hướng dẫn của giáo viên học sinh được chủ động lựa
chọn những vấn đề mà mình quan tâm ham thích, tự lực tiến hành nghiên cứu, giải quyết vấn đề và trình bày kết quả
Muốn học sinh phát triển toàn diện cả về thể chất và trí tuệ, chúng ta cần đưa học sinh vào các hoạt động học tập có ý thức, các hoạt động ấy sẽ kích thích tư duy sáng tạo của các em, đồng thời tạo ra môi trường học tập lý thú với nhiều mối quan hệ đa dạng giữa các học sinh
Tiến hành phương pháp tích cực, giáo viên không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức lý thuyết mà còn dẫn dắt, đưa các em vào những hoạt động cụ thể, để thực hành những kiến thức đã học Các em sẽ có điều kiện phát huy năng lực cá nhân và tập thể, thông qua những hoạt động do giáo viên và nhà
trường tổ chức Chính vì thế, mục đích của học tập là phát triển từ học để biêt đến học để hành và học để làm người
Đặc trưng thứ hai: Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học Ngày nay với sự bùng nổ về công nghệ thông tin, khoa học và công nghệ phát triển với tốc độ siêu tốc thì việc rèn luyện cho học sinh phương pháp tự học là một trong những mục tiêu của giáo dục Giáo viên không chỉ cung cấp những tri thức sẵn có trong sách mà phải biết hướng dẫn học sinh cách tự học,
Trang 20biết tìm ra nội dung kiến thức của bài học như Disterwerg từng viết “Người
thầy giáo tồi chỉ biết truyền dạy chân lý, người thầy giáo giỏi biết cách hướng dẫn học sinh tìm ra chân lý”
Rèn cho học sinh thói quen tự học, biết vận dụng và giải quyết điều đã học vào cuộc sống sẽ giúp các em có lòng say mê học tập và phát huy những thế mạnh của từng người Chính vì thế mà ngày nay yêu cầu đặt ra cho dạy học là biến học tập thụ động sang tự học chủ động
Đặc trưng thứ ba: Dạy học cá thể và dạy học hợp tác Dạy học cá thể và dạy học hợp tác là cách dạy thông qua hoạt động của các nhóm nhỏ, ở đó ý kiến của mỗi cá nhân được điều chỉnh, từ đó người học
sẽ nhận thức được mức độ lĩnh hội tri thức của mình đến đâu Dạy học hợp tác còn có tác dụng gắn kết và phát triển tình bạn, tổ chức kỷ luật và giúp đỡ nhau trong học tập và cuộc sống
Dạy học hợp tác không có nghĩa là phủ nhận cách dạy học cá thể Vì trong dạy học hợp tác, mọi người đều có cơ hội bộc lộ ý kiến của riêng mình về những khía cạnh cụ thể nào đó do nhóm trưởng giao cho Các hoạt động của cá nhân được kết hợp với tập thể để đạt mục tiêu chung của nhiệm vụ đề ra
Đặc trưng thứ tư: Đánh giá và tự đánh giá Trước đây, quan niệm về đánh giá chỉ là việc làm của giáo viên Đó là kiểu đánh giá một chiều có tính độc tôn, thiếu dân chủ và thiếu chính xác Đối với phương pháp dạy học tích cực thì giáo viên phải biết cách giúp đỡ học sinh có được năng lực tự đánh giá, từ đó điều chỉnh việc học tập của bản thân Việc kiểm tra đánh giá có sự chuyển biến về nội dung và hình thức để thúc đẩy sự chuyển biến trong dạy và học Hiện nay, việc kiểm tra đánh giá cũng đỡ phức tạp và khó khăn hơn trước, đó là nhờ sự hỗ trợ của công nghệ thông tin Sự kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò sẽ góp phần kích thích hứng thú học tập của học sinh
Trang 21Từ sự phân tích những đặc trưng trên, chúng ta có thể so sánh đặc trưng của phương pháp dạy học truyền thống với phương pháp dạy học tích cực như sau:
Dạy học truyền thống Dạy học tích cực
Quan
niệm
Học là quá trình tiếp thu và lĩnh hội, qua đó hình thành kiến thức, kỹ năng, tư tưởng, tình cảm
Học là quá trình kiến tạo Học sinh tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khai thác và xử lý thông tin…tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất
Bản chất Thiên về truyền thụ tri thức,
truyền thụ và chứng minh chân lý của giáo viên
Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh, dạy học sinh cách tìm ra chân lý
Mục tiêu Chú trọng cung cấp kỹ
năng, kỹ xảo Học để đối phó với thi cử, sau khi thi xong, những điều đã học thường bị bỏ quên hoặc ít dùng đến
Chú trọng hình thành các năng lực sáng tạo, hợp tác Dạy phương pháp và kỹ thuật lao động khoa học, dạy cách học, học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và tương lai Những điều
đã học cần thiết, bổ ích cho bản thân học sinh và sự phát triển của
-Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của học sinh
Trang 22-Tình huống thực tế, bối cảnh và môi trường địa phương
- Những vấn đề học sinh quan tâm
Phương
pháp
Các phương pháp diễn giảng truyền thụ kiến thức một chiều
Các phương pháp tìm tòi, điều tra giải quyết vấn đề, dạy học hợp tác….vv
Hình thức
tổ chức
Cố định, giới hạn trong 4 bức tường của lớp học, giáo viên đối diện với cả lớp
Cơ động, linh hoạt: học ở lớp, ở phòng thí nghiệm, ơ hiện trường, trong thực tế…vv Học cá nhân, học đôi bạn, học theo nhóm, cả lớp đối diện với giáo viên
1.1.3 Phương pháp tích cực trong dạy học văn
Mỗi một phương pháp dù cổ điển hay hiện đại, đều thể hiện một khía cạnh nào đó của cơ chế dạy học hoặc về vai trò của người thầy Dù các phương pháp được sử dụng đạt hiệu quả như thế nào thì nó vẫn tồn tại một vài khía cạnh mà người dạy và người học chưa khai thác hết Chính vì thế, không có phương pháp nào là lý tưởng, mỗi phương pháp có ưu điểm và hạn chế của nó, do đó người thầy giáo phải lựa chọn những phương pháp dạy học phù hợp với mục tiêu dạy học, phù hợp với đối tượng học sinh mình trực tiếp giảng dạy và phù hợp với các nguồn lực và công cụ dạy học
để dạy học đạt hiệu quả cao nhất
1.1.3.1 Phương pháp tự học
Khái niệm: Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực
trí tuệ (quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp vv…) và có khi cả cơ bắp (khi
Trang 23phải sử dụng công cụ lao động) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động
cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan,
có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học vv…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình [27, 59]
Phương pháp dạy – tự học là phương pháp dạy học tích cực lấy người học làm trung tâm, là tổ hợp hệ thống các thao tác tự học của học trò dưới tác động dạy của thầy, được tiến hành tuần tự, nhằm đạt mục tiêu giáo dục
Dạy học ở nước ta hiện nay, tự học của người học đang là vấn đề được đặc biệt quan tâm Để học suốt đời thì phải có khả năng tự học Khả năng này cần được rèn luyện ngay từ khi còn ngồi trên nghế nhà trường, ở đó học sinh được tập dượt giải quyết những tình huống, vấn đề sẽ gặp trong đời sống xã hội, bằng những hành động của chính mình, qua đó học sinh vừa chiếm lĩnh được kiến thức vừa có thái độ, hành vi ứng sử thích hợp Mỗi môn học trở thành hệ thống tình huống, vấn đề qua các bậc học từ thấp đến cao, qua nhiều lần tự học, tự nghiên cứu, tự xử lý các tình huống, vấn đề của cuộc sống ngay
từ trên ghế nhà trường học sinh sẽ tự lực hình thành và phát triển dần dần cho
bản thân mình nhân cách người lao động “tự chủ, năng động, sáng tạo” vừa
“có năng lực tự học và thói quen tự học suốt đời” vừa “có năng lực đi vào thực tiễn kinh tế - xã hội”[27, 174]
Ví dụ : Bài “Truyền kỳ mạn lục và chuyện người con gái Nam Xương”
của Nguyễn Dữ, giáo viên hướng dẫn học sinh tự học ở nhà trước khi đến lớp theo trình tự:
Phần tiểu dẫn, lưu ý học sinh chú ý đến giai đoạn lịch sử mà Nguyễn Dữ
đã sống, đặc điểm cuộc đời ông
Trang 24Phần tác phẩm: Hướng dẫn học sinh đọc, nắm chắc tên các nhân vật, diễn biến cốt truyện Truyện có nhiều điển tích, đọc kỹ phần chú giải để hiểu đầy đủ ý nghĩa của các câu văn, đoạn văn
Phần trọng tâm của bài học: Hướng dẫn học sinh nghiên cứu, suy nghĩ hệ thống câu hỏi trong SGK, chú ý đến nhân vật Vũ Nương như : nghệ thuật thể hiện nhân vật; nguyên nhân dẫn đến cái chết của Vũ Nương; đoạn kết câu chuyện có ý nghĩa gì?
Ngoài ra, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu bố cục, chủ đề của chuyện Suy nghĩ, đánh giá của học sinh về chuyện này
Tìm hiểu những bài thơ viết về chuyện này và những bài thơ có nội
dung, chủ đề tương tự như chuyện “Người con gái Nam Xương” để so sánh
điểm giống và khác nhau
Muốn học sinh làm tốt phần tự học ở nhà, giáo viên phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá thông qua việc kiểm tra bài cũ và trong giờ học trên lớp Với những nội dung giáo viên hướng dẫn học sinh tự học ở nhà trên, nếu học sinh có ý thức tự học tốt thì chắc chắn giờ học sẽ đạt kết quả cao
Muốn phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học thì cần rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh, coi đây không chỉ là yếu tố nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu quan trọng của dạy học Để đạt được mục tiêu chung của giáo dục thời kỳ đổi mới, các phương pháp tình huống, phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, phương pháp tự nghiên cứu, tái tạo
vv…là các phương pháp cụ thể thuộc hệ thống các phương pháp dạy – học
tích cực, lấy người học làm trung tâm, gọi tắt là hệ thống các phương pháp dạy tự học [27, 174]
1.1.3.2 Phương pháp đọc sáng tạo
Khái niệm: Là phương pháp tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật ngôn từ một
cách sáng tạo, chủ yếu bằng sự cảm thụ trực tiếp tác phẩm Phương pháp đọc
Trang 25sáng tạo bao gồm hệ thống biện pháp, cách thức tổ chức, hướng dẫn giảng dạy của giáo viên và những hình thức hoạt động của học sinh Bản chất của đọc sáng tạo trước hết là đọc lời văn, đọc văn bản ngôn từ của tác phẩm, khi đọc phải chú ý đến từng từ, từng câu, nhịp điệu, âm hưởng… để tạo cảm xúc cho người đọc, người nghe [25, 14]
Theo N I Kuđriasép, với nhà trường Xôviết trước đây, đọc sáng tạo được xem là một trong bốn phương pháp chính trong hệ thống các phương pháp và biện pháp dạy học văn Đọc sáng tạo là quá trình người đọc bằng liên tưởng, hình dung của mình, từng bước thâm nhập bài văn, từ lựa chọn lớp nghĩa thích hợp đến định hình ấn tượng về hình nét, bố cục bức tranh nghệ thuật Đồng thời xác định cảm xúc và giọng điệu của nhà văn để hiểu tác phẩm một cách thấu đáo Muốn xác định giọng điệu của nhà văn, có thể dựa
trên “dấu hiệu hình thức và nguyên tắc tổ chức hình tượng của tác phẩm, có
thể căn cứ vào thể loại, phong cách tác giả…để tìm ra đặc điểm tiết tấu âm thanh, nhịp điệu của ngôn ngữ”[9, 71] Tiết tấu, giai điệu ngừng nghỉ trong
đọc văn xuôi khác tiết tấu, giai điệu ngừng nghỉ trong đọc tác phẩm thơ; ngay trong thơ thì tiết tấu thơ tự do cũng khác tiết tấu thơ luật.vv…
Ví dụ khi đọc bài “Lượm” của Tố Hữu:
Đoạn 1 đọc theo giọng kể (trung bình, chậm); Đoạn 2 và 3 đọc tiết tấu nhanh hơn khi đọc đoạn 1; Đoạn 4 đọc theo giọng đối thoại (tươi vui, thể hiện tính cách hồn nhiên); Hai câu đầu đoạn 5 trở về giọng kể, câu thứ 3
đọc giọng cao hơn và câu cuối “Cháu đi xa dần” đọc chậm và ngừng nghỉ
cách đoạn lâu hơn các đoạn trước; Ba câu đầu đoạn 6 đọc giọng kể, câu thứ
4 đọc giọng trầm và chậm hơn, chuẩn bị tâm thế xúc động; Đoạn 7 gồm hai dòng thơ, mỗi dòng hai chữ, đọc chậm (nhịp 1/1), biểu lộ sự đau xót, cuối đoạn ngừng nghỉ lâu, thể hiện tình cảm lắng đọng; Đoạn 8, 9, 10 đọc giọng
kể, thể hiện sự hồi tưởng, chú ý câu “Đạn bay vèo vèo” ngắt nhịp 2/1/1
Trang 26mạnh và dứt khoát, đến câu “Nhấp nhô trên đồng” đọc chậm lại; Đoạn 11, câu đầu ngắt nhịp 1/1/2 và đọc nhấn mạnh ở chữ “lòe”, câu thứ hai ngắt
nhịp 2/2 đọc chậm, các câu còn lại đọc chậm kết hợp giọng hồi tưởng; Đoạn 12 tiếp tục đọc chậm, giọng bồi hồi miêu tả sự hi sinh anh dũng của
Lượm, ngừng nghỉ lâu hơn các đoạn trước; Đoạn 13 chú ý câu “Lượm ơi,
còn không?” ngắt 2/2 và đọc trầm, tha thiết, cuối câu ngưng nghỉ lâu; Đoạn
14 đọc giọng tươi vui, tái hiện hình ảnh Lượm hồn nhiên nhí nhảnh với ý nghĩa khẳng định Lượm hi sinh nhưng bất tử!
Nội dung của phương pháp đọc sáng tạo được thể hiện ở 3 mức độ là đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm:
Đọc đúng là trả lại hoàn toàn đúng nội dung văn bản Đọc đúng là giải quyết kỹ năng, năng lực ngôn ngữ cho học sinh, không đọc sai văn bản, là quá trình tri giác chính xác văn bản (đúng từ, ngữ, âm điệu, vần điệu, ngữ điệu, nhịp điệu và các dấu câu…) để lột tả đầy đủ nội dung tác phẩm
Đọc hay là bước tiếp theo của đọc đúng, phải trên cơ sở của đọc đúng thì đọc hay mới thành công được Đọc hay là biết kết hợp các hoạt động đọc, biết phát huy ưu thế của chất giọng, khắc phục những hạn chế về âm thanh, thể hiện chính xác âm thanh, trường độ, có sắc thái biểu cảm, cảm xúc phù hợp với giọng điệu của nhà văn, nhà thơ Đọc hay là bước đầu chuyển tiếp từ lĩnh vực ngôn ngữ sang lĩnh vực văn chương, đọc đúng thì đọc ra nghĩa còn đọc hay thì đọc ra ý Khi giảng văn thơ, điều quan trọng là nắm bắt được giọng điệu bài văn, tức là quá trình đọc được hướng vào giọng điệu văn bản Đọc diễn cảm thể hiện mối quan hệ cảm xúc và sự hiểu biết sâu sắc
của cá nhân đối với tác phẩm M.A.Ruwbnhicova (Nga) nói rằng: “Đọc
diễn cảm là hình thức đầu tiên và cơ bản của việc giảng dạy văn học một cách trực quan và cụ thể…; là hình thức trực quan quan trọng hơn bất kỳ một hình thức trực quan bằng thị giác nào” [24, 30] Đọc diễn cảm là một
Trang 27phần của đọc sáng tạo, là biện pháp dạy học đặc thù của môn Văn, chủ yếu
là những tác phẩm văn chương trong nhà trường Đọc diễn cảm không phải
ai cũng đọc được, phải tùy chất giọng, trình độ nhận thức của từng người Đọc diễn cảm giúp người đọc hiểu được tác phẩm và khi hiểu tác phẩm giúp đọc diễn cảm tốt hơn
Phương pháp đọc sáng tạo đòi hỏi người đọc đem vốn sống, kinh nghiệm tri thức của cá nhân vào việc tiếp nhận tác phẩm văn chương một cách chủ động, sáng tạo sau khi đã được tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm Đọc sáng tạo
có thể đọc thầm, đọc to đọc ở bất cứ chỗ nào miễn sao người đọc trực tiếp tri giác và “sống” với văn bản tác phẩm
1.1.3.3 Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề
Khái niệm: Vấn đề là những câu hỏi, hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải
quyết chúng chưa có quy luật sẵn, cũng như tri thức, kỹ năng sẵn có chưa đủ giải quyết mà còn phải vượt qua những rào cản tri thức nhất định[25, 5]
Tình huống có vấn đề xuất hiện khi một cá nhân đứng trước một mục đích muốn đạt tới, nhận biết một nhiệm vụ cần giải quyết nhưng chưa biết bằng cách nào hoặc chưa đủ phương tiện để giải quyết
Dạy học giải quyết vấn đề dựa trên quan điểm của tâm lý học: vấn đề có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy và nhận thức của con người Tư duy chỉ bắt đầu xuất hiện trước tình huống có vấn đề
Đối với tác phẩm văn chương, dạy học giải quyết vấn đề là một quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh, đặc biệt giúp các em vận dụng vào cuộc sống hàng ngày,
từ đó hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh Trong dạy học nêu và giải quyết vấn đề, học sinh được đặt trong một tình huống có vấn đề, thông qua việc giải quyết vấn đề, học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng
Trang 28Theo www.scribd.com/doc/Một số phương pháp dạy học tích cực so với PP-DH truyền thống (2009) thì phương pháp nêu và giải quyết vấn đề trải qua
4 mức độ như sau:
Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên, giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh
Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề, học sinh phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp, học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
Mức 4: Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết, học sinh giải quyết vấn đề,
tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc
Các mức Đặt vấn
đề
Nêu giả thuyết
Lập kế hoạch
Giải quyết vấn đề
Kết luận đánh giá
Trang 291.1.3.4 Phương pháp thảo luận nhóm
Khái niệm: Dạy học theo nhóm là hình thức “xã hội hóa” của dạy học,
trong đó học sinh một lớp được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày
và đánh giá trước lớp[25, 6]
Phương pháp thảo luận nhóm là một trong những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học theo hướng dạy học lấy học sinh làm trung tâm, dạy học thông qua tổ chức các hoạt động nhằm phát huy tính tích cực của học sinh
Theo GS Ts Trần Bá Hoành thì “Thảo luận là một dạng tương tác
nhóm, trong đó các thành viên hợp sức giải quyết một vấn đề đang cùng quan tâm, nhằm đạt tới một sự hiểu biết chung về vấn đề đó Muốn đạt được mục đích, các thành viên trong nhóm phải mạnh dạn nói cho nhau nghe ý kiến của mình, phải nghe lẫn nhau và có ý kiến phản hồi về những điều mình nghe được Phải biết lắng nghe lập luận của người khác, trung thực nói ra điều mình cho là đúng hay sai, sẵn sàng chấp nhận những ý kiến đúng để điều chỉnh quan điểm của mình”.[10, 156 – 157]
Nội dung: Lớp học được chia thành những nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người, tùy mục đích yêu cầu của vấn đề học tập Các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định, được duy trì ổn định hay thay đổi tùy thuộc vào từng phần của tiết học, được giao cùng một nhiệm vụ hay nhiều nhiệm
vụ khác nhau
Nhóm tự bầu nhóm trưởng hay giáo viên chỉ định nếu cần Trong nhóm
có thể phân công mỗi người một phần việc Ở mỗi nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không thể ỷ lại vào một vài người hiểu biết và năng động hơn Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau, tìm hiểu vấn đề nêu
Trang 30ra trong không khí thi đua với nhóm khác Kết quả, thảo luận, làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả lớp Nhóm có thể cử
ra một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm
vụ giao cho nhóm là phức tạp và khá dài
+ Phân công trong nhóm
+ Cá nhân làm việc độc lập, trao đổi, tổ chức thảo luận trong nhóm
+ Cử đại diện hoặc phân công trình bày kết quả làm việc theo nhóm
- Tổng kết trước lớp:
+ Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả
+ Thảo luận chung
+ Giáo viên tổng kết, đặt vấn đề cho bài tiếp theo hoặc vấn đề tiếp theo của bài
Đối với tác phẩm văn chương, dạy học theo nhóm chính là khả năng điều khiển, tổ chức giờ học linh hoạt của giáo viên và cách học của học sinh Qua
đó, học sinh hiểu sâu, hiểu rộng các giá trị nội dung, nghệ thuật, tư tưởng của tác phẩm và tác giả, để vận dụng vào trong cuộc sống, góp phần hình thành và phát triển nhân cách con người
Ví dụ: Khi dạy bài “Vợ nhặt” của Kim Lân, sách Ngữ Văn 12 Giáo viên
có thể đưa ra câu hỏi cho các nhóm thảo luận
Trang 31Câu hỏi: Qua hiện tượng “Nhặt được vợ” của Tràng anh (chị) hiểu gì
về tình cảm và thân phận của người nông dân nghèo trong nạn đói khủng khiếp năm 1945?
Sau khi đưa ra câu hỏi cho các nhóm thảo luận, giáo viên sẽ giới hạn thời gian làm việc và theo dõi, nắm bắt chiều hướng thảo luận Các tình huống có thể xảy ra, chủ động can thiệp đúng lúc, không phải để phê phán đúng sai làm gián đoạn quá trình thảo luận mà để gợi ý thêm hoặc đặt lại vấn đề, tạo điều kiện cho tập thể lớp tranh luận thật hào hứng, hồn nhiên và đúng hướng
Học sinh tự điều khiển thảo luận Hết thời gian thảo luận, các nhóm lần lượt trình bày kết quả làm việc Sau đó giáo viên kết luận về từng phần thảo luận của các nhóm, cuối cùng là kết luận chung cho vấn đề nêu ra Kết luận của giáo viên là bài học cho học sinh song không phải là bài học có sẵn, trích
từ giáo án của giáo viên mà là bài học tổng kết từ những gì cá nhân học sinh
đã tự lực tìm ra và cả lớp đã phát hiện
Căn cứ vào kết luận của giáo viên, ý kiến của cả lớp, học sinh tự điều khiển phần chuẩn bị của mình và bổ sung, sửa chữa những phần quan trọng, cần thiết Giáo viên kiểm tra phần tự điều chỉnh của học sinh trong vở ghi Phương pháp hoạt động nhóm giúp cho các thành viên trong nhóm chia
sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới bằng cách nói ra những điều đang nghĩ Mỗi học sinh có thể nhận ra trình
độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những
gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên
Thành công của bài học phụ thuộc vào sự tham gia nhiệt tình của các thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia Tuy nhiên, phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học,
Trang 32bởi thời gian cố định của tiết học, cho nên giáo viên phải biết cách tổ chức hợp lý thì mới có kết quả cao
Trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của học sinh được phát huy và ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong nhóm
Cần tránh khuynh hướng hình thức và lạm dụng, cho rằng thảo luận nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới phương pháp dạy học và hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới
Để vận dụng, áp dụng các phương pháp dạy học đạt hiệu quả, tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, ngoài việc tuân thủ các quy trình mang tính đặc trưng của phương pháp dạy học, còn đòi hỏi sự linh hoạt, sáng tạo và nghệ thuật sư phạm của giáo viên
1.2 Tiền đề thực tiễn
1.2.1 Chương trình Sách giáo khoa ở trường phổ thông đối với việc đổi mới phương pháp dạy học Văn theo hướng phát huy tính tích cực học tập của học sinh
Năm 2002 chương trình SGK mới được áp dụng đối với bậc THCS, đến năm 2006 thì áp dụng đối với bậc THPT, và đến năm 2008 là hoàn thiện chương trình SGK mới đối với hai cấp học trên
Bộ SGK được biên soạn theo chương trình cải cách lần này cũng nhận được nhiều ý kiến khen, chê khác nhau Song bộ sách đã đáp ứng được yêu thực tế dạy học trong nhà trường hiện nay, đồng thời phù hợp với việc đổi mới phương pháp dạy - học theo hướng tích cực và tích hợp
Nếu bộ Sách giáo khoa trước khi bị thay thế chỉ giới hạn đến văn học trước năm 1975, tức là giới hạn ở văn học cách mạng xã hội chủ nghĩa nên còn nhiều hạn chế, thiếu sót Khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh
tế có nhiều biến động, nhưng văn học chưa bắt nhịp kịp thì sẽ và chưa đáp
Trang 33ứng được với yêu cầu của xã hội Cùng với sự biến đổi của nền kinh tế xã hội thì tư duy và nhận thức của học sinh cũng đã có nhiều thay đổi, trong khi SGK vẫn chỉ tái bản mà không có sửa đổi, sẽ không đáp ứng được công cuộc đổi mới của đất nước
Từ những hạn chế của Sách giáo khoa cũ, bộ Sách giáo khoa theo chương trình cải cách lần này đã có nhiều cải tiến hơn, từ tên gọi đến nội dung kiến thức và hình thức trình bày Nếu như SGK trước có tên gọi là Văn học thì SGK mới này được đặt tên là Ngữ văn, trong đó tích hợp ba phân môn Văn học – Tiếng việt – Tập làm văn Kế thừa những thành tựu mà các phân môn Văn học – Tiếng Việt – Tập làm văn trước đây đạt được, chương trình tiếp tục thực hiện nguyên tắc tích hợp, nguyên tắc thực hành, thích hợp với tâm lý, sinh lý lứa tuổi, lấy học sinh làm làm trung tâm, phát huy vai trò tích cực của học sinh, rèn luyện cho học sinh có thói quen tự học
SGK cũ chỉ giới hạn đến giai đoạn văn học trước 1975 thì SGK mới đã đưa vào chương trình một số tác giả tiêu biểu sau năm 1975 như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp, Hữu Thỉnh,
Thanh Thảo…vv, Một số tác phẩm sau năm 1975, như “Bến quê” được thay cho tác phẩm “Bức tranh” ở lớp 9, tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” được thay cho tác phẩm “Mảnh trăng cuối rừng” ở lớp 12 Do đặc điểm tâm lý của
thanh thiếu niên ngày nay, dễ tiếp nhận và có hứng thú với những tác phẩm hiện đại hơn so với những tác phẩm văn học trung đại cho nên những tác phẩm văn học hiện đại cũng được đưa vào chương trình SGK mới nhiều hơn (ở lớp 11 và 12) Bên cạnh đó, SGK mới còn tiếp thu, vận dụng có chọn lọc các nguyên tắc xây dựng chương trình Ngữ Văn của các nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, trên cơ sở đó mở rộng phạm vi khái niệm văn học, ở
bậc THCS, THPT, đưa thêm văn bản nhật dụng vào chương trình như “Ôn
dịch thuốc lá”, “Trái đất năm 2000”, “Thông điệp nhân ngày thế giới phòng
Trang 34chống AIDS”, để giúp học sinh có cái nhìn toàn diện về cuộc sống hiện tại,
cũng như tạo ra môi trường học tập có sự liên hệ giữa nhà trường – gia đình
và xã hội
Tác phẩm văn học ở sách Văn học được gọi là giảng văn thì ở sách Ngữ Văn có tên gọi là đọc – hiểu văn bản Tên gọi mới này cũng có nhiều ý kiến khác nhau, có người đồng tình ủng hộ như GS Nguyễn Thanh Hùng, Trần Đình Sử, đồng thời cũng khá nhiều ý kiến từ các nhà nghiên cứu, phê bình và
cả giáo viên trực tiếp giảng dạy không tán thành vì họ cho rằng nó không phù hợp với đặc trưng của môn Văn Đại diện cho loại ý kiến không tán thành là
GS Phan Trọng Luận Chính vì thế, bộ SGK THPT do GS Phan Trọng Luận làm tổng chủ biên không dùng chữ đọc - hiểu
Mỗi bộ Sách giáo khoa mới khi đưa vào thực tế giảng dạy không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót như GS Phan Trọng Luận từng nói “
Không có bộ sách giáo khoa nào hoàn hảo 100%” Bởi tác phẩm văn chương
là đa nghĩa, cùng một tác phẩm có rất nhiều cách hiểu, tiếp cận khác nhau, cùng một nội dung lại cũng có nhiều ý kiến đánh giá, nhận định khác nhau
Do đó, sự thiếu sót là không tránh khỏi
Tuy nhiên, bộ SGK mới này cũng là một thành tựu khoa học, đồng thời cũng có sự tiến bộ hơn so với bộ SGK cũ Nó phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội, với nhận thức của học sinh và phù hợp với việc đổi mới phương pháp dạy học, trong đó chú trọng đến phương pháp phát huy tính tích cực của học sinh Yêu cầu đặt ra trong mỗi bài dạy Ngữ văn đã được giải quyết có hệ thống như làm sao tiếp cận và giải mã các tác phẩm văn chương cho thật hiệu quả Hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài cho học sinh có định hướng như câu hỏi về ý nghĩa của chi tiết, biểu tượng, hình tượng trong tác phẩm; câu hỏi liên tưởng, suy luận; câu hỏi khám phá chủ đề, tư tưởng; câu hỏi phân tích, nhận xét, đánh giá, so sánh với nhân vật hay tác phẩm văn học
Trang 35khác Nhìn chung, hệ thống câu hỏi sát với trọng tâm bài học, ít tràn lan, suy diễn tạo ra được động cơ học tập và kích thích tính tích cực của học sinh Người giáo viên dễ xác định kiến thức trọng tâm của bài học Ví dụ: khi dạy
bài “Tây Tiến” của Quang Dũng giáo viên cần hướng dẫn học sinh vào các nội dung chính như : “Nỗi nhớ về cuộc hành quân qua miền Tây Bắc; Nỗi
nhớ về những đêm liên hoan và cuộc vượt dòng nước lũ; Nỗi nhớ về đoàn binh Tây Tiến” [2, 43 - 44]
Điểm tích cực của bộ SGK mới lần này còn là sự kết hợp hài hòa giữa kiến thức với phương pháp, nhân cách học sinh được hình thành theo trình tự: thông tin – kỹ năng – thái độ Nội dung kiến thức đã có sự tinh giản, gãy gọn, chặt chẽ, các hình thức tác động đến học sinh cũng hợp lý hơn, như lời chú thích, ghi nhớ, những luận điểm chính và hệ thống bài tập Những việc làm của học sinh trên lớp, ở nhà hay sự liên hệ với môi trường xã hội cũng được người biên soạn sách đầu tư và sắp xếp hợp lý hơn so với sách cũ
Phải khẳng định rằng, SGK là công cụ dạy và học cho cả giáo viên và học sinh, mỗi giờ học không thể thoát ly SGK Bộ SGK trong lần cải cách này
đã đáp ứng được với nhu cầu và sự phát triển của đất nước ta thời kỳ đổi mới với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, đồng thời phù hợp với sự đổi mới của phương pháp dạy học
Mặc dù bộ SGK lần này đều do các nhà khoa học có tên tuổi biên soạn nhưng khi đi vào thực tế giảng dạy, nó vẫn còn những hạn chế nhất định GS Phan Trọng Luận là người biên soạn bộ sách giáo khoa Ngữ văn bậc THPT
cũng thừa nhận những hạn chế của SGK lần này là “phần học tập của học
sinh, phần hướng dẫn tự học, tự chiếm lĩnh của học sinh nói chung bị xem nhẹ Hệ thống câu hỏi là phần duy nhất được thực hiện nhưng nội dung câu hỏi có khi còn tùy tiện mà cái gốc là do chưa xuất phát từ quan điểm hiện đại
về khoa học sư phạm, về nguyên lý đổi mới phương pháp dạy học trong nhà
Trang 36trường chúng ta ngày nay, câu hỏi tù mù, câu hỏi phi hệ thống, thiếu định hướng” [19, 86] Một trong những hạn chế nữa của SGK phổ thông là ôm
đồm kiến thức, ví dụ theo khảo sát của các nhà khoa học “có những bài viết
về văn học sử lớp 10, 11, 12 mà tác giả vẫn đưa ra hàng 80 – 159 – 161 kiến thức khái quát và 49 – 64 – 208 kiến thức cụ thể” [19, 85 - 86]
Để nâng cao chất lượng SGK, hướng vào hoạt động học tập của học sinh, nội dung kiến thức trong sách phải kết hợp hài hòa giữa tính khoa học và tính sư phạm, phải nâng cao chất lượng, tổ chức học sinh tự chiếm lĩnh tri thức, để SGK trở thành công cụ tự học tập và tự phát triển nhân cách học sinh Đó là mục tiêu của giáo dục - đào tạo, trong đó hạn chế này sẽ được khắc phục ở lần thay SGK sắp tới
1.2.2 Trình độ, năng lực của giáo viên với việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực
Người giáo viên nói chung và giáo viên văn nói riêng có sứ mệnh
truyền bá kiến thức từ thế hệ này sang thế hệ khác, giúp cho xã hội loài người ngày càng phát triển Người giáo viên có nhiệm vụ tổ chức, hướng dẫn cho học sinh tiếp xúc với văn học, giúp các em hiểu biết và nắm vững các tri thức
về ngôn ngữ, văn học để từ đó vận dụng vào cuộc sống Do đó, vai trò của giáo viên rất quan trọng, giáo viên không chỉ dùng lời nói và bằng cả những phương tiện dạy học khác nhau được phối kết hợp linh hoạt trong dạy học, giúp học sinh phát triển toàn diện về trí tuệ và nhân cách
Muốn thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học thì đòi hỏi phải được tiến hành đồng bộ, không chỉ có hệ thống lý luận dạy học, cải cách SGK
mà trình độ, năng lực chuyên môn của người giáo viên – người trực tiếp thực hiện cơ chế đổi mới phương pháp dạy học cũng phải được quan tâm và thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng để thực sự đạt được kết quả mong muốn
Trang 37Việc thay đổi cách giảng dạy của giáo viên đã được quan tâm từ nhiều thập niên mà khởi đầu từ cuộc nói chuyện của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng với giáo viên văn ở Hà Nội, cuối năm 1972 Thủ tướng căn dặn không thể dạy
văn như cũ, “không dạy học sinh múa chữ”, “không dạy theo điệu sáo”, “dạy
văn là để học sinh phát hiện con người mình” Đến đầu năm 1980 Vụ giáo
dục phổ thông cũng soạn thảo bản “Hướng dẫn phát huy tính chủ động và
sáng tạo của học sinh trong dạy và học bộ môn Văn”, trong đó có nhấn mạnh:
“Trong năm học này (1979 – 1980), mỗi giáo viên cần có sự chuyển biến rõ rệt về việc cải tiến nội dung, phương pháp giảng dạy theo yêu cầu phát tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập” Văn bản trên cũng chỉ rõ
nhiệm vụ của người giáo viên khi thực hiện giảng dạy đối với từng phân môn
cụ thể, như đối với giờ văn học sử, giờ giảng văn, giờ tập làm văn
Từ đó đến nay, việc nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho người giáo viên để đáp ứng với nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học vẫn được quan tâm và đầu tư Tuy nhiên, chất lượng giảng dạy của giáo viên vẫn chưa đạt hiệu quả cao, một bộ phận giáo viên vẫn quen với lối dạy học truyền
thống là “đọc – chép” Lối dạy học đó đã tồn tại và ăn sâu trong tâm trí họ,
nên khi đổi mới phương pháp dạy học, những giáo viên này gặp khó khăn không ít Mặc dù các cấp quản lý cũng thường xuyên mở các lớp tập huấn nghiệp vụ theo cơ chế dạy học mới, song kết quả áp dụng và thực hiện là chưa cao, bởi một hạn chế của một số bộ phận của giáo viên vẫn tồn tại một sức ỳ Đối với đội ngũ giáo viên trẻ, lại sa vào cung cấp kiến thức tràn lan, dàn trải,
họ chưa biết lựa chọn kiến thức trọng tâm, hoặc chưa có kinh nghiệm tổ chức giờ học để dẫn dắt học sinh đến những nội dung chính của bài học Họ thường
ôm đồm kiến thức, dẫn đến sự quá tải, cho nên kết quả cũng chưa tốt Ngoài
ra, đa số giáo viên vẫn chưa xem trọng ý kiến của học sinh, những câu trả lời
Trang 38không đúng ý giáo giáo viên vẫn không được chấp nhận, giáo viên gần như độc tôn đánh giá và cho điểm nên dẫn đến giờ học thiếu dân chủ
Trước những thực tế đó, ngành giáo dục và đào tạo đã tìm nhiều biện pháp để cái tiến phương pháp giảng dạy của giáo viên Những cuộc tranh luận trên các báo, tạp chí giáo dục đã diễn ra, những công trình nghiên cứu của các giáo sư, các nhà khoa học về đổi mới cách dạy học của giáo viên đã được công bố để giáo viên vận dụng
Các lớp tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên theo phương pháp dạy học mới, đưa công nghệ thông tin vào trong nhà trường, tổ chức tham quan thực tế cho cả giáo viên và học sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảng dạy của giáo viên và kích thích hứng thú học tập của học sinh Hằng năm tổ chức thao giảng, thi giáo viên dạy giỏi các cấp, các hội thảo khoa học, các sáng kiến kinh nghiệm cũng góp phần nâng cao trình
độ chuyên môn cho giáo viên
Muốn có được một thế hệ học sinh năng động, tích cực, sáng tạo thì trước tiên phải có được đội ngũ giáo viên giỏi về kiến thức, năng động, yêu nghề, yêu học sinh được đào tạo bài bản ngay từ khi ngồi trên nghế giảng đường đại học Do đó, việc đổi mới phương pháp dạy học cũng phải tiến hành trước tiên ở trường sư phạm, để đào tạo những thầy cô giáo tương lai tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học
1.2.3 Nhiều diễn đàn, hội thảo về đổi mới phương pháp dạy học được tổ chức, tạo nên phong trào thi đua sôi nổi trong nhà trường
Môn văn trong nhà trường phổ thông có vị trí quan trọng, nó là một trong những môn học đứng hàng đầu trong hệ thống các môn học hiện nay
Giáo sư Lê Trí Viễn viết “Hai môn Văn và toán là hai môn có vị trí hàng đầu
trong các môn học ở trường phổ thông trong đó Văn được xếp trươc toán”
[30, 1] Trong phân phối chương trình dạy học cũng cho thấy thời lượng và
Trang 39dung lượng kiến thức môn Ngữ Văn cũng chiếm vị trí hàng đầu so với các môn học khác Điều đó càng khẳng định vai trò và tầm quan trọng của môn Ngữ Văn trong nhà trường phổ thông
Mỗi lần diễn ra sự kiện về cải cách giáo dục thì đều có cải cách môn Văn, cả về chương trình SGK, đào tạo đội ngũ giáo viên dạy văn Các hội nghị, hội thảo, diễn đàn đổi mới PPDH Văn trong đó có PPDH tích cực được tiến hành và mở rộng trong cả nước
Năm 1963, nhà thơ Tố Hữu đã nói chuyện với giáo viên Thủ đô về thơ
và giảng dạy thơ trong nhà trường Năm 1973, Thủ tướng Phạm Văn Đồng
có bài “Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện” Bài viết đó như một
bước ngoặt cho sự đổi mới PPDH Những năm 80, Bộ giáo dục đã hướng dẫn, tổ chức giáo viên cải tiến, đổi mới PPDH văn nhất là ở bậc THCS, THPT để tạo phong trào dạy học theo phương pháp tích cực, loại trừ dần, từng bước PPDH thụ động Những năm 90 trở đi là những năm có nhiều diễn dàn, hội nghị, luật giáo dục được sửa đổi và ban hành, đó cũng là những năm diễn ra mạnh mẽ phong trào đổi mới PPDH trong nhà trường (trong đó có PPDH văn)
Năm 2001 trên báo Giáo dục và thời đại có bài “Nhìn lại việc dạy Văn
ở THPT sau mười năm cải cách giáo dục”, và “Tại sao chưa đổi mới phương pháp dạy học Văn ở THPT” Bài báo đã chỉ ra những mặt tích cực trong việc
thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, nhấn mạnh tiêu chí “Lấy học sinh
làm trung tâm”…vv Đồng thời bài báo cũng chỉ ra những hạn chế, yếu kém
trong giảng dạy và việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học Từ đó, có những giải pháp để cải tiến cách dạy - học của cả giáo viên và học sinh
Đặc biệt, mấy năm gần đây trên báo Giáo dục và thời đại, báo Văn nghệ diễn ra cuộc đối thoại về PPDH giữa hai GS Trần Đình Sử và GS Phan Trọng
Luận Trong bài “Con đường đổi mới căn bản phương pháp dạy – học văn”
Trang 40GS Trần Đình Sử nhấn mạnh “Muốn giải quyết đúng vấn đề phương pháp
dạy học văn hiện nay chỉ có con đường là trở về với văn bản văn học [18,
303] Ngược lại, GS Phan Trọng Luận và học trò của mình lại cho rằng “ Đổi
mới phương pháp dạy học văn theo hướng học sinh là bạn đọc sáng tạo là vấn đề cốt lõi của tư tưởng đổi mới trong phong trào dạy học văn hiện nay”[18, 323 ], vì theo họ, trở về với văn bản là quan điểm xưa cũ, “chỉ chú trọng văn bản là điều mà chúng ta đã quen làm lâu nay trong dạy học văn truyền thống” [18, 323] Kết thúc cho diễn đàn tranh luận này, GS Phan
Trọng Luận có Bài “Chủ nghĩa phê bình mới”, “phê bình chủ quan” hay là lý
thuyết chiết trung”?[18, 30] GS chỉ ra “Chủ nghĩa phê bình mới thì tuyệt đối hóa văn bản, phê bình chủ quan và cả lý thuyết đáp ứng lại phủ nhận văn bản
và tuyệt đối hóa chủ quan người đọc”, đồng thời GS cũng nhấn mạnh “Chúng
ta không sa chân vào những sai lầm trên, cần có một phương pháp tiếp cận đồng bộ tác phẩm văn chương trong nhiều mối quan hệ hữu cơ vốn có của nó với sự vận dụng một cách hài hòa các mũi tiếp cận lịch sử phát sinh – cấu trúc văn bản và lịch sử chức năng” [18, 35]
Còn nhiều cuộc tranh luận về đổi mới PPDH như vấn đề “Học sinh là
trung tâm hay dạy học hướng trọng tâm vào học sinh” Cuộc tranh luận về
đọc – hiểu, đến nay vẫn chưa có hồi kết Những cuộc tranh luận nói trên đều liên quan đến việc đổi mới phương pháp dạy học văn, mỗi bên đối thoại đều
có những quan điểm, nhận định riêng và luôn bảo vệ quan điểm của mình Xét cho cùng, quan điểm nào đúng thì phải qua thực tế kiểm nghiệm, cũng như qua kết quả dạy và học trong nhà trường Phương pháp nào đạt hiệu quả cao, tạo ra được thế hệ học sinh đáp ứng được mục tiêu của giáo dục, của sự phát triển kinh tế, xã hội thì nó sẽ chứng minh được tính đúng đắn, khoa học
và chuẩn xác của phương pháp dạy học mới