Về mặt lý luận và thực tiễn, kỹ năng sư phạm nói chung, kĩ năng thiết kế HĐGD HS là nội dung quan trọng trong chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT; là yếu tố quan trọng và cần thiết giúp ngư
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Minh Huế
Thái Nguyên - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả luận văn
Đào Thị Liễu
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa Tâm lý giáo dục, Khoa đào tạo sau đại học thuộc trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên Các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và tham gia quản lý tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo cùng các đồng chí cán bộ Đoàn Thanh niên trường THPT Bắc Kạn, Chợ Mới, Na Rì, Bộc Bố cùng gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện và đóng góp những ý kiến quý báu cho tác giả trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Trần Thị Minh Huế, người đã tận tình hướng dẫn, bổ sung những kiến thức và phương pháp luận trong suốt thời gian qua để tác giả hoàn thành luận văn này
Dù bản thân đã cố gắng, song luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự chỉ dẫn, đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp Tác giả xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2012
Tác giả
Đào Thị Liễu
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt vii
Danh mục bảng biểu viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 5
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước 8
1.2 Những khái niệm công cụ 9
1.2.1 Hoạt động giáo dục 9
1.2.3 Kỹ năng thiết kế hoạt động giáo dục 13
1.2.4 Phát triển kỹ năng thiết kế hoạt động giáo dục 14
1.2.4 Biện pháp phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD cho GV THPT 15
1.3 Một số vấn đề về HĐGD ở trường THPT 16
1.3.1 Vị trí, vai trò của HĐGD ở trường THPT 16
1.3.2 Mục tiêu của HĐGD ở THPT 17
1.3.3 Nội dung HĐGD ở trường THPT 18
1.3.4 Phương pháp tổ chức HĐGD 18
1.3.5 Hình thức tổ chức HĐGD ở trường THPT 24
1.3.6 Giáo viên và học sinh trong tổ chức HĐGD ở trường THPT 26
1.4 Kỹ năng tổ chức HĐGD của giáo viên THPT 27
1.4.1 Nhóm kỹ năng thiết kế HĐGD 27
Trang 61.4.2 Nhóm kỹ năng tổ chức thực hiện HĐGD 36
1.4.3 Nhóm kỹ năng kiểm tra và đánh giá HĐGD 36
1.4.4 Nhóm kỹ năng bổ trợ 36
1.5 Phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD cho giáo viên THPT 36
1.5.1 Khái niệm 36
1.5.2 Các trình độ phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD 37
1.5.3 Quy trình phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD cho giáo viên THPT 40
1.6 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD của GV 41
1.6.1 Nhận thức của GV về vai trò, vị trí của kỹ năng thiết kế HĐGD đối với việc thực hiện hiệu quả HĐGD 41
1.6.2 Trình độ kỹ năng hiện có của GV 41
1.6.3 Thực trạng quá trình tổ chức các HĐGD trong nhà trường THPT 42
1.6.4 Quan điểm và sự quan tâm của nhà quản lý về định hướng biện pháp cụ thể nhằm phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD cho GV 42
1.6.5 Trình độ năng lực sư phạm của tập huấn viên 42
Chương 2 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG THIẾT KẾ HĐGD CỦA GIÁO VIÊN THPT TỈNH BẮC KẠN 44
2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 44
2.1.1 Mục tiêu khảo sát 44
2.1.2 Khách khể khảo sát 44
2.1.3 Phương pháp khảo sát và cách xử lý số liệu 44
2.2 Thực trạng nhận thức về HĐGD, kỹ năng thiết kế HĐGD và phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD của cán bộ QLGD và GV THPT Tỉnh Bắc Kạn 44
2.2.1 Nhận thức của GV về các khái niệm cơ bản (khái niệm HĐGD, kỹ năng thiết kế HĐGD, phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD) 44
2.2.2 Nhận thức của GV, CBQLGD về mục tiêu của HĐGD ở trường THPT 45
Trang 72.2.3 Nhận thức của GV, CBQLGD về các kỹ năng thuộc nhóm kỹ năng
thiết kế HĐGD 47
2.2.4 Nhận thức của GV, CBQLGD về ý nghĩa của kỹ năng thiết kế trong tổ chức thực hiện hiệu quả HĐGD 48
2.2.5 Nhận thức về quy trình phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD cho GV 49
2.2.6 Nhận thức về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD của GV 51
2.3.2 Tự đánh giá của GV về trạng thái đạt được của nhóm kỹ năng thiết kế HĐGD 56
2.3.3 Đánh giá của CBQLGD về trạng thái đạt được của nhóm kỹ năng thiết kế HĐGD ở GV 58
2.3.4 Trình độ kỹ năng thiết kế HĐGD của GV THPT qua phân tích bản thiết kế HĐGD 59
2.4 Đánh giá chung về thực trạng và những nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình hình thành kỹ năng thiết kế HĐGD của GV THPT tỉnh Bắc Kạn 65
2.4.1 Những ưu điểm 65
2.4.2 Những hạn chế 66
2.5 Kết luận chương 2 66
Chương 3 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG THIẾT KẾ HĐGD CHO GIÁO VIÊN THPT TỈNH BẮC KẠN 68
3.1 Nguyên tắc chỉ đạo đề xuất biện pháp 68
3.1.1 Đảm bảo tính mục đích của quá trình giáo dục 68
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 68
3.1.3 Đảm bảo tính hệ thống 69
3.2 Các biện pháp phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD cho giáo viên THPT tỉnh Bắc Kạn 70
3.2.1 Bồi dưỡng tri thức về kỹ năng thiết kế HĐGD cho CBQLGD, GV THPT 70
Trang 83.2.2 Bồi dưỡng phát triển kỹ năng thực hành - thiết kế HĐGD cho GV 72
3.2.3 Nâng cao năng lực tự học, tự rèn luyện kỹ năng thiết kế HĐGD của GV 74
3.2.4 Phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD cho GV thông qua sinh hoạt chuyên môn ở trường THPT 75
3.2.5 Mối liên hệ giữa các biện pháp 76
3.3 Khảo nghiệm sư phạm 77
3.3.1 Mục tiêu: 77
3.3.2 Cách thức khảo nghiệm 77
3.4 Thực nghiệm sư phạm 78
3.4.1 Khái quát về thực nghiệm 78
3.5 Kết luận chương 3 90
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
PHỤ LỤC 99
Trang 9Công nghiệp hóa - hiện đại hoá CNH – HĐH
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1 Thực trạng nhận thức về khái niệm HĐGD, kỹ năng thiết kế
HĐGD, phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD 45
Bảng 2.2 Nhận thức của GV về mục tiêu của HĐGD ở trường THPT 46
Bảng 2.3 Nhận thức về các kỹ năng thuộc nhóm kỹ năng thiết kế HĐGD 48
Bảng 2.4 Thực trạng nhận thức về ý nghĩa của kỹ năng thiết kế trong tổ chức thực hiện hiệu quả HĐGD 49
Bảng 2.5 Thực trạng nhận thức về quy trình phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD cho GV 50
Bảng 2.6 Thực trạng nhận thức về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD của GV 52
Bảng 2.7 Các HĐGD đã tổ chức cho học sinh ở trường THPT 54
Bảng 2.8 Kết quả tự đánh giá của GV về thực trạng kỹ năng thiết kế HĐGD 57 Bảng 2.9 Kết quả đánh giá của QLGD về trạng thái đạt được nhóm kỹ năng thiết kế HĐGD ở GV 58
Bảng 2.10 Đánh giá trình độ kỹ năng thiết kế HĐGD của GV 60
Bảng 3.1 Tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp 77
Bảng 3.2 Nhận thức của GV trước thực nghiệm 84
Bảng 3.3 Trình độ kỹ năng thiết kế HĐGD của GV trước TN 85
Bảng 3.4 Kết quả nhận thức của GV sau thực nghiệm 86
Bảng 3.6 Trình độ kỹ năng thiết kế HĐGD của GV sau TN 87
Trang 11
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là vào giai đoạn hội nhập thì giáo dục và đào tạo càng thể hiện rõ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển đất nước
Trong nhà trường trung học phổ thông (THPT), để thực hiện mục tiêu giáo dục, chương trình giáo dục THPT thực hiện thông qua hai hoạt động cơ bản là tổ chức hoạt động giáo dục trên lớp (dạy học) và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ học (gọi chung là hoạt động giáo dục - HĐGD) Hai hoạt động này có mối quan hệ thống nhất, hỗ trợ và tác động qua lại với nhau, tạo nên tính chỉnh thể của chương trình và quá trình giáo dục toàn diện nhân cách người học
Để hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh, cùng với việc tổ chức hiệu quả hoạt động dạy học, việc thiết kế và tổ chức có chất lượng hoạt động giáo dục (HĐGD) đóng vai trò quan trọng và cần thiết Điều này đặt ra những yêu cầu và đòi hỏi về việc hình thành và phát triển hệ thống
kỹ năng sư phạm nói chung, kỹ năng thiết kế và tổ chức HĐGD nói riêng như
là những kỹ năng cơ bản của người GV Về mặt lý luận và thực tiễn, kỹ năng
sư phạm nói chung, kĩ năng thiết kế HĐGD HS là nội dung quan trọng trong chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT; là yếu tố quan trọng và cần thiết giúp người GV tổ chức tốt các HĐGD nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục THPT song trong cấu trúc chương trình đào tạo GV ở các trường sư phạm, vấn đề rèn luyện kỹ năng thiết kế và tổ chức các HĐGD HS còn nhiều hạn chế, nhiều sinh viên ra trường chưa có định hướng tốt về nhóm kỹ năng này Công tác giáo dục HS bằng kinh nghiệm còn nhiều tồn tại chưa được khắc phục Bên cạnh đó, nhiều trường THPT chưa thực sự chú trọng tổ chức các HĐGD cho HS, việc trải nghiệm các kỹ năng thiết kế và tổ chức HĐGD, vấn đề phát triển nhóm kỹ năng này cho GV còn hạn chế, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thực hiện có chất lượng và hiệu quả HĐGD ở các trường THPT
Trang 12Thực hiện Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, từ năm học 2006-2007, HĐGD nói chung, HĐGD ngoài giờ lên lớp, HĐGD hướng nghiệp được đưa vào chương trình giáo dục trong mối quan hệ thống nhất hữu cơ với hoạt động dạy học Với mục đích tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp nhằm khắc sâu tri thức các môn văn hóa bằng cách tổ chức ngoài giờ học; từ đó trang bị cho HS khả năng hòa nhập với xã hội, hoạt động giáo dục có vị trí quan trọng trong việc giải quyết các nhiệm vụ giáo dục, phát triển toàn diện nhân cách cho HS HĐGD là hoạt động của HS, do HS thực hiện với vai trò chủ thể song để tổ chức hiệu quả hoạt động, người giáo viên nói chung, đặc biệt giáo viên chủ nhiệm lớp giữ vai trò chủ đạo Giáo viên là người trực tiếp chỉ đạo, định hướng, điều khiển
và điều chỉnh, cố vấn cho tổ chức các hoạt động, giúp HS hoàn thành được những kỹ năng cơ bản như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hoạt động, tự nhận thức bản thân, kỹ năng xây dựng quan hệ cá nhân,…
Theo báo cáo tổng kết năm học 2010-2011 của tỉnh Bắc Kạn thì việc thiết kế và tổ chức HĐGD trong các trường THPT tuy đã được các trường học quan tâm song nội dung và hình thức tổ chức hoạt động còn đơn điệu và nhiều khó khăn, bất cập về tổ chức, quản lí, đặc biệt là về trình độ hạn chế của GV trong nhận thức và sự thiếu hụt các kĩ năng thiết kế hoạt động nên nhiều GV chủ nhiệm thực hiện hoạt động mang tính bắt buộc, hình thức, chưa hiệu quả, chất lượng giáo dục của hoạt động chưa cao Phát triển kĩ năng, nâng cao năng lực thiết kế HĐGD cho GV là yếu tố cơ bản để đảm bảo thực hiện có chất lượng và hiệu quả HĐGD của HS, đáp ứng yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp GV THPT và yêu cầu của đổi mới, phát triển chương trình giáo dục phổ thông hiện nay
Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề
“Phát triển kỹ năng thiết kế hoạt động giáo dục cho giáo viên Trung học phổ thông Tỉnh Bắc Kạn"
Trang 132 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD cho GV THPT Tỉnh Bắc Kạn, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục cấp THPT ở Tỉnh Bắc Kạn hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD cho GV THPT
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD cho GV THPT Tỉnh Bắc Kạn
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng và sử dụng được các biện pháp rèn luyện kỹ năng thiết kế HĐGD cho GV phù hợp với điều kiện thực tiễn, có cơ sở khoa học, hợp lý và
có tính khả thi sẽ góp phần nâng cao chất lượng tổ chức HĐGD ở các trường THPT Tỉnh Bắc Kạn hiện nay
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD cho GV
- Về phạm vi khảo sát: Đề tài khảo sát 192 GV THPT, 20 cán bộ quản
lý, thuộc 4 trường THPT (THPT Bắc Kạn, THPT Chợ Mới, THPT Bộc Bố, THPT Na Rì) của Tỉnh Bắc Kạn
Trang 147 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1 Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu
Vận dụng quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục phát triển toàn diện nhân cách con người thời kì CNH-HĐH, hội nhập;
Nghiên cứu phát triển kĩ năng thiết kế HĐGD cho GV theo chuẩn nghề nghiệp GV cấp THPT;
Nghiên cứu quá trình phát triển kĩ năng thiết kế HĐGD cho GV trên quan điểm phát triển, quan điểm giáo dục giá trị, quan điểm tâm lý học hoạt động
7.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Đề tài sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, tổng hợp, hệ thống hoá các lý thuyết có liên quan để làm rõ bản chất của vấn đề nghiên cứu, đồng thời sắp xếp chúng thành một hệ thống
để hình thành cơ sở lý thuyết khoa học định hướng cho quá trình nghiên cứu thực tiễn
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, gồm: Phương pháp điều tra bằng ankét, phương pháp quan sát, phương pháp trò chuyện, phương pháp chuyên gia, phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động sư phạm, phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp thực nghiệm, phương pháp khảo nghiệm
7.2.3 Các phương pháp khác: Phương pháp thống kê, phương pháp kiểm định giả thuyết
8 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 03 chương nội dung:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD cho GV THPT Chương 2: Thực trạng kỹ năng thiết kế HĐGD của GV THPT tỉnh Bắc Kạn Chương 3: Biện pháp phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD cho GV THPT Ngoài ra, luận văn còn có phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các tài liệu tham khảo và Phụ lục
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG THIẾT KẾ
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Giáo dục có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống con người Mục tiêu cuối cùng của giáo dục nhằm phát triển toàn diện nhân cách người được giáo dục (học sinh) đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của xã hội Muốn đạt được mục tiêu nêu trên thì giáo dục không chỉ khuôn gọn trong không gian lớp học
mà phải mở rộng trong không gian xã hội, tổ chức HĐGD là để hướng đến các yêu cầu đó Để đạt được mục tiêu trên, trong cấu trúc nhân cách của người giáo viên bên cạnh những phẩm chất cần phải có được hệ thống kỹ năng nghề nghiệp, năng lực sư phạm Trên thế giới nhiều công trình đã thể hiện sự nghiên cứu về kĩ năng và năng lực sư phạm, kĩ năng tổ chức hoạt động, tiêu biểu là những nghiên cứu của các nhà tâm lý học Mác xít:
Tiếp cận kĩ năng là một bộ phận cơ bản cấu thành năng lực, khi nghiên cứu về vấn đề này, các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã phân tích
từ góc độ duy vật biện chứng và chỉ ra rằng sự phát triển kĩ năng trước hết xuất phát từ tính chất hoạt động xã hội và thống nhất kĩ năng hoạt động của con người không phải là cái có sẵn mà được thể hiện như một hiện tượng phát triển trong quá trình hoạt động xã hội - lịch sử, kĩ năng và năng lực được hình thành Ph.Ăngghen nói "Lao động đã sáng tạo ra con người" [3.tr641] Trong các tác phẩm kinh điển C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích cụ thể kĩ năng và năng lực của con người được hình thành và thể hiện trong học tập và lao động Sự phát triển kĩ năng và năng lực của con người phụ thuộc vào đặc điểm xã hội, đặc điểm hoạt động, lao động của mỗi người Sự phát triển các kĩ
Trang 16năng và năng lực của cá nhân thực chất là tiếp thu, sự tinh thông những hoạt động của xã hội, vì kĩ năng và năng lực hình thành, phát triển nhằm đáp ứng cho những hoạt động cụ thể của con người Với cách tiếp cận này, Chủ nghĩa Mác đã vạch ra phương pháp luận khoa học cho việc nghiên cứu kĩ năng và năng lực của con người
Các nhà tâm lý học Xô viết đã dựa vào luận điểm trên để nghiên cứu năng lực và kĩ năng với những đóng góp của M.B.Cheplôv, A.G.Côvaliôv, V.A.Kruchetxki, A.N Lêonchev, K.K.Platônôv, X.L Rubinstêin Trong đó: M.B.Cheplôv đã xem xét kĩ năng từ góc độ sự khác biệt tâm lý cá nhân Ông cho rằng việc thực hiện thành công một hoạt động nào đó không chỉ bởi một đặc điểm tâm lý riêng lẻ mà là sự kết hợp về chất các đặc điểm tâm lý cá nhân Kĩ năng và năng lực không là thuộc tính có sẵn hoặc bất biến trong con người mà nó được hình thành, phát triển trong hoạt động và tồn tại trong hoạt động Tuy nhiên, ông coi trọng vai trò của tố chất - đó là các tiền đề vật chất không thể thiếu để các kĩ năng và năng lực hình thành còn sự hình thành và phát triển của chúng lại bị chi phối bởi điều kiện sống và hoạt động xã hội của người đó [11]
Trong các công trình nghiên cứu của mình, X.L Rubinstêin đề cao ý nghĩa xã hội của hoạt động và cho rằng để hình thành kĩ năng và năng lực cần thiết phải dựa trên một vốn kiến thức nhất định làm cơ sở X.L Rubinstêin có nhiều đóng góp trong nghiên cứu về vấn đề năng lực, đặc biệt là việc đi sâu nghiên cứu các yếu tố chi phối quá trình hình thành kĩ năng và năng lực của con người [35]
Theo A.N Lêonchev, các điều kiện xã hội, giáo dục có ảnh hưởng trực tiếp sự phát triển kĩ năng và năng lực Ông khẳng định kĩ năng và năng lực của con người hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động, ông cũng đánh giá cao vai trò của giáo dục trong quá trình hình thành, phát triển kĩ
Trang 17năng và năng lực con người song ông chưa lý giải về sự khác biệt của việc hình thành kĩ năng và năng lực trong điều kiện giáo dục và dạy học như nhau [17, tr197-215]
Thống nhất với quan điểm của các tác giả trên, A.G.Côvaliôv nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa kĩ năng, năng lực và tư chất và theo ông quá trình hình thành các kĩ năng luôn gắn liền với tính tích cực của cá nhân trong hoạt động lĩnh hội kinh nghiệm xã hội cùng với việc tiếp thu và sử dụng tri thức của các thế hệ trước đã tích lũy được A.G.Côvaliôv cũng nhấn mạnh kĩ năng
tổ chức với tính chất là yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của việc tổ chức hoạt động [5,tr68-69]; [6,tr186]
Như vậy, quan điểm của các nhà tâm lý học Xô viết cơ bản đều thống nhất về bản chất xã hội và hoạt động của việc hình thành, phát triển kĩ năng
và năng lực
Vấn đề hình thành kĩ năng sư phạm cho GV có vai trò quan trọng và đây cũng là nội dung được một số nhà nghiên cứu về tâm lý học Xô viết quan tâm Trong công trình "Hình thành các năng lực sư phạm", tác giả N.V.Cudơmina đã xác định các năng lực sư phạm cần có của người GV, việc phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu sư phạm cho sinh viên sư phạm Tác giả O.A.Apđulinni trong cuốn "Bàn về kĩ năng sư phạm" đã phân biệt hai nhóm
kĩ năng cơ bản đó là kĩ năng chung và kĩ năng chuyên biệt cho từng dạng hoạt động cụ thể của lao động sư phạm Tác giả L.X.Kixegôv và các cộng sự trong công trình "Hình thành các kĩ năng, kĩ xảo sư phạm trong điều kiện giáo dục đại học" đã nêu ra hơn 100 kĩ năng, trong đó có 50 kĩ năng cơ bản và tối thiểu cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của GV, nghiên cứu cũng chỉ ra các con đường và các giai đoạn hình thành kĩ năng
Trên đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về kỹ năng và hình thành kỹ năng sư phạm của một số nhà khoa học trên thế giới
Trang 181.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Dựa trên luận điểm của tâm lý học hoạt động, các nhà tâm lý học Việt Nam cũng có nhiều đóng góp trong nghiên cứu về kĩ năng và năng lực hoạt động mà tiêu biểu là các tác giả: Phạm Tất Dong; Vũ Dũng; Phạm Minh Hạc; Trần Trọng Thủy; Nguyễn Quang Uẩn Các nhà tâm lý học trên đều thống nhất cho rằng kĩ năng luôn gắn liền với một hoạt động nhất định của một con người cụ thể, kĩ năng được thể hiện và phản ánh ở kết quả của hoạt động; kĩ năng có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển năng lực Với những nghiên cứu của mình, tác giả Phạm Tất Dong cho rằng có kĩ năng, năng lực chung và kĩ năng, năng lực chuyên biệt Cũng theo tác giả, phương thức bồi dưỡng kĩ năng và năng lực là kết hợp giữa học và hành
Đặc biệt, trong nghiên cứu về tâm lý học sư phạm, các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Đặng Xuân Hoài, Nguyễn Đức Minh đã chỉ rõ những đặc điểm tâm lý và sinh lý cá nhân là những điều kiện chủ quan để hình thành kĩ năng
và năng lực sư phạm Các tác giả cũng chia kĩ năng sư phạm thành các nhóm
kĩ năng chung và kĩ năng chuyên biệt
Bên cạnh những nghiên cứu về tâm lý học, nhiều nhà giáo dục học cũng quan tâm đến vấn đề phân loại và giáo dục kĩ năng sư phạm cho sinh viên với các công trình như: Hệ thống kĩ năng giảng dạy trên lớp và quy trình rèn luyện kĩ năng đó cho sinh viên Khoa Tâm lý - Giáo dục [1] ; Về quy trình rèn luyện kĩ năng dạy học cho sinh viên sư phạm [2] của tác giả Nguyễn như An Tác giả Phan Thanh Bình với vấn đề nghiên cứu: Cần chuẩn bị tốt kĩ năng cơ bản về dạy học
và công tác chủ nhiệm lớp cho sinh viên sư phạm[4]; tác giả Nguyễn Thị
Tính-Lê Hồng Sơn với bài báo Thực trạng kĩ năng hoạt động xã hội của sinh viên Trường ĐH Sư phạm - ĐH Thái Nguyên [31]; tác giả Phạm Hồng Quang-Nguyễn Thị Tính nghiên cứu các biện pháp nâng cao năng lực giảng dạy cho giáo viên trung học phổ thông ở khu vực miền núi và vùng dân tộc thiểu số [30]
Trang 19Bên cạnh những nghiên cứu trong nước về kĩ năng, kĩ năng sư phạm thì những năm gần đây, một số công trình đã đi sâu nghiên cứu về tổ chức hoạt động giáo dục ở trường phổ thông Tiêu biểu là giáo trình chuyên khảo về Giáo dục học được sử dụng trong các trường cao đẳng và đại học sư phạm như: Giáo dục học và Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Trung học cơ sở của tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt [21, 22]; Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục ; Tổ chức hoạt động giáo dục của tác giả Hà Nhật Thăng và
Lê Tiến Hùng [33,32] Đây là những nghiên cứu cơ bản về lý luận giáo dục và thực hành tổ chức HĐGD ở trường phổ thông Tuy nhiên, tiếp cận hệ thống về lý luận tổ chức HĐGD và phát triển kỹ năng tổ chức HĐGD cho GV THPT thì chưa được những công trình này thể hiện rõ
Như vậy, khái lược tổng quan cho thấy vấn đề kĩ năng và năng lực sư phạm
đã được thể hiện trong nhiều nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước Tuy nhiên, đi sâu nghiên cứu về kĩ năng thiết kế hoạt động giáo dục của GV với tính chất là kĩ năng chuyên biệt và nghiên cứu phát triển kĩ năng này cho GV THPT thì chưa có công trình khoa học nào tập trung làm rõ Những điểm còn thiếu này
đã thu hút sự quan tâm của chúng tôi, nhằm tạo lập cơ sở khoa học để đề xuất quy trình phát triển kĩ năng thiết kế HĐGD cho GV THPT, góp phần nâng cao chất lượng GV THPT hiện nay
1.2 Những khái niệm công cụ
Tác giả Hoàng Phê nhận định: "Hoạt động là tiến hành những việc làm
có quan hệ với nhau chặt chẽ nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội" [39,tr426]
Trang 20Theo các nhà nghiên cứu về Tâm lý học, "hoạt động là quá trình tác động qua lại giữa người với thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm về phía thế giới và sản phẩm về phía con người" Trong quá trình tác động qua lại đó,
có 2 chiều tác động diễn ra đồng thời và bổ sung cho nhau: quá trình xuất tâm (quá trình đối tượng hoá) và quá trình nhập tâm (quá trình chủ thể hoá) Trong hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý của chính mình Có thể nói tâm lý của con người chỉ có thể được bộc lộ, hình thành trong hoạt động và thông qua hoạt động Hoạt động là phương thức tồn tại tích cực của con người với môi trường sống của mình Hoạt động là cơ chế, là con đường để hình thành phát triển nhân cách Trong đó có hoạt động giáo dục, hoạt động học tập, hoạt động xã hội, hoạt động lao động sản xuất…
Sự hình thành và phát triển nhân cách của con người chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: di truyền, môi trường, giáo dục song được quyết định bởi hoạt động, hoạt động quyết định trực tiếp sự hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là qúa trình tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho người được giáo dục
Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo dục lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu
Từ cách hiểu trên về khái niệm “hoạt động” và khái niệm “giáo dục”, theo chúng tôi, HĐGD được hiểu là những hoạt động được tổ chức có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục nhằm hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách cho đối tượng giáo dục Theo nghĩa rộng, HĐGD được tổ chức cả trong và ngoài nhà trường để phát triển toàn diện nhân cách cho người được
Trang 21giáo dục Theo nghĩa hẹp, đây là những hoạt động được tổ chức trong nhà trường, dưới vai trò chủ đạo của các nhà sư phạm trong sự phối hợp với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường nhằm thực hiện chức năng trội là phát triển mặt phẩm chất trong nhân cách cho đối tượng giáo dục Khái niệm mà
đề tài nghiên cứu tiếp cận theo nghĩa hẹp của công tác giáo dục Trong nhà trường, hoạt động giáo dục được phân ra làm hai bộ phận chủ yếu:
Trong hoạt động giáo dục diễn ra mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa vai trò chủ đạo (với các chức năng lập kế hoạch, định hướng, tổ chức, điều khiển, cố vấn, kiểm tra - đánh giá ) của nhà giáo dục và vai trò chủ thể
tự giáo dục, tự rèn luyện (với các chức năng tự lập kế hoạch, tự tổ chức, tự điều khiển, tự kiểm tra - đánh giá ) của người được giáo dục
sẽ có kết quả tương ứng [8, tr17]
Theo tác giả Meirieu: “Kỹ năng là một hoạt động trí tuệ ổn định và có thể tái hiện trong những trường kiến thức khác nhau Không có một kỹ năng nào tồn tại ở dạng thuần khiết và mọi kỹ năng đều biểu hiện qua những nội dung” [40, tr79]
Tác giả Lưu Xuân Mới cho rằng: Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả những hành động trên cơ sở những tri thức có được đối với việc giải quyết những nhiệm vụ đặt ra cho phù hợp với điều kiện cho phép Nói khác
đi, kỹ năng là tri thức trong hành động[25, tr70]
Trang 22Theo từ điển Tiếng Việt: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [43]
Theo tác giả Nguyễn Văn Khôi thì: “Kỹ năng là khả năng của con người thực hiện công việc một cách có hiệu quả và chất lượng trong một thời gian thích hợp, trong những điều kiện nhất định dựa vào tri thức và kỹ xảo đã có” [23, tr13]
Như vậy, các tác giả nói trên hoặc nhấn mạnh đến cách thức hành động hoặc nhấn mạnh đến kết quả hành động, có tác giả lại coi trọng vai trò của tri thức, kỹ xảo trước việc hình thành kỹ năng Trong việc hình thành kỹ năng cần coi trọng vai trò của vốn tri thức đã có và phải nắm vững cách thức hành động để có thể hành động đúng trong mọi điều kiện
Vấn đề kỹ năng, cho tới nay vẫn đang là vấn đề nghiên cứu của các nhà tâm lý học, giáo dục học Qua việc phân tích các quan niệm trên, chúng tôi thấy rằng, con người luôn luôn biểu hiện những năng lực nhất định để thực hiện những hoạt động nào đó Khi thực hiện những hoạt động ấy, con người cần phải có tri thức, kinh nghiệm cần thiết, phải có trình độ thành thục các thao tác, động tác nào đó tương ứng với hoạt động, phải có khả năng tập trung chú ý, tư duy, tưởng tượng, trí nhớ v.v… Có như vậy, con người mới có thể thực hiện được hoạt động thực hiện theo mục đích Tất cả các yếu tố trên biểu hiện khả năng thực hiện hoạt động, kỹ năng của con người ở hoạt động ấy Việc hình thành kỹ năng có quan hệ chặt chẽ với hệ thống tri thức đã hình thành được:
- Tri thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành kỹ năng Tri thức ở đây bao gồm tri thức về cách thức hành động và tri thức về đối tượng hành động
- Kỹ năng là sự chuyển hóa tri thức thành năng lực hành động của cá nhân
- Kỹ năng luôn gắn với một hành động hoặc một hoặc một hoạt động nhất định nhằm đạt được mục đích đã đặt ra
Trang 23Một cách chung nhất, có thể hiểu “kỹ năng là khả năng thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, cách thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra”
Kỹ năng được hình thành trong quá trình sống, trong quá trình hoạt động của con người Kỹ năng ở một hoạt động biểu hiện bằng các phẩm chất sau đây:
+ Tính chính xác
+ Tốc độ thực hiện hoạt động
+ Khả năng độc lập để thực hiện hoạt động
+ Tính linh hoạt thể hiện ở khả năng hành động hợp lý trong các hoàn cảnh khác nhau
+ Sự bố trí thời gian, sắp xếp các phần, các yếu tố của hành động
+ Sự lựa chọn các phương tiện, các phương pháp khác nhau để thực hiện hành động
Trong thực tế, các phẩm chất trên có mối tương tác chặt chẽ, phẩm chất này có ảnh hưởng tới các phẩm chất khác Ở các kỹ năng khác nhau, các phẩm chất trên biểu hiện không giống nhau Vì vậy, khi hình thành một kỹ năng nào đó, việc đồng thời hình thành những phẩm chất trên thực sự là cần thiết và căn cứ vào dạng thức của hành động hay hoạt động, dạng kỹ năng cần hình thành để định hướng hình thành chính xác các phẩm chất của kỹ năng
1.2.3 Kỹ năng thiết kế hoạt động giáo dục
1.2.3.1 Khái niệm thiết kế HĐGD: Kỹ năng thiết kế HĐGD là khả năng lựa
chọn nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục nhằm tạo ra một mô hình HĐGD để tổ chức thực hiện sáng tạo mô hình đó theo một chủ đề, chủ điểm nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đề ra
Theo lý thuyết quản lý – hoạt động, hoạt động của con người được thực hiện qua 03 khâu: Thiết kế - Thi công (Tổ chức thực hiện) – Đánh giá Để thi
Trang 24công tốt cần thiết kế hoạt động tốt Từ đây có thể hiểu, kỹ năng thiết kế HĐGD đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và kết quả HĐGD của nhà sư phạm
Bản thiết kế (mô hình) HĐGD chính là sản phẩm của kỹ năng thiết
kế HĐGD
1.2.3.2 Yêu cầu khi thiết kế HĐGD: Đảm bảo tính mục đích, tính tổ chức,
tính kế hoạch, tính khả thi; Tôn trọng nhân cách và yêu cầu hợp lý với HS; Thống nhất giữa vai trò chủ đạo của nhà giáo dục và vai trò chủ thể hoạt động của HS; Phù hợp với điều kiện tổ chức của từng trường; Tự nguyện, tự giác, tính tập thể của HS trong hoạt động; Đa dạng, phong phú và hiệu quả của hoạt động
1.2.4 Phát triển kỹ năng thiết kế hoạt động giáo dục
Thuật ngữ “phát triển” (Development) có nhiều cách định nghĩa xuất phát từ những cấp độ xem xét khác nhau Ở cấp độ chung nhất, phát triển được hiểu là sự thay đổi hay biến đổi tiến bộ, là một phương thức của vận động hay là quá trình diễn ra có nguyên nhân, dưới những hình thức khác nhau như tăng trưởng, tiến hóa, phân hóa, chuyển đổi, mở rộng, cuối cùng tạo ra những biến đổi
về chất
Trong từ điển Tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê “Phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp" [29, tr769]
Khái niệm phát triển trong cụm từ phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD được tiếp cận theo góc độ từ loại động từ, nhấn mạnh khía cạnh tác động có chủ đích của chủ thể làm cho những kỹ năng thiết kế HĐGD của đối tượng nhận tác động có sự thay đổi về trạng thái đạt được cả về lượng và chất
Tâm lý học Macxit đã khẳng định rằng, tâm lý con người có bản chất hoạt động Nghĩa là tâm lý, ý thức trong đó có kỹ năng, kỹ xảo được hình thành và phát triển trong quá trình chủ thể tiến hành hoạt động Chủ thể tiến
Trang 25hành hoạt động “Lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử của loài người được ghi lại trong các đối tượng của nền văn hóa vật chất và nền văn hóa tinh thần” chuyển thành kinh nghiệm xã hội – lịch sử của loài người thành kinh nghiệm riêng của cá nhân Chủ thể luôn tích cực, chủ động thực hiện các HĐ, qua đó
đã tự khẳng định mình
Trên cơ sở lý thuyết HĐ, P.Ia.Galperin đã đi sâu nghiên cứu cơ chế di chuyển các hành động vật chất bên ngoài vào bên trong thành các hành động trí tuệ, hình thành khái niệm, kỹ năng, kỹ xảo Theo P.Ia.Galperin và các cộng
sự của ông thì cơ chế “chuyển vào trong” gồm nhiều giai đoạn, ở mỗi giai đoạn, cấu trúc của hành động được tổ chức lại ngày càng khái quát và rút gọn Nói cách khác, sau khi chủ thể tiến hành hành động qua đẩy đủ các giai đoạn trên thì tri thức về các đồ vật sẽ được nảy sinh trong quá trình hành động vật chất với các đồ vật đó, còn bản thân các hành động này khi được hình thành
sẽ trở thành kỹ năng
Phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD cũng diễn ra theo cơ chế chung là chuyển là sự “chuyển từ ngoài vào trong” thông qua các hoạt động Những tri thức về hoạt động, tri thức về nội dung, cách thức, điều kiện thực hiện…chứa đựng trong các hoạt động Để phát triển được các kỹ năng yêu cầu mỗi cá nhân phải luyện tập thường xuyên, liên tục, kiên trì, bền bỉ
1.2.4 Biện pháp phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD cho GV THPT
Theo nhóm tác giả Nguyễn Văn Đạm, Hoàng Phê, khái niệm biện pháp được hiểu là cách làm, cách hành động, cách giải quyết một vấn đề cụ thể để
đi tới một mục đích nhất định [12,tr.66]; [39,tr.64] Biện pháp là sự phối hợp các yếu tố khác nhau trong hoạt động như phương pháp, phương tiện, công cụ tình huống, môi trường, thời gian, công nghệ, các yếu tố tâm lý…
Nếu so sánh nội hàm khái niệm biện pháp và khái niệm phương pháp thì biện pháp có tính kinh nghiệm và chủ quan; có tính linh hoạt tùy theo điều
Trang 26kiện và hoàn cảnh, tính tình huống; là sản phẩm của sự suy nghĩ tìm tòi của cá nhân, của sự trao đổi kinh nghiệm, từ sự học hỏi trực tiếp lẫn nhau; có sự phản ánh phương pháp đó
Như vậy, theo nghĩa chung nhất biện pháp là cách làm cụ thể để thực hiện một công việc nào đó nhằm đạt mục đích đề ra
Biện pháp phát triển kỹ năng thiết kế HĐGD là những cách thức tác động cụ thể của nhà sư phạm nhằm làm cho những kỹ năng thiết kế HĐGD của đối tượng nhận tác động có sự thay đổi về trạng thái đạt được cả về lượng (có sự tăng lên về hệ thống kỹ năng) và chất (có sự biến đổi về mức độ đạt được theo hướng tích cực)
1.3 Một số vấn đề về HĐGD ở trường THPT
1.3.1 Vị trí, vai trò của HĐGD ở trường THPT
Trong cấu trúc của quá trình sư phạm tổng thể ở trường THPT thì HĐGD là một bộ phận hữu cơ trong mối quan hệ thống nhất với hoạt động dạy học, chúng tạo nên tính chỉnh thể và toàn vẹn của quá trình sư phạm tổng thể nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh theo mục tiêu giáo
dục cấp THPT
HĐGD là những hoạt động được thể hiện bởi HS, HS là chủ thể dưới
vai trò định hướng, chỉ đạo, điều khiển của các nhà giáo dục HĐGD trong nhà trường là một bộ phận quan trọng của quá trình giáo dục, góp phần phát triển toàn diện nhân cách cho HS HĐGD là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hoá ở trong và ngoài nhà trường vào thời gian trong năm học và thời gian hè HĐGD có nội dung và hình thức rất phong phú, tạo điều kiện gắn lý thuyết với thực hành nhằm phát triển các kỹ năng, tình cảm xã hội cho HS… HĐGD được xác định theo mục tiêu giáo dục của cấp học, của lứa tuổi, theo khối lớp, đồng thời phải đáp ứng được nhu cầu
phát triển của xã hội
Trang 27Hướng nhận thức, giúp HS biết tự điều chỉnh hành vi đạo đức, lối sống cho phù hợp Qua đó cũng làm giàu thêm vốn sống, vốn kinh nghiệm thực tế – xã hội cho HS
Định hướng chính trị, xã hội, tăng cường hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc, những giá trị tốt đẹp của nhân loại; giúp HS có những hiểu biết về các vấn đề mang tính thời đại như: Hòa bình, hữu nghị, hợp tác, môi trường, dân số và chất lượng cuộc sống, … Từ đó, hình thành ở HS ý thức về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội; có ý thức về định hướng nghề nghiệp
- Mục tiêu về kỹ năng Tiếp tục rèn luyện các kĩ năng cơ bản như kỹ năng giao tiếp ứng xử có văn hóa, kĩ năng hoạt động tập thể, những thói quen tốt trong học tập và lao động, trong các hoạt động xã hội, kỹ năng kiểm tra, đánh giá Từ đó, phát triển
ở HS một số năng lực cơ bản như: năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp, năng lực hoạt động chính trị - xã hội, năng lực tổ chức quản
lí, năng lực hợp tác và hòa nhập
- Mục tiêu về thái độ:
Tạo cho HS hứng thú và nhu cầu hoạt động, lòng ham muốn hoạt động Từng bước hình thành cho HS niềm tin vào những giá trị mà HS phải vươn
Trang 28tới, đó là niềm tin vào chế độ XHCN, tin vào đường lối chính trị của Đảng, tương lai của đất nước Từ đó, hình thành cho HS lòng tự hào dân tộc, làm đẹp thêm truyền thống của nhà trường, của lớp, quê hương, phấn đấu vươn lên trở thành người con ngoan, trò giỏi, công dân có ích cho xã hội
Bồi dưỡng cho HS những tình cảm đạo đức trong sáng như tình bạn, tình nghĩa thày trò, tình yêu quê hương, đất nước…, qua đó, giúp HS biết kính yêu và trân trọng các giá trị tốt đẹp; biết lên án, phê phán những biểu hiện xấu, tiêu cực Bồi dưỡng cho HS tính tích cực, năng động tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội vì sự phát triển của tập thể và bản thân Giáo dục cho HS tinh thần đoàn kết hữu nghị với thanh thiếu niên quốc tế, với các dân tộc khác trên thế giới…
Biết tỏ thái độ đúng đắn trước những vấn đề của cuộc sống, biết chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân; đấu tranh tích cực với những biểu hiện sai trái của bản thân (để tự hoàn thiện mình) và của người khác; biết cảm thụ
và đánh giá cái đẹp
1.3.3 Nội dung HĐGD ở trường THPT
Nội dung HĐGD được cấu trúc thành một bộ phận quan trọng trong kế hoạch giáo dục của trường THPT, được thể hiện trong các nội dung cụ thể về giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể chất – quốc phòng, giáo dục lao động kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp, giáo dục pháp luật, giáo dục môi trường, giáo dục hòa bình, giáo dục dân số, giáo dục giới tính, giáo dục phòng tránh các tệ nạn xã hội, giáo dục truyền thống (dân tộc, nhà trường, địa phương), bản sắc văn hóa dân tộc Nhìn chung, nội dung HĐGD thể hiện tính phong phú và đa dạng của các giá trị sống tốt đẹp cần hình
thành cho HS
1.3.4 Phương pháp tổ chức HĐGD
Trong thực tiễn tổ chức các HĐGD, nhà sư phạm có thể sử dụng phối hợp nhiều phương pháp, dưới đây là một số phương pháp cơ bản:
Trang 291.3.4.1 Phương pháp thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là phương pháp tổ chức hoạt động mà trong đó dưới vai trò của nhà sư phạm, các thành viên thuộc từng nhóm thảo luận được tạo môi trường đảm bảo để tranh luận, trao đổi để đi đến sự hiểu biết chung về vấn đề cùng quan tâm Thảo luận trong HĐGD để HS trao đổi ý kiến với nhau
về một chủ đề giáo dục, một tình huống giáo dục hay một nhiệm vụ được giao Tùy từng hoạt động, có thể thành lập nhóm sao cho phù hợp
Thảo luận nhóm được sử dụng khi cần khuyến khích sự tham gia suy nghĩ và phát biểu tích cực của HS Sử dụng phương pháp này từng HS có cơ hội tham gia, phát huy tính tích cực cá nhân trong mối quan hệ với các thành viên của nhóm, tự tin và tự nhiên hơn trong giao tiếp và hoạt động tập thể Thảo luận nhóm được sử dụng khi vấn đề đưa ra cần được bàn luận sâu sắc,
kỹ lưỡng, sử dụng nhiều kiến thức và kinh nghiệm để đánh giá, kết luận về một vấn đề, hay sáng tạo ý tưởng mới Tuy nhiên, để mang lại hiệu quả giáo dục của phương pháp này thì quá trình điều hành hoạt động nhóm cần đảm bảo sao cho mỗi HS đều được tham gia bàn luận, phát biểu, lắng nghe và tôn trọng; những băn khoăn về ý nghĩa, vấn đề đặt ra được giải đáp kịp thời; thời gian thảo luận được điều chỉnh phù hợp; mỗi HS đều tích cực làm việc Trong quá trình điều khiển nhóm làm việc, người điều khiển cần quan sát thường xuyên diễn biến làm việc của các nhóm để có những tác động hợp lý
1.3.4.2 Phương pháp đóng vai
Phương pháp đóng vai được sử dụng nhiều để đạt được mục tiêu thay đổi thái độ của HS đối với đối tượng hay vấn đề có ý nghĩa giáo dục nào đó Phương pháp đóng vai cũng có tác dụng trong việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp ứng xử của HS Đóng vai là phương pháp giúp HS thực hành những cách ứng xử, bày tỏ thái độ trong những tình huống giả định hoặc trên cơ sở óc tưởng tượng và sự sáng tạo của HS Đóng vai thường không có kịch bản cho trước, HS tự xây dựng trong quá trình hoạt động
Trang 30Khi sử dụng phương pháp này cần chú ý: Ấn định thời gian (chuẩn bị, sắm vai, trao đổi sau khi đóng vai ); Lựa chọn tình huống đóng vai (phù hợp với chủ đề hoạt động; phải là tình huống mở; phù hợp với trình độ HS); Hướng dẫn thảo luận sau khi đóng vai, phỏng vấn người đóng vai (tìm hiểu cảm xúc, động cơ ) để làm nổi bật được giá trị giáo dục cần đạt qua sự nhập
và thể hiện vai mang tính giả định Phương pháp đóng vai thường được sử dụng kết hợp với phương pháp giải quyết vấn đề (hay xử lý tình huống)
1.3.4.3 Phương pháp giải quyết vấn đề
Phương pháp giải quyết vấn đề là con đường quan trọng để phát huy tính tích cực của HS Vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có quy luật sẵn cũng như những tri thức, kỹ năng sẵn
có chưa đủ giải quyết mà còn khó khăn, cản trở cần vượt qua Giải quyết vấn
đề thường được vận dụng khi HS phải phân tích, xem xét và đề xuất những giải pháp trước một hiện tượng, sự việc mang ý nghĩa giáo dục nảy sinh trong quá trình hoạt động
Cấu trúc quá trình giải quyết vấn đề gồm các bước cơ bản sau:
Bước 1: Nhận biết vấn đề: là sự phân tích tình huống đặt ra nhằm nhận biết được vấn đề cần giải quyết Trong HĐGD thì đó là sự việc nảy sinh ra tình huống có vấn đề, đòi hỏi HS phải giải quyết vấn đề đó để đạt được yêu cầu, mục đích giáo dục đặt ra Do đó vấn đề ở đây cần được trình bày rõ ràng Bước 2: Tìm các phương án giải quyết
Nhiệm vụ của bước này là tìm các phương án giải quyết khác nhau để giải quyết vấn đề Để tìm phương án giải quyết vấn đề, cần so sánh, liên hệ với những cách giải quyết các vấn đề tương tự, những kinh nghiệm đã có cũng như tìm các phương án giải quyết mới Các phương án giải quyết đã tìm
ra cần được sắp xếp, hệ thống hóa để xử lý ở giai đoạn tiếp theo Khi có khó khăn hoặc không tìm được phương án để giải quyết thì cần trở lại việc nhận biết vấn đề để kiểm tra lại việc nhận biết và hiểu vấn đề
Trang 31Bước 3: Quyết định phương án giải quyết vấn đề Trong bước này cần quyết định phương án tối ưu nhất để vận dụng để giải quyết vấn đề trên cơ sở phân tích, so sánh và đánh giá các phương án đã
tư duy Khi đã quyết định được phương án thích hợp, giải quyết được vấn đề tức là đã kết thúc việc giải quyết vấn đề Giải quyết được vấn đề giúp HS có cách nhìn toàn diện hơn trước các hiện tượng, sự việc nảy sinh trong hoạt động, trong cuộc sống Tuy nhiên, để phương pháp này mang lại hiệu quả giáo dục thì vấn đề đưa ra phải sát với mục tiêu của hoạt động, có tác dụng kích thích HS tích cực tìm tòi cách giải quyết Đối với tập thể lớp, khi giải quyết vấn đề phải coi trọng nguyên tắc tôn trọng và bình đẳng, tránh gây ra căng thẳng không có lợi cho việc giáo dục HS
1.3.4.4 Phương pháp tình huống
Tình huống là một hoàn cảnh thực tế, gắn với câu chuyện có cốt truyện, nhân vật, có chứa đựng mâu thuẫn, có tính phức hợp Giải quyết các tình huống thực tiễn, không phải bao giờ có giải pháp duy nhất đúng Tình huống trong giáo dục là những tình huống thực hoặc mô phỏng theo tình huống thực, được cấu trúc hóa nhằm mục đích giáo dục Phương pháp xử lý tình huống là phương pháp điển hình của phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp sắm vai và ngay cả phương pháp trò chơi Ở phương pháp này, HS được đặt vào các tình huống có vấn đề gắn với thực tiễn, đòi hỏi HS phải có những hành động cụ thể đưa ra phương án giải quyết Do vậy trong tổ chức các HĐGD, có thể tạo các tình huống giả định hoặc thực tế cần được xử lý kịp thời nhằm giúp
HS có cơ hội rèn luyện các kỹ năng tìm phương án giải quyết các tình huống 1.3.4.5 Phương pháp giao nhiệm vụ
Giao nhiệm vụ là phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục trong đó,
HS được đặt vào những vị trí nhất định phải thực hiện trách nhiệm cá nhân Giao nhiệm vụ tạo cơ hội để HS thể hiện khả năng của mình, là dịp HS được
Trang 32rèn luyện nhằm tích lũy kinh nghiệm cho bản thân Trong tổ chức các HĐGD, giao nhiệm vụ cho đội ngũ cán bộ lớp hay cá nhân sẽ tạo nên thế chủ động, giúp phát triển tính tích cực, sáng tạo, khả năng đáp ứng của HS trong mọi tình huống Cán bộ lớp sẽ chủ động hơn trong việc phân công nhiệm vụ cho từng tổ, nhóm, cá nhân với phương châm “lôi cuốn tất cả các thành viên trong lớp” vào tổ chức thực hiện hoạt động Muốn giao nhiệm vụ có có kết quả, GV cần hình dung được những việc phải làm, gợi ý cho HS và yêu cầu HS phải hoàn thành tốt Khi giao nhiệm vụ, cần đảm bảo phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, khả năng của HS, không yêu cầu quá mức gây lo lắng, hoang mang trong HS 1.3.4.6 Phương pháp trò chơi
Sử dụng trò chơi giáo dục với tính chất là phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục nhằm hình thành và phát triển nhân cách cho HS Phương pháp trò chơi có thể sử dụng trong nhiều tình huống khác nhau của HĐGD như: Đánh giá kết quả, rèn luyện các kỹ năng, củng cố những tri thức Thông qua trò chơi phát huy tính sáng tạo; hấp dẫn, gây hứng thú cho HS; tạo bầu không khí thân thiện; tạo cho HS tác phong nhanh nhẹn Vì vậy, tổ chức cho HS vui chơi là một loại hình HĐGD phổ biến, đồng thời thực hiện được chức năng giáo dục; chức năng giao tiếp; chức năng văn hóa; chức năng giải trí Để
sử dụng hiệu quả phương pháp này, nhà sư phạm cần lựa chọn các trò chơi phù hợp với lứa tuổi HS và mục tiêu, yêu cầu giáo dục; cần chú ý tới yếu tố thời gian, điều kiện cơ sở vật chất, hoàn cảnh cụ thể; người chủ trò phải có khả năng lôi cuốn được những người khác; trò chơi phải đa dạng, phong phú,
dễ chơi, hấp dẫn, mang tính giáo dục; phát huy ảnh hưởng của những trò chơi tập thể
1.3.4.7 Phương pháp tổ chức hoạt động giao lưu
Giao lưu là một phương pháp tổ chức giáo dục nhằm tạo ra các điều kiện cần thiết để HS được tiếp xúc, trò chuyện và trao đổi thông tin với những
Trang 33nhân vật điển hình trong các lĩnh vực của hoạt động nào đó Qua đó, giúp các
em có được những nhận thức, tình cảm và thái độ phù hợp, có được những lời khuyên đúng đắn để vươn lên trong học tập, rèn luyện và hoàn thiện nhân cách Hoạt động giao lưu có một số đặc trưng sau: Phải có chủ thể giao lưu, chủ thể giao lưu là người điển hình, có những thành tích xuất sắc, thực sự là tấm gương sáng để HS noi theo; hoạt động diễn ra thu hút sự quan tâm tự nguyện của HS; có sự trao đổi thông tin, tình cảm trung thực, chân thành và sôi nổi Những vấn đề trao đổi phải thiết thực, đáp ứng nhu cầu của HS Để hoạt động giao lưu có kết quả tốt, cần phải thực hiện các bước sau:
Bước 1: Lựa chọn chủ đề, nội dung đối tượng giao lưu và xá định kế hoạch, thời gian tổ chức giao lưu; căn cứ vào hoạt động chủ điểm từng tháng
để xá định chủ đề cho hoạt động giao lưu; xác định những nội dung cơ bản cho hoạt động giao lưu; xác định đối tượng giao lưu cho phù hợp với những nội dung đã định; xác định kế hoạch, thời gian tổ chức giao lưu
Bước 2: Chuẩn bị giao lưu: GV; liên hệ mời người tham gia giao lưu; trao đổi mục đích, nội dung với đối tượng giao lưu để người được mời chuẩn bị; xây dựng nội dung, gợi ý về cách thức giao lưu để HS chuẩn bị; trao đổi bàn bạc với cán bộ lớp để xây dựng chương trình, kế hoạch tổ chức giao lưu HS; cán bộ lớp và chi đội trao đổi để xây dựng chương trình, kế hoạch, thông báo chương trình, cho toàn thể HS trong lớp; phân công chuẩn bị cho các tổ, nhóm và cá nhân về nội dung giao lưu, về cơ sở vật chất, tặng phẩm, hoa,
cử ngươi dẫn chương trình; chuẩn bị một số tiết mục văn nghệ xen kẽ; nhắc nhở, kiểm tra lại các công việc đã chuẩn bị
Bước 3: Tiến hành giao lưu: Người dẫn chương trình tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu, khách mời; mời lần lượt các khách mời giao lưu, người dẫn chương trình khéo đặt câu hỏi, xử lý kịp thời các tình huống; kết hợp xen
kẽ các tiết mục văn nghệ, đề tạo không khí sôi nổi, thể kết hợp tăng hoa, tặng
Trang 34quà lưu niệm; phát biểu cảm tưởng, tùy từng hoàn cảnh mà các nội dung trong buổi giao lưu có thể giảm cho phù hợp
Bước 4: Kết thúc hoạt động giao lưu; người dẫn chương trình nói lời cảm ơn; mời GV chủ nhiệm lên phát biểu ý kiến, đánh giá nhận xét về kết quả buổi giao lưu; phổ biến những nội dung, kế hoạch những hoạt động tiếp theo
để định hướng cho HS chuẩn bị
1.3.4.8 Phương pháp diễn đàn
Diễn đàn là một phương pháp tổ chức HĐGD mang lại hiệu quả giáo
dục thiết thực Thông qua diễn đàn, HS có cơ hội bày tỏ suy nghĩ, quan niệm của mình về một vấn đề nào đó có liên quan đến nhu cầu, hứng thú, nguyện vọng của các em, đồng thời đây cũng là dịp để HS học lắng nghe ý kiến, học tập lẫn nhau.Phương pháp diễn đàn được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị: GV định hướng chủ đề và gợi ý cho HS; HS phân công nhau thực hiện nội dung diễn đàn Trong quá trình HS chuẩn bị, GV cần quan tâm, giúp đỡ nhằm điều chỉnh nội dung cho diễn đàn thuận tiện hơn Bước 2: Tổ chức diễn đàn: Diễn đàn là sân chơi của HS nên cần linh hoạt trong khâu tổ chức Cần khuyến khích, động viên toàn thể HS mạnh dạn tham gia ý kiến trong diễn đàn
Bước 3: Đánh giá kết quả: Có thể đánh giá kết quả diễn đàn qua lời phát biểu của đại diện HS hoặc những nhận xét của người chủ trì diễn đàn
Trang 35động nhân đạo, đền ơn đáp nghĩa, các hoạt động từ thiện… Những hoạt động này vừa có tác dụng giáo dục ý thức đối với dân tộc, đối với quê hương, vừa
có ý nghĩa gắn HS với đời sống xã hội giúp HS có thêm hiểu biết về tình hình chính trị xã hội của đất nước và quốc tế
Hoạt động văn hóa nghệ thuật: Nội dung hoạt động văn hóa nghệ thuật hướng vào việc giáo dục ý thức cho HS có những hiểu biết, những tình cảm chân thành đối với con người, với tổ quốc, với thiên nhiên và với chính mình Có nhiều hình thức hoạt động văn hóa nghệ thuật như: biểu diễn văn nghệ, cuộc thi vẻ đẹp tuổi thiếu niên, thi khéo tay, thi tìm hiểu nét đẹp văn hóa của địa phương, của dân tộc, xem phim, xem biểu diễn văn nghệ, tham quan du lịch, bình văn thơ, câu lạc bộ chuyên đề…
Hoạt động thể dục, thể thao: Hoạt động thể dục thể thao diễn ra
d ư ớ i nhiều hình thức: thể dục chống mệt mỏi, các hình thức nghỉ ngơi tích cực (thể dục nhịp điệu, các trò chơi thể thao như đá cầu, nhảy dây; các trò chơi tập thể…) thành lập và tổ chức bóng đá mini, cờ vua, điền kinh; hội khỏe Phù Đổng, ngày hội thể thao toàn trường
Hoạt động lao động, khoa học, kĩ thuật, hướng nghiệp: đây là loại hình
có trong chương trình HĐGD Đó là hoạt động của câu lạc bộ theo chuyên đề, tìm hiểu về xã hội, khoa học, về các hiện tượng của tự nhiên, về các ngành nghề trong xã hội, tham quan cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp…
Hoạt động vui chơi giải trí: Nội dung của vui chơi giả trí phải cụ thể
dễ thực hiện và có tác dụng kích thích sự hưng phấn của học sinh, làm giảm
sự căng thẳng mệt mỏi của các em Vui chơi giải chí có nhiều hình thức như: thi đấu trí tuệ, thi đấu thể thao, thi ứng xử, chơi trò chơi…
Hoạt động lao động công ích: Có nhiều hình thức lao động công ích như: tham gia trực nhật vệ sinh trường, lớp; trồng cây, chăm sóc vườn hoa cây cảnh, làm đẹp cho trường, cho quê hương mình; tham gia lao động công
Trang 36cộng của nhà trường, của địa phương; lao động giúp đỡ các cơ sở sản xuất kết nghĩa… các loại hình này phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của HS THPT Chúng được đan xen vào các chủ điểm giáo dục của các tháng trong năm học
Căn cứ vào các hình thức tổ chức theo chủ điểm giáo dục, có thể sử dụng các hình thức cụ thể như: Hội thi, thảo luận chuyên đề, hội vui, vẽ tranh
và trưng bày tranh ảnh; sưu tầm và thể hiện các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể, cắm trại, hội vui trò chơi dân gian, hội diễn, giao lưu, tọa đàm…
1.3.6 Giáo viên và học sinh trong tổ chức HĐGD ở trường THPT
Trong chương trình giáo dục THPT, HĐGD là một bộ phận hữu cơ cùng với hoạt động dạy học tạo nên sự hài hòa, cân đối của quá trình sư phạm tổng thể nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của cấp học Bản thân các HĐGD chức đựng tính thống nhất hai mặt của quá trình sư phạm: mặt thứ nhất là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục đến HS; mặt thứ hai là quá trình tích cực, chủ động tham gia, tổ chức thực hiện những yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục, chuyển hóa tích cực những yêu cầu sư phạm do quá trình giáo dục đề ra thành kinh nghiệm sống của người học Hai mặt này thể hiện bản chất của quá trình giáo dục là dưới tác động sư phạm của nhà giáo dục, quá trình giáo dục sẽ được chuyển hóa thành quá trình tự giáo dục ở đối tượng giáo dục Trong quá trình này, nhà giáo dục giữ vai trò chủ đạo – là người cố vấn, hướng dẫn, tổ chức các hoạt động cho học sinh Vai trò chủ đạo của giáo viên không chỉ được thể hiện ở nhiều dạng hoạt động: học tập, giáo dục, giao lưu, lao động, hoạt động xã hội công ích mà còn thể hiện là người cố vấn quá trình thực hiện các hoạt động như lập kế hoạch, tổ chức hoạt động, triển khai kế hoạch thông qua đội ngũ tự quản, hơn nữa còn là trọng tài cố vấn khoa học, kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động của HS
Trong tổ chức HĐGD, cần đảm bảo thực hiện thống nhất hai mặt trên của quá trình sư phạm
Trang 371.4 Kỹ năng tổ chức HĐGD của giáo viên THPT
1.4.1 Nhóm kỹ năng thiết kế HĐGD
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xác định đây là nhóm kỹ năng chính mà đề tài đề cập đến về mặt lý luận làm cơ sở để nghiên cứu thực tiễn và đề xuất biện pháp phát triển kỹ năng cho GV THPT
1.4.1.1.Kỹ năng đặt tên hoạt động
Mỗi chủ đề giáo dục cần được tiến hành bởi nhiều hoạt động khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng lớp, từng trường Vì thế, GV cần có
sự lựa chọn các hoạt động; tìm tòi, cân nhắc khi đặt tên cho hoạt động Tên của hoạt động tự nó đã nói lên được chủ đề, mục tiêu, nội dung, hình thức của hoạt động Đồng thời, tên hoạt động cũng tạo ra được sự hấp dẫn, cuốn hút, tạo ra được hứng thú tham gia của HS Kỹ năng đặt tên cho HĐGD là kỹ năng
cơ bản trong nhóm kỹ năng thiết kế HĐGD Tên của hoạt động cần đảm bảo một số yêu cầu sau:
- Phải nêu rõ chủ đề, nội dung của hoạt động,
- Phải ngắn gọn, rõ ràng, chính xác,
- Phải tạo ấn tượng, tạo sự hấp dẫn đối với học sinh,
- Có ý nghĩa thực tiễn và khả thi
Trong thực tế, việc lựa chọn tên hoạt động phải sát với chủ đề của hoạt động và phục vụ tốt cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục của chủ đề HĐGD 1.4.1.2 Kỹ năng xác định mục tiêu giáo dục của hoạt động
Mục tiêu nói chung là kết quả dự kiến cần đạt được sau khi thực hiện hoạt động Mục tiêu HĐGD là kết quả giáo dục mà giáo viên mong muốn HS đạt được sau các HĐ
Mỗi hoạt động được xác định đều phải hướng tới việc thực hiện mục tiêu chung của chủ đề theo từng tháng nhưng bản thân nó cũng có mục tiêu riêng
Trang 38Sau khi lựa chọn và đặt tên cho hoạt động, cần xác định mục tiêu của hoạt động Mục tiêu của hoạt động phải nhằm giáo dục học sinh cả về kiến thức, kỹ năng và thái độ Tuy nhiên, mỗi một hình thức hoạt động khác nhau
có thể có lợi thế hơn hoặc tập trung hơn trong việc thực hiện các mục tiêu khác nhau Chẳng hạn hình thức giao lưu, diễn đàn, toạ đàm có nhiều khả năng hơn trong việc hình thành thái độ; hình thức thi tìm hiểu, thảo luận có nhiều khả năng giúp đạt được mục tiêu kiến thức
Mục tiêu hoạt động cần rõ ràng, cụ thể, có tính xác định và có thể lượng hoá được để dễ thực hiện, dễ kiểm tra, đánh giá
Mục tiêu của HĐGD được thiết kế theo một số quy tắc sau:
- Bảo đảm tính chất toàn vẹn của hoạt động hoặc chủ đề hoạt động,
theo đúng nội dung mà chủ đề hoạt động đề ra
- Bao quát đủ 3 lĩnh vực chung hoạt động, cả quá trình lẫn kết quả hay
thành tựu Đó là:
+ Nhận thức (tri thức-nhận biết sự vật, sự kiện; kĩ năng hẹp-hiểu sự vật,
sự kiện đó; áp dụng sự nhận biết và sự hiểu biết vào các tính huống giáo dục tương tự trên cơ sở trí nhớ, nhớ lại và làm theo mẫu; kĩ năng mở rộng-thực hiện các hành động trí tuệ logic như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, suy luận, phán đoán, đánh giá) Như vậy, trong nhận thức cần cố gắng phân biệt tri thức sự kiện cùng với kĩ năng tương ứng của nó với các kĩ năng cấp cao tương ứng với sự lĩnh hội những nội dung HĐ Loại kĩ năng hẹp chỉ ứng với tri thức sự kiện Loại kĩ năng mở rộng mới phản ánh trình độ khái niệm nhưng cũng chỉ ở phương diện logic chứ chưa đầy đủ hoàn toàn
+ Tình cảm và khả năng biểu cảm (kĩ năng cảm thụ và phán xét giá
thừa nhận, chấp nhận, phản đối, phê phán; kĩ năng biểu đạt thái độ và giá rung cảm, đồng cảm, xúc cảm, bất bình, hài lòng; kĩ năng hiểu tình cảm, tâm
trị-tư con người và các vấn đề đời sống tình cảm; kĩ năng ứng xử tình cảm và văn hoá thẩm mĩ phù hợp với nội dung học tập)
Trang 39+ Năng lực hoạt động thực tiễn (kĩ năng xã hội hay kĩ năng sống; kĩ
năng di chuyển tri thức và phương thức hành động trong các tình huống thực
tế thay đổi; kĩ năng phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề từ những sự kiện thực tế) Chỉ khi đạt được cả 3 lĩnh vực mục tiêu trong HĐGD thì thành tựu
và quá trình học tập mới thật sự đầy đủ và phản ánh cấp độ hoạt động-nhân cách của sự phát triển cá nhân
- Các yếu tố trong mục tiêu được mô tả dưới hình thức những hành vi quan sát được Những hành vi đó là biểu hiện của hành động, của tri thức, của
kĩ năng, của thái độ và tình cảm, của khả năng vận động thể chất và của các vận động tâm lí cá nhân (chẳng hạn của các hoạt động trí tuệ và xử lý những tình huống thực tế)
- Mục tiêu có chức năng chỉ đạo cho việc thiết kế những giai đoạn tiếp sau của HĐ Do đó việc lựa chọn các thuật ngữ hay mệnh đề chính xác để phát biểu mục tiêu là một kĩ thuật hết sức quan trọng, đòi hỏi giáo viên phải chú ý tích luỹ kinh nghiệm thực tế Những thuật ngữ và mệnh đề thích hợp để phát biểu mục tiêu của hoạt động thường có hình thức như sau hoặc tương tự như sau:
+ Nhớ và nhớ lại được công thức, nguyên tắc, quy tắc, quan điểm, yêu cầu, mô hình, sự kiện, nhân vật, hoàn cảnh ) nào đó
+ Giải thích được nội dung, mô tả được hình thức hay cấu trúc, phân tích được thành phần, so sánh được mức độ khác nhau hay giống nhau của đối tượng nào đó và bằng những công cụ nào (lời nói, văn bản, hệ thống kí hiệu, phương tiện kĩ thuật )
+ Đánh giá được tầm quan trọng, ý nghĩa, giá trị, mức độ, cường độ của quá trình hay sự kiện, sự vật nào đó
+ Biết thực hiện (hay tiến hành, hoàn thành, làm ) hành động hay hành
vi nào đó, ở trình độ nhất định (đúng mẫu, nhanh đến đâu, chính xác ở mức
độ nào)
Trang 40+ Biết thể hiện ý thức (hay thái độ, xúc cảm, tính cảm, nhu cầu, lí trí ) trước sự kiện (hay đối tượng quan hệ, tình huống nào đó) theo định hướng giá trị nhất định
+ Biết hoàn thành công việc nào đó với những tiêu chí cụ thể như lập
kế hoạch, tổ chức, phát hiện, tra cứu, xử lí số liệu hay tình huống, nêu và giải quyết vấn đề, đo lường, đánh giá, phê phán, nhận xét
1.4.1.3 Kỹ năng xây dựng nội dung hoạt động
Nội dung của HĐGD được hiểu là hình thái đối tượng hoá của mục tiêu, tức là sự diễn đạt mục tiêu dưới hình thức các đối tượng hoạt động (nhận thức, giao tiếp, quản lí, vận động thể chất, lao động, nghệ thuật, chơi, quan hệ
xã hội…) Nội dung của HĐGD được thiết kế theo một số quy tắc:
Chỉ rõ thực chất của quá trình, sự vật hay sự kiện từ những khía cạnh: Hình thức, cấu trúc, logic, chức năng, thực thể, đặc điểm, dấu hiệu, hành vi…
Tổ chức có hệ thống những thành phần của nội dung hoạt động, thể hiện nội dung đó thông qua tình huống Bằng những phương pháp cụ thể GV làm cho
HS nhận thức, hiểu được nội dung và vận dụng được nội dung đó trong hoạt động thực tiễn
Dự kiến được cấu trúc và tính chất của các hoạt động mà người học phải thực hiện Các HĐGD là môi trường bên ngoài chứa nội dung hoạt động đây chính là đối tượng của HS Cách mô tả nội dung cần gợi ra được cấu trúc,
cơ cấu, tính chất và cường độ của các hoạt động, nhưng không nhất thiết phải
ấn định các hoạt động một cách cứng nhắc
GV chuyển hóa các thành phần nội dung trừu tượng thành sự mô tả hành động hoặc kĩ năng hành vi, hoặc đối tượng cảm tính Điều này đã được các nhà khoa học, kĩ thuật phân tích rất chu đáo khi trình bày các giáo trình chuyên môn hoặc sách chuyên khảo Để làm điều này phải có kĩ năng sử dụng các mô hình, biểu trưng, đồ hoạ, sơ đồ…và biết lựa chọn kiểu loại, số lượng những công cụ như thế để mô tả càng cụ thể càng tốt