Nông nghiệp được biết đến là ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến và côn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THỊ NGỌC LOAN
PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
GIAI ĐOẠN 2000 - 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ
THÁI NGUYÊN, NĂM 2012
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐỊA LÝ
THÁI NGUYÊN, NĂM 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, dựa trên các nguồn thông tin tư liệu chính thức với độ tin cậy cao và chưa từng được ai công
bố trong bất kì một công trình nào khác
Xác nhận của trưởng khoa chuyên môn
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Ngọc Loan
Trang 4Trong quá trình thực hiện đề tài, em còn nhận được sự giúp đỡ của BGH, phòng sau đại học, thư viện trường ĐHSP Thái Nguyên, phòng NN và PTNT huyện Bình Gia, UBND huyện Bình Gia, chi cục thống kê huyện, cục thống kê tỉnh Lạng Sơn… Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Em xin gửi lời cảm ơn đến các bạn đồng nghiệp, những người thân đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành đề tài này
Xin chân thành cảm ơn
Thái nguyên, tháng 8 năm 2012
Tác giả Hoàng Thị Ngọc Loan
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục i
Danh mục các bảng iii
Danh mục các hình iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 9
1.1 Cơ sở lí luận 9
1.1.1 Vai trò của sản xuất nông nghiệp 9
1.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 12
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố nông nghiệp 14
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển nông nghiệp cấp huyện 19
1.1.5 Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 22
1.2 Cơ sở thực tiễn 26
1.2.1 Vài nét về phát triển nông nghiệp ở Trung du miền núi Bắc Bộ 26
1.2.2 Khái quát về phát triển nông nghiệp ở Lạng Sơn 28
Tiểu kết 31
Chương 2 NGUỒN LỰC VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN BÌNH GIA GIAI ĐOẠN 2000 - 2010 33
2.1 Nguồn lực phát triển nông nghiệp huyện Bình Gia 33
2.1.1 Vị trí địa lý và phạm vi lãnh thổ 33
2.1.2 Các nguồn lực tự nhiên 35
2.1.3 Các nguồn lực kinh tế - xã hội 40
Trang 62.1.4 Đánh giá chung 46
2.2 Thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Bình Gia giai đoạn 2000 - 2010 48 2.2.1 Khái quát chung 48
2.2.2 Ngành nông nghiệp 50
2.2.3 Ngành lâm nghiệp 65
2.2.4 Ngành ngư nghiệp 68
2.2.5 Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp 69
2.3 Đánh giá chung 71
2.3.1 Những kết quả đạt được 71
2.3.2 Những tồn tại 72
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN BÌNH GIA ĐẾN NĂM 2020 73
3.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển 73
3.1.1 Quan điểm phát triển 73
3.1.2 Mục tiêu phát triển 75
3.1.3 Định hướng phát triển 78
3.2 Một số giải pháp phát triển nông nghiệp huyện Bình Gia 86
3.2.1 Các giải pháp chung 86
3.2.2 Các giải pháp cụ thể cho từng ngành 89
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 97
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Cơ cấu ngành nông nghiệp 20
Bảng1 2: GDP ngành nông-lâm nghiệp- ngư nghiệp của tỉnh Lạng Sơn 28
Bảng 2.1: Các đơn vị hành chính của Bình Gia năm 2010 34
Bảng 2.2: Hiện trạng sử dụng đất của huyện Bình Gia 37
Bảng 2.3: GTSX và cơ cấu GTSX nền kinh tế huyện Bình Gia giai đoạn 2000 - 2010 48
Bảng 2.4: GTSX và cơ cấu GTSX nông -lâm - thuỷ sản giai đoạn 2005-2010 49
Bảng 2.5: GTSX và cơ cấu GTSX ngành nông nghiệp huyện Bình Gia giai đoạn 2000 - 2010 50
Bảng 2.6: Diện tích và sản lượng cây lương thực có hạt phân theo các xã và thị trấn năm 2000 và 2010 53
Bảng 2.7: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa giai đoạn 2000 - 2010 54
Bảng 2.8: Diện tích, năng suất và sản lượng một số loại lúa của Bình Gia 55
Bảng 2.9: Diện tích, năng suất và sản lượng ngô giai đoạn 2000 - 2010 56
Bảng 2.11: Số lượng đàn gia súc, gia cầm huyện Bình Gia giai đoạn 2000 - 2010 62
Bảng 2.12: Số lượng đàn gia súc, gia cầm phân theo xã, thị trấn 63
Bảng 2.13: Thực trạng sản xuất lâm nghiệp huyện Bình Gia giai đoạn 2000 - 2010 67 Bảng 3.1: Các chỉ tiêu phát triển ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đến năm 2020 (triệu đồng) 77
Bảng 3.2: Diện tích, sản lượng lúa, ngô đến năm 2020 79
Bảng 3.3: Diện tích, năng suất và sản lượng một số cây công nghiệp huyện Bình Gia đến năm 2020 80
Bảng 3.4: Quy mô sản xuất một số cây ăn quả đến năm 2020 81
Bảng 3.5: Quy mô phát triển chăn nuôi đến năm 2020 83
Bảng 3.6: Các chỉ tiêu phát triển lâm nghiệp đến năm 2020 84
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu diện tích các loại cây trồng của Bình Gia năm 2000 và 2010 51Biểu đồ 2.2: Diện tích và sản lượng cây lương thực có hạt huyện Bình Gia 52Biểu đồ 2.3: Sản lượng hồi khô của Bình Gia qua các năm 58Biểu đồ 2.4: Sản lượng thịt lợn xuất chuồng của huyện Bình Gia giai đoạn
2000 - 2010 64Biểu đồ 2.5: Diện tích rừng trồng và rừng tự nhiên của Bình Gia giai đoạn
2000 - 2010 66Bản đồ 1: Bản đồ hành chính huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
Bản đồ 2: Bản đồ nguồn lực phát triển nông nghiệp huyện Bình Gia, tỉnh
Lạng Sơn Bản đồ 3: Bản đồ hiện trạng phát triển nông nghiệp huyện Bình Gia, tỉnh
Lạng Sơn
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nông nghiệp, nông dân và nông thôn là một vấn đề lớn được sự quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới, nếu vấn đề này được thực hiện tốt sẽ góp phần to lớn cho sự phát triển bền vững của quốc gia đó
Nông nghiệp được biết đến là ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, ngoài ra còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị… Nông nghiệp (theo nghĩa rộng) cho đến nay vẫn là ngành kinh tế quan trọng không thể thay thế được trong đời sống kinh tế - xã hội của nhân loại, đặc biệt với các nước đang phát triển nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến đời sống của phần lớn dân cư
Bình Gia là một huyện miền núi thuộc tỉnh Lạng Sơn, điều kiện tự nhiên khá đa dạng, địa hình đồi núi thấp chiếm ưu thế, đất feralit hình thành trên đá vôi và các loại đá mẹ khác chiếm phần lớn diện tích, khí hậu nhiệt đới với nhiệt độ cao, độ ẩm lớn…là điều kiện thuận lợi để phát triển một nền nông nghiệp với cơ cấu sản phẩm khá đa dạng
Trong thực tế nông nghiệp chiếm 51,92% trong cơ cấu kinh tế của huyện và thu hút 87,67% lao động Nông nghiệp trở thành ngành kinh tế chính và đóng vai trò quan trọng đối với đời sống của người dân nơi đây Tuy nhiên nông nghiệp của huyện trong những năm qua phát triển vẫn chưa tương
xứng với tiềm năng sẵn có, vì vậy đề tài “Phát triển nông nghiệp huyện
Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2000 - 2010” được lựa chọn nghiên cứu
với mong muốn sẽ phần nào đánh giá được nguồn lực, tình hình phát triển nông nghiệp trên địa bàn huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn Từ đó đề xuất các giải pháp góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp của huyện phát triển hiệu quả hơn
Trang 10II MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
1 Mục tiêu nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lí luận và thực tiễn về địa lý ngành nông nghiệp, đề tài tập trung đánh giá các nguồn lực, phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Bình Gia giai đoạn 2000 - 2010 Từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu góp phần đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện đến năm 2020
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn của địa lý ngành nông nghiệp, áp dụng vào nghiên cứu địa bàn huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
- Đánh giá các nguồn lực cho phát triển sản nông nghiệp (theo nghĩa rộng) huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
- Phân tích thực trạng sản xuất nông nghiệp huyện Bình Gia giai đoạn
2000 -2010
- Đề xuất một số giải pháp góp phần đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
3 Giới hạn của đề tài
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Bình Gia theo nghĩa rộng (Nông - Lâm - Ngư nghiệp) ở các khía cạnh sau:
+ Đánh giá các nguồn lực phát triển nông nghiệp huyện Bình Gia
+ Phân tích thực trạng sản xuất, cơ cấu ngành, sự phân hoá lãnh thổ sản xuất nông nghiệp huyện Bình Gia
- Về phạm vi lãnh thổ: Toàn lãnh thổ huyện Bình Gia, có sự phân hoá đến cấp thị trấn, xã
- Về thời gian nghiên cứu: Sử dụng số liệu từ năm 2000 đến 2010, định hướng đến năm 2020
Trang 11III LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất từ lâu đời, với chức năng quan trọng là cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người Kinh tế ngày càng phát triển trong cơ cấu kinh tế xuất hiện thêm nhiều ngành mới nhưng vai trò của ngành nông nghiệp không hề suy giảm mà ngày càng khẳng định vai trò của mình trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Nông nghiệp và các khía cạnh của nông nghiệp đã được đề cập trong
rất nhiều công trình nghiên cứu như: Địa lý kinh tế - xã hội đại cương của
Nguyễn Minh Tuệ, Nguyễn Viết Thịnh - Lê Thông - NXB ĐHSP Hà Nội;
Giáo trình địa lý kinh tế xã hội Việt Nam của Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị
Minh Đức - NXB giáo dục 2003; Địa lý kinh tế xã hội Việt Nam của Lê
Thông - NXB ĐHSP 2004 Các tác phẩm này đã đề cập đến địa lí nông nghiệp, vai trò, các nhân tố ảnh hưởng, đặc điểm phát triển và phân bố của sản xuất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam Đó là những vấn đề cơ sở lí luận rất quan trọng cho việc nghiên cứu địa lý nông nghiệp vào một lãnh thổ
cụ thể như huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
Cuốn Kinh tế nông nghiệp của Vũ Đình Thắng - NXB ĐHKTQD, 2006
đề cập đến hệ thống kinh tế nông nghiệp Việt Nam, những cơ sở lý thuyết kinh tế học về nông nghiệp, sử dụng các yếu tố nguồn lực trong nông nghiệp, sản xuất hàng hóa và chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp, thâm canh nông nghiệp, thị trường và phân tích thị trường nông nghiệp, kinh tế học cung cầu
và sự cân bằng thị trường nông sản, kinh tế sản xuất ngành trồng trọt và chăn nuôi Đó là những cơ sở lí luận rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn
Công trình Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam của Đặng Văn Phan
- NXBGD, 2008 đề cập đến khái niệm, các nhân tố và các hình thức tổ chức
Trang 12lãnh thổ nông nghiệp, tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam…đó là những
cơ sở quan trọng để đề tài đưa ra những phân tích, những nhận định về thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trên địa bàn huyện Bình Gia
Các luận văn về địa lý nông nghiệp: Bùi Thị Liên Địa lý nông nghiệp
tỉnh Thanh Hoá Luận văn thạc sĩ khoa học địa lý - ĐHSP Hà Nội, 2005
Hoàng Thị Việt Hà Địa lý nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp Luận văn thạc sĩ
khoa học địa lý - ĐHSP Hà Nội, 2009…Các đề tài này đề cập đến một số vấn
đề địa lý nông nghiệp của các lãnh thổ cấp tỉnh khác nhau ở Việt Nam
Trên địa bàn tỉnh Lạng sơn có các đề tài: Thực trạng phát triển nông
nghiệp huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn của Nông Ngọc Lan (2006); Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn làm căn cứ xây dựng quy hoạch phát triển vùng trồng hồi thuộc huyện Văn Quan - tỉnh Lạng Sơn của Du Đức Hướng
(2004)…Các luận văn trên cũng đã nghiên cứu về một địa bàn cụ thể thuộc tỉnh Lạng Sơn, tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu về địa bàn huyện Bình Gia
Dựa trên những vấn đề lí luận, những nghiên cứu thực tiễn về nông nghiệp, đề tài “Phát triển nông nghiệp huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2000 - 2010” sẽ có điều kiện để vận dụng, kế thừa các công trình để áp dụng nghiên cứu nguồn lực, thực trạng phát triển nông nghiệp của huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, từ đó đề ra các giải pháp và định hướng phát triển ngành nông nghiệp của huyện đến năm 2020
IV QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Quan điểm
1.1 Quan điểm lãnh thổ
Bất kì sự vật, hiện tượng địa lý nào cũng tồn tại trên một lãnh thổ nhất định Tìm ra sự phân bố, giải thích nguyên nhân và dự kiến sự phân hoá ấy trong tương lai là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nghiên cứu địa lý
Trang 13Quan điểm lãnh thổ được vận dụng trong nghiên cứu thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Bình Gia, nhằm đánh giá tác động của các điều kiện
tự nhiên và các điều kiện kinh tế - xã hội đến sự phát triển nông nghiệp của huyện Những khó khăn, hạn chế và biện pháp khắc phục
1.2 Quan điểm tiếp cận hệ thống
Quan điểm này cho phép xem xét lãnh thổ nghiên cứu là một hệ thống với nhiều khía cạnh có quy mô, bản chất khác nhau, cùng tồn tại trong mối quan hệ tác động qua lại, mặt khác lãnh thổ đó lại là một bộ phận của hệ thống cấp cao hơn và có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác
Quan điểm tiếp cận hệ thống xem Bình Gia là một bộ phận trong hệ thống cấu thành lãnh thổ sản xuất lớn hơn là tỉnh Lạng Sơn và vùng Trung du miền núi bắc bộ Huyện Bình Gia là một hệ thống Kinh tế - xã hội được tạo bởi mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên, kinh tế, dân cư, xã hội, hệ thống các ngành kinh tế…trong đó có nông nghiệp Trong nông nghiệp lại bao gồm các bộ phận như nông, lâm, ngư nghiệp chúng tồn tại trong mối quan
hệ tác động qua lại lẫn nhau Bất kì sự thay đổi của thành phần nào cũng sẽ làm ảnh hưởng đến các thành phần khác và toàn bộ hệ thống kinh tế - xã hội nói chung
1.3 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Các quá trình kinh tế - xã hội không ngừng vận động trong không gian, biến đổi theo thời gian Thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Bình Gia là một quá trình vận động và phát triển Sự phát triển của nông nghiệp huyện hiện tại là kết quả của các quá trình trước đó, đồng thời cũng là cơ sở để phát triển nó trong tương lai
Vận dụng quan điểm lịch sử viễn cảnh trong nghiên cứu thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Bình Gia giai đoạn 2000 - 2010 để xem xét sự biến đổi của nó theo không gian, thời gian, rút ra những quy luật chung về sự phát
Trang 14triển ngành, đánh giá đúng hiện trạng, đồng thời đề ra được những giải pháp tối ưu cho sự phát triển trong giai đoạn tiếp theo…
1.4 Quan điểm sinh thái, phát triển bền vững
Phát triển bền vững là xu hướng tất yếu của nhân loại hiện nay Đối với sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa vào tự nhiên, sự phát triển của nông nghiệp càng mạnh mẽ thì tác động vào tự nhiên càng lớn, vì vậy vấn đề bảo vệ môi trường, phát triển bền vững là rất quan trọng
Phát triển bền vững vừa là quan điểm, vừa là mục tiêu nghiên cứu, thể hiện ở việc đạt được hiệu quả cao trên cả ba phương diện Kinh tế - Xã hội và Môi trường Cụ thể về kinh tế, phải đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và
ổn định; Về xã hội phải đảm bảo vấn đề lương thực, xoá đói giảm nghèo; Về môi trường phải đảm bảo đa dạng sinh học, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, chống suy thoái và ô nhiễm môi trường
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Phương pháp thu thập, phân tích tài liệu
Việc nghiên cứu đề tài được thực hiện dựa trên nhiều nguồn tài liệu, số liệu, do vậy phương pháp thu thập, phân tích tài liệu là rất quan trọng và cần thiết Trên cơ sở nguồn tài liệu thu thập được, đã tiến hành xử lí, đối chiếu, so sánh để có được những tài liệu tin cậy nhất, đảm bảo tính thống nhất đồng bộ và cập nhật nhằm đưa ra những đánh giá chính xác về thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Bình Gia giai đoạn 2000 - 2010 và định hướng đến năm 2020
2.2 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa
Là phương pháp đặc trưng trong nghiên cứu địa lý Điều tra khảo sát thực địa nhằm đối chiếu số liệu đã thu thập được và bổ sung những thông tin
từ thực tế cho những nhận xét đã được đưa ra trước đó Vậy việc tiến hành điều tra và khảo sát thực địa là một yêu cầu cần thiết để đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Bình Gia
Trang 152.3 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Nghiên cứu thực trạng phát triển nông nghiệp huyện Bình Gia cần phải
so sánh, phân tích, tổng hợp đối chiếu với các huyện khác trong tỉnh Lạng Sơn để thấy rõ những điểm chung, xu hướng phát triển cũng như mối quan hệ giữa chúng Nhờ phân tích, so sánh mà thấy được sự thay đổi giữa các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, giữa các xã trong huyện trong những năm qua Sau khi phân tích, so sánh cần tiến hành tổng hợp để có cái nhìn tổng quát về đối tượng nghiên cứu và đưa ra những đánh giá đúng đắn theo mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.4 Phương pháp bản đồ, biểu đồ và hệ thống thông tin địa lí (GIS)
Bản đồ là “ngôn ngữ” tổng hợp, ngắn gọn, xúc tích đồng thời là phương tiện trực quan hoá các yếu tố địa lí tự nhiên và kinh tế - xã hội của các lãnh thổ Sử dụng bản đồ là phương pháp truyền thống và đặc trưng của địa lí Trong quá trình nghiên cứu sử dụng kiến thức về bản đồ để thành lập các bản đồ cần thiết khi nghiên cứu
Phương pháp bản đồ, biểu đồ được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu Biểu đồ được sử dụng để phản ánh quy mô, cơ cấu, động lực của các sự vật, hiện tượng và các quá trình địa lí kinh tế - xã hội theo thời gian và không gian
Trang 16VI CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung gồm 3 chương:
Chương I Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp
Chương II Nguồn lực và thực trạng phát triển nông nghiệp huyện
Bình Gia giai đoạn 2000-2010
Chương III Định hướng và giải pháp phát triển nông nghiệp huyện
Bình Gia đến năm 2020
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Vai trò của sản xuất nông nghiệp
1.1.1.1 Nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm cho con người
Sự tồn tại của xã hội loài người phụ thuộc trước hết vào nguồn lương thực thực phẩm, những sản phẩm này chỉ có được từ sản xuất nông nghiệp
Xã hội ngày càng phát triển, dân số ngày càng tăng, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp ảnh hưởng không nhỏ đến việc cung cấp lương thực thực phẩm cho con người, đặt loài người trước vấn đề an ninh lương thực, đây
là vấn đề quan trọng không chỉ của một quốc gia mà là vấn đề của tất cả các nước trên thế giới, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia
Nền kinh tế của một quốc gia chỉ có thể phát triển một cách bền vững khi quốc gia đó giải quyết tốt vấn đề lương thực Vì vậy nông nghiệp phải được đặt lên hàng đầu, phải được quan tâm phát triển trước các ngành kinh tế khác
Không ít ý kiến cho rằng vấn đề lương thực có thể được giải quyết bằng cách nhập khẩu, việc nhập khẩu lương thực chỉ phù hợp ở một số nước
có nền kinh tế phát triển, còn các nước đang phát triển việc nhập khẩu lương thực với chi phí cao sẽ làm thiếu hụt ngân sách để phát triển kinh tế Vậy để đảm bảo tốt vấn đề lương thực, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, thì nông nghiệp là lựa chọn hàng đầu
1.1.1.2 Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp
Nông nghiệp tạo ra một khối lượng sản phẩm lớn cung cấp cho nhu cầu của người dân, bên cạnh đó nông nghiệp cũng là nguồn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến LTTP và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, sự
Trang 18phát triển của các ngành này phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của sản xuất nông nghiệp, ngược lại công nghiệp chế biến LTTP và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng phát triển sẽ làm cho giá trị của nông sản tăng lên, thời gian sử dụng được kéo dài hơn… thúc đẩy nông nghiệp phát triển cả về quy mô và cơ cấu
Nông nghiệp ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố các ngành công nghiệp chế biến, các ngành công nghiệp chế biến thường gắn liền với các vùng nông sản phong phú
Ở các nước đang phát triển công nghiệp chế biến LTTP và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng là những ngành đóng vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế trong nước và cơ cấu hàng xuất khẩu, vì vậy, nông nghiệp rất được chú trọng phát triển
1.1.1.3 Nông nghiệp tạo nhiều việc làm, thu hút lao động, đồng thời là khu vực cung cấp lao động cho nhu cầu tái sản xuất mở rộng của các ngành kinh
Trang 191.1.1.4 Nông nghiệp cung cấp nguồn vốn lớn cho phát triển kinh tế
Nông nghiệp cung cấp nguồn hàng hoá lớn cho xuất khẩu, mang lại nguồn thu đáng kể cho nền kinh tế Ở nhiều nước trên thế giới việc xuất khẩu nông sản để thu ngoại tệ nhằm ổn định đời sống nhân dân và nhập khẩu tư liệu sản xuất, nhất là máy móc trang thiết bị trở thành việc làm thường xuyên
và cần thiết Các sản phẩm nông - lâm - thuỷ sản thô hoặc đã qua chế biến trở thành thế mạnh của các nước đang phát triển
Sự chuyển dịch vốn từ nông nghiệp sang các ngành kinh tế khác Vốn của nông nghiệp được lấy từ nhiều nguồn khác nhau: Thuế đất, thuế nông sản, thuế nhập khẩu TLSX…Ở các nước, trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế nguồn vốn đầu tư cho phát triển kinh tế chủ yếu lấy từ nông nghiệp, thông qua việc xuất khẩu nông sản thô hoặc nông sản sơ chế vì giai đoạn này nguồn vốn đầu tư và hỗ trợ từ nước ngoài rất ít, các nước phải tự huy động vốn từ trong nước Vì vậy nông nghiệp ở giai đoạn này là nguồn tiết kiệm, đầu tư chủ yếu cho phát triển kinh tế
1.1.1.5 Nông nghiệp và nông thôn là thị trường lớn của các ngành kinh tế khác
Nông nghiệp, nông thôn và nông dân là một vấn đề lớn ở các nước đang phát triển Khu vực này có số dân đông vừa là khu vực cung cấp lực lượng lao động lớn cho phát triển kinh tế, vừa là thị trường tiêu thụ lớn sản phẩm của các ngành kinh tế khác Nên có thể khẳng định nông nghiệp vừa là đầu vào, vừa là đầu ra của các ngành kinh tế khác
1.1.1.6 Nông nghiệp có vai trò giữ gìn bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Sản xuất nông nghiệp luôn gắn liền với việc sử dụng hợp lí và bảo vệ các nguồn tài nguyên đất, nước, sinh vật Hiện nay phát triển nông nghiệp bền vững trở thành mục tiêu lớn của tất cả các quốc gia trên thế giới, để đạt được mục tiêu đó thì phát triển nông nghiệp phải đi đôi với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường
Trang 201.1.2 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
1.1.2.1 Đất trồng là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế
Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt nông nghiệp với công nghiệp, trong công nghiệp đất đai là nơi để xây dựng nhà xưởng Trong nông nghiệp đất đai là TLSX chủ yếu, không thể có sản xuất nông nghiệp nếu không có đất đai, đất vừa là TLSX vừa là đối tượng lao động Con người tiến hành cải tạo đất làm cho đất tơi xốp hơn, nâng cao độ phì của đất để tiến hành trồng trọt và chăn nuôi
Đất đai còn ảnh hưởng đến quy mô, cơ cấu, phương hướng sản xuất, mức độ thâm canh và tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng tuy nhiên nó không phải là tài nguyên vô tận nên trong quá trình khai thác cần phải sử dụng hợp lí, bảo vệ đất, thường xuyên nâng cao độ phì của đất
1.1.2.2 Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các cơ thể sống, đó là các cây trồng, vật nuôi Chúng sinh trưởng và phát triển theo các quy luật sinh học và chịu tác động của các quy luật tự nhiên Sự sinh trưởng và phát triển của các cây trồng, vật nuôi tồn tại độc lập với ý muốn chủ quan của con người, vì vậy
để đạt được năng suất cao trong sản xuất nông nghiệp con người phải nhận thức đúng đắn về các quy luật tự nhiên và quy luật sinh học
Bên cạnh việc nắm vững các quy luật trên thì việc lựa chọn giống cây trồng, vật nuôi tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái nông nghiệp của mỗi vùng, mỗi địa phương là rất quan trọng, quyết định khốí lượng và chất lượng sản phẩm đầu ra
1.1.2.3 Sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ
Đây là đặc trưng riêng biệt của sản xuất nông nghiệp, do đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các cơ thể sống, chúng tồn tại và phát triển theo các quy luật riêng vì thế sinh ra tính thời vụ
Trang 21Tính thời vụ biểu hiện ở thời gian sản xuất và thời gian lao động trong nông nghiệp không trùng khớp nhau Thời gian sản xuất là thời gian mà đối tượng sản xuất nằm trong chu kì sản xuất, thời gian lao động là thời gian mà người lao động tác động vào đối tượng lao động Thời gian sản xuất luôn kéo dài hơn thời gian lao động do các cây trồng, vật nuôi trong quá trình phát triển
có lúc cần tác động của con người, có lúc không cần tác động mà phát triển theo quy luật riêng của nó
Để khắc phục tính mùa vụ trong nông nghiệp phải xây dựng cơ cấu nông nghiệp hợp lí, đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, tiến hành xen canh, gối vụ, tăng vụ…
1.1.2.4 Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên
Do đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống, chịu tác động của điều kiện tự nhiên như đất, nước, khí hậu… nên sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên Các yếu tố tự nhiên có ý nghĩa quyết định về mặt tự nhiên đối với việc nuôi trồng các loại cây, con cụ thể
Để sản xuất nông nghiệp phát triển cần phải hiểu rõ điều kiện tự nhiên của các địa phương, đồng thời tăng cường các biện pháp khoa học kĩ thuật để giảm bớt sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên trong sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy nông nghiệp phát triển và phân bố một cách hợp lí
1.1.2.5 Trong nền kinh tế hiện đại nông nghiệp trở thành ngành sản xuất hàng hoá
Vai trò quan trọng của nông nghiệp là nhằm đảm bảo cung cấp lương thực thực phẩm cho con người, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay việc hình thành các vùng chuyên môn hoá nông nghiệp, kết hợp nông nghiệp với công nghiệp chế biến làm cho các sản phẩm nông nghiệp được nâng cao về giá trị, trở thành mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ
Trang 221.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố nông nghiệp
1.1.3.1 Vị trí địa lý
Vị trí địa lý cùng với khí hậu, thổ nhưỡng quy định sự có mặt của các hoạt động nông nghiệp Ở các vùng khí hậu khác nhau nông nghiệp sẽ có đặc điểm khác nhau Chẳng hạn vùng có khí hậu nhiệt đới với nhiệt độ cao, độ ẩm lớn, mưa nhiều thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp lúa nước, các nước nằm ở khu vực có khí hậu ôn đới thuận lợi phát triển các loại cây trồng ưa khí hậu lạnh
Vị trí địa lý gần hay xa đại dương cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nông nghiệp Với vị trí địa lí giáp biển ở phía đông tạo cho khí hậu Việt Nam mang tính chất hải dương điều hoà hơn các khu vực khác, là điều kiện thuận lợi để phát triển một nền nông nghiệp lúa nước, phát triển các ngành kinh tế biển, trong đó có ngành thuỷ sản, ngoài ra còn thuận lợi trong việc giao lưu phát triển kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới,
mở rộng thị trường tiêu thụ Các nước nằm sâu trong lục địa ví dụ như Lào không thể có các ngành này trong cơ cấu ngành nông nghiệp, cũng như khó khăn trong việc giao lưu kinh tế với các nước khác bằng đường biển
1.1.3.2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Trang 23Đất đai ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp thông qua quỹ đất, tính chất, độ phì của đất Quỹ đất rộng hay hẹp ảnh hưởng đến quy
mô, hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp Tính chất, độ phì của đất ảnh hưởng đến việc lựa chọn các loại cây trồng, vật nuôi phù hợp
Thực tế ở các vùng đồng bằng đất phù sa màu mỡ là điều kiện thuận lợi
để phát triển ngành nông nghiệp lúa nước, cây thực phẩm, các loại cây ngắn ngày, chăn nuôi lơn, gia cầm Vùng núi chủ yếu là đất feralit thuận lợi để phát triển chăn nuôi gia súc lớn, hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp
và cây ăn quả
Đất đai rất quan trong đối với sản xuất nông nghiệp và nó không phải là nguồn tài nguyên vô tận Vì vậy trong quá trình khai thác cần phải sử dụng hợp lí và bảo vệ tài nguyên đất
Ở đới khí hậu nhiệt đới nhiệt độ cao, độ ẩm lớn, mưa nhiều thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi sinh trưởng và phát triển quanh năm, thực hiện các biện pháp thâm canh, tăng vụ Ở đới khí hậu ôn đới có mùa đông lạnh kéo dài, cây trồng hạn chế phát triển vào mùa đông
Dựa vào đặc điểm khí hậu của mỗi vùng, mỗi địa phương để xác định
cơ cấu cây trồng, vật nuôi, khả năng xen canh, tăng vụ…để ngành nông nghiệp đạt được hiệu quả cao nhất
Trang 24d Nguồn nước
“Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” là câu nói quen thuộc đối với mỗi người Việt Nam Trong sản xuất nông nghiệp nước luôn được đặt lên vị trí hàng đầu Thực tế đã chứng minh nơi có các con sông lớn chảy qua, nguồn nước dồi dào là những vùng nông nghiệp trù phú, ngược lại những vùng khô hạn, khan hiếm nước, nông nghiệp ít có khả năng phát triển Việt Nam nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới, mưa theo mùa, để đảm bảo nước cho sản xuất nông nghiệp phải gắn liền với việc xây dựng các công trình thuỷ lợi để tưới nước vào mùa khô và tiêu nước vào mùa mưa
Nước trong sản xuất nông nghiệp được lấy từ nhiều nguồn khác nhau chủ yếu từ nước trên mặt và nước ngầm Tuy được xác định là nguồn tài nguyên vô tận nhưng nguồn nước trên trái đất phân bố không đều, nước ở nhiều khu vực đang bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng đặt loài người trước vấn đề sử dụng hợp lí và bảo vệ tài nguyên nước
e Sinh vật
Sinh vật ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố nông nghiệp Các loài động, thực vật hoang dã trong tự nhiên xưa kia là cơ sở để lai tạo các giống cây trồng, vật nuôi Sự đa dạng về giống, loài cây, con là tiền đề để hình thành và phát triển các giống cây trồng, vật nuôi, tạo khả năng chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp thích hợp với những điều kiện sinh thái khác nhau Ngoài ra các đồng cỏ, các bãi chăn thả, diện tích mặt nước còn là cơ sở thức ăn cho ngành chăn nuôi
Có thể nói điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển và phân bố nông nghiệp, ảnh hưởng tới việc xác định các loại cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái của mỗi vùng, lãnh thổ và khả năng áp dụng các biện pháp khoa học kĩ thuật để tạo ra sản phẩm
Trang 251.1.3.3 Các nhân tố kinh tế xã hội
a Dân cư và nguồn lao động
Dân cư ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp theo hai hướng, vừa là lực lượng sản xuất trực tiếp, vừa là lực lượng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp
Dân cư với tư cách là lực lượng sản xuất trực tiếp thì số lượng và chất lượng nguồn lao động có ảnh hưởng tới phát triển nông nghiệp theo cả chiều rộng (mở rộng diện tích, quy mô sản xuất) và chiều sâu (thâm canh, tăng vụ) Chính sức lao động của con người là lực lượng sản xuất chủ yếu trong hầu hết các khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp Trong sản xuất nông nghiệp có nhiều khâu không thể tự động hoá bằng máy móc như công nghiệp mà phải thực hiện bằng chân tay, đó là điểm khác biệt giữa sản xuất nông nghiệp với công nghiệp Vì vậy, kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp của dân cư có tác động rất quan trọng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp…Trước đây dân
cư đông tạo nên lực lượng lao động lớn phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, hiện nay nông nghiệp được cơ giới hoá, hiện đại hoá lực lượng lao động trong nông nghiệp giảm xuống đáng kể thì chất lượng lao động được đặt lên hàng đầu, lực lượng lao động có trình độ cao, có khả năng áp dụng khoa học kĩ thuật trong sản xuất nông nghiệp sẽ góp phần nâng cao năng suất, sản lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp
Dân cư với tư cách là lực lượng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Quy
mô dân số ngày càng đông thì nhu cầu về lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng ngày càng lớn thúc đẩy nông nghiệp phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của dân cư Vì vậy quy mô dân số ảnh hưởng đến quy mô sản xuất nông nghiệp, ngoài ra tập quán tiêu dùng cũng ảnh hưởng tới việc lựa chọn các loại cây trồng, vật nuôi trong sản xuất nông nghiệp
b Khoa học công nghệ và công nghiệp chế biến
Khoa học công nghệ được coi là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy nông nghiệp phát triển, nhờ áp dụng các thành tựu KHCN trong sản xuất nông
Trang 26nghiệp đã giảm bớt được lao động thủ công, nâng cao năng suất, sản lượng
…trong nông nghiệp, khắc phục những hạn chế về tự nhiên
Việc đẩy mạnh công nghiệp chế biến góp phần nâng cao giá trị các loại nông sản, thúc đẩy việc hình thành các vùng chuyên canh với quy mô lớn, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hang hoá, hướng ra xuất khẩu
c Nguồn vốn
Nguồn vốn là nhân tố đóng vai trò quan trọng tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước, trong đó vốn đầu tư là cơ sở để tạo ra vốn sản xuất, tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế, là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học - công nghệ, góp phần vào phát triển kinh tế theo chiều sâu, hiện đại hóa quá trình sản xuất Bên cạnh đó việc tăng vốn đầu tư cũng phần nào giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động khi mở ra các công trình xây dựng và mở rộng quy mô sản xuất, là điều kiện quan trọng tác động vào việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế đất nước
Vốn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nói chung, phát triển và nông nghiệp nói riêng Đặc biệt với các nước đang phát triển như Việt Nam, nguồn vốn đầu tư vào sản xuất lớn sẽ tạo điều kiện cho việc áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, thúc đẩy nông nghiệp phát triển cả chiều rộng và chiều sâu
d Quan hệ sở hữu và chính sách nông nghiệp
Quan hệ sở hữu và chính sách nông nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa chọn các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp và xác định mục tiêu phát triển nông nghiệp trong từng giai đoạn Sự điều hành vĩ mô của nhà nước với các chính sách, chế độ, biện pháp đúng đắn sẽ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển Ngược lại, nếu hệ thống chính sách không phù hợp sẽ kìm hãm, thậm chí đẩy lùi quá trình phát triển nông nghiệp
Việc đảm bảo sự phát triển hài hoà, cân đối của nông nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân đòi hỏi nhà nước phải xác định mục tiêu, chiến lược cho từng giai đoạn cụ thể
Trang 27e Thị trường tiêu thụ
Thị trường tiêu thụ là yếu tố đầu ra tác động đến quy mô, cơ cấu, định hướng phát triển nông nghiệp Thị trường có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm nông nghiệp phát triển Nhu cầu của thị trường quyết định hướng sản xuất nông nghiệp, thị trường luôn biến động vì vậy trong sản xuất nông nghiệp phải thường xuyên cập nhật và thay đổi sao cho phù hợp với nhu cầu của thị trường, vì những biến động trên thị trường đều có tác động tích cực và tiêu cực đến hoạt động sản xuất nông nghiệp
Thị trường cũng có tác dụng điều tiết đối với sự hình thành và phát triển các vùng chuyên môn hoá nông nghiệp Xung quanh các thành phố lớn đều hình thành các vành đai nông nghiệp ngoại thành với hướng chuyên môn hoá là thịt, sữa, trứng, rau xanh, dù ở những nơi đó điều kiện tự nhiên không thật thuận lợi Điều đó chỉ có thể lí giải bằng nhân tố thị trường tiêu thụ
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá phát triển nông nghiệp cấp huyện
1.1.4.1 Quy mô giá trị sản xuất nông nghiệp, tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp so với tổng giá trị sản xuất toàn ngành kinh tế
Giá trị sản xuất nông nghiệp là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành nông nghiệp dưới dạng sản xuất vật chất
và dịch vụ trong một thời gian nhất định, thường là một năm Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp bao gồm kết quả hoạt động của các ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ sản xuất nông nghiệp
Tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp so với tổng giá trị sản xuất toàn ngành kinh tế là tương quan so sánh giữa tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp với các ngành công nghiệp và dịch vụ Xu hướng chung hiện nay là giảm tỷ trọng của nông nghiệp, tăng tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ Tuy tỷ trọng của nông nghiệp có giảm nhưng nhờ áp dụng các thành tựu KHKT nên giá trị sản xuất ngành nông nghiệp vẫn tăng
Trang 281.1.4.2 Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp
Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp là chỉ tiêu phản ánh mức độ phát triển và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, so với các ngành công nghiệp và dịch vụ Tốc độ tăng GTSX nông nghiệp thường thấp hơn vì nông nghiệp phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên có nhiều biến động, rủi ro
Tốc độ tăng GTSX nông nghiệp còn phản ánh trình độ cơ giới hoá, hiện đại hoá và hiệu quả của việc ứng dụng KHCN trong sản xuất nông nghiệp
Để tính tốc độ tăng GTSX nông nghiệp, người ta lấy giá so sánh của một năm cố định và tính sự tăng trưởng so với năm gốc
1.1.4.3 Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp theo ngành
Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp theo nghĩa rộng, là tương quan về
tỷ trọng GTSX nông nghiệp giữa các ngành nông - lâm - ngư nghiệp trong tổng thể hoạt động kinh tế nông nghiệp, thể hiện mối quan hệ tác động qua lại
cả về số lượng và chất lượng giữa các bộ phận với nhau Các mối quan hệ này được hình thành trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định, luôn vận động và hướng vào những mục tiêu cụ thể
Bảng 1.1: Cơ cấu ngành nông nghiệp
- Dịch vụ thuỷ sản
Cơ cấu nông nghiệp nói chung và cơ cấu GTSX nông nghiệp nói riêng đang chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành ngư nghiệp
Trong nông nghiệp, giảm tỷ trọng của ngành trồng trọt, tăng tỷ trọng của ngành chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp
Trang 29Trong ngư nghiệp, giảm tỷ trọng của ngành đánh bắt thuỷ sản, tăng tỷ trọng của nuôi trồng và dịch vụ thuỷ sản
Trong lâm nghiệp, giảm tỷ trọng của ngành khai thác rừng, tăng tỷ trọng của ngành trồng rừng, ưu tiên phát triển và bảo vệ tài nguyên rừng
Như vậy, chỉ tiêu GTSX nông nghiệp và cơ cấu GTSX nông nghiệp phản ánh sự tăng lên về số lượng và sự chuyển biến về chất lượng trong phát triển nông nghiệp
1.1.4.4 Năng suất lao động nông nghiệp
Năng suất lao động nông nghiệp là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của việc
sử dụng lao động và khả năng áp dụng khoa học kĩ thuật trong sản xuất nông nghiệp
Năng suất lao động nông nghiệp so với công nghiệp và dịch vụ thường thấp hơn vì nông nghiệp có thời gian lao động ngắn do tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp quy định Tuy nhiên, hiện nay việc áp dụng KHKT trong nông nghiệp ngày càng được đẩy mạnh phát triển nên GTSX nông nghiệp ngày càng tăng nhanh
1.1.4.5 Giá trị được tạo ra trên một ha đất nông nghiệp
Đây là chỉ tiêu cụ thể phản ánh hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, thể hiện khả năng tăng năng suất bằng việc áp dụng các biện pháp KHKT, cải tiến
kĩ thuật sản xuất, cải tạo đất Có thể nói tiềm năng về diện tích cũng như độ phì tự nhiên của đất là có hạn, vậy nên trên cùng một diện tích đất nông nghiệp, giá trị sản phẩm nông nghiệp được tạo ra càng nhiều khi càng sử dụng
có hiệu quả các biện pháp KHKT, thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất và việc lựa chọn cơ cấu cây trồng vật nuôi hợp lí Chính vì vậy ở các nước phát triển tuy diện tích đất nông nghiệp không còn nhiều và ngày càng bị thu hẹp nhưng giá trị mà ngành nông nghiệp tạo ra lại ngày càng tăng, đó chính là kết quả của sự phát triển một nền nông nghiệp hiện đại
Trang 30Giá trị được tạo ra trên một ha đất nông nghiệp được tính bằng: GTSX/ha đất nông nghiệp (Triệu đồng/ha)
1.1.4.6 Năng suất lao động nông nghiệp
Năng suất lao động nông nghiệp được tính bằng: Giá trị sản xuất/số lao động trong nông nghiệp (triệu đồng/người)
Năng suất lao động nông nghiệp là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của việc sử dụng lao động và khả năng áp dụng KHKT trong sản xuất nông nghiệp Hoạt động sản xuất nông nghiệp cần nhiều sức lao động của con người nhưng giá trị tạo ra lại không cao nên năng suất lao động trong nông nghiệp thường thấp hơn nhiều so với các ngành kinh tế khác Mặt khác, tỷ lệ thời gian sử dụng trong lao động nông nghiệp cũng thấp hơn so với trong công nghiệp và dịch
vụ do tính chất thời vụ của sản xuất nông nghiệp Mức độ áp dụng KHKT càng cao thì GTSX được tạo ra trong nông nghiệp ngày càng tăng mặc dù lao động trong nông nghiệp ngày càng giảm
1.1.5 Các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp
Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp được hiểu là một hệ thống liên kết không gian của các ngành, các xí nghiệp nông nghiệp và các lãnh thổ dựa trên cơ sở các qui trình kỹ thuật mới nhất Chuyên môn hoá, tập trung hoá, liên hợp hoá
và hợp tác hoá sản xuất, cho phép sử dụng có hiệu quả nhất sự khác nhau theo lãnh thổ về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, nguồn lao động và đảm bảo năng suất lao động xã hội cao nhất
Một số hình thức TCLTNN phổ biến hiện nay
1.1.5.1 Hộ gia đình (nông hộ)
Hộ là một đơn vị kinh tế - xã hội tự chủ cùng một lúc thực hiện nhiều chức năng mà ở các đơn vị kinh tế khác không thể có được Hộ là một tế bào của xã hội với sự thống nhất của các thành viên có cùng huyết tộc, mà mỗi
Trang 31thành viên đều có nghĩa vụ và trách nhiệm làm tăng thu nhập, đảm bảo sự tồn tại Hộ còn là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng
Hộ gia đình có các đặc trưng cơ bản đất đai, qui mô canh tác nhỏ bé, biểu hiện rõ tính chất tiểu nông, vốn, đại bộ phận rất ít, qui mô thu nhập nhỏ, khả năng tích luỹ thấp làm hạn chế khả năng đầu tư tái sản xuất Vật tư được mua phục vụ cho sản xuất từ tiền bán nông phẩm, chủ yếu sử dụng lao động gia đình Sức lao động của nông hộ không phải hàng hoá, mà là tự phục vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của gia đình Kỹ thuật canh tác và công cụ sản xuất ít biến đổi, mang nặng tính truyền thống Quy mô sản xuất (đất đai, vốn, lao động) rất nhỏ bé
Đối với các nước đang phát triển, hộ gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn xã hội, phát triển kinh tế nông thôn, là cơ sở đảm bảo cho kinh tế tập thể tồn tại và thúc đẩy nông thôn quá độ tiến lên một trình độ cao hơn nông thôn sản xuất hàng hoá
1.1.5.2 Trang trại
Trang trại có nguồn gốc từ hộ gia đình được phát triển dần dần trong quá trình chuyển dịch của nền kinh tế tiểu nông tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hoá Trang trại là kết quả tất yếu của hộ gia đình gắn với sản xuất hàng hoá, là hình thức tiến bộ của sản xuất nông nghiệp thế giới Hoạt động của kinh tế trang trại chịu sự chi phối của nền kinh tế thị trường và tuân theo qui luật cung cầu, chấp nhận cạnh tranh
Các đặc điểm nổi bật của trang trại được thể hiện ở mục đích chủ yếu của trang trại là sản xuất nông phẩm hàng hoá theo nhu cầu của thị trường Tư liệu sản xuất (đất đai) thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập Quy mô đất đai tương đối lớn Cách thức tổ chức sản xuất tiến
bộ, đẩy mạnh chuyên môn hoá sản xuất, tập trung vào những nông sản có lợi thế so sánh và khả năng sinh lợi cao hơn và vào việc thâm canh Ở các trang
Trang 32trại lao động trong gia đình không đáp ứng đủ yêu cầu sản xuất do quy mô lớn nên thường phải thuê mướn lao động
1.1.5.3 Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN)
Hợp tác xã nông nghiệp là hình thức phổ biến trong nền nông nghiệp thế giới ở cả các nước phát triển và đang phát triển HTXNN là một tổ chức kinh tế do nông dân tự nguyện lập ra với nguồn vốn hoạt động do chính họ góp cổ phần và huy động từ các nguồn khác, nhằm duy trì, phát triển kinh tế
hộ gia đình và tăng nhanh tỷ suất hàng hoá, đạt hiệu quả kinh tế cao cho các chủ trang trại
HTXNN là đòi hỏi tất yếu của nông dân vì trong cơ chế thị trường có nhiều thành phần, có cạnh tranh để tồn tại và phát triển, đòi hỏi các hộ gia đình, các chủ trang trại phải hợp tác với nhau trên các lĩnh vực cần thiết để đấu tranh bảo vệ lợi ích của chính mình Kinh tế hộ và trang trại càng phát triển thì nhu cầu hợp tác càng cao
Mục tiêu hoạt động của HTXNN không chỉ vì lợi nhuận cho các thành viên góp vốn vào HTX, mà là nhằm phục vụ tốt nhất các dịch vụ để mang lại thu nhập và lợi nhuận cao nhất cho các hộ, các chủ trang trại
Có hai loại hình HTXNN là HTX đơn ngành, phổ biến ở các nước Âu-
Mỹ, cung ứng từng loại dịch vụ; HTX đa ngành (hay tổng hợp), phổ biến ở các nước châu Á với nhiều loại dịch vụ
1.1.5.4 Nông trường quốc doanh (NTQD)
Là một hình thức phổ biến ở các nước XHCN, nông trường quốc doanh
là cơ sở kinh doanh nông nghiệp trên quy mô lớn về đất đai nhằm cung cấp nông sản cho thị trường trong nước hoặc cho xuất khẩu
NTQD được xem như là xí nghiệp nông nghiệp của nhà nước, thuộc thành phần kinh tế quốc doanh Quy mô đất đai lớn (tới vài trăm nghìn ha), được trang bị cơ sở vật chất kĩ thuật tốt, có hướng chuyên môn hoá rõ, khả
Trang 33năng cơ giới hoá cao Mỗi nông trường có bộ máy riêng về quản lí và điều hành sản xuất kinh doanh Lao động làm việc trong nông trường được gọi là công nhân nông nghiệp, được hưởng lương do nhà nước trả
1.1.5.5 Thể tổng hợp nông (TTHNN)
TTHNN là một hình thức cao của TCLTNN, trong đó áp dụng rộng rãi phương pháp công nghiệp và vì thế, nông nghiệp có điều kiện kết hợp với công nghiệp chế biến và các hoạt động dịch vụ
TTHNN là sự kết hợp chặt chẽ giữa các xí nghiệp nông nghiệp với các
xí nghiệp công nghiệp có mối liên hệ qua lại với nhau trên một lãnh thổ Bằng các qui trình công nghệ tiên tiến cho phép sử dụng có hiệu quả nhất vị trí địa
lí, các điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội sẵn có để đạt năng suất lao động xã hội cao nhất
Nông phẩm hàng hoá do TTHNN sản xuất ra được qui định bởi vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên và kinh tế- xã hội, các mối liên hệ qua lại giữa các xí nghiệp nông nghiệp với các xí nghiệp công nghiệp chế biến nông sản Hạt nhân của TTHNN là các xí nghiệp nông - công nghiệp và chúng thường được phân bố gần nhau về mặt lãnh thổ nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao nhất
TTHNN không phải được hình thành một cách tự phát Điều kiện bắt buộc đối với mọi TTHNN là sự có mặt của các xí nghiệp có liên quan chặt chẽ với nhau, qui định lẫn nhau và là cơ sở cho chuyên môn hoá của thể tổng hợp
1.1.5.6 Vùng nông nghiệp
Vùng nông nghiệp là hình thức cao nhất của TCLTNN, bao gồm trong
đó các hình thức tổ chức lãnh thổ ở cấp thấp hơn Thực chất, đây là những lãnh thổ sản xuất nông nghiệp tương đối đồng nhất về các điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, được hình thành với mục đích phân bố hợp lí và chuyên môn hoá đúng đắn sản xuất nông nghiệp trên cơ sở sử dụng đầy đủ và có hiệu quả
Trang 34nhất các điều kiện sản xuất của các vùng trong cả nước cũng như trong nội bộ từng vùng
Việc phân chia các vùng nông nghiệp có ý nghĩa to lớn nhằm phân bố hợp lí cây trồng, vật nuôi sao cho phù hợp với các điều kiện sinh thái nông nghiệp, điều kiện kinh tế - xã hội và hình thành các vùng chuyên môn hoá nông nghiệp sản xuất hàng hoá
Vùng nông nghiệp là một bộ phận lãnh thổ của đất nước bao gồm những lãnh thổ có sự tương đồng về: Điều kiện sinh thái nông nghiệp (điều kiện khí hậu, đất đai, nguồn nước ) Điều kiện kinh tế - xã hội (số lượng, chất lượng và sự phân bố dân cư, lao động nông nghiệp, kinh nghiệm và truyền thống sản xuất) Trình độ thâm canh, cơ sở vật chất kĩ thuật nông nghiệp, chế độ canh tác, cơ cấu sản xuất nông nghiệp, các sản phẩm chuyên môn hoá
Ở cấp huyện các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp phổ biến là hộ gia đình, hợp tác xã nông nghiệp và trang trại Hiện nay nông nghiệp ngày càng phát triển thúc đẩy việc hình thành nên các vùng chuyên canh
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Vài nét về phát triển nông nghiệp ở Trung du miền núi Bắc Bộ
Trung du miền núi Bắc Bộ (TDMNBB) là một trong bảy vùng kinh tế nước ta, có diện tích lãnh thổ rộng lớn trên 101.000 km2, chiếm khoảng 30,5% diện tích cả nước Dân số 11.169,3 nghìn người, chiếm 14,2% dân số
cả nước (2010)
Trung du miền Bắc Bộ gồm 15 tỉnh, thành là vùng có vị trí đặc biệt quan trọng Phía bắc giáp Trung Quốc, giao lưu thuận lợi bằng đường bộ, đường sắt qua các cửa khẩu Lào Cai, Lạng Sơn, Móng Cái… Phía tây giáp với thượng Lào, phía đông giáp với biển, phía nam giáp với Bắc Trung Bộ và Đồng bằng Sông Hồng thuận lợi giao lưu với các vùng trong nước và phát triển kinh tế biển
Trang 35Là vùng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế với những đặc điểm đặc trưng địa hình phân hoá đa dạng bao gồm núi cao, núi trung bình, núi thấp xen lẫn các cao nguyên, sơn nguyên đá vôi và đồi thấp, đất feralit hình thành trên đá vôi và các loại đá mẹ khác, khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa
có mùa đông lạnh, có sự phân hoá theo độ cao, nhiều sông lớn nguồn nước dồi dào Đặc biệt đây là vùng giàu khoáng sản nhất nước ta, cơ sở hạ tầng và
cơ sở vật chất kĩ thuật ngày càng được chú trọng phát triển… đó là điều kiện thuận lợi để TDMNBB phát triển kinh tế Tuy nhiên với đặc điểm nhiều núi cao giao thông đi lại khó khăn, mùa đông lạnh thường kèm theo sương muối, rét đậm rét hại gây ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống con người Cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng tuy đã được đầu tư phát triển nhưng chưa đồng bộ đó cũng là những hạn chế gây cản trở đến phát triển của vùng
Trong cơ cấu kinh tế của TDMNBB nông - lâm - ngư nghiệp chiếm vị trí quan trọng có ảnh hưởng lớn đến đời sống dân cư Hiện nay cơ cấu kinh tế đang có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng của khu vực I, tăng tỷ trọng của khu vực II và III Năm 2006 tỷ trọng của nông - lâm - ngư nghiệp còn cao, nông nghiệp chiếm 35,0%, công nghiệp 35,5%, dịch vụ 29,5% đến năm 2010 tỷ trọng của các khu vực đã có nhiều thay đổi nông nghiệp còn 26,6%, công nghiệp 37,4%, dịch vụ 36,0% Tuy nhiên sự chuyển dịch đó diễn ra còn chậm, chưa phát huy được hết thế mạnh của vùng
Với những thế mạnh về tự nhiên TDMNBB phát triển các ngành trồng
và chế biến cây công nghiệp, cây dược liệu, rau quả cận nhiệt và ôn đới, chăn nuôi gia súc lớn Với một số sản phẩm nổi tiếng như chè, các cây ăn quả như đào, mận, lê, cây dược liệu như tam thất, đương quy, hồi, thảo quả…
Ngành lâm nghiệp của vùng cũng có những tiến bộ đáng kể nhờ triển khai tích cực các dự án trồng, bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng… Nhiều
mô hình nông - lâm kết hợp đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân
Trang 36Trong vùng có vùng biển Quảng Ninh thuận lợi để phát triển tổng hợp kinh tế biển, đặc biệt trong những năm qua việc phát triển du lịch biển đem lại nguồn thu lớn cho tỉnh Quảng Ninh nói riêng và vùng TDMNBB nói chung
Có thể nói TDMNBB có nhiều thế mạnh để phát triển kinh tế, đặc biệt
là phát triển nông - lâm - ngư nghiệp, những thuận lợi đó đã được vùng khai thác tạo nên một nền nông nghiệp với cơ cấu sản phẩm khá đa dạng Tuy nhiên sự phát triển nông nghiệp của vùng chưa thật tương xứng với tiềm năng sẵn có, cơ cấu sản phẩm đa dạng nhưng chưa nhiều sản phẩm hàng hoá Để thúc đẩy ngành nông nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung của vùng phát triển cần phải có những định hướng và giải pháp đúng đắn trong thời gian tới
1.2.2 Khái quát về phát triển nông nghiệp ở Lạng Sơn
Trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Lạng Sơn hiện nay, xu hướng chung là giảm tỷ trọng của nông - lâm - ngư nghiệp, tăng tỷ trọng của công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, nhưng nông - lâm - ngư nghiệp vẫn đóng một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của tỉnh Tuy giảm về tỷ trọng nhưng nhờ áp dụng thành tựu KHKT nên giá trị sản xuất vẫn tăng lên
Bảng1 2: GDP ngành nông-lâm nghiệp- ngư nghiệp của tỉnh Lạng Sơn
Trang 37Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp giai đoạn 2001 -
2005 đạt 4,45%, giai đoạn 2006 - 2010 đạt 4,55%, cả giai đoạn 2001 - 2010 là 4,5% gấp 1,17 lần mức tăng chung của ngành nông - lâm - ngư nghiệp cả nước
Cơ cấu giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp trong tổng GDP của tỉnh đang sự chuyển dịch theo hướng CNH - HĐH, giai đoạn 2001-2010 tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp giảm từ 49,7% xuống 37,75% Sự chuyển dịch này diễn ra còn chậm so với sự chuyển dịch chung của vùng TDMNBB
Trong nôi bộ ngành nông - lâm - ngư nghiệp, nông nghiệp giảm dần nhưng vẫn chiếm ưu thế, giai đoạn 2005-2010 nông nghiệp giảm từ 77,8% xuống còn 75,9%, lâm nghiệp tăng từ 21,7% lên 23,8%, ngư nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ và giảm từ 05,% xuống 0,3% Theo hướng phát triển hiện nay Lạng Sơn tập trung vào khai thác hiệu quả các thế mạnh của tỉnh là phát triển ngành nông nghiệp và lâm nghiệp
* Ngành nông nghiệp
Nông nghiệp xu hướng giảm dần về tỷ trọng nhưng giá trị sản xuất vẫn tăng liên tục, năm 2000 đạt 819,6 tỷ đồng, năm 2005 tăng lên 1.402,5 tỷ đồng, năm 2010 đạt 3.295,2 tỷ đồng Trong cơ cấu ngành nông nghiệp trồng trọt chiếm ưu thế 73,49% (2010) và đang giảm dần
- Trồng trọt là ngành có thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh, dựa trên thế mạnh về đất, nước, khí hậu các loại cây trồng chủ yếu của tỉnh là cây lương thực như lúa, ngô, khoai, sắn, cây công nghiệp ngắn ngày như đậu tương, lạc, mía, thuốc lá, thạch đen, cây công nghiệp lâu năm là chè, cây đặc sản cây hồi, cây ăn qủa như na, hồng, quýt, mận…
- Ngành chăn nuôi chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu ngành nông nghiệp đang có xu hướng tăng dần Các vật nuôi chính như trâu, bò, lợn, dê, ngựa Hình thức nuôi chủ yếu là chăn nuôi theo hộ gia đình, quy mô nhỏ, nguồn vốn đầu tư ít
Trang 38Trong giai đoạn 2001 - 2010 số lượng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh có nhiều thay đổi Số lượng đàn trâu giảm từ 181.185 con xuống 157.280 con, do nhu cầu về sức kéo giảm Đàn bò tăng từ 45.275 con lên 46.980 con Đàn lợn tăng từ 304.421 con lên 392.103 con Đàn gia cầm tăng từ 3.495 000 con lên 3.790 000 con
* Ngành lâm nghiệp
- Là ngành có tỷ trọng lớn thứ hai sau nông nghiệp, đang có xu hướng tăng dần từ 21,7% lên 23,8% giai đoạn 2005 - 2010 Rừng tự nhiên 203.235,81 ha, chiếm 31,3% diện tích đất lâm nghiệp có rừng, rừng trồng 169.265,0 ha, chiếm 26,1% (2009)
Mặc dù giá trị sản phẩm lâm nghiệp trong tổng sản phẩm kinh tế của tỉnh không cao (chiếm tỉ trọng 8,1% trong nền kinh tế của tỉnh) nhưng đối với diện tích đất lâm nghiệp chiếm 77,8% tổng diện tự nhiên, lâm nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của khoảng 80% dân số toàn tỉnh
Rừng Lạng Sơn cùng với hệ thống rừng của vùng Đông Bắc, có chức năng phòng hộ đầu nguồn, điều tiết nguồn nước cho các thủy điện nhỏ, cung cấp nước cho các ngành nông nghiệp, thủy lợi, thủy sản, là lá chắn bảo vệ các công trình cơ sở hạ tầng, phòng chống lũ quét, sạt lở, xói mòn làm thoái hóa đất, bảo vệ môi trường sinh thái và là hệ thống bảo vệ an ninh chính trị khu vực biên giới
- Theo giá thực tế, năm 2000 giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp đạt 285,1 tỷ đồng, năm 2010 tăng lên 1033,3 tỷ đồng
- Giá trị sản xuất lâm nghiệp từ năm 2000 đến nay (theo giá so sánh 1994) phân theo ngành hoạt động tương đối ổn định
Năm 2000 tổng giá trị đạt 310.783 triệu đồng, trong đó giá trị khai thác 224.763 triệu đồng (67,9%), trồng rừng 85.000 triệu đồng (25,7%); dịch vụ lâm nghiệp khác 1.020 triệu đồng (6,4%)
Trang 39Năm 2009 tổng giá trị sản xuất đạt 366.191 triệu đồng, trong đó giá trị khai thác 281.424 triệu đồng (76,8%), trồng rừng 84.767 triệu đồng (23,1%)
Tỷ trọng giá trị sản xuất lâm nghiệp vẫn chủ yếu là khai thác lâm sản, giá trị trồng rừng và các dịch vụ khác không tăng mà có xu hướng giảm
Trong cơ cấu ngành thuỷ sản nuôi trồng chiếm ưu thế, giai đoạn 2001-
2010 nuôi trồng chiếm 80,13% tăng lên 81,71%, khai thác từ 19,87% giảm xuống 18,29% Ngành thuỷ sản đang thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng của nuôi trồng, giảm tỷ trọng của khai thác
Tiểu kết
Nông nghiệp là ngành có vị trí và vai trò quan trọng với nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, nhằm đảm bảo cung cấp lương thực thực phẩm cho số dân đông và ngày một tăng nhanh, cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp đặc biệt là công nghiệp chế biến, và là mặt hàng xuất khẩu
có giá trị
Đặc điểm nổi bật của sản xuất nông nghiệp là phụ thuộc vào điều kiện
tự nhiên, đối tượng sản xuất là các cây trồng, vật nuôi các cơ thể sống Do đó sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ, một đặc điểm đặc biệt quan trọng để phân biệt nông nghiệp với các ngành kinh tế khác đó là đất trồng là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế
Trang 40Do nông nghiệp mang những đặc điểm trên nên trong sản xuất nông nghiệp có các nhân tố ảnh hưởng như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội Trong các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp các nhân tố kinh tế xã hội có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp
Trung du miền núi Bắc Bộ là vùng có nhiều thế mạnh để phát triển nông nghiệp, trong những năm qua ngành nông nghiệp của vùng đã đạt được một
số thành tựu đáng kể, giá trị sản xuất nông nghiệp liên tục tăng, là vùng có các loại nông sản nổi tiếng, mang lại giá trị kinh tế cao như chè shan, chè tuyết, các loại cây ăn quả như đào, mận, lê, các loại cây dược liệu tam thất, đương quy, thảo quả, hồi không những cung cấp cho nhu cầu trong vùng, trao đổi với các vùng lân cận mà còn có giá trị xuất khẩu
Lạng sơn là một trong mười năm tỉnh, thành thuộc vùng TDMNBB Trong cơ cấu kinh tế của tỉnh nông nghiệp chiếm một vị trí rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân địa phương Hiện nay tỷ trọng nông nghiệp đang giảm dần nhưng vẫn chiếm 37,7% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, tuy giảm về tỷ trọng nhưng GTSX nông nghiệp giai đoạn 2000 - 2010 vẫn tăng từ 1.109,9 tỷ đồng lên 4.342,2 tỷ đồng Các sản phẩm nông nghiệp nổi tiếng như chè, hồi, na, hồng, mận, quýt trở thành mặt hàng có giá trị để trao đổi với các vùng trong cả nước và xuất khẩu
Có thể nói trong bất kì thời điểm nào, ở bất kì vùng lãnh thổ nào nông nghiệp luôn luôn chiếm một vị trí rất quan trọng, nhằm đảm bảo an ninh lương thực cho mỗi quốc gia, là nền tảng để phát triển kinh tế xã hội