VŨ THỊ ÁNH HUYỀN XÁC ĐỊNH MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA VI KHUẨN ESCHERICHIA COLI TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở NGỰA BẠCH NUÔI TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Trang 1VŨ THỊ ÁNH HUYỀN
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA VI KHUẨN
ESCHERICHIA COLI TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở NGỰA
BẠCH NUÔI TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2012
Trang 2VŨ THỊ ÁNH HUYỀN
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA VI KHUẨN
ESCHERICHIA COLI TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở NGỰA
BẠCH NUÔI TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ BIỆN PHÁP ĐIỀU TRỊ
Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 60.62.50
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Quang Tuyên
Thái Nguyên, năm 2012
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo khoa Sau Đại học, khoa Chăn nuôi Thú y, viện Khoa học sự sống – trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa Vi sinh – Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, viện Công nghệ sinh học Hà Nội và Bộ môn Vi trùng – Viện Thú y Quốc gia
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn GS.TS Nguyễn Quang Tuyên đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ và tận tình hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Hợp tác xã chăn nuôi ngựa bạch huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; các hộ chăn nuôi ngựa bạch thuộc 3 xã Thanh Ninh, Kha Sơn và Dương Thành
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện luận văn này
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012
Tác giả luận văn
Vũ Thị Ánh Huyền
Trang 4Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho một bảo vệ học vị nào Mọi thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2012
Tác giả luận văn
Vũ Thị Ánh Huyền
Trang 51 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 MỘT SỐ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY 3
1.1.1 Khái niệm về hội chứng tiêu chảy 3
1.1.2 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia súc 3
1.1.3 Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy 10
1.1.4 Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở gia súc 13
1.1.5 Biện pháp phòng trị tiêu chảy cho gia súc 15
1.2 VAI TRÒ CỦA VI KHUẨN E COLI TRONG HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY 19
1.2.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của vi khuẩn E coli 20
1.2.2 Đặc tính sinh vật học của vi khuẩn E coli 23
1.2.3 Đặc tính gây bệnh của vi khuẩn E coli 24
1.2.4 Khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn E coli 30
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 31
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 31
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 33
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 35
Trang 62.2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở ngựa bạch
tại một số xã nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 35
2.2.2 Phân lập vi khuẩn E coli từ các mẫu bệnh phẩm ngựa bạch tiêu chảy 35
2.2.3 Xác định một số đặc tính sinh học của vi khuẩn E coli phân lập được ở ngựa bạch 36
2.2.4 Xác định serotype của các chủng E coli phân lập được 36
2.2.5 Xác định các yếu tố gây bệnh của các chủng vi khuẩn E coli phân lập được 36
2.2.6 Xác định độc lực của các chủng E coli phân lập được trên động vật thí nghiệm 36
2.2.7 Xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của các chủng E coli phân lập được 36
2.2.8 Thử nghiệm phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy ở ngựa bạch 36
2.3 Nguyên vật liệu dùng trong nghiên cứu 36
2.3.1 Mẫu bệnh phẩm 36
2.3.2 Các loại môi trường, hoá chất 36
2.3.3 Động vật thí nghiệm: 37
2.4 Phương pháp nghiên cứu 37
2.4.1 Phương pháp điều tra dịch tễ học 37
2.4.2 Thu thập mẫu và phân lập vi khuẩn 38
2.4.3 Xác định số lượng vi khuẩn E coli trong 1 gam phân ngựa tiêu chảy và ngựa bình thường 40
2.4.4 Phương pháp xác định serotype kháng nguyên O của các chủng E coli phân lập được 40
Trang 72.4.6 Phương pháp xác định độc lực của các chủng E coli phân lập được 45
2.4.7 Phương pháp xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các chủng E coli phân lập được 46
2.4.8 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị tiêu chảy ở ngựa bạch 47
2.4.9 Phương pháp xử lý số liệu 48
Chương 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 49
3.1 Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở ngựa bạch 49
3.1.1 Tỷ lệ ngựa bạch mắc tiêu chảy và chết tại một số xã thuộc huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 49
3.1.2 Tỷ lệ ngựa bạch mắc tiêu chảy và chết theo mùa vụ 51
3.1.3 Tỷ lệ ngựa bạch mắc tiêu chảy và chết theo lứa tuổi 53
3.1.4 Kết quả điều tra một số triệu chứng lâm sàng ở ngựa bạch tiêu chảy 56
3.2 Kết quả phân lập vi khuẩn E coli từ các mẫu bệnh phẩm ngựa bạch tiêu chảy 57
3.2.1 Kết quả phân lập vi khuẩn E coli từ các mẫu phân ngựa bạch tiêu chảy và phân ngựa bạch bình thường 57
3.2.2 Kết quả phân lập vi khuẩn E coli từ các mẫu bệnh phẩm ngựa bạch chết do tiêu chảy 59
3.2.3 Kết quả xác định số lượng vi khuẩn E coli trong phân ngựa bạch tiêu chảy và ngựa bạch bình thường 61
3.3 Kết quả xác định một số đặc tính sinh học của các chủng E coli phân lập 63
3.4 Kết quả xác định serotype kháng nguyên O của các chủng E coli phân lập được 64
3.5 Kết quả xác định các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn E coli phân lập được 67
Trang 83.5.3 Kết quả xác định độc tố đường ruột (Entrotocin) của các chủng E coli
phân lập được bằng phản ứng PCR 69
3.6 Kết quả xác định độc lực của một số chủng E coli phân lập đượctrên động vật thí nghiệm 71
3.7 Kết quả kiểm tra khả năng mẫn cảm của các chủng E coli phân lập được với một số loại kháng sinh 73
3.8 Kết quả của một số phác đồ điều trị tiêu chảy ở ngựa bạch 76
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Đề nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 9AEEC : Adhenicia Enteropathogenic Escherichia coli
BHI : Brain-heart infusion
EHEC : Entero haemarrhagic
EMB : Eosin Methylene Blue Agar
EPEC : Enteropathogenic Escherichia coli
ETEC : Enterotoxigenic Escherichia coli
Trang 10lực của vi khuẩn APEC và kích cỡ của các sản phẩm sau quá trình điện di 43 Bảng 2.2: Tiêu chuẩn đánh giá mức độ mẫn cảm và kháng kháng sinh theo NCCLS (1999) 47 Bảng 3.1: Tỷ lệ ngựa bạch mắc tiêu chảy và chết tại một số xã thuộc huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên 49 Bảng 3.2: Tỷ lệ ngựa bạch mắc tiêu chảy và chết theo mùa vụ 51 Bảng 3.3: Tỷ lệ ngựa bạch mắc tiêu chảy và chết theo lứa tuổi 54 Bảng 3.4: Kết quả điều tra một số triệu chứng lâm sàng ở ngựa bạch tiêu chảy 56
Bảng 3.5: Kết quả phân lập vi khuẩn E coli từ các mẫu phân ngựa bạch tiêu
chảy và ngựa bạch bình thường 58
Bảng 3.6: Kết quả phân lập vi khuẩn E coli từ bệnh phẩm ngựa bạch chết do
tiêu chảy 59
Bảng 3.7: Kết quả xác định số lượng vi khuẩn E coli có trong 1 gam phân
của ngựa bạch tiêu chảy và ngựa bạch bình thường 61
Bảng 3.8 Kết quả xác định một số đặc tính sinh hóa của các chủng E coli
phân lập được 64 Bảng 3.9: Kết quả xác định serotype kháng nguyên O của các chủng vi khuẩn
E coli phân lập được 65 Bảng 3.10: Xác định khả năng gây dung huyết của các chủng E coli phân lập
được 67
Bảng 3.11: Kết quả xác định kháng nguyên bám dính của các chủng E coli
phân lập được 68 Bảng 3.12: Kết quả xác định độc tố đường ruột (Entrotocin) của các chủng vi
khuẩn E coli phân lập được 70 Bảng 3.13: Kết quả kiểm tra độc lực của một số chủng E coli trên chuột bạch 72 Bảng 3.14: Kết quả xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của các chủng E coli phân lập được 74
Bảng 3.15: Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị tiêu chảy ở ngựa bạch 77
Trang 11Hình 3.1: Biểu đồ tỷ lệ ngựa bạch mắc tiêu chảy và chết theo mùa vụ…… 53
Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ ngựa bạch mắc tiêu chảy và chết theo lứa tuổi 55
Hình 3.3 Biểu đồ kết quả phân lập vi khuẩn E coli từ bệnh phẩm ngựa bạch chết do tiêu chảy 60
Hình 3.4 Biểu đồ kết quả xác định serotype kháng nguyên O của các 66
chủng vi khuẩn E.coli phân lập đƣợc 66
Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ các chủng vi khuẩn E.coli mang các gen 71
quy định sinh tổng hợp các yếu tố gây bệnh 71
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chăn nuôi nước ta đã và đang chiếm một vị trí quan trọng trong nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế nói chung Các sản phẩm từ chăn nuôi đã dần đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng nội địa và xuất khẩu Chăn nuôi ngựa bạch mang lại nhiều lợi ích như cung cấp lượng thịt lớn cho thị trường, thịt ngựa là loại thịt đỏ, vị ngọt, có tác dụng bổ gân, chứa nhiều sắt, kẽm, các chất khoáng và nhiều Vitamin đặc biệt là Vitamin nhóm
B Ngoài ra, cao xương ngựa bạch rất giàu muối calci, chất keratin và gelatin khi thuỷ phân cho nhiều acid amin cần thiết giúp duy trì và phát triển tế bào trong cơ thể
Ở huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên nghề chăn nuôi ngựa bạch đã có từ lâu, chủ yếu là chăn nuôi ngựa bạch lấy thịt với quy mô nhỏ Những năm gần đây do nhu cầu của con người về thực phẩm từ ngựa bạch ngày càng tăn cho nên việc chăn nuôi được mở rộng, các hộ không chỉ chăn nuôi ngựa bạch lấy thịt mà phát triển sang nuôi cả ngựa bạch sinh sản
Chăn nuôi ngựa bạch không khó với nguồn thức ăn đơn giản, sẵn có tại địa phương như: cỏ, ngô, thóc, sắn Tuy nhiên, cùng với phát triển số lượng ngựa bạch đồng thời cũng gia tăng các bệnh ở ngựa như: bệnh ký sinh trùng, hội chứng đau bụng ngựa, đặc biệt các bệnh đường tiêu hóa
Bệnh ở hệ tiêu hóa hàng năm gây thiệt hại không nhỏ cho ngành chăn nuôi ngựa bạch tại địa phương, có rất nhiều nguyên nhân gây ra tiêu chảy ở ngựa bạch như: sự thay đổi đột ngột của thời tiết khí hậu, thức ăn kém phẩm chất, nước uống không đảm bảo vệ sinh… hoặc do các loại vi khuẩn
Escherichia coli (E coli), Salmonella…, vius Rotavirus… gây ra Trong đó,
vi khuẩn Escherichia coli được đánh giá là nguyên nhân gây bệnh phổ biến
và quan trọng nhất
Trang 13Thực tế cho thấy, hiệu quả của các phác đồ điều trị tiêu chảy ở ngựa bạch còn thấp mà nguyên nhân chủ yếu là sự kháng các loại thuốc của vi
khuẩn Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Xác định một số đặc tính sinh học của vi khuẩn Escherichia coli trong hội chứng tiêu chảy ở ngựa bạch nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên và biện pháp điều trị”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở ngựa bạch nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Phân lập và xác định vai trò gây bệnh của vi khuẩn E.coli trong hội
chứng tiêu chảy ở ngựa bạch
- Xây dựng và đề xuất phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy ở ngựa bạch
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài là một công trình nghiên cứu có hệ thống, lý luận gắn liền với
thực tiễn sản xuất, chứng minh vai trò của E.coli trong hội chứng tiêu chảy ở
ngựa bạch nuôi tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo như công tác bào chế các chế phẩm phòng bệnh hiệu quả
- Kết quả nghiên cứu phác đồ điều trị tiêu chảy cho ngựa bạch có hiệu quả cao sẽ giúp cho thú y cơ sở, người chăn nuôi trong phòng và trị bệnh, góp phần giảm thiệt hại và tăng thu nhập trong chăn nuôi ngựa bạch
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 MỘT SỐ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY
1.1.1 Khái niệm về hội chứng tiêu chảy
Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa, hiện tượng con vật đi ỉa nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch (Phạm Ngọc Thạch, 1996) [59]
Thực chất tiêu chảy là một phản ứng tự vệ của cơ thể nhưng khi cơ thể tiêu chảy nhiều lần trong ngày (5 đến 6 lần trở lên) và nước trong phân từ 75% trở lên thì gọi là tiêu chảy
1.1.2 Một số nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia súc
Tiêu chảy ở gia súc là một hiện tượng bệnh lý phức tạp gây ra bởi sự tổng hợp của nhiều yếu tố do tác động của điều kiện ngoại cảnh, đặc biệt là do các vi sinh vật gây bệnh đường tiêu hóa gây nên sự nhiễm khuẩn, loạn khuẩn, rối loạn khả năng hấp thu ở đường ruột dẫn đến tiêu chảy
Theo Blackwell T E (1989) [75] tiêu chảy ở vật nuôi là một hiện tượng bệnh lý phức tạp gây ra bởi sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố Một trong những nguyên nhân quan trọng là sự tác động bất lợi của ngoại cảnh, gây ra các stress cho cơ thể Mặt khác, chăm sóc nuôi dưỡng kém, chuồng trại không
vệ sinh sạch sẽ, thức ăn, nước uống bị nhiễm khuẩn cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của các vi sinh vật gây bệnh, đặc biệt là các vi sinh vật gây bệnh đường tiêu hoá Từ đó dẫn tới sự nhiễm và gây loạn khuẩn đường ruột, đây là nguyên nhân đóng vai trò quan trọng trong hội chứng tiêu chảy Phạm Ngọc Thạch (1996) [59] cho thấy tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý có liên quan đến nhiều yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát,
Trang 15có yếu tố là nguyên nhân thứ phát Vì vậy, việc phân biệt rạch ròi giữa các nguyên nhân gây tiêu chảy là rất khó khăn
Tiêu chảy luôn được đánh giá là triệu chứng phổ biến trong các dạng bệnh của đường tiêu hóa, xảy ra ở mọi lúc, mọi nơi và đặc biệt là ở gia súc non với biểu hiện triệu chứng là ỉa chảy, mất nước và mất điện giải, suy kiệt,
có thể dẫn đến chết do trụy tim mạch (Radostits O M., 1997) [109]
Theo Trương Quang và cs (2007) [47] tiêu chảy là một hội chứng gây
ra bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có các yếu tố là nguyên nhân nguyên phát hoặc thứ phát Nhưng dù bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì đều gây hậu quả là viêm nhiễm, tổn thương đường tiêu hóa và cuối cùng là một quá trình nhiễm trùng
Trong hội chứng tiêu chảy, bên cạnh những tác động bất lợi của điều kiện ngoại cảnh, của ký sinh trùng, sự không phù hợp của khẩu phần ăn thì các vi khuẩn, virus gây bệnh đường ruột cũng là yếu tố đóng vai trò rất quan trọng trong sự hình thành bệnh
* Tiêu chảy do môi trường ngoại cảnh
Môi trường ngoại cảnh bao gồm các yếu tố như nhiệt độ, ẩm độ, điều kiện về chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh chuồng trại, sự di chuyển, thức ăn, nước uống…
Purvis G.M và cs (1985) [107] cho biết mầm bệnh nhiễm vào thức ăn, nước uống và trực tiếp vào cơ thể vật nuôi, khi gặp các điều kiện thuận lợi dễ tăng sinh số lượng và tăng độc lực để gây bệnh
Khẩu phần ăn cho vật nuôi không thích hợp, trạng thái thức ăn không tốt, thức ăn kém chất lượng như mốc, thối và nhiễm các tạp chất, các vi sinh vật
có hại dễ dẫn tới rối loạn tiêu hóa kèm theo viêm ruột, ỉa chảy ở gia súc (Russel A và cs, 1991 [112], Hồ Văn Nam và cs, 1997) [30]
Trang 16Theo Laval A (1997) [98] thức ăn thiếu các chất khoáng, vitamin cần thiết cho cơ thể gia súc, đồng thời phương thức cho ăn không phù hợp sẽ làm giảm sức đề kháng của cơ thể gia súc và tạo cơ hội cho các vi khuẩn gây ra hội chứng tiêu chảy
Hồ Văn Nam và cs, 1997) [30] cho biết khi gia súc bị nhiễm lạnh kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác dụng thực bào, làm cho gia súc dễ bị nhiễm khuẩn gây bệnh
Theo Nguyễn Như Thanh (2001) [62] môi trường ngoại cảnh là một trong 3 yếu tố cơ bản gây bệnh dịch, mối quan hệ giữa cơ thể - mầm bệnh - môi trường là nguyên nhân của sự không ổn định sức khoẻ, đưa đến phát sinh bệnh
Theo Bùi Quý Huy (2003) [22] khi gia súc gặp điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, thay đổi đột ngột về thức ăn, vitamin, protein, thời tiết, vận chuyển … làm giảm sức đề kháng của con vật, vi khuẩn thường trực sẽ tăng
độ độc và gây bệnh
Như vậy, nguyên nhân môi trường ngoại cảnh gây tiêu chảy không mang tính đặc hiệu mà mang tính tổng hợp Lạnh và ẩm gây rối loạn hệ thống điều hòa trao đổi nhiệt của cơ thể con vật, dẫn đến rối loạn quá trình trao đổi chất, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, từ đó các mầm bệnh trong đường tiêu hoá có điều kiện tăng cường độc lực và gây bệnh
* Tiêu chảy do vi sinh vật
Vi sinh vật bao gồm các loại vi khuẩn, virus, nấm mốc chúng vừa là nguyên nhân nguyên phát, cũng vừa là nguyên nhân thứ phát gây tiêu chảy
Tiêu chảy do vi khuẩn
Trong đường ruột của gia súc nói chung luôn có hệ vi khuẩn sinh sống Chúng được chia thành 2 loại cùng tồn tại, trong đó vi khuẩn có lợi lên men phân giải các chất dinh dưỡng, giúp cho quá trình tiêu hoá được thuận lợi và
Trang 17vi khuẩn có hại, khi có điều kiện thì sẽ phát triển nhanh và gây ra hiện tượng loạn khuẩn, hấp thu ở ruột bị rối loạn và hậu quả dẫn đến bị tiêu chảy Các tác
giả nghiên cứu cho biết vi khuẩn E coli luôn thường trực trong đường tiêu
hóa của ngựa [122]
Theo Đoàn Thị Băng Tâm (1987) [58] sự xuất hiện của vi khuẩn
Salmonella phụ thuộc vào các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
Phan Thanh Phượng (1988) [45] cho biết vi khuẩn Salmonella thường
xuyên có trong đường ruột lợn và trong những điều kiện chăn nuôi, quản lý
làm cho sức đề kháng của cơ thể giảm, chính vi khuẩn Salmonella trở thành
độc và phát triển mạnh mẽ gây nên viêm ruột, ỉa chảy
Hiện tượng rối loạn tiêu hoá dẫn tới tiêu chảy ở động vật do các vi sinh vật gây ra thường có những đặc trưng về biểu hiện bệnh lý riêng của từng loài
Vi khuẩn E coli khi gây bệnh cho gia súc non trong giai đoạn bú sữa thường là
tăng tiết nước ở ruột non, đối với giai đoạn sau cai sữa thường gây chứng viêm
ruột thanh dịch hay xuất huyết Bệnh lý do vi khuẩn Salmonella spp thường
gây rối loạn tiêu hoá và tiêu chảy, viêm hồi, manh và kết tràng có màng giả khi
ở thể cấp tính và mãn tính Cl perfringens gây bệnh lý chủ yếu là viêm ruột
cấp tính và kèm theo xuất huyết (Radostits O M và cs,1994) [108]
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [11] trong số các vi khuẩn đường
ruột gây tiêu chảy thì E coli chiếm tỷ lệ cao nhất (45,6%)
Lê Văn Tạo (1997) [54] cho biết họ vi khuẩn đường ruột gồm những vi khuẩn cộng sinh thường trực trong đường ruột Những vi khuẩn này, muốn từ
vi khuẩn cộng sinh trở thành gây bệnh phải có 3 điều kiện:
- Trên cơ thể vật chủ có cấu trúc giúp cho vi khuẩn thực hiện được chức năng bám dính
- Vi khuẩn phải có khả năng sản sinh các yếu tố gây bệnh, đặc biệt là
Trang 18sản sinh độc tố, trong đó quan trọng nhất là độc tố đường ruột Enterotoxin
- Có khả năng xâm nhập vào lớp tế bào biểu mô của niêm mạc ruột, từ
đó phát triển nhân lên
Hồ Văn Nam và cs (1997) [31], Archie H (2001) [2] đều cho biết vi khuẩn đường ruột có vai trò không thể thiếu được trong hội chứng tiêu chảy
Vi khuẩn Clostridium difficile là một nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy và
viêm đại tràng phổ biến ở người và động vật (Sawsan T và cs, 2004) [114] Theo Feary D.J và cs (2006) [88] nguyên nhân lây nhiễm của tiêu chảy
là do vi khuẩn Salmonella, E coli, Clostridium Vi khuẩn E coli, salmonella
là nguyên nhân chủ yếu gây tiêu chảy ở ngựa [121]
Glenn S J (2007) [90] cho thấy vi khuẩn Clostridium difficile gây ra
hiện tượng tiêu chảy, phù nề niêm mạc, ruột xuất huyết ở ngựa và bê
Theo Nguyễn Văn Sửu và cs (2008) [52] khi xác định tỷ lệ tiêu chảy do viêm ruột hoại tử tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên cho biết số
lượng vi khuẩn Cl perfringens ở phân lợn con tiêu chảy trung bình là 21,58
triệu trong 1g phân và ở lợn bình thường là 7,98 triệu
Phạm Sỹ Lăng (2009) [27] cho biết bệnh tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn chủ yếu có những bệnh sau:
- Bệnh do vi khuẩn E coli
- Bệnh hồng lỵ do Treponema hyodysenteriae
- Bệnh do Salmonella
- Bệnh do Clostridium perfringens
Tiêu chảy do virus
Nhiều virus gây bệnh đường tiêu hoá làm tổn thương các niêm mạc ruột, phá huỷ quá trình hấp thu và điều tiết dịch dẫn đến tiêu chảy nặng như
Coronavirus 1, Coronavirus 2, Rotavirus Bệnh lý xuất hiện chủ yếu là viêm
ruột, viêm kết tràng, manh tràng, tiêu chảy cấp hoặc mãn tính, phân lỏng, màu
Trang 19vàng, đôi khi lẫn máu, tỷ lệ mắc bệnh và chết trong đàn cao
Radostits O M và cs (1994) [108] cho thấy nguyên nhân rối loạn tiêu
hoá và tiêu chảy do Coronavirus 2 gây ra bệnh TGE (Transmissible Gastro
Enteritis) với triệu chứng nôn mửa kèm theo tiêu chảy có nhiều nước, phân màu vàng hoặc hơi xanh, mùi hôi thối
Theo Phạm Ngọc Thạch (1996) [59] virus cũng là tác nhân gây bệnh tiêu chảy ở gia súc Sự xuất hiện của virus đã làm tổn thương niêm mạc ruột, làm suy giảm sức đề kháng của cơ thể và thường gây ỉa chảy ở dạng cấp tính với
tỷ lệ chết cao
Rotavirus và Coronavirus là những virus gây tiêu chảy quan trọng ở gia
súc non mới sinh như nghé, dê, cừu con, lợn con, ngựa con và đặc biệt là bê
do những virus này có khả năng phá huỷ màng ruột và gây tiêu chảy nặng (Archie H., 2000) [2]
Nguyễn Như Pho (2003) [36] cho biết Rotavirus và Coronavirus gây bệnh
tiêu chảy chủ yếu cho lợn con trong giai đoạn theo mẹ, với các triệu chứng tiêu chảy cấp tính, nôn mửa, mất nước với tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao
Tiêu chảy do nấm mốc
Nấm mốc phát triển trên lương thực, thực phẩm và làm suy giảm hàm lượng các chất dinh dưỡng của cơ chất, còn sản sinh ra các độc tố Một số ngũ cốc như ngô, lạc, đậu, các loại hạt có dầu thường rất thích hợp cho sự sinh sản độc tố của nấm mốc
Dakashinamurthy A và cs (1991) [78] cho thấy ở trong tự nhiên, các nhà khoa học đã tìm ra khoảng 240 loài nấm mốc có khả năng sản sinh ra độc tố, trong đó có trên 20 loài có khả năng gây bệnh có tính chất nghiêm trọng cho người và vật nuôi
Thức ăn khi được chế biến hoặc bảo quản không đúng kỹ thuật dễ bị
nấm mốc Một số loài như Aspergillus, Fusarium … có khả năng sản sinh
Trang 20nhiều loại độc tố, nhưng quan trọng nhất là nhóm độc tố Aflatoxin (Aflatoxin B1, B2, G1, G2, M1)
Theo Đậu Ngọc Hào và cs (1995) [17] thức ăn khi chế biến hoặc bảo quản không đúng kỹ thuật dễ bị nhiễm nấm mốc Độc tố của nấm mốc rất nguy hại cho cơ thể động vật, là nguyên nhân của nhiều căn bệnh nguy hiểm như huỷ hoại gan, thận và ung thư tổ chức Một trong những loài nấm được
quan tâm nhiều là Aspergillus do mức độ phân bố rộng rãi trong tự nhiên cùng
với khả năng xâm nhập và phát triển mạnh trong thức ăn
Theo Lê Thị Tài (1997) [53] độc tố Aflatoxin gây độc cho người và gia
súc, gây bệnh nguy hiểm nhất cho người là ung thư gan, huỷ hoại gan, độc
cho thận, sinh dục và thần kinh Aflatoxin gây độc cho nhiều loài gia súc, gia
cầm, mẫn cảm nhất là vịt, gà, lợn
Sự có mặt của nấm mốc sẽ phá hủy các thành phần, các chất dinh dưỡng, gây giảm chất lượng thức ăn và dễ gây ra chứng ngộ độc, những biểu hiện như ngứa ngáy, lở loét, biến loạn thần kinh và những rối loạn về tiêu hóa (Nguyễn Hữu Nam, 1999) [32]
Hàm lượng Aflatoxin có thể từ 1000 ppb tới vài nghìn ppb Sự có mặt của
độc tố nấm trong thức ăn chăn nuôi đã làm dẫn đến tăng chi phí thức ăn/1kg tăng trọng, giảm trọng lượng thu được do chậm lớn, tỷ lệ ốm và chết do các bệnh đường tiêu hóa và hô hấp cao, giảm sức đề kháng với các bệnh truyền nhiễm (Đậu Ngọc Hào, 2007) [18]
* Tiêu chảy do ký sinh trùng
Ký sinh trùng đường tiêu hóa cũng là một nguyên nhân gây ra hội chứng tiêu chảy ở gia súc Chúng chiếm đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, tiết độc tố đầu độc hệ thần kinh… qua đó làm cho sức đề kháng của vật chủ bị giảm xuống nên dễ mắc các bệnh khác Ngoài ra, ký sinh trùng trong các cơ quan
Trang 21nội tạng khác như sán lá gan, sán lá tuyến tụy, ký sinh trùng đường máu… cũng có tác động xấu đến sức đề kháng và khả năng tiêu hóa của của gia súc
và gây ra hiện tượng tiêu chảy
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [24] phương thức sống ký sinh trong đường tiêu hóa của các loài giun sán đã làm tổn thương niêm mạc ruột, nhờ đó các loại mầm bệnh dễ xâm nhập, gây viêm ruột, gây rối loạn quá trình tiêu hóa hấp thu, kích thích nhu động ruột, gây tiêu chảy và hiện tượng nhiễm trùng
Đặc điểm chủ yếu của tiêu chảy do ký sinh trùng là con vật mắc bệnh
bị tiêu chảy nhưng không liên tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và phân bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, gia súc kém ăn, thể trạng sa sút
Theo Đặng Đình Hanh và cs (2002) [15] bệnh giun lươn ở ngựa do
loài giun Strongyloides westri ký sinh ở ruột non gây triệu chứng chướng
hơi, tiêu chảy
Giun sán ở đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa Ở lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy đều nhiễm các loại giun đũa, giun lươn, giun tóc và sán lá ruột, nhưng ở lợn tiêu chảy nhiễm tỷ lệ cao hơn và nặng hơn (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2009) [26]
Như vậy, có rất nhiều nguyên nhân gây tiêu chảy, nhưng dù là nguyên nhân nào thì cuối cùng cũng là quá trình nhiễm khuẩn, vi khuẩn kế phát làm viêm ruột, tiêu chảy nặng thêm, có thể dẫn đến chết hoặc viêm ruột tiêu chảy mãn tính
1.1.3 Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy
* Cơ chế sinh bệnh
Cơ chế sinh bệnh của hội chứng tiêu chảy là quá trình rối loạn chức phận bộ máy tiêu hoá và nhiễm khuẩn Hai quá trình này có thể diễn ra đồng thời hoặc cũng có thể quá trình này trước, quá trình này sau và ngược lại,
Trang 22song rất khó khăn khi phân biệt được từng quá trình
Khi có một tác nhân bất lợi nào đó tác động làm trạng thái cân bằng của khu hệ vi khuẩn đường ruột bị phá vỡ, tất cả hoặc chỉ một loài vi sinh vật nào
đó sinh sản quá nhiều sẽ gây hiện tượng loạn khuẩn, gây ra sự biến động ở nhóm vi khuẩn đường ruột Cũng như ở nhóm vi khuẩn vãng lai, các vi khuẩn gây bệnh có cơ hội tăng mạnh cả về số lượng và độc lực, các vi khuẩn có lợi cho quá trình tiêu hóa do không cạnh tranh nổi nên giảm đi, cuối cùng loạn khuẩn xảy ra, hấp thu bị rối loạn, gây tiêu chảy (Vũ Văn Ngũ, 1975) [35]
Theo Phạm Ngọc Thạch (1996) [59] khi thiếu dịch mật thì tới 60% mỡ không tiêu hoá được, gây ra chứng đầy bụng, khó tiêu và tiêu chảy hoặc việc giảm hấp thu cũng dẫn đến tiêu chảy
* Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy
Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy ở gia súc bao gồm sự biến đổi
về chức năng, tình trạng mất nước và chất điện giải, trạng thái trúng độc của
bỏ ăn, thân nhiệt thấp và có thể trụy tim mắt bị hõm sâu, nhìn lờ đờ, da khô, khi véo da lên, nếp da chậm trở lại vị trí cũ (Archie H., 2000) [2]
Hiện tượng trúng độc xảy ra do thức ăn lên men phân giải sinh độc tố
Trang 23hoặc hệ vi khuẩn đường ruột sinh sôi, sản sinh ra nhiều độc tố Các độc tố đó cùng với các sản phẩm của viêm, tổ chức phân huỷ, ngấm vào máu, tác động vào gan làm chức năng gan rối loạn, gia súc bị trúng độc, đồng thời tác động cản trở quá trình tiêu hoá tiếp tục gây tiêu chảy nặng hơn, tăng nguy cơ nhiễm độc máu và gây tử vong
* Hậu quả trong hội chứng tiêu chảy
Theo Lê Minh Chí (1995) [4] hậu quả trực tiếp và nặng nề của hiện tượng tiêu chảy là sự mất nước và mất các chất điện giải của cơ thể, kéo theo hàng loạt các biến đổi bệnh lý
Hiện tượng mất nước rất nghiêm trọng và có thể gây chết nếu không được điều chỉnh Gia súc non dự trữ dịch thể tương đối thấp nên đặc biệt mẫn cảm với sự mất nước Chính vì vậy, biện pháp phòng chống và bù nước trong điều trị tiêu chảy luôn luôn cần thiết (Arche H., 2000) [2]
Nguyễn Hữu Nam (2002) [33] cho thấy gia súc khi bị tiêu chảy do khối thức ăn không tiêu ở ruột làm tăng áp lực thẩm thấu gây hút nước vào trong lòng ruột Khi viêm ruột, ngộ độc thức ăn, dịch nhầy của ruột với nước có thể tăng gấp 80 lần so với bình thường, lượng dung dịch trong ruột tăng lên sẽ kích thích ruột tăng co bóp sinh ra tiêu chảy và mất nước
Vi khuẩn E coli xâm nhập vào trong lớp tế bào biểu mô ruột, phát
triển nhân lên làm phá huỷ lớp tế bào gây ra viêm ruột, vi khuẩn sản sinh độc tố đường ruột (Enterotoxin) Độc tố đường ruột tác động vào quá trình trao đổi muối, nước ở ruột làm cho nước và chất điện giải không được hấp thu từ ruột vào cơ thể mà ngược lại được thẩm xuất từ cơ thể vào ruột (Lê Văn Tạo, 2005) [56]
Theo Trần Thị Dân (2006) [6] ảnh hưởng rõ rệt nhất của sinh lý tiêu chảy là mất dịch ngoại bào, mất khoảng 15% làm xuất hiện triệu chứng lâm
Trang 24sàng như giảm huyết áp, tim đập nhanh… và nếu mất tới 30% thì sẽ gây chết Nguyễn Quang Tuyên và cs (2007) [70] cho biết: mất nước mà trọng lượng cơ thể giảm 5% thì các dấu hiệu rối loạn bắt đầu xuất hiện Khi mất 20-25% lượng nước thì rất nguy hiểm vì các rối loạn huyết động và chuyển hoá đều rất nặng và đã hình thành vòng bệnh lý vững chắc
Ở ngựa khi mắc bệnh tiêu chảy thường có quá trình nhiễm khuẩn, nên các triệu chứng thường trầm trọng hơn và hậu quả để lại nặng nề hơn Bệnh
có thể lây lan và kế phát nhiều bệnh khác, gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi
1.1.4 Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở gia súc
Hội chứng tiêu chảy ở gia súc do nhiều nguyên nhân gây ra Chính vì vậy, sự xuất hiện của tiêu chảy phụ thuộc vào sự xuất hiện các nguyên nhân
và sự tương tác giữa nguyên nhân với cơ thể gia súc Các yếu tố như tuổi gia súc, mùa vụ, thức ăn, chuồng trại, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng đều có ảnh hưởng đến hội chứng tiêu chảy ở gia súc
Theo Sarmiento J I và cs (1988) [113] gia súc non bị tiêu chảy với tỷ lệ cao hơn so với gia súc trưởng thành
Fairbrother J.M (1992) [84] cho thấy khi bệnh tiêu chảy xảy ra, thường gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi Bệnh thường xuất hiện ở 3 giai đoạn phát triển của lợn con:
- Giai đoạn sơ sinh (1- 4 ngày tuổi)
- Giai đoạn lợn con theo mẹ (5 - 21 ngày tuổi)
- Giai đoạn lợn sau cai sữa (trên 21 ngày tuổi)
Theo Hoàng Văn Tuấn và cs (1998) [69] trong các cơ sở chăn nuôi,
tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc, vệ sinh thú y, còn tỷ lệ chết, mức độ trầm trọng của bệnh ở một đàn phụ thuộc vào giai đoạn mắc bệnh
Trang 25Bê, nghé bị tiêu chảy tập trung giai đoạn bú sữa mẹ, sau đó tỷ lệ này giảm dần theo tuổi của bê nghé (Nguyễn Văn Sửu, 2005) [51]
Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy trong một số cơ sở chăn nuôi lợn phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc, vệ sinh thú y ở đó Còn tỷ lệ chết, mức độ trầm trọng của bệnh ở một đàn phụ thuộc vào giai đoạn mắc bệnh (Đoàn Thị Kim Dung, 2004) [7]
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [25] khi nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa của các hộ chăn nuôi gia đình tại Thái Nguyên cho biết bệnh tiêu chảy chịu ảnh hưởng rõ rệt của lứa tuổi mắc bệnh, các loại thức ăn, nền chuổng và tình trạng vệ sinh thú y
Về độ tuổi mắc bệnh, tỷ lệ lợn tiêu chảy giảm theo tuổi, cao nhất ở giai đoạn sau cai sữa đến 2 tháng (13,9%), sau đó giảm dần và chỉ còn 5,55% ở lợn trên 6 tháng tuổi
Về thức ăn, lợn nuôi thức ăn tổng hợp dạng viên, không qua chế biến, mắc tiêu chảy với tỷ lệ 8,96% Tỷ lệ này tăng lên khi cho thức ăn truyền thống mang tính tận dụng và ăn rau sống (16,1%)
Điều kiện chuồng trại và vệ sinh cũng có ảnh hưởng khá rõ rệt đến tỷ
lệ mắc tiêu chảy ở lợn Lợn nuôi trong nền lát gạch có tỷ lệ tiêu chảy là 9,49%%, tăng lên ở chuồng có nền láng xi măng (12,64%) và cao nhất ở chuồng nền đất nện (20,37%) Lợn được nuôi ở điều kiện vệ sinh thú y tốt
tỷ lệ tiêu chảy là 8%, thấp hơn rõ rệt so với nuôi trong điều kiện vệ sinh thú
y kém (20,35%)
Ngoài các vấn đề nêu trên, hội chứng tiêu chảy còn bị ảnh hưởng bởi các tác nhân gây bệnh do virus, vi khuẩn, cầu trùng, giun sán ký sinh đường tiêu hóa… Khi ngựa mắc tiêu chảy do các tác nhân vi sinh vật, thường làm tăng
tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết
Trang 261.1.5 Biện pháp phòng trị tiêu chảy cho gia súc
1.1.5.1 Phòng bệnh
Với phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh, việc phòng bệnh cho gia súc luôn là vấn đề có vai trò quan trọng đối với mọi cơ sở chăn nuôi, nhằm hạn chế sự xâm nhập của mầm bệnh vào cơ thể vật chủ, đồng thời còn ngăn chặn được những thiệt hại do tiêu chảy gây ra, đó là những tổn thất về số lượng vật nuôi, chất lượng sản phẩm, chi phí kinh tế…
Phòng bệnh là biện pháp chủ động không để bệnh xảy ra, các biện pháp đều xoay quanh các vấn đề về môi trường, vật chủ và mầm bệnh
Phòng bằng nuôi dưỡng, quản lý
Trong chăn nuôi, một trong những mắt xích có sự liên quan chặt chẽ tới
sự hình thành bệnh cho vật nuôi là yếu tố vệ sinh môi trường, môi trường trong sạch ít mầm bệnh sẽ hạn chế nguyên nhân bệnh tác động lên cơ thể động vật Một trong các bệnh chiếm tỷ lệ cao ở gia súc đặc biệt là gia súc non phải kể đến các bệnh về đường tiêu hóa, đây là quá trình bệnh lý phức tạp và được coi như là hội chứng, bệnh do sự tác động và kết hợp của nhiều yếu tố
Để phòng tiêu chảy trước hết cần hạn chế và loại trừ các yếu tố strees sẽ mang lại hiệu quả tích cực, đồng thời khắc phục những yếu tố khí hậu, thời tiết bất lợi để tránh rối loạn tiêu hoá, giữ ổn định trạng thái cân bằng giữa cơ thể và môi trường
Điều quan trọng nhất trong vệ sinh phòng bệnh là phải tạo ra môi trường tiểu khí hậu hợp vệ sinh để cơ thể không phát bệnh Môi trường hợp vệ sinh là
sự kết hợp các yếu tố kỹ thuật chăn nuôi (chuồng trại, vệ sinh, thức ăn )
Biện pháp chủ yếu để phòng bệnh là tăng cường công tác vệ sinh thú y Trong chăn nuôi cần giữ vệ sinh nền chuồng, khu vực xung quanh chuồng nuôi (Nguyễn Vĩnh Phước, 1976) [43]
Trang 27Trịnh Văn Thịnh (1985) [67] đề xuất biện pháp phòng bệnh là giữ ẩm
và sưởi cho lợn sơ sinh vào mùa đông, dọn phân, rác thải trong chuồng đem ủ nhiệt sinh vật, định kỳ tẩy uế tiêu độc chuồng trại và dụng cụ chăn nuôi
Đào Trọng Đạt và cs (1996) [11] cho thấy khi chế độ dinh dưỡng đảm bảo, vệ sinh và phù hợp với sinh lý tiêu hóa của gia súc trong từng giai đoạn, hạn chế sự loạn khuẩn đường ruột
Theo Trương Lăng (2004) [28] khi giảm bớt số lượng vi khuẩn có hại bằng cách tẩy uế chuồng trại, giữ nền chuồng sạch sẽ, không ứ đọng phân, nước sẽ hạn chế được tiêu chảy
Một số sinh phẩm dùng phòng tiêu chảy cho gia súc
Việc sử dụng chế phẩm sinh học nhằm thiết lập mối cân bằng và sự bình
ổn hệ vi sinh vật trong đường tiêu hóa, từ đó tránh được sự loạn khuẩn đường ruột hoặc giúp cho sự hồi phục, làm giàu các vi sinh vật có lợi trong đường tiêu hóa
Lê Xuân Cương và cs (1986) [5] tiến hành bổ sung globulin miễn dịch chiết xuất từ huyết thanh ngựa cho gia súc non, đã có tác dụng tốt trong phòng tiêu chảy đặc biệt là ở lợn con giai đoạn bú sữa
Việc nghiên cứu, sản xuất và sử dụng chế phẩm Biolactin thấy có vai trò kích thích khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con đồng thời vai trò chính
của chế phẩm này là ức chế sự phát triển và tăng sinh của vi khuẩn E coli gây
Trang 28Việc sử dụng các sinh chế phẩm từ kháng thể trong lòng đỏ trứng gà để phòng và điều trị bệnh cho gia súc dựa trên cơ sở là do kháng thể này có khả năng ngăn cản sự liên kết của vi khuẩn gây bệnh với nhung mao của ruột non,
từ đó làm cản trở hay hạn chế sự xâm nhập của vi khuẩn vào sâu lớp tế bào biểu mô ruột non Mặt khác, còn có vai trò quan trọng là khả năng trung hòa độc tố và láng một lớp vỏ vật lý bảo vệ lớp nhung mao của ruột non khỏi sự tác động độc tố của vi khuẩn gây bệnh
Một số loại vacxin phòng tiêu chảy do vi khuẩn gây ra
Severtsova M K và cs (1979) [115] nghiên cứu và chế tạo vacxin vô hoạt toàn khuẩn bằng axeton Lindberg A.A và cs (1983) [100] đã chiết xuất lipopolisaccarit từ tế bào vi khuẩn để sản xuất vacxin phòng bệnh tiêu chảy cho gia súc
Dựa trên các thành tựu khoa học hiện đại các nhà khoa học đã chiết tách được các loại kháng nguyên vi khuẩn và chế tạo ra vacxin có tác dụng phòng
hộ tốt cho vật nuôi khi cho uống hoặc tiêm, tạo cho cơ thể có các kháng thể chống lại sự bám dính của các vi khuẩn gây bệnh trên các tế bào biểu mô ruột (Jenkins M C và cs, 1993) [94]
Radostits O M và cs (1994) [108] cho biết việc sử dụng vacxin chứa
kháng nguyên K99 hoặc cả tế bào E coli gây bệnh sau khi tiêm vacxin cho bò
mẹ mang thai giai đoạn chửa cuối, bê được sinh ra có khả năng miễn dịch với
vi khuẩn E coli gây bệnh
Nguyễn Ngọc Hải (2010) [14] nghiên cứu, chế tạo autovaccine từ 7
chủng E coli phân lập từ các mẫu phân heo con tiêu chảy có kết quả rõ nhất,
để phòng tiêu chảy cho heo con theo mẹ; đã kết luận vácxin chuồng thực
nghiệm tạo được đáp ứng miễn dịch tốt, hiệu quả phòng ngừa tiêu chảy do E coli tương đương với vác xin phòng bệnh E coli của Mỹ
Trang 291.1.5.2 Điều trị tiêu chảy ở gia súc
Điều trị tiêu chảy ở gia súc là sự tổng hợp của nhiều biện pháp Một nguyên lý chung là phải loại bỏ được yếu tố gây bệnh ra khỏi cơ thể, sử lý nguyên nhân gây bệnh kết hợp với điều trị quá trình sinh bệnh, giúp cho quá
tiêu hóa trở lại sinh lý bình thường
Điều trị nguyên nhân gây bệnh
Điều trị nguyên nhân gây bệnh là giải pháp điều trị tốt nhất và mang lại hiệu quả cao Mục đích chính của việc điều trị là nhanh chóng loại trừ nguyên nhân gây bệnh ra khỏi cơ thể lợn con
Đối với gia súc non trong giai đoạn mới được sinh ra, vấn đề quan trọng nhất là luôn tuân thủ nguyên tắc cơ bản như chuồng nuôi phải khô ráo, sạch
sẽ, chống ẩm, lạnh và gia súc non phải được bú sữa đầu sớm…
Ngoài ra, loại trừ những sai sót trong nuôi dưỡng như loại bỏ thức ăn kém phẩm chất (ôi mốc…), giảm thức ăn xanh chứa nhiều nước, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, loại bỏ thức ăn không tiêu hoá được hoặc đang lên men (Phạm Ngọc Thạch, 2005) [60]
Một số loại thuốc dùng trong điều trị tiêu chảy ở gia súc
Một trong những nguyên nhân chủ yếu có thể coi như mắt xích cơ bản trong hội chứng tiêu chảy của gia súc là do một số loài vi khuẩn gây bệnh đường ruột bao gồm những vi khuẩn hiếu khí, vi khuẩn yếm khí tùy tiện và
những vi khuẩn yếm khí bắt buộc, những loài thường gặp như E coli, Salmollena spp, Shigella sp, Proteus, Streptococcus và Cl Perfringens
(Fairbrother J.M., 1992) [84]
Theo Nagy B và cs (1999) [103] gia súc bị tiêu chảy do E coli, khi điều
trị ngoài việc dùng kháng sinh sớm từ đầu nên kết hợp một số thuốc hay hóa dược có tác dụng ức chế sự sản sinh và ảnh hưởng của độc tố đường ruột
Enterotoxin do vi khuẩn phóng thích ra Một số hóa dược thường dùng là
Trang 30Chlopromazin, Berberin sulphate kết hợp các chất điện giải
Để điều trị hiện tượng vi khuẩn bội nhiễm, hạn chế sự tăng sinh giữa các
vi khuẩn gây bệnh đường ruột, Nguyễn Vĩnh Phước (1978) [44] đã tiến hành
điều trị tiêu chảy cho lợn con bằng một số loại kháng sinh như: Cloroxit, Oreomycin, Tetracyclin và một số dẫn xuất của Sulfamid kết quả điều trị tốt
cho tỷ lệ khỏi bệnh cao
Điều trị mất nước, mất cân bằng điện giải trong hội chứng tiêu chảy Khi gia súc bị tiêu chảy thì cơ thể mất một lượng lớn nước và điện giải theo phân Do đó trong điều trị tiêu chảy cần bổ sung lại cho cơ thể để đảm bảo hoạt động sinh lý của cơ thể diễn ra bình thường
Điều trị mất nước, mất cân bằng điện giải thường phải kết hợp với kháng sinh nhằm tăng hiệu quả điều trị và giúp cho con vật mau chóng bình phục
1.2 VAI TRÒ CỦA VI KHUẨN E COLI TRONG HỘI CHỨNG TIÊU
CHẢY
Vi khuẩn đường ruột Escherichia coli thuộc họ Enterobacteriaceae, nhóm Escherichiae, giống Escherichiae, loài Escherichia coli Trước đây được gọi là Bacterium coli commune hay Bacillus coli communis, lần đầu tiên
phân lập được từ phân trẻ em bị tiêu chảy năm 1885 và được đặt theo tên của người bác sỹ nhi khoa Theodor Escherich (Nguyễn Vĩnh Phước, 1974 [42], Nguyễn Lân Dũng và cs, 1976 [9], Nguyễn Như Thanh và cs, 1997) [61]
Trong điều kiện bình thường, E coli khu trú thường xuyên ở phần sau
của ruột, ít khi có ở dạ dày hay đoạn đầu ruột non của động vật Khi gặp điều kiện thuận lợi, chúng phát triển nhanh về số lượng, độc lực, gây loạn khuẩn, bội nhiễm đường tiêu hoá và trở thành nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) [44]
Theo Weinstein D L và cs (1984) [120] các nhà khoa học đã xác định được 170 type kháng nguyên O; 80 type kháng nguyên H; 56 type kháng
Trang 31nguyên K và một số kháng nguyên F Kháng nguyên H không quyết định yếu
tố độc lực, không có vai trò bám dính, nhưng có tác dụng bảo vệ vi khuẩn đường ruột, tránh sự tiêu diệt của đại thực bào, giúp vi khuẩn sống và nhân lên trong tế bào gan, thận và ngay cả trong đại thực bào
Vi khuẩn E coli thuộc họ vi khuẩn đường ruột, chiếm tới 80% các vi
khuẩn hiếu khí, vừa là vi khuẩn cộng sinh thường trực đường tiêu hoá, vừa là
vi khuẩn gây nhiều bệnh ở đường ruột và ở các cơ quan khác (Lê Văn Tạo, 1997) [54]
1.2.1 Đặc điểm hình thái, cấu trúc của vi khuẩn E coli
* Đặc điểm hình thái
Vi khuẩn E coli là trực khuẩn hình gậy ngắn hai đầu tròn, có kích
thước 2 – 3 x 0,3 - 0,6 m; ở môi trường nuôi cấy, trong canh khuẩn già xuất hiện những trực khuẩn dài 4 – 8 m Trong cơ thể người và động vật, vi khuẩn thường có hình trực khuẩn, đứng riêng lẻ, đôi khi xếp thành chuỗi
ngắn Phần lớn vi khuẩn E coli có khả năng di động do có lông ở xung quanh
thân, không sinh nha bào, có thể có giáp mô Vi khuẩn bắt màu gram âm, có thể bắt màu đều hoặc sẫm ở hai đầu, khoảng giữa nhạt hơn Nếu lấy vi khuẩn
từ khuẩn lạc nhầy để nhuộm, có thể thấy giáp mô, nhưng khi soi tươi thì thường không nhìn thấy được (Nguyễn Như Thanh và cs, 1997 [61], Nguyễn Quang Tuyên, 2008 [71])
* Đặc điểm cấu trúc:
Vi khuẩn E coli được phân làm các serotype khác nhau dựa vào cấu
trúc kháng nguyên thân O, giáp mô K, lông H và kháng nguyên bám dính F Bằng phản ứng ngưng kết, đến nay các nhà khoa học đã phát hiện ra 250 serotype O; 89 serotype K; 56 serotype H và một số serotype F (Fairbrother J M., 1992) [84]
Trang 32Khi xác định serotype đầy đủ của một chủng E coli thì phải xác định
đủ cả 3 loại kháng nguyên nói trên
- Kháng nguyên O (Kháng nguyên thân – Ohne Hauch)
Kháng nguyên O được xác định là có mặt trên tất cả các chủng vi khuẩn đường ruột dạng S Kháng nguyên này nằm trên lớp lipopolisaccharide của thành tế bào trực khuẩn gram âm, có bản chất là polysaccharide, bền với nhiệt và không bị biến tính ở nhiệt đô 1000C Đây là kháng nguyên được coi
là một yếu tố độc lực có thể tìm thấy ở thành tế bào và có liên hệ trực tiếp với
hệ thống miễn dịch Kháng nguyên O khi gặp kháng huyết thanh tương ứng sẽ xảy ra phản ứng ngưng kết, tạo thành những hạt nhỏ, khó tan
- Kháng nguyên H (kháng nguyên lông - Hauch) là thành phần lông vi khuẩn, có bản chất protein, kém bền vững hơn so với kháng nguyên O
Kháng nguyên H không phải là yếu tố độc lực của vi khuẩn, nhưng có khả năng tạo, phản ứng miễn dịch xảy ra nhanh hơn so với kháng nguyên O
Kháng nguyên H của vi khuẩn E coli không có vai trò bám dính,
không có tính độc và cũng không có ý nghĩa trong đáp ứng miễn dịch phòng
vệ nên ít được quan tâm nghiên cứu, nhưng nó có ý nghĩa rất to lớn trong xác định giống, loài của vi khuẩn
- Kháng nguyên K (Kháng nguyên vỏ bỏ - Capsular) còn được gọi là kháng nguyên bề mặt (OMP – Outer membrane protein) hoặc kháng nguyên
vỏ bọc (Capsular) Vai trò của kháng nguyên K chưa được thống nhất, có nhiều ý kiến cho rằng nó không có ý nghĩa về độc lực của vi khuẩn vì thấy
độc lực của chủng E coli có kháng nguyên K cũng giống độc lực của chủng
không có kháng nguyên K (Orskov F., 1978) [105]
Tuy nhiên, có ý kiến khác cho rằng nó có ý nghĩa về độc lực vì nó tham gia bảo vệ vi khuẩn trước những yếu tố phòng vệ của vật chủ Phần lớn các ý
Trang 33kiến đều thống nhất kháng nguyên K có hai nhiệm vụ sau:
+ Hỗ trợ trong phản ứng ngưng kết của kháng nguyên O, nên thường
ghi liền công thức serotype của vi khuẩn là Ox:Ky như E coli O139:K88,
O149:K88, O138:K81, O138:K82, O157:K17…
+ Tạo thành hàng rào bảo vệ vi khuẩn chống lại tác động của ngoại cảnh và hiện tượng thực bào, yếu tố phòng vệ của vật chủ
Như vậy, dựa vào kháng nguyên O, vi khuẩn E coli được phân làm nhiều nhóm; căn cứ vào cấu tạo kháng nguyên O, K, H vi khuẩn E coli lại
chia làm nhiều type, mỗi type đều được ghi thứ tự các yếu tố kháng nguyên
O, K, H
- Kháng nguyên F (kháng nguyên Fimbriae)
Kháng nguyên bám dính là yếu tố quan trọng, nhờ vào kháng nguyên
này mà vi khuẩn E coli thực hiện các bước đầu tiên của quá trình gây bệnh là
bám dính của vi khuẩn vào niêm mạc ruột nhờ một hay nhiều loại kháng nguyên bám dính như F4 (K88), F5 (K99), F6 (K987), F18 hoặc F41
Bản chất của các fimbriae là các protein và được phân loại bằng các
phản ứng huyết thanh học Hầu hết các chủng E coli gây bệnh đều sản sinh ra
một hoặc nhiều kháng nguyên bám dính nằm trong cấu trúc fimbriae giúp vi khuẩn bám vào các thụ thể đặc hiệu trên bề mặt tế bào biểu mô ruột và trên lớp màng nhày để xâm nhập và gây bệnh, đồng thời chống lại khả năng đào thải vi
khuẩn của nhu động ruột Do vậy, chỉ những chủng E coli có kháng nguyên
bám dính mới có khả năng gây bệnh
Đối với các chủng E coli gây bệnh, các kháng nguyên bám dính có sự
khác nhau giữa các loài Ở lợn các kháng nguyên bám dính cơ bản như K88
(F4), K99 (F5), 987P (F6)… ở cừu, trâu, bò kháng nguyên bám dính vi khuẩn
E coli lại phổ biến K88 (F4), K99 (F5) (Carter G.R và cs, 1995) [76]
Trang 34Nagy B và cs (1999) [103] cho thấy mỗi loại kháng nguyên bám dính đều có các quyết định kháng nguyên tương ứng, phù hợp với cấu trúc điểm tiếp nhận trên bề mặt của tế bào biểu mô nhung mao ruột non của từng loại hoặc từng lứa tuổi động vật
Theo Lê Văn Tạo (2006) [57] cấu trúc kháng nguyên của vi khuẩn E coli gồm kháng nguyên thân O (Somatic), kháng nguyên lông H (Flagellar),
kháng nguyên vỏ K (Capsular) hoặc còn gọi là kháng nguyên OMP (Outer Memberance Protein) và kháng nguyên bám dính F (Fimbriae)
1.2.2 Đặc tính sinh vật học của vi khuẩn E coli
* Đặc tính nuôi cấy
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (1997) [61], Nguyễn Quang Tuyên
(2008) [71] vi khuẩn E coli là trực khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện, có thể
sinh trưởng ở phổ nhiệt độ khá rộng từ 5- 400C, nhiệt độ thích hợp là 370
C pH thích hợp là 7,4
Vi khuẩn E coli phát triển dễ dàng trên các môi trường nuôi cấy thông
thường Khi nuôi cấy trên các môi trường, để trong tủ ấm ở 370
C và sau 24 giờ vi khuẩn sẽ phát triển như sau:
+ Môi trường thạch thường: hình thành những khuẩn lạc tròn, ướt, bóng láng không trong suốt, màu tro trắng nhạt, hơi lồi, đường kính từ 2- 3mm Nuôi lâu, khuẩn lạc có màu nâu nhạt và mọc rộng ra, có thể quan sát thấy cả những khuẩn lạc dạng R (Rough) và M (Mucous)
+ Môi trường nước thịt: phát triển rất tốt, môi trường đục đều có lắng cặn màu tro nhạt ở dưới đáy, đôi khi có màu xám nhạt Trên mặt môi trường hình thành lớp màng mỏng màu ghi dính vào thành ống nghiệm, canh trùng
có mùi phân hôi thối
+ Môi trường thạch MacConkey: khuẩn lạc có màu hồng cánh sen, tròn
Trang 35nhỏ, hơi lồi, không nhầy, rìa gọn, không làm chuyển màu môi trường
+ Môi trường thạch máu: khuẩn lạc to, ướt, lồi, viền không gọn, màu xám nhạt, một số chủng có khả năng và gây ra hiện tượng tan máu
+ Môi trường Simmon citrat: Khuẩn lạc không màu trên nền xanh lục + Môi trường Endo: khuẩn lạc màu đỏ
+ Trong môi trường EMB: khuẩn lạc màu tím đen
+ Trong môi trường SS: khuẩn lạc có màu đỏ
* Đặc tính sinh hóa
+ Phản ứng lên men đường: vi khuẩn E coli lên men sinh hơi các loại
đường Lactose, Frutose, Glucose, Levulose, Galactose, Xylose, Manitol, lên men không chắc chắn các loại đường Duncitol, Saccarose và Salixin
Hầu hết các chủng E coli đều lên men đường Lactose nhanh và sinh hơi, đây là đặc điểm quan trọng để dựa vào đó phân biệt vi khuẩn E coli và Salmonella
+ Một số phản ứng sinh hoá khác: phản ứng sinh Indol và MR (Methyl Red) dương tính, phản ứng H2S, VP (Voges Proskauer) âm tính, hoàn nguyên nitrat thành nitrit (Nguyễn Quang Tuyên, 2008) [71]
1.2.3 Đặc tính gây bệnh của vi khuẩn E coli
* Cơ chế gây bệnh của vi khuẩn E coli
Dho M M và cs (1999) [79] cho thấy để có thể gây bệnh, trước hết vi
khuẩn E coli phải bám dính vào tế bào nhung mao ruột bằng các yếu tố bám
dính như kháng nguyên F Sau đó, nhờ các yếu tố xâm nhập (Invasion), vi khuẩn sẽ xâm nhập vào tế bào biểu mô của thành ruột Vi khuẩn phát triển, nhân lên, phá huỷ lớp tế bào biểu mô, gây viêm ruột, đồng thời sản sinh độc
tố đường ruột Enterotoxin Độc tố đường ruột tác động vào quá trình trao đổi muối, nước, làm rối loạn chu trình này Nước từ cơ thể tập trung vào lòng ruột
Trang 36làm căng ruột, cùng với khí do lên men ở ruột gây nên một tác dụng cơ học, làm nhu động ruột tăng, đẩy nước và chất chứa ra ngoài, gây nên hiện tượng tiêu chảy
Sau khi đã phát triển ở thành ruột, vi khuẩn vào hệ lâm ba, đến hệ tuần hoàn, gây nhiễm trùng máu Trong máu, vi khuẩn chống lại hiện tượng thực bào, gây dung huyết, làm cho cơ thể thiếu máu Từ hệ tuần hoàn, vi khuẩn đến các tổ chức cơ quan Ở đây, vi khuẩn lại phát triển nhân lên lần thứ hai, phá huỷ tế bào tổ chức, gây viêm và sản sinh độc tố gồm Enterotoxin và Verotoxin, phá huỷ tế bào tổ chức, gây tụ huyết và xuất huyết
* Các yếu tố gây bệnh của vi khuẩn E coli:
Các yếu tố gây bệnh của E coli bao gồm khả năng kháng khuẩn, yếu tố
bám dính, khả năng xâm nhập, yếu tố gây dung huyết và khả năng sản xuất độc
tố Các chủng E coli không có các yếu tố trên thì không có khả năng gây bệnh
Dựa vào các yếu tố gây bệnh nói trên, người ta đã phân loại vi khuẩn
E coli thành các loại sau: Enterotoxigenic E coli (ETEC), Enteropathgenic
E coli (EPEC), Adherence Eteropathogenic E coli (AEEC) và Verotoxingenic
E coli (VTEC) (Lê Văn Tạo, 1997) [54]
- Yếu tố kháng khuẩn:
Nhiều chủng E coli có khả năng sản sinh ra chất kháng khuẩn có tác
dụng ức chế hoặc tiêu diệt các loại vi khuẩn khác gọi là ColicinV Vì vậy, yếu
tố này cũng được coi là một trong các yếu tố độc lực của vi khuẩn E coli gây
bệnh (Smith H W và cs, 1967) [117]
- Yếu tố bám dính:
Jones G.W và cs (1977) [96] cho biết khả năng bám dính của vi khuẩn
là yếu tố gây bệnh quan trọng để thực hiện bước đầu tiên của quá trình gây bệnh đường ruột, đó là một quá trình liên kết vững chắc giữa bề mặt tế bào vi
Trang 37khuẩn và tế bào vật chủ
Bằng phương pháp chụp vi khuẩn dưới kính hiển vi điện tử và các phản ứng kinh hóa, PCR đã xác định được cấu trúc vi thể thực hiện chức năng bám
dính của vi khuẩn E coli Đó là các pili (fimbriae) bao gồm các đơn vị cấu trúc
nhỏ gọi là sợi bám dính, có tính kháng nguyên gọi là kháng nguyên bám dính F (Elsinghorst E A và cs, 1994) [83]
Để gây bệnh, các chủng ETEC phải bám dính lên trên tế bào biểu mô của ruột non Hầu hết các chủng ETEC đều có mang một hoặc nhiều các yếu tố bám dính như F4 (K88), F5 (K99), F6 (987P), F17, F18, F41, F42 và F165
Theo Nagy B và cs (1999) [103] các serotype E coli gây bệnh tiêu chảy
thường mang các yếu tố bám dính F4, F5 và F6
Ở nhiều vi khuẩn Gram âm nói chung và vi khuẩn E coli nói riêng,
ngoài lông ra còn có những bộ phận khác hình sợi gọi là pili Pili hay fimbriae
có bản chất là protein bao phủ trên bề mặt tế bào vi khuẩn Pili vi khuẩn đường ruột khác lông ở chỗ nó cứng hơn, không lượn sóng và không liên quan đến di động của vi khuẩn
Trước đây, kháng nguyên bám dính được ký hiệu là K (K88, K99), nay đổi
là F (K88 = F4; K99 = F5, 987P = F6) Một số kháng nguyên bám dính chính
thường gặp ở các chủng E coli phân lập từ gia súc bị tiêu chảy bao gồm F4, F5,
F6, F18 và F41 Mỗi loại kháng nguyên bám dính có các cấu trúc quyết định kháng nguyên tương xứng, phù hợp với cấu trúc điểm tiếp nhận trên bề mặt tế bào biểu mô nhung mao ruột non của từng loài động vật hoặc từng lứa tuổi Theo Vũ Khắc Hùng và cs (2005) [20] qua phản ứng PCR trong số 220
chủng E coli phân lập từ lợn con từ 1-14 ngày tuổi bị tiêu chảy có 82 chủng
mang kháng nguyên bám dính
Về khả năng bám dính, theo Lê Văn Tạo (2006) [57] với các yếu tố gây
Trang 38bệnh có được, trước hết vi khuẩn bám dính vào tế bào nhung mao ruột non bằng kháng nguyên bám dính F4 (K88) Sau đó, vi khuẩn xâm nhập và cư trú
ở thành ruột non, phát triển nhân lên, sản sinh ra độc tố đường ruột
Phạm Thế Sơn và cs (2008) [49] khi nghiên cứu về đặc tính của vi
khuẩn E coli, Salmonella, Cl perfringens gây bệnh lợn con tiêu chảy ở Hưng Yên và Hà Nội đã có kết luận số chủng E coli mang kháng nguyên
bám dính F4 (K88) là 78%, F5 (K99) là 22% Số chủng mang F4 ở Hưng Yên
là 80% và Hà Nội là 76%
- Yếu tố xâm nhập của vi khuẩn E coli:
Sau khi bám dính, vi khuẩn sẽ thực hiện quá trình xâm nhập vào sâu
bên trong các lớp tế bào Tại đây, vi khuẩn E coli nhân lên với tốc độ lớn
đồng thời sản sinh ra độc tố đường ruột, gây phản ứng niêm mạc và đầu độc cơ thể
Theo Giannella P.A và cs (1976) [89] khả năng xâm nhập của vi khuẩn
là một khái niệm dùng để chỉ quá trình mà nhờ đó vi khuẩn đường ruột qua được hàng rào bảo vệ của lớp mucosa trên bề mặt niêm mạc để xâm nhập vào
tế bào biểu mô (Epithel), đồng thời sản sinh và phát triển trong lớp tế bào này Trong khi đó, những vi khuẩn khác không có khả năng xâm nhập, không thể qua được hàng rào bảo vệ của lớp mucosa hoặc khi qua được lớp hàng rào này sẽ bị bắt bởi tế bào đại thực bào của tổ chức hạ niêm mạc
- Độc tố của vi khuẩn E coli:
Vi khuẩn E coli sản sinh nhiều loại độc tố như Enterotoxin, Verotoxin,
Neurotoxin Mỗi loại độc tố gắn với một thể bệnh mà chúng gây ra
+ Nhóm độc tố đường ruột (Enterotoxin) gồm 2 loại:
Độc tố chịu nhiệt (Heat Stable Toxin – ST) chịu được nhiệt độ 1000
C trong vòng 15 phút Độc tố ST chia thành 2 nhóm là STa và STb dựa trên đặc
Trang 39tính sinh học và khả năng hoà tan trong methanol Sta kích thích sản sinh cGMP mức cao trong tế bào, ngăn trở hệ thống chuyển Na+
và Cl-; làm giảm khả năng hấp thu chất điện giải và nước ruột STb kích thích vòng nucleotid phân tiết dịch độc lập ở ruột, nhưng phương thức tác dụng của STb vẫn chưa được hiểu rõ
Độc tố không chịu nhiệt (Heat Labile Toxin – LT) bị vô hoạt ở nhiệt độ
+ Nhóm độc tố tế bào (Shiga/ Verotoxin):
Gyles G L (1992) [91] cho thấy đầu tiên người ta nhận thấy E coli
chủng O157: H7 (gây ngộ độc ở người) sản sinh một loại độc tố gọi là Verotoxin, sau này Verotoxin được gọi là Shiga-like toxin (SLT) do chúng giống như độc tố Shiga cả về cấu trúc không gian, trình tự axit amin và phương thức tác động Cả 2 nhóm SLT1 và SLT2 đều có cấu trúc A - B protein, trong đó tiểu phần A ức chế quá trình sinh tổng hợp protein của tế bào Nhóm SLT có 2 tác dụng: độc tố đường ruột và độc tố tế bào, SLT sản sinh ở ruột, được hấp thụ vào máu, theo máu đến tác động lên những tế bào ở các bộ phận khác
Ảnh hưởng gây bệnh ở tế bào của độc tố Vero rất khác so với ảnh
hưởng của độc tố đường ruột không chịu nhiệt cổ điển ở nhóm vi khuẩn E coli
Trang 40gây bệnh đường ruột (ETEC) Độc tố Vero (VTs) hay Shiga (SLTs) là thuật ngữ được sử dụng trước đây Gần đây, các nhà khoa học đã đề nghị sử dụng tên
độc tố Shiga (Stx) cho tất cả những độc tố tế bào này Stx sản sinh bởi E coli
bao gồm 2 nhóm: Stx1 và Stx2
Nagy B và cs (1999) [103] cho biết serotype E coli gây bệnh tiêu chảy
mang độc tố đường ruột LT1, LT2 và ST1 đôi khi có cả Stx2e
Theo Gyles G L và cs (2004) [92] khi nghiên cứu về khả năng sản sinh
độc tố của vi khuẩn E coli gây tiêu chảy ở bê đã kết luận kháng nguyên F17 có
khả năng sản sinh độc tố CNF2 (cytotoxin necrotizing factor 2)
- Vai trò gây bệnh của các loại kháng nguyên:
Theo nhiều tác giả, mặc dù các vi khuẩn E coli có nhiều loại kháng
nguyên, trong đó, có loại tạo miễn dịch phòng vệ cho vật chủ, có loại không tạo miễn dịch phòng vệ cho vật chủ nhưng đều tham gia vào quá trình gây bệnh bằng cách tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập vào tế bào vật chủ và tham gia vào quá trình kháng lại các yếu tố phòng vệ tự nhiên của vật chủ Các kháng nguyên tham gia quá trình trên phải kể đến là kháng nguyên O, kháng nguyên K, kháng nguyên F
- Yếu tố dung huyết (Hly):
Dung huyết là một trong những yếu tố quan trọng để vi khuẩn E coli gây tiêu chảy Đó là do các chủng E coli có khả năng sản sinh ra men
Haemolyzin để phá hủy hồng cầu của vật chủ, giải phóng Fe+++
dùng cho quá
trình phát triển của vi khuẩn Có 4 kiểu dung huyết của vi khuẩn E coli là haemolysin, -haemolysin, -haaemolysin, -haemolysin, nhưng quan trọng nhất là kiểu -haemolysin và -haemolysin (Smith H W., 1963) [116], Ketyle
-I E và cs, 1975) [97]
Nghiên cứu khả năng dung huyết của các chủng E coli phân lập từ các động