PHẠM THÁI LINH NGỌC BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC CÁC BÀI CA DAO TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỚP 10 THPT Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Văn Mã số: 60.14.10 LUẬN VĂN THẠC S
Trang 1PHẠM THÁI LINH NGỌC
BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC CÁC BÀI
CA DAO TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỚP 10 THPT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thái Nguyên – 2012
Trang 2PHẠM THÁI LINH NGỌC
BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC CÁC BÀI
CA DAO TRONG CHƯƠNG TRÌNH LỚP 10 THPT
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học Văn
Mã số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HUY QUÁT
Thái Nguyên – 2012
Trang 3Trang
MỤC LỤC 0
LỜI CAM ĐOAN iv
LỜI CẢM ƠN v
DANH MỤC VIẾT TẮT vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích của đề tài 5
4 Đối tượng và phạm vi đề tài 6
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
6 Phương pháp nghiên cứu 6
7 Cấu trúc luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Tự học và các vấn đề về phương pháp tự học 8
1.1.1 Khái niệm tự học 8
1.1.2 Vị trí, vai trò của tự học 9
1.1.3 Phương pháp tự học có tác dụng bồi dưỡng năng lực tự học, kỹ năng tự học của người học 12
1.1.4 Điều kiện và cách thức để tự học có hiệu quả 14
1.1.4.1 Điều kiện tự học 14
1.1.4.2 Cách thức thực hiện 16
1.2 Những cơ sở lý luận của việc hướng dẫn học sinh tự học các bài ca dao 20
1.2.1 Dạy học ca dao theo hướng tiếp cận từ đặc trưng thể loại 20
Trang 41.2.1.2 Phân loại ca dao 21
1.2.1.3 Vài nét về ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa và Ca dao hài hước 23
1.3 Những cơ sở thực tiễn của việc hướng dẫn học sinh tự học các bài ca dao 28
1.3.1 Thực trạng việc tự học ở nhà trường phổ thông hiện nay 28
1.3.2 Thực trạng học văn của học sinh phổ thông 32
1.4 Kết luận 35
Chương 2: KHẢO SÁT THỰC TẾ DẠY HỌC TỰ HỌC CÁC BÀI CA DAO LỚP 10 Ở MỘT SỐ TRƯỜNG PHỔ THÔNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỰ HỌC 37
2.1 Phần văn học và các bài ca dao trong Ngữ văn 10 THPT 37
2.1.1 Phần văn học trong SGK Ngữ văn 10 THPT .37
2.1.2 Các bài ca dao trong Ngữ văn 10 THPT 37
2.2 Khảo sát tình hình dạy học các bài học ca dao trong chương trình Ngữ văn 10 THPT 38
2.2.1 Mục đích khảo sát 38
2.2.2 Đối tượng khảo sát 38
2.2.3 Địa bàn khảo sát 39
2.2.4 Nội dung khảo sát 39
2.2.4.1.Về giờ dạy – học các bài ca dao trên lớp 39
2.2.4.2 Khảo sát tình hình tự học phần các bài ca dao trong chương trình lớp 10 của học sinh THPT 47
2.2.4.3 Khảo sát tình hình hướng dẫn học sinh tự học các bài ca dao trong chương trình lớp 10 của giáo viên THPT .53
2.2.4.4 Khảo sát giáo án bài “Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa” và bài “Ca dao hài hước” của giáo viên THPT .54
Trang 5ca dao 72
2.3.1 Tự học trước khi lên lớp 73
2.3.2 Tự học khi lên lớp 75
2.3.2.1 Hoạt động tri giác ngôn ngữ 75
2.3.2.2 Hoạt động tái tạo hình tượng 76
2.3.2.3 Hoạt động phân tích khái quát 77
2.3.2.4 Hoạt động bình giá 77
2.3.2.5 Hoạt động tự nhận thức và ứng dụng 79
2.3.3 Tự học sau khi lên lớp 80
Chương 3: THIẾT KẾ THỂ NGHIỆM 82
3.1 Mục đích thể nghiệm 82
3.2 Nội dung thể nghiệm 82
3.3 Đối tượng thể nghiệm 83
3.4 Thiết kế bài học 83
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 6Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ “ Biện pháp hướng dẫn học sinh
tự học các bài ca dao trong chương trình lớp 10 THPT” là công trình
nghiên cứu của cá nhân tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng ở bất kỳ tài liệu hay công trình khoa học nào
Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian và địa điểm công bố
Mọi sao chép hoặc vi phạm quy chế, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2012
Tác giả luận văn
Phạm Thái Linh Ngọc
Trang 7Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS.Nguyễn
Huy Quát, người hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm
luận văn
Tôi xin cảm ơn các thầy cô trong Khoa Sau đại học, Khoa Ngữ văn trường ĐHSP Thái nguyên đã giúp đỡ, đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới BGH và các đồng nghiệp của tôi ở trường THPT Lương Ngọc Quyến, THPT Phú Bình, THPT Dương Tự Minh, THPT Gang Thép đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2012
Tác giả luận văn
Phạm Thái Linh Ngọc
Trang 8THPT : Trung học phổ thông
SGK : Sách giáo khoa VHDG : Văn học dân gian
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Hiện nay, để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường, vấn đề
đổi mới chương trình sách giáo khoa và phương pháp học đang rất được coi trọng
Trong cuốn SGK Ngữ văn 10, tập 1 (Sách cơ bản), Nxb Giáo dục,
2010, phần Văn học dân gian đã có nhiều sự thay đổi so với chương trình
SGK chỉnh lý hợp nhất năm 2000 Từ hai chùm bài Những câu hát than thân; Những câu hát tình nghĩa (sách cũ) thành chùm Ca dao than thân yêu thương tình nghĩa và có thêm Ca dao hài hước (sách mới) Sự thay đổi này đã làm
phong phú thêm lượng tri thức về ca dao cho học sinh
Trong thực tế, các giờ giảng về Văn học dân gian nói chung và các bài ca dao nói riêng mà tôi đã được dự của các đồng nghiệp, không phải giờ học nào cũng phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, chưa tạo được điều kiện để học sinh tự khám phá, tìm tòi tri thức Học sinh phần lớn học văn theo lối “ học vẹt”, không cảm nhận được cái hay, cái đẹp của văn chương Đổi mới phương pháp dạy học văn đặt ra yêu cầu làm thế nào tạo được hứng thú học văn cho học sinh, giúp các em từ bỏ được thói quen học thụ động ? Làm thế nào để giúp học sinh xây dựng được ý thức tự học, phát huy tính chủ động trong giờ học? Những yêu cầu này đòi hỏi người giáo viên văn học phải nỗ lực hết mình
Tự học được coi là một trong những vấn đề cốt lõi của đào tạo con người chủ động, sáng tạo, tích cực; là phương pháp tự mình tìm kiếm kiến thức, tự mình độc lập suy nghĩ, khác với lối học kinh viện, thụ động, nghe truyền đạt một cách đơn thuần, là tự tiếp thu nguồn kiến thức văn hóa do việc học mang lại Do vậy nó có vai trò rất quan trọng trong hoạt động dạy học nói chung và dạy học văn nói riêng, vì chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng
Trang 10cao chỉ khi nào tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục
1.2 Ca dao được coi là phần tinh tuý nhất của Văn học dân gian Nói đến ca
dao là nói đến những bài ca thường ngắn, đa dạng, phong phú về giọng điệu
và nội dung “Dưới hình thức truyền miệng, ca dao vẫn giữ được chủ đề tư tưởng và tính chất mộc mạc, không bao giờ cầu kỳ”( Vũ Ngọc Phan) Bởi
thế, ca dao thường rất dễ hiểu Tuy nhiên, dạy và học ca dao lại không hề dễ, những giờ giảng trên lớp nhiều khi thời gian hạn hẹp, nhiều giáo viên lại không nắm vững được đặc trưng thể loại nên thường diễn nôm văn bản, chưa định hướng được cho các em tự tìm hiểu để thấy được nét đặc sắc riêng của từng bài, thấy được cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ, hình ảnh trong các bài ca dao.Từ đó dẫn đến tình trạng học sinh thụ động, lười suy nghĩ Những bài ca dao vì thế cũng trở nên nhạt nhẽo với các em, đánh mất đi vẻ đẹp vốn
có của nó
Vì tất cả những lý do trên, người viết mạnh dạn chọn đề tài “ Biện pháp hướng dẫn học sinh tự học các bài ca dao trong chương trình lớp 10 THPT” với mong muốn được đóng góp giải quyết những khó khăn cho việc
dạy học ngữ văn hiện nay
2 Lịch sử vấn đề
2.1.Về vấn đề tự học
Tự học không phải là một vấn đề mới mẻ Các nhà nghiên cứu ở cả trong nước và nước ngoài đều đã đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu, các bài viết…
Ở trong nước có thể kể đến GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn với cuốn “ Luận bàn và kinh nghiệm tự học” đã khẳng định khả năng tự học là một tài nguyên
quý giá của một dân tộc, của một đất nước, của loài người Phải tiếp tục đấu tranh chống việc học thụ động, ỷ lại, khơi dậy mạnh mẽ khả năng tự học
Trang 11PGS.TS Nguyễn Huy Quát với bài “ Câu hỏi hướng dẫn học bài ở SGK Văn phổ thông với việc tự học của Học sinh” Bài viết đã khẳng định hoạt động
tự học có tác dụng tốt đối với nhận thức của người học, vì nó đòi hỏi sự nỗ lực
cá nhân cao trong hoàn cảnh không có sự giúp đỡ trực tiếp của giáo viên
Nguyễn Kỳ trên diễn đàn giáo dục cũng đã nêu rõ “ Tự học là nội lực ở người học cho nên xã hội hoá giáo dục cốt lõi là xã hội hóa tự học…Như vậy trong giáo dục không thể thiếu hoạt động tự học đối với tất
cả các chủ thể giáo dục”
Trên thế giới, bàn về vấn đề tự học, có thể kể đến các tác giẩ tiêu biểu như N.A.Rubakhin với quan điểm “Mục đích chung của công tác tự học là làm cho mình trở thành người có học thức”; hay như C.Đ.Usinxkin (1824-1870) cũng đã
đánh giá cao năng lực tự học, tự tìm tòi, sáng tạo “ cần giáo dục cho học sinh biết định hướng trong môi trường xung quanh, biết hành động một cách sáng tạo, biết tự mình nâng cao vốn học vấn và tự phát triển bản thân”
Tất cả các bài viết trên đều đã đánh giá cao và nhận thức đúng đắn được vai trò của tự học, dù ở thời đại nào cũng đều cần thiết để đảm bảo hiệu quả của việc học, giúp người học có thể chủ động lĩnh hội được tri thức, giúp việc dạy học đạt kết quả cao nhất
Giáo dục quan tâm đến tự học từ lâu Song ở thời đại siêu công nghiệp hiện nay, vấn đề “tự học” có ý nghĩa sống còn của tất cả mọi người, kể cả những học sinh, sinh viên sau khi ra trường Bởi vì nếu không tự học và không có phương pháp tự học tốt sẽ lạc hậu về nhiều mặt và khó có thể đảm đương được công việc nghiên cứu, kinh doanh trong cương vị công tác của mỗi người
2.2 Vấn đề nghiên cứu ca dao dưới góc độ văn học
Những công trình nghiên cứu về ca dao dưới góc độ văn học rất đa dạng và phong phú Chúng tôi xin đưa ra một số công trình tiêu biểu như:
Trang 12- Trong Cuốn “Văn học dân gian” ( Đinh Gia Khánh chủ biên) có nói
đến vấn đề phân loại ca dao, dân ca và những truyền thống nghệ thuật của ca dao dân ca Việt Nam
- Bài “ Hãy giữ gìn bản sắc dân tộc của tục ngữ - ca dao” của Đỗ
Quang Lưu nói đến thực trạng tục ngữ, ca dao bị biến dạng đi một cách tuỳ tiện do người sử dụng thiếu hiểu biết hoặc do chủ định thiếu cân nhắc
- Trong cuốn “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” của Vũ Ngọc Phan
(Nxb Văn hóa Sài Gòn), tác giả cũng đã đưa ra khái niệm về ca dao, tìm hiểu
về nội dung và hình thức nghệ thuật của ca dao
- Bài “Công thức truyền thống và đặc trưng cấu trúc của ca dao – dân
ca trữ tình” của Bùi Mạnh Nhị trong cuốn “ Văn học dân gian - những công
trình nghiên cứu” nhấn mạnh đến tầm quan trọng của công thức truyền thống
của ca dao “nó phản ánh quy tắc, quy luật của sáng tác dân gian và đặc trưng
mĩ học folklore”
2.3 Vấn đề nghiên cứu dạy học ca dao
Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc làm cho học sinh tìm thấy sự hứng thú, khơi dậy khả năng tìm tòi, sáng tạo, hình thành và phát triển nhân cách văn hoá cho học sinh như nhiệm vụ của môn Ngữ văn đã
đề ra Do vậy các nhà nghiên cứu rất quan tâm nghiên cứu vấn đề này:
Tác giả Hoàng Tiến Tựu trong cuốn “Mấy vấn đề phương pháp giảng dạy – nghiên cứu Văn học dân gian” ( NXB Giáo dục, 1997) có đề cập đến
tình hình nghiên cứu và giảng dạy Văn học dân gian, đồng thời ông cũng đưa
ra phương pháp giảng dạy cho từng thể loại cụ thể, trong đó có ca dao Ông cho rằng dạy học ca dao là một quá trình lĩnh hội và phân tích, những khâu, những bước quan trọng có thể tóm tắt dưới dạng các câu hỏi Tuy nhiên người giáo viên cũng cần có sự linh hoạt trong việc sắp xếp các khâu đó
Trang 13PGS.TS Nguyễn Huy Quát trong chuyên đề “Một số vấn đề đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy Văn học dân gian ở trường Trung học phổ thông” đã đưa ra phương pháp dạy học cụ thể cho 8 thể loại Văn học dân gian
đựơc đưa vào giảng dạy trong nhà trường, bao gồm: sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao-dân ca, truyện cười, tục ngữ, truyện thơ, thần thoại.Tác giả nêu lên định hướng khai thác nội dung của từng thể loại trên cơ sở đặc trưng thi pháp của từng thể loại đó
Bài “Giảng dạy Văn học dân gian theo loại thể” của TS Nguyễn Xuân
Lạc trong cuốn Phương pháp dạy học văn (Tập 1) cũng đưa ra phương pháp dạy học cụ thể trong dạy ca dao Theo ông, tổ chức dạy học một bài ca dao cần vận dụng linh hoạt 4 bước, tìm ra trung tâm sáng tạo để “giải mã” được bài ca dao
…
Như vậy có thể thấy Văn học dân gian là bộ phận quan trọng của Văn học Việt Nam Những công trình nghiên cứu, bài viết, tài liệu về Văn học dân gian rất nhiều và đều được đầu tư kỹ lưỡng, nhìn nhận ở nhiều chiều, nhiều góc độ khác nhau Đó là những tài liệu bổ ích giúp chúng tôi về mặt phương pháp và phương pháp luận khi tiến hành nghiên cứu đề tài này.Tuy nhiên,các bài viết trên chưa chuyên sâu về vấn đề tự học các bài ca dao hài hước và ca dao than thân yêu thương tình nghĩa đang đựoc đưa vào giảng dạy hiện nay
Do vậy, tác giả luận văn sẽ đề xuất một số biện pháp cụ thể để phát huy năng lực tự học của học sinh, nhằm góp phần khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong dạy học các bài ca dao ở trường phổ thông hiện nay
3 Mục đích của đề tài
Chúng tôi lựa chọn đề tài này nhằm mục đích đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng tự học các bài ca dao ở lớp 10 THPT theo xu thế đổi mới phương pháp dạy học văn hiện nay
Trang 144 Đối tượng và phạm vi đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Là học sinh lớp 10 THPT với việc tự học các bài ca dao trong chương trình SGK Ngữ văn hiện hành
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu các biện pháp hướng dẫn học sinh
tự học các bài ca dao ở lớp 10 THPT Lưu ý mối liên hệ với các phân môn khác như Tiếng Việt, Tập làm văn theo nguyên tắc tích hợp
Đề tài nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng tự học các bài
ca dao của học sinh THPT ở một số trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu hệ thống lý thuyết có liên quan đến đề tài để làm cơ sở lý luận
5.2 Nghiên cứu vấn đề đổi mới phương pháp dạy học các bài ca dao theo hướng tự học
5.3 Khảo sát thực trạng dạy, học các bài ca dao ở chương trình lớp 10 THPT làm căn cứ để đề ra các biện pháp nâng cao chất lượng tự học của học sinh như phần Mục đích của đề tài đã nêu
5.4 Soạn giáo án thể nghiệm
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp tổng hợp, hệ thống hoá các công trình nghiên cứu, các tài liệu có liên quan
Trang 157 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương II: Khảo sát thực tế dạy học tự học các bài ca dao lớp 10 ở một
số trường phổ thông và đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng tự học
Chương III: Thiết kế thể nghiệm
Trang 16có những cách diễn đạt, thể hiện khác nhau (đã trình bày ở phần lịch sử vấn
đề của luận văn), song đều có một sự thống nhất tương đối rõ ràng về nội hàm của khái niệm
Nhà tâm lý học N.A.Rubakhin cho rằng: tự tìm thấy kiến thức có nghĩa
là tự học Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử trong hoạt động của cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ, cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người trở thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo của chủ thể
Tác giả Nguyễn Kỳ quan niệm: “Tự học là người học tích cực, chủ động, tự mình tìm ra tri thức, kinh nghiêm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu,
xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp… Tự học thuộc quá trình cá nhân hoá việc học”
GS Trần Phương cho rằng: “Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích luỹ từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, cấa tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kỹ năng thực hành những tri thức ấy”
Trang 17GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn định nghĩa: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp, cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan và thế giới quan
để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”[18]
Các khái niệm trên đều chỉ ra rằng tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người trong quá trình học hỏi thường xuyên trong cuộc đời mình Người học phải tự thân tiếp thu, khám phá tri thức từ nhiều nguồn,
tự thân rèn luyện các kỹ năng và tính độc lập trong học tập mọi lúc, mọi nơi
Có thể đi đến định nghĩa về tự hoạc như sau: “Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào
đó trong cuộc sống bằng hành động của mình nhằm đạt được một mục đích nhất định.”
1.1.2 Vị trí, vai trò của tự học
Trong quá trình dạy học nói chung, giáo viên luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, không thể thiếu, đó là sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh Nhưng thực tế cho rằng, giáo viên dù có trình
độ và kiến thức uyên thâm đến đâu, phương pháp giảng dạy hay đến mấy nhưng học sinh không chịu đầu tư thời gian, không có sự lao động của cá nhân, không có khao khát tìm hiểu, khám phá tri thức, không say mê học tập, không có kế hoạch và phương pháp học tập hợp lý,… thì việc học tập không thể đạt kết quả tốt Vì vậy có thể khẳng định vai trò của hoạt động tự học là rất quan trọng trong quá trình học tập của người học Tự học là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập
Khi bàn về vai trò của tự học, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng
định: “Tự học, tự đào tạo là con đường phát triến suốt cuộc đời của mỗi con người, trong điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau, đó
Trang 18cũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Quy
mô giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học” [13]
Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học
Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy
tự học Trong quá trình dạy học, giáo viên không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức có sẵn, chỉ cần yêu cầu người học ghi nhớ, mà quan trọng hơn là phải định hướng tổ chức cho họ tự khám phá ra những quy luật, thuộc tính mới của các vấn đề tri thức Người dạy giúp người học không chỉ nắm bắt tri thức mà còn biết cách tìm đến những tri thức ấy Thực tiễn cũng như lý luận dạy học hiện đại đã chứng minh rằng: càng học lên cao thì tự học càng
được coi trọng, nói tới phương pháp tự học thì cốt lõi chính là dạy tự học.“ Muốn phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người học thì cẩn rèn luyện phương pháp tự học cho người học, coi đây không chỉ là một phương tiện nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu quan trọng của dạy học” [22]
GS.Trần Bá Hoành cũng nhấn mạnh điều này trong bài viết của mình
“ Trong một xã hội hiện đại đang phát triển nhanh với sự bùng nổ thông tin, khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão thì việc dạy học không chỉ giới hạn ở dạy kiến thức mà phải chuyển sáng dạy phương pháp tự học”[26]
Vì vậy muốn nắm chắc kiến thức, hiểu kỹ, nhớ lâu để thực hành có kết quả thì người học cần lấy tự học làm cốt
Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực
cho quá trình học tập
Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân trong cuộc sống, học tập và công tác là tính tích cực, sự chủ động, sáng tạo trong mọi
Trang 19hoàn cảnh Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là hình thành phẩm chất đó cho người học Có thể xem tính tích cực (hình thành từ năng lực
tự học) như một điều kiện phát triển nhân cách của thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại Hoạt động tự học là biểu hiện của sự gắng sức cao về mọi mặt của từng
cá nhân người học trong quá trình nhận thức Có hứng thú, người học mới có được sự tự giác, say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác
Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời
Học tập để khẳng định năng lực, phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường tự học, mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham
học, nhờ đó kết quả học tập càng được nâng cao
Xin đưa ra một ví dụ điển hình về GS Nguyễn Cảnh Toàn “Tôi sinh ra
và lớn lên trong chiến tranh, việc học hành luôn bị dở dang, đứt đoạn vì thế
tự học là điều hết sức cần thiết để tôi bù đắp những thiếu hụt của mình Trong học tập, nếu thiếu chủ động, thày ra bài nào làm bài ấy, sách có thế nào học thế ấy, hiệu quả sẽ không cao Có người bảo tôi, anh đừng chủ quan, tưởng mình tự học thành công thì ai cũng có thể tự học thành công Theo tôi mọi người đều có khả năng tự học nhiều hay ít, trừ khi bị những khuyết tật tâm thần Biết vun vén thì khả năng đó sẽ phát triển” [28]
Với những lý do nêu trên, nếu người học xây dựng được phương pháp
tự học, phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo thì nhất định
sẽ khơi dậy được tối đa năng lực tiềm tàng sẵn có ở mình
Trang 201.1.3 Phương pháp tự học có tác dụng bồi dưỡng năng lực tự học, kỹ năng tự học của người học
Học là quá trình thu nhận kiến thức, luyện tập kỹ năng do người khác truyền lại Mỗi người có một cách học riêng, nhưng cách học hiệu quả nhất là
sự tự học Chỉ có tự học mới giúp chúng ta tiếp thu kiến thức một cách chủ động, biết cách áp dụng kiến thức đó vào thực tế Có thể tự học qua sách báo, qua nghe giảng, qua các bài tập, qua học thuộc lòng, qua thực tế… Trong tự học, bước đầu thường có nhiều lúng túng, nhưng chính những lúng túng đó lại
là động lực thúc đẩy người học suy nghĩ, tìm tòi, phát hiện vấn đề để có câu trả lời thoả đáng Do vậy tự học là sự thể hiện đầy đủ nhất vai trò chủ thể người học trong quá trình nhận thức Trong quá trình đó, người học hoàn toàn chủ động và độc lập, tự lực tìm tòi, khám phá để lĩnh hội tri thức dưới sự chỉ đạo, điều khiển của giáo viên, phương pháp tự học sẽ trở thành vấn đề cơ bản trong phương pháp học tập
Để tạo ra tri thức bền vững cho mỗi con người thì tự học được coi là chìa khoá vàng, là con đường tự khẳng định, con đường sống, con đường thành đạt cho mỗi ai muốn vươn lên đỉnh cao trí tuệ của thời đại ngày nay Bản chất của quá trình dạy học cũng thay đổi, không còn là quá trình đơn phương, một chiều, mà là một quá trình tổng hợp nhiều quá trình, trong đó quá trình tự giáo dục là hạt nhân Và chức năng trong cơ chế dạy học (chức năng của người dạy và người học) cũng thay đổi: người thày đóng vai trò là người tổ chức, người hướng dẫn người học nắm bắt vấn đề, còn người học giữ vai trò là người hợp tác, tham gia để cùng nắm kiến thức Lịch sử đã chứng minh có rất nhiều người trở thành vĩ nhân, giáo sư nhờ phương pháp tự học, như Hồ Chí Minh, Nguyễn Cảnh Toàn, Lê Trí Viễn…
Tự học bao gồm 3 khâu: Trước khi lên lớp (Giáo viên cung cấp tài liệu cho học sinh và hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu trước Học sinh đọc văn
Trang 21bản, tài liệu, trả lời câu hỏi gợi dẫn trong sách giáo khoa, sưu tầm tài liệu…); Trong khi lên lớp (Học sinh làm việc với sách giáo khoa và tài liệu cần thiết Giáo viên đưa ra cách đặt vấn đề để học sinh suy nghĩ và trả lời); Sau khi lên lớp (Giáo viên giao bài tập về nhà và có kiểm tra, đánh giá) Như vậy, người học phải có sự chuẩn bị kỹ trước giờ học, đến khi lên lớp cần chú ý nghe giảng, tập trung tư tưởng theo dõi một cách không thụ động và biết đề xuất những thắc mắc, những chỗ chưa hiểu rõ để thày trò cùng giải quyết Thày chú ý phát huy năng lực trí tuệ của trò, trò là chủ thể, không tiếp thu thụ động, máy móc Kinh nghiệm của các học sinh giỏi, các sinh viên xuất sắc là ở chỗ này Chúng ta thường thấy có những học sinh, sinh viên con nhà nghèo, thường phải làm việc giúp đỡ gia đình nhưng vẫn học giỏi, chính là biết cách học như trên, họ đã hiểu bài, thuộc bài ngay tại lớp Đã từ lâu, các thày giáo giảng dạy có kinh nghiệm cũng đã đề ra phương pháp dạy và học theo cách nói trên
Tự học ở nhà rất quan trọng, vì đây là lúc học sinh có nhiều thời giờ suy ngẫm, hoặc vận dụng kiến thức vào thực tế, tiếp tục đề xuất những thắc mắc để thày giải đáp, đồng thời cũng là cách để tri thức khắc sâu trong bộ óc, khó bị lãng quên và trở thành hữu ích, là cách học kết hợp với hành mà Bác
Hồ luôn nhắc nhở
Hoạt động tự học không những là yêu cầu cấp bách, thiết yếu của học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, mà còn có ý nghĩa trong suốt cuộc đời
mỗi con người, tạo thói quen học tập suốt đời, đúng như V.I.Lê Nin đã dạy:
“Học, học nữa, học mãi” Cần phải học khi còn là học sinh, nhưng cần phải
học tập hơn nữa khi rời ghế nhà trường, và sự học tập ở giai đoạn thứ hai này còn quan trọng hơn với mỗi người vì thời gian ngồi trên ghế nhà trường có hạn Học suốt đời sẽ giúp mỗi người khỏi bị lạc hậu trước sự biến đỏi không ngừng của khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay
Trang 22Tóm lại, tự học không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân người học mà còn góp phần nâng cao chất lượng dạy học và đào tạo Dạy học là dạy cách học Dạy cách học chủ yếu là dạy cách tự học Tự học có phương pháp chung, song cũng có những phương pháp cụ thể đối với những đối tượng người học khác nhau, ở các môn học, bài học khác nhau Có như vậy hì người học mới thu được kết quả tốt và vững chắc
1.1.4 Điều kiện và cách thức để tự học có hiệu quả
Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững tri thức, kĩ năng do chính người học tiến hành trên lớp hoặc ngoài giờ lên lớp,
có thể theo chương trình hoặc ngoài chương trình
1.1.4.1 Điều kiện tự học
- Điều kiện thời gian: học sinh nắm vững các kiến thức, tránh học tủ, học vẹt, dành nhiều thời gian cho việc tự học Vì thời gian trên lớp thường hạn hẹp, khối lượng kiến thức nhiều nên cần dành nhiều thời gian tự học ở nhà trước khi lên lớp và sau khi lên lớp Người học phải tự tạo một thời gian biểu thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh của bản thân, tiết kiệm mọi thời gian quý báu để học tập và nghiên cứu
- Điều kiện tâm lý: Việc tự học có đạt hiệu quả hay không là phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tâm lý Người học cần có tâm lý tập trung, thoải mái, có sự hứng thú say mê với những vấn đề nghiên cứu hay những vấn đề của bài học
- Điều kiện môi trường và vật chất: có một điều dễ nhận thấy là việc tự học bao giờ cũng gắn liền với điều kiện vật chất đi kèm như sách vở, tài liệu tham khảo, tài liệu hướng dẫn, các công cụ tìm kiếm, các phương tiện hiện đại
để thuận lợi cho việc tự học, hoặc tự đánh giá, kiểm tra kiến thức của bản thân người học Môi trường cũng có vai trò quan trọng không kém so với các yếu
tố khác, vì việc tự học cần yên tĩnh, tập trung, tránh ồn ào Thư viện, phòng đọc sách, phòng riêng là tốt nhất, quan trọng là nơi đó không làm phân tán sự
Trang 23tập trung Cho nên hãy làm cho việc lựa chọn nơi học thích hợp trở thành một phàn của thói quen học tập
- Điều kiện học tập tự học đối với môn Ngữ văn:
Đối với môn ngữ văn trong nhà trường phổ thông, điều kiện để học sinh thực hiện việc tự học đang rất được quan tâm, bởi đó là nguyên nhân khắc phục tình trạng chán học văn hiện nay ở người học Cả ba điều kiện về thời gian, tâm lý và môi trường vật chất đều có vai trò quan trọng như nhau để quyết định việc học tốt môn văn, đặc biệt là bài học tác phẩm văn chương
Việc học văn đòi hỏi người học phải đọc nhiều, không chỉ bó hẹp ở các tác phẩm trong nhà trường mà cần mở rộng ra các tác phẩm của các tác giả khác thì mới mong tích luỹ và khắc sâu được tri thức, bởi vậy người học nên đến thư viện để tìm và đọc các loại sách tham khảo, tự soạn trước bài mới ở nhà theo sự hướng dẫn cụ thể của giáo viên Ngoài việc học bài và làm bài, các em nên dành thời gian rỗi để luyện tập viết đoạn văn, bài văn hoàn chỉnh, hoặc đọc các sách chuyên khảo về văn chương để tự bồi dưỡng cả về kiến thức và kỹ năng hành văn
Đối với bài học Văn học dân gian nói chung, ca dao-thơ dân gian nói riêng, học sinh cần có một cuốn sổ tay văn học để ghi chép lời hay ý đẹp, những câu danh ngôn, những đoạn văn-câu thơ vừa để có vốn kiến thức, vừa
tự sửa các lỗi dùng từ, đặt câu hay mắc phải để biết cách viết đúng Học sinh cũng cần có Từ điển Tiếng Việt để tra cứu khi gặp những từ khó hiểu và làm giàu thêm vốn từ Tiếng việt cho mình
Môn Văn cũng có những đặc trưng riêng so với các môn học khác, do vậy cần tạo được bầu không khí vui vẻ, thoải mái trong các giờ học văn, như tạo dựng các nhóm thi đọc diễn cảm, tổ chức thảo luận giữa các nhóm về một vấn đề nào đó của tác phẩm văn chương
Trang 24Nguyên nhân chính làm cho chất lượng môn ngữ văn trong trường phổ thông nhiều năm qua bị yếu kém là do chưa tạo ra được sự hứng thú học tập cũng như chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc tìm tòi, khám phá tri thức mới qua mỗi giờ học Ngữ văn Người học văn rất cần tập trung chú ý, tạo hứng thú cao khi đọc tác phẩm và có thói quen khai thác nội dung thông qua hình thức nghệ thuật của tác phẩm, đặc biệt là nghệ thuật ngôn từ của tác giả
1.1.4.2 Cách thức thực hiện
Xây dựng động cơ học tập Theo UNESCO: “ Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để
tự khẳng định mình’ Do vậy, người học tự xây dựng cho mình động cơ học
tập đúng đắn là việc cần làm đầu tiên Bởi vì, thành công không bao giờ là kết
quả của một quá trình ngẫu hứng tùy tiện thiếu tính toán, kể cả trong học tập lẫn nghiên cứu Nhu cầu xã hội và thị trường lao động hiện tại đặt ra cho mỗi người những tố chất cần thiết Có động cơ học tập tốt khiến cho người ta luôn
tự giác say mê, học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng với một niềm vui
sáng tạo bất tận
Trong rất nhiều động cơ học tập, có thể khuôn tách thành hai nhóm
cơ bản:
- Các động cơ hứng thú nhận thức
- Các động cơ trách nhiệm trong học tập
Thông thường, các động cơ hứng thú nhận thức được hình thành và đến được với người học một cách tự nhiên khi bài học có nội dung mới lạ, thú vị, bất ngờ, chứa nhiều những yếu tố nghịch lí, gợi sự tò mò Động cơ này sẽ xuất hiện thường xuyên khi giáo viên biết tăng cường tổ chức các trò chơi nhận thức, các cuộc thảo luận hay các biện pháp kích thích tính tự giác tích cực từ người học
Trang 25Ví dụ: Có thể kích thích tính tích cực tự giác ở người học bằng hệ thống
các câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương (câu hỏi phát hiện,câu hỏi nêu vấn đề, so sánh, phân tích, tranh luận…); hay tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm về một vấn đề có trong bài học
Động cơ, nhiệm vụ và trách nhiệm của người học thường có mối liên
hệ với nội dung ý nghĩa xã hội của sự học, như nghĩa vụ đối với Tổ quốc, trách nhiệm đối với gia đình, thầy cô, uy tín danh dự trước bạn bè…Từ đó các
em mới có ý thức kỉ luật trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện nhiệm vụ học tập và những yêu cầu từ giáo viên, phụ huynh
Cả hai động cơ trên không hình thành tự phát, cũng chẳng được đem lại
từ bên ngoài mà nó hình thành và phát triển một cách tự giác từ bên trong Do vậy người GV phải tùy đặc điểm môn học, tùy đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của đối tượng để tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm khơi dậy hứng thú học tập và năng lực tiềm tàng nơi người học Và điều quan trọng hơn là tạo
mọi điều kiện để các em tự kích thích động cơ học tập của mình
Xây dựng kế hoạch học tập Đối với bất kì ai muốn việc học thật sự có hiệu quả thì cùng với mục đích, nhiệm vụ đã xác định thì kế hoạch học tập phải được xây dựng cụ thể, rõ ràng Kế hoạch phải có tính định hướng cao Kế hoạch học cho từng môn, từng phần phải được tạo lập thật rõ ràng cho từng thời điểm, từng giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình Vấn đề kế tiếp là phải chọn đúng trọng tâm, cái gì là cốt lõi là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó Nếu việc học dàn trải, thiếu tập trung thì chắc chắn hiệu quả sẽ không cao Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải sắp xếp các phần việc một cách hợp lí, logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ
Trang 26tự được thể hiện chi tiết trong kế hoạch Điều đó sẽ giúp quá trình tiến hành việc học được trôi chảy, thuận lợi
Ví dụ: Đối với môn Ngữ văn ở phổ thông, đọc hiểu “là một quá trình
bao gồm việc tiếp xúc văn bản, thông hiểu cả nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được vai trò, tác dụng của hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết và cả các giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật Đọc hiểu là hoạt động duy nhất
để học sinh tiếp xúc trực tiếp với các giá trị văn học Đọc hiểu bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của từ và sắc thái biểu cảm, hiểu nghĩa của hình thức câu, hiểu mạch văn, bố cục và nắm được ý chính, cũng như chủ đề của tác phẩm Lý giải những đặc sắc về nghệ thuật và ý nghĩa xã hội nhân văn của tác phẩm trong ngữ cảnh của nó” [21]
Tự mình nắm vững nội dung tri thức Đây là giai đoạn quyết định và chiếm nhiều thời gian công sức nhất Khối lượng kiến thức và các kĩ năng được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn đề nông hay sâu, rộng hay hẹp, có bền vững không… tùy thuộc vào nội lực của chính bản thân người học trong bước mang tính đột phá này Nó bao gồm các hoạt động:
- Tiếp cận thông tin: Lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và từ những hoạt động đã được xác định như đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu từ Internet, quan sát, điều tra…Trong hoạt động này rất cần có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tin một cách thông minh và linh hoạt Xã hội hiện đại đang khiến phần lớn học sinh rời xa sách và chỉ quan tâm đến các phương tiện nghe nhìn khác Đơn giản vì
nó thỏa mãn trí tò mò, giúp cho tai nghe mắt thấy tức thời Đó là chưa kể đến
sự nhiễu loạn thông tin mà nếu không vững vàng thì giới trẻ sẽ rất dễ sa vào những cạm bẫy thiếu lành mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nhân
Trang 27cách, tâm hồn Trong khi đó, muốn làm chủ tri thức nhân loại thì con đường tốt nhất của mọi người là đọc sách Đọc sách là phương pháp tự học hiệu quả nhất Khi làm việc với sách, ta phải sử dụng năng lực tổng hợp toàn diện và
có sự xuất hiện của hoạt động trí não, một hoạt động tối ưu trong quá trình tự học Do vậy, rèn luyện thói quen đọc sách là một công việc không thể tách rời trong yêu cầu tự học Ngoài việc tiếp nhận tri thức còn phải biết đối thoại, gợi
mở, thắc mắc hay đề xuất những vấn đề cần lưu ý sau khi đọc sách, hoặc chí ít
là học cách viết, lối diễn đạt từ những cuốn sách hay Đó là cách đọc sáng tạo Khác với sự giải trí đơn giản hay cảm nhận thông thường
- Xử lí thông tin: Việc xử lí thông tin trong quá trình tự học không bao giờ diễn ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được Quá trình này có thể được tiến hành thông qua việc phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so sánh…
- Vận dụng tri thức, thông tin: Trong việc vận dụng thông tin tri thức khoa học để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận,
xử lí các tình huống, viết bài thu hoạch, … học sinh thường gặp rất nhiều khó khăn Cần khoanh vùng vấn đề trong một giới hạn không quá rộng Chỉ cần tập trung đào sâu một vấn đề nào đó nhằm phát hiện ra cái mới có giá trị thực tiễn là đáp ứng yêu cầu Trong khâu này, việc lựa chọn và thay đổi hình thức
tư duy cũng rất cần thiết
- Trao đổi, phổ biến thông tin: Việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin tri thức hay diễn ngôn theo yêu cầu, thông qua các hình thức: thảo luận, thuyết trình, tranh luận… là công việc cuối cùng của quá trình tiếp nhận tri thức Hoạt động này giúp người học có thể hình thành và phát triển kĩ năng trình bày (bằng lời nói hay văn bản) cho người học, đồng thời cũng giúp họ chủ động, tự tin trong giao tiếp ứng xử, phát triển năng lực hợp tác và làm việc nhóm tốt hơn
Trang 28 Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập Việc nhìn nhận kết quả học tập được thực hiện bằng nhiều hình thức: Dùng các thang đo mức độ đáp ứng yêu cầu của giáo viên, bản thân tự đánh giá, sự đánh giá nhận xét của tập thể thông qua thảo luận, tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt ra ban đầu… Tất cả đều mang một ý nghĩa tích cực, cần được quan tâm thường xuyên Thông qua nó người học tự đối thoại để thẩm định mình, hiểu được cái gì làm được, điều gì chưa thỏa mãn nhu cầu học tập
để từ đó có hướng khắc phục hay phát huy
Vấn đề tự học rõ ràng không hề đơn giản Muốn hoạt động học tập có hiệu quả nhất thiết người học phải chủ động tự giác học tập bất cứ lúc nào có thể, bằng chính nội lực của bản thân Vì nội lực mới chính là nhân tố quyết định cho sự phát triển Ngoài ra, rất cần tới vai trò của người thầy với tư cách
là ngoại lực trong việc trang bị cho người học một hệ thống tri thức, kĩ năng, thái độ cùng với phương pháp tự học cụ thể, khoa học Nhờ đó hoạt động tự học, tự đào tạo của người học mới đi vào chiều sâu thực chất
1.2 Những cơ sở lý luận của việc hướng dẫn học sinh tự học các bài ca dao 1.2.1 Dạy học ca dao theo hướng tiếp cận từ đặc trưng thể loại
1.2.1.1 Khái niệm về ca dao
Ca dao được coi là một thể loại có tính độc lập trong kho tàng tục ngữ
ca dao dân ca Việt Nam Ca dao ít nhiều đi vào tiềm thức mỗi con người Việt Nam và được coi là vốn sống, kinh nghiệm quý báu được truyền từ đời này sang đời khác, mặt khác nó cũng được coi là nét văn hóa đặc trưng mà không phải dân tộc nào cũng có
Hiện nay, tồn tại nhiều quan niệm, cách hiểu khác nhau về Ca dao Chúng tôi xin nêu một vài quan niệm khác nhau ấy:
Theo GS Bùi Văn Nguyên trong cuốn “Lịch sử văn học Việt Nam”( tập 1) thì “Ca dao là những bài có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng
Trang 29thể văn vần dân tộc (thường là lục bát) để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm Dân ca là những bài hát có hoặc không có chương khúc do nhân dân sáng tác lưu truyền trong dân gian ở từng vùng hoặc phổ biến ở nhiều vùng có nội dung trữ tình và có giá trị đặc biệt về nhạc”
Còn trong giáo trình “Văn học dân gian Việt Nam”(tập 2), GS.Hoàng Tiến Tựu viết: “Ca dao là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất của thơ dân gian, là loại thơ dân gian truyền thống có phong cách riêng, được hình thành
và phát triển trên cơ sở của thành phần nghệ thuật ngôn từ trong các loại dân
ca trữ tình ngắn và tương đối ngắn (đoản ca) của người Việt… Dựa vào tiêu chí khác nhau (như phương thức sáng tác, đề tài, thời kì ra đời…) có thể phân kho tàng ca dao Việt thành nhiều bộ phận lớn nhỏ khác nhau…”
Ở cuốn “Thi pháp ca dao”, GS.Nguyễn Xuân Kính viết: “Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định và bền vững về phong cách Và
ca dao đã trở thành một thuật ngữ dùng để chỉ một thể thơ dân gian Đối với
ca dao, người ta không chỉ hát mà còn ngâm, đọc và xem bằng mắt thường”
Như vậy, có thể hiểu ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt, “Ca” là bài hát có chương khúc, giai điệu được quy định rõ rệt, còn “Dao” là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc Người ta có thể hiểu khái niệm Ca dao một cách ngắn gọn, dễ hiểu nhất như sau: Ca dao là lời thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người
1.2.1.2 Phân loại ca dao
Ngày 21 tháng 4 năm 1921, cách đây 90 năm, chủ bút Nam Phong Phạm Quỳnh đã có bài diễn thuyết về Tục ngữ ca dao, sau đó được đăng lại trên báo Nam Phong năm 1921
Diễn giả phân loại ca dao thành ba loại:
Trang 30- Loại làm theo lối phú: thường nói rõ tên, kể rõ sự việc
Ví dụ: Ai ơi chớ lấy học trò Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm
- Loại làm theo lối Tỉ, tức là dẫn vật
Ví dụ: Tò vò mà nuôi con nhện Ngày sau nó lớn nó quyện nhau đi
Tò vò ngồi khóc tỉ ti Nhện ơi nhện hỡi mày đi đường nào
- Loại làm theo lối hứng: tức là mượn một việc để dẫn khởi một việc
Ví dụ: Cái cò trắng bạch như vôi
Có ai lấy lẽ bố tôi thì về
Mẹ tôi chẳng đánh chẳng chê Mài dao cho sắc móc mề mà xem
Diễn giả còn phân loại ca dao theo chủ đề liên quan:
- Gia đình (nhận xét về sự tha hóa trong gia đình thời đó, diễn giả đưa
ra một ví dụ mà vẫn thấy được giá trị thời sự nóng hổi cho đến ngày nay):
Chồng đánh bạc vợ đánh bài Chồng hai ba vợ, vợ hai ba chồng
- Thời tiết nông vụ (Mưa chẳng qua ngọ, gió chẳng qua mùi)
- Về tình yêu nam nữ, diễn giả chọn lọc và đưa ra nhiều ví dụ rất hấp
dẫn…
Cách phân loại ca dao theo diễn giả Phạm Quỳnh, chủ bút Nam Phong cách đây 90 năm vẫn là những gợi ý hữu ích, giúp phân biệt rạch ròi giữa Tục ngữ với Ca dao và đặc biệt cũng là một tư liệu quý giá trong danh mục tham
khảo cần thiết cho các nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian hiện nay
Trang 31Hoàng Tiến Tựu trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam (tập 2), NXB
giáo dục, 1990 đã chia nguồn ca dao truyền thống của người Việt thành mấy
bộ phận chính như sau:
- Đồng dao (hay ca dao trẻ em)
- Ca dao nghi lễ phong tục
- Ca dao lao động (bao gồm cả những bài ca nghề nghiệp)
- Ca dao trào phúng bông đùa (hay ca dao vui chơi)
- Ca dao ru con (hay ca dao ru em)
- Ca dao trữ tình (bao gồm các loại đề tài: tình yêu đôi lứa, tình yêu quê hương xứ sở, tình cảm gia đình, đề tài xã hội, lịch sử…)
Mã Giang Lân trong cuốn Tục ngữ Ca dao Việt Nam, NXB giáo dục,
1998 đã chia ca dao thành mấy bộ phận chính:
- Ca dao thời kỳ phong kiến (bao gồm: lao động và các nghề nghiệp, Lịch
sử và đất nước, Tình yêu nam nữ, Hôn nhân và gia đình, Đấu tranh chống phong kiến và các tệ nạn xã hội, Nhận định về con người và việc đời)
- Ca dao thời kỳ bị thực dân Pháp xâm lược
Hiện nay, cách phân loại ca dao phổ biến nhất là phân loại ca dao theo chủ đề:
- Ca dao than thân
- Ca dao yêu thương tình nghĩa
- Ca dao hài hước, trào phúng
1.2.1.3 Vài nét về ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa và Ca dao hài hước
a Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa
Những đặc điểm sau đây được lấy từ cuốn “Văn học dân gian Việt Nam” (tập 2) của tác giả Hoàng Tiến Tựu:
Trong ca dao truyền thống của người Việt (bao gồm cả ca dao thời phong kiến và thời Pháp thuộc), than thân là một trong những chủ đề chính
Trang 32được nói đến nhiều nhất, sâu sắc và phòng phú nhất Đó là tiếng kêu than của quần chúng nhân dân thuộc nhiều thời kỳ, nhiều thành phần xã hội khác nhau (người tá điền, người làm thuê, người đi ở, người đi phu, người đi lính…), nhiều nhất là những người phụ nữ sống trong những cảnh ngộ cụ thể khác nhau của gia đình phụ quyền (làm dâu, làm lẽ, góa bụa, bị ép duyên, bị chồng phụ bạc…) Những tiếng “ Thân em” hoặc “ Em như” đã trở thành công thức
mở đầu quen thuộc của hàng trăm bài ca dao than thân độc đáo khác nhau của người phụ nữ Việt Nam dưới thời phong kiến:
- Thân em như giếng giữa đàng Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân
- Thân em như con cá rô thia
Ra sông mắc lưới vào đìa mắc câu
- Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen Chẳng tin bóc vỏ mà xem
Ăn rồi mới biết rằng em ngọt bùi Nhiều bài ca than thân có giá trị về nội dung và nghệ thuật, không những rất hồn nhiên, chân thực, giản dị mà còn có tầm khái quát rộng lớn và
sự độc đáo, tinh tế của nghệ thuật phô diễn Ví dụ:
Em như con hạc đầu đình Muốn bay chẳng cất nổi mình mà bay
“Con hạc đầu đình” trong câu ca dao trên đây là một biểu tượng sinh động và độc đáo cho thân phận bị lệ thuộc, kìm hãm và khát vọng tự do bay bổng của người phụ nữ trong xã hội phong kiến
Nhiều câu ca dao than thân chẳng những phản ánh được nỗi khổ và khát vọng tìm đường thoát khổ của nhân dân, mà còn phản ánh được cả sự tự
Trang 33nhận thức về tình trạng bế tắc, cùng quẫn không có lối thoát của họ Do đó, ở đây “cái bi” trở thành cảm hứng chủ đạo:
- Ai đưa em đến chốn này Bên kia mắc núi bên này mắc sông
- Gánh cực mà đổ lên non Còng lưng mà chạy cực còn chạy theo Đọc ca dao cổ, nếu chỉ thấy được cái bản chất lạc quan yêu đời của quần chúng mà không chú ý lắng nghe và cảm nhận được cái đắng cay, chua xót, ngậm ngùi của con người trong cuộc đời cũ thì vẫn là phiến diện và lệch lạc
Bên cạnh chủ đề than thân thì tình nghĩa cũng là một chủ đề lớn và trường tồn trong ca dao truyền thống của nhân dân ta Con người trong ca dao truyền thống luôn luôn hướng về cái ân, cái nghĩa, cái tình trong những mối quan hệ xã hội khác nhau giữa người với người (cha con, mẹ con, vợ chồng, anh em, bạn bè, láng giềng…) Chủ đề này có mặt ở hầu khắp các loại ca dao khác nhau nhưng được nói đến nhiều nhất và sâu sắc nhất là ở các loại ca dao trữ tình Rất nhiều câu ca dao tình nghĩa đã trở thành bất tử, sống mãi với thời gian và dân tộc Ví dụ:
Muối mặn ba năm muối đương còn mặn Gừng cay chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta tình nặng ngãi dày
Dù có xa nhau ba vạn sáu ngàn ngày cũng nỏ (chẳng) quên
Nhiều khi chủ đề tình nghĩa không đứng riêng mà được phản ánh kết hợp với các chủ đề khác làm cho phần lớn ca dao truyền thống của nhân dân
ta đều thấm đượm nghĩa tình: tình nghĩa gia đình, láng giềng, quê hương đất nước, tình nghĩa bầu bạn, lứa đôi,tình nghĩa giữa những người cùng nghề nghiệp, cùng cảnh ngộ… Đọc ca dao cổ, ta thấy tình nghĩa là niềm vui, là lẽ
Trang 34sống, là nhân tố của sức mạnh tinh thần giúp nhân dân sống lạc quan, yêu đời, vượt qua những khó khăn, thử thách của cuộc đời
Tuy chủ đề tình nghĩa có ở nhiều loại ca dao nhưng tập trung nhất, tiêu biểu và độc đáo nhất là ở ca dao tình yêu nam nữ Tình nghĩa ở đây có nhiều tính chất đặc biệt: rất tự nhiên, chân thực, trong sáng, mặn nồng, rất giàu tính dân tộc và tính nhân loại Vì thế nó sống mãi với thời gian và có sức rung động, cảm hóa lòng người rất lớn
b Ca dao hài hước
Nếu như ca dao than thân yêu thương tình nghĩa mở ra trước mắt người đọc một thế giới nội tâm tinh tế và sâu sắc với những lời ca mượt mà, trữ tình, đằm thắm, thì ca dao hài hước lại đem đến cho người đọc những cảm nhận riêng về vẻ đẹp khỏe khoắn, tươi trẻ, hồn nhiên và tràn đầy sức sống trong tâm hồn và trí tuệ của người dân lao động
Ca dao hài hước là những tiếng cười dí dỏm, thể hiện tinh thần lạc quan của người lao động Đồng thời nó cũng là tiếng nói phê phán những thói hư tật xấu, những tệ nạn của xã hội Ca dao hài hước gồm ca dao tự trào và ca dao châm biếm
Trong cuộc sống có thể bắt gặp rất nhiều điều, chỉ cần phản ánh nguyên hiện thực, chưa thêm bớt đã khiến ta bật cười Tuy nhiên, những chuyện tức cười có sẵn nguyên mẫu trong thực tế đời sống hoặc tâm tư suy nghĩ của con người không phải là nội dung duy nhất của ca dao hài hước Trên cơ sở vốn sống, kinh nghiệm thực tế, đặc biệt là với năng lực đối chiếu, kết hợp và nhào nặn những gì có được, cộng với một sự liên tưởng nhiều khi hết sức bất ngờ
có khả năng dẫn đến mọi yếu tố của tưởng tượng, hư cấu, người sáng tác ca dao hài hước, những tác giả sáng tác vô danh cũng có thể đạt đến trình độ cao trong sáng tác nghệ thuật, khiến cho các nghệ sĩ thực thụ cũng phải khâm phục Nhờ có ngôn ngữ mà con người biết cách diễn đạt một cách hài hước
Trang 35điều mình muốn nói Và trên những năng lực đặc biệt này mà con người còn biết tạo ra tiếng cười bằng cả chuỗi lời nói hoặc truyện cười
"Ca dao hài hước" bên cạnh những bài là vũ khí đấu tranh với kẻ địch,
kẻ thống trị, đả kích châm biếm mọi thói hư tật xấu, mọi quan niệm sống lỗi thời, những bài có tác dụng phê phán, giáo dục trong nội bộ nhân dân bằng tiếng cười khoẻ khoắn, lành mạnh, phần lớn ca dao hài hước không dùng như một phương tiện mua vui, giải trí mà còn là một phương tiện, một phương thức phản ánh cuộc sống, đặc biệt có khả năng đem lại tác dụng và hiệu quả lớn đối với việc khơi dậy và kích thích những cảm xúc thẩm mỹ, nâng cao tâm hồn và trí tuệ của quần chúng trong thưởng thức nghệ thuật
Nội dung của ca dao hài hước
- Tiếng cười thể hiện tinh thần lạc quan:
Cưới em chín quả cau vàng
Cưới em chín chục họ hàng ăn chơi
Vòng vàng kéo lấy mười đôi
Lụa là chín tấm tiền rời mười quan
Gọi là có hỏi có han
Mười chum rượu nếp cheo làng cho xong
- Tiếng cười phê phán, châm biếm:
Trang 36Mẹ ơi! Con phải gỡ ra
Chồng con nu nống nu na suốt ngày
+ Phê phán, châm biếm thầy bói:
- Phù thủy, thầy bói, lái trâu
Nghe ba thầy ấy đầu lâu không còn
+ Phê phán, châm biếm quan lại, vua chúa:
- Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan
Ca dao hài hước thường sử dụng các biện pháp nghệ thuật:
- Sử dụng biện pháp phóng đại (Con rận bằng con ba ba/ Đêm nằm
1.3 Những cơ sở thực tiễn của việc hướng dẫn học sinh tự học các bài ca dao 1.3.1 Thực trạng việc tự học ở nhà trường phổ thông hiện nay
Nếu đặt ra câu hỏi: Có phải 100% học sinh phổ thông hiện nay đều có ý thức tự học? thì bất cứ một người nào dù trong hay ngoài ngành giáo dục đều
có câu trả lời là không, nếu không muốn nói là rất hiếm Thực tế đã chứng minh nhiều nhà khoa học, nhiều giáo sư đầu ngành thành danh đều xuất phát
từ tinh thần tự học, và cũng rất nhiều người ý thức được rằng tự học là con đường dẫn tới thành công, giúp cho người học có thể chủ động suốt đời Song đối với thế hệ thanh niên ngày nay, đứng trước nhiều cám dỗ, các em có nhiều
sự lựa chọn, có nhiều phương tiện thiết bị hiện đại, thì dường như các em càng ỷ lại, lười nhác và không có ý thức cầu tiến.Các em học mang tính chất
Trang 37chống đối nhiều hơn, học vẹt, học tủ Không nhiều em có được ý thức tự tìm tòi tri thức cho bản thân để trau dồi, nâng cao kinh nghiệm sống
Học sinh phổ thông hiện nay ngoài thời gian lên lớp bắt buộc thì thay vì vào thư viện đọc sách, tìm kiếm thông tin phục vụ cho việc học tập, thì các
em bỏ thời gian vào những việc vô bổ, thậm chí có hại mà nếu không có sự quản lý của nhà trường và gia đình thì sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng Những
lý do trên đã khiến cho việc ngồi vào bàn học là cả một thách thức đầy lớn lao với mỗi học sinh hiện nay
Thực tế hiện nay cho thấy học sinh đi học thêm tràn lan, ngoài mục đích trang bị và trau dồi thêm kiến thức thì cái chính dẫn đến thực trạng đó là
áp lực từ phía gia đình Tuy nhiên, hầu như không tạo ra được hứng thú cũng như hiệu quả học tập cho học sinh Cách học của học sinh chưa mang lại hiệu quả cao Học sinh ngày nay đã quá phụ thuộc vào các bài giảng của thầy cô trên lớp, thầy cô dạy như thế nào thì lại hiểu và học như thế ấy, dẫn đến thụ động, thiếu suy nghĩ và sáng tạo trong Và cũng vì chỉ học trong các bài giảng ghi được trên lớp mà dẫn đến tình trạng học sinh phải đi học thêm Mà khi đã học thêm tràn lan thì lại càng khiến học sinh không chịu tự học, càng thêm phụ thuộc vào việc học thêm Ngày nay khi việc học được nâng cao thì có quá nhiều sách tham khảo, văn mẫu, hướng dẫn dẫn đến việc học sinh đâm lười suy nghĩ trong khi làm các bài tập
Mặt khác, trong thực tế dạy học hiện nay, việc áp dụng phương pháp dạy học hướng dẫn học sinh tự học của giáo viên ở tất cả các môn học nói chung còn gặp rất nhiều lúng túng và khó khăn Cách học của học sinh vẫn đơn giản là cố gắng hoàn thành hết số bài tập GV giao về nhà (bằng mọi cách
có thể), và học thuộc trong vở ghi đối với các môn học thuộc Đối với giáo viên thì chỉ quen với cách kiểm tra bài cũ đầu giờ cốt sao cho đủ số lần điểm miệng Việc kiểm tra định kỳ chỉ đơn giản là thực hiện theo phân phối chương
Trang 38trình, trước khi kiểm tra sẽ giới hạn cho học sinh một phần kiến thức Mặt khác, phương pháp dạy học phổ biến hiện nay vẫn theo "lối mòn", giáo viên truyền đạt kiến thức, học sinh thụ động lĩnh hội tri thức Thậm chí có giáo viên còn đọc hay ghi phần lớn nội dung lên bảng cho học sinh chép Việc sử dụng các phương tiện dạy học: phiếu học tập, tranh ảnh, băng hình, … chỉ dùng khi có đoàn thanh tra, kiểm tra đến dự, còn các tiết học thông thường hầu như "dạy chay" Do việc truyền đạt kiến thức của giáo viên theo lối thụ động nên rèn luyện kỹ năng tự học cũng như việc hướng dẫn tự học của giáo viên cho học sinh không được chú ý, làm cho chất lượng giờ dạy không cao
Rất nhiều học sinh thời nay không có thời gian để học, chỉ vì họ quá bận học Nghe thật khôi hài Tuy nhiên, đáng buồn thay, đó lại là sự thật Bởi
vì đối với họ không tồn tại khái niệm tự học Chúng ta đưa quá nhiều thứ vào trong bộ não từ các bài giảng trên lớp cũng như tại lớp học thêm Chúng ta nghĩ rằng như thế sẽ lấp đầy kiến thức Thực tế không phải như vậy Con chữ trên lớp dù đã được giáo viên biên soạn kĩ lưỡng, nó vẫn cần phải “xào” lại để thực sự trở thành của cá nhân mỗi người Đáng tiếc thay, hàng ngày, chúng ta đang cố “ăn sống nuốt tươi” tri thức bằng cách nạp nó vào thật nhiều
Có một đặc điểm chung đối với tất cả những học sinh là: Họ dành quá
ít thời gian để tự học Và điều này đã ảnh hưởng lớn đến họ Ra ngoài đời, họ thường loay hoay, bỡ ngỡ, phản ứng chậm trước những thay đổi và biến động của cuộc sống Trong công việc, họ hay gặp nhiều khó khăn, lo nghĩ, thiếu tính tự xoay sở, và hành động không độc lập, quyết đoán, đôi khi dựa dẫm nhiều vào người khác Bởi vì khi học để làm người, họ đã bỏ qua cái cơ hội
để được rèn luyện tính chủ động, độc lập Và họ đã mất rất nhiều, dù công sức học tập bỏ ra không phải là nhỏ
Người học kém trong tự học trước hết là vì động cơ học tập đôi khi chỉ
là bằng cấp, chứng chỉ mà không phải là những kỹ năng, kiến thức để làm
Trang 39việc, kém trong tự học vì kỷ luật cá nhân kém Có người lên những kế hoạch lớn lao nhưng rồi đầu voi đuôi chuột, không giữ được việc thực hiện kế hoạch, kém trong tự học vì ngại hỏi, ngại học ở những người khác Trong lớp học, khi giáo viên hỏi “Các em có thắc mắc gì không?”, rất hiếm khi có phản hồi Và học sinh, sinh viên của chúng ta còn yếu trong khả năng tự học là bởi không được khuyến khích tự học, không được dạy cách tự học Không được khuyến khích tự học vì học sinh phải học trên lớp quá nhiều (có những trường dạy cả ngày, rồi còn học thêm ở trung tâm, học với giáo viên ở nhà) Không được khuyến khích tự học vì làm toán theo mẫu, làm văn theo mẫu nên tự học
sẽ không được điểm cao
Thực trạng cho thấy hiện nay tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp là rất cao, song không phản ánh thực chất lực học của học sinh, mà phần nhiều là chạy theo thành tích hoặc do hiện tượng tiêu cực trong thi cử Học sinh bây giờ ít
em có ý thức chuẩn bị bài trước khi lên lớp và ôn bài kỹ lưỡng sau khi lên lớp, không chịu khó đọc sách, tìm tòi các tài liệu có liên quan để đọc, để mở rộng, đào sâu kiến thức Họ thường tỏ ra nản chí trước các tình huống khó khăn, dựa dẫm, ỷ lại quá nhiều vào bài giảng của thày cô và học thuộc lòng dập khuôn máy móc, không có sự sáng tạo, khám phá những cái mới nhằm làm phong phú thêm kiến thức của bản thân
Ở vùng nông thôn và miền núi còn khó khăn về kinh tế, giao thông…, mặt bằng dân trí thấp, HS đa phần là con em nông dân, thời gian dành cho tự học ở nhà của các em không nhiều, sách vở tham khảo hạn chế Phần lớn các
em cố hoàn thành nhiệm vụ của GV giao là chính, ít chịu đào sâu suy nghĩ, khả năng tư duy độc lập, sự sáng tạo, … rất ít được chú ý Từ đó, khi đến lớp các em tỏ ra ngao ngán, không cần và cũng rất khó theo kịp kiến thức bài học Ngược lại, nhiều em có điều kiện mua sách tham khảo, sách để học tốt để
“đối phó” và “tự tin” cho rằng kiến thức bài học đó mình đã biết và đủ để “trả
Trang 40bài” cho GV, nên không cần quan tâm, ỷ lại, …, đây là dạng HS học đối phó, kiếm điểm chứ không ham muốn tìm hiểu tường tận vấn đề một cách khoa học Đồng thời, phương pháp mà GV áp dụng để triển khai cho bài học vẫn theo lối sáo mòn, chủ yếu là diễn giảng, đàm thoại, đến lớp chỉ thuần là bảng đen, phấn trắng, …, tổ chức cho HS học hợp tác còn nặng về hình thức, thiếu chiều sâu, …, chưa thực sự lấy hoạt động của HS làm trung tâm, do đó, càng làm mất đi hứng thú tự học của học sinh Tình trạng học sinh không chuẩn bị bài, không làm bài tập trước khi đến lớp và học đối phó trên lớp được coi là một “vấn nạn” Thời gian học ở nhà được dành cho chơi game, lướt internet
Học đối phó là vấn nạn lớn, nó ăn mòn và hủy diệt sự tự chủ trong mỗi con người, gặm nhấm những đức tính tốt đẹp trong mỗi học sinh Cần có biện pháp, không thể nói suông ngày một ngày hai Mỗi khi học tập, người học nên tìm tòi những câu hỏi, đi sâu vào những kiến thức, dành nhiều thời gian cho những mục tiêu mình cần vươn đến Và hãy nhớ rằng:là những chủ nhân tương lai của đất nước, là thế hệ học sinh mới, không thể đi lên mà không có kiến thức, trí tuệ và lòng hăng say yêu thích
1.3.2 Thực trạng học văn của học sinh phổ thông
Trong bài viết: “Học văn - thực trạng cần báo động” của tác giả Khánh Hòa đăng trên báo Giáo dục và Thời đại - số 147 (trang 9) nêu ra vấn đề:
"Học sinh bây giờ không thích học văn" Tác giả có đưa ra một số dẫn chứng
để chứng minh, thống kê bằng con số: 50% học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông không biết viết một bài làm văn theo đúng yêu cầu, viết sai chính tả, ngữ pháp, câu văn không gãy gọn Luyện khá kỹ các thao tác văn nghị luận
chứng minh, giải thích, bình luận, v.v nhưng hầu như các em không tiếp thu
được bao nhiêu kiến thức
Sau đó tác giả nêu nguyên nhân học sinh không thích học văn: thờ ơ, coi thường môn văn (có cả các bậc phụ huynh), thực dụng với những ngành